intTypePromotion=1

Vẻ đẹp ngôn từ trong tập truyện ngắn “Kỳ nhân làng Ngọc” của Trần Thanh Cảnh

Chia sẻ: Tony Tony | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
30
lượt xem
0
download

Vẻ đẹp ngôn từ trong tập truyện ngắn “Kỳ nhân làng Ngọc” của Trần Thanh Cảnh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết chọn khảo sát miêu tả lớp từ láy và từ ngữ khẩu ngữ trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh để chỉ ra đặc điểm hai lớp từ ngữ này trong tác phẩm và vai trò của chúng. Từ láy và từ ngữ khẩu ngữ được tác giả dùng nhiều và phù hợp, sáng tạo nên đã góp phần khắc họa bức tranh hiện thực và thế giới nhân vật vừa gần gũi sinh động vừa sắc nét, cá tính.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vẻ đẹp ngôn từ trong tập truyện ngắn “Kỳ nhân làng Ngọc” của Trần Thanh Cảnh

Trường Đại học Vinh<br /> <br /> Tạp chí khoa học, Tập 46, Số 2B (2017), tr. 35-42<br /> <br /> VẺ ĐẸP NGÔN TỪ TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN KỲ NHÂN LÀNG NGỌC<br /> CỦA TRẦN THANH CẢNH<br /> Lê Thị Ngọc<br /> Cao học khóa 23, chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam, Trường Đại học Vinh<br /> Ngày nhận bài 03/5/2017, ngày nhận đăng 20/7/2017<br /> Tóm tắt. Bài viết chọn khảo sát miêu tả lớp từ láy và từ ngữ khẩu ngữ trong tập<br /> truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh để chỉ ra đặc điểm hai lớp từ<br /> ngữ này trong tác phẩm và vai trò của chúng. Từ láy và từ ngữ khẩu ngữ được tác giả<br /> dùng nhiều và phù hợp, sáng tạo nên đã góp phần khắc họa bức tranh hiện thực và thế<br /> giới nhân vật vừa gần gũi sinh động vừa sắc nét, cá tính.<br /> 1. Đặt vấn đề<br /> 1.1. Bắt đầu viết văn khi đã hơn 40 tuổi,<br /> là một cây bút “rẽ ngang”, từ dược sĩ thêm<br /> nghề viết văn, nhưng Trần Thanh Cảnh lại<br /> sớm khẳng định được tên tuổi của mình ngay<br /> từ những tác phẩm đầu tiên. Chỉ trong vòng 4<br /> năm, tác giả đã cho ra đời 3 tập truyện ngắn<br /> và 1 tiểu thuyết sắp được Nhà xuất bản Trẻ ấn<br /> hành cùng với nhiều truyện ngắn khác được<br /> in trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước.<br /> Bước vào nghề viết khá muộn như vậy nhưng<br /> những trang viết của Trần Thanh Cảnh đã<br /> sớm để lại dấu ấn riêng. Mới đây tập truyện<br /> ngắn Kỳ nhân làng Ngọc đã được trao giải<br /> thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2015.<br /> 1.2. Trần Thanh Cảnh là một gương mặt<br /> mới của văn xuôi đương đại Việt Nam, với<br /> phong cách độc đáo, lối viết mới mẻ. Ngôn<br /> ngữ trong tác phẩm của ông không gai góc,<br /> sắc nhọn, cũng không tỉa tót, bóng bẩy mà rất<br /> chân thật, gần gũi đời sống. Nó giúp nhà văn<br /> phản ánh đúng đối tượng miêu tả, đúng hiện<br /> thực đầy phức tạp, bề bộn, nhiều chiều.<br /> Truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh, cũng vì<br /> thế được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm.