BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ ĐOÀN TRÚC MAI

“ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH”

ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật Hành chính

TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 2 NĂM 2024

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ ĐOÀN TRÚC MAI

“ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH”

ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật Hành chính

Mã số: 8380102

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. LÊ VĂN QUYẾN

TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 2 NĂM 2024

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và

kết quả nghiên cứu nêu trong Đề án là trung thực, được các cơ quan cho phép sử

dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Học viên

Lê Đoàn Trúc Mai

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và nghiên cứu, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành

đến quý lãnh đạo và toàn thể các thầy/cô Học viện Hành Hành chính Quốc gia đã

cung cấp cho tôi môi trường học tập và nghiên cứu thuận lợi. Những kiến thức và

kinh nghiệm mà tôi đã học được từ sự truyền dạy của các thầy/cô là vô cùng quý

giá và sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của tôi trong tương lai.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Lê Văn Quyến người thầy đã dành

thời gian và tâm huyết hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá trình

nghiên cứu. Sự thông thái, kiến thức và tận tâm của thầy đã giúp tôi phát triển và

hoàn thiện đề tài này.

Đồng thời cá nhân tôi không thể quên sự giúp đỡ và động viên từ gia đình,

bạn bè và những người thân yêu. Những lời động viên, sự tin tưởng và tình yêu

thương của các anh chị đồng nghiệp và anh chị khóa học đã truyền động lực mạnh

mẽ cho tôi trong những thời điểm khó khăn. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất

đến tất cả.

Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả những người

đã góp ý cho tôi vào quá trình hoàn thiện Đề án này. Cảm ơn mọi người rất nhiều.

Trân trọng !

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Nội dung Chữ viết tắt

1 Ủy ban nhân dân UBND

2 Hội đồng nhân dân HĐND

Vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới VSTBPN & BĐG 3

4 Bạo lực gia đình BLGĐ

5 Câu lạc bộ CLB

6 Trung học phổ thông THPT

7 Nhà xuất bản NXB

8 Xã hội chủ nghĩa XHCN

9 Quản lý nhà nước QLNN

10 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH-HĐH

11 Kinh tế - Xã hội KT-XH

12 Chính trị - Xã hội CT-XH

13 Quy phạm pháp luật QPPL

14 Khoa học và công nghệ KH&CN

15 Thành phố TP

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU ...................................................................................................1 1. Lý do xây dựng Đề án .......................................................................................1 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đề án .............................................................2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ....................................................................6 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................7 5. Phương pháp nghiên cứu: ..................................................................................7 6. Hiệu quả và lợi ích của Đề án ứng dụng trong thực tiễn ..................................8 7. Kết cấu của đề án ..............................................................................................8 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN .........................9 1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật về bình đẳng giới .........9 1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật về bình đẳng giới ......................................9 1.1.2. Đặc điểm của áp dụng pháp luật về bình đẳng giới .............................. 14 1.1.3. Vai trò của áp dụng pháp luật về bình đẳng giới ................................... 17 1.2. Cơ sở pháp lý áp dụng pháp luật về bình đẳng giới .................................... 19 1.2.1. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị .............. 21 1.2.2. Áp dụng pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm ................................................................................................................... 21 1.2.3. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ......................................................................................................................... 23 1.2.4. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ ................................................................................................................. 24 1.2.5. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế ..................... 25 1.2.6. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao .............................................................................................. 25 1.2.7. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình ............................ 26 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới áp dụng pháp luật về bình đẳng giới ................. 27 1.3.1. Hoạt động xây dựng pháp luật .............................................................. 27 1.3.2. Trình độ văn hóa pháp lý của cán bộ và nhân dân ................................ 28 1.3.3. Công tác tổ chức và cán bộ của các cơ quan áp dụng pháp luật ........... 29 1.3.4. Hoạt động của các cơ quan áp dụng pháp luật ...................................... 29 1.3.5. Các văn bản áp dụng pháp luật ............................................................. 29 1.3.6. Ý thức pháp luật .................................................................................... 30 1.3.7. Những điều kiện vật chất, kỹ thuật đảm bảo cho hoạt động áp dụng pháp luật ................................................................................................................... 30 1.3.8. Yếu tố văn hóa, xã hội ........................................................................... 31 Tiểu kết Chương 1 .............................................................................................. 32

Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, TP. HỒ CHÍ MINH ................. 33 2.1. Các yếu tố đặc thù ảnh hưởng đến áp dụng pháp luật về bình đẳng giới quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh .................................................................................. 33 2.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội quận Gò Vấp ........ 33 2.1.2. Khái quát về tình hình thực hiện bình đẳng giới tại quận Gò Vấp ....... 33 2.1.4. Khái quát đội ngũ tham gia công tác bình đẳng giới tại quận Gò Vấp ......... 35

2.2. Thực trạng pháp luật về bình đẳng giới ở Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh ................................................................................................ 35 2.2.1. Thực tiễn ban hành và thực hiện chính sách pháp luật về bình đẳng giới ở Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh ..................................... 37 2.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh ............................................................................... 38 2.3. Đánh giá việc áp dụng pháp luật về bình đẳng giới ở Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh .................................................................................. 46 2.3.1. Nhận xét, đánh giá chung ...................................................................... 46 2.3.2. Về mặt ưu điểm ..................................................................................... 47 2.3.3. Hạn chế và nguyên nhân ....................................................................... 49 Tiểu kết Chương 2 .............................................................................................. 50 Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VÀ LỘ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, TP. HỒ CHÍ MINH ............................................................... 52 3.1. Quan điểm và giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh .................................................. 52

3.1.1. Quan điểm đảm bảo áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh ..................................................... 52 3.1.2. Giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh .............................................................. 52 3.2. Lộ trình tổ chức thực hiện Đề án................................................................. 61 Tiểu kết Chương 3 .............................................................................................. 62 KẾT LUẬN ........................................................................................................ 63 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 64

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do xây dựng Đề án

Bình đẳng giới (BĐG) là một trong những mục tiêu quan trọng của nhiều

chính sách và chương trình phát triển xã hội ở nhiều quốc gia, trong đó có nước

ta. Việt Nam đã tích cực thực hiện nội dung mang tính đột phá để thúc đẩy BĐG

trong thời gian dài. Đảng và Nhà nước Việt Nam nhất quán với chính sách BĐG

không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội công bằng mà

còn là nền tảng để thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững đất nước. Một

trong những điểm đáng ghi nhận đó là việc hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính

sách về BĐG. Tuy nhiên, trong điều kiện thực tế vẫn tồn tại nhiều bất cập, thực

trạng bất BĐG, khoảng cách giới, phân biệt đối xử về giới vẫn đang tồn tại dưới

nhiều hình thức khác nhau. Để đạt được một cách hoàn toàn đầy đủ và vững chắc

các mục tiêu BĐG ở nước ta vẫn còn là một hành trình dài và khó khăn, do nhiều

nguyên nhân khác nhau như hệ thống pháp luật, nhận thức của cán bộ chính quyền

và người dân về vấn đề này còn hạn chế, trong thực tiễn quá trình áp dụng pháp

luật về BĐG.

Trước thực trạng này, đã đặt ra yêu cầu cần có thêm những nghiên cứu để

tìm ra giải pháp tiếp tục thúc đẩy BĐG ở phạm vi cả nước nói chung và tại mỗi

địa phương cụ thể nói riêng, cụ thể như sau:

Một là, công tác nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá về các quy định liên quan

đến BĐG không chỉ là nhiệm vụ dành riêng các nhà nghiên cứu khoa học mà còn

là nhu cầu chính đáng đối với các cá nhân và tổ chức trong xã hội. Cần làm phong

phú thêm các nghiên cứu về BĐG, về cơ sở lý luận về BĐG nói chung và áp dụng

pháp luật BĐG nói riêng qua đó làm sâu sắc hoạt động nghiên cứu từ thực tiễn

qua đó đúc kết kinh nghiệm cũng như tìm ra giải pháp khắc phục những hạn chế.

Hai là, TP. Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, đầu tàu kinh tế khu vực phía

nam, địa phương có nhiều đóng góp to lớn trong quản lý thu ngân sách, hoạt động

kinh tế - xã hội (KT-XH), đồng thời trung tâm khoa học công nghệ (KHCN), văn

hóa và giáo dục của đất nước. Gò Vấp là quận thuộc TP. Hồ Chí Minh, trong thời

1

gian qua địa phương này có nhiều kết quả đáng kể về thực hiện BĐG. Các cấp ủy

Đảng, chính quyền luôn quan tâm đến vấn đề BĐG xem đây là nhiệm vụ chính trị

quan trọng, BĐG là một bộ phận không thể tách rời của quá trình phát triển KT-

XH nên trong thời gian qua, các hoạt động nhằm thúc đẩy BĐG ngày càng được

các cấp, ngành chú trọng trong việc thực hiện. Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề

thách thức về BĐG, đang đặt ra đối với TP. Hồ Chí Minh nói chung và quận Gò

Vấp nói riêng về thực hiện chỉ tiêu, định kiến về giới trong gia đình và xã hội,

công tác áp dụng quy định pháp luật...

Ba là, bản thân tác giả đang công tác tại quận Gò Vấp, trong quá trình công

tác nhận thấy vấn đề về BĐG ở địa phương mang tính cấp thiết cần được nghiên

cứu và có những đóng góp mang tính thiết thực trong hoạt động áp dụng pháp

luật, do vậy với mong muốn được góp một phần công sức của mình vào việc hoàn

thiện pháp luật về BĐG với hi vọng góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng

mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về BĐG tại Ủy ban nhân

dân (UBND) quận Gò Vấp trong giai đoạn hiện nay.

Với những lý do đó, tác giả lựa chọn Đề án: “Áp dụng pháp luật về bình

đẳng giới tại Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh” làm

Đề án tốt nghiệp trình độ Thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành

chính tại Học viện Hành chính Quốc gia.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đề án

BĐG và áp dụng pháp luật về BĐG là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều

tầng lớp, nhiều nhà khoa học và nhà quản lý trong nước và quốc tế, trên các lĩnh

vực được tiếp cận dưới các góc độ khác nhau. Liên quan trực tiếp đến Đề án có

những bài viết, công trình nghiên cứu sau:

Công trình “Bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam: thực trạng và giải

pháp” của TS. Đặng Ánh Tuyết (2015), đăng trên Tạp chí Cộng sản. Tác giả cho

rằng để bảo đảm BĐG và trao quyền cho phụ nữ thực chất đây là một hoạt động

quan trọng, mang nhiều ý nghĩa trong những mục tiêu của hầu hết các Chính phủ

trên thế giới. Trong thời gian qua, Việt Nam đã gặt hái những thành tựu đáng ghi

2

nhận về BĐG mà cụ thể ở các chỉ số sức khỏe, giáo dục, thu nhập và cơ hội nghề

nghiệp của người phụ nữ nhưng vẫn còn một khoảng cách lớn về BĐG đặc biệt là

đối với các vị trí lãnh đạo, cán bộ quản lý.

Khi nghiên cứu về vai trò của thể chế, chính sách đối với thực hiện BĐG

của TS. Hoàng Mai (2017) với bài viết “Khung thể chế, chính sách về bình đẳng

giới trong hoạt động công vụ ở Việt Nam hiện nay” đăng trên Tạp chí Quản lý nhà

nước số 252 (1/2017). Để làm rõ nội dung nghiên cứu, tác giả tiến hành phân tích

các số liệu dựa vào tình hình thực tế về tỉ lệ nữ tham gia công tác quản lý ở các

cơ quan nhà nước các cấp từ trung ương đến cấp cơ sở, từ đó tác giả nêu những

giải pháp nhằm nâng cao tỉ lệ phụ nữ tham gia giữ vị trí quản lý đáp ứng mục tiêu

BĐG.

Đồng quan điểm đánh giá tầm quan trọng của vai trò thể chế, chính sách

quốc gia trong thực hiện BĐG, bài viết “Vấn đề bình đẳng giới trong khu vực nhà

nước” của Lê Khánh Lương (2023). Tác giả cho rằng, để đạt được các mục tiêu

BĐG nói chung, BĐG trong lĩnh vực hành chính công, nước ta cần nghiên cứu,

tham khảo kinh nghiệm thực hiện chính sách của một số quốc gia trên thế giới để

từ đó đưa ra giải pháp phù hợp, thúc đẩy BĐG trong hoạt động hành chính công.

Vấn đề BĐG trong cơ quan nhà nước được xem là một trong các chỉ tiêu quan

trọng để đánh giá mức độ BĐG của một quốc gia. Qua phân tích, tác giả làm rõ

những yếu tố góp phần làm hạn chế sự thăng tiến của phụ nữ cũng như những bất

cập trong chính sách sử dụng cán bộ nữ, từ đó tác giả trình bày các kiến nghị để

góp phần nâng cao vị thế người phụ nữ trong công tác lãnh đạo quản lý.

Về vấn đề BĐG trong môi trường cơ quan QLNN luôn nhận được sự quan

tâm của nhiều tác giả, nhà khoa học có thể đề cập đến bài viết “Tiếp cận về bình

đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam” của

Nguyễn Thị Ngọc Phượng (2024) đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước; Tác giả

Nguyễn Thị Ngọc Phượng nhận định BĐG trong lãnh đạo, quản lý ở cơ quan

HCNN là một trong các chỉ số quan trọng để đo lường về BĐG. Vấn đề BĐG luôn

nhận được sự quan tâm sâu sắc của nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó hoạch định

và ban hành chính sách, pháp luật phù hợp trong tổng thể chiến lược phát triển của

3

quốc gia, địa phương hướng tới sự phát triển bền vững, lâu dài. BĐG trong lãnh

đạo, quản lý ở cơ quan HCNN góp phần bảo đảm BĐG trong những cơ quan này

và có tác dụng lan tỏa, tác động đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, hướng

tới sự phát triển bền vững khi tiếng nói của nam giới và nữ giới cân bằng trong các

quyết sách QLNN.

Nhằm xây dựng các giải pháp BĐG trong hoạt động thực thi chính sách,

pháp luật với bài viết “Giải pháp bảo đảm bình đẳng giới trong chính sách, pháp

luật hiện nay” của Trần Thị Quyên (2020) đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước.

Tác giả phân tích chính sách của Nhà nước về BĐG trên một số lĩnh vực quy định

pháp luật như chính trị, y tế, lao động… Qua phân tích thực trạng, tác giả xây

dựng tổng thể các giải pháp về lồng ghép giới khi xây dựng pháp luật, các bảo

đảm trong thực thi chính sách, pháp luật.

Ngoài những bài viết trên còn có nhiều nghiên cứu về BĐG trình bày trong

các Luận văn Thạc sĩ có thể kể đến đề tài “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

từ thực tiễn TP. Đà Nẵng” của tác giả Lê Thị Thu Hường (2016) Luận văn Thạc sĩ

Luật học, Học viện Khoa học xã hội. Tác giả xây dựng cơ sở lý luận về thực hiện

pháp luật về BĐG từ đó phân tích thực trạng thực hiện từ thực tiễn TP. Đà Nẵng.

Qua phân tích thực trạng tại công tác thực hiện pháp luật về BĐG ở địa phương,

bên cạnh những mặt đạt được tác giả chỉ ra những hạn chế khó khăn nhất định, để

khắc phục những bất cập đó đặt ra yêu cầu cho các cấp, các ngành, các cơ quan tổ

chức và toàn bộ hệ thống chính trị ở TP. Đà Nẵng cần nâng cao hiệu quả thực hiện

pháp luật về BĐG. Căn cứ quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng và chính

sách pháp luật Nhà nước, cộng với nét đặc thù địa phương từng bước thực hiện

nhiều phương thức để nâng cao công tác quản lý, triển khai các bước tổ chức thực

hiện và thực hiện đồng thời đồng bộ các giải pháp.

Nghiên cứu về thực hiện BĐG dưới góc độ gia đình trên địa bàn TP. Hồ

Chí Minh tiêu biểu có thể kể đến công trình khoa học công nghệ cấp Thành

phố:“Nghiên cứu đánh giá thực trạng và vai trò gia đình trong việc thực hiện

BĐG tại TP. Hồ Chí Minh” của TS. Nguyễn Thị Phương làm chủ nhiệm (2022).

Nhóm nghiên cứu cho rằng việc giáo dục và nâng cao nhận thức về BĐG cho các

4

thành viên, đặc biệt là trẻ em từ trong gia đình sẽ có ý nghĩa tích cực trong việc

xóa bỏ các hành vi, ứng xử phân biệt trên cơ sở giới, qua đó góp phần quan trọng

vào việc thúc đẩy BĐG cả trong gia đình và ngoài xã hội. Để góp phần phát huy

vai trò của gia đình trong việc thực hiện BĐG theo quan điểm, chủ trương chung

của Đảng, Chính phủ và chỉ đạo của Thành ủy, UBND TP. Hồ Chí Minh. Đề tài

nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phương cùng cộng sự đã đánh giá thực trạng

việc thực hiện BĐG trong gia đình hiện nay qua nghiên cứu thực tiễn tạo TP. Hồ

Chí Minh, trên cơ sở đó nhóm tác giả đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò

của gia đình trong việc thực hiện BĐG trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Từ kết quả

nghiên cứu công phu của công trình, tác giả tham khảo một số nội dung tình hình

thực tế tại TP. Hồ Chí Minh về công tác BĐG.

Nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy, trường Đại học Luật Hà Nội (2013)

ban hành “Tập bài giảng Luật Bình đẳng giới”. Tài liệu trình bày có hệ thống các

nội dung liên quan đến công tác BĐG như: giải thích một số thuật ngữ, khái niệm

cơ bản; các nguyên tắc cơ bản BĐG; sự phát triển pháp luật BĐG; BĐG trong gia

đình; BĐG trong các lĩnh vực đời sống xã hội; Biện pháp bảo đảm BĐG; Thanh

tra giám sát và xử lý vi phạm trong BĐG… Nhóm tác giả trình bày quá trình hình

thành và phát triển công tác BĐG ở nước ta, nguồn xây dựng của Luật Bình đẳng

giới (2006), đặc biệt tác giả nhấn mạnh sự cần thiết ban hành Luật BĐG, vai trò

quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Đây là nguồn tài liệu quý giá góp

phần cho tác giả tham khảo, phục vụ xây dựng phần cơ sở lý luận của Đề án.

Những nghiên cứu nói trên đã khái quát về thực trạng pháp luật về BĐG.

Đây là những cơ sở khoa học có thể đánh giá một cách khách quan và toàn diện

về thực trạng bảo đảm pháp lý thực hiện pháp luật về BĐG ở nước ta hiện nay.

Trên cơ sở tổng quan các bài viết, công trình, đề tài nghiên cứu nêu trên mà tác

giả tập hợp được có những nội dung liên quan nhất định đến Đề án, làm căn cứ

tiền đề cho tác giả tham khảo xây dựng Đề án, tuy nhiên đứng góc độ áp dụng

pháp luật BĐG các công trình này hiện chưa nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở

lý luận cũng như các quy phạm pháp luật (QPPL), giải pháp khả thi để áp dụng

pháp luật về BĐG. Hầu hết các công trình chỉ dừng lại ở việc phân tích các quy

5

định pháp luật về quyền BĐG và trong môi trường các cơ quan QLNN là chủ yếu.

