SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC
SINH QUA MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10
THPT
I. LÝ DO CHN ĐỀ TÀI
Trong xu thế hội nhập và phát triển, thế kỉ XXI đòi hỏi con người phải
luôn năng động, sáng tạo; khả năng tìm kiếm, xlí thông tin và ng phó với
các tình huống trong đời sống. Nhm đáp ứng yêu cầu này, mục tiêu giáo dc
phthông của nước ta đã chuyển từ chủ yếu là trang bkiến thức cho học sinh
(HS) sang trang bnhững ng lực cần thiết cho c em, đặc biệt năng lực
hành động, năng lc thực tiễn. Vì vậy, việc đổi mi phương pháp giảng dy
cũng là tt yếu nhằm pt huy tính tích cực của học sinh. Với bản chất là hình
thành phát triển cho HS khả năng làm chbn thân, khả năng ứng xphù
hợp với những tình huống, phương pháp giáo dục ng sống (KNS) ng
mt trong những phương pháp ưu thế đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay.
Hơn na, rèn luyện KNS cho HS còn được xác định là mt trong những nội
dung bản của Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích
cựctrong c trường phổ thông, giai đon 2008-2013 do B Go dục và Đào
tạo chỉ đạo.
Giáo dục KNS là mt yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ. Đó là lí do khiến
giáo dục KNS trở thành xu thế chung của nhiều nước trên thế giới. Dù Ng
n một n học có khả năng đặc biệt trong việc giáo dục KNS cho HS
nhưng thực tế cho thấy vấn đgiáo dc KNS trường phổ thông mới chỉ được
chú trng từ năm học 2010-2011. Do vậy việc làm thế nào để tích hợp nội dung
giáo dục KNS trong nội dung bài học thông qua các pơng pháp triển khai
nội dung bài hc đến nay vẫn là sthử nghiệm tìm đường của các giáo viên
dạy văn.
Bản chất của môn Văn là s kết hợp giữa tính khoa học và nghthuật.
Làm sao đHS vừa cảm thụ, rung động với tác phẩm n chương lại vừa tích
hợp được các KNS cũng không phải đơn giản. Hơn nữa, cùng với xu thế
chung của xã hi hiện nay, hầu n học sinh chỉ chú trọng đến các môn học
khoa học tự nhiên không chú trng các môn khoa học xã hội. Đây ng
tình hình chung của xã hội chính điều này đã gây ảnh ng không nhỏ đến
việc học tập i chung cũng như việc m hiểu, cảm thụ, rung động với c
phm văn chương nói riêng. vậy, việc thiết kế những bài dạy sao cho va
đảm bo yêu cầu về nội dung va giúp HS nhận thức được các gtrị trong
cuc sống, hình thành li sống, cách ng x n hóa trong các tình hung
giao tiếp đa dạng của cuộc sống mà vẫn tạo hứng thú cho học sinh trong mt
thời lượng có hạn là vấn đề rất cần thiết đối với người giáo viên NgVăn.
Đối với việc dạy học Văn các cấp học nói chung và trường THPT i
riêng, việc làm sao đđảm bảo được nội dung kiến thức bài hc mà đồng thời
học sinh lại phải chủ đng chiếm lĩnh kiến thức bài học theo yêu cầu đi mới
vphương pháp hiện nay quả thật điều không dthực hiện. Văn học là khoa
học nhưng cũng là nghệ thuật, vì vậy việc dạy văn đòi hỏi người giáo viên phải
vận dụng nhiều năng, trong đó không chỉ là kiến thức mà đòi hỏi cả sự sáng
tạo, linh hoạt của người giáo viên mỗi bài dạy cthể. Sự chuẩn bị càng
cho việc lên lớp của người giáo viên tkhâu chuẩn bị - tc là phần thiết kế bài
dạy - là mt trong những yếu tố p phần không nhỏ vào hiệu quả của tiết học,
đặc biệt là trong việc vận dụng và phát huy ti đa công năng của các phương
pháp dy học tích cực trong việc giáo dục KNS cho HS.
Trước thực tế đó, tôi đã tiến hành khảot tìm hiểu về phía HS. C thể, tôi
đã phát câu hi cho học sinh ba lớp 10 mà tôi phtrách giảng dạy, để cho
các em phát biu những cảm nhận của mình v những tác dụng của bài hc
trong việc rèn luyện KNS. Kết quả cụ thể như sau:
STT
NỘI DUNG CÂU HỎI KT QUẢ
1 Theo em, hc Văn có giúp em nâng
cao khả năng nhận thức không?
- Có 83/132
- nhưng
không thc tế. 49
2 Theo em, hc Văn có giúp em điều
chỉnh hành vi không?
