BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ ĐOÀN TRÚC MAI
“ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH”
ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật Hành chính
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 2 NĂM 2024
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ ĐOÀN TRÚC MAI
“ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH”
ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật Hành chính
Mã số: 8380102
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. LÊ VĂN QUYẾN
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 2 NĂM 2024
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong Đề án là trung thực, được các cơ quan cho phép sử
dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Học viên
Lê Đoàn Trúc Mai
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và nghiên cứu, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành
đến quý lãnh đạo và toàn thể các thầy/cô Học viện Hành Hành chính Quốc gia đã
cung cấp cho tôi môi trường học tập và nghiên cứu thuận lợi. Những kiến thức và
kinh nghiệm mà tôi đã học được từ sự truyền dạy của các thầy/cô là vô cùng quý
giá và sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của tôi trong tương lai.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Lê Văn Quyến người thầy đã dành
thời gian và tâm huyết hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu. Sự thông thái, kiến thức và tận tâm của thầy đã giúp tôi phát triển và
hoàn thiện đề tài này.
Đồng thời cá nhân tôi không thể quên sự giúp đỡ và động viên từ gia đình,
bạn bè và những người thân yêu. Những lời động viên, sự tin tưởng và tình yêu
thương của các anh chị đồng nghiệp và anh chị khóa học đã truyền động lực mạnh
mẽ cho tôi trong những thời điểm khó khăn. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất
đến tất cả.
Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả những người
đã góp ý cho tôi vào quá trình hoàn thiện Đề án này. Cảm ơn mọi người rất nhiều.
Trân trọng !
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Nội dung Chữ viết tắt
1 Ủy ban nhân dân UBND
2 Hội đồng nhân dân HĐND
Vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới VSTBPN & BĐG 3
4 Bạo lực gia đình BLGĐ
5 Câu lạc bộ CLB
6 Trung học phổ thông THPT
7 Nhà xuất bản NXB
8 Xã hội chủ nghĩa XHCN
9 Quản lý nhà nước QLNN
10 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH-HĐH
11 Kinh tế - Xã hội KT-XH
12 Chính trị - Xã hội CT-XH
13 Quy phạm pháp luật QPPL
14 Khoa học và công nghệ KH&CN
15 Thành phố TP
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ...................................................................................................1 1. Lý do xây dựng Đề án .......................................................................................1 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đề án .............................................................2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ....................................................................6 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................7 5. Phương pháp nghiên cứu: ..................................................................................7 6. Hiệu quả và lợi ích của Đề án ứng dụng trong thực tiễn ..................................8 7. Kết cấu của đề án ..............................................................................................8 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN .........................9 1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật về bình đẳng giới .........9 1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật về bình đẳng giới ......................................9 1.1.2. Đặc điểm của áp dụng pháp luật về bình đẳng giới .............................. 14 1.1.3. Vai trò của áp dụng pháp luật về bình đẳng giới ................................... 17 1.2. Cơ sở pháp lý áp dụng pháp luật về bình đẳng giới .................................... 19 1.2.1. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị .............. 21 1.2.2. Áp dụng pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm ................................................................................................................... 21 1.2.3. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ......................................................................................................................... 23 1.2.4. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ ................................................................................................................. 24 1.2.5. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế ..................... 25 1.2.6. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao .............................................................................................. 25 1.2.7. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình ............................ 26 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới áp dụng pháp luật về bình đẳng giới ................. 27 1.3.1. Hoạt động xây dựng pháp luật .............................................................. 27 1.3.2. Trình độ văn hóa pháp lý của cán bộ và nhân dân ................................ 28 1.3.3. Công tác tổ chức và cán bộ của các cơ quan áp dụng pháp luật ........... 29 1.3.4. Hoạt động của các cơ quan áp dụng pháp luật ...................................... 29 1.3.5. Các văn bản áp dụng pháp luật ............................................................. 29 1.3.6. Ý thức pháp luật .................................................................................... 30 1.3.7. Những điều kiện vật chất, kỹ thuật đảm bảo cho hoạt động áp dụng pháp luật ................................................................................................................... 30 1.3.8. Yếu tố văn hóa, xã hội ........................................................................... 31 Tiểu kết Chương 1 .............................................................................................. 32
Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, TP. HỒ CHÍ MINH ................. 33 2.1. Các yếu tố đặc thù ảnh hưởng đến áp dụng pháp luật về bình đẳng giới quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh .................................................................................. 33 2.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội quận Gò Vấp ........ 33 2.1.2. Khái quát về tình hình thực hiện bình đẳng giới tại quận Gò Vấp ....... 33 2.1.4. Khái quát đội ngũ tham gia công tác bình đẳng giới tại quận Gò Vấp ......... 35
2.2. Thực trạng pháp luật về bình đẳng giới ở Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh ................................................................................................ 35 2.2.1. Thực tiễn ban hành và thực hiện chính sách pháp luật về bình đẳng giới ở Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh ..................................... 37 2.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh ............................................................................... 38 2.3. Đánh giá việc áp dụng pháp luật về bình đẳng giới ở Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh .................................................................................. 46 2.3.1. Nhận xét, đánh giá chung ...................................................................... 46 2.3.2. Về mặt ưu điểm ..................................................................................... 47 2.3.3. Hạn chế và nguyên nhân ....................................................................... 49 Tiểu kết Chương 2 .............................................................................................. 50 Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VÀ LỘ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, TP. HỒ CHÍ MINH ............................................................... 52 3.1. Quan điểm và giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh .................................................. 52
3.1.1. Quan điểm đảm bảo áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh ..................................................... 52 3.1.2. Giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh .............................................................. 52 3.2. Lộ trình tổ chức thực hiện Đề án................................................................. 61 Tiểu kết Chương 3 .............................................................................................. 62 KẾT LUẬN ........................................................................................................ 63 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 64
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do xây dựng Đề án
Bình đẳng giới (BĐG) là một trong những mục tiêu quan trọng của nhiều
chính sách và chương trình phát triển xã hội ở nhiều quốc gia, trong đó có nước
ta. Việt Nam đã tích cực thực hiện nội dung mang tính đột phá để thúc đẩy BĐG
trong thời gian dài. Đảng và Nhà nước Việt Nam nhất quán với chính sách BĐG
không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội công bằng mà
còn là nền tảng để thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững đất nước. Một
trong những điểm đáng ghi nhận đó là việc hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính
sách về BĐG. Tuy nhiên, trong điều kiện thực tế vẫn tồn tại nhiều bất cập, thực
trạng bất BĐG, khoảng cách giới, phân biệt đối xử về giới vẫn đang tồn tại dưới
nhiều hình thức khác nhau. Để đạt được một cách hoàn toàn đầy đủ và vững chắc
các mục tiêu BĐG ở nước ta vẫn còn là một hành trình dài và khó khăn, do nhiều
nguyên nhân khác nhau như hệ thống pháp luật, nhận thức của cán bộ chính quyền
và người dân về vấn đề này còn hạn chế, trong thực tiễn quá trình áp dụng pháp
luật về BĐG.
Trước thực trạng này, đã đặt ra yêu cầu cần có thêm những nghiên cứu để
tìm ra giải pháp tiếp tục thúc đẩy BĐG ở phạm vi cả nước nói chung và tại mỗi
địa phương cụ thể nói riêng, cụ thể như sau:
Một là, công tác nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá về các quy định liên quan
đến BĐG không chỉ là nhiệm vụ dành riêng các nhà nghiên cứu khoa học mà còn
là nhu cầu chính đáng đối với các cá nhân và tổ chức trong xã hội. Cần làm phong
phú thêm các nghiên cứu về BĐG, về cơ sở lý luận về BĐG nói chung và áp dụng
pháp luật BĐG nói riêng qua đó làm sâu sắc hoạt động nghiên cứu từ thực tiễn
qua đó đúc kết kinh nghiệm cũng như tìm ra giải pháp khắc phục những hạn chế.
Hai là, TP. Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, đầu tàu kinh tế khu vực phía
nam, địa phương có nhiều đóng góp to lớn trong quản lý thu ngân sách, hoạt động
kinh tế - xã hội (KT-XH), đồng thời trung tâm khoa học công nghệ (KHCN), văn
hóa và giáo dục của đất nước. Gò Vấp là quận thuộc TP. Hồ Chí Minh, trong thời
1
gian qua địa phương này có nhiều kết quả đáng kể về thực hiện BĐG. Các cấp ủy
Đảng, chính quyền luôn quan tâm đến vấn đề BĐG xem đây là nhiệm vụ chính trị
quan trọng, BĐG là một bộ phận không thể tách rời của quá trình phát triển KT-
XH nên trong thời gian qua, các hoạt động nhằm thúc đẩy BĐG ngày càng được
các cấp, ngành chú trọng trong việc thực hiện. Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề
thách thức về BĐG, đang đặt ra đối với TP. Hồ Chí Minh nói chung và quận Gò
Vấp nói riêng về thực hiện chỉ tiêu, định kiến về giới trong gia đình và xã hội,
công tác áp dụng quy định pháp luật...
Ba là, bản thân tác giả đang công tác tại quận Gò Vấp, trong quá trình công
tác nhận thấy vấn đề về BĐG ở địa phương mang tính cấp thiết cần được nghiên
cứu và có những đóng góp mang tính thiết thực trong hoạt động áp dụng pháp
luật, do vậy với mong muốn được góp một phần công sức của mình vào việc hoàn
thiện pháp luật về BĐG với hi vọng góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng
mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về BĐG tại Ủy ban nhân
dân (UBND) quận Gò Vấp trong giai đoạn hiện nay.
Với những lý do đó, tác giả lựa chọn Đề án: “Áp dụng pháp luật về bình
đẳng giới tại Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh” làm
Đề án tốt nghiệp trình độ Thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành
chính tại Học viện Hành chính Quốc gia.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đề án
BĐG và áp dụng pháp luật về BĐG là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều
tầng lớp, nhiều nhà khoa học và nhà quản lý trong nước và quốc tế, trên các lĩnh
vực được tiếp cận dưới các góc độ khác nhau. Liên quan trực tiếp đến Đề án có
những bài viết, công trình nghiên cứu sau:
Công trình “Bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam: thực trạng và giải
pháp” của TS. Đặng Ánh Tuyết (2015), đăng trên Tạp chí Cộng sản. Tác giả cho
rằng để bảo đảm BĐG và trao quyền cho phụ nữ thực chất đây là một hoạt động
quan trọng, mang nhiều ý nghĩa trong những mục tiêu của hầu hết các Chính phủ
trên thế giới. Trong thời gian qua, Việt Nam đã gặt hái những thành tựu đáng ghi
2
nhận về BĐG mà cụ thể ở các chỉ số sức khỏe, giáo dục, thu nhập và cơ hội nghề
nghiệp của người phụ nữ nhưng vẫn còn một khoảng cách lớn về BĐG đặc biệt là
đối với các vị trí lãnh đạo, cán bộ quản lý.
Khi nghiên cứu về vai trò của thể chế, chính sách đối với thực hiện BĐG
của TS. Hoàng Mai (2017) với bài viết “Khung thể chế, chính sách về bình đẳng
giới trong hoạt động công vụ ở Việt Nam hiện nay” đăng trên Tạp chí Quản lý nhà
nước số 252 (1/2017). Để làm rõ nội dung nghiên cứu, tác giả tiến hành phân tích
các số liệu dựa vào tình hình thực tế về tỉ lệ nữ tham gia công tác quản lý ở các
cơ quan nhà nước các cấp từ trung ương đến cấp cơ sở, từ đó tác giả nêu những
giải pháp nhằm nâng cao tỉ lệ phụ nữ tham gia giữ vị trí quản lý đáp ứng mục tiêu
BĐG.
Đồng quan điểm đánh giá tầm quan trọng của vai trò thể chế, chính sách
quốc gia trong thực hiện BĐG, bài viết “Vấn đề bình đẳng giới trong khu vực nhà
nước” của Lê Khánh Lương (2023). Tác giả cho rằng, để đạt được các mục tiêu
BĐG nói chung, BĐG trong lĩnh vực hành chính công, nước ta cần nghiên cứu,
tham khảo kinh nghiệm thực hiện chính sách của một số quốc gia trên thế giới để
từ đó đưa ra giải pháp phù hợp, thúc đẩy BĐG trong hoạt động hành chính công.
Vấn đề BĐG trong cơ quan nhà nước được xem là một trong các chỉ tiêu quan
trọng để đánh giá mức độ BĐG của một quốc gia. Qua phân tích, tác giả làm rõ
những yếu tố góp phần làm hạn chế sự thăng tiến của phụ nữ cũng như những bất
cập trong chính sách sử dụng cán bộ nữ, từ đó tác giả trình bày các kiến nghị để
góp phần nâng cao vị thế người phụ nữ trong công tác lãnh đạo quản lý.
Về vấn đề BĐG trong môi trường cơ quan QLNN luôn nhận được sự quan
tâm của nhiều tác giả, nhà khoa học có thể đề cập đến bài viết “Tiếp cận về bình
đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam” của
Nguyễn Thị Ngọc Phượng (2024) đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước; Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Phượng nhận định BĐG trong lãnh đạo, quản lý ở cơ quan
HCNN là một trong các chỉ số quan trọng để đo lường về BĐG. Vấn đề BĐG luôn
nhận được sự quan tâm sâu sắc của nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó hoạch định
và ban hành chính sách, pháp luật phù hợp trong tổng thể chiến lược phát triển của
3
quốc gia, địa phương hướng tới sự phát triển bền vững, lâu dài. BĐG trong lãnh
đạo, quản lý ở cơ quan HCNN góp phần bảo đảm BĐG trong những cơ quan này
và có tác dụng lan tỏa, tác động đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, hướng
tới sự phát triển bền vững khi tiếng nói của nam giới và nữ giới cân bằng trong các
quyết sách QLNN.
Nhằm xây dựng các giải pháp BĐG trong hoạt động thực thi chính sách,
pháp luật với bài viết “Giải pháp bảo đảm bình đẳng giới trong chính sách, pháp
luật hiện nay” của Trần Thị Quyên (2020) đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước.
Tác giả phân tích chính sách của Nhà nước về BĐG trên một số lĩnh vực quy định
pháp luật như chính trị, y tế, lao động… Qua phân tích thực trạng, tác giả xây
dựng tổng thể các giải pháp về lồng ghép giới khi xây dựng pháp luật, các bảo
đảm trong thực thi chính sách, pháp luật.
Ngoài những bài viết trên còn có nhiều nghiên cứu về BĐG trình bày trong
các Luận văn Thạc sĩ có thể kể đến đề tài “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới
từ thực tiễn TP. Đà Nẵng” của tác giả Lê Thị Thu Hường (2016) Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Học viện Khoa học xã hội. Tác giả xây dựng cơ sở lý luận về thực hiện
pháp luật về BĐG từ đó phân tích thực trạng thực hiện từ thực tiễn TP. Đà Nẵng.
Qua phân tích thực trạng tại công tác thực hiện pháp luật về BĐG ở địa phương,
bên cạnh những mặt đạt được tác giả chỉ ra những hạn chế khó khăn nhất định, để
khắc phục những bất cập đó đặt ra yêu cầu cho các cấp, các ngành, các cơ quan tổ
chức và toàn bộ hệ thống chính trị ở TP. Đà Nẵng cần nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về BĐG. Căn cứ quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng và chính
sách pháp luật Nhà nước, cộng với nét đặc thù địa phương từng bước thực hiện
nhiều phương thức để nâng cao công tác quản lý, triển khai các bước tổ chức thực
hiện và thực hiện đồng thời đồng bộ các giải pháp.
Nghiên cứu về thực hiện BĐG dưới góc độ gia đình trên địa bàn TP. Hồ
Chí Minh tiêu biểu có thể kể đến công trình khoa học công nghệ cấp Thành
phố:“Nghiên cứu đánh giá thực trạng và vai trò gia đình trong việc thực hiện
BĐG tại TP. Hồ Chí Minh” của TS. Nguyễn Thị Phương làm chủ nhiệm (2022).
Nhóm nghiên cứu cho rằng việc giáo dục và nâng cao nhận thức về BĐG cho các
4
thành viên, đặc biệt là trẻ em từ trong gia đình sẽ có ý nghĩa tích cực trong việc
xóa bỏ các hành vi, ứng xử phân biệt trên cơ sở giới, qua đó góp phần quan trọng
vào việc thúc đẩy BĐG cả trong gia đình và ngoài xã hội. Để góp phần phát huy
vai trò của gia đình trong việc thực hiện BĐG theo quan điểm, chủ trương chung
của Đảng, Chính phủ và chỉ đạo của Thành ủy, UBND TP. Hồ Chí Minh. Đề tài
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phương cùng cộng sự đã đánh giá thực trạng
việc thực hiện BĐG trong gia đình hiện nay qua nghiên cứu thực tiễn tạo TP. Hồ
Chí Minh, trên cơ sở đó nhóm tác giả đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò
của gia đình trong việc thực hiện BĐG trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Từ kết quả
nghiên cứu công phu của công trình, tác giả tham khảo một số nội dung tình hình
thực tế tại TP. Hồ Chí Minh về công tác BĐG.
Nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy, trường Đại học Luật Hà Nội (2013)
ban hành “Tập bài giảng Luật Bình đẳng giới”. Tài liệu trình bày có hệ thống các
nội dung liên quan đến công tác BĐG như: giải thích một số thuật ngữ, khái niệm
cơ bản; các nguyên tắc cơ bản BĐG; sự phát triển pháp luật BĐG; BĐG trong gia
đình; BĐG trong các lĩnh vực đời sống xã hội; Biện pháp bảo đảm BĐG; Thanh
tra giám sát và xử lý vi phạm trong BĐG… Nhóm tác giả trình bày quá trình hình
thành và phát triển công tác BĐG ở nước ta, nguồn xây dựng của Luật Bình đẳng
giới (2006), đặc biệt tác giả nhấn mạnh sự cần thiết ban hành Luật BĐG, vai trò
quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Đây là nguồn tài liệu quý giá góp
phần cho tác giả tham khảo, phục vụ xây dựng phần cơ sở lý luận của Đề án.
Những nghiên cứu nói trên đã khái quát về thực trạng pháp luật về BĐG.
Đây là những cơ sở khoa học có thể đánh giá một cách khách quan và toàn diện
về thực trạng bảo đảm pháp lý thực hiện pháp luật về BĐG ở nước ta hiện nay.
Trên cơ sở tổng quan các bài viết, công trình, đề tài nghiên cứu nêu trên mà tác
giả tập hợp được có những nội dung liên quan nhất định đến Đề án, làm căn cứ
tiền đề cho tác giả tham khảo xây dựng Đề án, tuy nhiên đứng góc độ áp dụng
pháp luật BĐG các công trình này hiện chưa nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở
lý luận cũng như các quy phạm pháp luật (QPPL), giải pháp khả thi để áp dụng
pháp luật về BĐG. Hầu hết các công trình chỉ dừng lại ở việc phân tích các quy
5
định pháp luật về quyền BĐG và trong môi trường các cơ quan QLNN là chủ yếu.
Các công trình các nội dung phân tích, đánh giá chưa đầy đủ và thể hiện một cách
toàn diện nội dung áp dụng pháp luật về BĐG. Hiện chưa thông qua một công
trình nghiên cứu độc lập nào. Vì vậy, các hoạt động pháp lý nói chung và áp dụng
pháp luật nói riêng về BĐG vẫn còn một khoảng trống để tiếp tục nghiên cứu.
