
264
CƠ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI HỌC VÀ THÁCH THỨC THỰC HIỆN CHUYỂN
ĐỔI SỐ TRONG GIÁO DỤC MỞ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC MÔ HÌNH HỌC
TẬP VÀ THÚC ĐẨY HỌC TẬP SUỐT ĐỜI Ở VIỆT NAM
Phạm Thị Loan1
Email: loanpt.ufba@gmail.com
Tóm tắt: Bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê từ nguồn dữ liệu thứ cấp
được công bố trong các thống kê của cơ quan chính phủ, các kết quả nghiên cứu, nhận định
của các chuyên gia, các dữ liệu trong luận văn, đề tài, giáo trình của các nhà nghiên cứu về
chuyển đổi số trong giáo dục mở của Việt Nam. Từ đó, tập trung nghiên cứu về cơ hội và
thách thức đối với chuyển đổi số trong giáo dục mở ảnh hưởng đến mô hình học tập và thúc
đẩy học tập suốt đời của người dân tại Việt Nam. Bài viết chỉ ra bốn cơ hội cho người dân
bao gồm: tăng khả năng tiếp cận giáo dục; tự chủ, linh hoạt trong học tập; tăng khả năng
học tập suốt đời và phát triển nghề nghiệp; giảm chi phí và tiết kiệm thời gian học tập. Bên
cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra năm nhóm thách thức lớn đối với chuyển đổi số trong giáo dục
mở bao gồm: thách thức về hệ thống pháp lý, cơ sở hạ tầng cho chuyển đổi số; thách thức
về nâng lực ứng dụng công nghệ số; thách thức về vấn đề tài chính; về vấn đề bảo mật và
bản quyền; và thách thức về kiểm soát chất lượng giáo dục mở.
Từ khóa: Chuyển đổi số, cơ hội, giáo dục mở, học tập suốt đời, thách thức.
I. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu trong giáo dục mở hiện nay. Các trường đại học
muốn mở rộng phát triển và tăng uy tín của mình trong lĩnh vực đào tạo thì bắt buộc phải
chuyển đổi số. Trong những năm qua, Việt Nam luôn không ngừng nỗ lực thực hiện chuyển
đổi số trên mọi phương diện, trong đó có giáo dục mở, tuy nhiên kết quả vẫn còn rất hạn
chế. Trong bài viết này, tác giả muốn tìm hiểu cơ hội của người học khi thực hiện chuyển
đổi số trong giáo dục và những vấn đề đặt ra đối với việc chuyển đổi số trong giáo dục mở,
từ đó giúp các nhà chính sách hiểu những nguyên nhân sâu sa khiến việc thực hiện chuyển
đổi số trong giáo dục mở tại Việt Nam còn hạn chế để có những giải pháp phù hợp.
II. Cơ sở lý thuyết
2.1. Khái niệm về giáo dục mở và chuyển đổi số trong giáo dục
Khái niệm giáo dục mở: Trên thế giới, khái niệm giáo dục mở bắt đầu xuất hiện từ
đầu thế kỷ 20 và phát triển mạnh mẽ vào khoảng những năm 1970. Theo Zawacki-Richter,
Olaf (2020): Giáo dục mở là một phong trào giáo dục khuyến khích mở rộng khả năng tiếp
1 Trường Đại học Tài chính – Quản trị kinh doanh

265
cận các cơ hội học tập và đào tạo vốn thông qua hệ thống giáo dục chính thức và thông
thường (nhưng không bắt buộc) được cung cấp thông qua các hình thức giáo dục trực tuyến
và đào tạo từ xa.
Khái niệm về chuyển đổi số trong giáo dục: Theo Bộ Thông tin và Truyền Thông
(2021) trong “Cẩm nang về chuyển đổi số”: Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và
toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên
các công nghệ số và chuyển đổi số trong giáo dục là phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ
xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập. Như vậy,
chuyển đổi số trong giáo dục bao gồm số hóa tài liệu học tập và giảng dạy đồng thời sử dụng
công nghệ số vào quản lý, vận hành giáo dục.
