
459
Thiều Huy Thuật
Học viện Hành chính Quốc gia khu vực Tây Nguyên
Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, nhất là khi dịch Covid-19 bùng phát, kéo dài, đào
tạo trực tuyến đã và đang được các cơ sở giáo dục đại học lựa chọn là giải pháp hữu
hiệu cho hoạt động đào tạo đại học. Học liệu điện tử là một trong các thành tố quan
trọng để thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Nó vừa giúp các cơ sở giáo
dục đại học cải thiện tình trạng thiếu hụt nguồn tài liệu cho giảng dạy, học tập, nghiên
cứu khoa học, vừa giúp sinh viên, giảng viên dễ dàng tiếp cận hơn với nguồn tài liệu
phong phú, đa dạng và chất lượng. Bài viết này đưa ra một vài phân tích, đánh giá về
sự cần thiết phải xây dựng học liệu điện tử, thực trạng nguồn học liệu điện tử ở các
cơ sở giáo dục đại học và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh xây dựng học liệu điện tử
nhằm đáp ứng quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Học liệu điện tử, chuyển đổi số, giáo dục đại học.
1. Sự cần thiết phải xây dựng học liệu điện tử trong giáo dục đại học
Chuyển đổi số trong giáo dục là sự thay đổi phương thức dạy học, áp dụng
công nghệ thông tin hiện đại vào dạy và học nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của
người học, giúp người dạy và người học phát huy tối đa khả năng tư duy, sáng
tạo, chủ động.
Chuyển đổi số trong giáo dục là một quá trình xảy ra mà sự thay đổi không
nằm ở đối tượng tham gia vào quá trình giáo dục hay các bên liên quan mà nằm
ở phương thức thực hiện giáo dục. Sự thay đổi về phương thức tất yếu dẫn tới
những thay đổi về phương pháp, cách thức, kỹ thuật thực hiện giảng dạy, đào
tạo. Sự thay đổi này buộc các cơ sở giáo dục đại học phải nghiên cứu đưa vào sử
dụng, khai thác học liệu điện tử (HLĐT) để phù hợp với quá trình chuyển đổi số.
Quan niệm chung về HLĐT:
Có nhiều quan niệm về HLĐT. Có quan niệm cho rằng HLĐT là một tài
liệu học tập được cung cấp dưới dạng điện tử, tích hợp của các dạng thức đa
phương tiện được số hóa khác nhau, như văn bản, âm thanh, hình ảnh. Có quan
niệm cho rằng HLĐT là các tài liệu học tập được số hóa theo một cấu trúc, định
dạng và kịch bản nhất định, lưu trữ trên máy tính nhằm phục vụ việc dạy học.
Dạng thức số hóa có thể là văn bản, slide, bảng dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video
số, các ứng dụng tương tác và hỗn hợp các dạng thức nói trên.

460
Tuy có nhiều quan niệm về HLĐT nhưng nhìn chung có thể hiểu HLĐT là
một tài liệu học tập được cung cấp dưới dạng điện tử, tích hợp của các dạng thức
đa phương tiện, được số hóa khác nhau như văn bản, âm thanh, hình ảnh, được
số hóa theo một cấu trúc nhất định, lưu trữ trên máy tính nhằm phục vụ việc dạy
và học thông qua các thiết bị điện tử. Xét dưới dạng thức thể hiện. Các loại HLĐT
sử dụng trong dạy, học bao gồm:
Cơ sở dữ liệu là một kho dữ liệu sử dụng trong dạy học, cho phép chứa
đựng tất cả các dạng dữ liệu khác nhau như văn bản, âm thanh, hình ảnh. Nếu
được tổ chức tốt và có nội dung phù hợp thì đây sẽ là nguồn tư liệu quý báu, hữu
ích cho giáo viên.
Sách điện tử: là một tài liệu tham khảo nhưng có sự kết hợp với các kỹ thuật
đa phương tiện nhằm cung cấp khối lượng thông tin lớn với các thao tác tìm kiếm
dễ dàng, thuận tiện.
Phần mềm dạy học là các phần mềm dùng cho mục đích dạy học, được thiết
kế theo ý đồ của các nhà sư phạm.
Ngoài các dạng thức phổ biến trên, HLĐT còn có một số dạng thức khác
như kho tài nguyên dạy học, các môi trường học tập mở.