Qua đó, đặt ra yêu cầu tính cấp thiết xây dựng cơ sở lý luận và những giải pháp
nhằm hoàn thiện và phát huy vai trò của việc áp dụng pháp luật về quyền BĐG
một cách toàn diện, trình bày trong một công trình nghiên cứu mang tính độc lập
từ thực tiễn ở một địa phương cụ thể.
Với mong muốn đó, tác giả xây dựng Đề án, với tên đề tài là “Áp dụng
pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ
Chí Minh” cá nhân khẳng định đây là công trình khoa học nghiên cứu khách quan,
dù có tham khảo nhiều nguồn tài liệu tuy nhiên tác giả khẳng định không trùng
lắp với các công trình nghiên cứu đã công bố trước đây, trên cơ sở nghiên cứu có
hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về áp dụng pháp luật BĐG,
tiến hành đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về bình đẳng giới và đề xuất các
giải pháp, lộ trình thực hiện với mong muốn giảm dần khoảng cách về giới tại
UBND quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Cán bộ cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp
dụng pháp luật về BĐG. Công tác quản lý về BĐG của cơ quan nhà nước tại địa
phương.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Đề án tập trung áp dụng pháp luật về BĐG.
- Phạm vi về không gian: Tại UBND Quận Gò Vấp.
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu, thông tin được tác giả thu thập, phân
tích và nghiên cứu trong khoảng thời gian 05 năm (từ năm 2017 đến năm 2022).
6
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu: từ lý thuyết và thực tiễn áp dụng pháp luật về
BĐG, nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp đảm bảo áp dụng về BĐG tại UBND
Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Một là, xây dựng cơ sở lý luận áp dụng pháp luật về BĐG.
Hai là, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về BĐG.
Ba là, đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng pháp luật về BĐG
tại UBND Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp nghiên cứu:
5.1. Phương pháp luận: Đối với đề tài này, việc nghiên cứu dựa trên
phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người và hợp tác quốc tế trong bảo đảm
quyền con người trên các vấn đề về BĐG. Ngoài ra, đề tài sử dụng phương pháp
luận của Bộ môn Luật Hiến pháp và Luật Hành chính để luận giải những vấn đề,
giả thuyết nghiên cứu đặt ra.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp được sử dụng nghiên
cứu Đề án cụ thể là: Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết và phương pháp
phân tích, tổng hợp kinh nghiệm. Cụ thể:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết được sử dụng để phân tích các
tài liệu, tìm hiểu sâu sắc về áp dụng pháp luật BĐG qua đó hình thành một hệ
thống lý thuyết đầy đủ làm phong phú cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp kinh nghiệm được sử dụng để nghiên
cứu và xem xét lại những thành quả trong quá khứ trong việc áp dụng những vấn
đề lý luận áp dụng pháp luật về BĐG, từ đó rút ra những kết luận bổ ích cho thực
tiễn và khoa học về vấn đề nghiên cứu, gắn với đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
5.3. Hướng tiếp cận của đề tài: (1) Tiến hành phân tích đánh giá nội dung
pháp luật về BĐG, điều kiện hoàn cảnh sự kiện thực tế cần áp dụng pháp luật về
BĐG; (2) Lựa chọn QPPL về BĐG làm cơ sở pháp lý cho việc đưa ra các quyết
7
định áp dụng pháp luật về BĐG; (3) Đưa ra quyết định áp dụng pháp luật về BĐG;
(4) Tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật về BĐG trên thực tế; (5) Kiểm
tra, giám sát việc thực thi các quyết định áp dụng pháp luật về BĐG với các chủ
thể liên quan để đảm bảo hiệu lực của nó trên thực tế.
6. Hiệu quả và lợi ích của Đề án ứng dụng trong thực tiễn
6.1. Hiệu quả đề án: Đề án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
thực tiễn, đưa ra giải pháp và lộ trình thực hiện có hiệu quả pháp luật về bình đẳng
giới tại UBND Quận Gò Vấp trong thời gian tới.
6.2. Lợi ích: Đề án góp phần giúp cho học viên hoàn thành tốt hơn nhiệm
vụ tham mưu triển khai có hiệu quả việc áp dụng pháp luật về BĐG tại UBND
quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh. Đồng thời, tác giả hi vọng kết quả Đề án có thể
dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và làm tài liệu dùng tập huấn công
tác cán bộ nữ từ thực tiễn tại quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của đề án
Bố cục Đề án gồm các phần: mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục, riêng phần nội dung Đề án gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của áp dụng pháp luật về bình đẳng
giới tại UBND cấp huyện
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân
dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp và lộ trình tổ chức thực hiện áp dụng pháp luật về
bình đẳng giới tại Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH
ĐẲNG GIỚI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật về bình đẳng
giới
1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật về bình đẳng giới
1.1.1.1. Khái niệm bình đẳng giới
Trong một xã hội phát triển, BĐG được xem là mục tiêu và thước đo tiến bộ
và xem đây là một tiêu chí văn hóa. Trên thực tế có nhiều cách hiểu và quan niệm
khác nhau về bình đẳng giới tuỳ theo các khía cạnh tiếp cận:
Quan điểm thứ nhất: BĐG là việc người nam, nữ có vị trí và vai trò ngang
nhau, trong môi trường, điều kiện và cơ hội giống nhau, được phát huy năng lực
của mình cho sự phát triển cộng đồng, gia đình và thụ hưởng thành quả như nhau
đối với sự phát triển đó.
Quan điểm thứ hai: BĐG là sự thừa nhận và coi trọng là ngang nhau đối
với các đặc điểm giới tính và sự thiết lập các cơ hội ngang nhau đối với nữ giới
và nam giới trong xã hội.
Quan điểm thứ ba: BĐG có nghĩa là phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau
và có cơ hội như nhau để làm việc, cống hiến cho sự phát triển xã hội, khẳng định
và phát triển bản thân mình.
Hiến pháp nước ta đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ trên mọi
phương diện, đây được đánh giá sự tiến bộ quan trọng, dù đã có nhiều tiến bộ tích
cực và trong xã hội hiện nay có nhiều điều thay đổi tuy nhiên suy cho cùng phụ
nữ vẫn chưa được bình đẳng thực sự. Có nhiều người quan niệm rằng, việc BĐG
hiện nay là “đủ” là “phù hợp”, thậm chí trong một số lĩnh vực phụ nữ được “ưu
ái” hơn nam giới, vì thế chỉ cần duy trì không cần phải nỗ lực hay cải thiện hơn
nữa. Phân tích từ thực tế ở Việt Nam cho thấy, có sự khác biệt về BĐG thực chất
và BĐG hình thức.
9
Dưới góc độ pháp lý, “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò
ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát
triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự
phát triển đó” (Căn cứ tại khoản 3 Điều 5 của Luật Bình đẳng giới) [12].
Mục tiêu của BĐG được luật quy định là nhằm xóa bỏ phân biệt đối xử về
giới, cả nam và nữ được tạo cơ hội như nhau trong phát triển KT-XH và phát triển
nguồn nhân lực, hướng đến BĐG thực chất giữa hai đối tượng này. Việt Nam đã
ký kết, tham gia “Công ước Liên hiệp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử với phụ nữ” và ký kết tham gia, thực hiện tám mục tiêu thiên niên kỷ trong đó
có mục tiêu: thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới.
Như vậy, BĐG là một vấn đề không phải điều gì xa lạ, mang tính xã hội và
cấp thiết, hiện hữu hằng ngày, xuất phát từ cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của
đời sống kinh tế, chính trị - xã hội (CT-XH), cần được quan tâm và đặt ra, để nhằm
hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh,
trong xu thế hội nhập vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu.
1.1.1.2. Khái niệm Pháp luật về bình đẳng giới
Nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước bảo đảm tính tối thượng của pháp
luật trong đời sống xã hội, không có cá nhân hay tổ chức nào đứng trên pháp luật,
trong xã hội đó pháp luật phản ánh ý chí và lợi ích chung của mọi tầng lớp nhân
dân, thực hiện và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Tại Điều 16 Hiến
pháp (2013) quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. [11] Bình
đẳng trước pháp luật được xem là nguyên tắc hiến định không chỉ thể hiện trong
Hiến pháp mà còn trong nhiều văn bản QPPL khác.
Để bảo đảm tính pháp lý BĐG là một hình thức thể hiện của việc phát huy
giá trị dân chủ. Tuy nhiên, để thực hiện trên thực tế một cách thực sự, đầy đủ, có
hiệu quả thì đòi hỏi phải có một cơ chế thuận tiện, hữu hiệu nếu không sẽ rơi vào
hình thức, giáo điều, thực hiện một cách máy móc kém hiệu quả. Do đó cần đảm
bảo tăng cường trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách, pháp
luật về BĐG vấn đề bảo đảm pháp lý về quyền BĐG ở Việt Nam hiện nay phải
10
bảo đảm tuyệt đối quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, bảo đảm quyền làm chủ của nhân
dân, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ đầy đủ quyền
con người, quyền công dân.
Quan điểm này phải được bảo đảm thực hiện trên thực tế, được lồng ghép
trong các quan hệ CT-XH, trở thành hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể khi
tham gia thực hiện pháp luật về BĐG. Các chủ thể thực hiện phải nắm bắt đầy đủ
và tự giác tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất các quy định pháp luật
của nhà nước về BĐG. Vào năm 2006, Luật Bình đẳng giới được ban hành đây là
cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện BĐG. Nhờ đó, việc thực hiện BĐG có nhiều
phát triển quan trọng. Mặc dù vậy, BĐG tại Việt Nam vẫn tồn tại nhiều hạn chế.
Những biểu hiện tiêu biểu như tình trạng BLGĐ, xâm hại tình dục trẻ em và phụ
nữ vẫn còn phổ biến. Định kiến giới vẫn còn hằn sâu trong nhận thức của nhiều
người, trong xã hội hiện nay cơ hội học tập, điều kiện phát triển của phụ nữ phần
nào vẫn còn nhiều hạn chế so với nam giới.
Pháp luật về BĐG hiểu theo hai nghĩa: (1) theo nghĩa rộng, bao hàm tất cả
các QPPL nhằm bảo đảm BĐG trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
và (2) theo nghĩa hẹp, pháp luật về BĐG là tập hợp các văn bản QPPL điều chỉnh
trực tiếp vấn đề BĐG. Những quy định này thường được thể hiện trong các hệ
thống pháp luật và văn bản QPPL, bao gồm Hiến pháp, luật pháp, quy định và
quyền lực thực thi pháp luật. Theo đó, pháp luật về BĐG là tổng thể các văn bản
QPPL do cơ quan nhà nước (các cá nhân và tổ chức) có thẩm quyền ban hành
hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ
chức hay cá nhân trong các lĩnh vực đời sống xã hội đảm bảo mọi công dân có vai
trò, cơ hội phát triển như nhau và được hưởng thụ như nhau.
Như vậy, Pháp luật về BĐG được hiểu là tập hợp các quy tắc xử sự chung
có tính chất bắt buộc chung do các cá nhân và tổ chức có thẩm quyền đặt ra hoặc
thừa nhận, thể hiện ý chí của nhà nước nhằm đảm bảo việc nam, nữ có vị trí, vai
trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự
11
phát triển của cộng đồng, của gia đình và xã hội, sự thụ hưởng thành quả như
nhau trên cơ sở giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế.
1.1.1.3. Khái niệm Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới
Trong Nhà nước pháp quyền XHCN, pháp luật được xem là căn cứ nền tảng
nhằm điều chỉnh các hành vi cá nhân, dung hòa các quan hệ xã hội, bảo đảm cho
xã hội vận động ổn định và phát triển bền vững thì vai trò pháp luật có tính quan
trọng. Có thể khẳng định không có pháp luật thì đủ điều kiện xây dựng được Nhà
nước pháp quyền, Nhà nước pháp quyền không hình thành thì không thể đảm bảo
trật tự kỷ cương, ổn định xã hội, bảo vệ quyền con người, làm cho người dân có
cuộc sống hạnh phúc, văn minh và tiến bộ. Nếu luật pháp vẫn tồn tại câu chữ trong
những văn bản trên giấy, mà không đi vào cuộc sống, hình thành ý thức pháp luật
của người dân thì không những xã hội không phát triển mà pháp luật vô hình trở
thành quy tắc xử sự vô nghĩa, kìm hãm sự vận động và phát triển của xã hội. Vấn
đề đặt ra ở đây là có tính then chốt là pháp luật phải đi vào cuộc sống, phát huy
bản chất giá trị của pháp luật. Để đưa pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống và điều
chỉnh các quan hệ xã hội, giải quyết các trường hợp phát sinh theo định hướng
của nhà nước thì hoạt động áp dụng pháp luật phải được thực hiện và mang tính
thực chất.
Pháp luật sau khi được ban hành và có hiệu lực phải được các chủ thể thực
hiện một cách nghiêm chỉnh, tuy nhiên trên thực tế diễn ra nhiều trường hợp các
quy định của pháp luật không được thực hiện, thực hiện không nghiêm chỉnh bởi
những nguyên nhân từ phía các cá nhân, tổ chức trong xã hội; nhiều trường hợp
quy định của pháp luật không được thực hiện bởi thiếu sự tác động từ phía các cơ
quan, nhà chức trách có thẩm quyền. Trong trường hợp này đều đòi hỏi sự can
thiệp của các chủ thể có thẩm quyền. Hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền nhằm làm cho các chủ thể khác trong xã hội thực
hiện đầy đủ, đúng đắn, tuân thủ các quy định của pháp luật được gọi là áp dụng
pháp luật.
Áp dụng pháp luật là một trong những hình thức thực hiện pháp luật. Trong
quá trình thực hiện, hoạt động kiểm tra, giám sát là cần thiết và yêu cầu bắt buộc
12
khi thực thi các quyết định áp dụng pháp luật với các chủ thể có liên quan để đảm
bảo mang tính hiệu lực của nó trên thực tế. Vì lẽ đó, trong quá trình áp dụng pháp
luật, chủ thể áp dụng pháp luật thường xuyên phát hiện và giải quyết với tình
huống quy định pháp luật có mâu thuẫn hay chồng chéo nhau; QPPL bắt buộc có
sự không rõ ràng, hiểu đa nghĩa… Trên thực tiễn, việc áp dụng pháp luật được
thực hiện trong các trường hợp như: cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành
truy cứu trách nhiệm pháp lý (áp dụng biện pháp chế tài) đối với chủ thể có hành
vi vi phạm pháp luật (tội phạm, vi phạm hành chính,...) hoặc áp dụng các biện
pháp cưỡng chế theo quy định pháp luật; trường hợp đòi hỏi cần can thiệp của nhà
nước để phát sinh, làm thay đổi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể pháp luật;
tình huống xảy ra xung đột, mâu thuẫn mà các bên không tự giải quyết được, cần
sự tham gia giải quyết từ phía Nhà nước,... Nói tóm lại, áp dụng pháp luật chính
là việc đưa các QPPL vào để giải quyết các trường hợp cụ thể.
Có thể nói, Áp dụng pháp luật được hiểu là hoạt động mang tính tổ chức
và quyền lực Nhà nước, trong đó các cơ quan, cá nhân Nhà nước có thẩm quyền
nhân danh Nhà nước tiến hành áp dụng các QPPL vào các sự kiện pháp lý từ đó
làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật thể hiện qua văn
bản áp dụng pháp luật.
Áp dụng pháp luật về BĐG được thể hiện việc bảo đảm quyền và lợi ích
chính đáng của cá nhân và tổ chức trong vấn đề BĐG; bảo vệ quyền con người,
thực thi chính sách, pháp luật BĐG được ban hành, mặt khác góp phần ổn định về
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; đưa xã hội vận hành và phát triển trong
khuôn khổ của giai cấp cầm quyền. Những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến
các quan hệ xã hội về BĐG mà được đặt trong sự bảo vệ pháp luật đều được xem
xét, xử lý nghiêm minh, nhanh chóng và tuân thủ pháp luật.
Từ các nội dung nêu trên, trên tác giả đưa đến đến khái niệm Áp dụng pháp
luật về BĐG là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua
các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ
thể thực hiện những quy định của pháp luật về BĐG, hoặc tự mình căn cứ vào
13
những quy định của pháp luật để quyết định làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt
những quan hệ pháp luật về BĐG.
1.1.2. Đặc điểm của áp dụng pháp luật về bình đẳng giới
1.1.2.1. Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước
Áp dụng pháp luật BĐG là hoạt động có mục đích, có ý chí của chủ thể (cá
nhân, tổ chức) được nhà nước trao quyền nên quá trình áp dụng pháp luật có những
đặc điểm khác với các hoạt động áp dụng pháp luật BĐG ở các lĩnh vực khác của
đời sống xã hội. Điểm cần chú ý đến khi áp dụng pháp luật BĐG, căn cứ các quy
định của pháp luật hiện hành, các chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể ban hành
những mệnh lệnh, ra các quyết định có giá trị bắt buộc phải nghiêm chỉnh chấp
hành đối với đối tượng áp dụng, dù có đồng thuận hay không đồng thuận với quyết
định đó. Các chủ thể ban hành mệnh lệnh, quyết định mang tính áp đặt mà không
phụ thuộc vào mong muốn của đối tượng áp dụng. Các mệnh lệnh, quyết định áp
dụng pháp luật của các cơ quan, tổ chức nhà nước sẽ được nhà nước lựa chọn hình
thức thực hiện bằng một hay nhiều biện pháp như biện pháp hành chính, biện pháp
kinh tế,… trong đó có cả biện pháp cưỡng chế nhà nước.
Chủ thể áp dụng pháp luật về BĐG là các cơ quan nhà nước, đây là chủ thể
đặc biệt vì trong quá trình thực hiện, cơ quan nhà nước phải thể hiện là chủ thể
mang tính quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước thực hiện trách nhiệm quản
lý xã hội nói chung và công tác BĐG nói riêng, đảm bảo cho BĐG được tổ chức
thực hiện trên một phạm vi rộng lớn là toàn quốc và trên các mặt đời sống xã hội
như chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế... Trách nhiệm đối với các cơ quan
nhà nước không giống nhau bởi BĐG liên quan đến một hay nhiều lĩnh vực khác
nhau.
1.1.2.2. Áp dụng pháp luật tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy
định
Trong tình hình thực tế có nhiều trường hợp cần áp dụng pháp luật để giải
quyết các tình huống rất phức tạp, nhiều trường hợp, đế có thể áp dụng pháp luật
giải quyết một vụ việc cụ thể, cần có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau,
14
đôi khi hoạt động áp dụng pháp luật có ảnh hưởng ít nhiều đến quyền và lợi ích
của chủ thể khi áp dụng pháp luật... Vì thế, để đảm bảo hoạt động áp dụng pháp
luật BĐG được thực hiện một cách đúng đắn, thống nhất, đồng bộ đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, tổ chức được áp dụng pháp luật, yêu
cầu sự công bằng, sự nghiêm minh của pháp luật, đòi hỏi hoạt động áp dụng pháp
luật bắt buộc phải tuân theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật ban hành.