<br /> Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có công trình<br /> nào đi sâu nghiên cứu toàn diện về tác phẩm<br /> của ông, đặc biệt là về ngôn ngữ để cho thấy<br /> những cái mới, lạ của Trần Thanh Cảnh. Bài<br /> viết này, chúng tôi khảo sát ngôn từ trong<br /> truyện ngắn của ông nhằm khẳng định tính<br /> chất giản dị mà vẫn rất mới lạ - một vẻ đẹp<br /> riêng của ngôn ngữ văn xuôi đương đại biểu<br /> hiện trong truyện ngắn Trần Thanh Cảnh. Tư<br /> <br /> liệu khảo sát gồm mười bốn truyện ngắn<br /> trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc.<br /> 2. Ngôn từ trong tập truyện ngắn Kỳ<br /> nhân làng Ngọc<br /> Là một nhà văn “trẻ”, nhưng Trần Thanh<br /> Cảnh cũng đã có những cách tân đáng kể góp<br /> phần vào đổi mới văn xuôi, trong đó có ngôn<br /> ngữ. Bước vào làng văn bằng tuyển tập truyện<br /> ngắn ra mắt bạn đọc đầu tiên nhưng cũng<br /> ngay tức thì, tập truyện của Trần Thanh Cảnh<br /> được đánh giá cao. Khảo sát mười bốn truyện<br /> ngắn trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng<br /> Ngọc, chúng tôi nhận thấy Trần Thanh Cảnh<br /> đã có những sáng tạo độc đáo trong cách<br /> dùng các lớp từ tiếng Việt, đặc biệt là từ khẩu<br /> ngữ, từ láy, từ ghép. Là những lớp từ vốn<br /> được dùng quen thuộc mà mọi người vẫn<br /> hằng nghe trong cuộc sống thường ngày<br /> nhưng dưới cách tổ chức ngôn ngữ của tác giả<br /> thì các từ ngữ đó bỗng sinh động hơn. Dưới<br /> đây, chúng tôi tập trung khảo sát hai lớp từ<br /> ngữ đặc sắc nhất là từ láy và từ ngữ khẩu ngữ.<br /> 2.1. Từ láy trong tập truyện ngắn “Kỳ<br /> nhân làng Ngọc”<br /> “Từ láy là những từ được cấu tạo theo<br /> phương thức láy, đó là phương thức lặp lại<br /> toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với<br /> thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo hai<br /> nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc,<br /> thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh<br /> ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có<br /> nghĩa” [1, 41]. Theo cách hiểu này, chúng tôi<br /> thống kê từ láy trong mười bốn truyện ngắn<br /> trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc.<br /> <br /> Email: lengoc56gmail.com<br /> <br /> 35<br /> <br /> L. T. Ngọc / Vẻ đẹp ngôn từ trong tập truyện ngắn “Kỳ nhân làng Ngọc” của Trần Thanh Cảnh<br /> <br /> Tiến hành khảo sát tuyển tập truyện ngắn<br /> Kỳ nhân làng Ngọc, chúng tôi nhận thấy lớp<br /> từ láy được Trần Thanh Cảnh sử dụng với tần<br /> suất cao: với 300 trang truyện ngắn, có 1001<br /> lần từ láy được sử dụng. Trong đó, 205 lần tác<br /> giả sử dụng từ láy hoàn toàn, 796 lần từ láy<br /> bộ phận được dùng. Trong 796 lần từ láy bộ<br /> phận được sử dụng, có 140 lần từ láy phần<br /> vần xuất hiện, từ láy phụ âm đầu được dùng<br /> 656 lần. Kết quả cụ thể được thể hiện qua<br /> bảng tổng