
Barry Field & Nancy Olewiler 190
đa hóa lợi nhuận, nhà máy phải làm mọi cách để tối thiểu hóa tổng chi phí, bao gồm cả
thuế phát thải. Phản ứng của nhà máy phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Thuế càng cao giảm
phát thải càng nhiều và ngược lại. Trong ví dụ của hình 12-1, mức thuế 50$ làm nhà máy
giảm đến mức 37,5 tấn/tháng, trong khi mức thuế 180$ làm giảm phát thải tới 5 tấn/tháng.
Cũng vậy, hàm số chi phí giảm ô nhiễm biên càng dốc, phát thải giảm càng ít khi có thuế.
Chúng ta sẽ quay lại vấn đề này ở phần dưới đây. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng nếu nhà
máy không hoạt động trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thuế sẽ không hoạt động theo
cách chúng ta đã phân tích. Cũng vậy, những nhà máy bán sản phẩm của mình trên thị
trường quốc tế và cạnh tranh với những đối thủ không phải trả thuế môi trường không thể
nào chuyển một phần thuế sang người tiêu thụ.
Thuế và tiêu chuẩn phát thải
So sánh công cụ thuế và công cụ tiêu chuẩn phát thải. Với thuế, tổng chi phí của công ty là
3.750$. Giả sử thay vào đó, nhà chức trách ban hành một tiêu chuẩn phát thải quy định
công ty phải giảm phát thải xuống tới mức 25 tấn/tháng. Trong trường hợp này, tổng chi
phí của công ty chỉ là 1,250$ cho phần giảm ô nhiễm. Do đó, hệ thống thuế cuối cùng lại
gây ra nhiều chi phí cho công ty hơn công cụ tiêu chuẩn. Với công cụ tiêu chuẩn, công ty
có cùng mức chi phí giảm ô nhiễm như với công cụ thuế nhưng vẫn sử dụng miễn phí dịch
vụ môi trường, trong khi với hệ thống thuế, công ty phải trả tiền cho dịch vụ môi trường
này. Trong khi các công ty gây ô nhiễm thích công cụ tiêu chuẩn hơn thuế phát thải, có lý
do để ta thấy rằng tại sao xã hội lại thích công cụ thuế hơn công cụ tiêu chuẩn.
Mức thuế hiệu quả xã hội
Trong tình trạng có cạnh tranh, mức thuế đánh càng cao thì phát thải giảm càng nhiều,
nhưng cụ thể là cần phải định ra một mức thuế cao đến bao nhiêu? Nếu chúng ta biết hàm
thiệt hại biên và hàm giảm ô nhiễm biên, câu trả lời sẽ là định mức thuế sao cho có được
mức phát thải hiệu quả, như có thể thấy ở Hình 12-2. Chúng ta thêm hàm thiệt hại biên
MD = 4E vào cùng với đường MAC trong hình 12-1. Cho MD bằng MAC ta có thuế suất
hiệu quả xã hội là 100$/tấn. Nếu nhà chức trách biết thông tin của cả hai hàm số này thì có
thể tính được mức thuế trên mỗi đơn vị phát thải.
Chi phí thực thi của chính sách thuế là bao nhiêu? Chúng ta phải phân biệt chi phí tư nhân
và chi phí xã hội. Chúng ta đã định nghĩa chi phí thực thi tư nhân, bằng tổng chi phí giảm ô
nhiễm cộng tiền thuế. Trong hình 12-2, chi phí tư nhân là diện tích e cộng diện tích
(a+b+c+d). Nhưng chi phí thực thi tư nhân không đại diện cho chi phí nguồn lực xã hội
phải gánh chịu khi áp dụng chính sách thuế. Chúng ta quan tâm đến chi phí xã hội
Chi phí thực thi xã hội chỉ bao gồm những nguồn lực cần thiết để đạt mục tiêu
môi trường; nghĩa là không bao gồm tiền thuế.
