
1
"Những chủ trương, giải pháp phát triển nông thôn bền vững - công bằng trong
tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam đến năm 2020"
Bài phát biểu của ông Tăng Minh Lộc, Phó cục trưởng Cục HTX và
PTNT- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tại Hội nghị toàn thể ISG ngày
07 tháng 11 năm 2007
Nông thôn là địa bàn để người dân (chủ yếu là hộ gia đình nông dân) sinh
sống và phát triển, là một bộ phận quan trọng cấu thành xã hội, quốc gia Việt
Nam.
Nông thôn Việt Nam có chức năng chính: sản xuất và cung ứng nông
phẩm cho xã hội (nông, lâm, ngư phẩm); giữ bản sắc văn hoá truyền thống dân
tộc và đảm bảo môi trường sinh thái. Trong quá trình phát triển của đất nước,
đến nay nông thôn Việt Nam đã có nhiều đổi mới tích cực, song cũng còn nhiều
vấn đề nổi cộm, bất cập nếu không được điều chỉnh kịp thời có thể phát sinh
nhiều vấn đề phức tạp. Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được
Chính phủ giao chủ trì xây dựng Đề án về các vấn đề: nông dân, nông nghiệp và
nông thôn Việt Nam đến năm 2020. Tại Hội nghị này, chúng tôi chỉ trình bày
một phần việc: "Những chủ trương, giải pháp phát triển nông thôn bền vững -
công bằng trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam đến năm
2020"
PHẦN I
THỰC TRẠNG NÔNG THÔN HIỆN NAY
Hiện nay 70% dân số, 57% lao động sinh sống và làm việc ở khu vực
nông thôn và nông thôn đóng góp 20% thu nhập quốc nội (GDP). Vì vậy, phát
triển nông nghiệp, nông thôn luôn giành được sự quan tâm to lớn của Đảng và
Nhà nước, nhiều chủ trương chính sách đã được ban hành và tổ chức thực hiện
hiệu quả và đạt được nhiều thành tựu đáng kể làm thay đổi bộ mặt nông thôn.
I. Những mặt được
1. Cơ cấu kinh tế nông thôn có sự chuyển biến rõ nét. Sản xuất tiểu thủ
công nghiệp và ngành nghề nông thôn tăng 15% năm. Giá trị sản xuất nông, lâm
ngư nghiệp tăng bình quân 5,4%/năm, trong đó nông nghiệp tăng 4,4%.
2. Xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả tốt năm 2001 tỷ lệ hộ nghèo là 14,5%,
năm 2006 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 8,3% theo tiêu chí cũ (tiêu chí mới là 18%),
năm 2007 là 14,7%..
3. Thu nhập bình quân của hộ nông dân tăng nhanh từ 11 triệu đồng/hộ
năm 2000 lên 16 triệu đồng/hộ năm 2006.
4. Cơ sở hạ tầng từng bước được cải thiện

2
- Giao thông nông thôn: đến năm 2006, cả nước có 8.783 xã (96,7%) có
đường ô tô đến trụ sở UBND xã (năm 2001 là 94,5%) và khoảng 40,7% đường
giao thông thôn, ngõ, xóm đã được kiên cố hoá.
- Điện nông thôn: đến năm 2006, có 8.992 xã (chiếm 99%), 74.540 thôn
(chiếm 92,8%) có điện và 93,3% số hộ nông thôn sử dụng điện.
- Hạ tầng giáo dục, ytế, văn hoá
* Về giáo dục: Đến nay đã cơ bản hoàn thành chương trình kiên cố hoá
trường học, lớp học với 99,6% số xã có trường tiểu học, 91,2% số xã có trường
trung học cơ sở, 10,2% số xã có trường trung học phổ thông, 53,7% số thôn có
lớp mẫu giáo
* Về y tế: Đến hết năm 2006 cả nước đã có 99,3% số xã có trạm y tế.
* Về văn hoá: đến cuối năm 2006, cả nước có 29,7% số xã và 43,7% số
thôn có nhà văn hoá; 9,5% số xã có thư viện; 90% số xã có điểm bưu điện văn
hoá; 94,4% số xã có máy điện thoại tại trụ sở; 75% số xã có hệ thống loa truyền
thanh.
- Thuỷ lợi: Trong 5 năm qua, đầu tư cho thuỷ lợi đạt 21.511 tỷ đồng (vốn
NSNN 14,765 tỷ đồng, còn lại do dân đóng góp), đưa tổng năng lực tưới đến
năm 2005 đạt 8 triệu ha gieo trồng, năng lực tiêu 1,7 triệu ha.
- Dịch vụ - thương mại nông thôn:
Trong 5 năm qua, đã có 59% số xã có chợ và 9,8 số xã có quỹ tín dụng
nhân dân. Trong đó ,có 1.016 chợ nông thôn được nâng cấp góp phần phát triển
thêm dịch vụ sinh hoạt và tiêu thụ nông sản, đồng thời tăng thêm nét đẹp văn
hoá làng quê.
- Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Đến nay 35,3% số xã đã có công trình cấp nước sinh hoạt tập trung; 62%
dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch (tăng 20% so với năm 2001).
Hiện có 1.136 xã sử dụng hệ thống thoát nước thải chung (chiếm 12,5%)
và 25% số xã có tổ chức hoặc thuê thu gom rác thải.
5. Đời sống kinh tế - văn hoá khu vực nông thôn (nhất là vùng đồng bằng
) đã có nhiều tiến bộ
- Đến nay tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã hoàn thành
phổ cập giáo dục tiểu học, trong đó 24 địa phương đạt tiêu chuẩn phổ cập tiểu
học đúng độ tuổi và 26 địa phương đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở.
- Hiện cả nước đã có 38% số thôn, ấp, bản, tổ dân phố và cụm dân cư
được công nhận là thôn, ấp, bản, tổ dân phố, cụm dân cư văn hoá với 12,5 triệu
gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá (phong trào do MTTQ phát động)
- Công tác y tế và chăm lo sức khoẻ cộng đồng không ngừng mở rộng
mạng lưới phục vụ. 89,2% số thôn có cán bộ y tế (71.624 thôn).

3
- 95% số hộ được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và 90% số hộ được xem
các chương trình của Truyền hình Trung ương.
6. Quan hệ sản xuất trên cơ sở phát triển kinh tế tập thể nhằm hỗ trợ tốt
hơn cho kinh tế hộ và cộng đồng trong phát triển kinh tế vẫn tiếp tục được duy
trì.
HTX nông nghiệp đã được quan tâm củng cố hơn (có Luật HTX, đổi mới
HTX theo Luật), hướng vào: Hướng dẫn chuyển giao tiến bộ ký thuật, cung ứng
dịch vụ chủ yếu cho kinh tế hộ; ngoài ra còn làm một số chức năng xã hội (xây
dựng hạ tầng, xoá đói giảm nghèo...)
Nhìn chung bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống nông dân và
những người sống ở nông thôn đã có nhiều cải thiện, được nâng cao cả về vật
chất và tinh thần
Đạt được kết quả trên trước hết nhờ sự nỗ lực, lao động cần cù và đóng
góp của người dân; sự vào cuộc tích cực của các tổ chức đảng, đoàn thể; sự
hỗ trợ to lớn của các tổ chức quốc tế và đặc biệt là hệ thống các chính sách
tạo môi trường và động lực phát triển nông thôn, cụ thể là:
(1). Chính sách đất đai. Hệ thống chính sách pháp luật đất đai trong những
năm qua không ngừng được hoàn thiện đã tạo môi trường pháp lý tốt cho người
nông dân và các thành phần kinh tế yên tâm đầu tư phát triển kinh tế nông
nghiệp, nông thôn.
(2). Chính sách thuế
Nhà nước đã ban hành 4 văn bản Luật, Nghị định và Quyết định về chính
sách thuế và miễn giảm thuế có lợi cho nông nghiệp, nông thôn (Nghị quyết số
15/2003/QH11 về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp từ 2003-2010; Luật
số 07/2003/QH11 và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp về miễn giảm thuế các
sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản, các mặt hàng thuộc lĩnh vực nông nghiệp, phát
triển nông thôn và thuế thu nhập doanh nghiệp).
(3). Chính sách đầu tư
Nhà nước đã ban hành 11 Quyết định về tăng cường, ưu đãi đầu tư cho
nông nghiệp, nông thôn. Điển hình như Quyết định 159/2002/QĐ-TTg về phê
duyệt chương trình kiên cố hoá 67.500 phòng học; Quyết định 120/2003/QĐ-
TTg về phê duyệt phát triển kinh tế- xã hội biên giới Việt Trung đến 2010;
Quyết định 171/2006/QĐ-TTg về bố trí 22.200 tỷ đồng cho thuỷ lợi và 4.000 tỷ
đồng cho xây dựng đường ô tô đến trung tâm các xã…
(4). Chính sách chuyển đổi kinh tế nông nghiệp, nông thôn và xoá đói
giảm nghèo
Nhà nước đã ban hành 12 Quyết định phê duyệt các chương trình chuyển
đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và xoá đói giảm nghèo. Điển hình
Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo, chương trình 135, dự án trồng mới

4
5 triệu ha rừng. Quyết định 190/2003/QĐ-TTg về chính sách di dân thực hiện
quy hoạch bố trí dân cư đến 2010…
(5). Các chính sách tín dụng
Nhà nước đã ban hành 06 Quyết định, điển hình là Nghị định
78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách
khác; Quyết định 71/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cho vay giải
quyết việc làm; Quyết định 230/2003/QĐ-TTg về việc sử dụng vốn tín dụng đầu
tư phát triển để thực hiện kiên cố hoá kênh mương, giao thông nông thôn, cơ sở
hạ tầng làng nghề….
