intTypePromotion=1

Các nguyên tắc pháp lý của WTO

Chia sẻ: Lê Thị Trường An | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:9

0
61
lượt xem
3
download

Các nguyên tắc pháp lý của WTO

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

WTO quy định nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường tổn thất thương mại cho các nước xuất khẩu liên quan (thường là việc nước nhập khẩu tự nguyện giảm thuế nhập khẩu cho một số nhóm hàng hoá khác đến từ các nước xuất khẩu đó).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Các nguyên tắc pháp lý của WTO

  1. Các nguyên tắc pháp lý của WTO Về phương diện pháp lý, Ðịnh ước cuối cùng của vòng đàm phán Uruguay ký ngày 15-4-1999 t ại Marrakesh là một văn kiện pháp lý có phạm vi điều chỉnh rộng lớn nhất và có tính ch ất k ỹ thu ật pháp lý ph ức t ạp nh ất trong lịch sử ngoại giao và luật pháp quốc tế. Về dung lượng, các hiệp định được ký tại Marrakesh và các phụ lục kèm theo bao gồm 50.000 trang, trong đó riêng 500 trang quy định về các nguyên tắc và nghĩa v ụ pháp lý chung của các nước thành viên như sau: Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới; 20 hiệp định đa phương về thương mại hàng hoá; - 4 hiệp định đa phương về thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, gi ải quyết tranh ch ấp, ki ểm đi ểm chính sách thương mại; - 4 hiệp định nhiều bên về Hàng không dân dụng, mua sắm của chính phủ, sản phẩm sữa và s ản phẩm th ịt bò; - 23 tuyên bố (declaration) và quyết định (decision) liên quan đến m ột số vấn đ ề ch ưa đ ạt đ ược th ỏa thu ận trong vòng đàm phán Uruguay. Tổ chức thương mại thế giới được xây dựng dựa trên bốn nguyên tắc pháp lý nền tảng là: tối hu ệ qu ốc; đãi ngộ quốc gia; mở cửa thị trường và cạnh tranh công bằng. Nước áp dụng biện pháp tự vệ có phải bồi thường cho các nước xuất khẩu không? WTO quy định nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường tổn thất thương mại cho các nước xuất khẩu liên quan (thường là việc nước nhập khẩu tự nguyện giảm thuế nhập khẩu cho một số nhóm hàng hoá khác đến từ các nước xuất khẩu đó). Nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ phải tiến hành thương lượng với các nước xuất khẩu về biện pháp đền bù thương mại thoả đáng. Trường hợp không đạt được thoả thuận, nước xuất khẩu liên quan có thể áp dụng biện pháp trả đũa (thường là việc rút lại những nghĩa vụ nhất định trong WTO, bao gồm cả việc rút lại các nhượng bộ về thuế quan - tức là từ chối giảm thuế theo cam kết WTO - đối với nước áp dụng biện pháp tự vệ). Tuy nhiên, việc trả đũa không được thực hiện trong 3 năm đầu kể từ khi biện pháp tự vệ được áp dụng (nếu biện pháp áp dụng tuân thủ đầy đủ các quy định của WTO và thiệt hại nghiêm trọng là thiệt hại thực tế). cụ thể là tạm ngưng việc cho bên thua kiện hưởng những nhân nhượng thuế quan hoặc tạm ngưng thực hiện những nghĩa vụ đối với bên thua kiện theo hiệp định có liên quan
  2. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO + Cơ chế giải quyết các tranh chấp của WTO là như thế nào? ( buidung...