67
Không 4
Không biết
(Không trả lời) 41
3 Theo em, hc Văn có ý nghĩa không? 132/132
4 Theo em, hc Văn có cần thiết không? Cần 73
Không c
ần
59
Qua kết quả khảo sát, tôi nhn thấy s mâu thuẫn trong nhn thức ca
HS khi c em nhn định n học là n học bổ ích, có ý nghĩa nhưng có đến
37,12% HS cho rng hc văn có giúp em nâng cao khả ng nhận thức nhưng
không thực tế vì c tác phẩm văn học toàn phản ánh những i đã qua nên ch
giúp các em nhìn nhận lại q khứ mà không giúp các em hội nhập với cuộc
sng hiện đại. Thậm c đến 31,1% HS không biết là học Văn giúp em
điều chỉnh hành vi của mình hay không 44,70% HS kết luận không cần học
n Văn mt tỉ lệ không nhỏ. Từ đó ta ddàng nhận ra HS cảm nhận được
n môn học ý nghĩa nhưng còn mơ hồ về khả năng áp dụng thực tiễn
của môn học này. Thực tế ấy khiến người giáo viên dạy Văn không khỏi không
suy nghĩ.
Tthực trạng trên, đviệc dy học n Văn nói chung và giảng dạy n
n ở chương trình lp 10, lớp đầu cp của khối THPT - HS còn nhiều bỡ ngỡ,
đạt hiệu quả, hấp dẫn, lôi cuốn tác động tích cực hơn đi với HS nhằm giáo
dục KNS cho các em, chúng i đã mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp
dạy học đ ng cao chất lượng giờ dy bằng việc áp dụng mt số phương
pháp dy học như: dạy học nhóm, dạy học theo dự án và dy học thông qua trò
chơi nhằm giúp cho HS phát triển và rèn luyện những ng cần thiết đ hội
nhập cuộc sống một cách chủ động hơn.
n Ng Văn trường phổ thông nói chung trường trung hc phổ
thông (THPT) i riêng vai trò quan trng trong việc thực hiện mục tiêu
giáo dục trong xu thế mi. Do đặc trưng của bộ n, Văn học không chỉ giúp
HS nhận thức mà n khnăng điều chỉnh hành vi cũng như nâng cao cảm
quan thẩm mĩ đhướng đến định hình hoàn thiện nhân cách của mình. Như
vậy, việc giáo dục KNS cho HS không phải đến nay mới có mà vấn đề là bng
những phương pháp giảng dạy tích cực giáo viên sgiúp HS nâng cao KNS
của mình một cách nhẹ nhàng nhưng hết sức sâu sắc.
Tthực tế dạy học qua nhiều năm và việc rút kinh nghiệm của bản thân
trong qtrình giảng dy, cũng đtrao đi với các đồng nghiệp giảng dạy
Ng Văn về hướng áp dụng các phương pháp dạy học tích cực để giáo dục
KNS cho HS lớp 10, khối lớp đầu cấp THPT, tôi mnh dạn trình bày đtài
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua một số phương pháp dạy học tích cực
trong chương trình Ngữ Văn lớp 10 trung hc phổ thông” mà bản thân i nhận
thấy có hiệu quả trong q trình thực hiện.
II. TCHỨC THỰC HIỆN
1. Cơ sở lí luận
1.1. Quan niệm về kĩ năng sống
Theo WHO (1993) “Năng lực tâm lí hi là khnăng ứng p mt
cách hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Đó cũng
khnăng của một cá nhân đduy trì mt trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh
thần, biểu hiện qua hành vi p hợp và tích cc khi ơng tác với người khác,
với nền văn a môi trường xung quanh. Năng lực tâm lí xã hi vai trò
quan trọng trong việc phát huy sức khoẻ theo nghĩa rộng nhất về mặt thchất,
tinh thần và hi. KNS là khnăng thể hiện, thực thi năng lực m lí xã hi
này”.
Theo UNICEF, giáo dc dựa trên KNS cơ bn là sthay đổi trong nh
vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự n bằng giữa kiến thức, thái độ
hành vi. Ngn gọn nhất đó là kh năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì)
thái đ (ta đang nghĩ gì, cảmc như thếo, hay tin tưởng vào giá trị nào)
thành hành động (làm gì và làm như thế nào).
Như vậy, KNS chính ng lực của mỗi người giúp giải quyết những
nhu cu và thách thức của cuộc sống mt ch có hiệu quả. Việc đưa giáo dc
KNS vào nhà trường cho thấy mục tiêu của giáo dục trong thời kì mi c
trọng tính hữu dụng, thiết thực của chương trình nhà trường, đồng thời ng
khnăng đáp ng u cu đào tạo con người mới ng động, tích cực, tự tin,
hội nhập thành công trong xã hội.