1.1.2.3. Áp dụng pháp luật là hoạt động cá biệt hóa quy phạm pháp luật
đối với từng trường hợp cụ thể
Áp dụng pháp luật được xem một quá trình phức tạp, khi tiến hành phải trải
qua nhiều quy trình khác nhau, bắt đầu từ việc phân tích, đánh giá sự việc xảy ra
trên thực tế, chủ thể lựa chọn văn bản QPPL phù hợp áp dụng đến việc ra văn bản
áp dụng và tổ chức thực hiện văn bản áp dụng đã ban hành. Khi thực hiện, chủ thể
pháp luật tiến hành việc lựa chọn QPPL phù hợp đối với trường hợp cần áp dụng
là bước rất quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật. Tiêu chuẩn của việc lựa
chọn QPPL đầu tiên đó là: xác định quy phạm được lựa chọn là quy phạm đang
còn giá trị hiệu lực và không mâu thuẫn, không trái với các luật và văn bản QPPL
khác.
Phạm vi áp dụng pháp luật về BĐG là những giới hạn không gian, địa lý,
thời gian để các chủ thể tiến hành các hoạt động thực hiện pháp luật về BĐG. Để
có được phạm vi áp dụng pháp luật về BĐG đòi hỏi nhà nước phải ban hành quy
định trách nhiệm đối với các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực
hiện BĐG; nêu rõ chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực hiện
pháp luật về BĐG mang tính chất quản lý hành chính.
Áp dụng pháp luật về BĐG có nội hàm phong phú và bao trùm toàn bộ đời
sống xã hội. Nội dung đó được thể hiện thông qua các chiến lược, chính sách, mục
tiêu của nhà nước về BĐG, hướng đến việc thúc đẩy các quyền con người trong
các lĩnh vực được tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Do đó, một trong những nội
dung không thể thiếu trong áp dụng pháp luật về BĐG gồm các biện pháp thúc
đẩy BĐG; phổ biến, chính sách pháp luật về BĐG, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao
15
nhận thức giới cho đội ngũ CBCC những người có liên quan đến việc thực thi
chính sách đến BĐG.
1.1.2.4. Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính sáng tạo
Các vụ việc cụ thể xảy ra trong cuộc sống hết sức đa dạng và phức tạp, trong
khi đó pháp luật thường không mô tả tỉ mỉ, cụ thể từng tình tiết của sự việc, ngược
lại nó thường chỉ dự liệu những điều kiện, hoàn cảnh có tính chất phổ biến, điển
hình. Khi áp dụng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải nghiên cứu
kĩ vụ việc, so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật, lựa chọn QPPL phù
hợp để áp dụng sao cho đúng người, đúng sự việc, đúng mức độ, đúng quan điểm,
tư tưởng mà quy phạm pháp luật đã nêu. Ngoài ra, trong thực tế, xảy ra nhiều trường
hợp những vụ việc cá biệt đòi hỏi cơ quan chức năng có thẩm quyền phải giải quyết
nhưng không thể viện dẫn các quy định của pháp luật để áp dụng. Trong những
trường hợp đó, đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền phải có ý thức pháp luật cao, có kinh
nghiệm thực tiễn phong phú, đồng thời phải linh hoạt, sáng tạo để giải quyết các vụ
việc đã xảy ra trong thực tế cuộc sống một cách “thấu tình, đạt lý”, để đưa ra được
một quyết định mang tính “thấu tình, đạt lý” để giải quyết vụ việc về BĐG thì cần
có sự sáng tạo, tư duy logic tuân thủ theo quy định pháp luật của người áp dụng.
Khi áp dụng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải nghiên cứu
kĩ vụ việc, so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật, lựa chọn quy phạm
pháp luật phù hợp để áp dụng sao cho đúng người, đúng sự việc, đúng mức độ,
đúng quan điểm, tư tưởng mà quy phạm pháp luật đã nêu.
Pháp luật về BĐG đặt ra các quy định và điều kiện, khi cả nam hay nữ đều
được coi ngang nhau trong việc áp dụng các quy tắc này. Nguyên lý "đối xử như
nhau" trong pháp luật có ý nghĩa là không có sự phân biệt, không công bằng giữa
các cá nhân hoặc nhóm cá nhân dựa trên các yếu tố không liên quan đến tính chất
của việc áp dụng pháp luật. Các quy định của pháp luật đặt ra thường mang tính
chất khái quát, khuôn mẫu, quy phạm song các vụ việc xảy ra trong thực tế vô cùng
đa dạng, phong phú và diễn biến phức tạp, phát sinh những tình huống ngoài dự
liệu.
16
1.1.3. Vai trò của áp dụng pháp luật về bình đẳng giới
1.1.3.1. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới là phương thức để vận dụng
chủ trương đường lối, chính sách đi vào thực tiễn xã hội
Áp dụng pháp luật BĐG là cách thức, biện pháp cơ bản, nhanh chóng để
đưa chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, nhất
là chính sách bảo đảm BĐG trong quá trình tham gia vào công tác QLNN, tham
gia hoạt động xã hội; trong tham gia xây dựng và thực hiện giá trị cộng đồng hoặc
quy định, quy chế của cơ quan tổ chức đơn vị. Do vậy, việc áp dụng pháp luật về
BĐG xem là cách thức cơ bản, có hiệu quả để chủ trương, chính sách tiếp cận và
phát huy hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ xã hội và đến với các chủ thể;
giúp họ nắm bắt đầy đủ và thực hiện tốt hơn chủ trương, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước. Qua đó giúp cho Đảng, Nhà nước kiểm nghiệm tính đúng
sai của các chính sách, pháp luật đã được ban hành trong thực tiễn, có thể tiếp tục
duy trì chính sách hoặc để kịp thời sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh chính sách cho
phù hợp; phát hiện, khắc phục sai sót, xử lý những hành vi vi phạm trong tổ chức
thực hiện để bảo đảm thực hiện tốt hơn các chính sách BĐG nói riêng và chính
sách pháp luật nói chung.
1.1.3.2. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới đảm bảo mục tiêu phát triển
bình đẳng nam nữ
Áp dụng pháp luật về BĐG là một trong những phương tiện nhằm thực hiện
mục tiêu của Nhà nước ta đã và đang hướng đến là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới,
tạo cơ hội và điều kiện như nhau cho cả nam lẫn nữ, hướng tới mục tiêu BĐG thực
chất giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực, mọi phương diện; là phương thức làm tốt
trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong bảo đảm công bằng chính trị;
bảo đảm BĐG góp phần thúc đẩy phụ nữ tham chính ngày càng nhiều hơn, chủ
động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho phát triển của gia đình, cộng đồng, đất
nước. Vì thế đã đặt ra yêu cầu mọi cơ quan, tổ chức và công dân phải tuân thủ, chấp
hành và thực hiện đúng các quy định pháp luật; chủ động phòng ngừa, đấu tranh và
chống các hành vi biểu hiện vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
các chủ thể. Áp dụng pháp luật BĐG là phương thức góp phần đề cao hơn nữa trách
17
nhiệm của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền trong bảo đảm cho pháp luật được thực
thi nghiêm chỉnh, thống nhất và đồng bộ qua đó tích cực giúp phụ nữ tham gia vào
các quan hệ trong xã hội được đối xử công bằng, bình đẳng như các chủ thể khác.
1.1.3.3. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới góp phần nâng cao ý thức
pháp luật đối với các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong xã hội
Áp dụng pháp luật về BĐG đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng,
củng cố và nâng cao ý thức pháp luật đồng thời thúc đẩy nội lực làm chủ để tham
gia QLNN và xã hội, giải quyết công việc chung của cộng đồng; giúp các cơ quan,
tổ chức, gia đình, cá nhân am hiểu quy định pháp luật, nhận thức đầy đủ, hiểu biết
sâu sắc hơn về chuẩn mực xã hội, định hình giới hạn của các hành vi bình đẳng
và bất bình đẳng; nắm bắt những nguyên tắc cơ bản về BĐG, những hành vi nào
bị pháp luật nghiêm cấm. Các cá nhân và tổ chức, nhận thức được bản chất pháp
lý của các tình huống, sự kiện; tiến hành lựa chọn hành vi xử sự phù hợp; từ đó
lựa chọn giải pháp tốt tối ưu cho mình. Các cá nhân và tổ chức sẽ nhận thức đầy
đủ hơn về vị trí, vai trò của pháp luật, từ đó, tích cực, chủ động áp dụng pháp luật
để bảo đảm mục tiêu BĐG trong tham gia các lĩnh vực. Hiểu biết pháp luật về
BĐG giúp các các cá nhân và tổ chức tôn trọng quyền hợp pháp của chủ thể khác;
yêu cầu các chủ thể thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ; tham gia QLNN, hoạt động
xã hội, góp phần thực thi công lý, bảo đảm công bằng xã hội. Việc nhận thức các
hành vi vi phạm pháp luật về BĐG đặc biệt giúp cho giới nữ, nâng cao hiểu biết
pháp luật, nhìn nhận rõ quyền của mình, từ đó tạo được quan điểm cá nhân và
điều kiện phát triển bản thân.
1.1.3.4. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới là biện pháp phòng ngừa các
hành vi vi phạm pháp luật và tăng cường pháp chế XHCN
Pháp luật được xem là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội, là một trong
những yếu tố bảo đảm và đồng thời bảo vệ sự ổn định của các quan hệ xã hội.
Pháp luật là cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, là
sự ghi nhận về mặt pháp lý trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước đối với xã hội và
công dân, là phương tiện để Nhà nước quản lý có hiệu lực, hiệu quả các lĩnh vực
của đời sống xã hội.
18
Căn cứ quy định của pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền thực hiện áp
dụng pháp luật căn cứ điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, ban hành những mệnh lệnh,
quyết định có giá trị bắt buộc đối tượng quản lý phải tôn trọng hoặc thực hiện đối
với đối tượng áp dụng.
Áp dụng pháp luật về BĐG giúp các chủ thể thực hiện BĐG nhận thức được
giới hạn hành vi bị nghiêm cấm trong khuôn khổ phạm vi nhất định, nhờ đó, mỗi
chủ thể sẽ tự giác và chủ động thực thi quyền, nghĩa vụ; không vi phạm quyền lợi
hợp pháp của Nhà nước và chủ thể khác. Trong trường hợp phát hiện chủ thể thực
hiện hành vi vi phạm pháp luật BĐG thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị
xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
1.1.3.5. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới đề cao uy tín và thúc đẩy
quyền con người của Nhà nước trong trường quốc tế
Việt Nam trong thời gian qua đã đạt nhiều thành tựu đáng kể về công tác
BĐG, được quốc tế đánh giá và nhìn nhận những thành tựu này. Ban hành các quy
định pháp luật và thực thi chính sách pháp luật về BĐG cùng với những nỗ lực
không ngừng nghỉ trong suốt nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành
tựu trong công tác bình đẳng giới đã nâng vị thế và uy tín của Việt Nam trên chính
trường quốc tế. Việt Nam tuân thủ các cam kết quốc tế, xem BĐG vừa là mục tiêu
vừa là cơ sở góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định và
phát triển bền vững đất nước.
1.2. Cơ sở pháp lý áp dụng pháp luật về bình đẳng giới
Với quan điểm coi BĐG là một bộ phận không thể tách rời của quá trình
phát triển KT-XH của đất nước nên trong hơn thập kỷ qua, các hoạt động nhằm
thúc đẩy BĐG ngày càng được các cấp, ngành chú trọng triển khai. Áp dụng pháp
luật về BĐG là công cụ quan trọng đưa Luật Bình đẳng giới vào cuộc sống và thể
hiện cam kết cao của Việt Nam trong việc thực hiện Công ước quốc tế xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ, Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ và
Cương lĩnh hành động Bắc Kinh (1995). Việt Nam ban hành văn bản luật pháp và
chính sách liên quan BĐG đã được ra đời, Nhiều văn bản pháp quy đã được ban
19
hành để cụ thể hóa các nội dung của quy định pháp luật về BĐG, có thể kể đến
một số văn bản QPPL tiêu biểu như sau:
- Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013;
- Bộ Luật dân sự (2015);
- Bộ Luật Hình sự (2015);
- Bộ Luật Lao động (2012);
- Luật Cán bộ, công chức (2008, sửa đổi bổ sung 2019);
- Luật Viên chức (2010, sửa đổi bổ sung 2019);
- Luật Phòng, chống mua bán người (2012);
- Luật Việc làm (2013);
- Luật Phổ cập giáo dục tiểu học
- Luật Giáo dục năm (2005);
- Luật Khám bệnh, chữa bệnh (2009);
- Luật Giáo dục Đại học (2012) (được sửa đổi, bổ sung năm 2018),
- Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014),
- Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
- Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2015, Sửa đổi năm 2019)
- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2015)
- Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (2015)
- Luật Bình đẳng giới (2006);
- Luật Hôn nhân và gia đình
- Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2007);
- Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ về quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới; …
Xác định tầm quan trọng của việc áp dụng pháp luật về BĐG, áp dụng pháp
luật về BĐG triển khai thực hiện trên các phạm vi như sau:
20
1.2.1. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị
Chiến lược thúc đẩy BĐG của Việt Nam được thể hiện qua nhiều chủ trương,
của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước. Quán triệt quan điểm của Đảng,
theo nguyên tắc bình đẳng nam nữ được thể chế hóa trong Hiến pháp và hầu hết
các văn bản QPPL của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho phụ
nữ tham gia chính trị. Theo Hiến pháp (2013), cụ thể tại Chương II quy định:
"Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" [11]. Trong Luật
Bình đẳng giới (2006) quy định về BĐG trong lĩnh vực chính trị tại Điều 11.
Nhà nước ban hành những quy định cụ thể nhằm đảm bảo sự tham gia bình
đẳng của nam và nữ trong các cơ quan dân cử và bộ máy QLNN, theo đó, tại
khoản 3, Điều 7 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân
(2015) lần đầu tiên quy định tỉ lệ ứng cử viên là nữ trong danh sách chính thức
những người ứng cử phải “bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số
người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ
nữ” [16].
Những nỗ lực không ngừng của Đảng và Nhà nước góp phần thực hiện tốt
chương trình BĐG trên các lĩnh vực, BĐG trong lĩnh vực chính trị là một trong
những lĩnh vực đáng kể và được cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Áp dụng pháp luật về BĐG trong lĩnh vực chính trị là rất quan trọng, bởi vì
phụ nữ cũng như nam giới trong lĩnh vực này có điều kiện tự khẳng định vị trí của
họ, vì khi tham gia vào vị trí lãnh đạo, quản lý ở các cấp nghĩa là họ đã thực sự
tham gia vào việc nắm giữ và sử dụng quyền lực nhà nước, đại diện cho mọi người
nói chung và cho giới nói riêng trực tiếp tham gia vào công tác phát triển KT-XH
của địa phương.
1.2.2. Áp dụng pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động,
việc làm
Ngoài ra, chính sách pháp luật về BĐG còn được thể hiện ở khía cạnh giảm
khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế. Nhằm giảm khoảng cách giới trong lĩnh
21
vực kinh tế, lao động, việc làm, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta không
ngừng hoàn thiện các quy định pháp luật về BĐG trong vấn đề này.
Căn cứ tại Điều 12 Luật Bình đẳng giới (2006) có nêu: “Nam, nữ bình đẳng
trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh,
quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị
trường và nguồn lao động” [12] và Khoản 1 Điều 13 Luật này đưa ra quan điểm:
“nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng
tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao
động và các điều kiện làm việc khác” [12] cho thấy trong lĩnh vực kinh tế, BĐG
cũng nhận được sự quan tâm sâu sắc.
Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Lao động (2019) nghiêm cấm các hành vi:“phân
biệt đối xử trong lao động” [3]. Bộ luật Lao động (2019) còn ghi nhận chính sách
của Nhà nước như sau: “Bảo đảm quyền bình đẳng của lao động nữ, lao động
nam, thực hiện các biện pháp bảo đảm BĐG và phòng, chống quấy rối tình dục
tại nơi làm việc”[3]. Chính sách nhà nước đối với lao động nữ và bảo đảm thực
thi quyền bình đẳng của lao động nữ, lao động nam, thực hiện các biện pháp bảo
đảm BĐG và phòng, chống các hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Khuyến
khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ, lao động nam có việc
làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo nhiều hình thức khác
nhau như thời gian biểu linh hoạt, làm việc không theo ca, thực hiện công việc
làm tại nhà. Nhà nước quy định cụ thể trách nhiệm của người sử dụng lao động
trong việc đảm bảo việc làm, cơ hội làm việc đối với người lao động là: Bảo đảm
thực hiện BĐG và các biện pháp thúc đẩy BĐG trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếp
việc làm, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ
khác [3]. Bộ Luật Lao động (2019) còn quy định chi tiết về các hoạt động như
tuyển dụng, đào tạo, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi… nhằm bảo vệ quyền lợi đặc
thù của người phụ nữ và bảo đảm bình đẳng giữa nam và nữ, trường hợp người
sử dụng lao động vi phạm các quy định BĐG liên quan đến lao động thì bị xử phạt
vi phạm hành chính theo quy định cụ thể tại Điều 8 Nghị định số 125/2021/NĐ-
22
CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực BĐG [8].
Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (năm 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2020) cụ thể tại Điều 4 thì quá trình xây dựng văn bản QPPL phải bảo
đảm lồng ghép vấn đề BĐG trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL. Trong quá
trình xây dựng văn bản QPPL, việc lồng ghép vấn đề BĐG được xem là biện pháp
chiến lược để cụ thể hóa mục tiêu BĐG, xóa bỏ bất bình đẳng đối xử về giới, bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với đặc thù của mỗi giới; bảo đảm BĐG thực
chất giữa nam và nữ; tạo cơ hội phát triển như nhau cho nam và nữ trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội và gia đình.
Chính quyền các cấp có kế hoạch, biện pháp tổ chức xây dựng các nhà trẻ,
lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động giúp cho người lao động an tâm làm việc,
lao động sản xuất.
1.2.3. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và
đào tạo
Được xem là chủ thể hưởng thụ những giá trị mà giáo dục, đào tạo mang
lại, nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về các hoạt
động giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Không những thế, chủ
thể còn được cụ thể hóa trong quy định của các văn bản pháp luật khác như Luật
Giáo dục (2019), Luật Giáo dục Đại học (2012) (được sửa đổi, bổ sung năm 2018),
Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014), Bộ luật Lao động (2019) … Cụ thể: quy định
tại khoản 1, Điều 13 Luật Giáo dục (2019) quy định: “Học tập là quyền và nghĩa
vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng,
giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế
đều bình đẳng về cơ hội học tập” [17] ; Căn cứ Điều 14 Luật Bình đẳng giới
(2006), BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: (1) Nam, nữ bình đẳng về độ
tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng; Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành,
nghề học tập, đào tạo; (2) Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ
các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; (3) Nữ
CBCCVC khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới 36 tháng tuổi được
23
hỗ trợ theo quy định của Chính phủ [12]. Công dân không phân biệt giới tính đều
bình đẳng về cơ hội học tập.
Nền tảng của việc lựa chọn ngành - nghề, việc làm là được đào tạo, bồi
dưỡng các kỹ năng nghề nghiệp, đặc biệt là đối với các ngành, nghề đặc thù có
quy định điều kiện về chứng chỉ hành nghề. Điều 5 Bộ luật Lao động (2019) có
nêu: “người lao động có quyền học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không
bị phân biệt đối xử” [3]; trong luật cũng quy định nghiêm cấm hành vi “phân biệt
đối xử về giới tính” đối với người lao động, theo đó có việc phân biệt đối xử về
giới tính trong việc lựa chọn người lao động khi cử đi đào tạo, bồi dưỡng chuyên
môn, nghiệp vụ; Các cơ sở dạy nghề, cơ sở giáo dục thực hiện việc tuyển sinh trên
cơ sở các điều kiện về năng lực của thí sinh thể hiện qua điểm thi, quá trình học
tập không phân biệt giới tính của thí sinh ứng tuyển. Không phân biệt giới tính
nam hay nữ, đều có cơ hội ngang nhau trong việc lựa chọn học tập những ngành
- nghề, công việc lĩnh vực phù hợp với sở thích, khả năng, năng khiếu của người
học.
1.2.4. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và
công nghệ
Khi xã hội có nhiều tiến bộ, văn minh và phát triển, phụ nữ nói chung và
phụ nữ Việt Nam nói riêng ngày càng có nhiều cơ hội tham gia và đóng góp cho
sự nghiệp xây dựng phát triển toàn diện và sâu rộng của những vấn đề của đất
nước. Họ ngày càng khẳng định vai trò và vị thế của mình trong hầu hết các lĩnh
vực, bao gồm cả hoạt động nghiên cứu KH&CN.
BĐG trong KH&CN là một trong tám lĩnh vực chủ chốt được quy định
trong Luật Bình đẳng giới (2006). theo Điều 15 Luật này nêu: “nam giới và phụ
nữ bình đẳng trong tiếp cận các khóa đào tạo về KH&CN, trong công bố các kết
quả nghiên cứu KH&CN, và trong phát minh sáng chế” [12]. Phụ nữ được khuyến
khích tham gia nghiên cứu khoa học và hiện đang có các đề xuất về chính sách ưu
tiên phụ nữ trong giáo dục và đào tạo nghiên cứu khoa học để tạo ra một môi
trường nghiên cứu khoa học hiện đại và dân chủ.
24
1.2.5. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế
Tại Điều 38 của Hiến pháp (2013) quy định BĐG trong lĩnh vực y tế như
sau: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc
sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh,
khám bệnh, chữa bệnh” [11]. Lĩnh vực y tế là tổng hợp các hoạt động chăm sóc
sức khoẻ, hoạt động chuẩn đoán, điều trị, chữa bệnh, phòng ngừa bệnh, bệnh tật,
thương tích, và suy yếu về thể chất và tinh thần khác ở người, y tế đề cập đến vấn
đề sức khỏe cũng như hoạt động liên quan trong cuộc sống hàng ngày. Cần xác
định, BĐG trong ngành y tế có 2 đặc thù cơ bản, đó là: (1) Nhóm mục tiêu thực
hiện sự BĐG trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng nói chung. Ngành y
tế cũng đặt mục tiêu nâng cao nhận thức BĐG cho đội ngũ CBCCVC, người lao
động trong ngành; hỗ trợ giảm thiểu hậu quả đối với sức khỏe là nạn nhân BLGĐ;
(2) Nhóm chỉ tiêu về đảm bảo quyền bình đẳng với cán bộ ngành y tế với việc tăng
cường sự tham gia của phụ nữ vào các cương vị lãnh đạo, quản lý trong toàn ngành
nhằm từng bước giảm dần khoảng cách về giới trong lĩnh vực này.
Thể chế hóa quan điểm của Hiến pháp, BĐG trong lĩnh vực y tế được quy
định cụ thể tại Điều 17 Luật Bình đẳng giới (2006): (1) Nam, nữ bình đẳng trong
tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ
sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế; (2) Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết
định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây
nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục; Phụ nữ nghèo cư
trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia
bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo
quy định của Chính phủ [12]. Còn theo Điều 3 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh
(2009), khẳng định bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối
với người bệnh trong mọi trường hợp.
1.2.6. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông
tin, thể dục, thể thao
Quá trình hội nhập quốc tế ở nước ta diễn ra đã tạo ra những tiền đề mạnh
mẽ và sâu rộng để nền văn hóa thông tin, thể dục thể thao của nước nhà trong các
25
hoạt động giao thoa, ghi dấu ấn với khu vực và thế giới, thúc đẩy những đổi mới
tích cực các hoạt động về tư duy, quản lý, phát triển đa dạng, đối ngoại trong lĩnh
vực văn hóa, thông tin, thể dục thể thao. Do vậy, phải đặt vấn đề, bình đẳng và
BĐG trong các lĩnh vực này.
Trong lĩnh vực thể dục và thể thao, Hiến pháp (2013) quy định tại khoản 2,
Điều 37: “Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập,
lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân
tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ
quốc…” [11]. Về hoạt động văn hóa, tại Điều 40 có nêu: “Mọi người có quyền
nghiên cứu KH&CN, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các
hoạt động đó”. Đồng thời nhà nước đảm bảo “Mọi người có quyền hưởng thụ và
tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở
văn hóa” (Điều 41) [11].
Tại Luật Bình đẳng giới (2006), tại Điều 16 BĐG trong lĩnh vực văn hoá,
thông tin, thể dục, thể thao đó là: “Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt
động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao; Nam, nữ bình đẳng trong hưởng thụ
văn hoá, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin” [12].
1.2.7. Áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình
Quan hệ giữa gia đình với xã hội là quan hệ giữa các bộ phận với cái toàn
thể. Gia đình thường được ví là tế bào xã hội, tập hợp nhiều gia đình cộng lại góp
phần hình thành cộng đồng, xã hội, khi gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt
thì gia đình càng tốt, đây là mối quan hệ biện chứng. BĐG trong gia đình không
chỉ có ý nghĩa riêng đối với người phụ nữ mà còn được xem là động lực phát triển
xã hội. Bình đẳng dễ nhận thấy ngay từ trong mỗi gia đình, được xem là nền tảng
cho việc nâng cao quyền phụ nữ, cho phép họ tự quyết định cuộc sống và khẳng
định vị thế của mình ngoài xã hội. Hôn nhân dựa theo nguyên tắc tự nguyện tiến
bộ: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn”, thực hiện chế độ hôn nhân “một vợ một
chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”. Đồng thời chế độ hôn nhân gia
đình đặt dưới sự Nhà nước bảo hộ và Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và
trẻ em (nội dung quy định tại Điều 36 Hiến pháp); Riêng đối với trẻ em được Nhà
26
nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; không những thế trẻ em còn
được tham gia vào chính các vấn đề về trẻ em.
Cụ thể hóa quan điểm của Hiến pháp, Điều 18 Luật Bình đẳng giới (2006),
BĐG trong gia đình được hiểu 05 nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, cả hai vợ, chồng
bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn
nhân và gia đình, được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích; Thứ hai, Vợ, chồng có
quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng
nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các điều kiện tài sản, hoạt động
kinh tế, nguồn lực trong gia đình; Thứ ba, Vợ, chồng ngang quyền với nhau trong
quá trình bàn bạc, ra quyết định lựa chọn và thống nhất sử dụng biện pháp kế
hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy
định của pháp luật; Thứ tư, Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và
tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển; Thứ
năm, các thành viên trong gia đình dù là nam hay nữ đều có trách nhiệm chia sẻ
công việc gia đình [12].
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới áp dụng pháp luật về bình đẳng giới
Áp dụng pháp luật chịu sự quy định, ảnh hưởng của nhiều yếu tố thuộc cả
cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng pháp lý. Điều này làm cho việc áp dụng
pháp luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, cụ thể:
1.3.1. Hoạt động xây dựng pháp luật
Nhằm đưa chính sách, luật pháp về BĐG được triển khai, đi vào thực tiễn
cuộc sống, các cơ quan chức năng thực hiện các hình thức tuyên truyền, giáo dục
triển khai ở các cấp, chú trọng thực hiện, gia tăng cả về số lượng và chất lượng.
Thông qua các hình thức đa dạng, kết hợp nhiều phương thức khác nhau công tác
truyền thông, giáo dục về BĐG đã giúp cho các cơ quan, tổ chức, CBCCVC người
lao động và nhân dân thấy rõ tầm quan trọng của BĐG đối với phát triển kinh tế,
xã hội và nhận thức được thực trạng, nguy cơ và tác động của bất BĐG đối với cá
nhân, gia đình và toàn xã hội, từ đó hình thành những quan niệm tiến bộ về vai
trò, vị thế của phụ nữ và BĐG. Đây là hoạt động cơ bản, quan trọng của nhà nước
27
cho nên việc nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà luật học và các nhà
xã hội học pháp luật là cần thiết. Để thực hiện và áp dụng pháp luật có hiệu quả
trước hết phải có pháp luật tốt, muốn làm tốt điều đó thì hoạt động xây dựng pháp
luật đóng vai trò quan trọng.
1.3.2. Trình độ văn hóa pháp lý của cán bộ và nhân dân
Sự hoàn thiện của hoạt động áp dụng pháp luật đòi hỏi trình độ văn hóa pháp
lý nội tại của CBCC trong bộ máy nhà nước và nhân dân trong xã hội. Điều cần
thiết đặt ra phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nhằm
nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, tạo dựng và củng cố lòng tin của nhân dân
vào pháp luật, để từ đó họ có nhận thức pháp luật những hành vi pháp luật mang
lại hiệu quả tích cực, sử dụng pháp luật vào việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của mình cũng như của người khác. Tích cực tham gia đấu tranh không khoan
nhượng với các hiện tượng tiêu cực, hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội.
Giáo dục và hình thành nhận thức có thể giúp loại bỏ các quan điểm lỗi thời
và sai lầm về giới tính, tạo điều kiện thuận lợi cho áp dụng pháp luật về BĐG. Sự
nhận thức về quyền BĐG và vai trò của nam và nữ trong gia đình là quan trọng
để áp dụng pháp luật về BĐG. Giáo dục và xây dựng nhận thức còn giúp loại bỏ
các định kiến và sai lầm về giới tính, khuyến khích sự tham gia chung và tạo ra
một môi trường thuận lợi cho áp dụng pháp luật.
Nhận thức pháp luật bao gồm hiểu biết kiến thức cơ bản về pháp luật về
BĐG; những yêu cầu, nguyên tắc mang tính hành chính, nghiêm cấm hoặc cho
phép được làm của pháp luật. Việc hình thành kiến thức cơ bản về pháp luật giúp
cho các chủ thể đạt được trình độ hiểu biết nhất định, xây dựng lòng tin đối với
pháp luật, tự giác điều chỉnh hành vi xử sự của mình trong các quan hệ xã hội;
giúp họ hiểu rõ bản chất ưu việt của pháp luật XHCN và bản chất của nhà nước
ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân; khẳng định pháp luật là công cụ có hiệu
lực sắc bén trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức.
28
1.3.3. Công tác tổ chức và cán bộ của các cơ quan áp dụng pháp luật
Một hệ thống pháp luật và chính sách rõ ràng và nhất quán về BĐG là cần
thiết. Pháp luật cần bảo vệ và thúc đẩy BĐG, đồng thời phải đảm bảo tính công
bằng và hiệu quả trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến BĐG. Chính
sách công cộng cũng cần định hướng và hỗ trợ việc áp dụng pháp luật về BĐG
trong các lĩnh vực khác nhau.
Sự phân công, cơ cấu quyền lực và quyền điều hành trong cơ quan HCNN
và các tổ chức CT-XH có thể ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định và thực thi
các chính sách liên quan đến công tác BĐG. Các quyết định chính trị có thể tạo
ra các cơ hội hoặc rào cản đối với việc thúc đẩy BĐG. Nếu quyết định chính sách
không nhấn mạnh đủ mức độ quan trọng của BĐG, có thể gây ra thiếu sót trong
việc thực thi pháp luật. Ý thức chính trị của các nhà lãnh đạo, hoạch định và thực
thi chính sách cũng quyết định ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền BĐG. Sự
nhạy bén, linh hoạt và cam kết của họ đối với vấn đề này có thể ảnh hưởng lớn
đến việc áp dụng pháp luật về BĐG.
1.3.4. Hoạt động của các cơ quan áp dụng pháp luật
Để công tác BĐG đạt được kết quả như mong muốn, Nhà nước đã xây dựng
và tổ chức các cơ quan áp dụng pháp luật. Hoạt động của các cơ quan áp dụng pháp
luật của chủ thể thực hiện BĐG đòi hỏi các cơ quan tổ chức và cá nhân cần nắm
vững các công việc mà họ đảm nhận và thực hiện với tinh thần trách nhiệm, đạo
đức công vụ, tránh hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, trì trệ, giấy tờ hình
thức hoặc thờ ơ vô cảm đối với tính mạng con người, danh dự và nhân phẩm của
cá nhân, với tài sản của nhà nước và nhân dân.
1.3.5. Các văn bản áp dụng pháp luật
Điểm nổi bật trong việc bảo đảm quyền lợi về giới ở Việt Nam là việc Nhà
nước ban hành và từng bước hoàn thiện khung pháp lý, hành lang pháp lý về BĐG,
ban hành các văn bản QPPL và văn bản dưới luật để cụ thể hóa, quy định chi tiết
các quan điểm chủ trương của Đảng và Chính sách của Nhà nước về quy định các
biện pháp bảo đảm và thực hiện BĐG. Các văn bản này làm căn cứ pháp lý vững
29
chắc, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và nữ trong mọi
lĩnh vực đời sống xã hội và gia đình, được hậu thuẫn bởi pháp luật.
Căn cứ các văn bản áp dụng pháp luật các cơ quan chức năng, các tổ chức
cá nhân tiến hành các hoạt động QLNN về BĐG nhằm hiện thực hóa chiến lược,
chính sách mục tiêu quốc gia về BĐG vào thực tế. Văn bản QPPL về BĐG đây
không phải là loại văn bản đơn thuần mà có tính đặc biệt vì được ban hành và thực
thi bởi cơ quan nhà nước theo đúng thẩm quyền, trình tự, theo hình thức thủ tục
luật định mang tính xử sự chung, có tính hiệu lực bắt buộc chung được nhà nước
đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các hoạt động về BĐG.
1.3.6. Ý thức pháp luật
Để người dân hiểu biết và thực thi pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật, hiểu biết pháp luật để sử dụng pháp luật làm công cụ bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể, xây dựng văn hóa pháp lý trong đời sống xã
hội, lấy pháp luật làm thước đo cho tính hợp pháp và văn minh của hành vi con
người. Việc nâng cao ý thức pháp luật nói chung và pháp luật về BĐG nói riêng
cho mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng và hình thành lối sống tuân thủ pháp luật là
một công việc quan trọng, vừa có tính cấp thiết, vừa là công việc có tầm chiến lược
lâu dài. Để nâng cao ý thức pháp luật BĐG trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN ở nước ta hiện nay thì không chỉ chú trọng xây dựng một hệ thống
pháp luật chặt chẽ, hoàn thiện là chưa đủ, đặt ra nhiệm vụ cần phải không ngừng
bồi dưỡng, giáo dục nhằm nâng cao ý thức pháp luật CBCC và nhân dân.
1.3.7. Những điều kiện vật chất, kỹ thuật đảm bảo cho hoạt động áp dụng
pháp luật
Nhiều văn bản pháp luật, nhiều quy định của pháp luật muốn thực hiện
được trong thực tế đòi hỏi phải có một chi phí rất lớn về sức người và trang bị vật
chất - kỹ thuật (nguồn nhân lực, vật lực). Trong điều kiện sự phát triển của khoa
học, công nghệ và quá trình hội nhập quốc tế đã và đang diễn ra không ngừng, tạo
ra những thay đổi trong tư duy và phương pháp tổ chức quản lý trên quy mô toàn
xã hội.
30
Có thể nói, yếu tố nguồn lực là điều kiện quan trọng để thực hiện pháp luật
về BĐG; nhà nước cần có chủ trương tập trung nguồn lực và có chính sách huy
động tối đa mọi nguồn lực trong và ngoài nước để đảm bảo và tăng cường thực
hiện BĐG. Cơ quan HCNN quản lý và sử dụng các nguồn lực từ ngân sách nhà
nước, từ các khoản viện trợ; đồng thời có chính sách phù hợp huy động các nguồn
lực, trong đó khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân hợp tác, giúp đỡ dưới mọi
hình thức trong việc bảo đảm và tăng cường thực hiện pháp luật về BĐG.
Trong việc tiếp cận nguồn lực, tài nguyên và điều kiện kinh tế như đất đai,
nguồn vốn, cơ hội việc dễ nảy sinh bất BĐG. Trong trường hợp pháp luật thực thi
không đảm bảo đầy đủ trong việc tiếp cận nguồn lực, tài nguyên và điều kiện kinh
tế này một cách công bằng cho nam và nữ, sẽ tạo ra sự chênh lệch lớn. Sự không
đồng đều trong thu nhập giữa nam và nữ cũng tác động không nhỏ đến quyền
BĐG trong việc định rõ tiêu chuẩn sống.
1.3.8. Yếu tố văn hóa, xã hội
Quan điểm xã hội và giá trị văn hóa có thể ảnh hưởng đáng kể đến áp dụng
pháp luật về BĐG. Nếu một xã hội không đánh giá cao BĐG, hoặc có các định
kiến và quan điểm phân biệt giới, việc áp dụng pháp luật có thể gặp khó khăn. Sự
thay đổi văn hóa và quan điểm xã hội là quan trọng để tạo ra một môi trường thuận
lợi cho áp dụng pháp luật về BĐG. Văn hóa và giá trị xã hội có thể ảnh hưởng đến
áp dụng pháp luật về BĐG trong gia đình. Nếu xã hội có các định kiến và quan
điểm phân biệt giới, việc áp dụng pháp luật có thể gặp khó khăn. Sự thay đổi văn
hóa và giá trị xã hội là quan trọng để tạo điều kiện thuận lợi cho áp dụng pháp luật
về BĐG.
Trong quá trình áp dụng pháp luật luôn tính đến yếu tố kế thừa và khi thực
hiện chịu sự tác động của các yếu tố xã hội như văn hóa, lịch sử, truyền thống, tập
quán, thói quen thường có sự chi phối, ảnh hưởng nhất định đối với công tác sinh
sản kế hoạch hóa gia đình; mặt khác, cơ chế tập trung quan liêu vẫn còn để lại
nhiều nét chưa phai trong tư duy, nhận thức, tác phong, lề lối làm việc của không
ít CBCCVC, không thể thay đổi nhanh chóng.
31
Tiểu kết Chương 1
Tài liệu nghiên cứu ở phần cơ sở lý luận được tác giả thu thập từ nhiều
nguồn khác nhau từ các tài liệu, văn bản của Đảng và Nhà nước. Trong chương
này, tác giả làm rõ một số vấn đề lý luận áp dụng pháp luật về BĐG, cụ thể phân
tích về: Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật về BĐG, nội dung áp
dụng pháp luật về BĐG và các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng pháp luật BĐG.
Qua đó đã tập hợp và phân tích hệ thống các QPPL hiện hành liên quan đến áp
dụng pháp luật về bình đẳng giới giúp tác giả có cái nhìn tổng quan hơn về thực
trạng nghiên cứu của đề tài. Xây dựng hệ thống cơ sở lý luận hiện có để từ đó có
quyết định lựa chọn phương pháp nghiên cứu tối ưu nhất trong chương tiếp theo.