@gmail ...) - Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên bốn nguyên tắc: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp, phù hợp với m ục tiêu b ảo toàn các quy ền và nghĩa, phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan trên cơ sở tuân thủ các quy phạm c ủa lu ật t ập quán qu ốc t ế về giải thích điều ước quốc tế. Ngoài ra, WTO cũng sẽ tiếp tục áp dụng cách giải quyết tranh ch ấp c ủa GATT 1947 nh ư: tái l ập s ự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ; giải quyết tích c ực các tranh ch ấp; c ấm đ ơn ph ương áp d ụng các bi ện pháp trả đũa khi chưa được phép của WTO. Nguyên tắc cấm đơn phương áp d ụng các bi ện pháp tr ừng ph ạt có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của hệ thống thương mại toàn cầu. Tuy nhiên, nguyên tắc này không bao hàm rõ ràng ý có cấm các n ước thành viên không đ ược đ ơn ph ương xác định các hành vi của nước thành viên khác có vi phạm các hiệp định c ủa WTO hay không. Lợi d ụng s ự không rõ ràng này nên một số nước thành viên phát triển nh ư Mỹ, EU v ẫn ti ếp t ục đ ơn ph ương áp d ụng các đạo luật của riêng mình như điều khoản Super 301 trong luật thương mại Mỹ ho ặc quy đ ịnh 384/96 c ủa Hội đồng châu Âu để “kết án” và trừng phạt các nước thành viên WTO khác. Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, quy chế "nhóm chuyên gia" và c ơ quan phúc th ẩm th ường trực - Cơ quan giải quyết tranh chấp: Viết tắt theo tiếng Anh là DSB (Dispute Settlement Body) có quyền quyết định thành lập và thông qua báo cáo của nhóm chuyên gia và nhóm phúc th ẩm, giám sát vi ệc th ực hi ện các quyết định về giải quyết tranh chấp, cho phép tạm đình chỉ việc áp dụng các hi ệp đ ịnh th ương m ại v ới một nước thành viên, cho phép áp dụng các biện pháp trừng phạt. - Nhóm chuyên gia: Công việc chính về giải quyết tranh chấp do các nhóm chuyên gia th ực hi ện. Các nhóm chuyên gia này do DSB thành lập để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và giải thể sau khi kết thúc nhi ệm vụ. Khác với cơ cấu nhóm chuyên gia thời kỳ GATT 1947 chủ yếu đ ược ưu tiên l ựa ch ọn trong các quan chức chính phủ các nước thành viên, nhóm chuyên gia thời WTO đ ược ưu tiên l ựa ch ọn trong s ố nh ững chuyên gia (expert) độc lập, không làm việc cho chính phủ, có uy tín quốc tế về chính sách ho ặc luật th ương mại quốc tế. Thành phần của mỗi nhóm chuyên gia từ 3-5 người. Nhiệm vụ của nhóm chuyên gia là giúp cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO làm sáng tỏ n ội dung tranh chấp và khuyến nghị một giải pháp để các bên hữu quan giải quyết tranh chấp của họ, phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan. Trong quá trình xem xét sự việc, nhóm chuyên gia có quyền tìm kiếm thông tin từ mọi nguồn và trưng cầu ý kiến giám định của các chuyên gia bên ngoài về những vấn đề kỹ thuật. Toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp từ thời điểm các bên tranh ch ấp t ự th ương l ượng v ới nhau cho đ ến khi nhóm chuyên gia đệ trình báo cáo lên DSB tối đa không quá m ột năm, trong đó th ời gian k ể t ừ th ời đi ểm thành lập nhóm chuyên gia cho đến khi đệ trình báo cáo tối đa không quá sáu tháng. Báo cáo của nhóm chuyên gia sẽ được gửi đến cho các bên tranh chấp trong vòng sáu tháng, trong tr ường hợp tranh chấp liên quan đến những hàng hoá dễ hư h ỏng trong vòng ba tháng và g ửi đ ến t ất c ả các thành viên của WTO sau đó ba tuần. Sau 60 ngày, báo cáo c ủa nhóm chuyên gia s ẽ t ự đ ộng tr ở thành quy ết đ ịnh của DSB nếu không có sự đồng thuận của tất cả các nước thành viên WTO, kể cả hai bên tranh chấp bác bỏ nội dung của báo cáo. - Cơ quan phúc thẩm thường trực: Một trong những nét mới của bộ máy giải quyết tranh chấp của WTO là việc thành lập cơ quan phúc thẩm thường trực. Cơ quan này có 7 thành viên, do c ơ quan gi ải quyết tranh chấp bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm, là những chuyên gia pháp lý và thương m ại qu ốc t ế có kinh nghi ệm lâu năm. Cơ quan này có chức năng xem xét theo thủ tục “phúc thẩm” báo cáo c ủa nhóm chuyên gia, theo đ ề nghị của một trong các bên tranh chấp.