hợp 2.1:<br /> Bảng 2.1: Thống kê tần số sử dụng từ láy<br /> trong tuyển tập truyện ngắn<br /> “Kỳ nhân làng Ngọc”<br /> Từ láy<br /> <br /> Từ láy hoàn<br /> toàn<br /> <br /> Tần số<br /> Tỉ lệ<br /> Tổng<br /> <br /> 205<br /> 20,5 %<br /> 205 (20,5 %)<br /> <br /> Từ láy bộ phận<br /> Láy<br /> Láy<br /> phụ âm<br /> vần<br /> đầu<br /> 140<br /> 656<br /> 14 %<br /> 65,5%<br /> 796 (79,5%)<br /> <br /> Qua bảng thống kê trên, ta thấy Trần<br /> Thanh Cảnh sử dụng từ láy với tần số cao,<br /> đặc biệt, một số truyện ngắn, số lần từ láy<br /> được sử dụng rất cao là Hương đêm, (130<br /> lần), Giỗ hậu (182 lần), Hoa gạo tháng ba (81<br /> lần), Kỳ nhân làng Ngọc (112 lần).<br /> Trong tiếng Việt, từ láy là lớp từ vừa<br /> mang tính gợi hình, biểu trưng cao nhất, đồng<br /> thời có thuộc tính hòa phối ngữ âm, giàu nhạc<br /> điệu nhất. Vì thế, có thể nói, việc sử dụng từ<br /> láy trong văn chương như là một tất yếu của<br /> nghệ thuật sáng tạo ngôn từ của các nhà văn,<br /> nhà thơ. Song sử dụng từ láy hiệu quả hay<br /> không, làm sao phát huy được vai trò của nó<br /> thì lại đòi hỏi tài năng của nhà văn. Làm sao,<br /> trong một câu, một đoạn, mỗi từ láy là một<br /> nốt nhạc góp phần tạo nên âm điệu chung cho<br /> cả bài. Từ láy không chỉ tạo nên tính nhạc cho<br /> câu văn, sự hòa âm cho cả tác phẩm mà còn là<br /> bức tranh hội họa của văn chương; tuy không<br /> có khung hình cụ thể nhưng rất sống động<br /> nhờ sức gợi mở tưởng tượng mang tính biểu<br /> trưng biểu tượng của từ. Với phương thức tạo<br /> từ láy thì ngoài vốn từ láy đã có sẵn, các nhà<br /> văn cũng có thể tự tạo ra những dạng láy mới.<br /> Không chỉ có vậy, với nghệ thuật sử dụng từ<br /> <br /> 36<br /> <br /> ngữ, nhà văn không những tạo nên những kết<br /> hợp từ láy độc đáo, bất ngờ, sáng tạo trong<br /> những câu văn, trong những tác phẩm còn có<br /> thể tạo cho từ những sắc thái nghĩa mới, sức<br /> sống mới. Bởi vì ngôn ngữ nghệ thuật chỉ<br /> thực sự độc đáo, không trở thành sáo mòn khi<br /> nó tạo ra sự bổ sung mới để không những phù<br /> hợp với nội dung nó phản ánh mà còn tạo nên<br /> sự mới mẻ, hấp dẫn.<br /> Như đã biết, sự biểu đạt ý nghĩa của từ<br /> láy rất phức tạp và rất thú vị do tính chất sắc<br /> thái hóa, biểu trưng hóa là đặc điểm bao trùm<br /> về nghĩa của từ láy. Vì thế, từ láy thường tạo<br /> nên những ấn tượng ngữ nghĩa rõ nét về đặc<br /> điểm, tính chất của sự vật hay tâm trạng của<br /> con người. Đặc biệt, qua cách sử dụng tài tình<br /> của nhà văn, từ láy sẽ được phát huy tối đa<br /> những công dụng của nó. Trong tập truyện Kỳ<br /> nhân làng Ngọc, từ láy được sử dụng nhiều,<br /> đặc biệt, Trần Thanh Cảnh sử dụng liên liếp<br /> nhiều loại từ láy khác nhau trong một câu, tạo<br /> một hiệu quả kích thích xúc cảm của người<br /> đọc; khi thì dồn nén, lúc lại dàn trải, mênh<br /> mang. Đó cũng chính là điểm thu hút của tác<br /> phẩm. Ví dụ:<br /> - Tiết xuân phân, mưa giăng giăng bay,<br /> đào tàn lâu rồi, xoan mới nhu nhú vài giọt tím<br /> mờ, rặng tre, cây mít, cây ổi búp lá mới rón<br /> rén xanh mơ như vẫn đương ngại ngùng cơn<br /> rét lộc… (Hội làng, tr. 9).