Thuế thực sự là khoản thanh toán chuyển giao, là khoản thanh toán các tác nhân gây ô
nhiễm trả cho khu vực công và cuối cùng là cho xã hội, những người thụ hưởng lợi ích từ
chi tiêu công. Người gây ô nhiễm cũng có thể là người thụ hưởng những lợi ích này. Do đó
khoản thanh toán chuyển giao không phải là chi phí xã hội của chính sách. Như vậy chi phí
thực thi xã hội là diện tích e, là tổng chi phí giảm ô nhiễm của người gây ô nhiễm.
Xã hội cũng quan tâm đến lợi ích xã hội ròng của chính sách thuế.

Barry Field & Nancy Olewiler 191
Lợi ích xã hội ròng của một chính sách được định nghĩa là tổng thiệt hại giảm
được trừ chi phí thực thi xã hội
Hình 12-2: Thuế phát thải hiệu quả xã hội
Ví dụ: Tính toán lợi ích xã hội ròng trong hình 12-2
Các bước thực hiện như sau:
1. Tính tổng thiệt hại giảm được.
Tổng thiệt hại giảm được chính là diện tích dưới đường MD giới hạn bởi mức phát thải ban
đầu và mức phát thải hiệu quả xã hội, E*.
Đây là diện tích (e + f) = 3.750$.
2. Tính tổng chi phí giảm ô nhiễm.
TAC = diện tích e = 1.250$.
3. Tính lợi ích xã hội ròng.
Lợi ích xã hội ròng = Tổng thiệt hại giảm được trừ tổng chi phí giảm ô nhiễm.
Lợi ích xã hội ròng = diện tích (e + f) trừ diện tích e = 2.500$.
Chúng ta có thể so sánh lợi ích xã hội ròng của thuế phát thải với tiêu chuẩn phát thải tại
mức phát thải hiệu quả xã hội, 25 tấn/tháng. Lợi ích xã hội ròng của công cụ tiêu chuẩn
bằng với lợi ích xã hội ròng của công cụ thuế tại cùng một mức phát thải. Sự khác biệt nằm
ở tác động lên người gây ô nhiễm.
Giảm phát thải từ E0 = 50 đến E* = 25 tấn mỗi tháng làm giảm thiệt hại xuống còn (e + f).
Thiệt hại cón lại là (b + d), là khoản chi phí ít hơn khoản tiền công ty trả thuế. Điều này
khẳng định ý tưởng thuế phát thải dựa trên quyền sử dụng tài nguyên môi trường, chứ
không phải dựa trên khái niệm đền bù. Nhưng cũng có nhiều người phê phán loại thuế
0 25 50 Phát thải
E
0
(t
ấ
n/thán
g)
$
200
MAC
e
a
b
c
d
f
MD
100
E*
10
E1
Cân bằng hiệu quả xã hội đạt được với mức thuế bằng 100$/tấn. Đây là mức “giá” mà MD =
MAC. Chi phí thực thi tư nhân là tổng tiền thuế phải trả, diện tích (a+b+c+d), cộng với tổng chi
phí giảm ô nhiễm, là diện tích e. Tổng chi phí thực thi xã hội là TAC. Lợi ích ròng của công cụ
thuế là tổng thiệt hại mất đi, diện tích (e+f) trừ TAC, là diện tích f.

Barry Field & Nancy Olewiler 192
đồng nhất như thế này (một thuế suất cho tất cả các mức phát thải) bởi vì loại thuế này
thường dẫn đến tổng tiền thuế của công ty lớn hơn thiệt hại họ gây ra. Cách giải quyết
thường là xây dựng chính sách thuế phát thải hai phần. Một số mức phát thải ban đầu sẽ
không chịu thuế và chúng ta chỉ đánh thuế đối với những mức phát thải vượt ngưỡng. Ví
dụ trong hình 12-2, chúng ta có thể cho phép mức phát thải của công ty E1=10 tấn không
phải chịu thuế, và áp dụng mức thuế suất 100$/tấn đối với bất kỳ tấn phát thải nào trên
mức 10 tấn. Cách này cũng làm công ty có động lực giảm thải xuống mức E*, nhưng tổng
số tiền trả thuế chỉ là (c+d). Tổng chi phí giảm ô nhiễm biên, và tổng thiệt hại tại mức E*
đơn vị phát thải vẫn như cũ.