  3. Tuy nhiên, phạm vi "phúc thẩm" chỉ áp dụng đối với những k ết lu ận và gi ải thích pháp lý đ ược đ ưa ra trong báo cáo của nhóm chuyên gia. Khi có đề nghị xem xét phúc thẩm, c ơ quan phúc th ẩm th ường tr ực s ẽ l ập ra một nhóm phúc thẩm riêng biệt cho mỗi một vụ tranh chấp, bao gôm 3 thành viên. Nhóm phúc thẩm có thẩm quyền hoặc giữ nguyên, thay đổi hoặc huỷ bỏ những gi ải thích và kết lu ận pháp lý nêu trong báo cáo c ủa nhóm chuyên gia. Báo cáo của nhóm phúc thẩm sẽ được đệ trình lên DSB để thông qua. Vi ệc thông qua báo cáo phúc th ẩm được thực hiện theo nguyên tắc đồng thuận tiêu cực và gần như mang tính chất tự đ ộng. Các bên tranh ch ấp có nghĩa vụ thực hiện vô điều kiện quyết định cuối cùng của DSB trên c ơ sở báo cáo phúc th ẩm. Th ời h ạn xem xét phúc thẩm là 60 ngày, có thể được gian hạn nhưng không quá 90 ngày. Thực hiện quyết định của Cơ quan giải quyết tranh chấp và áp dụng biện pháp trả đũa Quyết định về giải quyết tranh chấp được DSB thông qua theo nguyên t ắc đ ồng thu ận tiêu c ực có giá tr ị pháp lý và có tính cưỡng chế thi hành đối với các bên tranh chấp. Thông th ường thì bên thua ki ện có nghĩa vụ bãi bỏ các quy định hoặc chấm dứt áp dụng các bi ện pháp mà nhóm chuyên gia k ết lu ận là vi ph ạm đi ều khoản trong các hiệp định có liên quan của WTO. Để bảo đảm là bên thua kiện sẽ thực hiện nghiêm túc quyết đ ịnh c ủa DSB và đ ể tránh tình tr ạng "r ơi vào im lặng", WTO đề ra một cơ chế theo dõi và giám sát vi ệc th ực hi ện quyết đ ịnh trong vòng 30 ngày k ể t ừ ngày thông qua báo cáo của nhóm chuyên gia, bên thua kiện phải thông báo cho DSB bi ết v ề nh ững bi ện pháp mà nước này dự định áp dụng để thực hiện khuyến nghị của nhóm chuyên gia. Nếu nước này vì lý do nào đó không thể thực hi ện ngay khuyến ngh ị c ủa nhóm chuyên gia thì DSB có th ể cho phép nước này được thực hiện trong một thời hạn “hợp lý”. Và n ếu trong th ời h ạn "h ợp lý" đó bên thua kiện vẫn không thể thực hiện được khuyến nghị của nhóm chuyên gia thì n ước này có nghĩa v ụ th ương lượng với bên thắng kiện về mức độ bồi thường thi ệt hại, ví d ụ như gi ảm thu ế quan đ ối v ới m ột s ản phẩm nào đó có lợi cho bên thắng kiện. Nếu trong vòng 20 ngày kể từ ngày chấm dứt thời hạn h ợp lý, các bên tranh ch ấp không đ ạt đ ược tho ả thuận về mức độ bồi thường thì bên thắng kiện có quyền yêu c ầu DSB cho phép áp d ụng các bi ện pháp tr ả đũa, cụ thể là tạm ngưng việc cho bên thua kiện hưởng những nhân nh ượng thu ế quan ho ặc t ạm ng ưng thực hiện những nghĩa vụ đối với bên thua kiện theo hiệp định có liên quan. Biện pháp trả đũa phải tương ứng với mức độ thiệt hại và phải được thực hiện trong lĩnh v ực (sector) thương mại mà bên thua kiện bị thiệt hại. Để bảo đảm tính hiệu quả của các biện pháp trả đũa và rút kinh nghiệm, WTO quy định trong trường hợp việc áp dụng bi ện pháp trả đũa mà lĩnh v ực b ị thi ệt h ại là không thực tế hoặc không có hiệu quả thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu DSB cho phép trả đũa trong m ột lĩnh vực khác (trả đũa chéo). Chẳng hạn một nước đang phát triển sẽ khó có thể áp dụng m ột cách hi ệu qu ả bi ện pháp tr ả đũa trong lĩnh vực thương mại hàng hoá đối với một nước phát triển nhưng nếu trả đũa trong lĩnh vực thương mại dịch vụ hoặc sở hữu trí tuệ thì có thể sẽ hiệu quả hơn. Hơn thế nữa, trong m ột số tr ường h ợp đặc bi ệt nghiêm trọng, bên thắng kiện còn có thể yêu cầu DSB cho phép tr ả đũa trong nh ững lĩnh v ực thu ộc các hi ệp đ ịnh thương mại khác với hiệp định thương mại mà bên thua kiện vi phạm. Tuy nhiên, để bảo đảm sự công bằng và trong trường hợp có tranh ch ấp về m ức đ ộ tr ả đũa, WTO cũng dành cho bên thua kiện quyền đưa tranh chấp nói trên ra giải quyết theo phương th ức tr ọng tài. Quy ết đ ịnh trọng tài về vấn đề này là quyết định cuối cùng và có giá trị thi hành đối với tất cả các bên. Các phương thức giải quyết tranh chấp khác Ngoài cơ chế của DSB, các nước thành viên WTO còn có thể sử dụng những ph ương th ức gi ải quyết tranh chấp khác trong Công pháp quốc tế như trọng tài liên quốc gia (interstate arbitration), trung gian (mediation) và hoà giải (conciliation). Điều 25 Thoả thuận DSU quy định các n ước thành viên có th ể gi ải quyết tranh