<br /> - Vẫn cây đa, bến nước, sân đình, vẫn<br /> con đường làng lát gạch nghiêng, khách thập<br /> phương về dự hội vẫn trẹo trọ bước đi run rẩy<br /> ướt át... (Hội làng, tr. 10).<br /> Trong tập truyện Kỳ nhân làng Ngọc,<br /> Trần Thanh Cảnh sử dụng từ láy với nhiều vai<br /> trò, hiệu quả khác nhau. Nổi bật là các vai trò<br /> sau:<br /> 2.1.1. Dùng từ láy để miêu tả cảnh vật<br /> thiên nhiên<br /> Trần Thanh Cảnh đã sử dụng những từ<br /> láy giàu sức gợi tả để miêu tả, khắc họa cảnh<br /> sắc thiên nhiên. Trong truyện ngắn Hội làng,<br /> Trần Thanh Cảnh đã vẽ lên một khung cảnh<br /> mùa xuân e ấp, nhẹ nhàng khiến cho lòng<br /> người cũng rung lên trước cảnh sắc mùa xuân<br /> đầy sức sống.<br /> <br /> Trường Đại học Vinh<br /> <br /> - Tiết xuân phân, mưa giăng giăng bay,<br /> đào tàn lâu rồi, xoan mới nhu nhú vài giọt tím<br /> mờ, rặng tre, cây mít, cây ổi búp lá mới rón<br /> rén xanh mơ như vẫn đương ngại ngùng cơn<br /> rét lộc… Chỉ có nàng bưởi mạnh mẽ, nồng<br /> nàn tràn lấp cả ngày xuân xanh xám bằng<br /> hương thơm thanh tao và màu xanh mởn óng<br /> ả trong gió bắc. (Hội làng, tr. 9).<br /> Có thể nói, Trần Thanh Cảnh đã tận dụng<br /> hết ưu thế của từ láy để tạo hình và gợi mở<br /> không gian. Bởi vì, từ láy thường có khả năng<br /> gợi lên những biểu tượng nhất định và cùng<br /> với biểu tượng là khêu gợi những cảm giác<br /> khác nhau. Trần Thanh Cảnh đã vẽ lên hai<br /> bức tranh đối lập. Đó là hai bức tranh tương<br /> phản giữa một vùng quê đông đúc, sôi động<br /> và một làng quê heo hắt đến khó tả.<br /> - Nhà cửa xây san sát như biệt thự ngoài<br /> thành phố. Mỗi dịp lễ lạt hội hè, ô tô con đỗ<br /> chật ních đường làng. Thế mà về đến quê<br /> chồng, như là thế giới khác, cứ như là nơi bị<br /> bỏ quên. Vẫn mấy bụi tre vàng vọt cong cong<br /> khắc khổ rìa làng. Vẫn mấy con trâu chậm rãi<br /> kéo cày ngoài cánh đồng sâu. Vài nếp nhà<br /> còn lợp rạ xám xịt u tối mê man. (Gái đảm, tr.<br /> 27).<br /> - Phía sau khuôn hình, thấp thoáng<br /> những mái nhà lô nhô. Những cây cối. Những<br /> bóng người. Một mảng lấp lóa, lấp lóa sáng<br /> của cái giếng làng. (Gái đảm, tr. 33).<br /> Làng Ngọc, một cái làng được Trần<br /> Thanh Cảnh hư cấu nên từ làng quê nơi ông<br /> sinh sống, được tô vẽ nên thành một ngôi làng<br /> nửa thành thị nửa nông thôn mà như chính tác<br /> giả nói là làng không ra làng, phố không ra<br /> phố. Ở một bức tranh khác, Trần Thanh Cảnh<br /> đưa người đọc đến một vùng rừng núi hoang<br /> sơ với những âm thanh thật đáng sợ.