Làm thế nào để định được mức thuế cần phải thu nếu các nhà quản lý kiểm soát không biết
được hàm thiệt hại biên? Chúng ta biết rằng việc xả thải có liên quan đến chất lượng môi
trường xung quanh. Nói chung, mức độ chất thải xả ra càng ít thì độ tích tụ chất gây ô
nhiễm trong môi trường xung quanh càng thấp. Vì thế một chiến lược khả dĩ là định ra một
mức thuế và rồi theo dõi chặt chẽ xem nó có ảnh hưởng gì đối với việc cải thiện mức độ
chất lượng môi trường xung quanh. Chúng ta sẽ phải chờ đợi đủ lâu để cho các cơ sở có đủ
thời gian phản ứng lại với khoản thuế đó. Nếu chất lượng môi trường xung quanh không
được cải thiện nhiều như mong muốn thì cứ tăng mức thuế lên; còn nếu chất lượng môi
trường xung quanh được cải thiện nhiều hơn mức được cho là thích hợp thì giảm mức thuế
xuống. Đó là một qua trình thực hiện những phỏng định liên tiếp nhau để tìm ra một mức
thuế chất thải đúng đắn về lâu về dài. Tuy nhiên các nhà làm chính sách cần phải khuyến
cáo người gây ô nhiễm rằng thuếu suất có thể thay đổi. Để phản ứng lại một khoản thuế,
các đối tượng gây ô nhiễm thường đầu tư vào một loạt những thiết bị kiểm soát ô nhiễm
khác nhau, nhiều khi cần đến những khoản chi phí ban đầu khá lớn. Quá trình đầu tư này
sẽ bị xáo động đáng kể nếu, chẳng bao lâu sau, giới chức hữu trách lại xoay qua một mức
thuế mới. Xác định thuế suất có thể biến thành chuyện chính trị. Thay vì đặt kế hoạch thực
hiện những điều chỉnh kế tiếp nhau, các nhà hoạch định chính sách có lý do để cảm thấy
cần phải quyết định một mức thuế đúng đắn ngay từ đầu. Chúng ta không thể áp dụng cách
này với công cụ tiêu chuẩn. Chương 14 sẽ khảo sát kỹ vấn đề này.
Thuế phát thải và hiệu quả chi phí
Có lẽ luận điểm mạnh mẽ nhất ủng hộ cho một chính sách thuế phát thải là luận điểm dựa
trên những tác động của nó đến tính hiệu quả, đặc biệt trong việc kiểm soát một lúc nhiều
nguồn xả thải theo hướng thỏa mãn được nguyên tắc cân bằng biên. Nếu áp dụng cùng một
mức thuế cho các nguồn gây ô nhiễm khác nhau với những hàm chi phí giảm ô nhiễm biên
khác nhau, và mỗi nguồn này cắt giảm mức chất thải của mình cho đến khi chi phí giảm ô
nhiễm biên bằng với mức thuế phải đóng, thì khi đó chi phí giảm ô nhiễm biên của các
nguồn sẽ tự động đi đến chỗ cân bằng nhau.
Ấn định một mức thuế phát thải sẽ tự động thỏa mãn nguyên tắc cân bằng
biên bởi vì tất cả nguồn xả thải sẽ đặt mức thuế bằng với đường MAC của họ.
Các đường MAC của các nguồn sẽ cân bằng.