  4. chấp với nhau thông qua trọng tài đối với những tranh chấp n ếu các n ước này tho ả thu ận nh ất trí s ử d ụng cơ chế này và chấp nhận tuân thủ quyết định của trọng tài. Các nước cũng có thể sử dụng cơ chế trung gian hoặc hoà gi ải của một bên th ứ ba. Riêng đ ối v ới nh ững tranh chấp mà một bên là nước kém phát triển nhất thì Tổng giám đ ốc có th ể đ ứng ra làm trung gian ho ặc hoà giải. Ngoài cơ chế giải quyết tranh chấp chung ra, m ột số hiệp định th ương m ại đa biên c ủa WTO cũng quy đ ịnh những cơ chế giải quyết tranh chấp đặc biệt. Ví dụ như Hi ệp định v ề tr ợ c ấp có quy đ ịnh th ủ t ục riêng v ề giải quyết tranh chấp liên quan đến hàng dệt trước Cơ quan giám sát hàng d ệt. Trong tr ường h ợp các quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp đặc biệt khác với những quy định v ề c ơ chế gi ải quyết tranh ch ấp chung thì những quy định trong cơ chế đặc biệt thắng thế. Các nước đang phát triển và Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Mặc dù luôn chiếm đa số tại GATT, nhưng vì những lý do lịch sử (đa số các n ước đang phát tri ển đã t ừng là thuộc địa của các nước phát triển) nên các nước đang phát triển thường có thái độ "nghi ngờ" và "e dè" đ ối với những cơ chế do các nước phương Tây đặt ra. Trong m ột nghiên c ứu đ ược công b ố vào năm 1985, U ỷ ban thương mại quốc tế của Mỹ (USIC) đã chỉ ra một số nguyên nhân làm cho các nước đang phát triển ít sử dụng đến Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT: -Thứ nhất, các nước đang phát triển không có đội ngũ chuyên gia pháp lý có chuyên môn và kinh nghi ệm trong việc tham gia xử lý các tranh chấp thương m ại quốc t ế và cũng không có kh ả năng tài chính đ ể đi thuê các chuyên gia phương Tây; - Thứ hai, tâm lý lo sợ rằng nếu đi kiện cáo các n ước phát tri ển thì có khi h ọ ph ải ch ịu thi ệt nhi ều h ơn là được lợi, "chưa được vạ thì má đã sưng". Sự phụ thuộc vào thị trường và các ngu ồn giúp đ ỡ v ề tài chính của phương Tây là một trong những lý do khi ến các nước đang phát tri ển rất ngại va ch ạm v ới các n ước phát triển và nếu có tranh chấp thì các nước này chủ tr ương xử lý song ph ương, kín đáo và th ường là s ẵn sàng nhượng bộ; - Thứ ba, các nước đang phát triển nhận thức được rằng cho dù họ có thắng ki ện và dám dũng c ảm áp đ ặt các biện pháp trả đũa hợp pháp chăng nữa thì cũng không đem lại hi ệu quả và có th ể có m ột ảnh h ưởng tích cực đến cách cư xử của các nước phát triển; - Thứ tư, tuy tham gia GATT ngay từ khi mới thành lập, nhưng các nước đang phát tri ển vẫn còn gi ữ thái đ ộ lưỡng lự trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Đa số các nước này cho rằng Cơ chế gi ải quyết tranh chấp của GATT cũng chỉ là một trong những công c ụ c ủa các n ước ph ương Tây s ử d ụng đ ể ép bu ộc họ mở cửa thị trường. Vì những lý do nói trên, quan điểm chung c ủa các n ước đang phát tri ển đ ối v ới C ơ ch ế gi ải quy ết tranh chấp của GATT trong khoảng 30 năm (từ 1948-1979) là "phớt lờ" c ơ chế này. Trong kho ảng th ời gian này, số vụ kiện của các nước đang phát triển chỉ chiếm có 12% tổng số các v ụ ki ện t ại GATT và đa s ố là k ết thúc thông qua thương lượng trước khi nhóm chuyên gia của GATT thông qua báo cáo cuối cùng. Chỉ đến thời kỳ sau Vòng Tokyo, các nước đang phát triển, đặc biệt là một số nước NIC như Brazil, Mexico, Ấn Độ, Argentina mới thực sự quan tâm và sử dụng thường xuyên h ơn C ơ ch ế gi ải quyết tranh ch ấp c ủa GATT. Sự thay đổi này xuất phát từ những lý do sau. Thứ nhất, sự giảm sút c ủa thương mại thế gi ới những năm 1970 do tác động của hai cuộc khủng hoảng dầu lửa đã dẫn đ ến vi ệc tr ỗi dậy c ủa ch ủ nghĩa b ảo h ộ ở hầu hết các nước công nghiệp phát triển. Thứ hai, quá trình công nghiệp hoá tại m ột số n ước đang phát tri ển đã đem l ại nh ững thành qu ả đ ầu tiên, nổi bật nhất là trong một số ngành sản xuất công nghi ệp và ch ế bi ến, các n ước NIC đã đ ạt đ ược ưu th ế cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của phương Tây và đã bắt đầu d ư th ừa năng l ực s ản xu ất trong m ột s ố lĩnh vực như may mặc, điện tử dân dụng, thép.
