Đặc đim truyện đồng thoại
của Quảng
Võ Quảng được biết đến trên tư cách một nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi. Gần
na thế kỉ cầm bút, ông đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển của nền văn học thiếu nhi
ớc nhà. Ngoài tiểu thuyết và thơ, Võ Qung còn là tác gicủa nhiều truyện đồng thoại
rất được bạn đọc nhỏ tuổi yêu thích.
Tn b truyn đồng thoại của Võ Quảng được tập hợp trong ba tập: Cái
Mai (1967), Bài hc tt (1982), Những chiếc áo ấm (1987), với nhiuc phẩm tiêu biểu
như Chuyến đi thhai, Trong một hnước, Mắt Giếc đ hoe, Những chiếc áo ấm, Đò ngang,
Anh Cút lủi, Đêm biểu diễn... Nhngng c này, tnhiều năm nay đã trnên quen thuộc
với nhiều thế hbạn đọc tuổi thơ.
Quảng đến với truyện đồng thoại trong bối cảnh thể loại này đã nhiều thành
tựu qua sự sáng tạo của Tô Hoài, Vũ Nam, Nguyn Đình Thi... Với cách một người
viết chuyên nghiệp, ông thực sự muốn th thách mình ở một thể loại mới và tạo được dấu
ấn nghệ thuật riêng. Cái Mai, Bài học tốt và Nhng chiếc áom đã thể hiện những nét bản
sc gì của ngòit Võ Quảngnh vực truyện đồng thoại?
1. Truyn đng thoi Võ Qung mang đm cht dân gian
N đã biết, truyện đồng thoại vốn nảy sinh trong đời sng dân gian. T thc tiễn đời
sng ca mình, quần chúng nhân dân qua bao đời đã sáng tạo nên rất nhiều nhng đồng thoại
hay và đẹp. Khi s mệnh sáng to văn hc cho thiếu nhi được trao cho các nhà văn, nhiều người
đã tiếp tc sáng tác đồng thoại và không quên lấy đồng thoại dân gian làm chất liệu sáng tác ca
mình(1). Việt Nam, hướng đi này đưc thhiện rõ nhất qua chính trường hp Võ Quảng.
Thống kê t toàn b sáng tác ca ông, thấy có đến gần 50% s tác phẩm quan h gần
gũi với nguồn truyện k dân gian với những biu hiện đa dng, phong phú và theo nhng mc đ
nh hưởng khác nhau.
Trước hết, chất n gian trong truyện đồng thoại của Võ Quảng thhiệnnội dung
giải thích đặc đim tự nhiên ca loài vật. Trong truyện kể truyền thống, nhữngng tác nội
dung này được xếp thành một bộ phận của thể loại truyện cổ tích, gọi là truyện cổch loài
vt.n học dân gian, vbản chất là những sáng tác chung cho c cộng đồng. Tuy vậy, vẫn
cn thấy rằng, truyện cổ tích loài vật được sáng tạo ra là nhằm thỏa mãn nhu cầu hiu biết,
nhu cu khám phá thế giới loài vật của các em.Vì sao ng Quạ màu đen? Vì sao Tu không
hàm ng trên?... Những câu hỏi kiu như thế vẫn luôn được c em đặt ra cùng vi nim
háo hc mong chờ được cắt nghĩa.
Khi giải thích đc điểm t nhiên ca loài vt, Võ Quảng vẫn tiếp tc con đường ngh
thut dân gian. Ông cũng đưa ra những lời giải tch ng nghĩnh, phù hợp với vốn kinh nghiệm
và “cái líca tr em. Chẳng hạn, Mt Giếc đ hoe vì khóc nhiều, Mèo snước nên ch tắm khô,
tiếng hú ca Vượn là dư âm tiếng kêu đau tơng vs mt mát ca đồng loại... ch giải thích
như thế, nhìn chung tạo đưc niềm tin ngây thơ nơi nhng tâm hồn con tr.