Điều này được trình bày ở Hình 12-3. Ở đây chúng ta giả định rằng có hai nguồn xả một
loại chất thải cụ thể nào đó, tạm gọi là nhà máy H và nhà máy L. Cũng giả định rằng lượng
chất thải sau khi được xả ra từ hai nguồn này đã hòa lẫn đồng nhất vào nhau, vì thế chất
thải của hai nguồn đều gây thiệt hại như nhau đối với vùng chịu tác động ở cuối nguồn gió
hay nguồn nước. Chi phí giảm ô nhiễm biên của hai nguồn cũng giống như mức chúng ta
sử dụng ở hình 11-4 trong chương 11. Ấn định một mức thuế là 200$/kg chất thải cho mỗi

Barry Field & Nancy Olewiler 193
nguồn với giả sử các nhà lập chính sách tính được đường MD và đặt mức thuế tương ứng.
Nhà máy H sẽ giảm lượng phát thải xuống còn 80kg/tháng, còn nhà máy L sẽ giảm xuống
còn 20kg/tháng. Chi phí giảm ô nhiễm biên của hai nhà máy sẽ bằng nhau vì thuế đã trở
thành giá ẩn của ô nhiễm và giá này thì bằng nhau đối với cả hai nguồn. Lượng chất thải
giảm tổng cộng là 100kg/tháng, và là mức được tự động phân bổ giữa hai nhà máy dưới tác
động của thuế phát thải theo nguyên tắc cân bằng biên. Để ý kỹ rằng thuế phát thải đã dẫn
đến việc nhà máy H cắt giảm mức phát thải hơn 83% trong khi nhà máy L chỉ giảm có
33% mà thôi. Thuế phát thải dẫn đến việc cắt giảm theo một tỷ lệ cao hơn ở những nhà
máy có chi phí giảm ô nhiễm biên thấp hơn. Ngược lại, những nhà máy có đường chi phí
giảm ô nhiễm biên dốc hơn sẽ cắt giảm theo tỷ lệ ít hơn.
Mức thuế càng cao thì mức chất thải được cắt giảm càng nhiều. Thực ra, nếu mức thuế
được tăng lên đến khoảng trên 250$/kg, nhà máy L sẽ hoàn toàn dừng xả loại chất thải này.
Với mức thuế cao hơn, khoảng 600$/kg, nhà máy H sẽ giảm phát thải xuống bằng 0. Một
mức thuế duy nhất, nếu áp dụng cho các nhà máy khác nhau, sẽ làm những nhà máy có chi
phí giảm ô nhiễm biên tăng chậm hơn giảm phát thải nhiều hơn những nhà máy có cho phí
giảm ô nhiễm biên tăng nhanh. Vì các nhà máy phải trả cùng một mức thuế, họ sẽ có tổng
chi phí giảm ô nhiễm và số tiền thuế phải đóng khác nhau. Ở hình 12-3 tiền thuế của nhà
máy H (16.000$) lớn hơn rất nhiều tiền thuế của nhà máy L (4.000$).
Thuế phát thải và tiêu chuẩn
Làm thế nào để so sánh thuế với công cụ tiêu chuẩn cũng có cùng mục tiêu giảm lượng
phát thải xuống còn 100kg/tháng? Các nhà lập chính sách thiết lập các khoản cắt giảm phát
thải tỷ lệ cho từng nguồn; mỗi nguồn chỉ được phép phát thải không quá 50kg/tháng.
Tại mức tiêu chuẩn này, chi phí giảm ô nhiễm biên của mỗi nhà máy khác nhau. Bảng dưới
đây so sánh chi phí thực thi xã hội (tổng chi phí giảm ô nhiễm) của công cụ thuế và công
cụ tiêu chuẩn đồng nhất.