2.2. Các nghiên cứu về chuyển đổi số trong giáo dục
Theo Bùi Thị Nga, Lê Vũ Toàn, Lưu Đức Long (2022) trong nghiên cứu: “Giáo dục
đại học: cơ hội và thách thức trong chuyển đổi số” đã chỉ ra: chuyển đổi số trong giáo dục
đại học mang lại trải nghiệm cá nhân hóa, giúp thúc đẩy hợp tác giữa các trường đại học
nhưng cũng gặp những thách thức từ vấn đề tài chính, năng lực ứng dụng công nghệ và đánh
giá chất lượng. Bên cạnh đó, Nguyễn Bình Huy, Trần Hải Anh, Nguyễn Hữu Tâm (2023)
trong bài viết: “Chuyển đổi số - xu hướng tất yếu trong giáo dục đại học ở Việt Nam hiện
nay” chỉ ra chuyển đổi số giúp giảng viên dễ dàng biên soạn tài liệu phục vụ giảng dạy và
sinh viên có nguồn tài liệu nghiên cứu đa dạng. Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày những
khó khăn khi thực hiện chuyển đổi số như: trở ngại về nhận thực, thói quen, khó khăn trong
bảo mật thông tin người dùng.
III. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp thu thập và tổng hợp dữ liệu từ dữ liệu thứ cấp trong
các thống kê của cơ quan chính phủ, các kết quả nghiên cứu, nhận định của các chuyên gia.
Các dữ liệu trong luận án, luận văn, đề tài, giáo trình của các nhà nghiên cứu. Từ đó tác giả
tiến hành thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích làm rõ nội dung chuyển đổi số trong giáo
dục mở, cơ hội cho người học đối với ứng dụng chuyển đổi số trong giáo dục mở đối và
thách thức đối với việc thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục mở tại Việt Nam.
IV. Kết quả và thảo luận
Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu trong giáo dục và cũng là yếu tố thúc đẩy sự phát
triển giáo dục mở diễn ra nhanh chóng. Chuyển đổi số trong giáo dục mở mang lại những cơ
hội nhất định cho người học nhưng đồng thời, tiến hành chuyển đổi số trong giáo dục mở tại
Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế.
4.1. Cơ hội cho người dân đối với khi thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục mở
Trong thời đại hiện nay, mạng lưới internet và công nghệ số đang thúc đẩy sự phát triển
của giáo dục mở. Sự phát triển của giáo dục mở mang lại nhiều cơ hội cho người dân, cụ thể

266
4.1.1. Người học dễ dàng tiếp cận các khóa học
Một trong những ưu điểm lớn nhất của giáo dục mở là khả năng tiếp cận rộng rãi.
Thông qua các nền tảng học trực tuyến, người dân có thể truy cập vào các khóa học, tài liệu
giảng dạy từ bất kỳ đâu và bất kỳ khi nào. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những người
ở các khu vực hẻo lánh, nơi tiếp cận giáo dục truyền thống có thể bị hạn chế. Nhờ vào giáo
dục mở, họ có cơ hội học hỏi và phát triển mà trước đây là không thể.
Hơn nữa, giáo dục mở cũng mở ra cánh cửa cho sự đa dạng hóa trong lĩnh vực học
hỏi. Người dân không chỉ có thể tiếp cận các khóa học về các chủ đề truyền thống như toán,
văn, hay khoa học, mà còn có thể khám phá những lĩnh vực mới như kỹ năng sống, nghệ
thuật, hay lịch sử văn hóa của các quốc gia khác nhau. Điều này giúp mọi người mở rộng
kiến thức và hiểu biết của mình một cách toàn diện hơn, từ đó phát triển bản thân và sự
nghiệp của mình.
4.1.2. Người học được tự chủ, linh hoạt trong học tập
Giáo dục mở cũng mang lại sự tự chủ, sự linh hoạt và cá nhân hóa cho người học.
Thay vì phải tuân thủ theo lịch trình cố định của các lớp học truyền thống, người học có thể
tự chủ về thời gian, nơi học và lộ trình học tập cho bản thân. Điều này đặc biệt quan trọng
đối với những người có lịch trình bận rộn hoặc làm việc theo ca. Họ có thể tự quản lý thời
gian học của mình và chọn các khóa học phù hợp với lịch trình của họ một cách linh hoạt.
Ngoài ra, giáo dục mở cũng khuyến khích sự tương tác và học hỏi từ cộng đồng trực
tuyến. Thông qua các diễn đàn, nhóm học, hoặc các buổi thảo luận trực tuyến, người học có
thể trao đổi kiến thức, chia sẻ kinh nghiệm, và học hỏi từ nhau. Điều này tạo ra một môi
trường học tập phong phú và sáng tạo, khuyến khích sự học hỏi chủ động và tích cực.
4.1.3. Người học tăng khả năng học tập suốt đời và phát triển nghề nghiệp
Việc thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục mở thúc đẩy ý thức về việc học suốt đời.
