
Cá Dưa (Cá Lạt) hay Pike Conger eel
Như đã trình bầy trong bài Cá Chình, bộ cá Anguilliformes là một bộ
cá rất lớn, có hình dạng chung là thân dài, hình ống giống như rắn; Anh ngữ
gọi chung dưới tên eel. Nhóm cá Conger eei (Congre) bao gồm những loài
phân bố trong nhiều vùng biển Bắc Đại tây dương, và nhóm phụ Pike-conger
thường chỉ gặp trong khu vực Ấn độ và Thái bình dương..
Nhóm Pike Conger tương đối hẹp chỉ gồm 5 chi có tổng cộng khoảng
13 loài sinh sống trong các vùng biển nhiệt đới Đại Tây dương, Ấn độ
dương và Thái bình dương. Cá dài từ 65cm đến 2.5m, và sinh sống tại nhiều
môi trường khác nhau : từ nơi cửa sông, đến vùng ven biển và có loài sống
nơi tầng nước sâu đến hơn 300m. Pike conger sống vùi mình dưới bùn đáy
và chỉ ra kiếm ăn ban đêm. Chúng dùng hàm răng sắc và bén để tấn công
con mồi gồm các cá, hải sản nhỏ hơn..
Trong số 5 chi, chỉ có 2 chi Congresox và Muraenesox là có những
loài cá đáng chú ý như :
Congresox talabon = Yellow pike-conger

Congresox talabonoides= Indian pike-conger
Muraenesox bagio= Common pike conger
Muraenesox cinereus= Daggertooth pike conger.
Tên khoa học và các tên khác :
Muraenesox cinereus thuộc họ cá Muraenesocidae
Tên địa phương VN : Cá dưa xám, Cá lạt bạc (Cà mâu), Cá lạc ù
(Bình định)
Tên Anh-Mỹ : Conger pike, Daggertooth pike conger, Darkfin conger
eel ; Pháp : Murénésoce-dague ; Tây Ban Nha : Morenocio denton. Nhật :
Hamo ; Hàn quốc : Kaet-chang-o ; Thái : Pla mangkor (Cá hàm rồng, do
hình dạng của miệng đầy răng)
Đặc tính sinh học :
Cá dưa có thân hình ống rất dài, hình dạng giống cá chình, phía thân
trước tiết diện ngang gần như tròn, phần thân sau dẹt về một bên. Đầu tương
đối dài và nhọn. Thân trơn, không vẩy. Khoảng cách giữa 2 lỗ mũi khá rộng.
Mõm ngắn, hình nón hơi nhô ra. Mắt lớn, đường kính của mắt có thể bằng 2
đến 2.5 lần chiều dài của mõm. Miệng rất rộng, hàm trên kéo dài vượt quá

mắt. Hàng răng nanh ngoài cùng của hàm dưới dài, hướng thẳng lên trên.
Răng nanh nằm trên xương khẩu cái. Lỗ mang mở rộng nằm dưới vây ngực.
Vây lưng và vây bụng liền nhau tạo thành cả vây đuôi. Vây ngực phát triển.
Toàn thân màu xám, bụng trắng bạc; Cá dài trung bình từ 1.5 đến 2m.
Cá phân bố tại các vùng biển Ấn độ dương, có mặt cả tại Biển Đỏ, các
vùng biển Philippines, Thái Lan, Nhật Bản, Trung Hoa và Việt nam. Cá dưa
sinh sống dưới sâu khoảng 100m, nơi những vùng biển ấm và cả nơi cửa
sông, đôi khi vào cả vùng nươc ngọt. Chúng thuộc loại cá dữ, ăn các cá nhò
hơn và tôm tép, giáp xác nhỏ..
Mùa sinh sản là vào các tháng 8-9 (tại Nhật). Cá đánh bắt ban đêm và
được nuôi tại các trại thủy sản Nhật. Tổng sản lượng đánh bắt, theo FAO
năm 2007 vào khoảng trên 300 ngàn tấn trong đó Trung Hoa khoảng 200
ngàn, Taiwan 9 ngàn tấn. Mã Lai 1.3 ngàn.
Vài loài cá dưa khác :
Họ cá Muraenesocidae còn có thêm vài loài khác, sinh sống tại các
vùng biển Đông-Nam Á châu và xuống đến Úc châu..
Muraenesox talabonoides: (Congresox talabonoides) Indian pike-
conger, thường được gọi là Cá lạt vàng. Đầu và thân màu vàng nhạt, cũng

