
14
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Nguyễn Thị Thu Hương
*Email: huongntt.ktb@vimaru.edu.vn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Tập 35, Số 2 (2024): 14 - 28
JOURNAL OF SCIENCE AND TECHNOLOGY
HUNG VUONG UNIVERSITY
Vol. 35, No. 2 (2024): 14 - 28
Email: tapchikhoahoc@hvu.edu.vn Website: www.jst.hvu.edu.vn
BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA
VIỆT NAM: VAI TRÒ CỦA CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ Ở CÁC NƯỚC ĐỐI TÁC
Nguyễn Thị Thu Hương1*
1Khoa Kinh tế, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Hải Phòng
Ngày nhận bài: 04/4/2024; Ngày chỉnh sửa: 17/4/2024; Ngày duyệt đăng: 19/4/2024
DOI: https://doi.org/10.59775/1859-3968.203
Tóm tắt
Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của biến động tỷ giá hối đoái đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam và
vai trò của chất lượng thể chế ở các nước đối tác. Sử dụng ước lượng khả năng tối đa giả Poisson (PPML)
cho mô hình trọng lực được xây dựng trên bộ số liệu xuất khẩu của Việt Nam sang 186 nước đối tác giai đoạn
2002-2022, tác giả chỉ ra rằng biến động tỷ giá hối đoái cản trở xuất khẩu. Ngoài ra, nghiên cứu này chứng
minh rằng tác động tiêu cực của biến động tỷ giá hối đoái tới xuất khẩu nông sản của Việt Nam là đáng kể hơn
khi đối tác là các quốc gia đang phát triển và chất lượng thể chế ở nước đối tác có xu hướng làm giảm các ảnh
hưởng tiêu cực đó. Vì vậy, duy trì tỷ giá hối đoái ổn định là một giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của
Việt Nam. Bên cạnh đó, trước tình trạng tỷ giá hối đoái biến động mạnh do ảnh hưởng của các cú sốc toàn cầu,
các nước phát triển và các nước có chất lượng thể chế tốt vẫn có thể là các đối tác tiềm năng của Việt Nam.
Kết quả của nghiên cứu này là một cơ sở để Việt Nam lựa chọn đối tác thương mại nhằm tăng giá trị xuất khẩu
ngành nông nghiệp.
Từ khóa: Việt Nam, xuất khẩu nông sản, chất lượng thể chế, mô hình trọng lực, biến động tỷ giá hối đoái.
1. Đặt vấn đề
Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu chuyển
từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang
nền kinh tế thị trường với hàng loạt cải cách
theo định hướng thị trường. Trong nông
nghiệp, tư nhân hóa sản xuất và cấp quyền
sử dụng đất đã tạo ra động lực đáng kể cho
nông dân phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn,
dẫn đến tăng khoảng 50% năng suất nhân
tố tổng hợp (TFP) trong những năm 1990
[1]. Sau đó, quá trình công nghiệp hóa đã
làm dịch chuyển một lượng lớn lao động từ
ngành nông nghiệp chuyển sang ngành công
nghiệp, làm tỷ trọng ngành nông nghiệp
trong tổng GDP cả nước giảm đáng kể từ
40,50% vào năm 1991 xuống chỉ còn khoảng
11,96% vào năm 2022 [2]. Dù vậy, Việt Nam
cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp nên
xuất khẩu nông sản có vai trò đặc biệt, tạo
công ăn việc làm cho lao động ở nông thôn,
duy trì ổn định xã hội và nâng cao chất lượng
cuộc sống cho nông dân, góp phần phát triển