Đồng thời nhờ những chủ trương, chính sách đúng đắn, quyết liệt nêu trên,
công tác BĐG đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của công cuộc phát
triển KT-XH, tạo những chuyển biến tích cực ở cả cấp độ quốc gia và ở các
bộ, ngành, địa phương.
32
Chương 2
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, TP. HỒ CHÍ MINH
2.1. Các yếu tố đặc thù ảnh hưởng đến áp dụng pháp luật về bình đẳng
giới quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
2.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội quận Gò Vấp
Quận Gò Vấp là quận nội thành nằm ở phía Tây Bắc TP. Hồ Chí Minh; có
diện tích 1.973,25 ha, được chia thành 16 phường, với 186 khu phố và 1.436 tổ
dân phố. Quận có đặc thù là địa phương có quy mô dân số lớn nhất trên địa bàn
Thành phố với tổng dân số toàn quận thời điểm 01/01/2021 là 686.689 người,
trong đó nam chiếm 48,79%, nữ chiếm 51,21%, tạm trú chiếm 39,14%. Mật độ
dân số là 35.164 người/km2, trong đó cao nhất là 59.418 người/km2 và thấp nhất
là 22.548 người/km2 [24, tr.1].
2.1.2. Khái quát về tình hình thực hiện bình đẳng giới tại quận Gò Vấp
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền quận Gò
Vấp, các ban ngành, đoàn thể luôn dành sự quan tâm đến công tác VSTBPN &
BĐG tại quận được thực hiện thường xuyên, đi vào chiều sâu. Trong đó nhiều
chương trình, mục tiêu được triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tế tại
địa phương đã góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện công tác VSTBPN &
BĐG trên địa bàn quận.
Để thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu Chương trình Chiến lược quốc gia về
BĐG trên địa bàn Quận Gò Vấp, UBND quận đã quan tâm chỉ đạo và tạo điều
kiện về ngân sách, bộ máy, nhân sự để triển khai các nhiệm vụ một cách đồng bộ,
hiệu quả; đồng thời phối hợp các ban ngành, đoàn thể và 16 phường lồng ghép
vấn đề BĐG trong các chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương,
tiến hành rà soát kiện toàn lại bộ máy nhân sự làm công tác VSTBPN & BĐG để
đảm bảo cho việc phối hợp liên ngành trong triển khai các hoạt động nâng cao
năng lực QLNN về BĐG, về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất
33
nước, tạo ra sự thay đổi rõ nét nhận thức trong đội ngũ CBCCVC và người dân
trên địa bàn quận đối với công tác VSTBPN & BĐG.
Từ sau khi Luật BĐG ra đời, được lãnh đạo quận quan tâm chỉ đạo thực hiện,
sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể nên việc triển khai
thực hiện các điều, khoản của Luật trên địa bàn quận đạt được kết quả tích cực.
Các chị em phụ nữ ngày càng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động công tác xã
hội, công việc phức tạp, các vị trí cao trong xã hội khẳng định vị thế bản thân; các
hoạt động truyền thông, tập huấn nâng cao nhận thức về BĐG được đổi mới, nội
dung và phương pháp triển khai được cải tiến đã đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về
BĐG của mỗi giới; đồng thời đã nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị về
quan điểm thực hiện BĐG không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực, từ đó chính
sách, tổ chức bộ máy hoạt động BĐG ngày càng được bổ sung và hoàn thiện. Sự
tham gia của cộng đồng vào các vấn đề xã hội theo xu hướng xã hội hóa ngày
càng gia tăng. Việc thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH của quận đã giúp thúc
đẩy vấn đề an sinh xã hội và bảo đảm BĐG được thực hiện rõ ràng và thuận lợi
hơn.
Tuy vậy, cũng còn nhiều hạn chế và tồn tại làm ảnh hưởng lớn cho công
tác BĐG. Có thể nói đến các nội dung như sau:
Một là, hiện nay hầu hết người phụ nữ vẫn phải làm những công việc nội trợ
gia đình chiếm phần lớn thời gian và công sức; vẫn còn tư tưởng “trọng nam khinh
nữ”, trong các hoạt động sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia
đình thường do người phụ nữ đảm nhận. Thành phần dân cư đa dạng lại chịu biến
động lớn trong quá trình đô thị hoá, đã góp phần gây ra những khó khăn nhất định
trong việc thực hiện BĐG. Các nhóm dân cư khác nhau có trình độ nhận thức khác
biệt về bình đẳng nam nữ, cần có những biện pháp tác động khác nhau, trong khi
nguồn lực vật chất và con người cho công tác này có hạn.
Hai là, giống như các quận huyện khác trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh, tình trạng nhập cư từ nơi khác đến, làm gia tăng mật độ dân cư, do kết quả
của quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng dẫn tới những bức xúc về điều kiện
sống, sinh hoạt, làm việc, ASXH, từ đó làm tăng những vấn đề về BĐG, đặc biệt
34
là sự phân biệt đối xử và BLGĐ với phụ nữ.
Ba là, thu nhập giữa nam và nữ có sự chênh lệch nhất định mặc dù cùng một
vị trí công việc vẫn tồn tại, cơ hội để phụ nữ tiếp cận những việc làm có thu nhập
cao vẫn có khoảng cách so với nam giới, trong nhiều trường hợp lao động nữ chưa
được đánh giá cao như lao động nam, là đối tượng dễ bị rủi ro và tổn thương hơn
khi doanh nghiệp có nhu cầu cắt giảm nhân lực tiêu biểu như các cơ sở lao động
sản xuất đòi hỏi yêu cầu về sức khỏe. Một vấn đề nữa là hiện nay, thu nhập bình
quân của lao động nữ luôn thấp hơn nam giới.
2.1.3. Khái quát đội ngũ tham gia công tác bình đẳng giới tại quận Gò Vấp
Tính đến thời điểm tháng 5/2022 toàn quận Gò Vấp có 213 người (127 nữ
chiếm 59.62%) làm công tác BĐG, trong đó: Phòng Lao động – Thương binh và
Xã hội có 01 lãnh đạo phụ trách và 01 cán bộ chuyên trách; 16/16 Phường có cán
bộ chuyên trách BĐG – Trẻ em; Ban VSTBPN & BĐG quận có 24 người (18 nữ)
gồm đại diện lãnh đạo các cơ quan chuyên môn, đoàn thể quận được phân công
phụ trách các mục tiêu, chỉ tiêu trong Chiến lược quốc gia về BĐG của quận giai
đoạn 2011 – 2020, các đơn vị cơ sở: 45 người, phường có 144 người. Hàng năm
quận, phường đều rà soát, củng cố nhân sự kịp thời để đảm bảo cho việc triển khai
thực hiện QLNN về BĐG trên địa bàn quận [24].
2.2. Thực trạng pháp luật về bình đẳng giới ở Ủy ban nhân dân Quận
Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
Căn cứ chủ trương, quan điểm của Đảng như Nghị quyết số 11-NQ/TW
ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về “Công tác Phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước”; Kết luận số 196-TB/TƯ ngày 16/ 3/2015 của
Ban Bí thư về Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BĐG,
vì sự tiến bộ phụ nữ trong tình hình mới; đồng thời tăng cường giải pháp nhằm
từng bước cụ thể hóa các điều khoản về Công ước CEDAW; Luật BĐG và các
văn bản dưới luật; Chương trình hành động số 31-CTr/TU ngày 13/3/2008 Thành
ủy thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị
35
khóa X về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước”.
Quang cảnh Buổi tuyên truyền về thúc đẩy Bình đẳng giới và phòng ngừa
bạo lực trên cơ sở giới tại Quận Gò Vấp năm 2020
36
Quang cảnh buổi Tập huấn nghiệp vụ công tác gia đình, bình đẳng giới và
phòng chống bạo lực gia đình, vào ngày 12/8/2022 tại Quận Gò Vấp
Thực trạng pháp luật về BĐG ở UBND Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh,
cụ thể như sau:
2.2.1. Thực tiễn ban hành và thực hiện chính sách pháp luật về bình
đẳng giới ở Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
Về mặt pháp lý, UBND Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều
văn bản hướng dẫn, chỉ đạo và triển khai thực hiệnviệc áp dụng pháp luật về BĐG
tại địa bàn trong giai đoạn từ năm 2017 đến 2022 (Xem thêm tại Phụ lục 1) [24,
tr. 2-4].
Hàng năm quận đều có xây dựng Chương trình, Kế hoạch cụ thể hóa các nội
dung của Luật trong thực hiện chiến lược, quốc gia về BĐG. Ngoài ra, các đơn vị
thành viên Ban VSTBPN & BĐG đã xây dựng các chương trình, kế hoạch ngắn
hạn, dài hạn của ngành có liên quan đến giới và BĐG trên địa bàn.
Nhằm quán triệt, phổ biến, giáo dục pháp luật về BĐG, quận Gò Vấp đã tổ
37
chức nhiều hoạt động phong phú, đa dạng trong áp dụng thi hành Luật BĐG, Nghị
định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 của Chính phủ về các biện pháp bảo đảm
BĐG; Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ quy định xử
phạt vi phạm hành chính về BĐG. Ngoài ra, để Luật BĐG được lan tỏa và sâu
rộng vào đời sống xã hội, quận đã tổ chức nhiều đợt sinh hoạt thông qua các Câu
lạc bộ, đội nhóm, phát thanh, bản tin, trang webtise, hội thi, treo pano, áp phích,
băng ron, thông qua tháng hành động vì BĐG … Qua đó đưa Luật Bình đẳng giới
dần đi vào cuộc sống. Công tác áp dụng pháp luật về BĐG tại UBND quận Gò
Vấp đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, cụ thể như sau: Các cấp các ngành
có sự quan tâm, công tác QLNN về BĐG được tăng cường; công tác phối hợp
giữa các ban ngành và địa phương trong áp dụng pháp luật về BĐG ngày càng sâu
rộng và hiệu quả; hệ thống chính trị việc thực hiện các mục tiêu, các chỉ tiêu chiến
lược Quốc gia về BĐG cơ bản đạt kế hoạch đề ra, trong đó có một số lĩnh vực như
giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe
y tế...
Chính vì vậy, tình hình áp dụng pháp luật về BĐG ở UBND quận Gò Vấp
đòi hỏi cần phải được sự quan tâm, nỗ lực phấn đấu thực hiện của cả hệ thống
chính trị, trong đó Nhà nước có vai trò trung tâm.
2.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban nhân
dân quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
2.2.2.1. Áp dụng pháp luật về BĐG trong lĩnh vực chính trị
Tính đến năm 2023, tổng số cán bộ đảm nhiệm chức vụ chủ chốt diện Ban
Thường vụ Quận ủy Quận Gò vấp quản lý:
+ Khối Đảng có cán bộ nữ chủ chốt: 9/14 cán bộ là nữ, đạt 64,3%, trong đó
Khối Nội chính (Văn phòng Quận ủy) có cán bộ nữ chủ chốt: 01/03 cán bộ là nữ,
đạt 33,33%.
+ Khối Đoàn thể có cán bộ nữ chủ chốt: 05/10 cán bộ là nữ, đạt 50%.
+ Khối Ủy ban phường có cán bộ nữ chủ chốt: 20/46 cán bộ là nữ, đạt 43,5%.
38
+ Quận có 89/99 cơ quan, đơn vị có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ chiếm
tỉ lệ 88,9%. Trong đó: Có 11/12 cơ quan chuyên môn thuộc quận có cán bộ lãnh
đạo chủ chốt là nữ (chiếm tỉ lệ 91,7%), 01/12 cơ quan chuyên môn thuộc quận
không có cán bộ nữ lãnh đạo (phòng Quản lý đô thị); 14/16 UBND phường có
lãnh đạo chủ chốt là nữ, đạt tỉ lệ 87,5%, 02/16 Phường không có cán bộ nữ lãnh
đạo (Phường 6, 12); 63/71 đơn vị sự nghiệp có cán bộ nữ lãnh đạo chủ chốt, đạt
tỉ lệ 94%; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhiệm kỳ 2020 -2025 (tính đến tháng
6/2023 có 186/298 đồng chí là nữ, đạt tỉ lệ 62,42%).
- Cán bộ nữ tham gia Ban chấp hành Đảng bộ quận là 18/40 người, đạt tỷ
lệ 45%; cán bộ nữ tham gia Ban Thường vụ Quận ủy là 07/13 người, đạt tỷ lệ
53,8%. Cán bộ lãnh đạo, quản lý diện Ban Thường vụ Quận ủy được phê duyệt
quy hoạch nhiệm kỳ 2025 -2030 có 519 đồng chí, trong đó nữ là 434 đồng chí, tỉ
lệ 83,6%.
- Cán bộ nữ tham gia Ban chấp hành Đảng bộ 16 phường là 87/220 người,
đạt tỉ lệ 39,5%.
Quận thường xuyên tổ chức các cuộc tuyên truyền, vận động nâng cao nhận
thức, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong thực hiện
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cán bộ nữ và công tác
cán bộ nữ; tập huấn, bồi dưỡng định kỳ đối với nữ CBCCVC tại các cơ quan, đơn
vị trên địa bàn quận. Rà soát, đảm bảo cơ hội bình đẳng cho phụ nữ tham gia vào
các vị trí lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cơ quan, đơn vị thuộc quận và 16 phường.
Công tác phát triển đảng viên nữ cũng luôn được quan tâm. Phần lớn các tổ
chức cơ sở Đảng cơ bản thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng
phát triển đảng viên nữ trong tổ chức chính trị - xã hội như Đoàn thanh niên, hội
Liên hiệp phụ nữ, Công đoàn, trong công nhân viên chức lao động ở các ngành.
Công tác phát triển đảng viên luôn được quận quan tâm, tập trung phát triển những
quần chúng ưu tú đứng vào hàng ngũ của Đảng góp phần xây dựng Đảng vững
mạnh về số lương và chất lượng. Hiện nay tổng số đảng viên (đến tháng 15/2022)
12.241 người, trong đó đảng viên nữ 5.625 người đạt tỷ lệ 45,9%.
39
2.2.2.2. Áp dụng pháp luật BĐG trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm
Toàn quận có 23.357 doanh nghiệp, chi nhánh, cơ sở sản xuất kinh doanh
đang hoạt động do quận quản lý, trong đó có 6.539 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất
kinh doanh có nữ là chủ (chiếm tỉ lệ 27,99%). Tổng số lao động làm công ăn lương
trên địa bàn quận: 102.700 lao động, trong đó 39.082 lao động là nữ, chiếm 38,05%.
Thực hiện triển khai các kênh thông tin về thị trường lao động, tư vấn về giải quyết
nhu cầu việc làm, các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn quận Gò Vấp và Thành phố
nhằm giảm thời gian tìm việc của người lao động; triển khai các chính sách khuyến
khích đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, quan tâm đến nhóm lao
động là nữ khuyết tật, nữ hoàn lương đang sinh sống trên địa bàn quận. Đồng thời,
để làm tốt công tác này, lãnh đạo quận quán triệt cần tăng cường công tác kiểm tra
việc thực hiện pháp luật về BĐG trong lĩnh vực lao động - việc làm, thực hiện chặt
chẽ việc ghi chép ban đầu đối với các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh có tách
biệt theo giới tính, độ tuổi, trình độ, lĩnh vực sản xuất kinh doanh [26].
Quyền quyết định cuối cùng đối với các công việc quan trọng của gia đình;
tỉ lệ nam giới đứng tên sở hữu cá nhân các tài sản có giá trị cũng nghiêng về nam
giới nhiều hơn so với phụ nữ. Trong ngày, nam giới cũng có nhiều thời gian giải
trí hơn so với phụ nữ. Điều này cản trở cơ hội dành cho sự tiến bộ cá nhân và sự
tham gia hoạt động CT-XH của phụ nữ, hạn chế sự đóng góp của phụ nữ cho sự
phát triển của gia đình và xã hội. Cân bằng giữa công việc và đời sống gia đình
đối với nam giới và phụ nữ để có được tinh thần thoải mái, sáng tạo trong công
việc hướng tới việc làm bền vững là một thách thức trong giai đoạn hiện nay.
Trong thực tế trung bình các khoản thu nhập của lao động nữ vẫn thấp hơn
so với lao động nam, nguyên nhân nữ giới có trình độ trung bình thấp hơn so với
nam giới nên trong trường hợp này phải làm những công việc có mức lương thấp
hơn so với nam.
2.2.2.3. Áp dụng pháp luật về BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Quận đã tập trung chỉ đạo công tác phổ cập giáo dục, các ban ngành đoàn
thể quận, phường có sự phối hợp đồng bộ và nhiều giải pháp tích cực như: quan
40
tâm công tác huy động học sinh đầu cấp đến trường, thực hiện tốt công tác phân
luồng học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và vận động học sinh không đạt 3
nguyện vọng vào lớp 10 ra lớp học dân lập tư thục, Trung tâm giáo dục dạy nghề
giáo dục thường xuyên, Trung cấp chuyên nghiệp, chăm lo đến trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn, có nguy cơ bỏ học, nên tỉ lệ phổ cập giáo dục, xóa mù chữ trên
địa bàn quận được củng cố và giữ vững. Tỉ lệ biết chữ của nam và nữ trong độ
tuổi từ 15 đến 40: đạt 99% (nữ 120.929/247.440). Năm 2022, tổng số người đạt
trình độ thạc sĩ trong ngành giáo dục – đào tạo là 195 (nữ 175) đạt tỉ lệ: 100% cán
bộ công chức được đi đào tạo, bồi dưỡng. Phòng Giáo dục và Đào tạo quận xây
dựng và ban hành Kế hoạch số 1267/KH-GDĐT về Kế hoạch pháp chế và phổ
biến tuyên truyền giáo dục pháp luật trong năm học 2021-2022. Nội dung cơ bản
gồm: Các quy định pháp luật của Nhà nước về dân sự; hình sự; hành chính; hôn
nhân và gia đình; BĐG; xây dựng; bảo vệ môi trường; an toàn vệ sinh thực phẩm;
xử lý vi phạm hành chính; lao động; giáo dục; y tế; quốc phòng và an ninh; giao
thông; bảo hiểm xã hội; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; bạo lực học đường;
phòng, chống mại dâm; an ninh, an toàn trường học, xây dựng môi trường giáo
dục an toàn, lành mạnh, thân thiện; tích cực phòng, chống ma túy; phòng cháy
chữa cháy; hôn nhân và gia đình; luật trẻ em, phòng chống bạo lực trên cơ sở giới,
phòng chống xâm hại trẻ em… 100% cán bộ, giáo viên chủ chốt các cấp khi tham
gia học được đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực về giới và lồng ghép giới. 100%
học sinh các trường trên địa bàn quận đều được công tác truyền thông nâng cao
nhận thức về chuyên đề “BĐG và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới” phù hợp
với độ tuổi sinh hoạt dưới cờ, các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tổ chức thi tìm hiểu
pháp luật…[24].
Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường
học giai đoạn 2020-2025”, xây dựng và thực hiện Bộ quy tắc ứng xử trong trường
học; ngăn ngừa, xử lý kịp thời, hiệu quả các hành vi tiêu cực, thiếu tính giáo dục
trong cơ sở giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện,
phòng, chống bạo lực học đường; đặt ra cơ chế phối hợp giữa nhà trường - gia
đình - xã hội trong giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh. Chỉ
41
đạo các trường ký kết chương trình phối hợp với công an quận nhằm tăng cường
vai trò, trách nhiệm giữa các cơ quan trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp
luật; đấu tranh phòng, chống tội phạm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ,
giáo viên, nhân viên và học sinh. Phòng Giáo dục và Đào tạo cùng các trường tổ
chức các buổi đối thoại trực tiếp với học sinh phổ thông để lắng nghe tâm tư
nguyện vọng, những khó khăn khúc mắc trong học tập, các mối quan hệ giao tiếp
thầy cô, cha mẹ, bạn bè. Từ đó có những biện pháp giáo dục phù hợp hỗ trợ học
sinh giải tỏa những áp lực trong học tập và cuộc sống.
2.2.2.4. Áp dụng pháp luật về BĐG trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
Trong điều kiện KT-XH hiện nay, nền kinh tế tri thức đặt ra yêu cầu ngày
càng cao đòi hỏi người lao động phải thường xuyên và liên tục tiếp nhận tri thức
mới. Do vậy, người phụ nữ có điều kiện học tập nâng cao trình độ là một cơ hội
lớn. Tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển đã làm giảm bớt thời gian người phụ nữ
dành cho các hoạt động nội trợ. Nhờ đó, người phụ nữ có nhiều thời gian tham
gia các hoạt động xã hội khác nhau. Trong bối cảnh đó, Quận đã chủ trương nâng
cao trình độ tay nghề, bồi dưỡng chuyên môn cho một số đối tượng phụ nữ gặp
rào cản ít được đào tạo và đào tạo lại ở mức đủ trình độ, kỹ năng hoạt động trong
các ngành nghề ứng dụng tiến bộ KHCN, trình độ kỹ thuật, công nghệ cao.
2.2.2.5. Áp dụng pháp luật về BĐG trong lĩnh vực y tế
Trước thực trạng mất cân bằng giới tính như hiện nay, Quận phối hợp chặt
chẽ với các ban ngành, đoàn thể đặc biệt là ngành y tế triển khai nhiều biện pháp
song hành, trong đó đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát xử phạt việc lạm dụng
dịch vụ kỹ thuật siêu âm để chẩn đoán giới tính thai nhi cũng như dịch vụ nạo phá
thai tại các cơ sở dịch vụ; đồng thời tổ chức các hoạt động truyền thông nâng cao
nhận thức của cộng đồng dân cư về hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh,
nhằm từng bước thay đổi tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn nặng nề bởi
quan niệm truyền thống của người dân là phải có con trai “để nối dõi tông đường”.
Cập nhật và chia sẻ thông tin chính xác kịp thời trên trang Facebook của
quận và phường về tình hình dịch bệnh, các biện pháp phòng, chống và hướng
42
dẫn cách vệ sinh cá nhân giúp mọi người tăng sức đề kháng phòng dịch. Đẩy mạnh
tuyên truyền thực hiện theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh
thực hiện công tác phòng, chống dịch Covid-19, vận động người dân trên địa bàn
chấp hành nghiêm túc giãn cách xã hội trên fanpage quận, phường qua hoạt động
tổ chức mini game tuyên truyền “Thông điệp 5K” trong phòng, chống dịch Covid-
19 với 500 người tham gia bình luận trả lời câu hỏi, tiếp cận gần 1.000 người qua
đó nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền phòng, chống dịch Covid-19 đến cộng
đồng mạng.
Phối hợp với Website quận, Trung tâm Văn hóa quận, UBND phường thực
hiện tuyên truyền thông điệp về giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh trên
16 pano tại các tuyến đường trên địa bàn quận, đăng tải thông tin tuyên truyền 10
bài viết trên trang Web của quận. 16 cuộc truyền thông thuộc Chương trình Kiểm
soát mất cân bằng giới tính khi sinh với 1300 người tham dự. Tư vấn về giới và
giới tính khi sinh cho nam, nữ thanh niên đăng ký kết hôn tại UBND phường được
89 cặp. Tổng số trẻ sinh ra trong năm 2021 là 5.154 trẻ, trong đó số trẻ là nữ ước
tính 2.526 trẻ. Tỉ số giới tính khi sinh năm 2021 là 104 trẻ nam/100 trẻ nữ. Hoạt
động Y tế trên địa bàn quận trong thời gian qua đạt được nhiều thành tựu, hệ thống
y tế ngày càng phát triển, Bệnh viện quận, Trung tâm Y tế quận được đầu tư xây
dựng, bổ sung trang thiết bị cho Trạm Y tế phường. Toàn quận có 16/16 Trạm y
tế đều có Y sĩ sản nhi. Các chương trình chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng trên
địa bàn quận hoạt động thường xuyên có hiệu quả, đảm bảo việc chăm sóc sức
khỏe cho người dân. Nổi bật là chương trình khám bệnh cho đối tượng chính sách,
người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, các chương trình mục tiêu quốc
gia về phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm, HIV/AIDS, … đặc
biệt, quận đã kéo giảm khoảng cách mất cân bằng giới tính khi sinh. Trong thời
gian tới, quận tiếp tục tăng cường công tác thông tin, truyền thông bằng nhiều
hình thức đa dạng để ngăn ngừa việc lây truyền HIV từ mẹ sang con, tạo mọi điều
kiện để phụ nữ mang thai được tiếp cận thông tin dịch vụ chăm sóc và dự phòng
lây truyền HIV từ mẹ sang con [24].
43
2.2.2.6. Áp dụng pháp luật về BĐG trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể
dục, thể thao
Tiếp tục thực hiện tuyên truyền “Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình” bằng
nhiều hình thức đa dạng, phong phú, cổ động trực quan như: loa phát thanh, bảng
điện tử, áp phích, trang thông tin điện tử… theo từng chủ đề như: Ứng xử chung
trong gia đình, ứng xử của các mối quan hệ trong gia đình, kỹ năng giao tiếp giữa
các thành viên trong gia đình, xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghệ 4.0,...
qua đó, đã thực hiện 132 tin bài, 325 băng rôn, 621 lượt xe loa và đảm bảo tất cả
các hộ gia đình trên địa bàn đều được tiếp cận và hiểu rõ về “Bộ tiêu chí ứng xử
trong gia đình”.
Niêm yết bộ thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực trong phạm vi áp dụng
của hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO
9001:2008 thuộc Phòng Văn hóa và Thông tin, cụ thể trong lĩnh vực gia đình và
thư viện. Trong 15 năm qua, toàn quận (cấp quận và cấp phường) đã tổ chức hơn
500 cuộc truyền thông về Luật phòng chống bạo lực gia đình lồng ghép tuyên
truyền về BĐG và tư vấn giáo dục đời sống gia đình tại các phường với khoảng
3500 người tham dự, trong đó phụ nữ chiếm 85%; và tổ chức tập huấn 50 lớp với
hơn 2500 lượt người tham gia về kỹ năng hòa giải, tư vấn, quy trình can thiệp
BLGĐ ở cộng đồng, giao tiếp ứng xử văn hóa trong đời sống gia đình… cho các
thành viên trong Ban chỉ đạo và nhóm Phòng chống BLGĐ, CLB gia đình hạnh
phúc; tổ chức các buổi chuyên đề về phòng, chống xâm hại tình dục cho hơn
10.000 em nữ từ 6 đến 16 tuổi tham dự.
Tập huấn nghiệp vụ xử lý khi có BLGĐ xảy ra; các văn bản xử phạt hành
chính đối với người gây ra bạo hành. Kiến thức, thông tin về pháp luật phòng,
chống BLGĐ, BĐG trong gia đình, các nội dung pháp luật dân số, trẻ em. Quản
lý 186 mô hình tập hợp như: CLB xây dựng gia đình hạnh phúc, CLB Tiền hôn
nhân, CLB Đồng cảm, Tổ tin cậy cộng đồng, Tổ tư vấn cộng đồng, CLB Vươn
lên, CLB Vượt khó, CLB phụ nữ tham gia bảo vệ môi trường, CLB Dưỡng sinh,
CLB Nuôi dạy con tốt, CLB Phòng chống tệ nạn xã hội, CLB Phụ nữ với an toàn
giao thông, CLB Giúp việc nhà, CLB Nữ doanh nghiệp, CLB “Nữ chủ nhà trọ”,
44
với 6.730 thành viên. Duy trì sinh hoạt các CLB đội nhóm với nội dung hoạt động
theo từng quý, chuyên đề. Nội dung sinh hoạt bám sát theo từng đợt hoạt động và
công tác trọng tâm của hội [24].
Quận đã tập trung nâng cao chất lượng tuyên truyền về BĐG với nhiều hình
thức: phát thanh hàng ngày với các nội dung có liên quan đến BĐG; nhiều bài viết
về công tác BĐG được đăng trên trang website của quận. Tổ chức tuyên truyền về
các chính sách, pháp luật thông qua các hình thức: tài liệu hỏi đáp, tuyên truyền
miệng, tuyên truyền theo nhóm nhỏ, băng rôn, hội thi, chiến dịch truyền thông …
nhằm phổ biến các quy định của pháp luật về BĐG góp phần nâng cao nhận thức,
thay đổi hành vi của CBCC và các tầng lớp nhân dân về BĐG.
2.2.2.7. Áp dụng pháp luật về BĐG trong gia đình
Điều đáng quan tâm là tỉ lệ người dân có nhận thức đúng về các hành vi
BLGĐ là thấp. Những nguyên nhân khiến cho tình trạng bạo lực giới kéo dài và
diễn biến phức tạp bắt nguồn từ những khoảng trống trong hệ thống pháp luật và
thực thi pháp luật; việc phát hiện, tố cáo, xử lý người gây bạo lực và hỗ trợ nạn
nhân còn chưa kịp thời và có nhiều thiếu sót. Để phần nào khắc phục tình trạng
này, quận thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền phổ biến chủ trương
chính sách của Đảng, Nhà nước, chính sách pháp luật về Luật BĐG, Luật Phòng,
chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản dưới luật có
liên quan đến gia đình, phòng, chống BLGĐ, BĐG, trẻ em… Quận đã lồng ghép
nội dung về giới, BĐG trong tập huấn tuyên truyền về công tác gia đình, phòng,
chống BLGĐ.
Nội dung các tài liệu đã sử dụng tuyên truyền về pháp luật và các vấn đề xã
hội về giới, BĐG được phổ biến thông qua nhiều hình thức như đưa lên website
quận, tờ rơi, pa-nô, áp phích, bản tin, tuyên truyền miệng; tuyên truyền cổ động
trực quan; phổ biến dạng tài liệu phát tay, hội thi, tọa đàm, chuyên đề và trong các
đợt hoạt động cao điểm như Ngày Quốc tế Hạnh phúc (20/3), Ngày Gia đình Việt
Nam (28/6), Tháng hành động quốc gia về phòng, chống BLGĐ (Tháng 6), ngày
Quốc tế xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ (25/11) và tháng hành động vì BĐG và
phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới. Từ khi Luật BĐG và Luật Phòng, chống
45
bạo lực gia đình được ban hành, các ngành, đoàn thể các cấp đã nỗ lực tuyên
truyền nâng cao nhận thức chung về BĐG, về kiến thức kỹ năng phòng, chống
BLGĐ, thay đổi nhận thức chung đối với các tầng lớp nhân dân, cán bộ trong các
cơ quan nhà nước, có thẩm quyền, … đã góp phần thực hiện BĐG trong các lĩnh
vực xã hội và trong gia đình, giảm dần số vụ việc BLGĐ, số lượng các vụ việc
phát hiện do cộng đồng ngày càng nhiều hơn, can thiệp BLGĐ ngày càng có hiệu
quả [25].
Công tác tuyên truyền, vận động về phòng, chống BLGĐ, về BĐG trong lĩnh
vực gia đình đã có tác động nhất định đến từng gia đình, mọi người dân trong cộng
đồng. Góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư trong công tác phòng,
chống mua bán người, cán bộ làm công tác BĐG từ phường đến quận được Thành
phố mời tham gia các lớp tập huấn và hướng dẫn nghiệp vụ “Hỗ trợ nạn nhân bị
mua bán trở về”. Hoạt động phòng, chống BLGĐ đã được triển khai đến 16/16
phường, khu phố, tổ dân phố, nhiều biện pháp can thiệp BLGĐ đã được thực hiện
ở cộng đồng, vận động được sự tham gia rất tích cực của quần chúng nhân dân ở
khu phố theo mô hình phòng, chống BLGĐ mang lại kết quả tích cực.
2.3. Đánh giá việc áp dụng pháp luật về bình đẳng giới ở Ủy ban nhân
dân quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
2.3.1. Nhận xét, đánh giá chung
Công tác BĐG luôn được lãnh đạo quận quan tâm và từng bước đạt được
những kết quả đáng khích lệ, hoạt động của Ban VSTBPN & BĐG Quận Gò Vấp
và cơ sở có nhiều chuyển biến, nhiều hoạt động thiết thực đến đời sống người lao
động được triển khai thực hiện như: đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm phù
hợp với năng lực, trình độ của chị em phụ nữ, nhiều chương trình vay vốn từ các
nguồn quỹ hỗ trợ cho chị em phụ nữ có thu nhập cải thiện đời sống gia đình, đồng
thời nâng cao năng lực, trình độ của phụ nữ; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho phụ
nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, CT-XH. Từ đó, người phụ nữ dù ở cương
vị, lĩnh vực nào trong gia đình hay ngoài xã hội đều phát huy được tiềm năng và
năng lực sẵn có; xây dựng nên hình ảnh người phụ nữ hiện đại, biết chu toàn gia
đình và góp phần cùng xã hội xây dựng đất nước bằng những việc làm thực tế và
46
hiệu quả [24, tr.1]. Công tác chỉ đạo, triển khai và tổ chức áp dụng pháp luật về
BĐG đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cấp, các ngành trong toàn quận
quan tâm chỉ đạo, do vậy việc thực hiện pháp luật về BĐG trên địa bàn quận đã
đạt được một số kết quả nhất định.
2.3.2. Về mặt ưu điểm
Quận tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao năng
lực, trình độ cho cán bộ nữ được quan tâm chỉ đạo, đã có nhiều cán bộ nữ được
đề bạt vào các chức danh chủ chốt, tỷ lệ nữ được kết nạp Đảng hàng năm đều
tăng; vị trí, vai trò của phụ nữ trên các lĩnh vực lao động, việc làm, y tế, giáo dục
đặc biệt là trong gia đình đã từng bước được cải thiện.
Quận đã tập trung lãnh đạo thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi
dưỡng, luân chuyển, bố trí cán bộ nữ vào các chức danh chủ chốt; trong đó rất
quan tâm đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ nữ giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý; luôn
tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ nữ tham gia các lớp bồi dưỡng, đào tạo trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học. Thường xuyên theo dõi, phát hiện,
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ để cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng về trình
độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức.
Triển khai có hiệu quả các chương trình, Đề án về BĐG và vì sự tiến bộ
phụ nữ. Phối hợp liên ngành, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và đẩy mạnh công tác
truyền thông phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới đối với phụ nữ và trẻ em. Đảm
bảo 100% CBCCVC phụ trách công tác BĐG được tập huấn nâng cao năng lực
về lĩnh vực BĐG [24].
Trên cơ sở thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững của Thành phố,
thực hiện các chính sách hỗ trợ, chính sách cho đồng bào dân tộc đặc biệt là chính
sách BĐG, hỗ trợ cho vay ưu đãi đáp ứng được nhu cầu vay vốn làm ăn của hộ
nghèo, hộ cận nghèo, hỗ trợ phụ nữ vươn lên thoát nghèo bền vững. Tích cực chủ
động trong khâu tổ chức các lớp truyền thông, tập huấn nâng cao nhận thức và
năng lực về công tác BĐG; đồng thời cử cán bộ tham gia tích cực các lớp bồi
dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, các hội nghị, hội thảo tham vấn về công tác
47
BĐG do Thành phố tổ chức; từ đó nâng cao năng lực trong công tác chuyên môn
về BĐG.
Để đạt được một số thành tựu kể trên do một số nguyên nhân như sau:
Một là, thực hiện tốt công tác chỉ đạo cấp cơ sở. Công tác chỉ đạo, triển
khai và tổ chức thực hiện Luật BĐG đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các
cấp, các ngành trong toàn quận xác định tầm quan trọng, từ đó quan tâm chỉ đạo,
do vậy việc thực hiện pháp luật về BĐG trên địa bàn quận đã đưa đến một số kết
quả nhất định. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, tổ chức nhiều
lớp tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao năng lực, trình độ cho cán bộ
nữ được quan tâm chỉ đạo, đã có nhiều cán bộ nữ được đề bạt vào các chức danh
chủ chốt, tỉ lệ nữ được kết nạp Đảng hàng năm đều tăng; vị trí, vai trò của phụ nữ
trên các lĩnh vực lao động, việc làm, y tế, giáo dục đặc biệt là trong gia đình đã
từng bước được cải thiện.
Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau.
Các cấp ủy, chính quyền các cấp đã quan tâm chỉ đạo tuyên truyền cho toàn thể
cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân để nâng cao nhận thức, trách
nhiệm về công tác BĐG, trách nhiệm gia đình về công tác BĐG; trong xây dựng
chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương đã quan tâm đến các
yếu tố giới; phụ nữ chủ động, tích cực học tập nâng cao nhận thức, kỹ năng hoàn
thành tốt chức năng của mình trong gia đình và xã hội.
Ba là, tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Ngoài việc đẩy
mạnh tuyên truyền, giáo dục về chính sách ASXH, BĐG, Quận Gò Vấp tăng
cường phổ biến kiến thức, tập huấn kỹ năng bảo vệ, phòng ngừa bạo lực, xâm hại
cho phụ nữ và trẻ em thông qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, hoạt động sáng
tác, sân khấu hóa về chủ đề BĐG và bạo lực trên cơ sở giới. Tổ chức nhiều hoạt
động mang tính thiết thực hỗ trợ các nạn nhân, phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn.
Bốn là, nhận được sự quan tâm của chính quyền Thành phố. Sự hướng dẫn,
hỗ trợ kinh phí và thường xuyên quan tâm kịp thời từ lãnh đạo chính quyền Thành
phố đã tạo điều kiện cho Quận tổ chức thực hiện công tác BĐG được phong phú,
48
đa dạng hơn, nhận thức về giới, BĐG của CBCC, người dân ngày được nâng lên,
có nhiều chuyển biến tốt hơn.
2.3.3. Hạn chế và nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan dẫn đến tình trạng bất BĐG.
Hiện số lượng người tham gia công tác BĐG còn thiếu, cùng với đó là sự hạn chế
về kiến thức giới, kỹ năng lồng ghép giới... Dẫn đến việc tuyên truyền BĐG còn
hạn chế. Trong nhận thức và tư duy của một số cá nhân, đặc biệt là nam giới, vẫn
còn thiếu tôn trọng phụ nữ, thiếu tôn trọng những giá trị đóng góp mà phụ nữ
mang lại cho cuộc sống. Trong khi đó, người phụ nữ vẫn phải đảm đương công
việc trong gia đình nhiều hơn nam giới.
Những hạn chế trong áp dụng pháp luật về BĐG ở UBND quận Gò Vấp,
TP. Hồ Chí Minh, có thể tóm lược trong các nguyên nhân chính sau:
Một là, công tác chỉ đạo, giám sát, đánh giá của cấp ủy đảng, người đứng
đầu một số đơn vị chưa được kịp thời, sát sao. Công tác tuyên truyền về Luật Bình
đẳng giới của cấp ủy, chính quyền, hội phụ nữ ở một số cơ sở còn hạn chế Hoạt
động của Ban VSTBPN&BĐG ở một số cơ sở còn lúng túng, hiệu quả chưa cao.
Các kế hoạch triển khai thực hiện dựa trên kế hoạch cấp trên ban hành còn mang
tính hình thức, nội dung diễn đạt còn chung chung chưa gắn với điều kiện và tình
hình cụ thể của địa phương.
Hai là, Chế tài thực hiện Luật BĐG, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
chưa mạnh, chưa xử lý nghiêm các hành vi BLGĐ. Trong triển khai công tác BĐG
một số đơn vị chưa thực sự hiểu rõ yêu cầu công việc này quan trọng, do đó sự
phối hợp đôi khi còn lúng túng, chưa hiệu quả. Trong quá trình thực hiện công tác
chuyên môn một số cơ quan, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức việc lồng ghép
vấn đề về giới, đặc biệt là trong quá trình xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt
động của ngành, địa phương.
Ba là, trong khâu chỉ đạo, điều hành, tại một số phường qua đánh giá chưa
thực sự quan tâm đến lĩnh vực công tác này (cán bộ chuyên trách còn kiêm nhiệm
quá nhiều lĩnh vực). Việc chấp hành chế độ thông tin báo cáo chưa nghiêm, thực
49
hiện chưa kịp thời. Nhân sự làm công tác BĐG vẫn thiếu tính ổn định, số lượng
công chức tham gia QLNN chuyên trách về công tác BĐG ở cơ sở còn ít.
Bốn là, Bản thân một số cán bộ, hội viên phụ nữ vẫn chưa thoát khỏi tâm
lý tự ti, ngại học tập, chưa chủ động sáng tạo trong công việc; tư tưởng định kiến
giới còn tồn tại trong nhân dân, kể cả trong một bộ phận CBCC [24].
Ngoài ra, công tác tuyên truyền về Luật BĐG của cấp ủy, chính quyền, Hội
liên hiệp phụ nữ ở một số cơ sở còn hạn chế. Thực hiện chế độ thông tin báo cáo,
thống kê số liệu thực hiện còn rất nhiều bất cập do chưa hình thành được cơ sở dữ
liệu và lồng ghép giới trên các lĩnh vực của ngành.
Tiểu kết Chương 2
Trên địa bàn quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh công tác BĐG đạt một số
thành tựu đáng kể như tỉ lệ nữ tham gia cấp ủy và giữ vai trò lãnh đạo trong các
cơ quan nhà nước ngày càng cao, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc
nâng cao nhận thức về giới trong sự phát triển của xã hội nói chung và gia đình
nói riêng. Khi xem xét về thực trạng vấn đề giới ở địa phương vẫn còn những bức
xúc, hạn chế trong gia đình như: Một số chị em phụ nữ vẫn phải dành phần lớn
thời gian cho những công việc nội trợ, vẫn còn tồn tại quan điểm “trọng nam khinh
nữ” trong quá trình sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia đình,
tình trạng BLGĐ vẫn còn xảy ra ở một số nơi…
Qua nghiên cứu và phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về BĐG trên địa
bàn quận Gò Vấp cho thấy mặc dù đã có sự tiến bộ và những nỗ lực đáng kể trong
việc bảo vệ quyền BĐG, vẫn còn rất nhiều thách thức và hạn chế tồn tại. Việc áp
dụng pháp luật về BĐG vẫn đòi hỏi sự nỗ lực liên tục và cam kết mạnh mẽ từ tất
cả các bên liên quan. Chỉ khi những nỗ lực này được thực hiện một cách hiệu quả,
chúng ta có thể tiến gần hơn đến một xã hội BĐG. Vì vậy, việc nghiên cứu thực
trạng về áp dụng pháp luật về BĐG để từ đó nêu rõ quan điểm và xây dựng giải
pháp nhằm hoàn thiện nội dung pháp lý về quyền BĐG ở Việt Nam nói chung và
ở Gò Vấp nói riêng là rất cần thiết. Cùng với các vấn đề khác, các điểm kết luận
sơ bộ trình bày trên đây sẽ được tập trung giải quyết trong chương 3 của Đề án.
50
51
Chương 3
QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VÀ LỘ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN
QUẬN GÒ VẤP, TP. HỒ CHÍ MINH
3.1. Quan điểm và giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật về bình đẳng
giới tại Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
3.1.1. Quan điểm đảm bảo áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy
ban nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
Thứ nhất, tăng cường vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng và chính quyền
quận Gò Vấp TP. Hồ Chí Minh trong áp dụng pháp luật về BĐG trên địa bàn quận.
Thứ hai, nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu trong áp dụng pháp luật về
Bình đẳng giới.
Thứ ba, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
trong áp dụng pháp luật về BĐG.
Thứ tư, định kỳ tổ chức giám sát, đánh giá và xử lý vi phạm trong áp dụng
pháp luật về BĐG tại địa phương.
Thứ năm, đảm bảo điều kiện vật chất và kỹ thuật để tổ chức thực hiện có hiệu
quả các quyết định áp dụng pháp luật về BĐG.
3.1.2. Giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật về bình đẳng giới tại Ủy ban
nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
Nhóm giải pháp chung
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về BĐG trong chính sách, pháp luật
Tiếp tục thực hiện chủ trương Chỉ thị 21-CT/TW ngày 20/1/2018 của Ban
Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới; Chiến lược quốc
gia về bình đẳng giới, lãnh đạo các cấp cần thường xuyên quan tâm, chú trọng công
tác phụ nữ, coi đây là một nội dung gắn với mọi chủ trương, chiến lược phát KT-
XH của quận; là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của công tác phụ nữ. Căn
cứ chủ trương, kế hoạch đến quá trình tổ chức thực hiện công tác phụ nữ đều được
52
cụ thể hóa, chi tiết với mục tiêu xác định rõ ràng, đưa ra giải pháp phù hợp, sát thực
tiễn, chú ý đến phân công nhiệm vụ, gắn trách nhiệm của người đứng đầu, thủ
trưởng các đơn vị có liên quan. Qua đó nâng cao nhận thức về BĐG trong chính
sách, pháp luật.
Thứ hai, thúc đẩy lồng ghép BĐG trong xây dựng chính sách, pháp luật
Thực hiện lồng ghép nội dung vấn đề BĐG trong xây dựng văn bản QPPL,
gồm: (1) Chủ động rà soát các nội dung liên quan đến vấn đề BĐG hoặc vấn đề
bất BĐG, phân biệt đối xử về giới. (2) Đưa ra các biện pháp cần thiết và mang
tính thực tế để thực hiện BĐG hoặc để giải quyết vấn đề bất BĐG, phân biệt đối
xử về giới. (3) Xác định nguồn nhân lực, tài chính cần thiết để triển khai.
Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện công tác BĐG còn mang tính
hình thức, thiếu những thông tin khoa học, thực hiện còn rập khuôn máy móc. Vì
vậy, trong quá trình thực hiện chính sách cần coi trọng lồng ghép BĐG nhằm thu
hẹp khoảng cách giữa các nhóm khác nhau trong xã hội.
Thứ ba, thúc đẩy thực thi chính sách, áp dụng pháp luật về BĐG đối với
mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội
Bảo đảm BĐG trong xây dựng pháp luật trên cơ sở mỗi người dân phải nỗ
lực nghiêm chỉnh thực hiện các chính sách bảo đảm BĐG đã được luật quy định.
Tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, tăng cường trách nhiệm của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức trong thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước về cán bộ nữ và công tác cán bộ nữ; tập huấn, bồi dưỡng định
kỳ đối với nữ CBCCVC tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn quận. Thực hiện các
chính sách hỗ trợ nữ CBCCVC khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng; khuyến khích
cán bộ nữ học tập, nâng cao trình độ thông qua các chế độ đãi ngộ, ngân sách của
địa phương.
Thứ tư, thường xuyên theo dõi đôn đốc, quá trình thi hành chính sách, pháp
luật về BĐG của các cơ quan nhà nước có liên quan
Nâng cao hiệu quả công tác QLNN về BĐG, quan tâm đến việc lồng ghép
vấn đề BĐG lồng ghép trong kế hoạch phát triển KT - XH của các ngành và địa
53
phương. Cấp ủy và lãnh đạo các cấp chú trọng công tác quy hoạch gắn với công
tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nữ đáp ứng yêu
cầu tình hình mới. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, thủ trưởng cơ
quan tổ chức trong việc thực hiện các quy định về BĐG [24].
Tiếp tục triển khai, thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu được giao căn cứ tại các
văn bản sau: (1) Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 03/8/2020 của Chủ tịch UBND TP.
Hồ Chí Minh về đẩy mạnh công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình
trên địa bàn Thành phố; (2) Kế hoạch 1327/QĐ-UBND ngày 04/5/2022 về triển
khai thực hiện Chiến lược phát triển gia đình trong tình hình mới giai đoạn 2022-
2030 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh; (3) Quyết định 1439/QĐ-UBND ngày
29/4/2022 về ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày
13/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phòng, chống
bạo lực gia đình trong tình hình mới đến năm 2025 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh;
(4) Quyết định số 1560/QĐ-UBND ngày 10/5/2022 về ban hành Kế hoạch triển
khai thực hiện Quyết định số 96/QĐ-TTg ngày 19/01/2022 của Thủ tướng Chính
phủ về phê duyệt Chương trình giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình đến năm
2030 và Bộ Tiêu chí ứng xử trong gia đình trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh; (5)
Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 15/4/2021 của UBND Thành phố về phê
duyệt Đề án “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá gia đình hạnh phúc ở TP. Hồ
Chí Minh giai đoạn 2021-2030”.
Thứ năm, tiếp tục công tác xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu cản trở việc
thực hiện chính sách, pháp luật nói chung và công tác BĐG nói riêng
Thực hiện nội dung nhiệm vụ trong các chương trình, kế hoạch phối hợp
về công tác phòng, chống BLGĐ với các cơ quan, đơn vị và UBND phường trên
địa bàn quận. Duy trì, nhân rộng các mô hình phòng, chống BLGĐ; các CLB gia
đình phát triển bền vững; các đội, nhóm phòng, chống BLGĐ trên địa bàn quận.
Tuyên truyền, vận động gia đình và cộng đồng tích cực thực hiện công tác
phòng, chống BLGĐ gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết dựng đời sống văn
hóa”. Triển khai và thu thập số liệu thống kê các hoạt động hỗ trợ các đối tượng
là nạn nhân BLGĐ, đối với người gây BLGĐ được tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ, tư
54
vấn và trong một số trường hợp chính quyền cần can thiệp. Đa dạng hoá nội dung,
hình thức tuyên truyền nâng cao nhận thức về BĐG, vai trò, vị trí của phụ nữ trong
xã hội, nhận thức sâu sắc về giới và bình đẳng giới thực chất trong xã hội phù hợp
với yêu cầu phát triển trong tình hình mới.
Thứ sáu, thực hiện công tác giám sát, quy hoạch, bổ nhiệm và giới thiệu
nhân sự nữ trong hệ thống chính trị trên địa bàn quận
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết Chỉ thị 21-CT/TW;
kịp thời khen thưởng, biểu dương, nhân rộng những điển hình tiên tiến trong công
tác Hội và phong trào phụ nữ trên địa bàn toàn Quận. Tiếp tục thực hiện công tác
giám sát, quy hoạch, bổ nhiệm và giới thiệu nhân sự nữ vào các vị trí chủ chốt của
các đơn vị trên địa bàn quận; đồng thời, quan tâm chỉ đạo Chi, Đảng bộ cơ sở báo
cáo thông tin, dữ liệu nhân sự cấp ủy Đảng để cập nhật nhân sự biến động nhằm
giới thiệu bầu bổ sung nhân sự tham gia cấp ủy Đảng, đảm bảo duy trì và phát
triển chỉ tiêu nữ nhiệm kỳ 2021 - 2025. Rà soát, đảm bảo cơ hội bình đẳng cho
phụ nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cơ quan, đơn vị thuộc
quận và 16 phường.
Nhóm giải pháp cụ thể
Thứ nhất, đẩy mạnh công tác truyền thông - giáo dục nhằm nâng cao hơn
nữa nhận thức pháp luật về BĐG đối với các chủ thể thực hiện
Nhằm nâng cao nhận thức về BĐG, cần áp dụng những biện pháp khác
nhau trên cơ sở lồng ghép công tác truyền thông sâu rộng vào các trường học để
truyền tải thông điệp về vấn đề BĐG. Như vậy, bảo vệ và thúc đẩy BĐG là nghĩa
vụ, trách nhiệm của mọi cá nhân, chủ thể. Xây dựng các chương trình giáo dục về
BĐG. Đảm bảo rằng các chương trình giáo dục trong trường học và các tổ chức
giáo dục khác có một phần học về BĐG. Điều này có thể bao gồm việc giảng dạy
về quyền lợi và tự do của phụ nữ, vai trò của nam giới trong việc thúc đẩy BĐG,
và phản đối các thành kiến và định kiến liên quan đến giới tính. Khuyến khích và
hỗ trợ các nhà làm phim, nhà báo, nhà viết sách và các nghệ sĩ khác để tạo ra các
tác phẩm truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về BĐG. Điều này có thể là các
55
bộ phim, sách, bài viết, bài hát và nghệ thuật khác có nội dung và thông điệp tích
cực về vai trò và quyền lợi của cả nam và nữ.
Cung cấp nền tảng và tổ chức các sự kiện, diễn đàn và buổi thảo luận để
mọi người có thể chia sẻ quan điểm và trao đổi ý kiến, từ đó xây dựng được một
sự nhất quán và thay đổi nhận thức xã hội về BĐG. Đảm bảo quyền truy cập đến
giáo dục và thông tin: Để thúc đẩy BĐG, cần đảm bảo rằng tất cả mọi người, bất
kể giới tính, có quyền truy cập vào giáo dục chất lượng và thông tin đúng đắn.
Điều này có thể bao gồm việc cung cấp học bổng, chương trình đào tạo và tài liệu
giáo dục miễn phí cho những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Ngoài ra, cần
đảm bảo rằng thông tin về BĐG được phổ biến rộng rãi và dễ dàng tiếp cận thông
qua các kênh truyền thông và công nghệ hiện đại. Những hoạt động này có thể
góp phần xây dựng một xã hội BĐG, nơi mọi người đều có quyền được công nhận
và tôn trọng, đồng thời khuyến khích sự phát triển và thể hiện đầy đủ tiềm năng
của mình. Đảm bảo rằng các chương trình giáo dục trong trường học và các tổ
chức giáo dục khác có một phần học về BĐG. Điều này có thể bao gồm việc giảng
dạy về quyền lợi và tự do của phụ nữ, vai trò của nam giới trong việc thúc đẩy
BĐG, và phản đối các thành kiến và định kiến liên quan đến giới tính.
Tích cực đưa nội dung về BĐG vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục, sáng
tạo trong cách làm đặc biệt ở các cấp trung học phổ thông, trung học cơ sở và tiểu
học; Thực hiện tốt giải pháp này cũng chính là đã thực hiện tốt Quyết định số
2146/QĐ-UBND ngày 22/3/2011 của UBND TP. Hồ Chí Minh về thực hiện Chiến
lược về BĐG giai đoạn 2011 - 2020.
Thứ hai, tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao hiệu quả trong quá trình
áp dụng pháp luật về BĐG
Thiết lập cơ quan giám sát độc lập có nhiệm vụ kiểm tra và giám sát việc
thực hiện pháp luật về BĐG. Cơ quan này nên có quyền hạn và nguồn lực đủ để
thực hiện nhiệm vụ một cách chính xác và hiệu quả. Luôn định rõ tiêu chuẩn và
chỉ số đánh giá để đo lường hiệu quả áp dụng pháp luật về BĐG. Điều này giúp
đánh giá và theo dõi tiến trình và kết quả, từ đó xác định được các điểm yếu và
cải thiện quá trình thực hiện. Bên cạnh đó việc đào tạo và nâng cao nhận thức cho
56
nhân viên liên quan để nâng cao nhận thức về pháp luật về BĐG và cung cấp kỹ
năng cần thiết để áp dụng chúng một cách hiệu quả. Đào tạo có thể bao gồm việc
giới thiệu về quyền và nguyên tắc BĐG, phương pháp giám sát và kiểm tra, và
cách xử lý vi phạm. Tạo ra cơ chế phản hồi và báo cáo cho công chúng và những
người liên quan, để nhận thông tin về các vi phạm và tiến hành xử lý, đồng thời
khuyến khích sự minh bạch và trách nhiệm trong quá trình áp dụng pháp luật về
BĐG. Không quên việc hợp tác và đối thoại với các tổ chức xã hội dân sự như các
tổ chức phụ nữ, tổ chức về quyền con người và các nhóm chuyên gia. Điều này
giúp tận dụng kiến thức và kinh nghiệm từ các tổ chức này, đồng thời tạo ra sự
minh bạch và đảm bảo quyền lợi của những người bị vi phạm. Thường xuyên
đánh giá hiệu quả và tác động của pháp luật về BĐG và đưa ra các cải tiến và điều
chỉnh cần thiết để nâng cao quá trình áp dụng. Điều này có thể bao gồm việc tiến
hành nghiên cứu, công bố các báo cáo và tổ chức các diễn đàn để thảo luận và
phản hồi về hiệu quphí của pháp luật hiện hành. Tổng hợp lại, tăng cường kiểm
tra, giám sát và nâng cao hiệu quả trong quá trình áp dụng pháp luật về BĐG đòi
hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng và sự hợp tác giữa các bên liên quan. Việc tạo ra cơ chế
giám sát độc lập, định rõ tiêu chuẩn, đào tạo nhân viên, tạo cơ chế phản hồi và
báo cáo, hợp tác với tổ chức xã hội dân sự và đánh giá pháp luật là những biện
pháp quan trọng để đảm bảo tuân thủ và nâng cao hiệu quả của pháp luật về BĐG.