Các công trình các nội dung phân tích, đánh giá chưa đầy đủ và thể hiện một cách

toàn diện nội dung áp dụng pháp luật về BĐG. Hiện chưa thông qua một công

trình nghiên cứu độc lập nào. Vì vậy, các hoạt động pháp lý nói chung và áp dụng

pháp luật nói riêng về BĐG vẫn còn một khoảng trống để tiếp tục nghiên cứu.

Qua đó, đặt ra yêu cầu tính cấp thiết xây dựng cơ sở lý luận và những giải pháp

nhằm hoàn thiện và phát huy vai trò của việc áp dụng pháp luật về quyền BĐG

một cách toàn diện, trình bày trong một công trình nghiên cứu mang tính độc lập

từ thực tiễn ở một địa phương cụ thể.

Với mong muốn đó, tác giả xây dựng Đề án, với tên đề tài là “Áp dụng

pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ

Chí Minh” cá nhân khẳng định đây là công trình khoa học nghiên cứu khách quan,

dù có tham khảo nhiều nguồn tài liệu tuy nhiên tác giả khẳng định không trùng

lắp với các công trình nghiên cứu đã công bố trước đây, trên cơ sở nghiên cứu có

hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về áp dụng pháp luật BĐG,

tiến hành đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về bình đẳng giới và đề xuất các

giải pháp, lộ trình thực hiện với mong muốn giảm dần khoảng cách về giới tại

UBND quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1. Đối tượng nghiên cứu: Cán bộ cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp

dụng pháp luật về BĐG. Công tác quản lý về BĐG của cơ quan nhà nước tại địa

phương.

3.2. Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về nội dung: Đề án tập trung áp dụng pháp luật về BĐG.

- Phạm vi về không gian: Tại UBND Quận Gò Vấp.

- Phạm vi về thời gian: Các số liệu, thông tin được tác giả thu thập, phân

tích và nghiên cứu trong khoảng thời gian 05 năm (từ năm 2017 đến năm 2022).

6

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Mục đích nghiên cứu: từ lý thuyết và thực tiễn áp dụng pháp luật về

BĐG, nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp đảm bảo áp dụng về BĐG tại UBND

Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.

4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

Một là, xây dựng cơ sở lý luận áp dụng pháp luật về BĐG.

Hai là, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về BĐG.

Ba là, đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng pháp luật về BĐG

tại UBND Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.

5. Phương pháp nghiên cứu:

5.1. Phương pháp luận: Đối với đề tài này, việc nghiên cứu dựa trên

phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm

của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người và hợp tác quốc tế trong bảo đảm

quyền con người trên các vấn đề về BĐG. Ngoài ra, đề tài sử dụng phương pháp

luận của Bộ môn Luật Hiến pháp và Luật Hành chính để luận giải những vấn đề,

giả thuyết nghiên cứu đặt ra.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp được sử dụng nghiên

cứu Đề án cụ thể là: Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết và phương pháp

phân tích, tổng hợp kinh nghiệm. Cụ thể:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết được sử dụng để phân tích các

tài liệu, tìm hiểu sâu sắc về áp dụng pháp luật BĐG qua đó hình thành một hệ

thống lý thuyết đầy đủ làm phong phú cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

- Phương pháp phân tích, tổng hợp kinh nghiệm được sử dụng để nghiên

cứu và xem xét lại những thành quả trong quá khứ trong việc áp dụng những vấn

đề lý luận áp dụng pháp luật về BĐG, từ đó rút ra những kết luận bổ ích cho thực

tiễn và khoa học về vấn đề nghiên cứu, gắn với đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

5.3. Hướng tiếp cận của đề tài: (1) Tiến hành phân tích đánh giá nội dung

pháp luật về BĐG, điều kiện hoàn cảnh sự kiện thực tế cần áp dụng pháp luật về

BĐG; (2) Lựa chọn QPPL về BĐG làm cơ sở pháp lý cho việc đưa ra các quyết

7

định áp dụng pháp luật về BĐG; (3) Đưa ra quyết định áp dụng pháp luật về BĐG;

(4) Tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật về BĐG trên thực tế; (5) Kiểm

tra, giám sát việc thực thi các quyết định áp dụng pháp luật về BĐG với các chủ

thể liên quan để đảm bảo hiệu lực của nó trên thực tế.

6. Hiệu quả và lợi ích của Đề án ứng dụng trong thực tiễn

6.1. Hiệu quả đề án: Đề án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và

thực tiễn, đưa ra giải pháp và lộ trình thực hiện có hiệu quả pháp luật về bình đẳng

giới tại UBND Quận Gò Vấp trong thời gian tới.

6.2. Lợi ích: Đề án góp phần giúp cho học viên hoàn thành tốt hơn nhiệm

vụ tham mưu triển khai có hiệu quả việc áp dụng pháp luật về BĐG tại UBND

quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh. Đồng thời, tác giả hi vọng kết quả Đề án có thể

dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và làm tài liệu dùng tập huấn công

tác cán bộ nữ từ thực tiễn tại quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.

7. Kết cấu của đề án

Bố cục Đề án gồm các phần: mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu

tham khảo và phụ lục, riêng phần nội dung Đề án gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của áp dụng pháp luật về bình đẳng

giới tại UBND cấp huyện

Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân

dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Giải pháp và lộ trình tổ chức thực hiện áp dụng pháp luật về

bình đẳng giới tại Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH

ĐẲNG GIỚI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật về bình đẳng

giới

1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật về bình đẳng giới

1.1.1.1. Khái niệm bình đẳng giới

Trong một xã hội phát triển, BĐG được xem là mục tiêu và thước đo tiến bộ

và xem đây là một tiêu chí văn hóa. Trên thực tế có nhiều cách hiểu và quan niệm

khác nhau về bình đẳng giới tuỳ theo các khía cạnh tiếp cận:

Quan điểm thứ nhất: BĐG là việc người nam, nữ có vị trí và vai trò ngang

nhau, trong môi trường, điều kiện và cơ hội giống nhau, được phát huy năng lực

của mình cho sự phát triển cộng đồng, gia đình và thụ hưởng thành quả như nhau

đối với sự phát triển đó.

Quan điểm thứ hai: BĐG là sự thừa nhận và coi trọng là ngang nhau đối

với các đặc điểm giới tính và sự thiết lập các cơ hội ngang nhau đối với nữ giới

và nam giới trong xã hội.

Quan điểm thứ ba: BĐG có nghĩa là phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau

và có cơ hội như nhau để làm việc, cống hiến cho sự phát triển xã hội, khẳng định

và phát triển bản thân mình.

Hiến pháp nước ta đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ trên mọi

phương diện, đây được đánh giá sự tiến bộ quan trọng, dù đã có nhiều tiến bộ tích

cực và trong xã hội hiện nay có nhiều điều thay đổi tuy nhiên suy cho cùng phụ

nữ vẫn chưa được bình đẳng thực sự. Có nhiều người quan niệm rằng, việc BĐG

hiện nay là “đủ” là “phù hợp”, thậm chí trong một số lĩnh vực phụ nữ được “ưu

ái” hơn nam giới, vì thế chỉ cần duy trì không cần phải nỗ lực hay cải thiện hơn

nữa. Phân tích từ thực tế ở Việt Nam cho thấy, có sự khác biệt về BĐG thực chất

và BĐG hình thức.

9

Dưới góc độ pháp lý, “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò

ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát

triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự

phát triển đó” (Căn cứ tại khoản 3 Điều 5 của Luật Bình đẳng giới) [12].

Mục tiêu của BĐG được luật quy định là nhằm xóa bỏ phân biệt đối xử về

giới, cả nam và nữ được tạo cơ hội như nhau trong phát triển KT-XH và phát triển

nguồn nhân lực, hướng đến BĐG thực chất giữa hai đối tượng này. Việt Nam đã

ký kết, tham gia “Công ước Liên hiệp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối

xử với phụ nữ” và ký kết tham gia, thực hiện tám mục tiêu thiên niên kỷ trong đó

có mục tiêu: thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới.

Như vậy, BĐG là một vấn đề không phải điều gì xa lạ, mang tính xã hội và

cấp thiết, hiện hữu hằng ngày, xuất phát từ cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của

đời sống kinh tế, chính trị - xã hội (CT-XH), cần được quan tâm và đặt ra, để nhằm

hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh,

trong xu thế hội nhập vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu.

1.1.1.2. Khái niệm Pháp luật về bình đẳng giới

Nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước bảo đảm tính tối thượng của pháp

luật trong đời sống xã hội, không có cá nhân hay tổ chức nào đứng trên pháp luật,

trong xã hội đó pháp luật phản ánh ý chí và lợi ích chung của mọi tầng lớp nhân

dân, thực hiện và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Tại Điều 16 Hiến

pháp (2013) quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. [11] Bình

đẳng trước pháp luật được xem là nguyên tắc hiến định không chỉ thể hiện trong

Hiến pháp mà còn trong nhiều văn bản QPPL khác.

Để bảo đảm tính pháp lý BĐG là một hình thức thể hiện của việc phát huy

giá trị dân chủ. Tuy nhiên, để thực hiện trên thực tế một cách thực sự, đầy đủ, có

hiệu quả thì đòi hỏi phải có một cơ chế thuận tiện, hữu hiệu nếu không sẽ rơi vào

hình thức, giáo điều, thực hiện một cách máy móc kém hiệu quả. Do đó cần đảm

bảo tăng cường trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách, pháp

luật về BĐG vấn đề bảo đảm pháp lý về quyền BĐG ở Việt Nam hiện nay phải

10

bảo đảm tuyệt đối quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện

Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, bảo đảm quyền làm chủ của nhân

dân, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ đầy đủ quyền

con người, quyền công dân.

Quan điểm này phải được bảo đảm thực hiện trên thực tế, được lồng ghép

trong các quan hệ CT-XH, trở thành hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể khi

tham gia thực hiện pháp luật về BĐG. Các chủ thể thực hiện phải nắm bắt đầy đủ

và tự giác tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất các quy định pháp luật

của nhà nước về BĐG. Vào năm 2006, Luật Bình đẳng giới được ban hành đây là

cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện BĐG. Nhờ đó, việc thực hiện BĐG có nhiều

phát triển quan trọng. Mặc dù vậy, BĐG tại Việt Nam vẫn tồn tại nhiều hạn chế.

Những biểu hiện tiêu biểu như tình trạng BLGĐ, xâm hại tình dục trẻ em và phụ

nữ vẫn còn phổ biến. Định kiến giới vẫn còn hằn sâu trong nhận thức của nhiều

người, trong xã hội hiện nay cơ hội học tập, điều kiện phát triển của phụ nữ phần

nào vẫn còn nhiều hạn chế so với nam giới.

Pháp luật về BĐG hiểu theo hai nghĩa: (1) theo nghĩa rộng, bao hàm tất cả

các QPPL nhằm bảo đảm BĐG trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

và (2) theo nghĩa hẹp, pháp luật về BĐG là tập hợp các văn bản QPPL điều chỉnh

trực tiếp vấn đề BĐG. Những quy định này thường được thể hiện trong các hệ

thống pháp luật và văn bản QPPL, bao gồm Hiến pháp, luật pháp, quy định và

quyền lực thực thi pháp luật. Theo đó, pháp luật về BĐG là tổng thể các văn bản

QPPL do cơ quan nhà nước (các cá nhân và tổ chức) có thẩm quyền ban hành

hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ

chức hay cá nhân trong các lĩnh vực đời sống xã hội đảm bảo mọi công dân có vai

trò, cơ hội phát triển như nhau và được hưởng thụ như nhau.

Như vậy, Pháp luật về BĐG được hiểu là tập hợp các quy tắc xử sự chung

có tính chất bắt buộc chung do các cá nhân và tổ chức có thẩm quyền đặt ra hoặc

thừa nhận, thể hiện ý chí của nhà nước nhằm đảm bảo việc nam, nữ có vị trí, vai

trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự

11

phát triển của cộng đồng, của gia đình và xã hội, sự thụ hưởng thành quả như

nhau trên cơ sở giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế.

1.1.1.3. Khái niệm Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới

Trong Nhà nước pháp quyền XHCN, pháp luật được xem là căn cứ nền tảng

nhằm điều chỉnh các hành vi cá nhân, dung hòa các quan hệ xã hội, bảo đảm cho

xã hội vận động ổn định và phát triển bền vững thì vai trò pháp luật có tính quan

trọng. Có thể khẳng định không có pháp luật thì đủ điều kiện xây dựng được Nhà

nước pháp quyền, Nhà nước pháp quyền không hình thành thì không thể đảm bảo

trật tự kỷ cương, ổn định xã hội, bảo vệ quyền con người, làm cho người dân có

cuộc sống hạnh phúc, văn minh và tiến bộ. Nếu luật pháp vẫn tồn tại câu chữ trong

những văn bản trên giấy, mà không đi vào cuộc sống, hình thành ý thức pháp luật

của người dân thì không những xã hội không phát triển mà pháp luật vô hình trở

thành quy tắc xử sự vô nghĩa, kìm hãm sự vận động và phát triển của xã hội. Vấn

đề đặt ra ở đây là có tính then chốt là pháp luật phải đi vào cuộc sống, phát huy

bản chất giá trị của pháp luật. Để đưa pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống và điều

chỉnh các quan hệ xã hội, giải quyết các trường hợp phát sinh theo định hướng

của nhà nước thì hoạt động áp dụng pháp luật phải được thực hiện và mang tính

thực chất.

Pháp luật sau khi được ban hành và có hiệu lực phải được các chủ thể thực

hiện một cách nghiêm chỉnh, tuy nhiên trên thực tế diễn ra nhiều trường hợp các

quy định của pháp luật không được thực hiện, thực hiện không nghiêm chỉnh bởi

những nguyên nhân từ phía các cá nhân, tổ chức trong xã hội; nhiều trường hợp

quy định của pháp luật không được thực hiện bởi thiếu sự tác động từ phía các cơ

quan, nhà chức trách có thẩm quyền. Trong trường hợp này đều đòi hỏi sự can

thiệp của các chủ thể có thẩm quyền. Hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ

chức, cá nhân có thẩm quyền nhằm làm cho các chủ thể khác trong xã hội thực

hiện đầy đủ, đúng đắn, tuân thủ các quy định của pháp luật được gọi là áp dụng

pháp luật.

Áp dụng pháp luật là một trong những hình thức thực hiện pháp luật. Trong

quá trình thực hiện, hoạt động kiểm tra, giám sát là cần thiết và yêu cầu bắt buộc

12

khi thực thi các quyết định áp dụng pháp luật với các chủ thể có liên quan để đảm

bảo mang tính hiệu lực của nó trên thực tế. Vì lẽ đó, trong quá trình áp dụng pháp

luật, chủ thể áp dụng pháp luật thường xuyên phát hiện và giải quyết với tình

huống quy định pháp luật có mâu thuẫn hay chồng chéo nhau; QPPL bắt buộc có

sự không rõ ràng, hiểu đa nghĩa… Trên thực tiễn, việc áp dụng pháp luật được

thực hiện trong các trường hợp như: cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành

truy cứu trách nhiệm pháp lý (áp dụng biện pháp chế tài) đối với chủ thể có hành

vi vi phạm pháp luật (tội phạm, vi phạm hành chính,...) hoặc áp dụng các biện

pháp cưỡng chế theo quy định pháp luật; trường hợp đòi hỏi cần can thiệp của nhà

nước để phát sinh, làm thay đổi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể pháp luật;

tình huống xảy ra xung đột, mâu thuẫn mà các bên không tự giải quyết được, cần

sự tham gia giải quyết từ phía Nhà nước,... Nói tóm lại, áp dụng pháp luật chính

là việc đưa các QPPL vào để giải quyết các trường hợp cụ thể.

Có thể nói, Áp dụng pháp luật được hiểu là hoạt động mang tính tổ chức

và quyền lực Nhà nước, trong đó các cơ quan, cá nhân Nhà nước có thẩm quyền

nhân danh Nhà nước tiến hành áp dụng các QPPL vào các sự kiện pháp lý từ đó

làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật thể hiện qua văn

bản áp dụng pháp luật.

Áp dụng pháp luật về BĐG được thể hiện việc bảo đảm quyền và lợi ích

chính đáng của cá nhân và tổ chức trong vấn đề BĐG; bảo vệ quyền con người,

thực thi chính sách, pháp luật BĐG được ban hành, mặt khác góp phần ổn định về

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; đưa xã hội vận hành và phát triển trong

khuôn khổ của giai cấp cầm quyền. Những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến

các quan hệ xã hội về BĐG mà được đặt trong sự bảo vệ pháp luật đều được xem

xét, xử lý nghiêm minh, nhanh chóng và tuân thủ pháp luật.

Từ các nội dung nêu trên, trên tác giả đưa đến đến khái niệm Áp dụng pháp

luật về BĐG là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua

các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ

thể thực hiện những quy định của pháp luật về BĐG, hoặc tự mình căn cứ vào

13

những quy định của pháp luật để quyết định làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt

những quan hệ pháp luật về BĐG.

1.1.2. Đặc điểm của áp dụng pháp luật về bình đẳng giới

1.1.2.1. Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước

Áp dụng pháp luật BĐG là hoạt động có mục đích, có ý chí của chủ thể (cá

nhân, tổ chức) được nhà nước trao quyền nên quá trình áp dụng pháp luật có những

đặc điểm khác với các hoạt động áp dụng pháp luật BĐG ở các lĩnh vực khác của

đời sống xã hội. Điểm cần chú ý đến khi áp dụng pháp luật BĐG, căn cứ các quy

định của pháp luật hiện hành, các chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể ban hành

những mệnh lệnh, ra các quyết định có giá trị bắt buộc phải nghiêm chỉnh chấp

hành đối với đối tượng áp dụng, dù có đồng thuận hay không đồng thuận với quyết

định đó. Các chủ thể ban hành mệnh lệnh, quyết định mang tính áp đặt mà không

phụ thuộc vào mong muốn của đối tượng áp dụng. Các mệnh lệnh, quyết định áp

dụng pháp luật của các cơ quan, tổ chức nhà nước sẽ được nhà nước lựa chọn hình

thức thực hiện bằng một hay nhiều biện pháp như biện pháp hành chính, biện pháp

kinh tế,… trong đó có cả biện pháp cưỡng chế nhà nước.

Chủ thể áp dụng pháp luật về BĐG là các cơ quan nhà nước, đây là chủ thể

đặc biệt vì trong quá trình thực hiện, cơ quan nhà nước phải thể hiện là chủ thể

mang tính quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước thực hiện trách nhiệm quản

lý xã hội nói chung và công tác BĐG nói riêng, đảm bảo cho BĐG được tổ chức

thực hiện trên một phạm vi rộng lớn là toàn quốc và trên các mặt đời sống xã hội

như chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế... Trách nhiệm đối với các cơ quan

nhà nước không giống nhau bởi BĐG liên quan đến một hay nhiều lĩnh vực khác

nhau.

1.1.2.2. Áp dụng pháp luật tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy

định

Trong tình hình thực tế có nhiều trường hợp cần áp dụng pháp luật để giải

quyết các tình huống rất phức tạp, nhiều trường hợp, đế có thể áp dụng pháp luật

giải quyết một vụ việc cụ thể, cần có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau,

14

đôi khi hoạt động áp dụng pháp luật có ảnh hưởng ít nhiều đến quyền và lợi ích

của chủ thể khi áp dụng pháp luật... Vì thế, để đảm bảo hoạt động áp dụng pháp

luật BĐG được thực hiện một cách đúng đắn, thống nhất, đồng bộ đảm bảo quyền

và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, tổ chức được áp dụng pháp luật, yêu

cầu sự công bằng, sự nghiêm minh của pháp luật, đòi hỏi hoạt động áp dụng pháp

luật bắt buộc phải tuân theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật ban hành.