(6). Chính sách đào tạo nguồn nhân lực: Quyết định 81/2005/QĐ-TTg về
chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao dộng nông thôn.
II. Những tồn tại
Mặc dù đạt được một số kết quả, nhưng nông thôn Việt Nam vẫn còn
nhiều vấn đề nổi cộm:
1. Hạ tầng nông thôn còn nghèo nàn: Đến nay, cả nước vẫn còn hơn 300
xã, hơn 20.000 thôn, bản chưa có đường giao thông đến tận nơi; hơn 60% số
thôn, xã trong cả nước chưa có hệ thống nước sinh hoạt cấp nước đến hộ; hơn
40% số hộ nông dân không có nhà xí và nhà tắm hợp vệ sinh.v.v.
2. Quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển nông thôn còn nhiều bất
cập. Tình trạng phát triển nông thôn mang tính tự phát; không bảo vệ được cảnh
quan, môi trường sinh thái; bản sắc văn hoá truyền thống bị mai một.
3. Môi trường nông thôn đang xuống cấp và ô nhiễm
4. Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm, hiệu quả chưa cao, đặc
biệt là công nghiệp và dịch vụ
5. Thu nhập của nông dân thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao; khoảng cách về
thu nhập giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi ngày càng
lớn.
6. Kinh tế hợp tác chưa phát huy đầy đủ vai trò hỗ trợ nông dân và thúc
đẩy sản xuất phát triển
7. Cơ cấu lao động chuyển đổi chậm, lao động nông thôn thiếu việc làm.
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo khoảng 12%, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động
thấp, tình trạng thất nghiệp đang là mối đe dọa lớn ở nông thôn.
8. Mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước :
- Vấn đề nông dân bị thu hồi đất để phát triển công nghiệp dịch vụ và giải
quyết việc làm cho người dân. 5 năm qua, bình quân mỗi năm đất nông nghiệp
giảm 72.000 ha.
- Vấn đề huy động sự đóng góp của người dân quá nhiều để xây dựng cơ
sở hạ tầng đang gây bất bình lớn.

5
9. Tệ nạn xã hội (cờ bạc, ma tuý, mại dâm,…) có xu hướng gia tăng.
Nguyên nhân
- Kinh tế Việt Nam có điểm xuất phát thấp, sản xuất nông nghiệp về cơ
bản là sản xuất nhỏ, tư tưởng tiểu nông vẫn còn trong đại bộ phận nông dân
- Thiên tai, dịch bệnh ngày càng nhiều và có xu hướng gay gắt hơn, phải
dành nhiều công sức và tiền của để giải quyết.
- Nhận thức của một bộ phận cán bộ chưa ngang tầm với yêu cầu của tình
hình mới.
- Chưa xác định rõ được khái niệm và đặc trưng của nông thôn mới và các
tiêu chí thể hiện các đặc trưng đó làm cơ sở cho việc xây dựng giải pháp và cơ
chế chính sách phát triển nông thôn phù hợp.
- Chưa có một tổ chức đầu mối để xây dựng chiến lược phát triển nông
thôn; Tiếp nhận các nguồn lực và chỉ đạo thống nhất việc phân bổ các nguồn lực
cho phát triển nông thôn. Do vậy, việc đầu tư cho phát triển nông thôn còn mang
tính chắp vá, thiếu đồng bộ, nguồn lực bị chia sẻ, phân tán nên hiệu quả không
cao
- Chất lượng nguồn nhân lực thấp. Trên địa bàn nông thôn, hiện nay mới
chỉ có 12% nông dân được bồi dưỡng nghề nông; 31% cán bộ cấp thôn, bản, xã
có trình độ sơ cấp đến trung cấp; 0,3% có trình độ Đại học.
- Thiếu chính sách phù hợp để thu hút lực lượng cán bộ khoa học - kỹ
thuật và các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
- Ngân sách nhà nước đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn còn ở mức thấp,
các chính sách thu hút đầu tư về nông nghiệp, nông thôn chưa đủ mức hấp dẫn.
Theo báo cáo của Bộ Tài Chính, trong 5 năm, tổng vốn đầu tư phát triển nông
nghiệp, nông thôn đạt khoảng 113.116 tỷ đồng (ngân sách Nhà nước : 74.646 tỷ
đồng; tín dụng ưu đãi: 23.690 tỷ đồng và dân đóng góp 11.780 tỷ đồng) ước tính
mới chỉ đáp ứng được 17% nhu cầu và chỉ chiếm 8,7% tổng đầu tư.
PHẦN II
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM ĐẾN 2010 VÀ 2020
I. Cơ hội thách thức
1. Cơ hội
- Là thành viên của WTO (vừa là cơ hội, vừa là thách thức: cơ hội là có
sức ép phải đổi mới, có cơ hội để Việt Nam phát triển, học tập được nhiều kinh
nghiệm phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn...)
- Nhà nước Việt Nam khẳng định rõ quan điểm và quyết tâm phát triển
nông thôn: Đại hội X khẳng định:"Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông

