
Bằng cấp MBA quan trọng hay không? Xu
hướng MBA thế kỷ 21 (Phần đầu)
Trong một thế giới đòi hỏi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp xác định được
những mối quan tâm của tất cả các cổ đông thì chúng ta phải định hình lại việc đào
tạo quản lý trong cả thực tiễn lẫn lý thuyết. Thế giới doanh nghiệp cần đào tạo và phát
triển kiểu nhà lãnh đạo nào? Trong một thời đại của việc đánh giá cá nhân xuất sắc
ngang nhau cùng sự cạnh tranh toàn cầu đang tăng lên thì họ có nên là những người
liều lĩnh được đền đáp hoàn toàn xứng đáng trong việc tập trung vào vấn đề quan
trọng không? Hoặc, trong sự khuấy động của những vụ scandal đòi hỏi có sự công
bằng cá nhân để vượt qua những cạm bẫy trước mắt thì thế hệ mới của các nhà lãnh
đạo có nên tập trung vào việc phát triển tinh thần đồng đội và tổ chức nội bộ nhằm gia

tăng thêm lợi nhuận cho các cổ đông không? Những câu hỏi này là một mối quan tâm
cho bất kỳ nhà lãnh đạo doanh nghiệp có suy nghĩ chín chắn đồng thời trở thành
những câu hỏi thiết yếu cho các nhà đào tạo kinh doanh.
Những trường kinh doanh trên thế giới hiện nay đang phải đối mặt với nhiều
vấn đề phức tạp. Những lời chỉ trích về chất lượng giảng dạy đang càng ngày càng gia
tăng. Người ta lên án gay gắt cả về triết lý và phương pháp giảng dạy. Nhiều người
than phiền rằng, các trường kinh doanh đều tập trung một cách thái quá vào một khái
niệm hẹp về doanh nghiệp hoàn toàn được định hướng bằng sự tối đa hóa lợi nhuận cổ
đông ngắn hạn. Họ phàn nàn rằng nghiên cứu ngày càng bị định hướng theo những
yêu cầu xem lại những bài giảng lý thuyết suông hơn là theo những yêu cầu của các
nhà quản lý; các nhà nghiên cứu thì lại tránh việc tìm hiểu sự lộn xộn của rất nhiều đối
tượng ở thế giới thực để thay cho sự hư cấu thật đẹp của những chiến lược nhằm tối ưu
một giá trị riêng hoặc một quan điểm. Các phê bình cho biết: Cuối cùng là một thế hệ
các nhà quản trị doanh nghiệp (MBA) thiếu mất một khả năng phán đoán về cách quản
lý các tập thể trong môi trường đa văn hóa đầy phức tạp của các doanh nghiệp toàn cầu
hiện nay, và họ cũng không nhận ra được hướng đi cho doanh nghiệp phù hợp với cơ
cấu xã hội ngày càng mở rộng hơn. Được xác định để thể hiện được cả ngôn ngữ của
tiếp thị lẫn ngôn ngữ của những môn học lý thuyết, tất thảy các trường kinh doanh
thường quá chủ quan khi bỏ qua những thực tiễn đã được chứng minh về sự quản lý
hàng ngày ở các tổ chức lớn, đặc biệt là những tổ chức theo những chức năng then
chốt như điều hành và nhân sự, những điều luôn được xem như đang thiếu “cơ hội
thăng tiến nhanh chóng” hoặc “sự đầu tư bằng tiền mặt” tiềm năng. Và những trường
kinh doanh này cũng vừa bỏ qua những phương pháp giáo dục đó, cũng chẳng quan
trọng lắm nếu chúng được kiểm tra thật kỹ trong những lĩnh vực khác, những lĩnh vực
có thể cho phép các sinh viên có kinh nghiệm và cả sự nỗ lực cùng thời gian xây dựng
được những kỹ năng theo một hướng suy nghĩ chín chắn – những kỹ năng như kiểu
hướng dẫn đồng sự, kiểm tra các chương trình chỉ dẫn trong một phạm vi an toàn, và
có lẽ quan trọng nhất đó là sự phản ứng trước một hành động nhằm chỉ rõ trách nhiệm
và chất vấn mục đích lớn hơn của toàn bộ sự nỗ lực đó.

