
thay đổi, điều chỉnh trong thu nhập, trái phiếu này còn được gọi là
"adjustment bonds".
Trái phiếu không nhận lãi zero- coupon bonds
xin tham khảo phần chuyên đề về loại này.
Trái phiếu đầu cơ speculative bonds
người ta còn gọi là "junk bond" trái phiếu tạp. Đây là loại có lợi suất cao
nhưng rủi ro không kém, được xếp hạng rất thấp dưới BB xa theo cách xếp
của S&P’s. Loại trái phiếu này được dành chủ yếu cho người có thần kinh
mạnh, ít được người đầu tư bình thường chấp nhận,… Luật lệ tài chính và
TTCK khuyến cáo những người quản lý các quỹ cho khách hàng không nên
sử dụng các loại trái phiếu chất lượng thấp này. Bản thân từ "Junk" trong
tiếng Anh cũng đã xếp loại chúng như đồ "lạc xoong".
Trái phiếu ngoại lai
gọi là euro bonds, nhưng để chỉ chung cho tất cả các trái phiếu ngoại quốc
phát hành và giao dịch tại một nước ngoài nào đó, không kể là tại xứ Âu hay
Á. Trái phiếu đó ghi tiền của nước khác với nước mà nó được mua bán. Ví
dụ trái phiếu có mệnh giá bằng đồng Việt Nam nếu được bán tại châu Âu
hoặc ngay như tại Nhật Bản chẳng hạn, đều được gọi là "euro bond", nếu trái
phiếu đó mệnh giá bằng đô- la Mỹ thì còn được gọi là Eurodollar bond.
Tại thị trường tài chính Mỹ, các trái phiếu do các công ty và chính phủ nước
ngoài phát hành và được phép giao dịch trên các TTCK nước này được gọi
chung là "Yankee bond": Các chứng khoán nợ loại này có mệnh giá bàng
đồng đô- la Mỹ khác với euro bond có mệnh giá bằng tiền nước ngoài,
Giáo trình chứng khoánthế nào là người đầu tư chứng
khoán đúng nghĩa

thường được các công ty và chính phủ nhiều nước phát hành theo quy định
và quan hệ hiệp thương hai bên nhằm tận dụng lợi thế khi tình hình kinh tế
tài chính Mỹ khả quan hơn nước phát hành. Bản thân trái phiếu Yankee bị
tác động chủ yếu bởi lãi suất thị trường Mỹ và tình hình tài chính công ty
hoặc quốc gia phát hành.
Chứng khoán đặc biệt của các Công ty Cổ phần
Chứng khoán chuyển đổi
Về cơ bản, một công ty cổ phần có cơ cấu vốn gồm cổ phần thường, cổ phần
ưu đãi và trái phiếu các loại. Bấy nhiêu tưởng đã quá đủ để các công ty xoay
xở nhằm giải quyết vấn đề vốn. Nhưng chuyện không đơn giản như chúng ta
nghĩ. Trong quá trình tồn tại và phát triển, công ty vừa phải tính toán nên
cần đồng tiền nào cho có lợi nhất, vừa phải "gò" theo một hành lang gồm
nhiều luật và lệ chi phối. Chẳng hạn như luật chứng khoán, điều lệ công ty,
các ước lệ thị trường, phản ứng tâm lý của người đầu tư bên trong, kẻ quan
sát bên ngoài,… lắm lúc làm cho những "sản phẩm đơn giản và truyền
thống" kia không thể phát huy. Để tạo hấp dẫn, chúng cần đến sự chế biến,
cho gia vị vào, cải tiến bao bì mẫu mã, thêm cả món ăn chơi, nếu cần,.
..Chẳng khác nào trong chuyện ăn uống.
Cách khái quát trên đây không phải lý luận đơn thuần hoặc cho vui, mà là
một thực tế hành xử phổ biến của thị trường vốn đã được đúc kết thành
những sản phẩm đặc biệt, làm tăng phần phong phú hay có thể nói là linh
hoạt trong TTCK. Đó là trường hợp các chứng khoán chuyển đổi convertible
securities, các đặc quyền mua rights hoặc cam kết bán warrants, để lấy cổ
phần thưởng.
Chứng khoán chuyển đổi