  5. Các nước này bắt đầu nhận thức được cần phải sử dụng nhi ều công c ụ đ ể ti ếp c ận th ị tr ường tiêu th ụ c ủa các nước phương Tây và khi cần thiết sử dụng cả Cơ chế gi ải quyết tranh chấp. Ngoài ra vi ệc thành l ập một Bộ phận pháp lý (Legal Office) trực thuộc Ban thư ký GATT đã giúp cung cấp nh ững tr ợ giúp k ỹ thu ật có hiệu quả cho các nước đang phát triển trong vi ệc nghiên c ứu v ề c ơ c ấu th ể ch ế và pháp lý c ủa GATT và tư vấn pháp lý cho các nước này trong quá trình chuẩn bị các tài liệu và thủ tục khiếu kiện. Trong vòng 15 năm (1979-1994), số lượng các vụ kiện của các nước đang phát triển chống lại các nước phát triển đã tăng lên đến 25% tổng số các vụ kiện tại GATT (25/117 vụ). Ở Vòng đàm phán Uruguay, Brazil đã đưa ra đề nghị c ần thi ết phải áp d ụng nguyên t ắc đ ối x ử đ ặc bi ệt đ ối với các nước đang phát triển khi áp dụng Cơ chế giải quyết tranh chấp c ủa GATT. Đ ề ngh ị này đã đ ược chấp nhận và thể hiện trong Thoả thuận về Cơ chế giải quyết tranh chấp WTO. Cụ thể như sau: - Các nước đang phát triển có thể yêu cầu Tổng giám đốc WTO đứng ra làm trung gian, hoà gi ải trong trường hợp có tranh chấp với nước phát triển; - Trong thành phần của nhóm chuyên gia nhất thiết phải có m ột thành viên là công dân c ủa m ột n ước đang phát triển, trừ khi nước đang phát triển có liên quan không yêu cầu như vậy; - Thời gian để giải quyết tranh chấp với các nước đang phát tri ển có th ể đ ược kéo dài h ơn so v ới quy đ ịnh chung; - Các nước phát triển cần có thái độ kiềm chế khi áp dụng các biện pháp trả đũa với bên thua ki ện là n ước đang phát triển; - Các nước phát triển có thể được phép áp dụng các biện pháp tr ả đũa chéo đ ối v ới bên thua ki ện là n ước phát triển; - Các nước đang phát triển có thể yêu cầu Ban Thư ký WTO trợ giúp pháp lý khi có tranh chấp; - Các nước đang phát triển có thể áp dụng các thủ tục gi ải quyết tranh ch ấp đ ược Đ ại h ội đ ồng GATT thông qua theo Quyết định ngày 5-4-1966. Các nước đang phát triển đã nhanh chóng nhận thức được lợi ích t ừ vi ệc sử d ụng C ơ ch ế gi ải quy ết tranh chấp của WTO và chỉ sau gần 5 năm, các nước đang phát tri ển đã tr ở thành nhóm các n ước s ử d ụng nhi ều nhất cơ chế giải quyết tranh chấp mới của WTO. Tính đến ngày 31-12-1998, các nước đang phát triển dẫn đầu số lượng các vụ kiện (37%) nhi ều hơn Mỹ (34%) và EU (21%) và 80% trong số đó kết thúc thắng lợi. Có thể nói C ơ chế gi ải quyết tranh ch ấp c ủa WTO được các nước đang phát triển sử dụng như m ột công cụ có hi ệu qu ả đ ể gi ải quyết tranh ch ấp thương mại với các nước phát triển. Và xét về toàn cục thì Cơ chế này là một bước phát tri ển ti ến b ộ theo hướng công bằng hơn trong quan hệ thương mại quốc tế.