1.1.2.3. Áp dụng pháp luật là hoạt động cá biệt hóa quy phạm pháp luật

đối với từng trường hợp cụ thể

Áp dụng pháp luật được xem một quá trình phức tạp, khi tiến hành phải trải

qua nhiều quy trình khác nhau, bắt đầu từ việc phân tích, đánh giá sự việc xảy ra

trên thực tế, chủ thể lựa chọn văn bản QPPL phù hợp áp dụng đến việc ra văn bản

áp dụng và tổ chức thực hiện văn bản áp dụng đã ban hành. Khi thực hiện, chủ thể

pháp luật tiến hành việc lựa chọn QPPL phù hợp đối với trường hợp cần áp dụng

là bước rất quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật. Tiêu chuẩn của việc lựa

chọn QPPL đầu tiên đó là: xác định quy phạm được lựa chọn là quy phạm đang

còn giá trị hiệu lực và không mâu thuẫn, không trái với các luật và văn bản QPPL

khác.

Phạm vi áp dụng pháp luật về BĐG là những giới hạn không gian, địa lý,

thời gian để các chủ thể tiến hành các hoạt động thực hiện pháp luật về BĐG. Để

có được phạm vi áp dụng pháp luật về BĐG đòi hỏi nhà nước phải ban hành quy

định trách nhiệm đối với các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực

hiện BĐG; nêu rõ chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực hiện

pháp luật về BĐG mang tính chất quản lý hành chính.

Áp dụng pháp luật về BĐG có nội hàm phong phú và bao trùm toàn bộ đời

sống xã hội. Nội dung đó được thể hiện thông qua các chiến lược, chính sách, mục

tiêu của nhà nước về BĐG, hướng đến việc thúc đẩy các quyền con người trong

các lĩnh vực được tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Do đó, một trong những nội

dung không thể thiếu trong áp dụng pháp luật về BĐG gồm các biện pháp thúc

đẩy BĐG; phổ biến, chính sách pháp luật về BĐG, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao

15

nhận thức giới cho đội ngũ CBCC những người có liên quan đến việc thực thi

chính sách đến BĐG.

1.1.2.4. Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính sáng tạo

Các vụ việc cụ thể xảy ra trong cuộc sống hết sức đa dạng và phức tạp, trong

khi đó pháp luật thường không mô tả tỉ mỉ, cụ thể từng tình tiết của sự việc, ngược

lại nó thường chỉ dự liệu những điều kiện, hoàn cảnh có tính chất phổ biến, điển

hình. Khi áp dụng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải nghiên cứu

kĩ vụ việc, so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật, lựa chọn QPPL phù

hợp để áp dụng sao cho đúng người, đúng sự việc, đúng mức độ, đúng quan điểm,

tư tưởng mà quy phạm pháp luật đã nêu. Ngoài ra, trong thực tế, xảy ra nhiều trường

hợp những vụ việc cá biệt đòi hỏi cơ quan chức năng có thẩm quyền phải giải quyết

nhưng không thể viện dẫn các quy định của pháp luật để áp dụng. Trong những

trường hợp đó, đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền phải có ý thức pháp luật cao, có kinh

nghiệm thực tiễn phong phú, đồng thời phải linh hoạt, sáng tạo để giải quyết các vụ

việc đã xảy ra trong thực tế cuộc sống một cách “thấu tình, đạt lý”, để đưa ra được

một quyết định mang tính “thấu tình, đạt lý” để giải quyết vụ việc về BĐG thì cần

có sự sáng tạo, tư duy logic tuân thủ theo quy định pháp luật của người áp dụng.

Khi áp dụng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải nghiên cứu

kĩ vụ việc, so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật, lựa chọn quy phạm

pháp luật phù hợp để áp dụng sao cho đúng người, đúng sự việc, đúng mức độ,

đúng quan điểm, tư tưởng mà quy phạm pháp luật đã nêu.

Pháp luật về BĐG đặt ra các quy định và điều kiện, khi cả nam hay nữ đều

được coi ngang nhau trong việc áp dụng các quy tắc này. Nguyên lý "đối xử như

nhau" trong pháp luật có ý nghĩa là không có sự phân biệt, không công bằng giữa

các cá nhân hoặc nhóm cá nhân dựa trên các yếu tố không liên quan đến tính chất

của việc áp dụng pháp luật. Các quy định của pháp luật đặt ra thường mang tính

chất khái quát, khuôn mẫu, quy phạm song các vụ việc xảy ra trong thực tế vô cùng

đa dạng, phong phú và diễn biến phức tạp, phát sinh những tình huống ngoài dự

liệu.

16

1.1.3. Vai trò của áp dụng pháp luật về bình đẳng giới

1.1.3.1. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới là phương thức để vận dụng

chủ trương đường lối, chính sách đi vào thực tiễn xã hội

Áp dụng pháp luật BĐG là cách thức, biện pháp cơ bản, nhanh chóng để

đưa chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, nhất

là chính sách bảo đảm BĐG trong quá trình tham gia vào công tác QLNN, tham

gia hoạt động xã hội; trong tham gia xây dựng và thực hiện giá trị cộng đồng hoặc

quy định, quy chế của cơ quan tổ chức đơn vị. Do vậy, việc áp dụng pháp luật về

BĐG xem là cách thức cơ bản, có hiệu quả để chủ trương, chính sách tiếp cận và

phát huy hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ xã hội và đến với các chủ thể;

giúp họ nắm bắt đầy đủ và thực hiện tốt hơn chủ trương, chính sách của Đảng và

pháp luật của Nhà nước. Qua đó giúp cho Đảng, Nhà nước kiểm nghiệm tính đúng

sai của các chính sách, pháp luật đã được ban hành trong thực tiễn, có thể tiếp tục

duy trì chính sách hoặc để kịp thời sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh chính sách cho

phù hợp; phát hiện, khắc phục sai sót, xử lý những hành vi vi phạm trong tổ chức

thực hiện để bảo đảm thực hiện tốt hơn các chính sách BĐG nói riêng và chính

sách pháp luật nói chung.

1.1.3.2. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới đảm bảo mục tiêu phát triển

bình đẳng nam nữ

Áp dụng pháp luật về BĐG là một trong những phương tiện nhằm thực hiện

mục tiêu của Nhà nước ta đã và đang hướng đến là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới,

tạo cơ hội và điều kiện như nhau cho cả nam lẫn nữ, hướng tới mục tiêu BĐG thực

chất giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực, mọi phương diện; là phương thức làm tốt

trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong bảo đảm công bằng chính trị;

bảo đảm BĐG góp phần thúc đẩy phụ nữ tham chính ngày càng nhiều hơn, chủ

động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho phát triển của gia đình, cộng đồng, đất

nước. Vì thế đã đặt ra yêu cầu mọi cơ quan, tổ chức và công dân phải tuân thủ, chấp

hành và thực hiện đúng các quy định pháp luật; chủ động phòng ngừa, đấu tranh và

chống các hành vi biểu hiện vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

các chủ thể. Áp dụng pháp luật BĐG là phương thức góp phần đề cao hơn nữa trách

17

nhiệm của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền trong bảo đảm cho pháp luật được thực

thi nghiêm chỉnh, thống nhất và đồng bộ qua đó tích cực giúp phụ nữ tham gia vào

các quan hệ trong xã hội được đối xử công bằng, bình đẳng như các chủ thể khác.

1.1.3.3. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới góp phần nâng cao ý thức

pháp luật đối với các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong xã hội

Áp dụng pháp luật về BĐG đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng,

củng cố và nâng cao ý thức pháp luật đồng thời thúc đẩy nội lực làm chủ để tham

gia QLNN và xã hội, giải quyết công việc chung của cộng đồng; giúp các cơ quan,

tổ chức, gia đình, cá nhân am hiểu quy định pháp luật, nhận thức đầy đủ, hiểu biết

sâu sắc hơn về chuẩn mực xã hội, định hình giới hạn của các hành vi bình đẳng

và bất bình đẳng; nắm bắt những nguyên tắc cơ bản về BĐG, những hành vi nào

bị pháp luật nghiêm cấm. Các cá nhân và tổ chức, nhận thức được bản chất pháp

lý của các tình huống, sự kiện; tiến hành lựa chọn hành vi xử sự phù hợp; từ đó

lựa chọn giải pháp tốt tối ưu cho mình. Các cá nhân và tổ chức sẽ nhận thức đầy

đủ hơn về vị trí, vai trò của pháp luật, từ đó, tích cực, chủ động áp dụng pháp luật

để bảo đảm mục tiêu BĐG trong tham gia các lĩnh vực. Hiểu biết pháp luật về

BĐG giúp các các cá nhân và tổ chức tôn trọng quyền hợp pháp của chủ thể khác;

yêu cầu các chủ thể thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ; tham gia QLNN, hoạt động

xã hội, góp phần thực thi công lý, bảo đảm công bằng xã hội. Việc nhận thức các

hành vi vi phạm pháp luật về BĐG đặc biệt giúp cho giới nữ, nâng cao hiểu biết

pháp luật, nhìn nhận rõ quyền của mình, từ đó tạo được quan điểm cá nhân và

điều kiện phát triển bản thân.

1.1.3.4. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới là biện pháp phòng ngừa các

hành vi vi phạm pháp luật và tăng cường pháp chế XHCN

Pháp luật được xem là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội, là một trong

những yếu tố bảo đảm và đồng thời bảo vệ sự ổn định của các quan hệ xã hội.

Pháp luật là cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, là

sự ghi nhận về mặt pháp lý trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước đối với xã hội và

công dân, là phương tiện để Nhà nước quản lý có hiệu lực, hiệu quả các lĩnh vực

của đời sống xã hội.

18

Căn cứ quy định của pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền thực hiện áp

dụng pháp luật căn cứ điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, ban hành những mệnh lệnh,

quyết định có giá trị bắt buộc đối tượng quản lý phải tôn trọng hoặc thực hiện đối

với đối tượng áp dụng.

Áp dụng pháp luật về BĐG giúp các chủ thể thực hiện BĐG nhận thức được

giới hạn hành vi bị nghiêm cấm trong khuôn khổ phạm vi nhất định, nhờ đó, mỗi

chủ thể sẽ tự giác và chủ động thực thi quyền, nghĩa vụ; không vi phạm quyền lợi

hợp pháp của Nhà nước và chủ thể khác. Trong trường hợp phát hiện chủ thể thực

hiện hành vi vi phạm pháp luật BĐG thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị

xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

1.1.3.5. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới đề cao uy tín và thúc đẩy

quyền con người của Nhà nước trong trường quốc tế

Việt Nam trong thời gian qua đã đạt nhiều thành tựu đáng kể về công tác

BĐG, được quốc tế đánh giá và nhìn nhận những thành tựu này. Ban hành các quy

định pháp luật và thực thi chính sách pháp luật về BĐG cùng với những nỗ lực

không ngừng nghỉ trong suốt nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành

tựu trong công tác bình đẳng giới đã nâng vị thế và uy tín của Việt Nam trên chính

trường quốc tế. Việt Nam tuân thủ các cam kết quốc tế, xem BĐG vừa là mục tiêu

vừa là cơ sở góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định và

phát triển bền vững đất nước.

1.2. Cơ sở pháp lý áp dụng pháp luật về bình đẳng giới

Với quan điểm coi BĐG là một bộ phận không thể tách rời của quá trình

phát triển KT-XH của đất nước nên trong hơn thập kỷ qua, các hoạt động nhằm

thúc đẩy BĐG ngày càng được các cấp, ngành chú trọng triển khai. Áp dụng pháp

luật về BĐG là công cụ quan trọng đưa Luật Bình đẳng giới vào cuộc sống và thể

hiện cam kết cao của Việt Nam trong việc thực hiện Công ước quốc tế xóa bỏ mọi

hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ, Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ và

Cương lĩnh hành động Bắc Kinh (1995). Việt Nam ban hành văn bản luật pháp và

chính sách liên quan BĐG đã được ra đời, Nhiều văn bản pháp quy đã được ban

19

hành để cụ thể hóa các nội dung của quy định pháp luật về BĐG, có thể kể đến

một số văn bản QPPL tiêu biểu như sau:

- Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013;

- Bộ Luật dân sự (2015);

- Bộ Luật Hình sự (2015);

- Bộ Luật Lao động (2012);

- Luật Cán bộ, công chức (2008, sửa đổi bổ sung 2019);

- Luật Viên chức (2010, sửa đổi bổ sung 2019);

- Luật Phòng, chống mua bán người (2012);

- Luật Việc làm (2013);

- Luật Phổ cập giáo dục tiểu học

- Luật Giáo dục năm (2005);

- Luật Khám bệnh, chữa bệnh (2009);

- Luật Giáo dục Đại học (2012) (được sửa đổi, bổ sung năm 2018),

- Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014),

- Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

- Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2015, Sửa đổi năm 2019)

- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2015)

- Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (2015)

- Luật Bình đẳng giới (2006);

- Luật Hôn nhân và gia đình

- Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2007);

- Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ về quy

định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới; …

Xác định tầm quan trọng của việc áp dụng pháp luật về BĐG, áp dụng pháp

luật về BĐG triển khai thực hiện trên các phạm vi như sau:

20

1.2.1. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

Chiến lược thúc đẩy BĐG của Việt Nam được thể hiện qua nhiều chủ trương,

của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước. Quán triệt quan điểm của Đảng,

theo nguyên tắc bình đẳng nam nữ được thể chế hóa trong Hiến pháp và hầu hết

các văn bản QPPL của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho phụ

nữ tham gia chính trị. Theo Hiến pháp (2013), cụ thể tại Chương II quy định:

"Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" [11]. Trong Luật

Bình đẳng giới (2006) quy định về BĐG trong lĩnh vực chính trị tại Điều 11.

Nhà nước ban hành những quy định cụ thể nhằm đảm bảo sự tham gia bình

đẳng của nam và nữ trong các cơ quan dân cử và bộ máy QLNN, theo đó, tại

khoản 3, Điều 7 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

(2015) lần đầu tiên quy định tỉ lệ ứng cử viên là nữ trong danh sách chính thức

những người ứng cử phải “bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số

người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ

nữ” [16].

Những nỗ lực không ngừng của Đảng và Nhà nước góp phần thực hiện tốt

chương trình BĐG trên các lĩnh vực, BĐG trong lĩnh vực chính trị là một trong

những lĩnh vực đáng kể và được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Áp dụng pháp luật về BĐG trong lĩnh vực chính trị là rất quan trọng, bởi vì

phụ nữ cũng như nam giới trong lĩnh vực này có điều kiện tự khẳng định vị trí của

họ, vì khi tham gia vào vị trí lãnh đạo, quản lý ở các cấp nghĩa là họ đã thực sự

tham gia vào việc nắm giữ và sử dụng quyền lực nhà nước, đại diện cho mọi người

nói chung và cho giới nói riêng trực tiếp tham gia vào công tác phát triển KT-XH

của địa phương.

1.2.2. Áp dụng pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động,

việc làm

Ngoài ra, chính sách pháp luật về BĐG còn được thể hiện ở khía cạnh giảm

khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế. Nhằm giảm khoảng cách giới trong lĩnh

21

vực kinh tế, lao động, việc làm, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta không

ngừng hoàn thiện các quy định pháp luật về BĐG trong vấn đề này.

Căn cứ tại Điều 12 Luật Bình đẳng giới (2006) có nêu: “Nam, nữ bình đẳng

trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh,

quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị

trường và nguồn lao động” [12] và Khoản 1 Điều 13 Luật này đưa ra quan điểm:

“nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng

tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao

động và các điều kiện làm việc khác” [12] cho thấy trong lĩnh vực kinh tế, BĐG

cũng nhận được sự quan tâm sâu sắc.

Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Lao động (2019) nghiêm cấm các hành vi:“phân

biệt đối xử trong lao động” [3]. Bộ luật Lao động (2019) còn ghi nhận chính sách

của Nhà nước như sau: “Bảo đảm quyền bình đẳng của lao động nữ, lao động

nam, thực hiện các biện pháp bảo đảm BĐG và phòng, chống quấy rối tình dục

tại nơi làm việc”[3]. Chính sách nhà nước đối với lao động nữ và bảo đảm thực

thi quyền bình đẳng của lao động nữ, lao động nam, thực hiện các biện pháp bảo

đảm BĐG và phòng, chống các hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Khuyến

khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ, lao động nam có việc

làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo nhiều hình thức khác

nhau như thời gian biểu linh hoạt, làm việc không theo ca, thực hiện công việc

làm tại nhà. Nhà nước quy định cụ thể trách nhiệm của người sử dụng lao động

trong việc đảm bảo việc làm, cơ hội làm việc đối với người lao động là: Bảo đảm

thực hiện BĐG và các biện pháp thúc đẩy BĐG trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếp

việc làm, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ

khác [3]. Bộ Luật Lao động (2019) còn quy định chi tiết về các hoạt động như

tuyển dụng, đào tạo, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi… nhằm bảo vệ quyền lợi đặc

thù của người phụ nữ và bảo đảm bình đẳng giữa nam và nữ, trường hợp người

sử dụng lao động vi phạm các quy định BĐG liên quan đến lao động thì bị xử phạt

vi phạm hành chính theo quy định cụ thể tại Điều 8 Nghị định số 125/2021/NĐ-

22

CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong

lĩnh vực BĐG [8].

Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (năm 2015, sửa đổi, bổ

sung năm 2020) cụ thể tại Điều 4 thì quá trình xây dựng văn bản QPPL phải bảo

đảm lồng ghép vấn đề BĐG trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL. Trong quá

trình xây dựng văn bản QPPL, việc lồng ghép vấn đề BĐG được xem là biện pháp

chiến lược để cụ thể hóa mục tiêu BĐG, xóa bỏ bất bình đẳng đối xử về giới, bảo

đảm quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với đặc thù của mỗi giới; bảo đảm BĐG thực

chất giữa nam và nữ; tạo cơ hội phát triển như nhau cho nam và nữ trong các lĩnh

vực của đời sống xã hội và gia đình.

Chính quyền các cấp có kế hoạch, biện pháp tổ chức xây dựng các nhà trẻ,

lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động giúp cho người lao động an tâm làm việc,

lao động sản xuất.

1.2.3. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và

đào tạo

Được xem là chủ thể hưởng thụ những giá trị mà giáo dục, đào tạo mang

lại, nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về các hoạt

động giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Không những thế, chủ

thể còn được cụ thể hóa trong quy định của các văn bản pháp luật khác như Luật

Giáo dục (2019), Luật Giáo dục Đại học (2012) (được sửa đổi, bổ sung năm 2018),

Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014), Bộ luật Lao động (2019) … Cụ thể: quy định

tại khoản 1, Điều 13 Luật Giáo dục (2019) quy định: “Học tập là quyền và nghĩa

vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng,

giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế

đều bình đẳng về cơ hội học tập” [17] ; Căn cứ Điều 14 Luật Bình đẳng giới

(2006), BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: (1) Nam, nữ bình đẳng về độ

tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng; Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành,

nghề học tập, đào tạo; (2) Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ

các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; (3) Nữ

CBCCVC khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới 36 tháng tuổi được

23

hỗ trợ theo quy định của Chính phủ [12]. Công dân không phân biệt giới tính đều

bình đẳng về cơ hội học tập.

