intTypePromotion=1

.MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2 3. Giới hạn của vấn đề 9 4. Phương pháp nghiên cứu 11 5. Đóng góp của luận văn 12 6. Cấu trúc của luận văn 12 TrangChương 1:VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CHỦYẾU CỦA TIỂU THUY

Chia sẻ: Bút Màu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:30

0
692
lượt xem
47
download

.MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2 3. Giới hạn của vấn đề 9 4. Phương pháp nghiên cứu 11 5. Đóng góp của luận văn 12 6. Cấu trúc của luận văn 12 TrangChương 1:VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CHỦYẾU CỦA TIỂU THUY

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nhắc đến nhân vật trong văn học là lúc nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Trong tác phẩm văn học, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết, xây dựng nhân vật là vấn đề rất quan trọng mà nhà văn quan tâm. Bởi bản chất của văn học là một quan hệ với đời sống, văn học tái hiện đời sống qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò như những tấm gương của đời sống. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: .MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2 3. Giới hạn của vấn đề 9 4. Phương pháp nghiên cứu 11 5. Đóng góp của luận văn 12 6. Cấu trúc của luận văn 12 TrangChương 1:VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CHỦYẾU CỦA TIỂU THUY

  1. MỤC LỤC MỞ ĐẦU Trang 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2 3. Giới hạn của vấn đề 9 4. Phương pháp nghiên cứu 11 5. Đóng góp của luận văn 12 6. Cấu trúc của luận văn 12 Chương 1: VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU CỦA TIỂU THUYẾT NAM BỘ TỪ 1930 ĐẾN 1945 1.1. Văn hóa, xã hội Nam Bộ từ 1930 đến 1945 14 1.1.1. Tình hình kinh tế và chính trị 14 1.1.2. Tình hình giáo dục và văn hóa 17 1.1.3. Tình hình xuất bản và giải trí 20
  2. 1.1.4. Sự phân hóa của tầng lớp trí thức và đội ngũ cầm bút 26 1.2. Những thành tựu của tiểu thuyết Nam Bộ từ 1930 đến 1945 30 1.2.1. Vài nét về những thành tựu chủ yếu của tiểu thuyết Nam Bộ trước 1930 30 1.2.2. Những thành tựu chủ yếu của tiểu thuyết nam bộ từ 1930 đến 1945 39 § Tiểu kết 56 Chương 2: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO - ĐẶC ĐIỂM VÀ THÀNH TỰU 2.1. Cảm hứng đạo lí 59 2.2. Cảm hứng phê phán 73 2.3. Cảm hứng lịch sử và dân tộc 80 2.4. Cảm hứng về tình yêu 89 § Tiểu kết 102 Chương 3: NHỮNG PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN - ĐẶC ĐIỂM VÀ THÀNH TỰU CHỦ YẾU 3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 105 3.1.1. Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình và hành động 106
  3. 3.1.2. Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại 112 3.1.3. Xây dựng nhân vật qua miêu tả độc thoại nột tâm 118 3.2. Nghệ thuật kết cấu tác phẩm 123 3.2.1. Dạng kết cấu chương hồi và dạng feuilleton 124 3.2.2. Dạng kết cấu theo thời gian tuyến tính và kết cấu tâm lí 129 3.2.3. Dạng kết cấu theo hai tuyến nhân vật 136 § Tiểu kết 138 KẾT LUẬN 137 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 140 PHỤ LỤC 148
  4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nam Bộ 1930-1945 Nhắc đến nhân vật trong văn học là lúc nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Trong tác phẩm văn học, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết, xây dựng nhân vật là vấn đề rất quan trọng mà nhà văn quan tâm. Bởi bản chất của văn học là một quan hệ với đời sống, văn học tái hiện đời sống qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò như những tấm gương của đời sống. Nhân vật trong tác phẩm không chỉ thể hiện chủ đề, tư tưởng của tác phẩm mà còn thể hiện quan điểm nghệ thuật về con người của một nhà văn ở những thời điểm lịch sử nhất định. Nhà văn Tô Hoài cho rằng: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy trong một sáng tác”. Qủa đúng như vậy, “Nhân vật không chỉ là nơi bộc lộ tư tưởng, chủ đề tác phẩm mà còn là nơi tập trung các giá trị của tác phẩm. Thành bại của một đời văn, của một tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng nhân vật” [9, tr. 73]. Khi nhắc đến tên của tác giả hoặc tác phẩm của nhà văn, người đọc thường nhớ đến tên của nhân vật của họ. Chẳng hạn khi nhắc đến Nam Cao, người đọc nghĩ ngay đến các nhân vật văn học: Chí Phèo, Lão Hạc, Thứ. Nhắc đến Vũ Trọng Phụng người ta nghĩ ngay đến Xuân Tóc Đỏ, Nghị Hách. Nhân vật văn học vừa mang chức năng xã hội, vừa phải làm tròn chức năng văn học của nó. Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, ao ước và kỳ vọng về con người. Chính vì thế, thành công trong công cuộc xây dựng nhân vật chính là sự thành công của tác phẩm văn học.