  6. Giải quyết tranh chấp[sửa] Ngoài việc là diễn đàn đàm phán các quy định thương mại, WTO còn hoạt động như một trọng tài giải quyết các tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc áp dụng quy định của WTO. Không giống như các tổ chức quốc tế khác, WTO có quyền lực đáng kể trong việc thực thi các quyết định của mình thông qua việc cho phép áp dụng trừng phạt thương mại đối với thành viên không tuân thủ theo phán quyết của WTO. Một nước thành viên có thể kiện lên Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO nếu như họ tin rằng một nước thành viên khác đã vi phạm quy định của WTO [4]. Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO bao gồm hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm. Ở cấp sơ thẩm, tranh chấp sẽ được giải quyết bởi một Ban Hội thẩm Giải quyết Tranh chấp. Ban hội thẩm này thông thường gồm 3 đên 5 chuyên gia trong lĩnh vực thương mại liên quan. Ban hội thẩm sẽ nghe lập luận của của các bên và soạn thảo một báo cáo trình bày những lập luận này, kèm theo là phán quyết của ban hội thẩm. Trong trường hợp các bên tranh chấp không đồng ý với nội dung phán quyết của ban hội thẩm thì họ có thể thực hiện thủ tục khiếu nại lên Cơ quan phúc thẩm. Cơ quan này sẽ xem xét đơn khiếu nại và có phán quyết liên quan trong một bản báo cáo giải quyết tranh chấp của mình. Phán quyết của các cơ quan giải quyết tranh chấp nêu trên sẽ được thông qua bởi Hội đồng Giải quyết Tranh chấp. Báo cáo của cơ quan giải quyết tranh chấp cấp phúc thẩm sẽ có hiệu lực cuối cùng đối với vấn đề tranh chấp nếu không bị Hội đồng Giải quyết Tranh chấp phủ quyết tuyệt đối (hơn 3/4 các thành viên Hội đồng giải quyết tranh chấp bỏ phiếu phủ quyết phán quyết liên quan). Trong trường hợp thành viên vi phạm quy định của WTO không có các biện pháp sửa chữa theo như quyết định của Hội đồng Giải quyết Tranh chấp, Hội đồng có thể ủy quyền cho thành viên đi kiện áp dụng các "biện pháp trả đũa" (trừng phạt thương mại). Những biện pháp như vậy có ý nghĩa rất lớn khi chúng được áp dụng bởi một thành viên có tiềm lực kinh tế mạnh như Hoa Kì hay Liên minh châu Âu. Ngược lại, ý nghĩa của chúng giảm đi nhiều khi thành viên đi kiện có tiềm lực kinh tế yếu trong khi thành viên vi phạm có tiềm lực kinh tế mạnh hơn, chẳng hạn như trong tranh chấp mang mã số DS 267 về trợ cấp bông trái phép của Hoa Kỳ [5]. Giải quyết các tranh chấp thương mại “Tự do thương mại” không phải để mang lại “phúc lộc” cho các nền kinh tế nhỏ-yếu mà thường nước giàu được lợi nhiều hơn. Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp th ương m ại c ủa WTO là khuy ến khích các bên tranh chấp tự tham khảo ý kiến và dàn xếp với nhau trước khi bắt đầu và cả trong quá trình xét xử. Việc “xét xử” tiến hành theo nhiều giai đoạn, thời gian c ụ thể: Từ khi th ụ lý v ụ ki ện đ ến khi đ ưa ra phán quyết ban đầu là 12 tháng; phúc thẩm (nếu các bên có kháng cáo) 3 tháng; các phán quy ết t ự đ ộng có hiệu lực, trừ khi bị tất cả các nước bác bỏ. Thành viên b ị phán quy ết vi ph ạm quy đ ịnh c ủa t ổ ch ức thì ph ải sửa sai, nếu tiếp tục vi phạm thì phải bồi thường hoặc chịu phạt. WTO cũng cho phép bên nguyên cáo đ ược kiện lại bên bị cáo, nếu họ không thực hiện. Trên nguyên tắc, các bi ện pháp tr ừng ph ạt đ ược áp đ ặt đ ối v ới cùng nhóm thương mại phát sinh tranh chấp. Thí dụ: EU kiện Mỹ áp dụng thuế chống bán phá giá đ ối v ới thép c ủa EU thì EU có th ể ki ện l ại đ ể áp dụng các biện pháp trừng phạt tương tự. Nếu biện pháp trừng phạt cùng nhóm không th ực hi ện đ ược ho ặc không hiệu quả thì EU có thể áp đặt trừng phạt đối với những nhóm hàng khác của cùng một hiệp định, như tăng thuế nhập khẩu đối với một số hàng nông sản của Mỹ có giá tr ị bằng s ố thi ệt h ại do M ỹ áp d ụng thu ế chống bán phá giá đối với thép của EU. Về việc chống bán phá giá và thu ph ụ phí, WTO cũng quy đ ịnh cho bên bị hại trong thời gian nhất định được thu thuế quan mang tính trừng phạt, ho ặc hạn ch ế nh ập kh ẩu c ủa bên bị cáo... Quy trình giải quyết tranh chấp thương mại là WTO có m ột bộ máy chuyên môn, t ức b ộ phận gi ải quyết tranh chấp và ra các quyết định tố cáo. Với vai trò là Hội đ ồng gi ải quy ết tranh ch ấp (DSB), s ẽ b ổ nhiệm một đoàn thẩm phán xem xét và đưa ra phán quyết dựa trên các hi ệp đ ịnh c ủa WTO và cam k ết c ủa từng thành viên. Tuy đã có hẳn DSB là một hội đồng đặc bi ệt, với sự tham gia c ủa t ất c ả các n ước thành viên, nh ưng trong thực tế luôn gặp rất nhiều khó khăn. Các quyết định của DSB th ường l ỏng l ẻo, cũng không có quy chế xử phạt các thành viên không thực hiện các quyết định đó. Chính vì th ế nên WTO nhi ều khi cũng “ lực
