
Cuộc đời và sự nghiệp của
Vincent Van Gogh
Vincent Van Gogh là nhà danh họa người Hòa Lan có danh tiếng đứng sau
Rembrandt và là một trong bốn họa sĩ hậu ấn tượng, gồm Paul Gauguin, Georges
Seurat và Paul Cézanne. Danh tiếng của Van Gogh được căn cứ vào các họa phẩm
mà ông đã sáng tác, phần lớn trong ba năm cuối của cuộc đời hội họa 10 năm. Van
Gogh đã vẽ hơn 800 bức sơn dầu và 700 họa phẩm thuộc các thể loại khác, thế
nhưng ông đã chỉ bán được một tấm tranh khi còn sống. Tranh của Van Gogh có
đặc điểm là màu sắc gây cảm xúc mạnh, nét bút thô, hình ảnh có đường viền lớn,
tất cả mang bên trong nỗi đau khổ của một tâm hồn bệnh hoạn khiến cho sau này
nhà danh họa phải tự sát.
1/ Thời thanh niên.
Vincent Willem van Gogh chào đời vào ngày 30 tháng 3 năm 1853 tại làng
Groot- Zundert thuộc miền Brabant, nước Hòa Lan và là con trai lớn của một gia
đình 6 người con. Cha của Van Gogh là một mục sư Tin Lành. Thuở thiếu niên
của Van Gogh rất hạnh phúc, cậu nhỏ này thường lang thang vui chơi nơi miền
quê thanh vắng. Vào tuổi 16, Van Gogh học nghề bán họa phẩm cho công ty
Goupil tại thành phố The Hague, nơi mà một người chú có phần hùn. Công ty
Goupil này có nhiều chi nhánh tại các thành phố khác như Brussels, London rồi tới
năm 1874, có cửa hàng chính tại thành phố Paris. Tại Paris, Van Gogh thường đi
thăm Viện Bảo Tàng Louvres và các họa phẩm trưng bày tại nơi này đã làm cho
tâm hồn Van Gogh say mê, và cuộc sống hàng ngày liên quan tới các tác phẩm
nghệ thuật đã làm sống dậy trong tâm hồn chàng niềm cảm xúc nghệ thuật. Chàng

Van Gogh dần dần không còn chú tâm vào công việc buôn bán rồi cuối cùng, xin
thôi nghề buôn tranh vào tháng 4 năm 1876.
Van Gogh say mê các tác phẩm hội họa của Rambrandt, Frans Hals và các
danh họa khác người Hòa Lan cũng như các sáng tác của Jean Francois Millet và
Camille Corot. Hai họa sĩ đương thời người Pháp này đã tạo nên các ảnh hưởng
trong suốt cuộc đời nghệ sĩ của Van Gogh.
Do nghề bán họa phẩm, Van Gogh đã đi và sống tại nhiều xứ sở và tình yêu
ban đầu đã nẩy nở khi chàng thanh niên Hòa Lan này sinh sống tại nước Anh vào
năm 1874. Mối tình đầu với một thiếu nữ London đã thất bại, Van Gogh trở nên
đau khổ và cô đơn, vì vậy chàng muốn theo học trường đào tạo mục sư, nhưng đã
bị rớt vào kỳ thi tuyển. Do quan tâm về tôn giáo, Van Gogh đã theo học một khóa
huấn luyện 3 tháng về đạo Tin Lành tại Brussels rồi sau đó, được cử đi rao giảng
tại miền Borinage, là nơi hầm mỏ nghèo khó thuộc miền tây nam của nước Bỉ. Tại
nơi hầm mỏ này, Van Gogh đã thông cảm với nỗi khổ đau của người nghèo nên đã
quá chăm chỉ và xả thân giúp đỡ họ, gây nên nhiều bất đồng với các vị lãnh đạo
tôn giáo. Van Gogh vì thế bị sa thải khỏi công việc giảng đạo và phải trở về sống
nhờ gia đình vì không còn tiền bạc. Chính vào năm 1880, ở tuổi 27, Van Gogh đã
bị dằn vặt, tuyệt vọng và tìm ra cho mình một lối thoát. Trong một bức thư dài viết
cho người em trai tên là Theo, Van Gogh đã cho biết quyết định theo ngành hội
hoạ.