  5. Nhìn chung tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn này sử dụng các phương thức xây dựng nhân vật chủ yếu sau đây: xây dựng nhân vật thông qua miêu tả ngoại hình, qua miêu tả hanh động, qua miêu tả độc thoại nội tâm của nhân vật. Việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật sẽ giúp nhà văn dễ thành công trong công việc xây dựng hình tượng nhân vật. Nhân vật, vì thế trở nên sống động và trở nên gần gũi với đời sống, tạo nên sự hấp dẫn cho người đọc. 3.1.1. Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình và hành động Các nhà văn Nam Bộ khi xây dựng, giới thiệu nhân vật trong tiểu thuyết thường dùng phương pháp miêu tả ngoại hình. Nhân vật được nhận biết trước hết qua diện mạo, cử chỉ, sắc phục, điệu đi tướng đứng. Thông qua diện mạo bên ngoài, người đọc dễ dàng nhận biết được phần nào về tính cách, thành phần xuất thân và số phận của nhân vật. Chỉ vài ba nét đơn sơ, dăm ba hàng thật linh động, các tác giả đã có thể phác họa nên một chân dung thích hợp cho mỗi vai. Đây là hình ảnh một thiếu nữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh: “Cô Xuân Hương ở nhà một mình, cô đốc phách gia dịch đứa vô phân mấy bình bông, đứa làm cỏ ngoài sau vườn. Cô mặc áo lụa trắng, quần lãnh đen, đầu gở sơ, chơn mang guốc, tai đeo một đôi bông lớn, tay trái đeo một chiếc vàng nhận hột xoàn, cô không trang điểm, không dồi phấn thoa son, mà vì cô có sắc sẵn, cô lại có duyên ngầm, tướng đi dịu dàng, gương mặt sáng rỡ bởi vậy ai thấy cô cũng đều trầm trồ khen thầm là gái đẹp” (Một đời tài sắc, nhà in Đức Lưu Phương, Sài Gòn, 1935, tr. 31). Qua một số dòng miêu tả, tác giả đã vẽ lên chân dung của nhân vật. Xuân Hương là hình ảnh thiếu nữ Nam Bộ
  6. thuộc gia đình khá giả. Mặc dù cô không trang điểm phấn son nhưng vẫn toát lên một vẽ đoan trang, hiền thục. Còn đây là một hình ảnh người phụ nữ có học thức: “Cô Nhung chắp tay cúi đầu chào mỗi người, cô có cái dáng yểu điệu, cái vóc thanh nhã. Lại thêm gò má ửng hồng, hai môi như thoa son đỏ, chơn mày cong vòng lại nhỏ rứt, miệng chúm chím cười rất có duyên” (Tại tôi, nhà in Đức Lưu Phương, Sài Gòn, 1938, tr. 20). Hay hình ảnh của cô Hảo (Cười gượng) được Hồ Biểu Chánh đặc tả: “Tuy là con nhà nghèo, thường ngày phải nấu cơm, xách nước, rửa bát, quét nhà, đến mùa làm ruộng lại còn phải phụ mẹ mà cấy gặt, song cô đã sẵn có dung nhan tuấn tú, nước da trắng đỏ, cặp mắt sáng ngời, gò má như miếng bầu, chơn mày như bán nguyệt, bàn tay dịu nhiễu mà ngón lại thon như mũi viết, mái tóc đen thui mà hơi quăn như như dợn sóng, tướng đi yểu điệu, tiếng nói trong ngần. Bởi vậy dù cô lam lũ mà săc không phai, hết thảy đờn bà trong làng ai cũng trầm trồ khen cô là gái đẹp. Cô đã có sắc, mà lúc còn nhỏ nhờ có cha kềm dạy, nên cô lại biết chữ nho, biết làm thi nôm, sự học thức ấy làm cho cao phẩm giá của cô, bởi vậy những con nhà nghèo, hoặc con hương chức nhỏ trong làng không có một mặt nào dám gắm ghé” (Cười gượng, Nhà in Đức Lưu Phương, Sài Gòn, 1935, tr.5). Chân dung của cô Thường (Người vợ hiền) được Nguyễn Thới Xuyên miêu tả: “Cô Thường là cô dâu mới, vốn con nhà giàu, to xương, hình vóc không được dịu dàng. Đầu nhỏ, cổ cao, tay chơn lớn hơn của đàn ông, xem bấy nhiêu cũng đủ hiểu người không thông minh, không có xảo thủ trong những việc tỉ mỉ, không phải cái bàn chơn để đi dày nhỏ nhẹ, không phải cái bàn tay cầm kim gọn gang ở trên các khuôn thêu, cũng không phải cái bàn tay vuốt ve chồng trong lúc buồn rầu, mơn trớn trong mấy cơn đau yếu… nhưng mà thật da trắng, môi dày tóc huyền, trông cũng là khà đẹp”