Thứ ba, nâng cao vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ
Tăng cường việc đào tạo và nâng cao nhận thức cho thành viên của Hội
Liên hiệp Phụ nữ và UBND quận Gò Vấp về quyền và nguyên tắc BĐG, nhận
thức về vai trò của họ trong việc thúc đẩy BĐG và các kỹ năng cần thiết để áp
dụng pháp luật. Đào tạo có thể bao gồm cung cấp thông tin về quyền lợi và bảo
vệ pháp lý của phụ nữ, phương pháp xử lý vi phạm và nâng cao nhận thức về tầm
quan trọng của BĐG trong phát triển cộng đồng. Tạo môi trường hợp tác và đối
thoại giữa Hội Liên hiệp Phụ nữ và UBND quận Gò Vấp. Các bên có thể họp định
kỳ để thảo luận về các vấn đề liên quan đến BĐG, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm
và cùng nhau xây dựng các giải pháp và chính sách nhằm thúc đẩy BĐG. Điều
này giúp tăng cường sự hiểu biết và sự hỗ trợ giữa các bên, đồng thời tạo ra sự
57
đồng thuận và cam kết trong việc thực hiện pháp luật. Thường xuyên quảng bá và
tuyên truyền về BĐG và vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ. Các hoạt động này có
thể bao gồm tổ chức hội thảo, buổi tọa đàm, chiếu phim, triển lãm và các hoạt
động xã hội khác nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền lợi và vai trò
của phụ nữ, đồng thời khích sự tham gia và ủng hộ trong việc thực hiện pháp luật
về BĐG. Xây dựng chính sách và chương trình hỗ trợ Hội Liên hiệp Phụ nữ, bên
cạnh đó UBND quận Gò Vấp có thể đóng vai trò trong việc xây dựng chính sách
và chương trình hỗ trợ nhằm thúc đẩy BĐG. Điều này có thể bao gồm việc đề
xuất các chương trình giáo dục, hỗ trợ tài chính, đào tạo nghề, và các dịch vụ hỗ
trợ khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh
tế, xã hội và chính trị. Qua đó tiến hành đánh giá và theo dõi việc thực hiện pháp
luật về BĐG và vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ. Điều này giúp công tác đánh
giá hiệu quả của các biện pháp đã được áp dụng và đề xuất các điều chỉnh cần
thiết để nâng cao hiệu quả trong thời gian đến đạt kết quả hơn. Như vậy, để nâng
cao vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp tại UBND Quận Gò Vấp trong việc
thực hiện pháp luật về BĐG, cần tăng cường đào tạo, tạo môi trường hợp tác và
đối thoại, quảng bá và tuyên truyền, xây dựng chính sách và chương trình hỗ trợ,
và đánh giá và theo dõi quá trình thực hiện. Điều này đòi hỏi sự hợp tác giữa các
bên liên quan và cam kết vững chắc trong việc thúc đẩy BĐG và tạo điều kiện
thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của xã hội.
Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động của các Câu lạc bộ “Phụ nữ với pháp luật”
Đây là một loại hình hoạt động mới của Hội Liên hiệp Phụ nữ. CLB “Phụ
nữ với pháp luật” ra đời với mục đích hỗ trợ, tư vấn đầy đủ và kịp thời cho những
phụ nữ và hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ trong trường hợp bị xâm phạm quyền
và lợi ích chính đáng. Tiến hành hỗ trợ, duy trì và nhân rộng các mô hình phòng,
chống BLGĐ; các đội, nhóm tham gia phòng, chống BLGĐ trên địa bàn quận.
Cung cấp các khóa đào tạo về pháp luật và quyền BĐG cho các thành viên
trong CLB. Điều này giúp nâng cao kiến thức pháp lý và nhận thức về quyền lợi
của phụ nữ trong hệ thống pháp luật. Các hoạt động tư vấn cũng có thể cung cấp
thông tin, hỗ trợ và giúp đỡ cho phụ nữ khi họ gặp phải các vấn đề liên quan đến
58
BĐG. Tổ chức các buổi hội thảo, cuộc trò chuyện và sự kiện liên quan đến pháp
luật và BĐG. Đây là cơ hội để các thành viên trong CLB gặp gỡ, trao đổi thông
tin và chia sẻ kinh nghiệm. Các diễn giả, chuyên gia và những người có ảnh hưởng
trong lĩnh vực này có thể được mời để chia sẻ kiến thức và thông tin mới nhất.
Tạo mối liên kết và hợp tác với các tổ chức phụ nữ, tổ chức phi chính phủ và cơ
quan chính phủ có liên quan. Bằng cách xây dựng mạng lưới, CLB có thể chia sẻ
nguồn lực, kinh nghiệm và thông tin, đồng thời tăng cường sức mạnh và tầm ảnh
hưởng của mình trong việc thúc đẩy BĐG và áp dụng pháp luật. Thường xuyên
duy trì một nền tảng truyền thông và thông tin cho CLB, bao gồm website, cổng
thông tin, blog hoặc các kênh truyền thông xã hội. Điều này giúp lan truyền thông
tin, chia sẻ tài liệu và tạo ra một cộng đồng trực tuyến để các thành viên có thể
giao tiếp và tương tác.
Thành lập CLB để phụ nữ có thể tham gia vào các hoạt động xã hội và
chính trị liên quan đến BĐG. Đây có thể là việc tham gia vào các cuộc biểu tình,
đóng góp ý kiến vào quyết định chính sách hoặc tham gia vào các chiến dịch vận
động cho quyền và BĐG của phụ nữ. Tạo cơ hội kết nối và trao đổi kinh nghiệm
thân thiện và hỗ trợ trong CLB để các thành viên có thể kết nối, trao đổi kinh
nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau. Điều này có thể bao gồm tổ chức các buổi gặp mặt
định kỳ, nhóm thảo luận hoặc các hoạt động gắn kết khác như nhóm đọc sách,
buổi họp nhóm, hoặc các hoạt động xã hội. Luôn đưa ra các chiến dịch và hoạt
động để tăng cường nhận thức về quyền và BĐG của phụ nữ trong cộng đồng.
Các hoạt động này có thể bao gồm viết bài, phát sóng, hoặc chia sẻ thông tin trên
các phương tiện truyền thông để lan truyền thông điệp và nâng cao nhận thức của
công chúng. CLB có thể nắm bắt các cơ hội để đưa ra đề xuất chính sách, tham gia
vào cuộc họp, phiên thảo luận hoặc chia sẻ ý kiến với các cơ quan chính phủ hoặc
tổ chức có trách nhiệm đưa ra quyết định và đảm bảo rằng CLB tạo ra một môi
trường hỗ trợ, an toàn và không phân biệt đối với tất cả thành viên. Điều này đảm
bảo rằng phụ nữ có thể tham gia hoạt động một cách tự do và không gặp rào cản
hay áp lực bất hợp lý. Luôn tìm kiếm cơ hội liên kết và hợp tác với các CLB và tổ
chức tương đồng khác có mục tiêu và quan điểm tương tự. Bằng cách làm việc cùng
59
nhau, các CLB có thể tăng cường tầm ảnh hưởng và hiệu quả của hoạt động của
mình.
Thứ năm, nâng cao vai trò của giới nữ trong áp dụng pháp luật về BĐG
Để nữ giới có vai trò mạnh mẽ trong áp dụng pháp luật về BĐG, cần tăng
cường giáo dục và nhận thức về quyền và BĐG. Điều này có thể bao gồm việc
cung cấp thông tin, đào tạo và giáo dục về quyền và BĐG cho phụ nữ và cộng
đồng, đồng thời tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào quy trình pháp lý và hệ
thống tư pháp. Luôn đảm bảo rằng quyền và BĐG được thể hiện trong pháp luật,
cần tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quyết định chính sách và quy trình
lập pháp. Qua đó cần cần tăng cường quyền truy cập vào công lý và hệ thống tư
pháp, đảm bảo quyền truy cập công bằng và không phân biệt đối xử trong hệ thống
tư pháp, và xây dựng một môi trường an toàn và tin cậy để phụ nữ có thể tìm kiếm
công lý khi gặp phải vi phạm liên quan đến BĐG.
Đổi mới pháp luật có thể cần thiết để đáp ứng các thách thức mới về BĐG
và đảm bảo quyền và BĐG của phụ nữ được thực hiện một cách hiệu quả. Cần
thúc đẩy việc xem xét, sửa đổi và thiết kế lại các quy định pháp luật hiện hữu để
đảm bảo tính BĐG, đồng thời đảm bảo sự tham gia và đại diện của phụ nữ trong
quá trình đổi mới pháp luật. Tổ chức các chương trình giáo dục, hội thảo, buổi tư
vấn và chiến dịch thông tin để nâng cao nhận thức và kiến thức của phụ nữ về
quyền lợi của mình luôn để cho phụ nữ có đủ cơ hội và tài nguyên để tham gia
vào quá trình áp dụng pháp luật. Điều này có thể bao gồm việc cung cấp hỗ trợ
pháp lý và tư vấn miễn phí, xây dựng các cơ sở pháp lý gần nhà, giảm thiểu rào
cản tài chính và văn bằng giới tính, và tạo ra một môi trường an toàn và tin cậy
cho phụ nữ khi tiếp cận hệ thống pháp luật. Mặc khác cần khuyến khích phụ nữ
tham gia và đại diện trong các cơ quan pháp luật, bao gồm tư pháp, công an, luật
sư và tòa án. Đồng thời, tăng cường áp dụng và tuân thủ pháp luật BĐG thông
qua việc đào tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát và truy cứu trách nhiệm. Xây
dựng mạng lưới và hợp tác giữa các tổ chức phụ nữ, cơ quan HCNN, tổ chức phi
chính phủ và xã hội dân sự để tăng cường sức mạnh và tầm ảnh hưởng của phụ
nữ trong áp dụng pháp luật về BĐG.
60
3.2. Lộ trình tổ chức thực hiện Đề án
Trước tiên, để làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến Luật BĐG và các
văn bản hướng dẫn liên quan đến BĐG nhằm UBND quận cần nâng cao nhận thức
của cá nhân, tổ chức trên địa bàn quận về vị trí, vai trò ý nghĩa của Luật Bình đẳng
giới. Mặc dù luật về BĐG đã ban hành từ lâu (năm 2006) tuy nhiên nhiều cơ quan,
tổ chức còn nhận thức sơ sài, thực hiện mang tính qua loa, đại khái đôi khi còn
hình thức.
Hai là, thúc đẩy giáo dục và tạo nhận thức về BĐG trong xã hội trên địa
bàn thông qua việc tích cực giảng dạy về BĐG trong hệ thống giáo dục, tổ chức
các chương trình tuyên truyền và giáo dục cộng đồng, và tạo ra các dịp để thảo
luận và nâng cao nhận thức về quyền BĐG. Các quy định và chính sách có thể
được điều chỉnh dựa trên các kết quả đánh giá và phản hồi từ cộng đồng tham dự.
Cần đẩy mạnh giáo dục về BĐG trong hệ thống giáo dục, từ cấp tiểu học đến đại
học. Đồng thời, cần tổ chức các chương trình tuyên truyền, hội thảo và hoạt động
xã hội nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề BĐG trong cộng đồng.
Ba là, việc nghiên cứu và đánh giá tình hình BĐG tại địa phương cần thực
hiện chuyên sâu. Điều này bao gồm việc thu thập dữ liệu và thông tin về tình hình
hiện tại, nhận diện các vấn đề và thách thức đang tồn tại, và xác định mục tiêu cụ
thể cho Đề án. Tăng cường việc sản xuất dữ liệu và nghiên cứu về BĐG để hiểu
rõ hơn về tình hình hiện tại và đánh giá hiệu quả của các biện pháp thực hiện.
Bốn là, UBND Quận Gò Vấp cần tham mưu luật pháp và chính sách rõ ràng
và mạnh mẽ về BĐG nên đảm bảo việc ban hành và thực thi các luật bảo vệ quyền
BĐG. Đẩy mạnh công tác xóa bỏ thành kiến và định kiến xã hội liên quan đến
giới tính. Điều này có thể đạt được thông qua việc xây dựng các chiến dịch tuyên
truyền, chương trình giáo dục, và các hoạt động xã hội nhằm thúc đẩy sự chấp
nhận và tôn trọng đối với sự đa dạng giới tính và vai trò giới tính đa dạng. Điều
này bao gồm việc thúc đẩy quyền BĐG trong quy trình chính trị, khuyến khích sự
đại diện của phụ nữ trong các cơ quan quyết định và kinh doanh, và hỗ trợ phụ nữ
trong việc tiếp cận và tham gia vào các nguồn lực và cơ hội kinh tế.
61
Năm là, đối với chính bản thân người phụ nữ cần xây dựng tư duy không
ngừng rèn luyện về phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm, nâng cao trình độ
năng lực, luôn tự tin, phát huy tinh thần hợp tác, tương thân tương ái, chủ động
giải quyết những tình huống đặt ra đối với bản thân, gia đình và trong cuộc sống.
Sáu là, thông qua những nội dung trên cần hợp tác với các tổ chức liên quan
đến BĐG, chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau từ việc nâng cao vấn đề BĐG.
Lưu ý trong quá trình thực hiện đề án áp dụng pháp Luật Bình đẳng giới
cần được đánh giá và điều chỉnh định kỳ để đảm bảo hiệu quả và thích ứng với
tình hình thực tế.
Tiểu kết Chương 3
Nội dung của Chương 3 đã tập trung làm rõ giải pháp và lộ trình đề án áp
dụng pháp luật về BĐG ở UBND Quận Gò Vấp hiện nay. Tác giả đưa ra hai nhóm
giải pháp: nhóm giải pháp chung đảm bảo áp dụng pháp luật về BĐG và nhóm
giải pháp cụ thể đảm bảo hiệu quả việc áp dụng pháp luật tại UBND quận Gò Vấp,
TP. Hồ Chí Minh. Những giải pháp mà Đề án trình bày trên cơ sở việc phân tích
lý luận về Luật Bình đẳng giới, đặc điểm áp dụng pháp Luật Bình đẳng giới ở
UBND Quận Gò Vấp và thực trạng áp dụng pháp luật về BĐG, đồng thời tác giả
tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm để vận dụng pháp luật về BĐG ở UBND
Quận Gò Vấp. Các giải pháp nêu trên là một thể hoàn chỉnh, vừa độc lập nhưng
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất của hệ thống giải quyết
vấn đề.
62
KẾT LUẬN
Trong quá trình áp dụng pháp luật về BĐG đã thể hiện một số ưu điểm nhất
định. Vẫn còn đó những điểm chưa phù hợp như nhiều quy định của pháp luật vẫn
còn trên văn bản, chưa thật sự đi vào thực tế cuộc sống, giữa quy định và thực tế
vẫn còn khoảng cách nhất định. Trong phạm vi có hạn của Đề án, tác giả đã tiến
hành nghiên cứu phân tích, tường minh những vấn đề cơ bản về lý luận và thực
tiễn thực hiện pháp luật về BĐG, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ của
mình vào sự phát triển của phụ nữ quận và hoàn thiện các quy định bảo đảm BĐG
của hệ thống pháp luật. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bộ,
chính quyền quận Gò Vấp, sự quan tâm của các ban ngành, đoàn thể công tác BĐG,
vì sự tiến bộ phụ nữ tại quận được thực hiện thường xuyên, liên tục. Trong đó nhiều
chương trình, mục tiêu được triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tế tại
địa phương đã góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện công tác BĐG, vì sự tiến
bộ phụ nữ trên địa bàn quận. Công tác áp dụng pháp luật về BĐG ở UBND Quận
Gò Vấp trong thời gian qua đã được lãnh đạo Quận uỷ, HĐND, UBND Quận Gò
Vấp quan tâm, chú trọng và đã đạt được những kết quả nhất định. So với xu thế
phát triển xã hội hiện nay và yêu cầu thực tế thì việc áp dụng pháp luật về BĐG vẫn
còn một số tồn tại, hạn chế cần giải quyết. Những tồn tại, hạn chế đó xuất phát từ
nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, đặt ra cho cấp uỷ Đảng và
chính quyền Quận Gò Vấp phải có những giải pháp khắc phục thực hiện một cách
đồng bộ.
Trước thực trạng đặt ra yêu cầu toàn bộ hệ thống chính trị ở quận Gò Vấp
phải vào cuộc, quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước về vấn đề này, đổi mới nhận thức và phương pháp quản lý, tổ chức
thực hiện, ưu tiên đầu tư các nguồn lực và thực hiện đồng thời, đồng bộ các giải
pháp chung và riêng mà Đề án đã đề xuất. Với tư duy và nỗ lực như vậy, chắc
chắn nội dung áp dụng pháp luật về BĐG ở UBND Quận Gò Vấp sẽ được bảo
đảm tốt hơn trong thời gian tới.
63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ban Bí thư Trung ương Đảng (2013), Kết luận số 55-KL/TW tiếp tục đẩy
mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị
khóa X “về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước”;
[2] Bộ Chính trị (2007), Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 về công tác
phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
[3] Bộ luật Lao động (2019);
[4] Bộ luật Dân sự (2015);
[5] Chính phủ (2008), Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04/6/2008 quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật bình đẳng giới về trách nhiệm quản lý
nhà nước về bình đẳng giới và phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bình
đẳng giới;
[6] Chính phủ (2009), Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009 quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống bạo lực
gia đình;
[7] Chính phủ (2009), Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 quy định
về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới;
[8] Chính phủ (2021), Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của
Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình
đẳng giới;
[9] Đảng bộ Quận Gò vấp (2020), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XII
(nhiệm kỳ 2020-2025), TP. Hồ Chí Minh;
[10] Nguyễn Thị Phương (2021), Nghiên cứu đánh giá thực trạng và vai trò gia
đình trong việc thực hiện bình đẳng giới tại TP. Hồ Chí Minh, Sở Khoa học
và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh;
[11] Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013);
[12] Luật Bình đẳng giới (2006);
[13] Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2007);
64
[14] Luật Cán bộ, công chức (2008);
[15] Luật Hôn nhân và gia đình (2014);
[16] Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (2015);
[17] Luật Giáo dục (2019);
[18] Hoàng Mai (2017), Khung thể chế, chính sách về BĐG trong hoạt động công
vụ ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước số 252 (1/2017), tr.79-83;
[19] Lê Thị Quý (2013), “Bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa
học xã hội, số 2/2013, tr.76-81, Hà Nội;
[20] Học viện Hành chính Quốc gia (2020), Giáo trình Quản lý nhà nước về
Bình đẳng giới, NXB. Bách khoa Hà Nội, Hà Nội;
[21] Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số 515/QĐ-TTg ngày 31/3/2016
phê duyệt Đề án thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với cán
bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2020;
[22] Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp (2012), Chương trình thực hiện “Chiến
lược Quốc gia về BĐG trên địa bàn quận Gò Vấp giai đoạn 2011 - 2020”
ban hành kèm theo Quyết định số 3921/QĐ-UBND ngày 30/7/2012 của Ủy
ban nhân dân quận Gò Vấp;
[23] Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp (2017), Kế hoạch số 1077/KH-UBND ngày
13/03/2017 của Ủy ban nhân dân quận về thực hiện biện pháp bảo đảm
bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn quận
từ nay đến năm 2020;
[24] Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp (2022), Báo cáo đánh giá 15 năm thi hành
luật bình đẳng giới;
[25] Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp (2022), Kế hoạch số 5120/KH-UBND ngày
30/12/2022 của về thực hiện “Chiến lược, Chương trình quốc gia về bình
đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới trên địa bàn
quận đến năm 2030”;
[26] Ủy ban nhân dân Quận Gò Vấp (2023), Báo cáo Sơ kết 05 năm thực hiện
Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư (Khóa XII) và Thông
tri số 23-TT/TU của Ban Thường vụ Thành ủy về tiếp tục đẩy mạnh công
65
tác phụ nữ trong tình hình mới;
[27] Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2016), Báo cáo sơ kết 05 năm thực hiện
Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ giai đoạn 2011-
2015 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và triển khai kế hoạch giai đoạn 2016-
2020.
Website tham khảo:
https://dangcongsan.vn
https://chinhphu.vn
https://moha.gov.vn/cong-tac-can-bo-phu-nu
https://vietnam.unfpa.org
https://govap.hochiminhcity.gov.vn
66