So với truyện dân gian, truyện đồng thoại ca Võ Quảng thường có nội dung phong phú
hơn. Nhà văn không đơn thuần dừng lại việc giải thích mà thưng kết hp với những nội dung
khác, đặc biệt là nội dung giáo dc. Điều này đòi hỏi nhà văn phi có nhng la chọn trong việc
xây dựng tình huống, s việc có kh năng th hin đa ch đ. thquan sát điều này qua
truyện Bài hc tốt. Đây là tác phẩm có s gần gũi với truyện dân gian S tích vết rn trên mai
Rùa. Theo truyện dân gian, Rùa đến nhà Kh ăn gi. Vì nhà Kh trên cao nên Rùa phảingậm
chặt đuôi Khđ Kh đưa lên trên nhà. Thấy h hàng nhà Kh chạy ra chào, Rùa quên phắt mình
đang trên cao, m miệng ra chào và thế là b rơi xuống đt khiến cho cái mai b v ra thành
nhiều mảng... (Nguồn truyện: Truyn c tích v các loài vt, Nxb. Giáo dc, 2002). Võ Qung
cũng s dng tình huốngtai nạn, song theo mt cách khác, nhiều hàm ý hơn. Trưc hết, cn thấy
nhân vt chú Rùa trong truyện Bài hc tốt ca Võ Quảng có đưng nét và cá tính hơn. Đó là mt
chú Rùa ham thích đi đây, đi đó song phi tính hay ngại. Vì thế, chú c ln la, tìm đ lí do đ trì
hn việc lên đường: nào là, mùa đông thì rét mưt, mùa xuân vẫn còn là đa em ca mùa
đông, mùa hè lại bi bặm... Lên đường rồi thì chú mt dn niềm hăng hái. “Ngày đu Rùa chạy,
như có ai đy sau lưng. Ngày th hai, Rùa chạy chậm. Ngày th ba, Rùa đi. Ngày th tư, Rùa đi
chậm. Ngày th năm, Rùa lê từng bưc...”. hình tượng này, chúng ta d dàng bắt gp nhng
đưng nét cá tính trcon. u chuyện vmt chú Rùa đi bám rt cc, đã gi lên biết bao điều v
thế giới tuổi thơ. Các em đc truyện hẳn cũng thấy bóng dáng ca chính cuc sống ca mình
trong đó, mà thêm mến, thêm yêu hình tượng và câu chuyện ca nhà văn.
T Bài hc tốt, nn rộng ra, thấy nhiều truyện của Võ Quảng đã đưc “hoài thai trên
cơ scốt truyện dân gian. Khuynh hướng khai thác cốt truyện dân gian trong văn hc viết cho
thiếu nhi có th nói là khá ph biến. Mỗi nhà văn có những ch khai thác riêng. Quảng
khôngtiểu thuyết hóa như Hoài hay ch lẩy ra một chi tiết, một hình tượng rồi viết nên
một câu chuyện mới như Phạm H. Ông quan tâm ch yếu đến các cốt truyện c tích loài vật.
T đó, nhà văn nhào nặn, ph vào tác phẩm của mình hơi thcuc sống hiện đại. Như
truyện Anht lủi chẳng hạn, lí do mà con chimt cóthân hình tri lủi”, phải cảnh chui b
lủi bụi, theo nhà văn là do biếng lười lao động. Chương trình xây dựng nhà ca đã nhưng
anh t lủi c lần khân nên mãi c nm trong d định. Cốt truyện dân gian qua tay các nhà n
đã được xử lí theo hướng gia tăng các yếu t hiện thc, va vẫn gi đưc v đẹp kì o ca i
sc màu “ngày xa, ny xưa”, va gợi lên được một cái gì đó rất gần gi, thân quen. Thế giới
loài vật trong trường hợp này đã được đặt trong góc nhìn hiện đại.
Chất dân gian trong truyện đồng thoại ca Võ Quảng còn đưc thhiện qua việc tác gi
s dụng kiểu bcc tác phẩm theo hai phần trưc sau rõ ràng. Mi phần có mt chc năng riêng,
c thể: phần diễn truyện mô tsự việc, phần kết truyện nêu lên hqu s việc. Lối b cục này là
hn toàn phù hp với tầm đón nhận của các em, nhất là các em tuổi nhi đồng. Điểm mới trong
các kết truyện ca Võ Quảng là vic đưa thêm li người kchuyện. Chẳng hạn,Cho đến ngày
nay, khi các bn đi qua mt cánh rng vẫn còn nghe tiếng hú ca Vượn... (Vưn hú) hay “Riêng
vcái mai, mời các bạn hãy xem tht mt con Rùa đbiết chuyện tôi k là có thật (Bài hc
tt)... Loi lời văn này không có trong truyện ktruyền thống do ch trương trần thut theo ngôi
th ba với sc thái ging kkhách quan, trung hòa. Lời kết truyện Võ Quảng hé l mt nét mi
vgiọng điệu đồng thoại hiện đại. Đó là giọng điệu trò chuyện thân mật, tính cht mời mọc
người nghe tham gia vào câu chuyện. Nói đng thoại hiện đại là câu chuyện dành cho tr
em như vậy là có cơ sở!