Các chứng khoán chuyển đổi là loại trái phiếu trái phiếu thường -
debentures, hoặc cổ phần ưu đãi, có thêm đặc tính chuyển đổi được ra cổ
phần thường. Như ta đã biết, cổ phần thường là loại cổ phần đóng góp và
chia sẻ thật sự vào hoạt động làm ăn của một công ty cổ phần. Trong khi đó,
các trái phiếu và cổ phần ưu đãi thì thiên hẳn về chủ trương kiếm lợi. Loại
trái phiếu được xem là của những "ủng hộ viên" bên ngoài, còn cổ phần ưu
đãi dành cho những người chỉ "tháp tùng thôi chứ không thi đấu" bên trong.
Họ quan hệ với công ty trên cơ sở "sòng phẳng" hơn, vì họ muốn nhận các
khoản lợi cố định. Gọi là cổ phần ưu đãi, nhưng không phải đó là loại
"ngon" hơn cổ phần thường. Ưu đãi chỉ có ý nghĩa về thứ tự giải quyết
quyền lợi và cổ tức ổn định thôi. Trong trường hợp công ty ăn nên làm ra,
mà công ty nào lại chẳng mưu cầu như vậy!, cổ phần thường mới là "ông
hoàng" trong thị trường vốn.
Nhờ khả năng thuyết phục của cổ phần thường, các công ty dùng chiêu thức
"chuyển đổi" để hấp dẫn người mua trái phiếu hoặc cổ phần ưu đãi. Đây là
nghệ thuật huy động tài chính cho công ty theo phương thức triển hạn việc
tăng vốn góp equity. Người mua và sở hữu cổ phần ưu đãi chuyển đổi hoặc
trái phiếu chuyển đổi vẫn còn bị "treo" đó cho đến ngày hiệu lực, chưa được
công nhận là chủ sở hữu đầy đủ của công ty theo dạng cổ phần thường. Đến
thời điểm quy định, nếu các trái phiếu thường được chuyển đổi thành cổ
phần thường thì cơ cấu vốn của công ty sẽ được thay đổi, từ nợ debt sang
vốn góp equity.
Những lợi điểm đối với chủ thể phát hành:
Công ty phát hành chứng khoán chuyển đổi có thể trông cậy vào một số lý
do như:

- Những chứng khoán chuyển đổi được trả lãi ít hơn loại không chuyển đổi,
vì bản thân khả năng chuyển đổi đã là một quyền lợi dành cho người sở hữu.
- Công ty có thể loại bỏ chi phí vốn, do phải trả lãi cố định, một khi việc
chuyển đổi được thực hiện; điều này cũng có nghĩa là giảm nợ.
- Tránh được việc tạo ra một sự gia tăng nhanh lượng cổ phần trên thị
trường, bởi vì việc chuyển đổi diễn ra qua một thời gian dài sau khi phát
hành. Đây là một cách đánh lạc tâm lý hoặc xoa dịu thị trường.
- Bản thân công ty phát hành tránh làm loãng ngay lập tức thu nhập trên mỗi
cổ phần thường trong kỳ của đợt huy động vốn đó.
Những bất lợi đối với chủ thể phát hành:
Chủ thể phát hành, tuy vậy, cũng không thể tránh khỏi một số bất lợi, đó có
thể gồm:
- Vốn góp của cổ đông cuối cùng vẫn bị loãng dilution vào thời điểm chuyển
đổi.
- Một sự chuyển đổi lớn và có ý đồ có thể tạo ra một sự thay đổi về cơ cấu
kiểm soát công ty.
- Sự giảm nợ trong công ty thông qua phương thức chuyển đổi cũng có
nghĩa rằng công ty mất lợi thế về sử dụng đòn bẩy tài chính bằng nợ.
- Việc chuyển đổi từ hình thức nợ vay qua hình thức vốn riêng sẽ làm tăng
tiền thuế phải đóng trên thu nhập công ty.
- Bản thân trạng thái "khả năng chuyển đổi" còn treo lơ lửng một sự không
ổn định trong cơ cấu tài chính của công ty trong suốt thời gian hiệu lực.

Những lợi điểm hấp dẫn người mua:
Đối với người đầu tư mua chứng khoán chuyển đổi, họ nhắm đến một số
mục đích thuận lợi như sau:
- Loại trái phiếu chuyển đổi dù sao vẫn là loại cho lãi suất ổn định và có thể
nhận lại tiền gốc theo mệnh giá tại thời điểm đáo hạn.
- Người sở hữu trái phiếu chuyển đổi có ưu tiên cao hơn sở hữu cổ phần
thường trong trường hợp có sự thanh lý công ty xảy ra.
- Giá thị trường của trái phiếu chuyển đổi có khuynh hướng ổn định hơn giá
cổ phần thường trong các cơn suy thoái của TTCK.
- Trong lúc đó, giá thị trường của các chứng khoán chuyển đổi nói chung Iại
có khuynh hướng tăng lên nếu giá chứng khoán tăng.
- Được quyền chọn lựa chuyển qua cổ phần thường trong tương lai với giá
hấp dẫn.
Giá chuyển đổi và tỷ lệ chuyển đổi
Giá chuyển đổi:
Giá chuyển đổi là giá ghi trên mặt một chứng khoán chuyển đổi xác định số
tiền tương ứng với một cổ phần thường sẽ được chuyển đổi. Nếu một trái
phiếu chuyển đổi có mệnh giá là 1.000.000đ và có giá chuyển đổi là
125.000đ thì đến ngày hiệu lực mỗi 125.000đ sẽ tương ứng với một cổ phần
thường. Người cầm trái phiếu khi thực hiện việc chuyển đổi sẽ nhận được 8
cổ phần.
Tỷ lệ quy đổi:

