
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TẬP LỚN MÔN LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
Chủ đề: Đánh giá các quy định về điều kiện sinh con bằng kỹ thuật thụ
tinh trong ống nghiệm và xác định cha, mẹ, con trong trường hợp đó
Họ và Tên: Lê Quảng Dũng
Mã sinh viên: 22A5201D0035
Hà Nội, 2025

LỜI MỞ ĐẦU
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong
việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình tại Việt
Nam. Một trong những nội dung đáng chú ý của luật này là việc quy định cụ thể về điều
kiện sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và xác định quan hệ cha, mẹ, con
trong những trường hợp áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Trong bối cảnh tỷ lệ vô sinh,
hiếm muộn ngày càng gia tăng, sự phát triển của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đặc biệt là
thụ tinh trong ống nghiệm, đã mở ra cơ hội làm cha, làm mẹ cho nhiều cặp vợ chồng. Tuy
nhiên, cùng với sự tiến bộ của y học, các vấn đề pháp lý liên quan đến xác định cha, mẹ,
con cũng trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi pháp luật phải có những quy định rõ ràng, hợp lý
để bảo đảm quyền và lợi ích của các bên
Bài tiểu luận này tập trung đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về điều kiện
sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và nguyên tắc xác định cha, mẹ, con
theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cùng các văn bản hướng dẫn có liên quan, qua
đó làm rõ những quy định của pháp luật về điều kiện sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong
ống nghiệm và xác định quan hệ cha, mẹ, con.
NỘI DUNG
I. Quy định về điều kiện sinh con theo kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
1.1. Khái niệm sinh con theo kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm
Căn cứ khoản 1 Điều 2 Nghị định 207/2025/NĐ-CP:“Thụ tinh trong ống nghiệm
là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi.”
Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệp là trong những phương pháp sinh con bằng kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản, được quy định tại khoản 21, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 (LHN&GĐ 2014) như sau: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con
bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”. Kỹ thuật thụ tinh trong
ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi.
Hay nói cách khác, phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp mà trứng và
tinh trùng được thụ tinh bên ngoài cổ tử cung của người phụ nữ. Ngày nay, với công nghệ

tiên tiến, tỷ lệ mang thai của người được thụ tinh trong ống nghiệm đã được nâng lên
đáng kể so với trước đây.
1.2. Điều kiện được áp dụng sinh con theo kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm
1.2.1. Điều kiện về đối tượng được áp dụng sinh con theo kỹ thuật thụ tinh ống
nghiệm
Đối tượng được áp dụng sinh con theo kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm được quy định
tại điều 5 Nghị định 207/2025 NĐ – CP quy định về các đối tượng được áp dụng kỹ thuật
thụ tinh trong ống nghiệp bao gồm: cặp vợ chồng vô sinh, phụ nữ độc thân mong muốn có
con áp dụng.
- Cặp vợ chồng vô sinh: Khái niệm “vô sinh” được hiểu theo quy định tại khoản 3
Điều 2 Nghị định số 207/2025/NĐ-CP, là “ Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm
chung sống có quan hệ tình dục, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người phụ nữ
vẫn không có thai; hoặc phụ nữ, nam giới có khuyết tật hoặc tình trạng bệnh lý dẫn đến
suy giảm khả năng sinh con”. Các nguyên nhân dẫn đến vô sinh có thể xuất phát từ người
đàn ông và cũng có thể xuất phát từ người phụ nữ. Vô sinh có thể là nguyên phát, tức là từ
trước đến giờ người phụ nữ hay người đàn ông chưa bao giờ có con, cũng có thể là thứ
phát, tức là đã từng có con, nhưng sau đó mất khả năng này.
- Phụ nữ độc thân: Khoản 4 Điều 2 Nghị định số 207/2025/NĐ-CP, quy định như
sau:l“Phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của
pháp luật”.lNghĩa là, tại thời điểm đó, người phụ nữ không có quan hệ hôn nhân với bất
kỳ ai. Mặc dù không muốn bị ràng buộc bởi hôn nhân nhưng họ vẫn muốn có một đứa
con để yêu thương, chăm sóc, đó cũng là một trong những lý do dẫn đến người phụ nữ lựa
chọn phương pháp này.
Từ đó, có thể thấy các quy định của pháp luật đã quy định rất chặt chẽ về các đối
tượng được áp dụng kỹ thuật này, không phải bất kỳ trường hợp nào mong muốn được áp
dụng kỹ thuật sinh con bằng biện pháp này, mà chỉ những trường hợp được pháp luật quy
định tại Điều 5, Nghị định 207/2025 NĐ – CP mới được áp dụng sinh con theo kỹ thuật
thụ tinh ống nghiệm.