  7. bất tòng tâm” khi phải đối mặt với các cuộc “chiến tranh thương mại” bùng nổ giữa một số thành viên, nhất là đối với các thành viên là những nước phát triển, nền kinh tế lớn...
  8. Biện pháp tự vệ là gì? Biện pháp tự vệ là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với m ột ho ặc m ột số loại hàng hoá khi vi ệc nh ập khẩu chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước. Biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng đối với hàng hoá, không áp dụng đ ối v ới d ịch v ụ, đ ầu t ư hay s ở h ữu trí tuệ. Mỗi nước nhập khẩu là thành viên WTO đều có quyền áp dụng biện pháp tự vệ, nhưng khi áp d ụng thì h ọ phải bảo đảm tuân theo các quy định của WTO (về điều ki ện, th ủ t ục, cách th ức áp d ụng bi ện pháp t ự v ệ). Doanh nghiệp cần chú ý đến công cụ này để có thể yêu c ầu Chính ph ủ s ử d ụng nh ằm b ảo v ệ l ợi ích c ủa mình trước hàng hoá nhập khẩu nước ngoài khi cần thiết. Tại sao biện pháp tự vệ được hợp pháp hoá trong WTO? Được sử dụng để “đối phó” với hành vi thương mại hoàn toàn bình thường (không có hành vi vi phạm pháp luật hay cạnh tranh không lành mạnh) nên về hình thức, việc áp dụng biện pháp tự vệ bị coi là đi ngược lại chính sách tự do hoá thương mại của WTO. Tuy vậy, đây là biện pháp được hợp pháp hoá trong khuôn khổ WTO (với các điều kiện chặt chẽ để tránh lạm dụng). Lý do là trong hoàn cảnh buộc phải mở cửa thị trường và tự do hoá thương mại theo các cam kết WTO, các biện pháp tự vệ là một hình thức "van an toàn" mà hầu hết các nước nhập khẩu là thành viên WTO đều mong muốn. Với chiếc van này, nước nhập khẩu có thể ngăn chặn tạm thời luồng nhập khẩu để giúp ngành sản xuất nội địa của mình tránh những đổ vỡ trong một số trường hợp đặc biệt khó khăn. Hộp 1 - Biện pháp tự vệ có phải là một công cụ “miễn phí” không? Được thừa nhận trong thương mại quốc tế nhưng lại đi ngược lại mục tiêu “tự do hoá thương mại”, biện pháp tự vệ là một công cụ “phải trả tiền”. Điều này có nghĩa là các nước được phép áp dụng nó bảo vệ ngành sản xuất của nước mình nhưng phải “trả giá” cho những thiệt hại mà biện pháp này gây ra cho các nhà sản xuất nước ngoài (như một hình thức cân bằng cam kết thương mại với nước khác). Cụ thể, nước áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường thương mại cho các nước có hàng hoá bị áp dụng biện pháp tự vệ theo các điều kiện nhất định. Nếu nước này không tuân thủ, WTO cho phép các nước liên quan được áp dụng biện pháp trả đũa. WTO quy định về biện pháp tự vệ ở đâu? Các nguyên tắc về việc sử dụng biện pháp tự vệ trong WTO được quy định tại: - Điều XIX GATT 1994; và - Hiệp định về biện pháp tự vệ (Hiệp định SG). Các nước thành viên khi xây dựng pháp luật nội địa về biện pháp tự vệ có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc này của WTO. Các vụ kiện, việc điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ trên thực tế được tiến hành theo pháp luật nội địa của từng nước nhập khẩu, phù hợp với quy định liên quan của WTO. Hộp 2 – Các nhóm nội dung chính của Hiệp định về Biện pháp tự vệ - Nhóm các quy định về điều kiện được phép áp dụng biện pháp tự vệ; - Nhóm các quy định về thủ tục điều tra và cách thức áp dụng biện pháp tự vệ; - Nhóm các quy định về biện pháp bồi thường; - Nhóm các quy định ưu tiên dành cho các nước đang phát triển; Đối với doanh nghiệp, để có hiểu biết khái quát về những vấn đề cơ bản nhất về biện pháp tự vệ, doanh nghiệp chỉ cần tiếp cận các quy định của WTO về vấn đề này là đủ. Tuy nhiên, để biết chi tiết về trình tự, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền… trong các vụ việc điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ cụ thể ở mỗi thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp cần tìm hiểu các quy định pháp luật về biện pháp tự vệ của nước đó.