<br /> - Đêm miền rừng yên tĩnh quá. Những<br /> tiếng thú chạy kiếm ăn ban đêm loạt soạt<br /> quanh nhà. Thỉnh thoảng, một con chim đêm<br /> cất tiếng nheo nhéo thê lương, não nề, như<br /> tiếng trẻ sơ sinh bị bỏ rơi trong rừng hoang…<br /> (Hoa núi, tr. 63).<br /> Có thể nói, bản thân những từ láy, khi<br /> được sử dụng, tự nó đã có sức gợi tả rất lớn.<br /> Nhưng những kết hợp giữa từ láy với các đơn<br /> vị ngôn ngữ khác lại có thể làm mới từ láy,<br /> <br /> Tạp chí khoa học, Tập 46, Số 2B (2017), tr. 35-42<br /> <br /> tăng thêm sức mạnh cho nó; điều đó chỉ có<br /> thể có được là nhờ tài năng của người nghệ sĩ.<br /> Trần Thanh Cảnh đã thành công khi sử dụng<br /> từ láy để vẽ lên những bức họa chân thực,<br /> sinh động nhất.<br /> 2.1.2. Dùng từ láy để miêu tả tâm trạng,<br /> cảm xúc nhân vật<br /> Trần Thanh Cảnh đã sử dụng từ láy một<br /> cách linh hoạt và độc đáo với tần số cao nhằm<br /> diễn tả chiều sâu tâm lý nhân vật. Đó là tâm<br /> trạng của tuổi mới lớn với tình yêu đầu đời,<br /> vừa rụt rè lại vừa mãnh liệt:<br /> - Cả hai, chả ai nói được lời nào. Chỉ có<br /> hai bàn tay trong nhau xoắn xuýt không rời<br /> và đôi chân thì cứ ngập ngừng muốn đi, muốn<br /> rẽ, muốn về. Đến bờ dậu cúc tần, Tuấn dang<br /> cả hai tay rẽ cho nàng một lối để vào trong<br /> nhà. Nàng luồn dưới người Tuấn để sang bên<br /> kia. Thân thể nóng rực của hai đứa chạm<br /> nhau gần gũi, nàng ngừng lại mấy phút như<br /> đợi chờ. Tuấn sững như bức tượng, thở hừng<br /> hực. Không thể chịu đựng được, nàng xoay<br /> người kéo Tuấn xuống. Tuấn buông hai tay<br /> đang vén cúc tần, xiết chặt lấy nàng. Cả dậu<br /> cúc tần, tơ hồng quấn quýt bao trùm phủ lấp<br /> che đi tất cả. (Hội làng, tr. 15).<br /> Hay đó là tâm trạng của sự chia ly trong<br /> tiếc nuối của những con người dường như vô<br /> tình gặp lại nhau trên đường đời. “Họ chỉ như<br /> hai đường thẳng trên mặt phẳng, giao vào<br /> nhau trong một lát cắt của số phận để rồi, mỗi<br /> người, trên mỗi đường thẳng của cuộc đời<br /> mình. Lại xa nhau mãi mãi về phía vô cực”.<br /> Để lại trong lòng mỗi người một nuối tiếc:<br /> - Mấy ngày hôm nay, trong cảnh đợi chờ<br /> căng thẳng, chán ngán và lê thê, Hoàng và<br /> Thúy đã kịp tâm sự với nhau rất nhiều điều.<br /> Họ dường như muốn bù lại những năm tháng<br /> thờ ơ bên nhau. (Mùa thi, tr. 42).<br /> - Thúy âm thầm nức nở trong tâm tưởng,<br /> lên xe về Hà Nội. (Mùa thi, tr. 46).<br /> Đó là tâm trạng của một người đàn ông<br /> từng trải, từng đi lính nhưng vẫn sẵn sàng làm<br /> nhiệm vụ cho Việt Minh, để rồi, khi hiệp định<br /> Giơnevơ được ký kết, hoang mang không biết<br /> cuộc đời sẽ đi về đâu; người yêu lại đi lấy<br /> chồng. Rồi cuộc đời đưa ông đi khắp nơi,<br /> <br /> 37<br /> <br /> L. T. Ngọc / Vẻ đẹp ngôn từ trong tập truyện ngắn “Kỳ nhân làng Ngọc” của Trần Thanh Cảnh<br /> <br /> nếm trải bao nỗi cô đơn tủi nhục nơi đất<br /> khách quê người, để rồi, cuối đời lại trở về<br /> quê hương - nơi chỉ còn lại dấu tích xưa cũ.