dài trung bình 1.5 đến 2m (có thể đến 2.5 m), tiết diện thân 5.5 cm, nặng 600
gram. Cá sinh sống trong vùng biển Ấn độ, Indonesia và ngoài khơi
HongKong, thường bị đánh bắt nơi ven biển, ở độ sâu 50m
Muraenesox bagio (Muraenesox yamaguchiensis) = Common pike
conger. Thân và đầu màu xám nhạt, sinh sống trong vùng biển Nhật xuống
tới Bắc Úc châu. Dài trung bình 1.8m
Cá dưa tại Việt Nam :
Tại Việt Nam, cá Dưa (tên chính thức trong Danh mục Cá biển xuất
khẩu của Bộ thủy sản VN) cũng được gọi tùy địa phương dưới tên Cá lạc
(vùng Bình Định xuống đến Ninh Hòa) hay Cá lạt (miền Nam, Cà Mâu).
Bong bóng cá dưa được xem là một món ngon, rất quý.
Ngư dân tại vùng biển Cà Mâu, nhất là tại các đảo ngoài khơi như
Hòn Hàn, Hòn Chuối có nghề 'câu cá lạt' như một nguồn thu nhập phụ. Theo
Báo Cà Mâu ngày 7 tháng 9 năm 2010 thì ngư dân thường chuẩn bị xuồng
để ra khơi khi mặt trời vừa khuất dạng xuống biển..: ' Cá lạt ăn ở tầm nước
sâu, loại mồi câu chủ yếu lá cá đối..hình thức đánh bắt cá tương đối đơn
giản..Đường câu có một sợi dây bằng nilông, cứ cách khoảng 2m có nhánh
rẽ bằng dây cước gắn sẵn lưỡi câu, lưỡi câu cá lạt cũng giống như lười câu

cá lóc trong ruộng. Mỗi gắp câu có khoảng 400 lưỡi câu; mỗi xuống đi
thường sử dụng từ 6 đến 12 gắp.Khi xuồng ra đến vị trí biển xác định thì
mọi người tập trung, vừa mắc mồi vừa thả câu...Cá lạt thuộc loại ăn bạo nên
khi cắn câu, chúng nuốt luôn vào bụng, vì vậy khi kéo câu lên có cá là người
kéo thủ sẵn con dao nhỏ để cắt luôn đoạn cước đó..'
Cá lạt được chia thành 3 hạng: Hạng 1 cá từ 3kg trở lên (giá thu mua
20 ngàn), hạng nhì cá từ 2kg đến 3 kg (giá 15 ngàn), còn lại là hạng 3 (giá
10 ngàn).. Trung bình mỗi ngày trong mùa, ngư dân đánh bắt được khoảng 2
tấn cá.
Giá trị dinh dưỡng :
Thành phần dinh dưỡng của Cá dưa được xem là tương tự như Cá
Chình (Xin xem bài Cá Chình).
Tuy là một loài cá sinh sống nơi tầng đáy nhưng hàm lượng thủy ngân
trong cá tương đối thấp: dưới 0.29 ppm nên được xem là an toàn, ngay cả
cho phụ nữ trong thời kỳ thai nghén.
Theo Journal of Oleo Sciences Số 56-2007 thì thành phần các acid
béo trong Cá dưa, đánh bắt trong vùng biển Pulau Tuba, Mã Lai được ghi
nhận như sau : (tính theo %)

