JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE DOI: 10.18173/2354-1067.2016-0036
Social Sci., 2016, Vol. 61, No. 2A, pp. 96-106
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỦA CÔNG TÁC HỘI
TRONG VIỆC GIẢM THIỂU NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC
TỪ HÔN NHÂN MÔI GIỚI VIỆT - HÀN TẠI VIỆT NAM
Nguyễn Thu Trang
Khoa Công tác hội, Trường Đại học phạm Nội
Tóm tắt. Trong hơn một thập kỉ trở lại đây, số lượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc
chủ yếu thông qua môi giới ngày càng gia tăng, trở thành một hiện tượng hội được
quan tâm chú ý. Những cuộc hôn nhân i giới Việt Nam Hàn Quốc đã làm nảy sinh
không ít những vấn đề hội cần được giải quyết như: bạo lực gia đình với dâu Việt,
hình ảnh phụ nữ Việt Nam bị coi như một sản phẩm hàng hóa tiếp thị, mất cân bằng giới
tính trong thị trường lao động n nhân Việt Nam, nguy dẫn đến buôn bán ph
nữ. .. Thực tế đó cho thấy rằng việc tìm kiếm những giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu
những ảnh ởng tiêu cực của vấn đề rất cần thiết. Nghiên cứu này nhằm đề xuất một số
giải pháp trong bối cảnh thực tiễn trên.
T khóa: Hôn nhân môi giới Việt Nam Hàn Quốc, bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ,
giải pháp Công tác hội.
1. Mở đầu
Hôn nhân yếu tố nước ngoài hay hôn nhân xuyên quốc gia không phải điều mới mẻ
Việt Nam. Đây xu thế tất yếu của q trình giao lưu văn hóa và hội nhập thế giới. Trong sự
hội nhập đó, hiện tượng phụ n Việt Nam kết hôn ngoại quốc trở thành trào lưu ngày càng phổ
biến, đặc biệt từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỉ XX trở lại đây.
Cùng trong dòng chảy đó, nghiên cứu v hôn nhân đa văn hóa, trong đó đặc biệt hôn nhân
quốc tế Việt Hàn với hình thức kết hôn thông qua môi giới đang chủ đề được quan tâm một
số nước trong khu vực Châu Á. Đa phần những nghiên cứu v hôn nhân Việt Hàn xem xét vấn
đề y như một hiện tượng hội xu hướng gia tăng trong những m gần đây và bàn luận v
các hệ quả hội phát sinh từ hiện tượng này. Các công trình nghiên cứu tập trung nhiều nhất
Hàn Quốc.
Phần lớn những nghiên cứu Hàn Quốc v kết hôn quốc tế Việt Hàn triển khai theo hướng
nhấn mạnh sự khác nhau v văn hóa và dân tộc của phụ n Việt nhằm làm việc phân biệt h
như thế nào, nguyên nhân mang tính xã hội của sự phân biệt và phụ nữ Việt Nam thích ứng
như thế nào với hiện thực b phân biệt đó. Chúng ta thể nhìn nhận vấn đề y xuyên suốt qua
các ấn bản nghiên cứu như:
Ngày nhận bài: 4/1/2016. Ngày nhận đăng: 27/4/2016.
Liên hệ: Nguyễn Thu Trang, e-mail: trang_ngthu@yahoo.com
96
Một số giải pháp của công c hội trong việc giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực...
Kim Huyn Mi, 2006, Chính trị học giới tính toàn cầu hóa v kết hôn quốc tế, tạp chí kinh
tế và khoa hoc Hàn Quốc, số 70 năm 2006. (Global Gender Politics of Cross-Boder Marriage)
Trong bài viết y, Kim phân tích s phân biệt dâu Việt trong dòng chảy di mang tính
toàn cầu theo quan điểm kinh tế chính trị học của kết hôn quốc tế, nghĩa đi phân tích quyền
lực mang tính đa tầng liên quan đến quá trình phụ nữ Việt Nam di định tại Hàn Quốc dưới
quan điểm giới tính.
Kim Huyn Jea, 2007, Phụ nữ kết hôn Việt Nam sang Hàn Quốc: nghiên cứu bối cảnh và
nguyên nhân, tạp c Nghiên cứu Đông Á.
Kim Huyn Jea nhận thấy nguyên nhân phụ nữ Việt Nam thích kết hôn với người Hàn Quốc
chính nội tại hội Việt Nam, chứ không hẳn do xu hướng toàn cầu hóa thế giới hóa. Nhà
nghiên cứu cho rằng sự chênh lệch v kinh tế hội giữa nông thôn và thành thị của xã hội Viêt
Nam s mất cân bằng giới tính địa n nông thôn được hình thành qua lịch sử nguyên nhân
dẫn đến phụ nữ Việt muốn kết hôn với người nước ngoài. Ngoài ra, do phụ nữ Việt Nam muốn
kết hôn với người Hàn Quốc do n sóng văn a Hàn “hanlyu”.
Jang Jy Hye, 2010, Những ảnh ởng chuyển khoản tiền thông qua kết hôn quốc tế lên gia
đình bản quốc của phụ nữ kết hôn quốc tế: lấy trọng tâm c trường hợp làng T tình Bạc
Liêu Việt Nam, báo cáo trên tạp c của hội khoa học Hàn Quốc. (Socio-Cultural Influences of
Remittance by Vietnamese Women Immigrants by Marriage: The Case Study of the T Village in
Bac Lieu).
Nghiên cứu y áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu trên năm đối tượng phụ nữ Việt Nam
lấy chồng Hàn Quốc. Nghiên cứu cho thấy việc chuyển tiền của dâu Việt v Việt Nam đã
ảnh hưởng tích cực n kinh tế hội của Việt Nam. Cụ thể làng T tỉnh Bạc Liêu, các gia đình
con rể Hàn Quốc thường gặp gỡ để trao đổi v cách thức nhận tiền, cách thức s dụng tiền con gái
gửi v như thế nào. Hiện tượng y tạo nên một không khí sinh hoạt cộng đồng, hỗ trợ lẫn nhau
khi khó khăn. Ngoài ra, số tiền nhận được từ Hàn Quốc được gia đình các cô dâu Việt Nam đi đầu
mua đất xây nhà trong làng T cũng như ngoài làng T. Hiện tượng y cũng góp phần, nhỏ bé,
thúc đẩy kinh tế của làng T và c làng khác.
Minh Thành, 2005, Nghiên cứu v kết n quốc tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc sau
năm 1992: lấy trọng tâm sự thích ứng n hóa của phụ nữ Việt Nam, Luận văn thạc khoa
hội học Trường đại học Seoul Hàn Quốc (A Study on International marriages between Korea and
Vietnam after 1992: a case of cultural adjustment for Vietnamese women in Korea).
Nghiên cứu y thông qua kết quả điều tra bảng hỏi với 80 đối tượng điều tra đ tìm hiểu
thực trạng hôn nhân giữa dâu Việt và chồng Hàn Quốc cùng với các yếu tố ảnh hưởng đến mối
quan hệ của hình thái gia đình y. Cụ thể nghiên cứu đưa ra kết luận: (1) động kết hôn:
không tiền nên kết n để nhận sự hỗ trợ kinh tế từ nhà chồng Hàn Quốc và do nông thôn
Hàn Quốc khan hiếm phụ nữ Hàn nên phải tìm đối tượng người nước ngoài để kết hôn, (2) loại
hình kết hôn: kết hôn qua hẹn hò, kết hôn qua môi giới và kết hôn giả, (3) các yếu tố phân cấp
hội: trung bình độ tuổi chênh lệch giữa chồng và v 15 tuổi; trình độ học vấn dưới đại học, (4)
các yếu tố động kết n, loại hình kết hôn và yếu tố đ tuổi, học vấn ảnh hưởng mạnh đến quan
hệ v chồng Hàn Quốc Việt Nam.
Nguyễn Thị Huyền Trang, 2009, Phân tích so sánh các báo cáo của ‘Hangoere
‘Chosonilbo v phụ nữ di cư kết hôn Việt Nam: đối tượng các báo cáo từ tháng 4 năm 2006 đến
tháng 4 năm 2008, Luận văn thạc khoa NGO Đại học Soenggong Hàn Quốc.
Ưu điểm của nghiên cứu y việc so sánh các báo cáo v ph nữ Việt Nam kết hôn với
chồng Hàn Quốc giữa 2 tòa o ‘Hangoere (trường phái cải cách) và ‘Chosonilbo (trường phái
97
Nguyễn Thu Trang
bảo thủ) để đưa ra một kết quả khách quan v tình trạng hôn nhân của dâu Việt với chồng Hàn
Quốc. Tác giả cho rằng các bài o của Hangoere đã phê phán các công ti i giới kết hôn đã
lợi dụng người yếu v kinh tế xã hội và nhấn mạnh đến vấn đề bảo v nhân quyền cho những
người yếu - những dâu Việt tại Hàn Quốc. Mặt khác, các bài báo của Chosonilbo khuynh
hướng khuyến khích kết hôn quốc tế và nhấn mạnh đối tượng kết hôn những phụ nữ Việt Nam
muốn thoát nghèo hoặc muốn thực hiện ‘giấc Hàn Quốc’. Ngoài ra Chosonilbo còn kết luận
giải pháp cho những mâu thuẫn trong gia đình Việt Nam giáo dục tiếng Hàn và văn hóa Hàn
Quốc cho dâu Việt.
Yun Dong Hwa, 2009, Nghiên cứu phương án cải cách chế độ h tr gia đình đa văn hóa,
Luận văn thạc khoa Hành chính Đại học Joennam Hàn Quốc (Study on Methods to Improve the
Support System for Multi-Culture Families).
Nghiên cứu của Yun Dong Hwa khái quát hiện trạng các chế đ hỗ trợ gia đình đa văn hóa
của chính phủ cũng như của các t chức tự trị địa phương. Qua đó tác giả nêu lên những hạn chế
của các chế độ h trợ y kiến nghị giải pháp hoàn thiện nó. Các giải pháp được đưa ra (1)
cải cách chế độ pháp luật v định kiến hội từ tiêu chuẩn chính phủ trung ương: cải cách chế
độ giáo dục tiếng Hàn và văn hóa Hàn, cải cách luật giáo dục trẻ em. (2) Hình thành phương án
hỗ trợ t chính phủ trung ương: xây dựng chương trình trải nghiệm văn hóa Hàn Quốc và văn hóa
nước xuất thân, hỗ trợ người trông trẻ tình nguyện. (3) Phải lập quy chế cho các ng ti môi giới
kết hôn. (4) Phương án cải cách chế độ chính sách hỗ trợ giáo dục các gia đình đa văn hóa: trang
bị thiết bị giáo dục, nâng cao vai trò giáo dục của bố mẹ, cần thiết mở trường học đa văn hóa, cần
hỗ trợ để cải cách các trương trình ngoại khóa cho trẻ em và gia đình đa văn hóa.
Choi Eun Jeong, 2009, Nghiên cứu tình trạng sinh hoạt của dâu kết hôn quốc tế phương
án hỗ tr. Luận văn thạc khoa Chính sách ng tác xã hội Trường Đại học Sangji Hàn Quốc.
Nghiên cứu y điều tra bảng hỏi trên 101 đối tượng dâu ngoại quốc tại Hàn Quốc v
thực trạng cuộc sống tại Hàn Quốc và đưa ra các phương án cải thiện điều kiện sinh hoạt của các
dâu y. Thứ nhất, v dịch vụ giáo dục: cần cải thiện giáo dục tiếng Hàn mang tính hệ thống,
tăng nguồn nhân lực chuyên môn hỗ trợ tận nơi, nghĩa vụ hóa việc giáo dục trước khi sang Hàn
Quốc. Thứ hai, v dịch vụ mang tính chính sách: thiết chặt hơn vấn đề v cấp visa và nhập quốc
tịch. Thứ ba, v dich vụ xin việc: cải cách chương trình xin việc, đào tạo chuyên môn cho cô dâu
ngoại quốc. Thứ tư, v dịch vụ y tế cộng đồng: tăng cường hệ thống khám y tế miễn phí tại các địa
phương. Thứ m, v các dịch vụ phúc lợi hội: y dựng các nhóm nhỏ, các câu lạc bộ tự quản,
mở các chương trình trải nghiệm văn hóa, tăng cường giáo dục cho trẻ em.
Byeon Hwa Sun, 2008, Tình trạng bạo hành của gia đình phụ nữ kết hôn quốc tế và phương
án cải cách hệ thống hỗ tr, Nhà xuất bản Viện nghiên cứu chính sách nữ giới Hàn Quốc.
Cuốn ch y đã sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu để khái quát một cách đa dạng hiện
trạng bạo hành trong các gia đình dâu ngoại quốc và phân tích các chính sách hiện hành hỗ trợ
cho họ, từ đó tác giả y dựng chính sách để các dâu Việt thể nhận được bồi thường từ việc
bị bạo hành.
Nam Buk Hyun, 2010, Tìm hiểu gia đình đa văn hóa thông qua kết hôn quốc tế Việt Nam
và Hàn Quốc. Ngoài việc tổng quát hiện trạng kết hôn giữa cô dâu Việt Nam với chồng Hàn Quốc,
công trình nghiên cứu y đã thành công hơn các nghiên cứu trước đó khi phân tích nội tại nhận
thức của c dâu Việt, nội tại văn hóa xã hội và suy nghĩ của người dân Việt Nam. Những phân
tích nội tại xã hội Việt Nam tác động tích cực lên nhận thức của người chồng cũng như người dân
Hàn Quốc trong việc hiểu sự khác biệt văn hóa để dung hòa những mâu thuẫn nảy sinh trong cuộc
sống chung.
98
Một số giải pháp của công c hội trong việc giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực...
th thấy những nghiên cứu v cuộc sống n nhân Việt Hàn đã được thực hiện khá
nhiều tại Hàn Quốc. Trong khi đó, những nghiên cứu mang tính học thuật v ch đề y Việt
Nam chưa phải nhiều. Năm 2009, trường Đại học Khoa học xã hội Nội đã phối hợp với Học
viện Chính sách Chungcheonam tổ chức Hội thảo: Hôn nhân Việt Hàn và những vấn đề đặt ra.
Đây một dấu ấn v việc vấn đề n nhân Việt Hàn được xem xét như những nghiên cứu học
thuật. Những bài viết tiêu biểu trong hội thảo y thể k đến Di hôn nhân Việt Nam Hàn
Quốc: Những vấn đề đặt ra của GS.TS Thị Quý hay Hiện tượng lấy chồng Hàn Quốc phụ
nữ Việt Nam: Thực trạng một vài suy nghĩ của Trần Văn Phương Đại học Khoa học hội và
Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh. Nội dung của các bài tham luận chủ yếu xoay quanh việc phân tích
các vấn đề xã hội nảy sinh do hiện tượng kết hôn này mang lại.
Nổi bật trong các nghiên cứu v hiện tượng kết hôn với chồng Hàn Quốc Việt Nam
những bài viết của GS.TS Hoàng Thịnh [2, 3], tập trung phân tích những khía cạnh văn hóa
hội xung quanh hôn nhân Việt Nam - Hàn Quốc được đăng tải trên Tạp chí Khoa học hội m
2008 năm 2010. Tác giả đã chỉ ra một cách cụ thể những yếu tố tác động dẫn tới sự gia tăng của
hiện tượng kết hôn y trong bối cảnh văn hóa hội Việt Nam cũng như cách thức các ng
ti môi giới quảng v dâu Việt c rể Hàn Quốc. Đồng thời, các bài viết của tác giả cũng
đề cập đến những hệ quả hội do hiện tượng hôn nhân y đem lại.
Theo dõi những nghiên cứu tại cả Hàn Quốc và Việt Nam v vấn đề hôn nhân môi giới Việt
Hàn cho thấy việc kết n y đã y ra một số hệ quả xã hội như: sự xáo trộn, biến đổi v n
hóa truyền thống trong các gia đình Hàn Quốc, bạo lực gia đình với các dâu Việt, tỉ lệ li hôn
tăng cao trong các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc, buôn bán phụ n trá nh trong các kênh môi
giới kết hôn. . . Thực tế những năm qua, Chính phủ và các nhà quản hội Hàn Quốc cũng đã
đưa ra nhiều biện pháp cho các vấn đề y như: T chức các lớp học tiếng Hàn văn hóa Hàn cho
các dâu Việt, thành lập các trung tâm hỗ trợ dâu ngoại quốc; nhưng kết quả vẫn chưa khả
quan. Vy cần phải m để giải quyết vấn đề y một cách bền vững? Đó một mặt phải can
thiệp xử các vấn đề nảy sinh nhưng mặt khác cần phải phòng ngừa và hạn chế những tiêu cực
của việc kết hôn môi giới bằng cách nâng cao nhận thức cho người dân đồng thời với việc quản lí
hình thức kết hôn y một cách chặt chẽ Việt Nam? Xuất phát từ thực tiễn cần thiết đó, bài viết
y nhằm tìm kiếm giải pháp phù hợp cho việc phòng ngừa những “rủi ro” cho các cuộc hôn nhân
môi giới Việt Hàn với mong muốn vấn đ y không y ra những bất ổn hội còn cầu
nối của tình hữu nghị giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc.
2. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu y được thực hiện với các phương pháp: Phân tích tài liệu, phương pháp phỏng
vấn sâu và lấy ý kiến chuyên gia. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào việc tìm kiếm và y dựng các
giải pháp phía Việt Nam nhằm giảm thiểu các hậu qu xã hội phát sinh t các cuộc n nhân
môi giới Việt Nam Hàn Quốc.
2.1. Hôn nhân môi giới
Hôn nhân hay kết hôn một quyền bản của con người. Pháp luật các quốc gia đều ghi
nhận: mỗi người đều quyền lựa chọn, quyết định hạnh phúc và người bạn đời riêng cho mình.
Quyền tự kết hôn thể hiện chỗ con người quyền tự do kết hôn với người cùng dân tộc hoặc
với người không cùng dân tộc; với người cùng tôn giáo hoặc không cùng tôn giáo; với người cùng
quốc tịch hoặc không cùng quốc tịch. Pháp luật các nước đều tôn trọng bảo v quyền tự do kết
hôn của con người. Môi giới kết hôn hoạt động hỗ trợ cho việc thực hiện quyền kết hôn.
99
Nguyễn Thu Trang
Môi giới hôn nhân nói chung và môi giới kết hôn với người nước ngoài nói riêng tính hai
mặt. Mặt ch cực tạo điều kiện cho hai n điều kiện làm quen, tiếp xúc và tìm hiểu “nhân
thân” của nhau. Mặt trái áp đặt, cung cấp những thông tin sai lệch cho khách hàng để kiếm lời.
Những người làm dịch vụ môi giới tìm mọi cách để thành công với mục đích kiếm được tiền, bất
k việc cung cấp thông tin sai, lừa dối đôi bên dẫn đến những hậu quả khôn lường, làm nhiều gia
đình tan vỡ, trong đó người chịu ảnh hưởng, thiệt thòi nhất người phụ nữ.
Môi giới hôn nhân Hàn Quốc một nh thức hiện đại hóa mai mối truyền thống. Hoạt
động môi giới hôn nhân được công nhận hợp pháp Hàn Quốc nên các công ti môi giới hôn
nhân hoạt động công khái và phát triển mạnh mẽ. Những văn phòng môi giới hôn nhân quản hồ
khách hàng bằng các phần mềm y vi tính. Phần mềm y cho phép tìm kiếm những thông
tin v người bạn đời tưởng, những người có thể đáp ứng tiêu chuẩn của các thành viên.
Việt Nam, các ng ti môi giới n nhân với người nước ngoài đặc biệt với Hàn Quốc
và Đài Loan chiếm tỉ lệ đông nhất. Hầu hết các công ti này đều tận dụng k hở của luật pháp hay
lách luật để vào Việt Nam thực hiện các hoạt động môi giới nhằm kiếm lợi nhuận. Những năm gần
đây bùng nổ dịch vụ môi giới cho đàn ông Hàn Quốc phụ nữ Việt Nam với rất nhiều vấn đề đang
được quan tâm, tranh cãi trong luận hội.
2.2. Một số vấn đề hội nảy sinh từ hôn nhân môi giới Việt Nam Hàn Quốc
Được thực hiện một cách chóng nh theo tính chất thương mại hóa nên các cuộc hôn nhân
môi giới giữa phụ nữ Việt Nam đàn ông Hàn Quốc hầu hết đều không y dựng trên một điều
kiện cần cốt i cho một cuộc hôn nhân tình yêu thương và sự thông hiểu lẫn nhau. Tổng lượng
thời gian tiếp xúc của những cặp v chồng y tính từ lúc gặp nhau trong buổi xem mặt cho đến
khi dâu Việt Nam đặt chân đến Hàn Quốc cũng ch không quá vài ngày. Khoảng thời gian để
các dâu chuẩn bị học tập tiếng Hàn (nếu có) chỉ độ một tháng. Trong điều kiện như vy, các cặp
v chồng y không tránh khỏi những mâu thuẫn xung đột trong gia đình và đồng thời hiện tượng
hôn nhân Việt Hàn cũng kéo theo không ít những hệ lụy xã hội.
- Bạo lực gia đình các vụ li hôn trong các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc ng mạnh
Hôn nhân không trên sở tình yêu thật sự, cùng với việc thiếu thông tin ràng v hai
phía, lại chịu sự chi phối mục đích lợi nhuân của môi giới trung gian, đã khiến nhiều cuộc hôn
nhân Việt Hàn trở thành bi kịch với những vụ bạo lực gia đình hay nhẹ hơn sự không thề hòa
nhập với cuộc sống chung. Tại Hàn Quốc, con số vụ li hôn của các cặp v chồng quốc tế năm 2003
2.784 vụ, đến năm 2007 đã tăng lên 8.348 v (http://ussh.vnu.edu/hon nhan viet - han va nhung
van de dat ra).
Báo c Việt Nam Hàn Quốc thi thoảng lại gây xôn xao dư luận xã hội hai nước với
những bài báo viết v những vụ việc đau lòng xy ra đối với một số dâu Việt Nam bất hạnh trên
xứ người. dâu Việt Nam tự tử do không tìm được lối thoát cho mình trong cuộc hôn nhân với
người chồng Hàn Quốc. dâu Việt Nam bị chồng đánh đập tàn nhẫn đến chết. . . Trong suốt năm
2008, hội Việt Nam lẫn Hàn Quốc đều t ra rất bất nh trước vụ việc dâu Việt Nam b nhà
chồng tước đoạt quyền nuôi con, không cho được tiếp xúc với hai đứa con của mình ngay sau
khi sinh xong hay vụ việc dâu Thạch Thị Hồng Ngọc đã bị chồng, vốn người vấn đề v
thần kinh, đâm chết vào ngày 8/7/2010 tại thành phố Busan (Nguyễn Ngọc Tuyến, Nhìn lại vấn đề
hôn nhân quốc tế thương mại hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc, Tạp chí Khoa học Công nghệ
- ĐH Đà Nẵng, số 5 năm 2010). Những vụ việc y đã gây nhức nhối trong luận hội cả hai
nước.
Một trong các nguyên nhân chính là do những mâu thuẫn nghiêm trọng trong đời sống gia
100