2. M rng chc năng phn ánh hiện thc
Đồng thoại thuc h thống những truyện tưởng tượng, không phản ánh cuc sống theo
quy lut t thc. Tuy nhiên, trong c gắng đổi mới thloại, nhiều nhà văn Vit Nam giai đoạn
chống M đã m rộng chc năng phản ánh hiện thc cho truyện đồng thoại. Lch s văn hc n
tc đã tha nhận s thành công ca không ít tác phẩm vphương diện này. Có th k ti Cô Bê
20(n Biển), Chim Chích lc rng (Tô Hoài), Chuyn chú Trng Choai (Hải H)... nhng tác
phẩm này, bút pháp đng thoại có s kết hp với t pháp hiện thực trên cơ s không phá v
những nguyên tắc thloại.
Bản thân Võ Quảng cũng cho rằng, truyện đồng thoại có kh năng phản ánh cuc sống
mới, con người mới. Ông viết trongTruyn đồng thoại viết cho thiếu nhi như sau:Truyện
đồng thoại có đầy đủ kh năng phản ánh con người mới, cuc sống mới, khp nơi, trong mt
gia đình, dưới một mái tờng, đồng ruộng, hầm m, công trường, bất c nơi nào trên mặt
đất hoặc còn bay bổng lên trăng sao, rộng ra khp vũ trụ, hoc gia một thế giới vô cùng tinh vi
khó thấy, thế giới nội tâm của con người(2). Tác phẩm đầu tiên ca ông đưc viết theo hướng
này ca truyện Cái Mai. Đó là một tác phẩm đồng thoạidài hơi, sử dụng ngôi k thứ nhất, tái
hiện cuc đời, số phận i Mai (một dụng cụ lao động). Qua hành trình s phận ca nhân vt,
nhà văn lần lượt tái hiện cuc sống đau thương của con người dưới chế đ cũ, niềm hạnh phúc
trong cuc sống h hởi, khẩn tơng xây dng miền Bắc XHCN. Truyện mang đậm hơi th
cuc sống thời đi, cho thấy một cảm hứng tràn đầy trong mỗi trang viết ca nhà văn. Cảm
hứng này ta n bắt gặp trong nhiềung tác khác, nhất là Chuyến đi thhai. Lấy cảm hứng
t truyện dân gian c kin Trời, Quảng kể vanh Cóc Tía quyết đnh nối gót Cụ T lên
kiện Trời đđòi mưa cho h giới. Đường xa vạn dặm, dốc núi cheo leo, sông u thăm thằm
nhưng c Tía không h nản chí. Thế rồi, nhgp đưc Cò Bch mà Cóc Tía thấy không cần
phải lên kiện Trời na. ới đôi cánh của Cò Bạch, c Tía đã nn thấy nhng con mương
ngang dc, những h chứa nước, nhng trạm thu nông phun nưc ào ào. Tất c những hình
ảnh ấy, theo Cò Bạch chính là thành qu của người lao động: “nhân dân vùng này, trong
mấy năm qua đã đắp những đập cao nn nước, cho nưc chảy vào các ao h. c các ao hồ
dâng lên. H lại đào nhng con mương lớn nhỏ, cho nưc chảy đến tưới khắp cánh đồng. Ông
Trời không mưa nhưng h vẫn có tha nước để ới ruộng”.
Không dừng lại việc phản ánh cuc sống lao đng, truyện đồng thoại của Võ Quảng
còn mrng sang c đtài chiến tranh. Đó là trường hp truyện Hòn Đá, mt tác phẩm gợi lên
kí c đau thương v chiến tranh. S tàn khc của chiến tranh, ranh giới mong manh gia cái
sng và cái chết đã đưc Đá Cuội tái hiện qua những dòng kngắn ngủi cho các bn Đồng H
và Lch Treo. T rừng sâu, Đá Cui đã tr v trong ngôi nhà nh, tr thành người kchuyện c
tích chiến tranh đ “gợi lại hình nh ca anh, nhắc nh chung quanh cn sống như người đã
mất”... Truyện đồng thoại của Võ Quảng như vy đã hướng vào những hiện thc lớn ca đi
sng đất nước.
Chúng ta ghi nhận những c gắng nói trên nhằm mc đích đi mới th loại ca Võ Qung
và các nhà văn đương thời. Vi s đổi mới này, truyện đng thoại Vit Nam đã có mt giai đoạn
sáng tác thật đp đ, tham gia ch cc vào vic cvũ s nghiệp ln lao ca dân tc. Chúng tôi
xem, đó là thành qu rất đáng trân trọng ca một thời đã qua và cn nghiên cứu đ phát huy.