1.2.2. Điều kiện về nguồn tinh trùng, noãn( trứng), phôi được áp dụng sinh con
theo kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm
Việc sử dụng tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh trong ống nghiệm có các quy
định cụ thể như sau:
Sử dụng tinh trùng, noãn, phôi của chính cặp vợ chồng: Nếu cả hai bên có đủ
điều kiện sinh sản, họ có thể sử dụng nguồn trứng và tinh trùng của chính mình để tạo
phôi.
Sử dụng tinh trùng, trứng hiến tặng:
* Về người cho tinh trùng, noãn được quy định tại Điều 4 Nghị định 207/2025
NĐ-CP
- Độ tuổi: Nam giới: Từ 20 - 55 tuổi; Nữ giới: Từ 18 - 32 tuổi (phải có sức khỏe
sinh sản tốt).
- Tình trạng sức khỏe: Không mắc bệnh di truyền, truyền nhiễm, tâm thần; Được
kiểm tra và xét nghiệm y tế theo quy định.
- Nhân thân: Phải tự nguyện hiến tặng, không vì mục đích thương mại; Không
được hiến tặng cho người có quan hệ huyết thống gần gũi.
- Quyền và nghĩa vụ:
+ Người hiến không có quyền và nghĩa vụ đối với đứa trẻ sinh ra từ tinh
trùng/trứng của mình;
+ Danh tính của người hiến được bảo mật;
+ Người hiến tặng không được có quan hệ huyết thống gần gũi với người nhận;
+ Người hiến tặng không có quyền và nghĩa vụ đối với đứa trẻ sinh ra từ nguồn
trứng/tinh trùng của mình.
* Người nhận tinh trùng được quy định tại khoản 1 Điều 5 nghị định 207/2025: Là
phụ nữ độc thân hoặc vợ trong cặp vợ chồng hợp pháp; Phải có chứng nhận y tế xác nhận
chồng bị vô sinh hoặc tinh trùng có bất thường di truyền. Cam kết không tiết lộ danh tính
người hiến và người hiến không có quyền, nghĩa vụ với đứa trẻ.
* Người nhận noãn (trứng)quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 207/2025 : Là
vợ trong cặp vợ chồng hợp pháp và phải là người Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam
hoặc ngoài có chồng là người Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam; Phải có chứng nhận y

tế xác nhận không có noãn hoặc noãn không thể thụ tinh; Chỉ được sử dụng noãn hiến
tặng từ người không có quan hệ huyết thống để tránh bệnh di truyền.
Sử dụng phôi hiến tặng: Các cặp vợ chồng đã thực hiện sinh con bằng kỹ thuật
thụ tinh trong ống nghiệm có thể hiến tặng phôi dư thừa cho những người hiếm muộn
khác. Việc hiến tặng phải tuân thủ các quy định pháp luật nghiêm ngặt để tránh tranh chấp
quyền làm cha, mẹ.
II. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh
trong ống nghiệm.
2.1. Đối với cặp vợ chồng vô sinh
Theo quy định tại Điều 93 Luật HN&GĐ năm 2014: “ Trong trường hợp người vợ
sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy
định tại Điều 88 của Luật này.”
Đối chiếu với quy định tại Điều 88, Luật HN&GĐ năm 2014: “Con sinh ra trong
thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ
chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân
được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng
ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”. Việc xác định cha mẹ
trong trường hợp này căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng. Vì vậy, trong trường
hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng đăng ký kết hôn và được vợ, chồng thừa nhận là
con chung sẽ không được áp dụng đối với trường hợp con sinh ra bằng hỗ trợ kỹ thuật
sinh sản. Để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được
xác định là mẹ của đứa trẻ trong mọi trường hợp, kể cả khi người mẹ là người nhận tinh
trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người khác và người chồng hợp pháp của người mẹ
đó cũng chính là cha đứa trẻ, ngay kể cả chồng không phải là người cho tinh trùng.
Từ đó có thể thấy việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh
quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, hoặc cho phôi với đứa trẻ
sinh ra. Chẳng hạn như: A và B là vợ chồng, do tinh trùng quá loãng nên B không thể có
con được với A. C là người đã cho vợ chồng B tinh trùng của mình, các bác sĩ đã tiến
hành và cấy thành công cho người vợ là A. A mang thai sinh ra D, lúc này D là con của A