Chi phí thực thi xã hội ($/tháng)
Tiêu chuẩn đồng nhất
(50kg/tháng cho mỗi nguồn)
Thuế phát thải
(200$/kg)
Nguồn L 4.900 10.000
Nguồn H 12.250 4.000
Tổng chi phí 17.150$ 14.000$
Chúng ta hãy để ý xem các con số tổng cộng khác nhau ra sao. Tổng chi phí giảm ô nhiễm
biên của công cụ tiêu chuẩn đồng nhất cao hơn tổng chi phí giảm ô nhiễm của công cụ thuế
phát thải là 22,5%. Đơn giản là do công cụ tiêu chuẩn đồng nhất vi phạm nguyên tắc cân
bằng biên ; công cụ này đòi hỏi việc cắt giảm theo tỷ lệ đồng đều như nhau bất chấp độ cao
và hình dạng của đường biểu diễn hàm chi phí giảm ô nhiễm biên của mỗi nhà máy. (Câu
hỏi: Chi phí thực thi xã hội của công cụ thuế và tiêu chuẩn cho từng nguồn trong trường
hợp này lá gì ?) Đây chỉ là những con số minh họa. Trong những chương sau chúng ta sẽ
thấy rằng trong thực tế kiểm soát ô nhiễm, sự khác biệt này thường còn lớn hơn nhiều.

Barry Field & Nancy Olewiler 194
Hình 12-3: Thuế phát thải là hiệu quả chi phí
Tóm lại
khi MAC của các nguồn phát thải khác nhau, với cùng một mức mục tiêu phát
thải, chi phí thực thi xã hội của thuế luôn thấp hơn chi phí của công cụ tiêu
chuẩn đồng nhất bởi vì công cụ thuế là hiệu quả chi phí còn tiêu chuẩn đồng
nhất thì không.
Thuế và tiêu chuẩn còn khác nhau ở điểm
Thuế phát thải là hiệu quả chi phí ngay cả khi cơ quan quản lý không nắm
được gì về chi phí giảm ô nhiễm biên của bất kỳ nguồn phát thải nào.
Điều này tương phản rõ rệt với công cụ tiêu chuẩn phát thải, là phương pháp giải quyết đòi
hỏi cơ quan hữu trách phải biết đích xác chi phí giảm ô nhiễm biên của mỗi nhà máy mới
có thể có được một chương trình hiệu quả chi phí hoàn toàn. Theo phương pháp đánh thuế
phát thải thì yêu cầu duy nhất là các cơ sở phải trả cùng một khoản thuế và phải tối thiểu
hóa chi phí cho việc này. Sau khi mỗi cơ sở đã điều chỉnh mức chất thải của mình cho phù
hợp với chi phí giảm ô nhiễm biên (chúng ta có thể kỳ vọng là các cơ sở biết rõ chi phí của
mình), họ sẽ đều xả thải ở các mức độ thích hợp thỏa mãn được nguyên tắc cân bằng biên.
Thuế phát thải và chất thải hỗn hợp không đồng nhất
Cho đến nay chúng ta phân tích dựa trên giả định rằng chất thải xả ra từ tất cả các nguồn
đều hòa lẫn đồng nhất với nhau, nghĩa là, chất thải xả ra từ một nguồn nào đó thì có cùng
một tác động biên đến chất lượng môi trường xung quanh như chất thải xả ra từ tất cả các
nguồn khác. Trên thực tế điều này không phải lúc nào cũng xảy ra. Thường thì tình trạng
sẽ giống như những gì được miêu tả ở biểu đồ 12-4, mặc dù dĩ nhiên phức tạp hơn. Ở đây
chúng ta có hai nguồn gây ô nhiễm, cả hai đều có cùng MAC. Nguồn A thì ở xa trung tâm
dân cư gấp đôi nguồn B. Điều này có nghĩa là chất thải từ nguồn A xả ra không gây nên
nhiều tác hại đến khu vực đô thị như nguồn B. Nếu hai nguồn này thải chất thải xuống một
con sông chảy về một thành phố, chất thải từ nguồn A có nhiều thời gian để phân hủy và
$
600
500
400
300
200
100
0
Thuế trên mỗi kg
Mức thuế đồng nhất 200$/kg cacbon mônôxít là hiệu quả chi phí. Cả 2 nhà máy đều đặt mức
thuế bằng với đường MAC của họ. Nhà máy H giảm phát thải xuống còn 80kg; nhà máy L
giảm còn 20kg/tháng.
20 40 60 80 100 120 Khí cacbon mônôxit
(kg mỗi tháng)
MACL
MACH