Nền tảng của việc lựa chọn ngành - nghề, việc làm là được đào tạo, bồi

dưỡng các kỹ năng nghề nghiệp, đặc biệt là đối với các ngành, nghề đặc thù có

quy định điều kiện về chứng chỉ hành nghề. Điều 5 Bộ luật Lao động (2019) có

nêu: “người lao động có quyền học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không

bị phân biệt đối xử” [3]; trong luật cũng quy định nghiêm cấm hành vi “phân biệt

đối xử về giới tính” đối với người lao động, theo đó có việc phân biệt đối xử về

giới tính trong việc lựa chọn người lao động khi cử đi đào tạo, bồi dưỡng chuyên

môn, nghiệp vụ; Các cơ sở dạy nghề, cơ sở giáo dục thực hiện việc tuyển sinh trên

cơ sở các điều kiện về năng lực của thí sinh thể hiện qua điểm thi, quá trình học

tập không phân biệt giới tính của thí sinh ứng tuyển. Không phân biệt giới tính

nam hay nữ, đều có cơ hội ngang nhau trong việc lựa chọn học tập những ngành

- nghề, công việc lĩnh vực phù hợp với sở thích, khả năng, năng khiếu của người

học.

1.2.4. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và

công nghệ

Khi xã hội có nhiều tiến bộ, văn minh và phát triển, phụ nữ nói chung và

phụ nữ Việt Nam nói riêng ngày càng có nhiều cơ hội tham gia và đóng góp cho

sự nghiệp xây dựng phát triển toàn diện và sâu rộng của những vấn đề của đất

nước. Họ ngày càng khẳng định vai trò và vị thế của mình trong hầu hết các lĩnh

vực, bao gồm cả hoạt động nghiên cứu KH&CN.

BĐG trong KH&CN là một trong tám lĩnh vực chủ chốt được quy định

trong Luật Bình đẳng giới (2006). theo Điều 15 Luật này nêu: “nam giới và phụ

nữ bình đẳng trong tiếp cận các khóa đào tạo về KH&CN, trong công bố các kết

quả nghiên cứu KH&CN, và trong phát minh sáng chế” [12]. Phụ nữ được khuyến

khích tham gia nghiên cứu khoa học và hiện đang có các đề xuất về chính sách ưu

tiên phụ nữ trong giáo dục và đào tạo nghiên cứu khoa học để tạo ra một môi

trường nghiên cứu khoa học hiện đại và dân chủ.

24

1.2.5. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế

Tại Điều 38 của Hiến pháp (2013) quy định BĐG trong lĩnh vực y tế như

sau: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc

sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh,

khám bệnh, chữa bệnh” [11]. Lĩnh vực y tế là tổng hợp các hoạt động chăm sóc

sức khoẻ, hoạt động chuẩn đoán, điều trị, chữa bệnh, phòng ngừa bệnh, bệnh tật,

thương tích, và suy yếu về thể chất và tinh thần khác ở người, y tế đề cập đến vấn

đề sức khỏe cũng như hoạt động liên quan trong cuộc sống hàng ngày. Cần xác

định, BĐG trong ngành y tế có 2 đặc thù cơ bản, đó là: (1) Nhóm mục tiêu thực

hiện sự BĐG trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng nói chung. Ngành y

tế cũng đặt mục tiêu nâng cao nhận thức BĐG cho đội ngũ CBCCVC, người lao

động trong ngành; hỗ trợ giảm thiểu hậu quả đối với sức khỏe là nạn nhân BLGĐ;

(2) Nhóm chỉ tiêu về đảm bảo quyền bình đẳng với cán bộ ngành y tế với việc tăng

cường sự tham gia của phụ nữ vào các cương vị lãnh đạo, quản lý trong toàn ngành

nhằm từng bước giảm dần khoảng cách về giới trong lĩnh vực này.

Thể chế hóa quan điểm của Hiến pháp, BĐG trong lĩnh vực y tế được quy

định cụ thể tại Điều 17 Luật Bình đẳng giới (2006): (1) Nam, nữ bình đẳng trong

tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ

sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế; (2) Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết

định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây

nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục; Phụ nữ nghèo cư

trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia

bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo

quy định của Chính phủ [12]. Còn theo Điều 3 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh

(2009), khẳng định bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối

với người bệnh trong mọi trường hợp.

1.2.6. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông

tin, thể dục, thể thao

Quá trình hội nhập quốc tế ở nước ta diễn ra đã tạo ra những tiền đề mạnh

mẽ và sâu rộng để nền văn hóa thông tin, thể dục thể thao của nước nhà trong các

25

hoạt động giao thoa, ghi dấu ấn với khu vực và thế giới, thúc đẩy những đổi mới

tích cực các hoạt động về tư duy, quản lý, phát triển đa dạng, đối ngoại trong lĩnh

vực văn hóa, thông tin, thể dục thể thao. Do vậy, phải đặt vấn đề, bình đẳng và

BĐG trong các lĩnh vực này.

Trong lĩnh vực thể dục và thể thao, Hiến pháp (2013) quy định tại khoản 2,

Điều 37: “Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập,

lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân

tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ

quốc…” [11]. Về hoạt động văn hóa, tại Điều 40 có nêu: “Mọi người có quyền

nghiên cứu KH&CN, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các

hoạt động đó”. Đồng thời nhà nước đảm bảo “Mọi người có quyền hưởng thụ và

tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở

văn hóa” (Điều 41) [11].

Tại Luật Bình đẳng giới (2006), tại Điều 16 BĐG trong lĩnh vực văn hoá,

thông tin, thể dục, thể thao đó là: “Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt

động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao; Nam, nữ bình đẳng trong hưởng thụ

văn hoá, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin” [12].

1.2.7. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình

Quan hệ giữa gia đình với xã hội là quan hệ giữa các bộ phận với cái toàn

thể. Gia đình thường được ví là tế bào xã hội, tập hợp nhiều gia đình cộng lại góp

phần hình thành cộng đồng, xã hội, khi gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt

thì gia đình càng tốt, đây là mối quan hệ biện chứng. BĐG trong gia đình không

chỉ có ý nghĩa riêng đối với người phụ nữ mà còn được xem là động lực phát triển

xã hội. Bình đẳng dễ nhận thấy ngay từ trong mỗi gia đình, được xem là nền tảng

cho việc nâng cao quyền phụ nữ, cho phép họ tự quyết định cuộc sống và khẳng

định vị thế của mình ngoài xã hội. Hôn nhân dựa theo nguyên tắc tự nguyện tiến

bộ: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn”, thực hiện chế độ hôn nhân “một vợ một

chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”. Đồng thời chế độ hôn nhân gia

đình đặt dưới sự Nhà nước bảo hộ và Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và

trẻ em (nội dung quy định tại Điều 36 Hiến pháp); Riêng đối với trẻ em được Nhà

26

nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; không những thế trẻ em còn

được tham gia vào chính các vấn đề về trẻ em.

Cụ thể hóa quan điểm của Hiến pháp, Điều 18 Luật Bình đẳng giới (2006),

BĐG trong gia đình được hiểu 05 nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, cả hai vợ, chồng

bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn

nhân và gia đình, được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích; Thứ hai, Vợ, chồng có

quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng

nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các điều kiện tài sản, hoạt động

kinh tế, nguồn lực trong gia đình; Thứ ba, Vợ, chồng ngang quyền với nhau trong

quá trình bàn bạc, ra quyết định lựa chọn và thống nhất sử dụng biện pháp kế

hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy

định của pháp luật; Thứ tư, Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và

tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển; Thứ

năm, các thành viên trong gia đình dù là nam hay nữ đều có trách nhiệm chia sẻ

công việc gia đình [12].

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới áp dụng pháp luật về bình đẳng giới

Áp dụng pháp luật chịu sự quy định, ảnh hưởng của nhiều yếu tố thuộc cả

cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng pháp lý. Điều này làm cho việc áp dụng

pháp luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, cụ thể:

1.3.1. Hoạt động xây dựng pháp luật

Nhằm đưa chính sách, luật pháp về BĐG được triển khai, đi vào thực tiễn

cuộc sống, các cơ quan chức năng thực hiện các hình thức tuyên truyền, giáo dục

triển khai ở các cấp, chú trọng thực hiện, gia tăng cả về số lượng và chất lượng.

Thông qua các hình thức đa dạng, kết hợp nhiều phương thức khác nhau công tác

truyền thông, giáo dục về BĐG đã giúp cho các cơ quan, tổ chức, CBCCVC người

lao động và nhân dân thấy rõ tầm quan trọng của BĐG đối với phát triển kinh tế,

xã hội và nhận thức được thực trạng, nguy cơ và tác động của bất BĐG đối với cá

nhân, gia đình và toàn xã hội, từ đó hình thành những quan niệm tiến bộ về vai

trò, vị thế của phụ nữ và BĐG. Đây là hoạt động cơ bản, quan trọng của nhà nước

27

cho nên việc nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà luật học và các nhà

xã hội học pháp luật là cần thiết. Để thực hiện và áp dụng pháp luật có hiệu quả

trước hết phải có pháp luật tốt, muốn làm tốt điều đó thì hoạt động xây dựng pháp

luật đóng vai trò quan trọng.

1.3.2. Trình độ văn hóa pháp lý của cán bộ và nhân dân

Sự hoàn thiện của hoạt động áp dụng pháp luật đòi hỏi trình độ văn hóa pháp

lý nội tại của CBCC trong bộ máy nhà nước và nhân dân trong xã hội. Điều cần

thiết đặt ra phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nhằm

nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, tạo dựng và củng cố lòng tin của nhân dân

vào pháp luật, để từ đó họ có nhận thức pháp luật những hành vi pháp luật mang

lại hiệu quả tích cực, sử dụng pháp luật vào việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp

của mình cũng như của người khác. Tích cực tham gia đấu tranh không khoan

nhượng với các hiện tượng tiêu cực, hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội.

Giáo dục và hình thành nhận thức có thể giúp loại bỏ các quan điểm lỗi thời

và sai lầm về giới tính, tạo điều kiện thuận lợi cho áp dụng pháp luật về BĐG. Sự

nhận thức về quyền BĐG và vai trò của nam và nữ trong gia đình là quan trọng

để áp dụng pháp luật về BĐG. Giáo dục và xây dựng nhận thức còn giúp loại bỏ

các định kiến và sai lầm về giới tính, khuyến khích sự tham gia chung và tạo ra

một môi trường thuận lợi cho áp dụng pháp luật.

Nhận thức pháp luật bao gồm hiểu biết kiến thức cơ bản về pháp luật về

BĐG; những yêu cầu, nguyên tắc mang tính hành chính, nghiêm cấm hoặc cho

phép được làm của pháp luật. Việc hình thành kiến thức cơ bản về pháp luật giúp

cho các chủ thể đạt được trình độ hiểu biết nhất định, xây dựng lòng tin đối với

pháp luật, tự giác điều chỉnh hành vi xử sự của mình trong các quan hệ xã hội;

giúp họ hiểu rõ bản chất ưu việt của pháp luật XHCN và bản chất của nhà nước

ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân; khẳng định pháp luật là công cụ có hiệu

lực sắc bén trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức.

28

1.3.3. Công tác tổ chức và cán bộ của các cơ quan áp dụng pháp luật

Một hệ thống pháp luật và chính sách rõ ràng và nhất quán về BĐG là cần

thiết. Pháp luật cần bảo vệ và thúc đẩy BĐG, đồng thời phải đảm bảo tính công

bằng và hiệu quả trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến BĐG. Chính

sách công cộng cũng cần định hướng và hỗ trợ việc áp dụng pháp luật về BĐG

trong các lĩnh vực khác nhau.

Sự phân công, cơ cấu quyền lực và quyền điều hành trong cơ quan HCNN

và các tổ chức CT-XH có thể ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định và thực thi

các chính sách liên quan đến công tác BĐG. Các quyết định chính trị có thể tạo

ra các cơ hội hoặc rào cản đối với việc thúc đẩy BĐG. Nếu quyết định chính sách

không nhấn mạnh đủ mức độ quan trọng của BĐG, có thể gây ra thiếu sót trong

việc thực thi pháp luật. Ý thức chính trị của các nhà lãnh đạo, hoạch định và thực

thi chính sách cũng quyết định ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền BĐG. Sự

nhạy bén, linh hoạt và cam kết của họ đối với vấn đề này có thể ảnh hưởng lớn

đến việc áp dụng pháp luật về BĐG.

1.3.4. Hoạt động của các cơ quan áp dụng pháp luật

Để công tác BĐG đạt được kết quả như mong muốn, Nhà nước đã xây dựng

và tổ chức các cơ quan áp dụng pháp luật. Hoạt động của các cơ quan áp dụng pháp

luật của chủ thể thực hiện BĐG đòi hỏi các cơ quan tổ chức và cá nhân cần nắm

vững các công việc mà họ đảm nhận và thực hiện với tinh thần trách nhiệm, đạo

đức công vụ, tránh hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, trì trệ, giấy tờ hình

thức hoặc thờ ơ vô cảm đối với tính mạng con người, danh dự và nhân phẩm của

cá nhân, với tài sản của nhà nước và nhân dân.

1.3.5. Các văn bản áp dụng pháp luật

Điểm nổi bật trong việc bảo đảm quyền lợi về giới ở Việt Nam là việc Nhà

nước ban hành và từng bước hoàn thiện khung pháp lý, hành lang pháp lý về BĐG,

ban hành các văn bản QPPL và văn bản dưới luật để cụ thể hóa, quy định chi tiết

các quan điểm chủ trương của Đảng và Chính sách của Nhà nước về quy định các

biện pháp bảo đảm và thực hiện BĐG. Các văn bản này làm căn cứ pháp lý vững

29

chắc, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và nữ trong mọi

lĩnh vực đời sống xã hội và gia đình, được hậu thuẫn bởi pháp luật.

Căn cứ các văn bản áp dụng pháp luật các cơ quan chức năng, các tổ chức

cá nhân tiến hành các hoạt động QLNN về BĐG nhằm hiện thực hóa chiến lược,

chính sách mục tiêu quốc gia về BĐG vào thực tế. Văn bản QPPL về BĐG đây

không phải là loại văn bản đơn thuần mà có tính đặc biệt vì được ban hành và thực

thi bởi cơ quan nhà nước theo đúng thẩm quyền, trình tự, theo hình thức thủ tục

luật định mang tính xử sự chung, có tính hiệu lực bắt buộc chung được nhà nước

đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các hoạt động về BĐG.

1.3.6. Ý thức pháp luật

Để người dân hiểu biết và thực thi pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp

hành pháp luật, hiểu biết pháp luật để sử dụng pháp luật làm công cụ bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể, xây dựng văn hóa pháp lý trong đời sống xã

hội, lấy pháp luật làm thước đo cho tính hợp pháp và văn minh của hành vi con

người. Việc nâng cao ý thức pháp luật nói chung và pháp luật về BĐG nói riêng

cho mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng và hình thành lối sống tuân thủ pháp luật là

một công việc quan trọng, vừa có tính cấp thiết, vừa là công việc có tầm chiến lược

lâu dài. Để nâng cao ý thức pháp luật BĐG trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp

quyền XHCN ở nước ta hiện nay thì không chỉ chú trọng xây dựng một hệ thống

pháp luật chặt chẽ, hoàn thiện là chưa đủ, đặt ra nhiệm vụ cần phải không ngừng

bồi dưỡng, giáo dục nhằm nâng cao ý thức pháp luật CBCC và nhân dân.

1.3.7. Những điều kiện vật chất, kỹ thuật đảm bảo cho hoạt động áp dụng

pháp luật

Nhiều văn bản pháp luật, nhiều quy định của pháp luật muốn thực hiện

được trong thực tế đòi hỏi phải có một chi phí rất lớn về sức người và trang bị vật

chất - kỹ thuật (nguồn nhân lực, vật lực). Trong điều kiện sự phát triển của khoa

học, công nghệ và quá trình hội nhập quốc tế đã và đang diễn ra không ngừng, tạo

ra những thay đổi trong tư duy và phương pháp tổ chức quản lý trên quy mô toàn

xã hội.

30

Có thể nói, yếu tố nguồn lực là điều kiện quan trọng để thực hiện pháp luật

về BĐG; nhà nước cần có chủ trương tập trung nguồn lực và có chính sách huy

động tối đa mọi nguồn lực trong và ngoài nước để đảm bảo và tăng cường thực

hiện BĐG. Cơ quan HCNN quản lý và sử dụng các nguồn lực từ ngân sách nhà

nước, từ các khoản viện trợ; đồng thời có chính sách phù hợp huy động các nguồn

lực, trong đó khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân hợp tác, giúp đỡ dưới mọi

hình thức trong việc bảo đảm và tăng cường thực hiện pháp luật về BĐG.

Trong việc tiếp cận nguồn lực, tài nguyên và điều kiện kinh tế như đất đai,

nguồn vốn, cơ hội việc dễ nảy sinh bất BĐG. Trong trường hợp pháp luật thực thi

không đảm bảo đầy đủ trong việc tiếp cận nguồn lực, tài nguyên và điều kiện kinh

tế này một cách công bằng cho nam và nữ, sẽ tạo ra sự chênh lệch lớn. Sự không

đồng đều trong thu nhập giữa nam và nữ cũng tác động không nhỏ đến quyền

BĐG trong việc định rõ tiêu chuẩn sống.

1.3.8. Yếu tố văn hóa, xã hội

Quan điểm xã hội và giá trị văn hóa có thể ảnh hưởng đáng kể đến áp dụng

pháp luật về BĐG. Nếu một xã hội không đánh giá cao BĐG, hoặc có các định

kiến và quan điểm phân biệt giới, việc áp dụng pháp luật có thể gặp khó khăn. Sự

thay đổi văn hóa và quan điểm xã hội là quan trọng để tạo ra một môi trường thuận

lợi cho áp dụng pháp luật về BĐG. Văn hóa và giá trị xã hội có thể ảnh hưởng đến

áp dụng pháp luật về BĐG trong gia đình. Nếu xã hội có các định kiến và quan

điểm phân biệt giới, việc áp dụng pháp luật có thể gặp khó khăn. Sự thay đổi văn

hóa và giá trị xã hội là quan trọng để tạo điều kiện thuận lợi cho áp dụng pháp luật

về BĐG.

Trong quá trình áp dụng pháp luật luôn tính đến yếu tố kế thừa và khi thực

hiện chịu sự tác động của các yếu tố xã hội như văn hóa, lịch sử, truyền thống, tập

quán, thói quen thường có sự chi phối, ảnh hưởng nhất định đối với công tác sinh

sản kế hoạch hóa gia đình; mặt khác, cơ chế tập trung quan liêu vẫn còn để lại

nhiều nét chưa phai trong tư duy, nhận thức, tác phong, lề lối làm việc của không

ít CBCCVC, không thể thay đổi nhanh chóng.

31

Tiểu kết Chương 1

Tài liệu nghiên cứu ở phần cơ sở lý luận được tác giả thu thập từ nhiều

nguồn khác nhau từ các tài liệu, văn bản của Đảng và Nhà nước. Trong chương

này, tác giả làm rõ một số vấn đề lý luận áp dụng pháp luật về BĐG, cụ thể phân

tích về: Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật về BĐG, nội dung áp

dụng pháp luật về BĐG và các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng pháp luật BĐG.