Trong sự phản ứng lại tình trạng hỗn loạn này, một số trường kinh doanh đang
phải chuyển sang một hướng mới. Có một chiều hướng mới về mục đích tiếp sức cho
ngành đào tạo quản lý, và những thay đổi gần đây minh chứng rằng những trường đó,
các khoa của họ, và cả những sinh viên của trường đều đang bắt đầu nắm lấy cơ hội
này. Những nỗ lực của họ cùng với công sức, sự nhận thức rõ ràng, tinh thần sáng tạo,
và quan trọng nhất là sự cam kết xã hội ngày càng lớn hơn đang từng bước vượt lên.
Ví dụ như khi Thomas Robertson được bầu làm hiệu trưởng của trường Wharton
(trường kinh doanh của đại học Pennsylvania) năm 2007, ông đã tuyên bố rõ rằng mục
tiêu của ông là để làm cho trường này trở thành một “nguồn lực tốt trên thế giới”. Nhờ
việc xem lại một số trong nhiều ví dụ hợp lý của sự chuyển đổi mới nổi này mà chúng
ta có thể thoáng thấy được tương lai của việc đào tạo kinh doanh, những kiểu nhà lãnh
đạo đang được phát triển cùng những kiểu doanh nghiệp mà chúng ta có thể mong chờ
thấy được những nhà lãnh đạo đó xây dựng trong tương lai. (Hầu hết các ví dụ ở đây
đều ở nước Mỹ, nơi hiện nay đang phát sinh khá nhiều, nhưng những thay đổi tương tự
như vậy cũng đang có các trường kinh doanh ở Châu Âu, và một số các trường kinh
doanh Châu Á đang phát triển cũng đang tiến hành thử nghiệm bằng những thực tiễn
kết hợp với các chương trình giảng dạy mới của mình.)
Gốc rễ của vấn đề
Các trường kinh doanh thường vẫn công bố rằng chính họ đang chủ yếu đào tạo
nền tảng cho những người cạnh tranh chiến thắng, những người có thể trụ vững dưới
áp lực lớn và làm được điều để tồn tại trong một hoàn cảnh kinh doanh khắc nghiệt.
Họ vừa thể hiện đáng kể khả năng của mình để đưa ra những người tốt nghiệp có thể
làm việc dưới những điều kiện cạnh tranh liên tục cao cùng áp lực thời gian khắc
nghiệt, được trang bị bằng một khả năng về hành động và niềm tin dứt khoát trong
phân tích từng điểm một của mình đối với bất cứ vấn đề nào.

Các nhà lãnh đạo thiên về lý thuyết đều ủng hộ hệ thống tuyển chọn vòng cung
thông dụng, điều đó chắc chắn rằng chỉ một tỷ lệ phần trăm rất ít các sinh viên trong
mỗi lớp đạt mức A, còn lại hầu hết đạt mức C, và một số thì bị loại, điều này cũng
giống như việc đào tạo dành riêng cho các hệ thống xếp hạng và loại bỏ đang chờ họ ở
nhiều công ty. Các trường kinh doanh đều cố tình đẩy các sinh viên của mình vào
những tình huống mà có nhiều thứ để làm hơn là họ có thể hoàn thành một cách tự tin
nhằm mô phỏng những kiểu áp lức mà họ sẽ phải đối mặt trong sự nghiệp kinh doanh
của mình; nhằm dạy cho họ làm việc khôn ngoan, để biết được khi nào thì “tốt đủ” thì
lại tốt hơn “hoàn hảo”, để biết dành ưu tiên, để biết đại diện và để biết tập trung vào
cái họ thực hiện hoặc họ có thể biết hơn là đi sâu vào cái mà họ có thể cần để hiểu.
