
477
Đậu Xuân Đạt
Trần Thị Ngát
Trường Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội
Tóm tắt: Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) là một viện tư thục theo mô hình
đại học - doanh nghiệp và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong quá trình đào tạo,
nghiên cứu và cung ứng các dịch vụ cho xã hội. Quá trình thực hiện mô hình đại học
- doanh nghiệp của MIT đã gắn liền với quá trình chuyển đổi số từ năm 1999 đến nay.
Không chỉ thích ứng được với biến đổi của thị trường mà MIT còn có thể vượt qua
được những thách thức do đại dịch Covid 19 mang lại. Vì vậy, cần thiết có các bài học
kinh nghiệm về chuyển đổi số từ MIT cho một số trường đại học của Việt Nam hướng
tới mô hình này nhằm đổi mới, bắt nhịp với xu thế phát triển chung và từng bước hội
nhập với xu hướng phát triển của các trường đại học trên thế giới.
Từ khóa: Mô hình đại học doanh nghiệp, chuyển đổi số, trực tuyến, số hóa, Việt Nam
Summary: Massachusetts Institute of Technology (MIT) is a private
Entrepreneurial University and has made great achievements in the process of training,
research and providing services to society. The implementation of the Entrepreneurial
University of MIT has been associated with the digital transformation from 1999 to the
present. Not only adapting to market changes, but also being able to overcome the
challenges brought by the Covid 19 pandemic. Therefore, it is necessary to have
lessons on digital transformation from MIT for a number of Vietnamese universities
towards this model in order to innovate, keep pace with the general development trend
and gradually integrate with the trend development direction of universities in the world.
Keywords: Entrepreneurial University, digital transformation, online,
digitalization, Vietnam
1. Chuyển đổi số trong mô hình đại học - doanh nghiệp
Cũng giống như các mô hình đại học truyền thống về chức năng đào tạo và
nghiên cứu thì mô hình trường đại học - doanh nghiệp (Entrepreneurial
University) còn thực hiện chức năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho xã
hội. Mô hình đại học - doanh nghiệp (ĐH-DN) tạo ra các sản phẩm và dịch vụ từ
việc chuyển các trung tâm nghiên cứu thành các doanh nghiệp/xí nghiệp ngay
trong trường đại học. Các doanh nghiệp này sẽ thực hiện từ việc khảo sát thị
trường, nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Ngày nay, nhiều học giả đang
quan ngại do mô hình này tập trung nhiều hơn về hiệu quả hoạt động cung cấp

478
sản phẩm và dịch vụ cho thị trường mà xa rời mục tiêu xã hội và công bằng.
Ngoài ra, mô hình ĐH-DN có thể khiến nhà trường coi sinh viên là “khách hàng’’
để thương mại hóa các mục tiêu trong đào tạo và nghiên cứu. Mô hình ĐH-DN
mặc dù vẫn còn nhiều điểm bất cập nhưng trong thực tế đây vẫn là mô hình được
nhiều trường đại học nổi tiếng thế giới hướng tới và đạt được nhiều thành tựu
đáng kể, đặc biệt là các trường đại học phi lợi nhuận. Mô hình ĐH-DN đáp ứng
đúng thực chất nhu cầu thị trường và hoạt động trong môi trường cạnh tranh nên
các chương trình đào tạo, nội dung giảng dạy, hoạt động nghiên cứu, cách tuyển
chọn giảng viên dựa vào tiêu chuẩn thị trường vẫn sẽ giúp cho nhà trường thực
hiện tốt chức năng đào tạo và nghiên cứu.
Các trường đại học nổi tiếng thế giới như Viện Công nghệ Massachusetts
Institute of Technology (MIT), Đại học Stanford, Californi, Washington,
Minnesota, Michigan, Georgia… của Mỹ; Đại học Luxembourg; Đại học quốc
gia Singapore (NUS); Đại học Thanh Hoa, Phúc Đán của Trung Quốc…đã xây
dựng thành công mô hình ĐH-DN thông qua đáp ứng các điều kiện về nâng cao
năng lực lãnh đạo quản lý, cải cách chương trình đào tạo gắn với thực tiễn, phát
triển đội ngũ giảng viên, chất lượng người học đánh giá qua chương trình khởi
nghiệp, hình thành các đối tác tin cậy và đặc biệt các trường đại học này thành
lập và phát triển được nhiều doanh nghiệp uy tín trên thị trường.