Qua đó đã tập hợp và phân tích hệ thống các QPPL hiện hành liên quan đến áp

dụng pháp luật về bình đẳng giới giúp tác giả có cái nhìn tổng quan hơn về thực

trạng nghiên cứu của đề tài. Xây dựng hệ thống cơ sở lý luận hiện có để từ đó có

quyết định lựa chọn phương pháp nghiên cứu tối ưu nhất trong chương tiếp theo.

Đồng thời nhờ những chủ trương, chính sách đúng đắn, quyết liệt nêu trên,

công tác BĐG đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của công cuộc phát

triển KT-XH, tạo những chuyển biến tích cực ở cả cấp độ quốc gia và ở các

bộ, ngành, địa phương.

32

Chương 2

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, TP. HỒ CHÍ MINH

2.1. Các yếu tố đặc thù ảnh hưởng đến áp dụng pháp luật về bình đẳng

giới quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh

2.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội quận Gò Vấp

Quận Gò Vấp là quận nội thành nằm ở phía Tây Bắc TP. Hồ Chí Minh; có

diện tích 1.973,25 ha, được chia thành 16 phường, với 186 khu phố và 1.436 tổ

dân phố. Quận có đặc thù là địa phương có quy mô dân số lớn nhất trên địa bàn

Thành phố với tổng dân số toàn quận thời điểm 01/01/2021 là 686.689 người,

trong đó nam chiếm 48,79%, nữ chiếm 51,21%, tạm trú chiếm 39,14%. Mật độ

dân số là 35.164 người/km2, trong đó cao nhất là 59.418 người/km2 và thấp nhất

là 22.548 người/km2 [24, tr.1].

2.1.2. Khái quát về tình hình thực hiện bình đẳng giới tại quận Gò Vấp

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền quận Gò

Vấp, các ban ngành, đoàn thể luôn dành sự quan tâm đến công tác VSTBPN &

BĐG tại quận được thực hiện thường xuyên, đi vào chiều sâu. Trong đó nhiều

chương trình, mục tiêu được triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tế tại

địa phương đã góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện công tác VSTBPN &

BĐG trên địa bàn quận.

Để thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu Chương trình Chiến lược quốc gia về

BĐG trên địa bàn Quận Gò Vấp, UBND quận đã quan tâm chỉ đạo và tạo điều

kiện về ngân sách, bộ máy, nhân sự để triển khai các nhiệm vụ một cách đồng bộ,

hiệu quả; đồng thời phối hợp các ban ngành, đoàn thể và 16 phường lồng ghép

vấn đề BĐG trong các chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương,

tiến hành rà soát kiện toàn lại bộ máy nhân sự làm công tác VSTBPN & BĐG để

đảm bảo cho việc phối hợp liên ngành trong triển khai các hoạt động nâng cao

năng lực QLNN về BĐG, về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất

33

nước, tạo ra sự thay đổi rõ nét nhận thức trong đội ngũ CBCCVC và người dân

trên địa bàn quận đối với công tác VSTBPN & BĐG.

Từ sau khi Luật BĐG ra đời, được lãnh đạo quận quan tâm chỉ đạo thực hiện,

sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể nên việc triển khai

thực hiện các điều, khoản của Luật trên địa bàn quận đạt được kết quả tích cực.

Các chị em phụ nữ ngày càng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động công tác xã

hội, công việc phức tạp, các vị trí cao trong xã hội khẳng định vị thế bản thân; các

hoạt động truyền thông, tập huấn nâng cao nhận thức về BĐG được đổi mới, nội

dung và phương pháp triển khai được cải tiến đã đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về

BĐG của mỗi giới; đồng thời đã nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị về

quan điểm thực hiện BĐG không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực, từ đó chính

sách, tổ chức bộ máy hoạt động BĐG ngày càng được bổ sung và hoàn thiện. Sự

tham gia của cộng đồng vào các vấn đề xã hội theo xu hướng xã hội hóa ngày

càng gia tăng. Việc thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH của quận đã giúp thúc

đẩy vấn đề an sinh xã hội và bảo đảm BĐG được thực hiện rõ ràng và thuận lợi

hơn.

Tuy vậy, cũng còn nhiều hạn chế và tồn tại làm ảnh hưởng lớn cho công

tác BĐG. Có thể nói đến các nội dung như sau:

Một là, hiện nay hầu hết người phụ nữ vẫn phải làm những công việc nội trợ

gia đình chiếm phần lớn thời gian và công sức; vẫn còn tư tưởng “trọng nam khinh

nữ”, trong các hoạt động sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia

đình thường do người phụ nữ đảm nhận. Thành phần dân cư đa dạng lại chịu biến

động lớn trong quá trình đô thị hoá, đã góp phần gây ra những khó khăn nhất định

trong việc thực hiện BĐG. Các nhóm dân cư khác nhau có trình độ nhận thức khác

biệt về bình đẳng nam nữ, cần có những biện pháp tác động khác nhau, trong khi

nguồn lực vật chất và con người cho công tác này có hạn.

Hai là, giống như các quận huyện khác trên địa bàn Thành phố Hồ Chí

Minh, tình trạng nhập cư từ nơi khác đến, làm gia tăng mật độ dân cư, do kết quả

của quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng dẫn tới những bức xúc về điều kiện

sống, sinh hoạt, làm việc, ASXH, từ đó làm tăng những vấn đề về BĐG, đặc biệt

34

là sự phân biệt đối xử và BLGĐ với phụ nữ.

Ba là, thu nhập giữa nam và nữ có sự chênh lệch nhất định mặc dù cùng một

vị trí công việc vẫn tồn tại, cơ hội để phụ nữ tiếp cận những việc làm có thu nhập

cao vẫn có khoảng cách so với nam giới, trong nhiều trường hợp lao động nữ chưa

được đánh giá cao như lao động nam, là đối tượng dễ bị rủi ro và tổn thương hơn

khi doanh nghiệp có nhu cầu cắt giảm nhân lực tiêu biểu như các cơ sở lao động

sản xuất đòi hỏi yêu cầu về sức khỏe. Một vấn đề nữa là hiện nay, thu nhập bình

quân của lao động nữ luôn thấp hơn nam giới.

2.1.3. Khái quát đội ngũ tham gia công tác bình đẳng giới tại quận Gò Vấp

Tính đến thời điểm tháng 5/2022 toàn quận Gò Vấp có 213 người (127 nữ

chiếm 59.62%) làm công tác BĐG, trong đó: Phòng Lao động – Thương binh và

Xã hội có 01 lãnh đạo phụ trách và 01 cán bộ chuyên trách; 16/16 Phường có cán

bộ chuyên trách BĐG – Trẻ em; Ban VSTBPN & BĐG quận có 24 người (18 nữ)

gồm đại diện lãnh đạo các cơ quan chuyên môn, đoàn thể quận được phân công

phụ trách các mục tiêu, chỉ tiêu trong Chiến lược quốc gia về BĐG của quận giai

đoạn 2011 – 2020, các đơn vị cơ sở: 45 người, phường có 144 người. Hàng năm

quận, phường đều rà soát, củng cố nhân sự kịp thời để đảm bảo cho việc triển khai

thực hiện QLNN về BĐG trên địa bàn quận [24].

2.2. Thực trạng pháp luật về bình đẳng giới ở Ủy ban nhân dân Quận

Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh

Căn cứ chủ trương, quan điểm của Đảng như Nghị quyết số 11-NQ/TW

ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về “Công tác Phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước”; Kết luận số 196-TB/TƯ ngày 16/ 3/2015 của

Ban Bí thư về Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BĐG,

vì sự tiến bộ phụ nữ trong tình hình mới; đồng thời tăng cường giải pháp nhằm

từng bước cụ thể hóa các điều khoản về Công ước CEDAW; Luật BĐG và các

văn bản dưới luật; Chương trình hành động số 31-CTr/TU ngày 13/3/2008 Thành

ủy thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị

35

khóa X về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất

nước”.

Quang cảnh Buổi tuyên truyền về thúc đẩy Bình đẳng giới và phòng ngừa

bạo lực trên cơ sở giới tại Quận Gò Vấp năm 2020

36

Quang cảnh buổi Tập huấn nghiệp vụ công tác gia đình, bình đẳng giới và

phòng chống bạo lực gia đình, vào ngày 12/8/2022 tại Quận Gò Vấp

Thực trạng pháp luật về BĐG ở UBND Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh,

cụ thể như sau:

2.2.1. Thực tiễn ban hành và thực hiện chính sách pháp luật về bình

đẳng giới ở Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh

Về mặt pháp lý, UBND Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều

văn bản hướng dẫn, chỉ đạo và triển khai thực hiệnviệc áp dụng pháp luật về BĐG

tại địa bàn trong giai đoạn từ năm 2017 đến 2022 (Xem thêm tại Phụ lục 1) [24,

tr. 2-4].

Hàng năm quận đều có xây dựng Chương trình, Kế hoạch cụ thể hóa các nội

dung của Luật trong thực hiện chiến lược, quốc gia về BĐG. Ngoài ra, các đơn vị

thành viên Ban VSTBPN & BĐG đã xây dựng các chương trình, kế hoạch ngắn

hạn, dài hạn của ngành có liên quan đến giới và BĐG trên địa bàn.

Nhằm quán triệt, phổ biến, giáo dục pháp luật về BĐG, quận Gò Vấp đã tổ

37

chức nhiều hoạt động phong phú, đa dạng trong áp dụng thi hành Luật BĐG, Nghị

định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 của Chính phủ về các biện pháp bảo đảm

BĐG; Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ quy định xử

phạt vi phạm hành chính về BĐG. Ngoài ra, để Luật BĐG được lan tỏa và sâu

rộng vào đời sống xã hội, quận đã tổ chức nhiều đợt sinh hoạt thông qua các Câu

lạc bộ, đội nhóm, phát thanh, bản tin, trang webtise, hội thi, treo pano, áp phích,

băng ron, thông qua tháng hành động vì BĐG … Qua đó đưa Luật Bình đẳng giới

dần đi vào cuộc sống. Công tác áp dụng pháp luật về BĐG tại UBND quận Gò

Vấp đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, cụ thể như sau: Các cấp các ngành

có sự quan tâm, công tác QLNN về BĐG được tăng cường; công tác phối hợp

giữa các ban ngành và địa phương trong áp dụng pháp luật về BĐG ngày càng sâu

rộng và hiệu quả; hệ thống chính trị việc thực hiện các mục tiêu, các chỉ tiêu chiến

lược Quốc gia về BĐG cơ bản đạt kế hoạch đề ra, trong đó có một số lĩnh vực như

giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe

y tế...

Chính vì vậy, tình hình áp dụng pháp luật về BĐG ở UBND quận Gò Vấp

đòi hỏi cần phải được sự quan tâm, nỗ lực phấn đấu thực hiện của cả hệ thống

chính trị, trong đó Nhà nước có vai trò trung tâm.

2.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân

dân quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh

2.2.2.1. Áp dụng pháp luật về BĐG trong lĩnh vực chính trị

Tính đến năm 2023, tổng số cán bộ đảm nhiệm chức vụ chủ chốt diện Ban

Thường vụ Quận ủy Quận Gò vấp quản lý:

+ Khối Đảng có cán bộ nữ chủ chốt: 9/14 cán bộ là nữ, đạt 64,3%, trong đó

Khối Nội chính (Văn phòng Quận ủy) có cán bộ nữ chủ chốt: 01/03 cán bộ là nữ,

đạt 33,33%.

+ Khối Đoàn thể có cán bộ nữ chủ chốt: 05/10 cán bộ là nữ, đạt 50%.

+ Khối Ủy ban phường có cán bộ nữ chủ chốt: 20/46 cán bộ là nữ, đạt 43,5%.

38

+ Quận có 89/99 cơ quan, đơn vị có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ chiếm

tỉ lệ 88,9%. Trong đó: Có 11/12 cơ quan chuyên môn thuộc quận có cán bộ lãnh

đạo chủ chốt là nữ (chiếm tỉ lệ 91,7%), 01/12 cơ quan chuyên môn thuộc quận

không có cán bộ nữ lãnh đạo (phòng Quản lý đô thị); 14/16 UBND phường có

lãnh đạo chủ chốt là nữ, đạt tỉ lệ 87,5%, 02/16 Phường không có cán bộ nữ lãnh

đạo (Phường 6, 12); 63/71 đơn vị sự nghiệp có cán bộ nữ lãnh đạo chủ chốt, đạt

tỉ lệ 94%; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhiệm kỳ 2020 -2025 (tính đến tháng

6/2023 có 186/298 đồng chí là nữ, đạt tỉ lệ 62,42%).

- Cán bộ nữ tham gia Ban chấp hành Đảng bộ quận là 18/40 người, đạt tỷ

lệ 45%; cán bộ nữ tham gia Ban Thường vụ Quận ủy là 07/13 người, đạt tỷ lệ

53,8%. Cán bộ lãnh đạo, quản lý diện Ban Thường vụ Quận ủy được phê duyệt

quy hoạch nhiệm kỳ 2025 -2030 có 519 đồng chí, trong đó nữ là 434 đồng chí, tỉ

lệ 83,6%.

- Cán bộ nữ tham gia Ban chấp hành Đảng bộ 16 phường là 87/220 người,

đạt tỉ lệ 39,5%.

Quận thường xuyên tổ chức các cuộc tuyên truyền, vận động nâng cao nhận

thức, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong thực hiện

chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cán bộ nữ và công tác

cán bộ nữ; tập huấn, bồi dưỡng định kỳ đối với nữ CBCCVC tại các cơ quan, đơn

vị trên địa bàn quận. Rà soát, đảm bảo cơ hội bình đẳng cho phụ nữ tham gia vào

các vị trí lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cơ quan, đơn vị thuộc quận và 16 phường.

Công tác phát triển đảng viên nữ cũng luôn được quan tâm. Phần lớn các tổ

chức cơ sở Đảng cơ bản thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng

phát triển đảng viên nữ trong tổ chức chính trị - xã hội như Đoàn thanh niên, hội

Liên hiệp phụ nữ, Công đoàn, trong công nhân viên chức lao động ở các ngành.

Công tác phát triển đảng viên luôn được quận quan tâm, tập trung phát triển những

quần chúng ưu tú đứng vào hàng ngũ của Đảng góp phần xây dựng Đảng vững

mạnh về số lương và chất lượng. Hiện nay tổng số đảng viên (đến tháng 15/2022)

12.241 người, trong đó đảng viên nữ 5.625 người đạt tỷ lệ 45,9%.

39

2.2.2.2. Áp dụng pháp luật BĐG trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm

Toàn quận có 23.357 doanh nghiệp, chi nhánh, cơ sở sản xuất kinh doanh

đang hoạt động do quận quản lý, trong đó có 6.539 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất

kinh doanh có nữ là chủ (chiếm tỉ lệ 27,99%). Tổng số lao động làm công ăn lương

trên địa bàn quận: 102.700 lao động, trong đó 39.082 lao động là nữ, chiếm 38,05%.

Thực hiện triển khai các kênh thông tin về thị trường lao động, tư vấn về giải quyết

nhu cầu việc làm, các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn quận Gò Vấp và Thành phố

nhằm giảm thời gian tìm việc của người lao động; triển khai các chính sách khuyến

khích đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, quan tâm đến nhóm lao

động là nữ khuyết tật, nữ hoàn lương đang sinh sống trên địa bàn quận. Đồng thời,

để làm tốt công tác này, lãnh đạo quận quán triệt cần tăng cường công tác kiểm tra

việc thực hiện pháp luật về BĐG trong lĩnh vực lao động - việc làm, thực hiện chặt

chẽ việc ghi chép ban đầu đối với các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh có tách

biệt theo giới tính, độ tuổi, trình độ, lĩnh vực sản xuất kinh doanh [26].

Quyền quyết định cuối cùng đối với các công việc quan trọng của gia đình;

tỉ lệ nam giới đứng tên sở hữu cá nhân các tài sản có giá trị cũng nghiêng về nam

giới nhiều hơn so với phụ nữ. Trong ngày, nam giới cũng có nhiều thời gian giải

trí hơn so với phụ nữ. Điều này cản trở cơ hội dành cho sự tiến bộ cá nhân và sự

tham gia hoạt động CT-XH của phụ nữ, hạn chế sự đóng góp của phụ nữ cho sự

phát triển của gia đình và xã hội. Cân bằng giữa công việc và đời sống gia đình

đối với nam giới và phụ nữ để có được tinh thần thoải mái, sáng tạo trong công

việc hướng tới việc làm bền vững là một thách thức trong giai đoạn hiện nay.

Trong thực tế trung bình các khoản thu nhập của lao động nữ vẫn thấp hơn

so với lao động nam, nguyên nhân nữ giới có trình độ trung bình thấp hơn so với

nam giới nên trong trường hợp này phải làm những công việc có mức lương thấp

hơn so với nam.

2.2.2.3. Áp dụng pháp luật về BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Quận đã tập trung chỉ đạo công tác phổ cập giáo dục, các ban ngành đoàn

thể quận, phường có sự phối hợp đồng bộ và nhiều giải pháp tích cực như: quan

40

tâm công tác huy động học sinh đầu cấp đến trường, thực hiện tốt công tác phân

luồng học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và vận động học sinh không đạt 3

nguyện vọng vào lớp 10 ra lớp học dân lập tư thục, Trung tâm giáo dục dạy nghề

giáo dục thường xuyên, Trung cấp chuyên nghiệp, chăm lo đến trẻ em có hoàn

cảnh khó khăn, có nguy cơ bỏ học, nên tỉ lệ phổ cập giáo dục, xóa mù chữ trên

địa bàn quận được củng cố và giữ vững. Tỉ lệ biết chữ của nam và nữ trong độ

tuổi từ 15 đến 40: đạt 99% (nữ 120.929/247.440). Năm 2022, tổng số người đạt

trình độ thạc sĩ trong ngành giáo dục – đào tạo là 195 (nữ 175) đạt tỉ lệ: 100% cán

bộ công chức được đi đào tạo, bồi dưỡng. Phòng Giáo dục và Đào tạo quận xây

dựng và ban hành Kế hoạch số 1267/KH-GDĐT về Kế hoạch pháp chế và phổ

biến tuyên truyền giáo dục pháp luật trong năm học 2021-2022. Nội dung cơ bản

gồm: Các quy định pháp luật của Nhà nước về dân sự; hình sự; hành chính; hôn

nhân và gia đình; BĐG; xây dựng; bảo vệ môi trường; an toàn vệ sinh thực phẩm;

xử lý vi phạm hành chính; lao động; giáo dục; y tế; quốc phòng và an ninh; giao

thông; bảo hiểm xã hội; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; bạo lực học đường;

phòng, chống mại dâm; an ninh, an toàn trường học, xây dựng môi trường giáo

dục an toàn, lành mạnh, thân thiện; tích cực phòng, chống ma túy; phòng cháy

chữa cháy; hôn nhân và gia đình; luật trẻ em, phòng chống bạo lực trên cơ sở giới,

phòng chống xâm hại trẻ em… 100% cán bộ, giáo viên chủ chốt các cấp khi tham

gia học được đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực về giới và lồng ghép giới. 100%

học sinh các trường trên địa bàn quận đều được công tác truyền thông nâng cao

nhận thức về chuyên đề “BĐG và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới” phù hợp

với độ tuổi sinh hoạt dưới cờ, các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tổ chức thi tìm hiểu

pháp luật…[24].

Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường

học giai đoạn 2020-2025”, xây dựng và thực hiện Bộ quy tắc ứng xử trong trường

học; ngăn ngừa, xử lý kịp thời, hiệu quả các hành vi tiêu cực, thiếu tính giáo dục

trong cơ sở giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện,

phòng, chống bạo lực học đường; đặt ra cơ chế phối hợp giữa nhà trường - gia

đình - xã hội trong giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh. Chỉ

41

đạo các trường ký kết chương trình phối hợp với công an quận nhằm tăng cường

vai trò, trách nhiệm giữa các cơ quan trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp

luật; đấu tranh phòng, chống tội phạm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ,

giáo viên, nhân viên và học sinh. Phòng Giáo dục và Đào tạo cùng các trường tổ

chức các buổi đối thoại trực tiếp với học sinh phổ thông để lắng nghe tâm tư

nguyện vọng, những khó khăn khúc mắc trong học tập, các mối quan hệ giao tiếp

thầy cô, cha mẹ, bạn bè. Từ đó có những biện pháp giáo dục phù hợp hỗ trợ học

sinh giải tỏa những áp lực trong học tập và cuộc sống.

2.2.2.4. Áp dụng pháp luật về BĐG trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Trong điều kiện KT-XH hiện nay, nền kinh tế tri thức đặt ra yêu cầu ngày

càng cao đòi hỏi người lao động phải thường xuyên và liên tục tiếp nhận tri thức

mới. Do vậy, người phụ nữ có điều kiện học tập nâng cao trình độ là một cơ hội

lớn. Tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển đã làm giảm bớt thời gian người phụ nữ

dành cho các hoạt động nội trợ. Nhờ đó, người phụ nữ có nhiều thời gian tham

gia các hoạt động xã hội khác nhau. Trong bối cảnh đó, Quận đã chủ trương nâng

cao trình độ tay nghề, bồi dưỡng chuyên môn cho một số đối tượng phụ nữ gặp

rào cản ít được đào tạo và đào tạo lại ở mức đủ trình độ, kỹ năng hoạt động trong

các ngành nghề ứng dụng tiến bộ KHCN, trình độ kỹ thuật, công nghệ cao.

2.2.2.5. Áp dụng pháp luật về BĐG trong lĩnh vực y tế

Trước thực trạng mất cân bằng giới tính như hiện nay, Quận phối hợp chặt

chẽ với các ban ngành, đoàn thể đặc biệt là ngành y tế triển khai nhiều biện pháp

song hành, trong đó đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát xử phạt việc lạm dụng

dịch vụ kỹ thuật siêu âm để chẩn đoán giới tính thai nhi cũng như dịch vụ nạo phá

thai tại các cơ sở dịch vụ; đồng thời tổ chức các hoạt động truyền thông nâng cao

nhận thức của cộng đồng dân cư về hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh,

nhằm từng bước thay đổi tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn nặng nề bởi

quan niệm truyền thống của người dân là phải có con trai “để nối dõi tông đường”.

Cập nhật và chia sẻ thông tin chính xác kịp thời trên trang Facebook của

quận và phường về tình hình dịch bệnh, các biện pháp phòng, chống và hướng

42

dẫn cách vệ sinh cá nhân giúp mọi người tăng sức đề kháng phòng dịch. Đẩy mạnh

tuyên truyền thực hiện theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh

thực hiện công tác phòng, chống dịch Covid-19, vận động người dân trên địa bàn

chấp hành nghiêm túc giãn cách xã hội trên fanpage quận, phường qua hoạt động

tổ chức mini game tuyên truyền “Thông điệp 5K” trong phòng, chống dịch Covid-

19 với 500 người tham gia bình luận trả lời câu hỏi, tiếp cận gần 1.000 người qua

đó nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền phòng, chống dịch Covid-19 đến cộng

đồng mạng.

Phối hợp với Website quận, Trung tâm Văn hóa quận, UBND phường thực

hiện tuyên truyền thông điệp về giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh trên

16 pano tại các tuyến đường trên địa bàn quận, đăng tải thông tin tuyên truyền 10

bài viết trên trang Web của quận. 16 cuộc truyền thông thuộc Chương trình Kiểm

soát mất cân bằng giới tính khi sinh với 1300 người tham dự. Tư vấn về giới và

giới tính khi sinh cho nam, nữ thanh niên đăng ký kết hôn tại UBND phường được

89 cặp. Tổng số trẻ sinh ra trong năm 2021 là 5.154 trẻ, trong đó số trẻ là nữ ước

tính 2.526 trẻ. Tỉ số giới tính khi sinh năm 2021 là 104 trẻ nam/100 trẻ nữ. Hoạt

động Y tế trên địa bàn quận trong thời gian qua đạt được nhiều thành tựu, hệ thống

y tế ngày càng phát triển, Bệnh viện quận, Trung tâm Y tế quận được đầu tư xây

dựng, bổ sung trang thiết bị cho Trạm Y tế phường. Toàn quận có 16/16 Trạm y

tế đều có Y sĩ sản nhi. Các chương trình chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng trên

địa bàn quận hoạt động thường xuyên có hiệu quả, đảm bảo việc chăm sóc sức

khỏe cho người dân. Nổi bật là chương trình khám bệnh cho đối tượng chính sách,

người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, các chương trình mục tiêu quốc

gia về phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm, HIV/AIDS, … đặc

biệt, quận đã kéo giảm khoảng cách mất cân bằng giới tính khi sinh. Trong thời

gian tới, quận tiếp tục tăng cường công tác thông tin, truyền thông bằng nhiều

hình thức đa dạng để ngăn ngừa việc lây truyền HIV từ mẹ sang con, tạo mọi điều

kiện để phụ nữ mang thai được tiếp cận thông tin dịch vụ chăm sóc và dự phòng

lây truyền HIV từ mẹ sang con [24].

43

2.2.2.6. Áp dụng pháp luật về BĐG trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể

dục, thể thao

Tiếp tục thực hiện tuyên truyền “Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình” bằng

nhiều hình thức đa dạng, phong phú, cổ động trực quan như: loa phát thanh, bảng

điện tử, áp phích, trang thông tin điện tử… theo từng chủ đề như: Ứng xử chung

trong gia đình, ứng xử của các mối quan hệ trong gia đình, kỹ năng giao tiếp giữa

các thành viên trong gia đình, xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghệ 4.0,...

qua đó, đã thực hiện 132 tin bài, 325 băng rôn, 621 lượt xe loa và đảm bảo tất cả

các hộ gia đình trên địa bàn đều được tiếp cận và hiểu rõ về “Bộ tiêu chí ứng xử

trong gia đình”.

Niêm yết bộ thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực trong phạm vi áp dụng

của hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO

9001:2008 thuộc Phòng Văn hóa và Thông tin, cụ thể trong lĩnh vực gia đình và

thư viện. Trong 15 năm qua, toàn quận (cấp quận và cấp phường) đã tổ chức hơn

500 cuộc truyền thông về Luật phòng chống bạo lực gia đình lồng ghép tuyên

truyền về BĐG và tư vấn giáo dục đời sống gia đình tại các phường với khoảng

3500 người tham dự, trong đó phụ nữ chiếm 85%; và tổ chức tập huấn 50 lớp với

hơn 2500 lượt người tham gia về kỹ năng hòa giải, tư vấn, quy trình can thiệp

BLGĐ ở cộng đồng, giao tiếp ứng xử văn hóa trong đời sống gia đình… cho các

thành viên trong Ban chỉ đạo và nhóm Phòng chống BLGĐ, CLB gia đình hạnh

phúc; tổ chức các buổi chuyên đề về phòng, chống xâm hại tình dục cho hơn

10.000 em nữ từ 6 đến 16 tuổi tham dự.

Tập huấn nghiệp vụ xử lý khi có BLGĐ xảy ra; các văn bản xử phạt hành

chính đối với người gây ra bạo hành. Kiến thức, thông tin về pháp luật phòng,

chống BLGĐ, BĐG trong gia đình, các nội dung pháp luật dân số, trẻ em. Quản

lý 186 mô hình tập hợp như: CLB xây dựng gia đình hạnh phúc, CLB Tiền hôn

nhân, CLB Đồng cảm, Tổ tin cậy cộng đồng, Tổ tư vấn cộng đồng, CLB Vươn

lên, CLB Vượt khó, CLB phụ nữ tham gia bảo vệ môi trường, CLB Dưỡng sinh,

CLB Nuôi dạy con tốt, CLB Phòng chống tệ nạn xã hội, CLB Phụ nữ với an toàn

giao thông, CLB Giúp việc nhà, CLB Nữ doanh nghiệp, CLB “Nữ chủ nhà trọ”,

44

với 6.730 thành viên. Duy trì sinh hoạt các CLB đội nhóm với nội dung hoạt động

theo từng quý, chuyên đề. Nội dung sinh hoạt bám sát theo từng đợt hoạt động và

công tác trọng tâm của hội [24].

Quận đã tập trung nâng cao chất lượng tuyên truyền về BĐG với nhiều hình

thức: phát thanh hàng ngày với các nội dung có liên quan đến BĐG; nhiều bài viết

về công tác BĐG được đăng trên trang website của quận. Tổ chức tuyên truyền về

các chính sách, pháp luật thông qua các hình thức: tài liệu hỏi đáp, tuyên truyền

miệng, tuyên truyền theo nhóm nhỏ, băng rôn, hội thi, chiến dịch truyền thông …

nhằm phổ biến các quy định của pháp luật về BĐG góp phần nâng cao nhận thức,

thay đổi hành vi của CBCC và các tầng lớp nhân dân về BĐG.

2.2.2.7. Áp dụng pháp luật về BĐG trong gia đình

Điều đáng quan tâm là tỉ lệ người dân có nhận thức đúng về các hành vi

BLGĐ là thấp. Những nguyên nhân khiến cho tình trạng bạo lực giới kéo dài và

diễn biến phức tạp bắt nguồn từ những khoảng trống trong hệ thống pháp luật và

thực thi pháp luật; việc phát hiện, tố cáo, xử lý người gây bạo lực và hỗ trợ nạn

nhân còn chưa kịp thời và có nhiều thiếu sót. Để phần nào khắc phục tình trạng

này, quận thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền phổ biến chủ trương

chính sách của Đảng, Nhà nước, chính sách pháp luật về Luật BĐG, Luật Phòng,

chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản dưới luật có

liên quan đến gia đình, phòng, chống BLGĐ, BĐG, trẻ em… Quận đã lồng ghép

nội dung về giới, BĐG trong tập huấn tuyên truyền về công tác gia đình, phòng,

chống BLGĐ.

Nội dung các tài liệu đã sử dụng tuyên truyền về pháp luật và các vấn đề xã

hội về giới, BĐG được phổ biến thông qua nhiều hình thức như đưa lên website

quận, tờ rơi, pa-nô, áp phích, bản tin, tuyên truyền miệng; tuyên truyền cổ động

trực quan; phổ biến dạng tài liệu phát tay, hội thi, tọa đàm, chuyên đề và trong các

đợt hoạt động cao điểm như Ngày Quốc tế Hạnh phúc (20/3), Ngày Gia đình Việt

Nam (28/6), Tháng hành động quốc gia về phòng, chống BLGĐ (Tháng 6), ngày

Quốc tế xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ (25/11) và tháng hành động vì BĐG và

phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới. Từ khi Luật BĐG và Luật Phòng, chống

45

bạo lực gia đình được ban hành, các ngành, đoàn thể các cấp đã nỗ lực tuyên

truyền nâng cao nhận thức chung về BĐG, về kiến thức kỹ năng phòng, chống

BLGĐ, thay đổi nhận thức chung đối với các tầng lớp nhân dân, cán bộ trong các

cơ quan nhà nước, có thẩm quyền, … đã góp phần thực hiện BĐG trong các lĩnh

vực xã hội và trong gia đình, giảm dần số vụ việc BLGĐ, số lượng các vụ việc

phát hiện do cộng đồng ngày càng nhiều hơn, can thiệp BLGĐ ngày càng có hiệu

quả [25].

Công tác tuyên truyền, vận động về phòng, chống BLGĐ, về BĐG trong lĩnh

vực gia đình đã có tác động nhất định đến từng gia đình, mọi người dân trong cộng

đồng. Góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư trong công tác phòng,

chống mua bán người, cán bộ làm công tác BĐG từ phường đến quận được Thành

phố mời tham gia các lớp tập huấn và hướng dẫn nghiệp vụ “Hỗ trợ nạn nhân bị

mua bán trở về”. Hoạt động phòng, chống BLGĐ đã được triển khai đến 16/16

phường, khu phố, tổ dân phố, nhiều biện pháp can thiệp BLGĐ đã được thực hiện

ở cộng đồng, vận động được sự tham gia rất tích cực của quần chúng nhân dân ở

khu phố theo mô hình phòng, chống BLGĐ mang lại kết quả tích cực.

2.3. Đánh giá việc áp dụng pháp luật về bình đẳng giới ở Ủy ban nhân

dân quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh

2.3.1. Nhận xét, đánh giá chung

Công tác BĐG luôn được lãnh đạo quận quan tâm và từng bước đạt được

những kết quả đáng khích lệ, hoạt động của Ban VSTBPN & BĐG Quận Gò Vấp

và cơ sở có nhiều chuyển biến, nhiều hoạt động thiết thực đến đời sống người lao

động được triển khai thực hiện như: đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm phù

hợp với năng lực, trình độ của chị em phụ nữ, nhiều chương trình vay vốn từ các

nguồn quỹ hỗ trợ cho chị em phụ nữ có thu nhập cải thiện đời sống gia đình, đồng

thời nâng cao năng lực, trình độ của phụ nữ; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho phụ

nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, CT-XH. Từ đó, người phụ nữ dù ở cương

vị, lĩnh vực nào trong gia đình hay ngoài xã hội đều phát huy được tiềm năng và

năng lực sẵn có; xây dựng nên hình ảnh người phụ nữ hiện đại, biết chu toàn gia

đình và góp phần cùng xã hội xây dựng đất nước bằng những việc làm thực tế và

46

hiệu quả [24, tr.1]. Công tác chỉ đạo, triển khai và tổ chức áp dụng pháp luật về

BĐG đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cấp, các ngành trong toàn quận

quan tâm chỉ đạo, do vậy việc thực hiện pháp luật về BĐG trên địa bàn quận đã

đạt được một số kết quả nhất định.

2.3.2. Về mặt ưu điểm

Quận tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao năng

lực, trình độ cho cán bộ nữ được quan tâm chỉ đạo, đã có nhiều cán bộ nữ được

đề bạt vào các chức danh chủ chốt, tỷ lệ nữ được kết nạp Đảng hàng năm đều

tăng; vị trí, vai trò của phụ nữ trên các lĩnh vực lao động, việc làm, y tế, giáo dục

đặc biệt là trong gia đình đã từng bước được cải thiện.

Quận đã tập trung lãnh đạo thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi

dưỡng, luân chuyển, bố trí cán bộ nữ vào các chức danh chủ chốt; trong đó rất

quan tâm đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ nữ giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý; luôn

tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ nữ tham gia các lớp bồi dưỡng, đào tạo trình

độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học. Thường xuyên theo dõi, phát hiện,

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ để cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng về trình

độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức.

Triển khai có hiệu quả các chương trình, Đề án về BĐG và vì sự tiến bộ

phụ nữ. Phối hợp liên ngành, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và đẩy mạnh công tác

truyền thông phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới đối với phụ nữ và trẻ em. Đảm

bảo 100% CBCCVC phụ trách công tác BĐG được tập huấn nâng cao năng lực

về lĩnh vực BĐG [24].

Trên cơ sở thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững của Thành phố,

thực hiện các chính sách hỗ trợ, chính sách cho đồng bào dân tộc đặc biệt là chính

sách BĐG, hỗ trợ cho vay ưu đãi đáp ứng được nhu cầu vay vốn làm ăn của hộ

nghèo, hộ cận nghèo, hỗ trợ phụ nữ vươn lên thoát nghèo bền vững. Tích cực chủ

động trong khâu tổ chức các lớp truyền thông, tập huấn nâng cao nhận thức và

năng lực về công tác BĐG; đồng thời cử cán bộ tham gia tích cực các lớp bồi

dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, các hội nghị, hội thảo tham vấn về công tác

47

BĐG do Thành phố tổ chức; từ đó nâng cao năng lực trong công tác chuyên môn

về BĐG.

Để đạt được một số thành tựu kể trên do một số nguyên nhân như sau:

Một là, thực hiện tốt công tác chỉ đạo cấp cơ sở. Công tác chỉ đạo, triển

khai và tổ chức thực hiện Luật BĐG đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các

cấp, các ngành trong toàn quận xác định tầm quan trọng, từ đó quan tâm chỉ đạo,

do vậy việc thực hiện pháp luật về BĐG trên địa bàn quận đã đưa đến một số kết

quả nhất định. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, tổ chức nhiều

lớp tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao năng lực, trình độ cho cán bộ

nữ được quan tâm chỉ đạo, đã có nhiều cán bộ nữ được đề bạt vào các chức danh

chủ chốt, tỉ lệ nữ được kết nạp Đảng hàng năm đều tăng; vị trí, vai trò của phụ nữ

trên các lĩnh vực lao động, việc làm, y tế, giáo dục đặc biệt là trong gia đình đã

từng bước được cải thiện.

Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau.

Các cấp ủy, chính quyền các cấp đã quan tâm chỉ đạo tuyên truyền cho toàn thể

cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân để nâng cao nhận thức, trách

nhiệm về công tác BĐG, trách nhiệm gia đình về công tác BĐG; trong xây dựng

chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương đã quan tâm đến các

yếu tố giới; phụ nữ chủ động, tích cực học tập nâng cao nhận thức, kỹ năng hoàn

thành tốt chức năng của mình trong gia đình và xã hội.

Ba là, tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Ngoài việc đẩy

mạnh tuyên truyền, giáo dục về chính sách ASXH, BĐG, Quận Gò Vấp tăng

cường phổ biến kiến thức, tập huấn kỹ năng bảo vệ, phòng ngừa bạo lực, xâm hại

cho phụ nữ và trẻ em thông qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, hoạt động sáng

tác, sân khấu hóa về chủ đề BĐG và bạo lực trên cơ sở giới. Tổ chức nhiều hoạt

động mang tính thiết thực hỗ trợ các nạn nhân, phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh khó

khăn.

Bốn là, nhận được sự quan tâm của chính quyền Thành phố. Sự hướng dẫn,

hỗ trợ kinh phí và thường xuyên quan tâm kịp thời từ lãnh đạo chính quyền Thành

phố đã tạo điều kiện cho Quận tổ chức thực hiện công tác BĐG được phong phú,

48

đa dạng hơn, nhận thức về giới, BĐG của CBCC, người dân ngày được nâng lên,

có nhiều chuyển biến tốt hơn.

2.3.3. Hạn chế và nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan dẫn đến tình trạng bất BĐG.

Hiện số lượng người tham gia công tác BĐG còn thiếu, cùng với đó là sự hạn chế

về kiến thức giới, kỹ năng lồng ghép giới... Dẫn đến việc tuyên truyền BĐG còn

hạn chế. Trong nhận thức và tư duy của một số cá nhân, đặc biệt là nam giới, vẫn

còn thiếu tôn trọng phụ nữ, thiếu tôn trọng những giá trị đóng góp mà phụ nữ

mang lại cho cuộc sống. Trong khi đó, người phụ nữ vẫn phải đảm đương công

việc trong gia đình nhiều hơn nam giới.