  7. (Người vợ hiền, Báo Phụ nữ tân văn xb, Sài Gòn, 1931, tr.13). Những hình ảnh này mang tính ước lệ của văn chương cũ về quan ddierm tả người nhưng lại pha lẫn nghệ thuật tả chân trong tiểu thuyết phương Tây ở cái nhìn khá chi tiết. Hình ảnh vua Gia Long (Gia Long tẩu quốc) cho thấy sự kết hợp giũa cách miêu tả ước lệ truyền thống và lối tả chân hiện đại: “Lúc bấy giờ trong nhà ấy có một thanh niên trạc chừng mười tám tuổi, xem diện mạo tỏ ra một người phong tuấn dật, cốt cách phi thường, sống mũi thẳng mà cao, tròng mắt lonh lanh, hiện ra mấy ánh hào quang chói sáng, trán cao mày rậm, mặt trắng môi hồng, hình dạng chắc chắn khôi ngô xem ra có vẻ anh hùng khí tượng, thật là một tướng mạo đường hoàng, dung nghi tề chỉnh. Đầu bịt một khăn vàng, mình mặc một cái vỏ bào trắng, chơn mang một đôi võ hài đen, chói ra nhấm nháp” (Gia Long tẩu quốc, nhà in Xưa Nay, Sài Gòn, 1930, tr. 3). Vua Gia Long được miêu tả vừa có những nét tướng mạo của chân mạng đế vương, phi thường vừa có nét của con người bình thường. Cách xây dựng nhân vật thông qua miêu tả loại hình của nhân vật không phải là mới. Thủ pháp này được thể hiện khá phổ biến trong văn học thời kỳ trung đại. Các nhà văn Nam Bộ khi sử dụng thủ pháp này đã có nhiều cách tân đáng kể. Nếu như trong văn học cổ việc miêu tả nhân vật thông qua ngoại hình với những chi tiết có tính ước lệ, thể hiện tính cách phi phàm của nhân vật thì trong tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn này đã đổi khác. Các chi tiết bình thường nhỏ nhặt làm nên hình hài và tính cách nhân vật được nhà văn chú trọng. Nhân vật được miêu tả từ nhiều yếu tố nhỉ như: mái tóc, hàm răng, điệu cười, ánh mắt, tướng đị, quần áo, trang sức cùng những cử chỉ nhỏ nhặt của một con người bình thường. Do vậy, nhân vật trong tiểu thuyết đã thoát
  8. khỏi tính ước lệ kiểu “Râu hùm hàm én mày ngài, Vai năm tấc rộng thân mười thước cao” (Truyện Kiều) để trở về với khuôn mẫu của cuộc đời thực. Các nhân vật được nhà văn miêu tả thực như những con người đang hiện diện đâu đó trong cuộc sống. Chẳng Bửu Đình đã miêu tả Kiều Tiên (Mảnh trăng thu) như sau: “Một người đàn bà trạc chừng hai mươi ba, hai mươi bốn, khuôn mặt tròn, khóe mắt rất đen, mà trong sáng long lanh, mũi nhỏ ngay thẳng như nét kẻ, hai má hơi tóp, miệng nhỏ mà hai cái môi đỏ như son. Cái đẹp ấy dường như một bức tranh chiều hôm, nửa còn ánh mặt trời chiếu xuống hồng hồng, nửa còn bóng mặt trăng soi vào vòng vàng chứa chan muôn mối tình cảm, muôn nỗi sầu tư. Càng trông càng thấy vẻ đẹp, mà đẹp một cách sâu sắc, đẹp một cách đậm đà. Trong vẻ đẹp ấy có hơi lộ ra sự ảo não, nỗi thương sầu của người trong cuộc” (Mảnh trăng thu, nhà in Xưa Nay, Sài Gòn 1931, tr. 36). Kiều Tiên hiện lên dưới ngòi bút của tác giả là cô gái xinh đẹp, thanh tú. Không những thế, tác giả còn gợi cho người đọc dự cảm về một con người tài hoa nhưng bạc phận. Đó là một vẻ đẹp trầm lắng của tấm lòng nhiều tâm sự, uẩn tình. Kiều Tiên cũng là hình ảnh dễ bắt gặp ở những cô gái mới lớn, đi học, tiếp thu văn hóa mới của xã hội hiện đại nhưng vẫn giữ được nét truyền thống ở các mặt công dung ngôn hạnh: “Tôi từ giã trường học lầm này là lần cuối cùng, vì tôi dâng lời mẹ già về ở nhà để chăm lo việc tề gia nội trợ. Mẹ tôi đã dặn rằng: cho con học để cho biết lẽ không dại, phải trái xưa nay để tạo thành con ra một người đàn bà tốt, chớ không phải là làm cô giáo, bà đốc, cô mụ, bà thầy đâu…. Lời mẹ tôi dạy như thế thật hợp lòng tôi” (sđđ, tr. 38). Sự dung hòa giữa vẻ đẹp hiện tại và vẻ truyền thống nơi nhân vật Kiều Tiên không khác bao nhiêu so với nhân vật Mai trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân của Khái Hưng. Cái mới của nhân vật này