<br /> Trần Thanh Cảnh đã vẽ lên một bức tranh vừa<br /> hư vừa thực; trong không gian hư ảo ấy lại<br /> hiện lên hình ảnh một con người trầm tư suy<br /> ngẫm:<br /> - Ngày ngày ông cứ đi lang thang tha<br /> thẩn trong làng ngoài phố. (Hương đêm, tr.<br /> 151).<br /> - Ông Phú cứ lẩm bẩm thắc mắc một<br /> mình khi vào ngả lưng trong cái nền miếu<br /> gạch Bát Tràng láng bóng từ xưa. (Hương<br /> đêm, tr. 152).<br /> - Trong chập chờn của đèn nến. Trong<br /> ngát hương của trầm, của thoang thoảng loài<br /> hoa tinh khiết. Ông ngồi dựa lưng vào ban<br /> thờ cô, vừa uống rượu, vừa ngân nga. Cái<br /> đũa tre trên tay ông thỉnh thoảng gõ tom tom<br /> chát xuống nền gạch Bát Tràng rắn bóng như<br /> sành. Ông đọc bài thơ bằng chữ nho trong<br /> quyển sách cúng còn sót lại trên ban. Ít chữ<br /> thánh hiền mà bố ông, cụ hương Bằng xưa<br /> dạy, vẫn còn đủ để ông hiểu mà ngâm ngợi.<br /> (Hương đêm, tr. 152).<br /> Mỗi truyện ngắn là câu chuyện của một<br /> con người, một số phận khác nhau với nhiều<br /> tầng lớp, từ nông dân đến trí thức, từ trẻ đến<br /> già. Vì vậy, mỗi nhân vật, Trần Thanh Cảnh<br /> lại khắc họa một nét tính cách, một số phận,<br /> những thay đổi về tâm trạng trước những biến<br /> động của thời thế. Với việc sử dụng từ láy<br /> linh hoạt, nhà văn đã phản ánh chân thực và<br /> sinh động thế giới nội tâm nhân vật trong<br /> từng hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ:<br /> - Hàn xuân đang bước vào tuổi cập kê.<br /> Đêm nằm ngủ, Hàn Xuân vật vã khóc nhớ<br /> cha. Sư bà ngồi bên vuốt ve dỗ dành nàng.<br /> Bàn tay sư bà dịu dàng xoa lên tấm thân con<br /> gái bắt đầu dậy thì của Hàn Xuân. (Giỗ hậu,<br /> tr. 220).<br /> - Tự nhiên, My có cảm giác bao nhiêu<br /> máu trong người nàng khi ấy đã bị hút hết<br /> ra, tơi tả tưới trên những cánh hoa bầm đỏ.<br /> Cũng từ hôm ấy, trái tim thiếu nữ của nàng<br /> không còn rung lên những nhịp đập đợi chờ,<br /> thấp thỏm, hy vọng, lo âu… (Hoa gạo tháng<br /> ba, tr. 275).<br /> <br /> 38<br /> <br /> 2.1.3. Dùng nhiều từ láy để miêu tả đặc<br /> điểm, hành động nhân vật<br /> Để khắc họa được nét riêng ở ngoại hình,<br /> tính cách, hành động của nhân vật, làm cho<br /> nhân vật sinh động hơn, chân thực hơn, Trần<br /> Thanh Cảnh đã dùng từ láy làm phương tiện<br /> hỗ trợ đắc lực trong việc miêu tả. Chẳng hạn,<br /> miêu tả nhân vật Hàn Xuân trong truyện ngắn<br /> Giỗ hậu, nhà văn đã viết:<br /> - Nhưng ngắm nàng khỏa thân tắm trong<br /> rời rợi ánh trăng, thân thể đàn bà nảy nở rực<br /> rỡ phô bày trong trăng nước còn đẹp hơn<br /> nhiều lần hình ảnh của cô trinh nữ tắm trăng<br /> năm ngoái.<br /> - Năm mười ba tuổi, Hàn Xuân đã đẹp<br /> rồi, nhưng đấy là cái đẹp của nụ hoa mới hé.<br /> Cái đẹp mong manh non nớt của một cọng<br /> ngó sen trắng muốt vừa mới nhú ra khỏi đất<br /> bùn.