Kim Clark, hiệu trưởng chính thức của trường kinh doanh Harvard, đã miêu tả điều
này như một mô hình “mô phỏng chuyến bay” của giáo dục kinh doanh. Chắc chắn
rằng những nét tiêu biểu mà mô hình này cổ vũ là có giá trị, thậm chí là cần thiết trong
nhiều tình huống, nhưng một sự nhấn mạnh quá sức đối với chúng vẫn thường bị coi là
một sự đào tạo MBA tồi.
Một số những lợi ích lớn nhất về kinh nghiệm của các trường đào tạo kinh
doanh trên thực tế đều được bắt nguồn từ những cách mà theo đó nó không giống với
môi trường các sinh viên sẽ tham gia sau khi được đào tạo. Do không đủ mô phỏng
những thực tế của những thách thức kinh doanh chỉ thông qua những tình huống mô
phỏng hay có thật nên các trường đều muốn xây dựng kiến thức, các kỹ năng và cả
những phản xạ tự nhiên một cách thận trọng, tỉ mỉ mà không thể được học trong thế
giới công việc, như thế các sinh viên cuối cùng có thể đối phó lại được những thách
thức đó bằng kỹ năng và sự hiểu biết nhiều hơn mà họ có được hoàn toàn trong quá
trình đào tạo. Vì thế mà các sinh viên nên tập trung học với óc phán đoán thật sâu, cân
nhắc vấn đề thật kỹ, chứ đừng bằng một loạt những lập trường có sẵn. Và có lẽ quan
trọng nhất, đó là các trường kinh doanh nên tự mình chủ động khảo sát mục đích của
doanh nghiệp. Đào tạo kinh doanh không nên chỉ phát triển sự thích ứng với rủi ro
hoặc khả năng xoay sở với những cái khác của các sinh viên mà nên tập trung vào

những mục đích hướng tới cái mà các MBA sau khi tốt nghiệp sẽ ứng dụng những kỹ
năng đó để giải quyết vấn đề.
Ngay như giáo sư Rakesh Khurana của trường kinh doanh Harvard đưa ra trong
cuốn From Higher Aims to Hired Hands: The Social Transformation of American
Business Schools and the Unfulfilled Promise of Management as a Profession của
ông do trường đại học Princeton ấn hành năm 2007 thì theo phương diện lịch sử, mục
tiêu trọng tâm đối với các học viện chấp nhận MBA hàng đầu đều là để “chuyên
nghiệp hóa” quản lý kinh doanh thành một nghề cụ thể - một công việc đòi hỏi cả một
sự nhận thức tổng quan về con người với những kiến thức cần thiết cũng như một sự
cam kết với một mục đích lớn hơn vì sự tốt đẹp của cộng đồng. Mà chính Khurana và
những người khác đều cho rằng điều này là một sứ mệnh để từ đó các trường kinh
doanh phải chuyển sự tập trung của họ vào đó thay vì một tầm nhìn thiển cận hạn hẹp
về kinh doanh và cả về đào tạo kinh doanh.
Một vài xu hướng đang nổi lên trong việc giáo dục kinh doanh giữ vững những
hưởng ứng trước tầm quan trọng của vài thập kỷ gần đây, và tất cả chúng đều đòi hỏi
việc phân loại thực tiễn theo ý nghĩa của mục đích lớn hơn hoặc sâu sắc hơn. Nói
chung, những phương pháp này đều đòi hỏi việc thay đổi từ cái có thể được gọi là một
mô hình “các nguyên tắc cộng thêm các phân tích” của việc đào tạo quản lý tới một
tiêu điểm “các nguyên lý cộng thêm sự thực thi”.
Mô hình các nguyên tắc cộng thêm các phân tích dạy rằng các nguyên tắc bao
trùm hành vi tập thể - dù bị áp đặt bằng luật lệ, bằng các đối thủ cạnh tranh, hoặc bằng
sự quản lý sở hữu của ai đó đi chăng nữa – thì đơn giản vẫn là những đè nén cần phải
vượt qua; các công cụ phân tích thể hiện những cách để làm việc trong phạm vi hoặc
liên quan tới bất kỳ những nguyên tắc nào theo cách của bạn để đạt được mục đích
chiến thắng cuộc chơi đầy cạnh tranh nhanh nhất nhất. Mô hình này nhấn mạnh tính