  9. không chỉ biểu hiện ở quan niệm, hành động mà còn thể hiện ở dáng vẻ bên ngoài, chẳng hạn như hình ảnh cô Vân trong tiểu thuyết Khóc thầm của Hồ Biểu Chánh: “Cô vân hình vóc chắc chắn, mạnh mẽ, bộ đi đứng gọn gang, bặt thiệp, nước da trắng gương mặt tròn, ăn nói bải buôi, tư cách thanh nhã. Cô mặc chiếc màu nước biển, áo may khéo lại mày hợp với nước da nên làm cho vẻ đẹp của cô càng đẹp hơn nữa” (Khóc thầm, nhà in Nguyễn Văn Của, Sài Gòn, 1935, tr. 35). Còn đây là hình ảnh của Tám Lọ, người giúp việc cho Thành Trai trong tiểu thuyết Mảnh trăng thu: “Tám lọ thân hình vạm vỡ, hai con mắt tròn vo, trán rộng, má bầu, miệng lớn, mũi to, mặc áo vải trắng, quần đen, tác độ mười chín hai mươi tuổi. Con mắt sáng như con mèo lúc ban đêm, cái lưng nó lớn mà hai cái vai bằng, tướng coi mạnh dạn và lanh lợi lắm” (sđđ, tr. 275). Qua cách miêu tả, tác giả đã cho người đọc thấy Tám Lọ là người thông minh, lanh lợi và hết mực trung thành với chủ. Một só nhân vật trong tiểu thuyết Nam Bộ được nhà văn miêu tả qua sự quan sát, nhận xét và đánh giá của một nhân vật khác. Lần đầu xuất hiện, cô Hạnh (Kẻ oan người ưng, được nhà văn Nguyễn Bữu Mộc giới thiệu ngoại hình qua con mắt của Đệ Nhứt: “Đệ Nhứt thấy một cô tác chừng 17, 18 tuổi, cổ đeo sợi dây chuyền vàng Tây, mình mặc quần lãnh trắng, áo tím than, chơn mang giày cao gót, tay cặp cây dù màu trứng gà, thẳng bước đến thầy mà miệng cười chúm chím thì thầy không biết là ai, nên ngó sững” (Kẻ oan người ưng, nhà in Nguyễn Văn Viết, Sài Gòn, 1932, tr. 2). Lúc đó nhân vật hiện lên trước mắt người đọc có vẻ khách quan hơn, thật hơn. Cách miêu tả chân dung nhân vật trong tiểu thuyết Nam Bộ ngày càng theo hướng cụ thể hóa, cá thể hóa. Nhiều nhân vật điển hình trong tiểu thuyết Nam
  10. Bộ đã được các nhà văn xây dựng. Người đọc sẽ không thể quên được hình ảnh của những bà Án, bà Phủ, bà Cả, bà Hội đồng đầu thế kỷ XX. Những nhân vật thuộc tầng lớp trên này không khác mấy so với các nhân vật trong tiểu thuyết miền Bắc. Đó là những con người ít học, độc ác, tham lam, sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để bóc lột tá điền. Người đọc cũng không thể nào quên được những hoàn cảnh, những hình ảnh đáng thương như anh nông dân Trần Văn Sửu, anh Cai Tuần Bưởi, chị Ba Thời trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh; hình ảnh vợ chồng Năm Vạn trong tiểu thuyết Nguyễn Bửu Mộc v.v… Hình ảnh của Trần Văn Sửu trong tiểu thuyết Cha con nghĩa nặng của nhà văn Hồ Biểu Chánh là hình ảnh khá tiêu biểu cho người tá điền ở Nam Bộ: “Anh mặc một cái áo vải đen nhụt nhụt, một cái quần vắn lai đứt tả tơi, đầu bịt trùm một cái khăn rằn, miệng ngậm trầu một búng, tay mặt cầm một khúc cây cóc, tay trái xách một xâu hai con cá lóc với ba bốn con cá rô…” (Cha con nghĩa nặng, nhà in Đức Lưu Phương, Sài Gòn, 1938, tr. 45). Cuộc đời lam lũ của người tá điền làm thuê, cuốc mướn hiện rõ trên từng chi tiết nhỏ qua trang phục và công việc. Có thể thấy, cách miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết Nam Bộ đã chịu ảnh hưởng của lối tả chân trong tiểu thuyết của phương Tây. Lối tả chân xuất hiện trong tiểu thuyết của Nam Bộ một phần là do chính đặc trưng của thể loại tiểu thuyết văn xuôi quy định. Các tiểu thuyết bằng thơ thời kỳ trung đại khó có khả năng này. Thơ đường bị bó buộc bằng niêm luật, câu chữ, hơn nữa khả năng diễn giải không phải là thế mạnh của thơ. Với thể văn xuôi, khả năng miêu tả hết sức thuận lợi. Có thể nói mặt mạnh của văn xuôi là khả năng miêu tả vô cùng lớn. Do khả năng bao quát cuộc sống một cách rộng lớn nên