  9. Điều kiện để áp dụng biện pháp tự vệ là gì? Một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi đã tiến hành điều tra và chứng minh được sự tồn tại đồng thời của các điều kiện sau: (i) Hàng hoá liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng; (ii) Ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hoá đó bị thiệt hại hoặc đe doạ bị thiệt hại nghiêm trọng; và (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại nói trên. Một điều kiện chung là tình trạng nói trên phải là hệ quả của việc thực hiện các cam kết trong WTO của các thành viên mà họ không thể thấy hoặc lường trước được khi đưa ra cam kết. Song song với các điều kiện chung này, một số nước khi gia nhập WTO phải đưa ra những cam kết riêng liên quan đến biện pháp tự vệ. Trường hợp của Việt Nam, không có ràng buộc hay bảo lưu nào lớn về các biện pháp tự vệ này, do đó việc áp dụng biện pháp tự vệ ở Việt Nam đối với hàng hóa nước ngoài, nếu có, sẽ tuân thủ đầy đủ các quy định của Hiệp định SG. Hộp 3 - Điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hoá Trung Quốc đến hết năm 2014 Để áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hoá Trung Quốc, nước nhập khẩu cần chứng minh sự tồn tại đồng thời của các điều kiện: • Hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc tăng về số lượng; • Ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu phải chịu hoặc bị đe doạ đổ vỡ thị trường (market disruption); và • Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu từ Trung Quốc tăng và sự đổ vỡ thị trường nói trên. Trường hợp một nước thành viên đã áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hoá Trung Quốc theo cách thức như trên, các nước thành viên khác cũng có thể hạn chế nhập khẩu hàng hoá có xuất xứ từ Trung Quốc đó nếu chứng minh rằng biện pháp tự vệ đó gây ra hoặc đe doạ gây ra những biến động mạnh đến luồng thương mại vào thị trường nội địa của mình. Xác định yếu tố “thiệt hại nghiêm trọng” như thế nào? Một trong các điều kiện để có thể áp dụng biện pháp tự vệ là phải điều tra chứng minh được rằng ngành sản xuất nội địa phải chịu thiệt hại nghiêm trọng từ việc hàng nhập khẩu tăng ồ ạt. Cụ thể: - Về hình thức, các thiệt hại này có thể tồn tại dưới 02 dạng: thiệt hại thực tế, hoặc nguy cơ thiệt hại (nguy cơ rất gần); - Về mức độ, các thiệt hại này phải ở mức nghiêm trọng (tức là ở mức cao hơn so với thiệt hại đáng kể trong trường hợp của các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp); - Về phương pháp, các thiệt hại thực tế được xem xét trên cơ sở phân tích tất cả các yếu tố có liên quan đến thực trạng của ngành sản xuất nội địa (ví dụ tỷ lệ và mức tăng lượng nhập khẩu, thị phần của sản phẩm nhập khẩu, thay đổi về doanh số, sản lượng, năng suất, nhân công…) Trong cuộc điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ, việc chứng minh thiệt hại nghiêm trọng chủ yếu thuộc trách nhiệm của ngành sản xuất nội địa liên quan. Vì vậy, để đạt được mục tiêu của mình, ngành sản xuất nội địa cần có sự chuẩn bị kỹ về các số liệu, tập hợp trong một thời gian tương đối dài để có đủ dữ liệu chứng minh.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2