Sự cần thiết phải xây dựng HLĐT trong giáo dục đại học:
HLĐT là một trong các thành tố quan trọng hàng đầu để triển khai đào tạo
đại học dưới hình thức trực tuyến ở các cơ sở giáo dục đại học. HLĐT trong dạy
học không chỉ là những công cụ, phương tiện truyền đạt thông tin đến người học
dưới dạng in bài, sao chép, xem video mà với những ưu thế của mình, HLĐT
được xem như một phương tiện dạy học, có vai trò thúc đẩy và điều phối hoạt
động dạy và học nhằm giúp người học khám phá và chiếm lĩnh tri thức. HLĐT
giúp các trường đại học cải thiện trên nhiều phương diện, trong đó có thể thấy rõ
nhất ở các phương diện sau:
HLĐT giúp hỗ trợ tìm kiếm tri thức và giúp người học tạo ra kiến thức một
cách có hệ thống; tạo ra môi trường hỗ trợ học tập thông qua biểu diễn, mô phỏng
các tình huống và vấn đề thực tế, xác lập không gian để người học thực hiện các
nhiệm vụ học tập; tạo ra môi trường xã hội hỗ trợ người học thông qua trao đổi
cộng đồng, hợp tác, tranh luận, bàn bạc với các thành viên khác trong lớp cũng
như với giảng viên để giải quyết nhiệm vụ học tập. HLĐT còn được xem như
người đồng hành tri thức hỗ trợ học tập qua các phản ánh cũng như điều hướng
hoạt động tương ứng, giúp người học đi đúng hướng trong quá trình lĩnh hội tri
thức; tạo và duy trì môi trường tương tác tích cực giữa người học với người dạy,
cũng như giữa người học với người học. Trong một số trường hợp, HLĐT góp
phần chuyển hướng đánh giá từ đánh giá kết quả sang đánh giá quá trình.

461
HLĐT giúp gia tăng sự bình đẳng. Tất cả các sinh viên có sự truy cập tới
các tư liệu học tập chất lượng cao với nội dung thích hợp và cập nhật nhất vì
HLĐT có thể được phân phối dễ dàng hơn cho nhiều người có nhu cầu.
HLĐT giúp tiết kiệm chi phí. Việc sử dụng HLĐT cho phép các trường đại
học tái mục đích tiền đầu tư cho các sách giáo khoa tĩnh vào các nhu cầu cấp
bách khác, như việc đầu tư để chuyển sang học tập số. Trong nhiều trường hợp,
việc thay thế chỉ một cuốn sách giáo khoa có thể giúp tiết kiệm rất nhiều chi phí
cho các mục đích khác.
HLĐT góp phần trang bị cho đội ngũ giảng viên, các nhà nghiên cứu kho
tàng tri thức phong phú, có thể truy cập dễ dàng hơn. HLĐT sẽ giúp các trường
đại học hòa mình vào quá trình xây dựng nguồn học liệu mở (OER) một cách dễ
dàng hơn. Từ đó giúp họ trở nên chuyên nghiệp, sáng tạo bằng việc trao cho họ
khả năng tùy biến thích nghi các tư liệu học tập để đáp ứng nhu cầu của sinh viên
của họ mà không vi phạm các luật bản quyền. HLĐT sẽ hỗ trợ quá trình nghiên
cứu được thuận lợi hơn, dễ dàng chia sẻ tri thức, phổ biến các công trình khoa
học đến nhiều người. Từ đó sẽ giúp các nhà nghiên cứu liên kết với nhau trong
một mạng lưới rộng lớn, giúp cho họ có định hướng tốt và nâng cao chất lượng
nghiên cứu của mình.