  11. thế giới nhân vật của các tác phẩm văn xuôi thường đa dạng hơn, đầy đặn hơn so với tác phẩm thơ. Nhân vật trong tác phẩm văn xuôi có thể được miêu tả một cách kỹ càng từ chân dung ngoại hình cho đến suy tư thầm kín bên trong, từ hành trạng cho đến quá trình phát triển, từ quan hệ này đến quan hệ khác. Tiểu thuyết viết bằng văn xuôi khi khắc họa chân dung nhân vật đã có nhiều lợi thế và khả năng, một trong số đó là có khả năng miêu tả con người như bản chất vốn có của nó. Thế nhưng xét cho kỹ, các nhà văn Nam Bộ vẫn còn nhiều những hạn chế trong việc xây dựng chân dung nhân vật. Người cầm bút Nam Bộ vẫn chưa thực sự có sự đa dạng hóa trong cách miêu tả, chưa thực sự có khả năng cá biệt hóa nhân vật của mình qua hình dáng bên ngoài. Khi miêu tả nhân vật nữ, các nhà văn thường gặp nhau ở một số cách miêu tả cụ thể. Chẳng hạn khi tả người phụ nữ thì nhất thiết: làn da phải trắng, nét môi phải hồng, ngón tay phải thon dài, hàm răng phải đều đặn, cặp mắt phải long lanh, cử chỉ dọng nói phải nhỏ nhẹ v.v… Người đọc khó có thể tìm thấy một chân dung nhân vật kiểu như Chí Phèo, Thị Nở của nhà văn Nam Cao trong tiểu thuyết Nam Bộ. Cách miểu tả nhân vật trong tiểu thuyết Nam Bộ nhiều khi lặp lại mang tính công thức có thể khiến người đọc dễ nhàm chán. Các nhà văn Nam Bộ khi xây dựng nhân vật cũng thường xác định tính cách và phẩm chất nhân vật thông qua tên gọi. Tên gọi của nhân vật phần nào cho thấy bản chất con người của nhân vật mà nhà văn muốn xây dựng. Những cái tên lắm lúc gợi cho người đọc đoán biết được những tính cách và phẩm chất nhân vật. Chẳng hạn những cái tên của nhân vật như : Hảo (Cười gượng), Hạnh (Kẻ oán người ưng), Quý (Mẹ ghẻ con ghẻ), gợi nhớ những người con gái có phẩm hạnh tốt;
  12. thị Bần, thằng Bỉ, thằng Cực, con Lượm (Mạng nhà nghèo) gợi lên hình ảnh đói khổ, cơ cực của các nhân vật; Đặng Thiên Tường (Tham ắt phải thâm) là cái tên người đời thường gọi Đặng Trường Phước, nghĩa là “người thương tiền hơn, chớ không thương ai hết”; Thiện Tâm (Hòn máu bỏ rơi), Hữu Nhơn (Tại tôi), Lê Quý Hữu (Hổ thầm), là những người tốt bụng luôn giúp những người nghèo khó, những người kém may mắn; Bội Nghĩa (Hổ thầm) có bản chất lừa thầy phản bạn; Diệt Tộc (Mạng nhà nghèo) là người giết vợ trước, giết vợ sau và giết cả cha của mình v.v… 3.1.2. Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại Thủ pháp xây dựng nhân vật qua miêu tả hành động và đối thoại được các nhà văn Nam Bộ chú ý. Thủ pháp này thường thấy trong văn học cổ, thế nhưng nếu nhà văn khéo léo sử dụng thì vẫn phát huy hiệu quả cao. Nhưng nếu quá lạm dụng và chỉ chú ý đến hành động nhân vật mà bỏ qua đời sống tâm lý thì nhân vật dễ trở thành loại “nhân vật chức năng” của văn học cũ. Loại nhân vật chức năng thường ít có đời sống nội tâm, phẩm chất và đặc điểm của nhân vật thường là cố định, ít thay đổi trong toàn bộ câu chuyện, nhân vật thường rơi vào tình trạng khô cứng, một chiều. Thủ pháp miêu tả hành động và lời nói sẽ bổ sung cho những thủ pháp nghệ thuật khác để tạo nên hiệu quả nghệ thuật. Nhân vật không chỉ đơn thuần là độc thoại mà phải hành động, phải đối thoại. Hành động làm nên chân dung của nhân vật. Nhân vật tồn tại qua hành động. Phương pháp xây dựng nhân vật qua miêu tả hành động và lời nói góp phần đáng kể vào việc thể hiện tính cách nhân vật. Những hành động của nhân vật