<br /> - Ngắm nhìn vẻ rạng rỡ của nàng khi ấy,<br /> làng vẫn bảo, gái phải hơi trai.<br /> - Mái tóc màu hung nâu lạ lẫm và bồng<br /> bềnh như mây mỗi khi thả ra.<br /> - Phin nhìn Hàn Xuân băng băng lội bùn<br /> vác đất, khuôn mặt đẹp của nàng hồng rực<br /> lên trong nắng chiều, đôi chân dài và cặp<br /> mông tròn lẳn thoăn thoắt lên xuống trên<br /> triền đê nhẹ nhàng như múa. (Giỗ hậu, tr.<br /> 238).<br /> Có thể nói, Trần Thanh Cảnh đã vẽ nên<br /> một cô gái mang vẻ đẹp chân quê, hồn hậu tự<br /> nhiên như bức tranh mộc bản; dường như, tất<br /> cả mọi nét đẹp của người con gái đều được<br /> phô bày. Vẻ đẹp cơ thể rất nồng nàn, hành<br /> động cũng rất mãnh liệt chứa đựng trong cái<br /> thân thể tràn trề. Đó là cả một nỗi khát khao<br /> được yêu thương - một khát khao rất đàn bà:<br /> - Khi Hàn Xuân mê man mộng mị trong<br /> nỗi khát thèm trên bậc cầu ao ngàn ngạt ánh<br /> trăng hạ tuần thì Phin đã nhanh chóng áp sát<br /> và thành thạo như một tay thực dân chính<br /> hiệu, chiếm đoạt nàng. Hàn Xuân vẫn đương<br /> mơ màng trong giấc mộng tình tự mình tạo<br /> ra, chưa kịp hiểu chuyện gì, đã thấy một thân<br /> thể đàn ông to lớn, mạnh mẽ khác thường,<br /> đang rầm rập tấn công vào đồn lũy nàng vẫn<br /> để ngỏ mời gọi bao đêm nay mà không kẻ nào<br /> dám vào. (Giỗ hậu, tr. 240).<br /> <br /> Trường Đại học Vinh<br /> <br /> Như vậy, việc sử dụng từ láy một cách tài<br /> tình trong tác phẩm đã góp phần tạo nên sự<br /> độc đáo trong truyện ngắn của Trần Thanh<br /> Cảnh. Cách dùng từ láy độc đáo của tác giả<br /> không chỉ tạo ra hiệu quả mới về ngữ nghĩa<br /> cho từ mà còn tăng thêm tính biểu cảm đối<br /> với đối tượng được phản ánh. Từ láy được sử<br /> dụng với tần số cao và đắc dụng nên chúng đã<br /> góp phần quan trọng trong sáng tạo nghệ<br /> thuật truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh. Từ<br /> láy đã góp phần làm cho cảnh vật thiên nhiên<br /> được miêu tả trong truyện của Trần Thanh<br /> Cảnh sống động, có hồn và nhân vật luôn<br /> được cá thể hóa với những nét tính cách, tâm<br /> trạng mỗi người mỗi vẻ.<br /> 2.2. Từ ngữ khẩu ngữ trong tập truyện<br /> ngắn Kỳ nhân làng Ngọc<br /> Theo Từ điển tiếng Việt, “Khẩu ngữ là<br /> ngôn ngữ nói thông thường, dùng trong cuộc<br /> sống hàng ngày, có đặc điểm đối lập với<br /> phong cách viết” [3]. Như vậy, khẩu ngữ là<br /> ngôn ngữ tồn tại chủ yếu ở dạng nói, được sử<br /> dụng để trao đổi tư tưởng, tình cảm trong sinh<br /> hoạt hàng ngày. Hình thức thường là đối<br /> thoại. Đặc điểm cơ bản của khẩu ngữ là phát<br /> ngôn ngắn, đơn giản về cấu trúc, thiên về sắc<br /> thái cảm xúc, nhiều biến thể phát âm. Nhìn<br /> chung, có thể hiểu từ khẩu ngữ là lớp từ tự<br /> nhiên, đời thường, chưa có sự gia công trau<br /> dồi, ít gắn với những chuẩn mực nguyên tắc.<br /> Khẩu ngữ là loại ngôn từ sinh động.