Trong một thế giới đầy biến động và phức tạp, việc học hỏi và cập nhật kiến thức liên tục là
rất quan trọng. Giáo dục mở cung cấp cơ hội cho mọi người tiếp tục học hỏi và phát triển kỹ
năng qua các giai đoạn của cuộc sống. Điều này không chỉ giúp họ thích ứng với những thay
đổi trong công việc mà còn mở ra những cơ hội mới trong sự nghiệp và cuộc sống.
Hơn nữa, giáo dục mở cũng giúp người dân phát triển và cập nhật kỹ năng mới để
tăng cường cơ hội nghề nghiệp. Bằng cách tiếp cận các khóa học và tài liệu giảng dạy trực
tuyến, họ có thể nâng cao trình độ chuyên môn và mở rộng mạng lưới quan hệ trong lĩnh
vực của mình. Điều này tạo ra những cơ hội mới trong việc tìm kiếm việc làm, thăng tiến
trong sự nghiệp, và thậm chí khởi nghiệp.
4.1.4. Tiết kiệm chi phí và thời gian của người học
Cuối cùng, giáo dục mở cũng mang lại những lợi ích kinh tế quan trọng cho người
dân. Bằng cách tiết kiệm chi phí và thời gian đi lại, giáo dục mở giúp họ có thể tiếp cận giáo
dục chất lượng cao mà không cần phải đầu tư quá nhiều vào việc đi lại hoặc sinh hoạt hàng

267
ngày. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những người có cuộc sống bận rộn hoặc không
thể tham gia vào hệ thống giáo dục truyền thống. Hơn nữa, việc phát triển kỹ năng mới thông
qua giáo dục mở có thể tạo ra những cơ hội nghề nghiệp mới và tăng khả năng cạnh tranh
trên thị trường lao động.
Như vậy, trong tương lai số hóa và tiên tiến, giáo dục mở sẽ tiếp tục đóng vai trò
quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển của mọi người. Từ việc
tiếp cận giáo dục rộng rãi đến sự tự chủ và linh hoạt trong quá trình học, và từ việc thúc đẩy
ý thức về học suốt đời đến việc tạo ra những cơ hội nghề nghiệp mới, giáo dục mở mang lại
nhiều cơ hội và tiềm năng quan trọng cho người dân. Điều này đồng nghĩa với việc cần phải
đầu tư và phát triển mạnh mẽ hơn nữa vào lĩnh vực giáo dục mở, nhằm mục tiêu xây dựng
một xã hội tri thức và phát triển bền vững.
4.2. Các vấn đề đặt ra đối với chuyển đổi số trong giáo dục mở tại Việt Nam
Mặc dù có những cơ hội nhất định trong chuyển đổi số, tuy nhiên, vẫn có những
thách thức mà chuyển đổi số giáo dục đại học mở ở Việt Nam đang gặp phải. Cụ thể:
4.2.1. Các quy định pháp lý, điều kiện hạ tầng về giáo dục mở vẫn chưa hoàn thiện
Ở cấp độ vĩ mô, Việt Nam đã có những hệ thống văn bản khá đầy đủ và cập nhật về
chuyển đổi số nói chung, chuyển đổi số trong giáo dục nói riêng và ban hành nhiều văn bản
liên quan đến thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục như: Thông tư số 12/2016/TT-BGDĐT
về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, đào tạo qua mạng; Thông tư 10/2017/TT-
BGDĐT về quy chế đào tạo từ xa. Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương
trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; quyết định số
1373/QĐ – TTg phê duyệt đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 – 2030; Thông tư
42/2021/TT-BGDĐT về cơ sở dữ liệu giáo dục đào tạo, Quyết định 4740/QĐ-BGDĐT ngày
6/12/2022 ban hành bộ chỉ số cơ sở giáo dục đại học. Gần đây nhất, ngày 18/3/2024, Bộ
GD&ĐT ban hành Thông tư số03/2024/TT-BGDĐT ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê
ngành Giáo dục. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thiếu các phân tích chuyên sâu để đưa chính sách
này vào đời sống. Riêng về giáo dục mở, hiện vẫn chưa có bất kỳ chính sách cụ thể nào.
Nguồn lực quốc gia cho giáo dục mở vẫn hạn chế.
Về hạ tầng, hiện vẫn chưa có bất kỳ nền tảng quốc gia nào về giáo dục mở nhằm đáp
ứng nhu cầu học tập suốt đời của nhân dân, học liệu số vẫn chưa được kiểm duyệt sát sao vì
vậy, các học liệu tham khảo trên mạng còn tràn lan, chưa có tính xác thực cao. Điều này gây
khó khăn cho người dân trong quá trình học tập và lựa chọn tài liệu nghiên cứu. Điều này
gây ra tình trạng không đồng nhất về kiến thức, gây ra nhiều hệ lụy như tốn thời gian và
ngân sách của xã hội.