Nhờ sự khuyến khích và nguồn trợ cấp tài chính của người em trai đang
làm việc cho công ty bán tranh Goupil tại Paris, Van Gogh trở lại khu hầm mỏ
Borinage và bắt đầu vẽ, bắt chước vẽ theo các bức tranh của Jean Francois Millet
(1814-1875), vẽ về đời sống và chân dung của những người thợ mỏ đen đủi. Van
Gogh thấy rằng cách tự học và làm việc chăm chỉ không đủ, còn cần tới sự hướng
dẫn của các họa sĩ nhiều kinh nghiệm nên vào năm 1882, ông trở lại thành phố
The Hague, Hòa Lan, để theo học hội họa với một người bà con là họa sĩ Anton

Mauve (1814-1875), một họa sĩ chuyên vẽ phong cảnh, nhưng Van Gogh đã coi
đường lối vẽ của ông Mauve là ngột ngạt và khô khan.
2/ Thời kỳ sáng tác.
Cuộc đời sáng tác của Van Gogh rất ngắn ngủi, chỉ kéo dài 10 năm, từ 1880
tới 1890. Trong 4 năm đầu, Van Gogh học hỏi các kỹ thuật hội họa và chuyên vẽ
đường nét (drawing) và màu nước (watercolors) nhưng sau khi đã học tập với
Anton Mauve và đã gặp gỡ nhiều họa sĩ khác, kể từ mùa hè năm 1882, Van Gogh
bắt đầu bước sang phạm vi tranh sơn dầu (oil paint). Do nội tâm thúc đẩy “phải
sống một mình với thiên nhiên”, năm 1883 Van Gogh đã tới Drenthe, một miền
hoang vắng thuộc phía bắc xứ Hòa Lan và đã lưu lại nơi này trong ba tháng trước
khi trở về Nuenen, một ngôi làng thuộc vùng Brabant mà gia đình mới dọn tới.
Van Gogh đã cư ngụ tại Nuenen trong các năm 1884 và 1885, và vào thời gian này,
nghệ thuật của Van Gogh táo bạo hơn, chín chắn hơn. Van Gogh đã vẽ ba loại đề
tài : tĩnh vật, phong cảnh và con người, tất cả đều liên quan tới miền đất canh tác
của nông dân, đời sống của họ, những gian khổ mà họ phải chịu đựng. Cuốn
truyện Germinal (1885) của Emile Zola, một văn sĩ ngưới Pháp, mô tả một miền
hầm mỏ của nước Pháp, đã ảnh hưởng tới Van Gogh rất nhiều, nên trong các tấm
tranh của Van Gogh vẽ về các người thợ mỏ, đã bộc lộ những chỉ trích mang tính
xã hội của họa sĩ.
Năm 1885, Van Gogh đã vẽ ra họa phẩm danh tiếng có tên là “Những
người ăn khoai” (The Potato Eaters) sau hai năm chuẩn bị. Đây là một tấm tranh
lớn, kích thước gần 3 x 4 feet, tượng trưng cho sắc độ và đề tài mà Van Gogh ưa
thích vào giai đoạn này. Họa phẩm này mang các màu đất u tối, gợi lại cách diễn
đạt của Frans Hals và Rembrandt, với nét bút nặng nề, mô tả cảnh gia đình gồm 5
nông dân đen đủi, ngồi nơi bàn ăn ngheò nàn. Toàn thể bức họa đã diễn tả đầy đủ
mức sống thấp hèn của đề tài và hoàn cảnh tàn nhẫn của người dân thợ mỏ. Trong
thời kỳ này, Van Gogh cũng vẽ một số tranh tĩnh vật như một giỏ khoai, một ấm
đồng đun nước, vài tổ chim và ngay cả một đôi giầy cũ rách. Một trong các họa

phẩm tĩnh vật nổi danh nhất của thời kỳ ban đầu này là bức họa “Sách Thánh Kinh
mở với ngọn nến” (Open Bible with Candle-1885), trong tranh còn bao gồm cuốn
truyện “Vui Sống” (Joie de Vivre) của Emile Zola.
Qua nghệ thuật hội họa, Van Gogh cố gắng tìm kiếm sự cứu rỗi cho chính
mình và cho các người khác bằng tinh thần tông đồ khi trước, và Hội Họa đã là
ngõ ra của nội tâm sâu kín cũng như cách diễn tả sự quan tâm về xã hội của họa sĩ.
