BÀI TP NHÓM
Đánh giá mục tiêu giáo dc toán theo các mức độ
nhận thức của BLOOM thong qua nội dung
1
BÀI TẬP NHÓM
Học phần: Đánh giá trong dạy học toán
Nm 5: Thành viên nhóm
Phạm Trọng Mạnh
Hữu Quốc
Nguyễn Thị Hợp
Nguyễn Thị Thanh Ngân
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÁC MỤC TIÊU GIÁO DỤC TOÁN THEO CÁC MỨC ĐỘ NHẬN
THỨC CỦA BLOOM THÔNG QUA NỘI DUNG
CHƯƠNG TỔ HỢP XÁC SUẤT
Trong khoa học ng như trong cuộc sống, chúng ta thường phải xác định s
phần tử của một tập hợp hoặc phải tính toán xem khả năng xảy ra của một biến cố ngẫu
nhiên là bao nhiêu. Chương trình toán 11 đưa các kiến thức về thợp xác suất sẽ
bước đầu gp chúng ta giải được một số bài toán đơn giản thuộc loại đó.
Sau khi học xong chương thợp xác suất các em học sinh phải đạt được
các mục tiêu giáo dục toán theo các mức độ của nhận thức của Bloom như sau.
A . Nhận biết .
- Kiến thức và thông tin.
2
- Kỹ thuật và kỹ năng.
B . Thông hiểu.
- Chuyển đổi.
- Giải thích.
C . Vận dụng.
- Áp dụng để giquyết tình huống mới.
D. Những khả năng bậc cao.
- Phân tích.
- Tổng hợp.
- Đánh giá.
Nội dung cụ thể của các mục tiêu dạy học chương thợp xác suất theo các
mức độ của nhận thức của Bloom được trình bày như sau.
1. Nhn biết.
1.1 Nhận biết các kiến thức và thông tin.
Trong phạm trù y học sinh được đòi hỏi phải gọi tên, nhận biết các quy tắc,
khái niệm, c công thức. Nắm được ý nghĩa của các sự kiện chchưa cần phải hiểu.
Các phạm trù con của kiến thức và thông tin toán học bao gồm:
- Kiến thức về ngôn ngữ: Học sinh cần phải nhận diện,m quen với các hiệu
thuât ngữ toán học thuần tuý.
- Kiến thức về những sự kiện toán học cụ thể: mục tiêu này học sinh cần phải gọi
tên, nhận biết và nắm được ý nghĩa của các công thức, những quan hệ toán học.
- Kiến thức về cách thức và phương tiện sử dụng trong những trường hợp cụ thể:
mục tiêu y đòi hỏi học sinh phải nắm được các quy ước trong toán, các kiến thức về
phân loại…
3
- Kiến thức về các quy tắc các tổng quát hoá: Mục tiêu này đòi hỏi học sinh
phải gọi ra được các quy trừu tượng của toán học để giúp tả, giải thích, dự đoán các
hiện tượng hay là nhớ lại các quy tắc, các tổng quát hoá.
Sau khi học xong chương “ tổ hợp – xác suất ” học sinh cần phải :
- Nm được hai quy tắc đếm cơ bản là quy tắc cộng và quy tắc nhân .
- Nm được khái niệm hoán vị, chỉnh hợp, tổ hợp .
- Nh các công thức tính số hoán vị, số tổ hợp và số chỉnh hợp .
- Nhớ công thức khai triển nhị thức Niu-Tơn.
- Nắm được các khái niệm : phép thử, không gian mẫu, kết quả thuận lợi cho một
biến cố.
- Nm được cách tính xác suất theo định nghĩa cổ điển.
- Nm được quy tắc cộng nhân xác suất.
- Làm quen với khái niệm biến ngẫu nhiên rời rạc các đặc trưng quan trọng
của biến cố ngẫu nhiên rời rạc : kỳ vọng ,phương sai, độ lệch chuẩn.
- Nhớ công thức tính kỳ vọng, phương sai và độ lệch chuẩn.
1.2. Nhận biết các kỹ thuât và kỹ năng.
Đây khả năng học sinh sử dụng trực tiếp việc tính toán, khả năng thao tác trên
các biểu diễn ký hiệu, các lời giải. Mục tiêu này bao gồm việc sdụng các thuật toán
như các kỹ năng thoa tác, các phép tính, những đơn giản hoá c lời giải tính
tương tự mà học sinh đã được gặp.
Sau khi học xong chương này học sinh cần phải:
- Biết vận dụng hai quy tắc đếm bản, các công thức tính số hoán vị, số chỉnh
hợp, số tổ hợp để giải các bài toán áp dụng trực tiếp các quy tắc, các công thức đó hoặc
học sinh có thể giải các bài toán tương tự dụ giáo viên đã ra trên lớp, mặc dù có khác
nhau về chi tiết.
4
- Biết áp dụng trực tiếp công thức khai triển nhị thức Niu-n
- Biết vận dụng các quy tắc cộng và nhân xác suất để giải các i toán xác suất
đơn giản.
- Biết tính kỳ vọng, phương sai độ lệch chuẩn của các biến cố ngẫu nhiên rời
rạc.
Ví dụ 1:
Từ nhà An đến trường thể đi bằng các phương tiện: đi bộ, xe đạp, xe máy.
Nếu đi bộ thì có 5 con đường, đi xe đạp có 3 con đường, đi xe máy có 2 con đường. Hỏi
A có bao nhiêu sự lựa chọn về con đường để đi từ nhà tới trường?
- Mục đích dụ y để kiểm tra xem học sinh đã nắm được quy tắc cộng hay chưa,
đánh gmức độ hiểu của học sinh về các quy tắc đếm
- Lời giải:
A đi từ nhà tới trường bằng 3 phương tiện:
Đi bộ: có 5 con đường.
Đi xe đạp: có 3 con đường.
Đi xe máy: có 2 con đường.
Theo quy tắc cộng ta : 5 + 3 + 2 = 10 sự lựa chọn về con đường để A đi từ nhà tới
trường.
Ví dụ 2:
Ban cán sự lớp 3 nam 2 nữ. Giáo viên cần chọn 2 học sinh: 1 nam 1 nữ
đi dlễ kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam. Hỏi giáo viên chủ nhiệm đó bao nhiêu
cách chọn.
- Mục đích ví dụ này là kiểm tra xem học sinh đã nắm được quy tắc nhân hay chưa.