Những hạn chế trong áp dụng pháp luật về BĐG ở UBND quận Gò Vấp,

TP. Hồ Chí Minh, có thể tóm lược trong các nguyên nhân chính sau:

Một là, công tác chỉ đạo, giám sát, đánh giá của cấp ủy đảng, người đứng

đầu một số đơn vị chưa được kịp thời, sát sao. Công tác tuyên truyền về Luật Bình

đẳng giới của cấp ủy, chính quyền, hội phụ nữ ở một số cơ sở còn hạn chế Hoạt

động của Ban VSTBPN&BĐG ở một số cơ sở còn lúng túng, hiệu quả chưa cao.

Các kế hoạch triển khai thực hiện dựa trên kế hoạch cấp trên ban hành còn mang

tính hình thức, nội dung diễn đạt còn chung chung chưa gắn với điều kiện và tình

hình cụ thể của địa phương.

Hai là, Chế tài thực hiện Luật BĐG, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình

chưa mạnh, chưa xử lý nghiêm các hành vi BLGĐ. Trong triển khai công tác BĐG

một số đơn vị chưa thực sự hiểu rõ yêu cầu công việc này quan trọng, do đó sự

phối hợp đôi khi còn lúng túng, chưa hiệu quả. Trong quá trình thực hiện công tác

chuyên môn một số cơ quan, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức việc lồng ghép

vấn đề về giới, đặc biệt là trong quá trình xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt

động của ngành, địa phương.

Ba là, trong khâu chỉ đạo, điều hành, tại một số phường qua đánh giá chưa

thực sự quan tâm đến lĩnh vực công tác này (cán bộ chuyên trách còn kiêm nhiệm

quá nhiều lĩnh vực). Việc chấp hành chế độ thông tin báo cáo chưa nghiêm, thực

49

hiện chưa kịp thời. Nhân sự làm công tác BĐG vẫn thiếu tính ổn định, số lượng

công chức tham gia QLNN chuyên trách về công tác BĐG ở cơ sở còn ít.

Bốn là, Bản thân một số cán bộ, hội viên phụ nữ vẫn chưa thoát khỏi tâm

lý tự ti, ngại học tập, chưa chủ động sáng tạo trong công việc; tư tưởng định kiến

giới còn tồn tại trong nhân dân, kể cả trong một bộ phận CBCC [24].

Ngoài ra, công tác tuyên truyền về Luật BĐG của cấp ủy, chính quyền, Hội

liên hiệp phụ nữ ở một số cơ sở còn hạn chế. Thực hiện chế độ thông tin báo cáo,

thống kê số liệu thực hiện còn rất nhiều bất cập do chưa hình thành được cơ sở dữ

liệu và lồng ghép giới trên các lĩnh vực của ngành.

Tiểu kết Chương 2

Trên địa bàn quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh công tác BĐG đạt một số

thành tựu đáng kể như tỉ lệ nữ tham gia cấp ủy và giữ vai trò lãnh đạo trong các

cơ quan nhà nước ngày càng cao, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc

nâng cao nhận thức về giới trong sự phát triển của xã hội nói chung và gia đình

nói riêng. Khi xem xét về thực trạng vấn đề giới ở địa phương vẫn còn những bức

xúc, hạn chế trong gia đình như: Một số chị em phụ nữ vẫn phải dành phần lớn

thời gian cho những công việc nội trợ, vẫn còn tồn tại quan điểm “trọng nam khinh

nữ” trong quá trình sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia đình,

tình trạng BLGĐ vẫn còn xảy ra ở một số nơi…

Qua nghiên cứu và phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về BĐG trên địa

bàn quận Gò Vấp cho thấy mặc dù đã có sự tiến bộ và những nỗ lực đáng kể trong

việc bảo vệ quyền BĐG, vẫn còn rất nhiều thách thức và hạn chế tồn tại. Việc áp

dụng pháp luật về BĐG vẫn đòi hỏi sự nỗ lực liên tục và cam kết mạnh mẽ từ tất

cả các bên liên quan. Chỉ khi những nỗ lực này được thực hiện một cách hiệu quả,

chúng ta có thể tiến gần hơn đến một xã hội BĐG. Vì vậy, việc nghiên cứu thực

trạng về áp dụng pháp luật về BĐG để từ đó nêu rõ quan điểm và xây dựng giải

pháp nhằm hoàn thiện nội dung pháp lý về quyền BĐG ở Việt Nam nói chung và

ở Gò Vấp nói riêng là rất cần thiết. Cùng với các vấn đề khác, các điểm kết luận

sơ bộ trình bày trên đây sẽ được tập trung giải quyết trong chương 3 của Đề án.

50

51

Chương 3

QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VÀ LỘ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN ÁP

DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN

QUẬN GÒ VẤP, TP. HỒ CHÍ MINH

3.1. Quan điểm và giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật về bình đẳng

giới tại Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh

3.1.1. Quan điểm đảm bảo áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy

ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh

Thứ nhất, tăng cường vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng và chính quyền

quận Gò Vấp TP. Hồ Chí Minh trong áp dụng pháp luật về BĐG trên địa bàn quận.

Thứ hai, nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu trong áp dụng pháp luật về

Bình đẳng giới.

Thứ ba, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

trong áp dụng pháp luật về BĐG.

Thứ tư, định kỳ tổ chức giám sát, đánh giá và xử lý vi phạm trong áp dụng

pháp luật về BĐG tại địa phương.

Thứ năm, đảm bảo điều kiện vật chất và kỹ thuật để tổ chức thực hiện có hiệu

quả các quyết định áp dụng pháp luật về BĐG.

3.1.2. Giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban

nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh

Nhóm giải pháp chung

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về BĐG trong chính sách, pháp luật

Tiếp tục thực hiện chủ trương Chỉ thị 21-CT/TW ngày 20/1/2018 của Ban

Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới; Chiến lược quốc

gia về bình đẳng giới, lãnh đạo các cấp cần thường xuyên quan tâm, chú trọng công

tác phụ nữ, coi đây là một nội dung gắn với mọi chủ trương, chiến lược phát KT-

XH của quận; là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của công tác phụ nữ. Căn

cứ chủ trương, kế hoạch đến quá trình tổ chức thực hiện công tác phụ nữ đều được

52

cụ thể hóa, chi tiết với mục tiêu xác định rõ ràng, đưa ra giải pháp phù hợp, sát thực

tiễn, chú ý đến phân công nhiệm vụ, gắn trách nhiệm của người đứng đầu, thủ

trưởng các đơn vị có liên quan. Qua đó nâng cao nhận thức về BĐG trong chính

sách, pháp luật.

Thứ hai, thúc đẩy lồng ghép BĐG trong xây dựng chính sách, pháp luật

Thực hiện lồng ghép nội dung vấn đề BĐG trong xây dựng văn bản QPPL,

gồm: (1) Chủ động rà soát các nội dung liên quan đến vấn đề BĐG hoặc vấn đề

bất BĐG, phân biệt đối xử về giới. (2) Đưa ra các biện pháp cần thiết và mang

tính thực tế để thực hiện BĐG hoặc để giải quyết vấn đề bất BĐG, phân biệt đối

xử về giới. (3) Xác định nguồn nhân lực, tài chính cần thiết để triển khai.

Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện công tác BĐG còn mang tính

hình thức, thiếu những thông tin khoa học, thực hiện còn rập khuôn máy móc. Vì

vậy, trong quá trình thực hiện chính sách cần coi trọng lồng ghép BĐG nhằm thu

hẹp khoảng cách giữa các nhóm khác nhau trong xã hội.

Thứ ba, thúc đẩy thực thi chính sách, áp dụng pháp luật về BĐG đối với

mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội

Bảo đảm BĐG trong xây dựng pháp luật trên cơ sở mỗi người dân phải nỗ

lực nghiêm chỉnh thực hiện các chính sách bảo đảm BĐG đã được luật quy định.

Tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, tăng cường trách nhiệm của người

đứng đầu cơ quan, tổ chức trong thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp

luật của Nhà nước về cán bộ nữ và công tác cán bộ nữ; tập huấn, bồi dưỡng định

kỳ đối với nữ CBCCVC tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn quận. Thực hiện các

chính sách hỗ trợ nữ CBCCVC khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng; khuyến khích

cán bộ nữ học tập, nâng cao trình độ thông qua các chế độ đãi ngộ, ngân sách của

địa phương.

Thứ tư, thường xuyên theo dõi đôn đốc, quá trình thi hành chính sách, pháp

luật về BĐG của các cơ quan nhà nước có liên quan

Nâng cao hiệu quả công tác QLNN về BĐG, quan tâm đến việc lồng ghép

vấn đề BĐG lồng ghép trong kế hoạch phát triển KT - XH của các ngành và địa

53

phương. Cấp ủy và lãnh đạo các cấp chú trọng công tác quy hoạch gắn với công

tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nữ đáp ứng yêu

cầu tình hình mới. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, thủ trưởng cơ

quan tổ chức trong việc thực hiện các quy định về BĐG [24].

Tiếp tục triển khai, thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu được giao căn cứ tại các

văn bản sau: (1) Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 03/8/2020 của Chủ tịch UBND TP.

Hồ Chí Minh về đẩy mạnh công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình

trên địa bàn Thành phố; (2) Kế hoạch 1327/QĐ-UBND ngày 04/5/2022 về triển

khai thực hiện Chiến lược phát triển gia đình trong tình hình mới giai đoạn 2022-

2030 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh; (3) Quyết định 1439/QĐ-UBND ngày

29/4/2022 về ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày

13/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phòng, chống

bạo lực gia đình trong tình hình mới đến năm 2025 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh;

(4) Quyết định số 1560/QĐ-UBND ngày 10/5/2022 về ban hành Kế hoạch triển

khai thực hiện Quyết định số 96/QĐ-TTg ngày 19/01/2022 của Thủ tướng Chính

phủ về phê duyệt Chương trình giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình đến năm

2030 và Bộ Tiêu chí ứng xử trong gia đình trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh; (5)

Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 15/4/2021 của UBND Thành phố về phê

duyệt Đề án “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá gia đình hạnh phúc ở TP. Hồ

Chí Minh giai đoạn 2021-2030”.

Thứ năm, tiếp tục công tác xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu cản trở việc

thực hiện chính sách, pháp luật nói chung và công tác BĐG nói riêng

Thực hiện nội dung nhiệm vụ trong các chương trình, kế hoạch phối hợp

về công tác phòng, chống BLGĐ với các cơ quan, đơn vị và UBND phường trên

địa bàn quận. Duy trì, nhân rộng các mô hình phòng, chống BLGĐ; các CLB gia

đình phát triển bền vững; các đội, nhóm phòng, chống BLGĐ trên địa bàn quận.

Tuyên truyền, vận động gia đình và cộng đồng tích cực thực hiện công tác

phòng, chống BLGĐ gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết dựng đời sống văn

hóa”. Triển khai và thu thập số liệu thống kê các hoạt động hỗ trợ các đối tượng

là nạn nhân BLGĐ, đối với người gây BLGĐ được tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ, tư

54

vấn và trong một số trường hợp chính quyền cần can thiệp. Đa dạng hoá nội dung,

hình thức tuyên truyền nâng cao nhận thức về BĐG, vai trò, vị trí của phụ nữ trong

xã hội, nhận thức sâu sắc về giới và bình đẳng giới thực chất trong xã hội phù hợp

với yêu cầu phát triển trong tình hình mới.

Thứ sáu, thực hiện công tác giám sát, quy hoạch, bổ nhiệm và giới thiệu

nhân sự nữ trong hệ thống chính trị trên địa bàn quận

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết Chỉ thị 21-CT/TW;

kịp thời khen thưởng, biểu dương, nhân rộng những điển hình tiên tiến trong công

tác Hội và phong trào phụ nữ trên địa bàn toàn Quận. Tiếp tục thực hiện công tác

giám sát, quy hoạch, bổ nhiệm và giới thiệu nhân sự nữ vào các vị trí chủ chốt của

các đơn vị trên địa bàn quận; đồng thời, quan tâm chỉ đạo Chi, Đảng bộ cơ sở báo

cáo thông tin, dữ liệu nhân sự cấp ủy Đảng để cập nhật nhân sự biến động nhằm

giới thiệu bầu bổ sung nhân sự tham gia cấp ủy Đảng, đảm bảo duy trì và phát

triển chỉ tiêu nữ nhiệm kỳ 2021 - 2025. Rà soát, đảm bảo cơ hội bình đẳng cho

phụ nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cơ quan, đơn vị thuộc

quận và 16 phường.

Nhóm giải pháp cụ thể

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác truyền thông - giáo dục nhằm nâng cao hơn

nữa nhận thức pháp luật về BĐG đối với các chủ thể thực hiện

Nhằm nâng cao nhận thức về BĐG, cần áp dụng những biện pháp khác

nhau trên cơ sở lồng ghép công tác truyền thông sâu rộng vào các trường học để

truyền tải thông điệp về vấn đề BĐG. Như vậy, bảo vệ và thúc đẩy BĐG là nghĩa

vụ, trách nhiệm của mọi cá nhân, chủ thể. Xây dựng các chương trình giáo dục về

BĐG. Đảm bảo rằng các chương trình giáo dục trong trường học và các tổ chức

giáo dục khác có một phần học về BĐG. Điều này có thể bao gồm việc giảng dạy

về quyền lợi và tự do của phụ nữ, vai trò của nam giới trong việc thúc đẩy BĐG,

và phản đối các thành kiến và định kiến liên quan đến giới tính. Khuyến khích và

hỗ trợ các nhà làm phim, nhà báo, nhà viết sách và các nghệ sĩ khác để tạo ra các

tác phẩm truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về BĐG. Điều này có thể là các

55

bộ phim, sách, bài viết, bài hát và nghệ thuật khác có nội dung và thông điệp tích

cực về vai trò và quyền lợi của cả nam và nữ.

Cung cấp nền tảng và tổ chức các sự kiện, diễn đàn và buổi thảo luận để

mọi người có thể chia sẻ quan điểm và trao đổi ý kiến, từ đó xây dựng được một

sự nhất quán và thay đổi nhận thức xã hội về BĐG. Đảm bảo quyền truy cập đến

giáo dục và thông tin: Để thúc đẩy BĐG, cần đảm bảo rằng tất cả mọi người, bất

kể giới tính, có quyền truy cập vào giáo dục chất lượng và thông tin đúng đắn.

Điều này có thể bao gồm việc cung cấp học bổng, chương trình đào tạo và tài liệu

giáo dục miễn phí cho những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Ngoài ra, cần

đảm bảo rằng thông tin về BĐG được phổ biến rộng rãi và dễ dàng tiếp cận thông

qua các kênh truyền thông và công nghệ hiện đại. Những hoạt động này có thể

góp phần xây dựng một xã hội BĐG, nơi mọi người đều có quyền được công nhận

và tôn trọng, đồng thời khuyến khích sự phát triển và thể hiện đầy đủ tiềm năng

của mình. Đảm bảo rằng các chương trình giáo dục trong trường học và các tổ

chức giáo dục khác có một phần học về BĐG. Điều này có thể bao gồm việc giảng

dạy về quyền lợi và tự do của phụ nữ, vai trò của nam giới trong việc thúc đẩy

BĐG, và phản đối các thành kiến và định kiến liên quan đến giới tính.

Tích cực đưa nội dung về BĐG vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục, sáng

tạo trong cách làm đặc biệt ở các cấp trung học phổ thông, trung học cơ sở và tiểu

học; Thực hiện tốt giải pháp này cũng chính là đã thực hiện tốt Quyết định số

2146/QĐ-UBND ngày 22/3/2011 của UBND TP. Hồ Chí Minh về thực hiện Chiến

lược về BĐG giai đoạn 2011 - 2020.

Thứ hai, tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao hiệu quả trong quá trình

áp dụng pháp luật về BĐG

Thiết lập cơ quan giám sát độc lập có nhiệm vụ kiểm tra và giám sát việc

thực hiện pháp luật về BĐG. Cơ quan này nên có quyền hạn và nguồn lực đủ để

thực hiện nhiệm vụ một cách chính xác và hiệu quả. Luôn định rõ tiêu chuẩn và

chỉ số đánh giá để đo lường hiệu quả áp dụng pháp luật về BĐG. Điều này giúp

đánh giá và theo dõi tiến trình và kết quả, từ đó xác định được các điểm yếu và

cải thiện quá trình thực hiện. Bên cạnh đó việc đào tạo và nâng cao nhận thức cho

56

nhân viên liên quan để nâng cao nhận thức về pháp luật về BĐG và cung cấp kỹ

năng cần thiết để áp dụng chúng một cách hiệu quả. Đào tạo có thể bao gồm việc

giới thiệu về quyền và nguyên tắc BĐG, phương pháp giám sát và kiểm tra, và

cách xử lý vi phạm. Tạo ra cơ chế phản hồi và báo cáo cho công chúng và những

người liên quan, để nhận thông tin về các vi phạm và tiến hành xử lý, đồng thời

khuyến khích sự minh bạch và trách nhiệm trong quá trình áp dụng pháp luật về

BĐG. Không quên việc hợp tác và đối thoại với các tổ chức xã hội dân sự như các

tổ chức phụ nữ, tổ chức về quyền con người và các nhóm chuyên gia. Điều này

giúp tận dụng kiến thức và kinh nghiệm từ các tổ chức này, đồng thời tạo ra sự

minh bạch và đảm bảo quyền lợi của những người bị vi phạm. Thường xuyên

đánh giá hiệu quả và tác động của pháp luật về BĐG và đưa ra các cải tiến và điều

chỉnh cần thiết để nâng cao quá trình áp dụng. Điều này có thể bao gồm việc tiến

hành nghiên cứu, công bố các báo cáo và tổ chức các diễn đàn để thảo luận và

phản hồi về hiệu quphí của pháp luật hiện hành. Tổng hợp lại, tăng cường kiểm

tra, giám sát và nâng cao hiệu quả trong quá trình áp dụng pháp luật về BĐG đòi

hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng và sự hợp tác giữa các bên liên quan. Việc tạo ra cơ chế

giám sát độc lập, định rõ tiêu chuẩn, đào tạo nhân viên, tạo cơ chế phản hồi và

báo cáo, hợp tác với tổ chức xã hội dân sự và đánh giá pháp luật là những biện

pháp quan trọng để đảm bảo tuân thủ và nâng cao hiệu quả của pháp luật về BĐG.