Ngoài ra, HLĐT sẽ góp phần hỗ trợ các trường đại học trong việc xây dựng
và hoàn thiện các khung chương trình đào tạo và kế hoạch đào tạo. Quá trình xây
dựng và sử dụng HLĐT, nhất là xây dựng được hệ thống học liệu mở dưới hình
thức sách điện tử, dữ liệu hay tạp chí điện tử sẽ giúp các trường đại học hoặc bản
thân những người trực tiếp biên soạn tài liệu thu thập được nhiều hơn các ý kiến
đóng góp, đề xuất và qua đó dần có những thay đổi phù hợp đối với các kế hoạch
đào tạo. Bên cạnh đó, truy cập mở dưới hình thức các diễn đàn thảo luận cũng sẽ
hỗ trợ các trường đại học tiếp nhận các phản hồi tốt hơn, phục vụ cho công tác
dạy và học đạt chất lượng cao hơn. Một vai trò khác khá quan trọng của HLĐT
là giúp sinh viên có được nhiều hơn các nguồn tài liệu học tập và cơ hội để tham
gia vào quá trình giáo dục hiệu quả hơn. Bằng việc sử dụng HLĐT, sinh viên
không chỉ tiếp cận tri thức nhanh hơn mà còn có nhiều cơ hội mở rộng hiểu biết,
được giải đáp thắc mắc thông qua học tập tương tác và trao đổi với giáo viên.
Với những lợi ích to lớn mà HLĐT mang lại, không có lý do gì các trường
đại học tại Việt Nam lại từ chối xây dựng nguồn học liệu này. Quan trọng hơn,
hiện nay đào tạo trực tuyến đang là xu hướng chung mà đa số các trường đại học
hướng đến. HLĐT chính là một trong những nền tảng quan trọng để xây dựng
HLĐT. Chừng nào các trường đại học không muốn hoặc không thể xây dựng
được HLĐT thì rất khó để nói đến chuyện chuyển đổi số toàn diện và thành công
trong giáo đục đại học. Do đó, xây dựng cho được HLĐT là một giải pháp cơ

462
bản để thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Vấn đề chỉ nằm ở chỗ giải
pháp nào để các trường đại học xây dựng được HLĐT mà thôi.
2. Thực trạng việc xây dựng, sử dụng, khai thác học liệu điện tử ở các cơ sở
giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
Trong những năm trở lại đây, việc sử dụng HLĐT tại các cơ sở giáo dục
đại học ở Việt Nam đã trở nên khá phổ biến, cho thấy mức độ tích cực của việc
sử dụng HLĐT cho mục đích đào tạo nói chung. Năm 2018, ngành Giáo dục đưa
vào sử dụng cơ sở dữ liệu toàn quốc về giáo dục với 53.000 trường học, gần 24
triệu học sinh và hơn 1.4 triệu giáo viên được gắn mã định danh; thông tin của
393 trường đại học, cao đẳng với 2,5 triệu sinh viên, 120.000 giảng viên cũng
được cập nhật trên hệ thống cơ sở dữ liệu ngành. Việc phát triển học liệu số cũng
được Bộ Giáo dục đào tạo chú trọng triển khai. 5.000 bài giảng e-learning; 2.000
bài giảng dạy trên truyền hình, 200 đầu sách giáo khoa phổ thông, 200 thí nghiệm
ảo và hơn 35.000 câu hỏi trắc nghiệm đã được hình thành và đưa vào khai thác
1
.
Trong các trường đại học, giảng viên, sinh viên đã khai thác HLĐT như
một trong những nguồn học liệu quan trọng. Trên thực tế, việc sử dụng HLĐT
đã đạt được một vài kết quả tích cực. Giảng viên đã sử dụng bài giảng điện tử
thông qua thiết kế các slide bài giảng để truyền đạt đến người học. các bài giảng
trực tuyến đã được giảng viên thực hiện và đăng trên mạng internet để sinh viên
dễ tiếp cận. Giáo án điện tử cũng được một số trường bắt đầu sử dụng. Sinh viên,
học viên đã biết khai thác, sử dụng các nguồn tài liệu trên mạng internet. Cả slide
hay các bài giảng trực tuyến đều là tài liệu học tập đáng quý của sinh viên. Nhiều
giảng viên và sinh viên đã tiếp cận được với các tạp chí điện tử có uy tín trong
nước và quốc tế hay các cuốn sách hay đã được số hóa thông qua Ebook.