4.2.2. Thách thức từ năng lực ứng dụng chuyển đổi số trong giáo dục mở
Mặc dù có số lượng lớn người sử dụng internet và các mạng xã hội, việc truy cập di
động vào internet tăng đáng kể trong những năm vừa qua, nhưng việc sử dụng công nghệ

268
cho mục đích giáo dục vẫn còn thấp. Với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, các kho ứng
dụng, nền tảng số ra đời với tốc độ nhanh chóng nhưng khả năng tiếp nhận kiến thức mới
của giảng viên và sinh viên chưa theo kịp với tốc độ phát triển của công nghệ.
Bên cạnh đó, với khối lượng tri thức không lồ dẫn đến nhiều trường đại học bối rối,
lúng túng trong việc lựa chọn phần mềm dạy học trực tuyến, giảng viên lúng túng trong lựa
chọn các ứng dụng hỗ trợ giảng dạy và sinh viên bỡ ngỡ trong lựa chọn kiến thức trong kho
dữ liệu khổng lồ. Tiến bộ kĩ thuật cũng mang đến những thông tin đa chiều cần đến khả năng
phân tích, xử lý, lựa chọn thông minh của người quản lý, người dạy và người học.
Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục
mở. Tuy nhiên, nhiều giáo viên vẫn còn thiếu kỹ năng và kiến thức về việc sử dụng công
nghệ trong giảng dạy và quản lý lớp học trực tuyến. Đồng thời, để ứng dụng chuyển đổi số
trong giáo dục, giáo viên cần thay đổi mạnh mẽ phương pháp giảng dạy, bên cạnh việc cần
dành nhiều tâm huyết, thời gian để biên soạn tài liệu số thì giáo viên cần nâng cao năng lực
ứng dụng tiến bộ công nghệ trong giảng dạy, điều này không dễ thực hiện nhất là với những
giáo viên đã nhiều tuổi, khả năng tiếp cận công nghệ mới còn hạn chế.
4.2.3. Thách thức về vấn đề tài chính cho chuyển đổi số.
Thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục phải đi cùng với sự thay đổi đồng loạt về các
thiết bị phần cứng, phần mềm, công nghệ, phòng học thông minh và các công nghệ thông minh
giúp quản lý người học, người dạy thông minh và chương trình giảng dạy thông minh. Do vậy
nhà trường cần nhiều kinh phí hơn để đầu tư cho hệ thống trang thiết bị số. Đây là một vấn đề
lớn đối với các trường, đặc biệt là những trường chưa đủ mạnh về tài chính, có ít nguồn thu.
4.2.4. Thách thức từ vấn đề bảo mật, bản quyền tác giả trong quá trình chuyển đổi số.
Việc sử dụng dữ liệu cá nhân trong giáo dục mở đặt ra những vấn đề quan trọng về bảo
mật và quyền riêng tư. Cần phải đảm bảo rằng thông tin cá nhân của học sinh và sinh viên
được bảo vệ một cách an toàn và không bị lạm dụng. Các thông tin bảo mật về đề thi, thông
tin cá nhân, tài khoản của giảng viên, sinh viên luôn đứng trước những nguy cơ bị hack.
Cùng với sự phát triển của công nghệ thì nhiều hành vi sai phạm mới cũng xuất hiện
như: tình trạng thiết lập trang web ảo, mạo danh, trang web với những nội dung xuyên tạc,
phản động khiến cho giảng viên cũng rất khó kiểm soát. Nhiều câu chuyện liên quan đến
giảng viên bị phản ánh sai sự thật, lan truyền trên mạng một cách thiếu kiểm soát gây ra dư
luận không tốt, ảnh hưởng đến công việc và đời sống của giảng viên. Đồng thời, sinh viên
cũng cần có những kĩ năng phân tích, lựa chọn kiến thức trước những thông tin trái chiều
trên nền tảng số. Để đối phó với vấn đề này, cần có các chính sách và biện pháp bảo mật dữ
liệu mạnh mẽ, cũng như việc tạo ra sự nhận thức và nâng cao ý thức về quyền riêng tư trong
cộng đồng giáo dục.
4.2.5. Khó khăn trong việc đánh giá chất lượng dạy và học
Cuối cùng, việc thiếu tiêu chuẩn hóa và đánh giá chất lượng cũng là một vấn đề đặt