Khác với các mô hình đại học truyền thống, áp lực cạnh tranh đã thôi thúc
các trường đại học theo mô hình ĐH-DN chủ động để thích ứng tốt hơn với các
thách thức từ biến đổi thị trường trong thời gian qua, đặc biệt là đại dịch Covid
19. Một trong những phương thức hiệu quả mà các trường đại học này sớm thực
hiện đó là số hóa, ứng dụng số, chuyển đổi số trong các hoạt động đào tạo, nghiên
cứu, chuyển giao công nghệ và cung ứng sản phẩm cho thị trường thông qua các
doanh nghiệp được thành lập trong nhà trường.
2. Kinh nghiệm từ Viện Công nghệ Massachusetts - Mỹ
MIT là một viện đại học tư thục hàng đầu thế giới, với nhiệm vụ hàng đầu là
thực hiện đào tạo và nghiên cứu luôn gắn chặt với yêu cầu thực tế. MIT tiền thân
là trường Land Grant, là một đối tác phát triển của tiểu bang Massachusetts. MIT
là trường đại học chuyên ngành, gồm 34 khoa, phòng ban, trung tâm và phòng thí
nghiệm. Trường có hơn 1000 giảng viên, đào tạo gần 4500 sinh viên đại học và
hơn 6500 sinh viên sau đại học và sinh viên tham gia các khoá học về công nghệ
nâng cao. Tuy nhiện, sinh viên của MIT chủ yếu là sinh viên nước ngoài.
Năm 1999, MIT bắt đầu số hóa để phục vụ cho hoạt động đào tạo, nghiên
cứu từ việc thành lập Hội đồng MIT về Công nghệ Giáo dục. Hội đồng này đã
đưa ra chương trình MIT OpenCourseWare (OCW) để định vị MIT trong môi
trường học tập từ xa e-learning. Chương trình OCW đã khởi xướng một mô hình

479
số hóa mới để phổ biến kiến thức và hợp tác giữa các học giả trên khắp thế giới.
Mặc dù được sự ủng hộ của giảng viên song để số hóa được các tài liệu thì gặp
rất nhiều khó khăn trong quá trình xác định quyền sở hữu và xin phép xuất bản
đối với số lượng lớn các tài liệu khóa học đã đăng ký bản quyền của các giảng
viên MIT. Sau khi đảm bảo tính hợp pháp việc số hóa các tài liệu thì chương
trình OCW đã phải dành rất nhiều thời gian và nỗ lực kỹ thuật cần thiết để chuyển
đổi các tài liệu giáo dục sang định dạng trực tuyến nhằm đảm bảo bản quyền
trong tài liệu OCW vẫn thuộc về MIT, các thành viên trong giảng viên hoặc sinh
viên của MIT.
Sau khi thực hiện số hóa các tài liệu, MIT đã thực hiện ứng dụng số vào
năm 2002 thông qua trang web OCW để cung cấp thử nghiệm tài liệu của 32
khóa học đầu tiên. Quá trình thử nghiệm thành công đã thúc đẩy nhanh chóng
thúc đẩy quá trình chuyển đổi số. Tháng 9 năm 2003, OCW đã xuất bản tài liệu
khóa học thứ 500, trong đó một số khóa học đã chuyển đổi thành video các bài
giảng trực tuyến hoàn chỉnh đến người học. Đến năm 2004, có đến 900 khóa học
MIT đã được cung cấp trực tuyến. Năm 2005, MIT đã hợp tác với các trường đại
học lớn ở Mỹ và trên thế giới thành lập OpenCourseWare Consortium, nhằm tìm
cách mở rộng phạm vi tiếp cận và tác động của các tài liệu khóa học mở, thúc
đẩy các tài liệu khóa học mở mới và phát triển các mô hình bền vững để xuất bản
tài liệu khóa học mở.
Năm 2007, OCW đã giới thiệu một trang web để học nâng cao cho các
trường thành viên MIT các khóa học ở cấp trung học cơ sở về toán giải tích, vật
lý, hóa học và sinh học nhằm hỗ trợ giáo dục STEM của Hoa Kỳ. Năm 2011,
OCW đã thực hiện 15 khóa học đầu tiên cho những người học độc lập, mang tên
OCW Scholar. Hiện nay, các khóa học của OCW Scholar được cung cấp chuyên
sâu hơn và các tài liệu được trình bày theo trình tự hợp lý tạo điều kiện cho việc
tự học. Ngoài ra, kể từ năm 2012 đến nay OCW đã bổ sung tính năng tương tác
trực tiếp giữa các bên tham gia khóa học ngay trên trang web. Năm 2012, Harvard
và MIT đã phối hợp nghiên cứu để ra mắt edX. EdX cung cấp khóa học trực
tuyến mở (MOOC) khổng lồ nhằm cung cấp các cơ hội học tập trực tuyến cho
công chúng ở nhiều nước trên thế giới.