  13. được các tác giả miêu tả rất sinh động, lắm lúc gây cho ngừơi đọc những cảm giác hồi hộp, thích thú. Tiểu thuyết Nam Bộ thường miêu tả về hành động, cốt truyện thường phiêu lưu, ly kỳ. Nhân vật trong tiểu thuyết thường là nhân vật phiêu lưu trên những không gian rộng lớn với những bất trắc của cuộc đời, những cuộc chia ly và gặp gỡ kỳ thú. Đó là những cuộc phiêu lưu của Trần Văn Sửu (Cha con nghĩa nặng ), của Quý (Mẹ ghẻ con ghẻ), của Ba Lân (Lời thề trước miễu), của Hai Phục (Nợ đời), của Hai Cường, Lê (Sống thác với tình), của Nguyễn Ánh (Gia Long tẩu quốc, Gia Long phục quốc), của Lý Thường Kiệt (Việt Nam Lý Thường Kiệt), của Như Hoa (Thói đời đen bạc, tình nghĩa đổi thay) v.v… Việc xây dựng cốt truyện, nhân vật thiên về phiêu lưu hành động trong tiểu thuyết Nam Bộ là chịu ảnh hưởng một phần từ trong truyền thống văn học Nam Bộ và từ văn học nước ngoài. Trong truyền thuyết văn học Nam Bộ, truyện Lục Vân Tiên là tác phẩm chứa nhiều yếu tố phiêu lưu ly kỳ nơi cốt truyện và nhân vật. Những tiểu thuyết nước ngoài có ảnh hưởng đến tiểu thuyết Nam Bộ phần lớn là những cuốn tiểu thuyết có cốt truyện phiêu lưu, nhiều hành động. Chẳng hạn như các tiểu thuyết Trung Hoa ( Tam quốc chí, Thuỷ hử, Đông chu liệt quốc, Càng Long du Giang Nam v.v…), và tiểu thuyết Pháp ( La comte de monte Cristo, Sans famille, En famille, Les misérables v.v…). những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh thời ký đầu chủ yếu được phóng tác từ một số tiểu thuyết có cốt truyện và nhân vật phiêu lưu trong văn học Pháp. Về sau này hầu hết các tiểu thuyết Nam Bộ dều có cốt truyện và nhân vật thiên về hành động, phiêu lưu. Thủ pháp miêu tả nhân vật qua hành động dễ thấy nhất là trong các tiểu thuyết trinh thám võ hiếp, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết phong tục xã hội
  14. hơn là tiểu thuyết tâm lý. Chẳng hạn các nhân vật như Thành Mai, Minh Đường, Tam Lọ, Nguyễn Viết Sung (Mảnh trăng thu, Cậu Tám Lọ), Hùng Minh, Anh Phong Thiện (Tôi có tội) thường được các nhà văn chú trọng dùng thủ pháp miêu tả hành động để thể hiện tính cách và chân dung. Các tác giả cũng chú ý và dụng công miêu tả nhân vật qua đối thoại. Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trong tiểu thuyết Nam Bộ cũng đậm đà chất hiện thực cuộc sống. Có thể thấy, thế mạnh của tiểu thuyết Nam Bộ là đối thoại. Mật độ ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết rất lớn khiến cho câu văn giàu nhạc tính, diễn biến câu chuyện vận động nhanh, nhiều kịch tính, nhiều bất ngờ. Các nhà văn đã đem vào trong tác phẩm của mình gần như nguyên vẹn những câu nói thường ngày, những đoạn đối thoại sinh động đậm chất phương ngữ của vùgn Nam Bộ. Điều đó tạo nên những thành công của tiểu thuyết trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật, khắc hoạ chân dung của những con người Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX từ thành thị cho tới thôn quê. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết rất đa dạng với những kiểu đối thoại và giọng điệu khác nhau. Các nhà văn Nam Bộ đặc biệt chú ý trong việc lựa chọn ngôn ngữ cảu nhân vật làm sao để phù hợp với trình độ, thành phần xuất thân, tính cách của nhân vật. Vì thế ngôn ngữ đối thoại đã góp phần xây dựng nhân vật cũng như cá thể hoá nhân vật. Đây là những lời đối thoại của thị Lựu (Cha con nghĩa nặng) với chống là Trần Văn Sửu: “Thị Lựu đi chơi về, bước vô buồng thấy chồng nằm với con thì hỏi rằng: - Làm giống gì vô nằm sầm sầm đó?