Thứ ba, nâng cao vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ

Tăng cường việc đào tạo và nâng cao nhận thức cho thành viên của Hội

Liên hiệp Phụ nữ và UBND quận Gò Vấp về quyền và nguyên tắc BĐG, nhận

thức về vai trò của họ trong việc thúc đẩy BĐG và các kỹ năng cần thiết để áp

dụng pháp luật. Đào tạo có thể bao gồm cung cấp thông tin về quyền lợi và bảo

vệ pháp lý của phụ nữ, phương pháp xử lý vi phạm và nâng cao nhận thức về tầm

quan trọng của BĐG trong phát triển cộng đồng. Tạo môi trường hợp tác và đối

thoại giữa Hội Liên hiệp Phụ nữ và UBND quận Gò Vấp. Các bên có thể họp định

kỳ để thảo luận về các vấn đề liên quan đến BĐG, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm

và cùng nhau xây dựng các giải pháp và chính sách nhằm thúc đẩy BĐG. Điều

này giúp tăng cường sự hiểu biết và sự hỗ trợ giữa các bên, đồng thời tạo ra sự

57

đồng thuận và cam kết trong việc thực hiện pháp luật. Thường xuyên quảng bá và

tuyên truyền về BĐG và vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ. Các hoạt động này có

thể bao gồm tổ chức hội thảo, buổi tọa đàm, chiếu phim, triển lãm và các hoạt

động xã hội khác nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền lợi và vai trò

của phụ nữ, đồng thời khích sự tham gia và ủng hộ trong việc thực hiện pháp luật

về BĐG. Xây dựng chính sách và chương trình hỗ trợ Hội Liên hiệp Phụ nữ, bên

cạnh đó UBND quận Gò Vấp có thể đóng vai trò trong việc xây dựng chính sách

và chương trình hỗ trợ nhằm thúc đẩy BĐG. Điều này có thể bao gồm việc đề

xuất các chương trình giáo dục, hỗ trợ tài chính, đào tạo nghề, và các dịch vụ hỗ

trợ khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh

tế, xã hội và chính trị. Qua đó tiến hành đánh giá và theo dõi việc thực hiện pháp

luật về BĐG và vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ. Điều này giúp công tác đánh

giá hiệu quả của các biện pháp đã được áp dụng và đề xuất các điều chỉnh cần

thiết để nâng cao hiệu quả trong thời gian đến đạt kết quả hơn. Như vậy, để nâng

cao vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp tại UBND Quận Gò Vấp trong việc

thực hiện pháp luật về BĐG, cần tăng cường đào tạo, tạo môi trường hợp tác và

đối thoại, quảng bá và tuyên truyền, xây dựng chính sách và chương trình hỗ trợ,

và đánh giá và theo dõi quá trình thực hiện. Điều này đòi hỏi sự hợp tác giữa các

bên liên quan và cam kết vững chắc trong việc thúc đẩy BĐG và tạo điều kiện

thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của xã hội.

Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động của các Câu lạc bộ “Phụ nữ với pháp luật”

Đây là một loại hình hoạt động mới của Hội Liên hiệp Phụ nữ. CLB “Phụ

nữ với pháp luật” ra đời với mục đích hỗ trợ, tư vấn đầy đủ và kịp thời cho những

phụ nữ và hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ trong trường hợp bị xâm phạm quyền

và lợi ích chính đáng. Tiến hành hỗ trợ, duy trì và nhân rộng các mô hình phòng,

chống BLGĐ; các đội, nhóm tham gia phòng, chống BLGĐ trên địa bàn quận.

Cung cấp các khóa đào tạo về pháp luật và quyền BĐG cho các thành viên

trong CLB. Điều này giúp nâng cao kiến thức pháp lý và nhận thức về quyền lợi

của phụ nữ trong hệ thống pháp luật. Các hoạt động tư vấn cũng có thể cung cấp

thông tin, hỗ trợ và giúp đỡ cho phụ nữ khi họ gặp phải các vấn đề liên quan đến

58

BĐG. Tổ chức các buổi hội thảo, cuộc trò chuyện và sự kiện liên quan đến pháp

luật và BĐG. Đây là cơ hội để các thành viên trong CLB gặp gỡ, trao đổi thông

tin và chia sẻ kinh nghiệm. Các diễn giả, chuyên gia và những người có ảnh hưởng

trong lĩnh vực này có thể được mời để chia sẻ kiến thức và thông tin mới nhất.

Tạo mối liên kết và hợp tác với các tổ chức phụ nữ, tổ chức phi chính phủ và cơ

quan chính phủ có liên quan. Bằng cách xây dựng mạng lưới, CLB có thể chia sẻ

nguồn lực, kinh nghiệm và thông tin, đồng thời tăng cường sức mạnh và tầm ảnh

hưởng của mình trong việc thúc đẩy BĐG và áp dụng pháp luật. Thường xuyên

duy trì một nền tảng truyền thông và thông tin cho CLB, bao gồm website, cổng

thông tin, blog hoặc các kênh truyền thông xã hội. Điều này giúp lan truyền thông

tin, chia sẻ tài liệu và tạo ra một cộng đồng trực tuyến để các thành viên có thể

giao tiếp và tương tác.

Thành lập CLB để phụ nữ có thể tham gia vào các hoạt động xã hội và

chính trị liên quan đến BĐG. Đây có thể là việc tham gia vào các cuộc biểu tình,

đóng góp ý kiến vào quyết định chính sách hoặc tham gia vào các chiến dịch vận

động cho quyền và BĐG của phụ nữ. Tạo cơ hội kết nối và trao đổi kinh nghiệm

thân thiện và hỗ trợ trong CLB để các thành viên có thể kết nối, trao đổi kinh

nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau. Điều này có thể bao gồm tổ chức các buổi gặp mặt

định kỳ, nhóm thảo luận hoặc các hoạt động gắn kết khác như nhóm đọc sách,

buổi họp nhóm, hoặc các hoạt động xã hội. Luôn đưa ra các chiến dịch và hoạt

động để tăng cường nhận thức về quyền và BĐG của phụ nữ trong cộng đồng.

Các hoạt động này có thể bao gồm viết bài, phát sóng, hoặc chia sẻ thông tin trên

các phương tiện truyền thông để lan truyền thông điệp và nâng cao nhận thức của

công chúng. CLB có thể nắm bắt các cơ hội để đưa ra đề xuất chính sách, tham gia

vào cuộc họp, phiên thảo luận hoặc chia sẻ ý kiến với các cơ quan chính phủ hoặc

tổ chức có trách nhiệm đưa ra quyết định và đảm bảo rằng CLB tạo ra một môi

trường hỗ trợ, an toàn và không phân biệt đối với tất cả thành viên. Điều này đảm

bảo rằng phụ nữ có thể tham gia hoạt động một cách tự do và không gặp rào cản

hay áp lực bất hợp lý. Luôn tìm kiếm cơ hội liên kết và hợp tác với các CLB và tổ

chức tương đồng khác có mục tiêu và quan điểm tương tự. Bằng cách làm việc cùng

59

nhau, các CLB có thể tăng cường tầm ảnh hưởng và hiệu quả của hoạt động của

mình.

Thứ năm, nâng cao vai trò của giới nữ trong áp dụng pháp luật về BĐG

Để nữ giới có vai trò mạnh mẽ trong áp dụng pháp luật về BĐG, cần tăng

cường giáo dục và nhận thức về quyền và BĐG. Điều này có thể bao gồm việc

cung cấp thông tin, đào tạo và giáo dục về quyền và BĐG cho phụ nữ và cộng

đồng, đồng thời tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào quy trình pháp lý và hệ

thống tư pháp. Luôn đảm bảo rằng quyền và BĐG được thể hiện trong pháp luật,

cần tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quyết định chính sách và quy trình

lập pháp. Qua đó cần cần tăng cường quyền truy cập vào công lý và hệ thống tư

pháp, đảm bảo quyền truy cập công bằng và không phân biệt đối xử trong hệ thống

tư pháp, và xây dựng một môi trường an toàn và tin cậy để phụ nữ có thể tìm kiếm

công lý khi gặp phải vi phạm liên quan đến BĐG.

Đổi mới pháp luật có thể cần thiết để đáp ứng các thách thức mới về BĐG

và đảm bảo quyền và BĐG của phụ nữ được thực hiện một cách hiệu quả. Cần

thúc đẩy việc xem xét, sửa đổi và thiết kế lại các quy định pháp luật hiện hữu để

đảm bảo tính BĐG, đồng thời đảm bảo sự tham gia và đại diện của phụ nữ trong

quá trình đổi mới pháp luật. Tổ chức các chương trình giáo dục, hội thảo, buổi tư

vấn và chiến dịch thông tin để nâng cao nhận thức và kiến thức của phụ nữ về

quyền lợi của mình luôn để cho phụ nữ có đủ cơ hội và tài nguyên để tham gia

vào quá trình áp dụng pháp luật. Điều này có thể bao gồm việc cung cấp hỗ trợ

pháp lý và tư vấn miễn phí, xây dựng các cơ sở pháp lý gần nhà, giảm thiểu rào

cản tài chính và văn bằng giới tính, và tạo ra một môi trường an toàn và tin cậy

cho phụ nữ khi tiếp cận hệ thống pháp luật. Mặc khác cần khuyến khích phụ nữ

tham gia và đại diện trong các cơ quan pháp luật, bao gồm tư pháp, công an, luật

sư và tòa án. Đồng thời, tăng cường áp dụng và tuân thủ pháp luật BĐG thông

qua việc đào tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát và truy cứu trách nhiệm. Xây

dựng mạng lưới và hợp tác giữa các tổ chức phụ nữ, cơ quan HCNN, tổ chức phi

chính phủ và xã hội dân sự để tăng cường sức mạnh và tầm ảnh hưởng của phụ

nữ trong áp dụng pháp luật về BĐG.

60

3.2. Lộ trình tổ chức thực hiện Đề án

Trước tiên, để làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến Luật BĐG và các

văn bản hướng dẫn liên quan đến BĐG nhằm UBND quận cần nâng cao nhận thức

của cá nhân, tổ chức trên địa bàn quận về vị trí, vai trò ý nghĩa của Luật Bình đẳng

giới. Mặc dù luật về BĐG đã ban hành từ lâu (năm 2006) tuy nhiên nhiều cơ quan,

tổ chức còn nhận thức sơ sài, thực hiện mang tính qua loa, đại khái đôi khi còn

hình thức.

Hai là, thúc đẩy giáo dục và tạo nhận thức về BĐG trong xã hội trên địa

bàn thông qua việc tích cực giảng dạy về BĐG trong hệ thống giáo dục, tổ chức

các chương trình tuyên truyền và giáo dục cộng đồng, và tạo ra các dịp để thảo

luận và nâng cao nhận thức về quyền BĐG. Các quy định và chính sách có thể

được điều chỉnh dựa trên các kết quả đánh giá và phản hồi từ cộng đồng tham dự.

Cần đẩy mạnh giáo dục về BĐG trong hệ thống giáo dục, từ cấp tiểu học đến đại

học. Đồng thời, cần tổ chức các chương trình tuyên truyền, hội thảo và hoạt động

xã hội nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề BĐG trong cộng đồng.

Ba là, việc nghiên cứu và đánh giá tình hình BĐG tại địa phương cần thực

hiện chuyên sâu. Điều này bao gồm việc thu thập dữ liệu và thông tin về tình hình

hiện tại, nhận diện các vấn đề và thách thức đang tồn tại, và xác định mục tiêu cụ

thể cho Đề án. Tăng cường việc sản xuất dữ liệu và nghiên cứu về BĐG để hiểu

rõ hơn về tình hình hiện tại và đánh giá hiệu quả của các biện pháp thực hiện.

Bốn là, UBND Quận Gò Vấp cần tham mưu luật pháp và chính sách rõ ràng

và mạnh mẽ về BĐG nên đảm bảo việc ban hành và thực thi các luật bảo vệ quyền

BĐG. Đẩy mạnh công tác xóa bỏ thành kiến và định kiến xã hội liên quan đến

giới tính. Điều này có thể đạt được thông qua việc xây dựng các chiến dịch tuyên

truyền, chương trình giáo dục, và các hoạt động xã hội nhằm thúc đẩy sự chấp

nhận và tôn trọng đối với sự đa dạng giới tính và vai trò giới tính đa dạng. Điều

này bao gồm việc thúc đẩy quyền BĐG trong quy trình chính trị, khuyến khích sự

đại diện của phụ nữ trong các cơ quan quyết định và kinh doanh, và hỗ trợ phụ nữ

trong việc tiếp cận và tham gia vào các nguồn lực và cơ hội kinh tế.

61

Năm là, đối với chính bản thân người phụ nữ cần xây dựng tư duy không

ngừng rèn luyện về phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm, nâng cao trình độ

năng lực, luôn tự tin, phát huy tinh thần hợp tác, tương thân tương ái, chủ động

giải quyết những tình huống đặt ra đối với bản thân, gia đình và trong cuộc sống.

Sáu là, thông qua những nội dung trên cần hợp tác với các tổ chức liên quan

đến BĐG, chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau từ việc nâng cao vấn đề BĐG.

Lưu ý trong quá trình thực hiện đề án áp dụng pháp Luật Bình đẳng giới

cần được đánh giá và điều chỉnh định kỳ để đảm bảo hiệu quả và thích ứng với

tình hình thực tế.

Tiểu kết Chương 3

Nội dung của Chương 3 đã tập trung làm rõ giải pháp và lộ trình đề án áp

dụng pháp luật về BĐG ở UBND Quận Gò Vấp hiện nay. Tác giả đưa ra hai nhóm

giải pháp: nhóm giải pháp chung đảm bảo áp dụng pháp luật về BĐG và nhóm

giải pháp cụ thể đảm bảo hiệu quả việc áp dụng pháp luật tại UBND quận Gò Vấp,

TP. Hồ Chí Minh. Những giải pháp mà Đề án trình bày trên cơ sở việc phân tích

lý luận về Luật Bình đẳng giới, đặc điểm áp dụng pháp Luật Bình đẳng giới ở

UBND Quận Gò Vấp và thực trạng áp dụng pháp luật về BĐG, đồng thời tác giả

tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm để vận dụng pháp luật về BĐG ở UBND

Quận Gò Vấp. Các giải pháp nêu trên là một thể hoàn chỉnh, vừa độc lập nhưng

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất của hệ thống giải quyết

vấn đề.

62

KẾT LUẬN

Trong quá trình áp dụng pháp luật về BĐG đã thể hiện một số ưu điểm nhất

định. Vẫn còn đó những điểm chưa phù hợp như nhiều quy định của pháp luật vẫn

còn trên văn bản, chưa thật sự đi vào thực tế cuộc sống, giữa quy định và thực tế

vẫn còn khoảng cách nhất định. Trong phạm vi có hạn của Đề án, tác giả đã tiến

hành nghiên cứu phân tích, tường minh những vấn đề cơ bản về lý luận và thực

tiễn thực hiện pháp luật về BĐG, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ của

mình vào sự phát triển của phụ nữ quận và hoàn thiện các quy định bảo đảm BĐG

của hệ thống pháp luật. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bộ,

chính quyền quận Gò Vấp, sự quan tâm của các ban ngành, đoàn thể công tác BĐG,

vì sự tiến bộ phụ nữ tại quận được thực hiện thường xuyên, liên tục. Trong đó nhiều

chương trình, mục tiêu được triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tế tại

địa phương đã góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện công tác BĐG, vì sự tiến

bộ phụ nữ trên địa bàn quận. Công tác áp dụng pháp luật về BĐG ở UBND Quận

Gò Vấp trong thời gian qua đã được lãnh đạo Quận uỷ, HĐND, UBND Quận Gò

Vấp quan tâm, chú trọng và đã đạt được những kết quả nhất định. So với xu thế

phát triển xã hội hiện nay và yêu cầu thực tế thì việc áp dụng pháp luật về BĐG vẫn

còn một số tồn tại, hạn chế cần giải quyết. Những tồn tại, hạn chế đó xuất phát từ

nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, đặt ra cho cấp uỷ Đảng và

chính quyền Quận Gò Vấp phải có những giải pháp khắc phục thực hiện một cách

đồng bộ.

Trước thực trạng đặt ra yêu cầu toàn bộ hệ thống chính trị ở quận Gò Vấp

phải vào cuộc, quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật

của Nhà nước về vấn đề này, đổi mới nhận thức và phương pháp quản lý, tổ chức

thực hiện, ưu tiên đầu tư các nguồn lực và thực hiện đồng thời, đồng bộ các giải

pháp chung và riêng mà Đề án đã đề xuất. Với tư duy và nỗ lực như vậy, chắc

chắn nội dung áp dụng pháp luật về BĐG ở UBND Quận Gò Vấp sẽ được bảo

đảm tốt hơn trong thời gian tới.

63

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Ban Bí thư Trung ương Đảng (2013), Kết luận số 55-KL/TW tiếp tục đẩy

mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị

khóa X “về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước”;

[2] Bộ Chính trị (2007), Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 về công tác

phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

[3] Bộ luật Lao động (2019);

[4] Bộ luật Dân sự (2015);

[5] Chính phủ (2008), Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04/6/2008 quy định

chi tiết thi hành một số điều của Luật bình đẳng giới về trách nhiệm quản lý

nhà nước về bình đẳng giới và phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bình

đẳng giới;

[6] Chính phủ (2009), Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009 quy định

chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống bạo lực

gia đình;

[7] Chính phủ (2009), Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 quy định

về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới;

[8] Chính phủ (2021), Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của

Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình

đẳng giới;

[9] Đảng bộ Quận Gò vấp (2020), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XII

(nhiệm kỳ 2020-2025), TP. Hồ Chí Minh;

[10] Nguyễn Thị Phương (2021), Nghiên cứu đánh giá thực trạng và vai trò gia

đình trong việc thực hiện bình đẳng giới tại TP. Hồ Chí Minh, Sở Khoa học

và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh;

[11] Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013);

[12] Luật Bình đẳng giới (2006);

[13] Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2007);

64

[14] Luật Cán bộ, công chức (2008);

[15] Luật Hôn nhân và gia đình (2014);

[16] Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (2015);

[17] Luật Giáo dục (2019);

[18] Hoàng Mai (2017), Khung thể chế, chính sách về BĐG trong hoạt động công

vụ ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước số 252 (1/2017), tr.79-83;

[19] Lê Thị Quý (2013), “Bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa

học xã hội, số 2/2013, tr.76-81, Hà Nội;

[20] Học viện Hành chính Quốc gia (2020), Giáo trình Quản lý nhà nước về

Bình đẳng giới, NXB. Bách khoa Hà Nội, Hà Nội;

[21] Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số 515/QĐ-TTg ngày 31/3/2016

phê duyệt Đề án thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với cán

bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2020;

[22] Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp (2012), Chương trình thực hiện “Chiến

lược Quốc gia về BĐG trên địa bàn quận Gò Vấp giai đoạn 2011 - 2020”

ban hành kèm theo Quyết định số 3921/QĐ-UBND ngày 30/7/2012 của Ủy

ban nhân dân quận Gò Vấp;

[23] Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp (2017), Kế hoạch số 1077/KH-UBND ngày

13/03/2017 của Ủy ban nhân dân quận về thực hiện biện pháp bảo đảm

bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn quận

từ nay đến năm 2020;

[24] Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp (2022), Báo cáo đánh giá 15 năm thi hành

luật bình đẳng giới;

[25] Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp (2022), Kế hoạch số 5120/KH-UBND ngày

30/12/2022 của về thực hiện “Chiến lược, Chương trình quốc gia về bình

đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới trên địa bàn

quận đến năm 2030”;

[26] Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp (2023), Báo cáo Sơ kết 05 năm thực hiện

Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư (Khóa XII) và Thông

tri số 23-TT/TU của Ban Thường vụ Thành ủy về tiếp tục đẩy mạnh công

65

tác phụ nữ trong tình hình mới;

[27] Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2016), Báo cáo sơ kết 05 năm thực hiện

Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ giai đoạn 2011-

2015 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và triển khai kế hoạch giai đoạn 2016-

2020.

Website tham khảo:

https://dangcongsan.vn

https://chinhphu.vn

https://moha.gov.vn/cong-tac-can-bo-phu-nu

https://vietnam.unfpa.org

https://govap.hochiminhcity.gov.vn

66