Ngày nay đã có nhiều tổ chức trên thế giới tham gia phong trào xây dựng
mô hình giáo dục trực tuyến mở đại trà và nhiều tổ chức giáo dục bắt đầu cung
cấp các khóa học MOOCs. Nhờ các khóa học qua trực tuyến mà việc ghi danh
và hoàn thành chứng chỉ tại không chỉ MIT mà còn nhiều trường đại học nổi
tiếng thế giới khác như Standford, Harvard, Yale…đã trở nên đơn giản hơn. Tính
đến năm 2020, edX - hệ thống MOOCs do Học viện MIT và Ðại học Harvard
phối hợp thành lập đã có hơn 3.000 khóa học trực tuyến với hơn 33 triệu người

480
học đến từ 196 quốc gia. Trong khi đó, Coursera - nền tảng MOOCs do ÐH
Standford xây dựng đã có hơn 130 nghìn học viên tham gia khoảng 6.400 khóa
học do hơn 200 trường ÐH và tổ chức trên toàn thế giới cung cấp. Các khóa học
trực tuyến mà đi đầu là MIT, cũng được đầu tư phát triển tại khu vực châu Á vài
năm trở lại đây, trong đó có Việt Nam. Không dừng lại ở việc miễn phí, MOOCs
đã thu hút được nhiều người trên toàn cầu tham gia là vì tính thực tiễn, hữu ích
của các khóa học. Do đó, MOOCs cũng đặt ra cam kết giúp người học đủ khả
năng vận dụng ngay kiến thức các khóa học vào công việc thực tế qua phương
pháp tích hợp lý thuyết với thực hành. Các bài học luôn được yêu cầu phải thiết
kế ngắn gọn với phần lý thuyết phong phú và dẫn chứng, minh họa thực tế, bảo
đảm tính ứng dụng cao, tăng khả năng tương tác.
Từ năm 2003 đến 2007, các nội dung trong video của khóa học chủ yếu ở
định dạng RealMedia. Bước chuyển đổi số có tính lan tỏa lớn bắt đầu từ năm
2008, MIT đã hợp tác thành công với Google để định dạng RealMedia của OCW
chuyển sang sử dụng YouTube làm nền tảng phát trực tuyến video kỹ thuật số
chính cho trang web. Các tệp video và âm thanh OCW cũng được cung cấp đầy
đủ để tải xuống ngoại tuyến trên iTunes U và Internet Archive. Hiện nay iTunes
U, phiên bản học tập của iTunes đã có hơn 500.000 bài giảng có sẵn để tải về
miễn phí. Ngoài ra, MIT cũng đã hợp tác với Irynsoft tạo ra phần mềm
LectureHall ứng dụng trên Iphone để cung cấp cho các giảng viên, người học và
cộng đồng sử dụng hiệu quả các tài nguyên tri thức mà MIT đã số hóa.
Gần 22 năm kể từ năm 1999, quá trình số hóa, ứng dụng số và chuyển đổi
số được MIT thực hiện thành công trong việc đào tạo và nghiên cứu. Đại dịch
Covid 19 bùng phát mạnh ở Mỹ đã khiến cho nhiều hoạt động kinh tế, văn hóa,
giáo dục ảnh hưởng nặng nề. Tuy nhiên, hiệu trưởng L. Rafael Reif của MIT cho
biết, do nhiều năm kinh nghiệm về ứng dụng trực tuyến và chuyển đổi số nên
hoạt động đào tào, nghiên cứu của MIT vẫn đảm bảo tính hiệu quả cao dù MIT
gặp khó khăn không chỉ từ đại dịch và còn từ chính phủ Mỹ (tháng 7/2020 Chính
phủ Mỹ đã ra thông báo sinh viên nước ngoài đang theo học tại Mỹ sẽ phải về
nước hoặc đứng trước nguy cơ bị trục xuất nếu như đăng ký toàn bộ các tín chỉ
theo hình thức học trực tuyến). Vậy tại sao MIT lại thành công trong quá trình
chuyển đổi số? Để trả lời câu hỏi này ta đi sâu phân tích các khía cạnh đặc trưng
từ mô hình ĐH-DN:
Thứ nhất, vai trò quan trọng của các trung tâm và doanh nghiệp được MIT
thành lập trong việc thu hút kinh phí lớn từ hoạt động tài trợ của các ngành công
nghiệp. Thành công từ việc chuyển đổi số của MIT có vai trò đặc biệt quan trọng
của các doanh nghiệp được MIT thành lập trong quá trình huy động nguồn vốn
để thực hiện quá trình số hóa đến chuyển đổi số. Ngoài ngân sách của MIT thì

481
hàng năm các doanh nghiệp của MIT huy động được hàng tỷ USD cho quá trình
chuyển đổi số. Thí dụ tính đến năm 2013, riêng chương trình OCW đã nhận
khoảng 3,5 tỷ USD từ các quỹ đầu tư mạo hiểm của các doanh nghiệp tài trợ thân
thiết với các doanh nghiệp của MIT.
Đó là các ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động
thương mại hoá các kết quả nghiên cứu. Nguồn vốn đã giúp cho MIT nâng cao
chất lượng giáo dục, theo chủ tịch MIT, mối quan hệ giữa trường với các ngành
công nghiệp trong hoạt động nghiên cứu và kinh doanh đã giúp cho trường nâng
cao chất lượng giáo dục, đa dạng hoá nguồn tài trợ và tạo ra phương thức mới về
năng lực đóng góp của trường cho cộng đồng. Nguồn kinh phí do các công ty
cấp không chỉ được phân bố cho các đề án nghiên cứu ứng dụng mà còn chia xẻ
cho các nghiên cứu cơ bản đặc biệt là vốn mạo hiểm. Quan hệ hợp tác giữa MIT
với các công ty Amgen và Merek là rất chặt chẽ. Các công ty này đã ủng hộ cho
nhiều lĩnh vực nghiên cứu cơ bản như sinh học, các công nghệ mới y sinh, năng
lượng, chuyển đổi số… và luôn duy trì các cuộc đối thoại về các xu hướng phát
triển công nghệ giữa các nhà khoa học với các công ty. Vốn cung cấp cho các
nghiên cứu trong lĩnh vực công nghiệp chiếm tới 16 đến 26% tổng vốn R&D, tỷ
lệ này là cao hơn so với Stanford và Berkeley.
Thứ hai, nguồn kinh phí cho khoa học và công nghệ. Để có khả năng thành
lập nhiều công ty thì cần thu hút nguồn tài chính để tài trợ cho các hoạt động
nghiên cứu. Các nhân viên chuyển giao công nghệ của MIT cho biết, càng tiếp
cận với nguồn tài chính dành cho hoạt động R&D lớn thì công nghệ phát triển
tốt và giá trị thương mại càng cao. MIT còn có các trung tâm nghiên cứu chuyên
sâu. Theo khảo sát của Quỹ khoa học quốc gia (NSF) về nghiên cứu và phát triển
học thuật, MIT đã chi 435 triệu USD cho hoạt động nghiên cứu, đứng thứ 11
trong số các trường đại học Mỹ và đứng thứ 8 trong các trường tư nhân.
Thứ ba, chất lượng đào tạo của các khoa. Yếu tố chủ chốt dẫn tới sự thành
công trong chuyển giao công nghệ của MIT là nhờ chất lượng của khoa, năng lực
của khoa trong hoạt động đổi mới và thương mại hoá. MIT luôn đưa ra mục tiêu
là trường đạt chất lượng cao, do đó đã xây dựng được các khoa mạnh nhất, thu
hút sinh viên tài năng nhất. Chất lượng đào tạo của các khoa tại MIT được Uỷ
ban nghiên cứu quốc gia Mỹ xếp hạng là 4,7 điểm trên thang điểm 5 về công
nghệ. Chất lượng về chương trình đào tạo của MIT cũng lọt vào top 10, trong đó
ngành công nghệ thông tin được xếp thứ nhất và ngành sinh học đứng vị trí thứ
hai. Đây là điều kiện quan trọng để sinh viên MIT sau khi tốt nghiệp có thể tham
gia được vào nguồn nhân lực công nghệ số. Nhân sự của MIT được tuyển dụng
từ nhiều nơi khác nhau, những người được tuyển dụng là những người có năng