  15. - Thằng nhỏ khóc ta vô dỗ nó chớ. Đi đâu dữ vậy? - Đi đâu hỏi làm chi? Không cho đi chơi đi bời gì sao? - Ta hỏi cho biết vậy mà. - Tao không muốn mày hỏi. Đi ra ngoài. Vô nằm trên gối ta đây rồi dính mồ hôi, hôi rình ai mà chịu cho được. - Khéo nói hôn! Tưởng ta là trâu chó gì đây hay sao mà nên hôi. - Không phải trâu chó, mà cái hôi kỳ cục lắm, không ai chịu được” (tr. 36) Đợi vợ sắp tắt đèn đi vô buồng, anh ta mới mò mà đi theo. Anh ta vừa khoát mùng leo lên giường thì thị Lựu nói rằng: - Ra ngoài ngủ với sắp nhỏ nà! Lọ dọ đi đâu đó? - Để tao nằm tao nói chuyện một chút. - Chuyện gì? Sao hồi nãy không nói, để ta đi ngủ rồi vô làm rộn đó? - Nói giống gì sao không nói đi? - Họ nói với tao một chuyện kỳ quá. - Chuyện gì? - Tao nói lại mày nghe, như không có thì thôi, còn nếu có thì mày phải chịu, chớ đừng có chối nghe hôn?
  16. - Ai biết chuyện gì đâu mà phải chịu. - Như tao hỏi mà có thì mày phải chịu chớ. - Chuyện gì cũng vậy, hễ có thì tao chịu, chớ sợ ai mà chối. - Ờ, thôi để tao nói cho mà nghe. Bữa nay tao đi gặt, có hai người nói với tao rằng mày lấy Hương hào Hội, có hôn? Thị Lựu vừa nghe nói thì vùng ngồi dậy hỏi rằng: - Quân nào bày chuyện đó? - Người ta nói thiếu gì. - Mà thằng nào nói với mầy đó kìa. Mầy phải nói tên nó cho tao biết, đặng tao đến nhà nó tao đào nát ông nát cha nó cho nó biết mặt tao. Tao lấy Hương hào Hội hồi nào, tao có đem lên bàn thờ cha nó tao lấy hay sao nên nó ngó thấy mà nó dám nói như vậy hử? Thằng nào nói xấu cho tao đó, mầy phải chỉ tên nó ra cho mau. - Thôi đừng có nóng. Người ta nói như vậy, nếu mầy không có thì thôi, chớ chửi người ta làm chi” (tr. 56). Qua đoạn trích, tác giả đã cho thấy được phần nào tính cách của hai nhân vật là thị Lựu và Trần Văn Sửu. Thị Lựu là người dữ dằn, chua ngoa, đanh đá và thô lỗ thể hiện qua những lời nói với chồng. Khi nghe Trần Văn Sửu hỏi thị về chuyện người ta đồn ầm lên là thị thông dâm với Hương hào Hội, Lựu không chịu là phải, còn muốn “đào nát ông nát cha” đứa nào dám phao tin.
  17. Thị biết là chuyện thị ngoại tình đã bị phát giác nhưng thị vẫn tìm cách chối phủi. Còn Trần Văn Sửu ch thấy sự thật thà và hiền lành cả trong lời nói và hành động. Trong cách nói của Sửu có vẻ gì đó rất vị nể vợ. Đó cũng là điều khiến cho cách nói năng, hành động của thị Lựu có phần lấn lướt so với Sửu. Hay chỉ vài dòng đối thoại sau đây giữa bà Hai Tăng và cô Phục trong tác phẩm Nợ đời của Hồ Biểu Chánh đã cho thấy điều đó: “Bà biến sắc, môi tái xanh, bà vùng đứng dậy gọn gằng, bà bước lại hỏi con Phục rằng: - Mầy nói lấy cậu Hai, mà cậu Hai nào? - Cậu Hai ở trong nhà đây. - Hả! Mầy nói sao? Tổ tiên mầy, mầy hư, mầy thúi, mầy làm đĩ lấy trai ở đâu cho có chửa bụng thè lè, rồi bây giờ mày nói xán xả cho cháu tao hả? Cháu tao như rồng như phụng, còn mầy là quân ăn mày, mầy rửa đít cho nó cũng chưa được, sao mầy dám nói như vậy? Bà và nói và xỉ trong mặt con Phục. Nó sợ quá nên đưa hai tay bụm mặt. Bà giận, bà liền giựt cây chổi lông gà máng theo cây cột gần đó, bà áp đập loạn xạ trên đầu trên vai nó. Con Phục chạy vô trong mà tránh đòn. Bà vừa rượt theo và mắng om sòm rằng: ‘Đồ đĩ chó! Mầy phải ra khỏi nhà tao liền bây giờ đây. Đi. Đi cho tao mau, tao không chứa nữa’” (Nợ đời, nhà in Đức Lưu Phương, Sài Gòn, 1936, tr.41).