<br /> Trong tác phẩm văn chương, lớp từ ngữ này<br /> có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp<br /> phần biểu đạt những nội dung mà tác giả<br /> muốn thể hiện mang tính hiện thực cao, chân<br /> thực và sinh động. Khi đi vào văn học viết,<br /> tiếng nói ấy mang cả hơi thở nóng hổi của<br /> cuộc sống thường nhật và điệu tâm hồn mỗi<br /> tầng lớp người, của mỗi vùng quê. Lớp từ ngữ<br /> khẩu ngữ cũng làm cho người đọc cảm nhận<br /> được nhân vật trong văn học gần gũi như<br /> chính con người bằng da bằng thịt trong cuộc<br /> đời. Có lẽ vì thế nên nhà văn ở bất kỳ thời đại<br /> nào cũng đều ý thức sâu sắc việc đưa khẩu<br /> ngữ vào trong tác phẩm của mình. Đặc biệt<br /> hơn, với sự đổi mới của văn học đương đại,<br /> hiện nay các nhà văn đều đưa vào tác phẩm<br /> <br /> Tạp chí khoa học, Tập 46, Số 2B (2017), tr. 35-42<br /> <br /> một khối lượng rất lớn ngôn từ thô ráp có tính<br /> chất tự nhiên của cuộc sống. Trần Thanh<br /> Cảnh cũng ý thức rất sâu sắc điều đó nên đã<br /> để cho ngôn ngữ đời sống đi vào tác phẩm<br /> với tất cả vẻ đẹp bình dị, thậm chí thô nhám,<br /> gai góc của nó.<br /> Căn cứ vào các dấu hiệu nhận biết về từ<br /> ngữ khẩu ngữ, chúng tôi tiến hành khảo sát<br /> tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc và đã thu<br /> được kết quả sau:<br /> 2.2.1. Về mặt cấu trúc hình thức, Trần<br /> Thanh Cảnh đã sử dụng nhiều cách thức, lối<br /> nói dân gian có vần có vè<br /> Trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng<br /> Ngọc, những cách nói quen thuộc của dân<br /> gian như thành ngữ, chêm xen, tách, lặp, nhấn<br /> mạnh… kiểu như: kén chọn -> kén cá chọn<br /> canh; chửi mắng -> chửi chó mắng mèo; ăn<br /> quỵt -> ăn chằng đéo quỵt; mơ mộng -> mơ<br /> với mộng… hoặc tăng cường các dạng láy<br /> hoặc lặp lại từ: hấp ha hấp háy để tạo ra từ<br /> mới đã được Trần Thanh Cảnh sử dụng rất<br /> tự nhiên và phổ biến.<br /> Sau đây, chúng tôi chỉ tập trung miêu<br /> tả cách Trần Thanh Cảnh dùng lớp từ ngữ<br /> khẩu ngữ quen thuộc trong dân gian.<br /> 2.2.2. Dùng những từ ngữ khẩu ngữ theo<br /> nhiều hình thức, cách thức khác nhau<br /> a. Dùng từ ngữ khẩu ngữ mang sắc thái<br /> đánh giá nhấn mạnh<br /> Ví dụ:<br /> … Mày ra đấy vào lúc tháo khoán, chạy<br /> không kịp, ễnh bụng ra thì có chó nó lấy. (tr.<br /> 12).<br /> … Tại sao xưa thân nhau mà giờ lại nhạt<br /> toẹt thế nhỉ?<br /> ... thua sạch đến độ phải lột hết cả quần<br /> áo gán nợ, trần trùng trục chạy về, xảy ra<br /> nhiều rồi. (tr. 100).<br /> Trần Thanh Cảnh dùng kiểu kết hợp một<br /> yếu tố đa phong cách với một yếu tố có nghĩa<br /> nhưng chỉ sử dụng trong giao tiếp khẩu ngữ<br /> để miêu tả cụ thể và dụng ý nhấn mạnh.<br /> Những từ như ễnh bụng, nhạt toẹt, lột hết,<br /> trần trùng trục không chỉ để nhấn mạnh mà<br /> còn biểu thị sắc thái mỉa mai, dè bỉu.<br /> <br /> 39<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2