Sự phổ biến của các thiết bị điện tử như máy tính cá nhân hay điện thoại
thông minh giúp cả người dạy và người học dễ dàng hơn trong quá trình truy cập,
tìm kiếm, đọc và nghiên cứu HLĐT như sách điện tử, tạp chí điện tử hay dữ liệu
học tập. Sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ, sự hình thành của các khóa
học trực tuyến đã thúc đẩy không chỉ nhiều trường đại học trên thế giới mà ngay
cả ở Việt Nam nhu cầu xây dựng nguồn học liệu mở dưới dạng điện tử để dễ
dàng tìm kiếm và sử dụng. Nhiều giảng viên, các nhà khoa học, nghiên cứu sinh,
sinh viên đã bắt đầu tham gia vào quá trình xây dựng này, từ đó góp phần hình
thành một nguồn HLĐT ở dạng mở vô cùng lớn, không chỉ giới hạn trong mỗi
trường đại học mà là cộng đồng các trường đại học có thể dùng chung. Đây là
một thành tựu quan trọng bước đầu của quá trình xây dựng HLĐT ở Việt Nam,
nhất là ở các trường đại học.
1
Trích từ https://nld.com.vn/giao-duc-khoa-hoc/truong-hoc-day-manh-chuyen-doi-so-
20210211152228854.htm

463
Tuy nhiên, việc sử dụng, khai thác HLĐT ở các trường đại học cũng còn
nhiều hạn chế, vướng mắc. Hầu hết các trường đại học vẫn quen với việc sử dụng
các nguồn tài liệu giấy vốn đã được biên soạn, sử dụng trong suốt một quá trình
dài. Các trường đại học mới bắt đầu triển khai đào tạo trực tuyến trong thời gian
gần đây nên cơ bản chưa xây dựng được cho mình nguồn HLĐT. Ngay cả một
số trường đại học đã tổ chức đào tạo trực tuyến từ trước đó như Trường Đại học
Mở Hà Nội, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học FPT
cũng mới hoàn thiện phần cứng về hạ tầng, kết nối, một phần về phần mềm chứ
chưa xây dựng được nguồn HLĐT đầy đủ, có hệ thống để phục vụ hoạt động đào
tạo trực tuyến.
Giảng viên vẫn quen với phương thức làm việc truyền thống, cơ bản vẫn sử
dụng tài liệu giấy phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy. Giảng viên
cũng chưa được khuyến khích để tham gia vào hoạt động xây dựng HLĐT ở các
cơ sở giáo dục đại học. Sinh viên, học viên càng là đối tượng sử dụng nhiều tài
liệu giấy. Bởi việc truy cập, tìm kiếm, sử dụng tài liệu trên internet là không thuận
lợi, nhiều tài liệu họ cần thì không được đăng tải trên internet, hoặc ngay cả khi
được đăng tải trên internet thì họ cũng chưa được cấp quyền truy cập, sử dụng.
Trên thực tế, HLĐT mới chỉ được một số trường đại học quan tâm và xây
dựng được một phần như Đại học Mở Hà Nội, Đại học Mở Thành phố Hồ Chí
Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đa số các trường đại học đã nhen nhóm triển
khai đào tạo trực tuyến, bắt tay vào công cuộc chuyển đổi số nhưng chưa xây
dựng được hệ thống HLĐT cần thiết cho quá trình này.
Sở dĩ còn nhiều hạn chế trong việc xây dựng, sử dụng HLĐT ở các trường
đại học là do một số nguyên nhân cơ bản sau:
Một là, vấn đề pháp lý trong quyền sở hữu trí tuệ đối với việc sử dụng, khai
thác HLĐT. Đây là vấn đề tương đối mới mẻ nên Nhà nước chưa có quy định
pháp luật rõ ràng và đầy đủ. Đã có một vài hội thảo liên quan đến đào tạo trực
tuyến được tổ chức, các chuyên gia đã đề xuất nhiều giải pháp để giải quyết vấn
đề này, tuy nhiên về mặt quản lý hành chính thì đến nay vẫn chưa có một văn
bản chính thức nào của Nhà nước ban hành theo hướng giấy phép bản quyền
HLĐT. Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa có chỉ đạo cụ thể nào để các trường đại học
xây dựng, sử dụng, khai thác hệ thống HLĐT. Do đó, khi các trường đại học
muốn xây dựng, sử dụng HLĐT cũng bị “vướng” bởi cơ chế, chính sách. Nhà
nước đã có chủ trương cho phép các trường đại học đào tạo trực tuyến nhưng lại
chưa được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật, làm cho các trường
đại học chưa hình dung được sự hỗ trợ hay quy định từ phía Nhà nước về vấn đề
này như thế nào.