  18. Hai Phục là con gái của vợ chồng hương Thân. Khi cha mẹ mất, Phục về sống với vợ chồng Cai tuần Kim. Được một thời gian thì bà Hai Tăng là thím của Phục đón cô lên Sài Gòn nuôi. Bà Hai Tăng đón Phục về nuôi không phải vì thương cháu đói khổ mà vì muốn Phục giúp việc nhà. Từ ngày về sống với thím, Phục bị đối xử rất tệ bạc. Khi bà Hai Tăng biết Phục đã mang thai với cháu mình là Hai Hùng, không cần suy xét, bà đã đánh đập và chửi mắng Phục thậm tệ. Đoạn đối thoại trên đã phần nào cho thấy được bản tính của bà Hai Tăng. Nhân vật Hai Tăng được tác giả khắc họa là người ít học, lỗ mãng và ích kỷ. Những lời lẽ thô lỗ trên rất phù hợp với tính cách của bà Hai Tăng. Nhân vật Hai Tăng được tác giả khắc hoạ là người ít học, chua ngoa, lỗ mãng và ích kỷ. Những lời lẽ thô lỗ trên rất phù hợp với tính cách của bà Tăng. Còn đây là đoạn đối thoại giữa Hội đồng Nghĩa và anh nông dân Sáu Bội trong tiểu thuyết phóng sự Đồng quê của Phi Vân: “- Bẩm chủ, tôi xin mướn ruộng chớ không lãnh ruộng giao. - Ấy, việc mướn chác thì mình biết với nhau, còn giấy tờ thì mình phải làm như vậy cho đúng phép. Phỏng như là tờ mướn rồi nửa chừng mày bỏ trốn có phải lòng dòng tao thêm không? Làm như vậy mày lãnh làm công, rồi có muốn trốn, ruộng của tao, bất quá tao gặt lúa trừ. Tao ngừa như vậy, tá điền tao đứa nào cũng làm kiểu đó, mà có đứa nào kêu ca gì đâu! Bây dựt của tao thì có, chớ tao, điền ruộng mênh mông, chẳng đời nào tao thèm dựt của bây! - Bẩm chủ, còn tiền lấy thêm? Hai chục đồng, tôi đâu có hỏi gì đâu?
  19. - Mày quê lắm. Tiền đó tao buộc phải vay, tới mùa tao đong lúa trừ. Tao tín mỗi giạ năm cắc. Phải vay mới có mà ăn đặng làm chớ, không lẽ mày cạp đất mà cày ruộng sao? - Nhưng…giá lúa bây giờ đến hai đồng một giạ! - Thì hai đồng bây giờ. Đây ra giêng còn tới bốn tháng nữa. Chừng đó giá lúa lên cao tao nhờ, sụt tao chịu. Tao dám cho như vậy mà mầy còn chê mắc chê rẻ…thôi không bằng lòng để ruộng lại đó cho tao” (Đồng quê, Nxb Văn nghệ TP. HCM, 1988, tr.114 – 115). Qua đoạn đối thoại sinh động, tác giả đã khắc hoạ được chân dung các nhân vật “rặt” Nam Bộ là Điền chủ Nghĩa và anh nông dân Sáu Bội. Sáu Bội là tá điền nghèo khổ đi mướn đất của Điền chủ Nghĩa. Điền chủ Nghĩa biết được hoàn cảnh khó khăn của Sáu Bội đã dùng thủ đoạn khôn khéo, tinh vi để chèn ép, bóc lột sức lao động của gia đình anh. Lời lẽ của Sáu thật thà, chất phác bao nhiêu thì lời lẽ của Nghĩa được tác giả miêu tả khôn ngoan, thủ đoạn bấy nhiêu. Rõ ràng thông qua những đoạn đối thoại và hành động của nhân vật, chân dung của nhân vật hiện ra rõ hơn, đầy đủ hơn. Nếu như cách miêu tả ngoại hình của nhân vật mới chỉ tạo nên hình dáng bên ngoài thì việc thể hiện đối thoại và hành động đã tạo nên cái hồn của nhân vật. tính cách của nhân vật qua đó cũng được thể hiện rõ hơn. Tiểu thuyết Nam Bộ ngày càng khai thác có hiệu quả những lời đối thoại của nhân vật. Những lời thoại nhân vật xuất phát từ chính những suy nghĩ, từ diễn
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2