Van Gogh đã cố công diễn tả sức cần lao và sức sản xuất của người lao động, nhất
là mô tả các kẻ khốn cùng. Kiến thức về hội họa của Van Gogh cũng thay đổi sau
khi nghiên cứu các tranh của Frans Hals. Van Gogh thấy rằng lối học thuần lý
thuyết đã phá hủy sự tươi mới của các ấn tượng nhãn quan, trong khi các họa
phẩm của Paolo Veronese và Eugene Delacroix khiến cho Van Gogh hiểu rằng
chính màu sắc cũng đã nói lên một điều gì. Trong lần đi Antwerp và được ngắm
nhìn các tranh vẽ của Peter Paul Rubens, Van Gogh đã thấu hiểu các phương tiện
đơn giản của Rubens và khả năng của nhà danh họa này trong việc mô tả bản sắc
(mood) của đề tài bằng cách phối hợp các màu sắc. Cũng vào thời kỳ này, Van
Gogh đã khám phá ra hai đường lối nghệ thuật trong nền Hội Họa Nhật Bản và
trong các tranh thuộc trường phái Aán Tượng (Impressionist).
Do không chấp nhận các nguyên tắc cổ điển về hội họa thuộc trường phái
hàn lâm của thành phố Antwerp, Van Gogh bỏ về, sống với người em trai là Theo
tại Paris năm 1886. Trong 4 tháng, Van Gogh theo học với họa sĩ Fernand Cormon
và nhờ thời gian cư ngụ tại Paris mà Van Gogh gặp gỡ các nghệ sĩ như Henri de
Toulouse-Lautrec (1864-1901), Emile Bernard (1868-1941). Và nhờ Theo, Van
Gogh được giới thiệu với các nghệ sĩ danh tiếng, là những người đang giữ các vai
trò lịch sử trong nền nghệ thuật mới, họ là các họa sĩ ấn tượng và hậu ấn tượng
(Post Impressionists) như Edgar Degas, Paul Signac, Georges Seurat, Paul
Gauguin. Camille Pissaro (1830-1890) đã khuyên Van Gogh nên dùng các màu
sắc tươi sáng hơn và áp dụng các kỹ thuật mới mà trường phái ấn tượng bắt đầu xử
dụng.

Trong thời gian giữa mùa xuân năm 1886 tới tháng 2 năm 1888, đường lối
diễn tả nghệ thuật của Van Gogh đã thay đổi hẳn, với một họa pháp riêng, một
khuynh hướng đặc biệt về bút pháp. Các tấm tranh của Van Gogh trở nên nhiều
màu sắc hơn, cách nhìn sự vật không còn cổ điển như trước, với sắc độ của họa
phẩm nhẹ nhàng hơn. Van Gogh không còn vẽ các nông dân đen đủi nữa mà bắt
đầu mô tả những đề tài đặc trưng của trường phái ấn tượng, chẳng hạn nhiều
phong cảnh của các vùng phụ cận Paris, cảnh trí bên bờ sông Seine, và hai họa
phẩm tiêu biểu là “Montmartre” (1886) và “Sàn quay Galette” (Moulin de la
Galette-1886).
Van Gogh cũng bị ảnh hưởng bởi họa phẩm của Seurat, đó là bức tranh
“Buổi chiều chủ nhật trên đảo La Grande Jatte” (A Sunday Afternoon on the
Island of La Grande Jatte) được triển lãm năm 1886. Kể từ mùa hè năm 1887, Van
Gogh đã dùng tới bút pháp với các nét kế cận mang các màu sắc của quang phổ
thuần chất (spectrum-pure). Ngoài ra, Van Gogh còn sưu tập một số họa phẩm
khắc gỗ (woodcuts) của Nhật Bản, nhất là loại tranh Ukiyo-e của họa sĩ Hiroshige
(1797-1858) và ảnh hưởng của đường lối thí nghiệm mới là cách dùng hai hay
nhiều điểm viễn khuất (vanishing points). Kỹ thuật phối cảnh mới này được thể
hiện qua họa phẩm “Dạ Hội tại Montmartre” (Festival in Montmartre-1886/87) và
họa phẩm “Các cây mận đang nở hoa” (Plum Trees in Blossom-1888) là thí dụ về
ảnh hưởng của lối khắc gỗ Nhật Bản.
Tới mùa hè năm 1887, Van Gogh đã vẽ các phong cảnh bằng các màu
thuần chất (pure colors) với nét họa đứt khúc, đôi khi theo lối chấm điểm
(pointillistic). Đường lối hậu ấn tượng (postimpressionist style) của Van Gogh bắt
đầu được thực hiện kể từ năm 1888 qua các họa phẩm “Chân dung của Cha
Tanguy” (Portrait of Père Tanguy) và “Chân dung tự họa” (Self-Portrait in Front
of an Easel) cũng như một số tranh vẽ các vùng ngoại ô của thành phố Paris.
Vào năm 1888, Van Gogh được nghe Toulouse-Lautrec ca ngợi phong cảnh
rực rỡ của miền nam nước Pháp và được đọc vài tác phẩm văn chương của

