
Chương VII: Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
109
CHƯƠNG VII
QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
GIỚI THIỆU
Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động, các doanh nghiệp còn cần có
các đối tượng lao động. Khác với các tư liệu lao động, các đối tượng lao động (như nguyên, nhiên,
vật liệu, bán thành phẩm...) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái
vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm.
Những đối tượng lai động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các tài sản lưu
động , còn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Vốn lưu động của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh
doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và thường
xuyên lặp lại theo chu kỳ. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng chu
chuyển.
Chương này sẽ giới thiệu những nội dung cơ bản nhất về quản trị vốn lưu động. Khi học
xong chương này người học cần nắm được các vấn đề sau đây:
- Khái niệm về vốn lưu động và các yếu tố cấu thành vốn lưu động như tiền và các khoản
đầu tư ngắn hạn, hang tồn kho, các khoản phải thu…
- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
- Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
- Hiểu được các nhân tố ảnh hưởng đế quyết định tồn quĩ tiền mặt, hang tồn kho, và chính
sách bán chịu có hiệu quả của doanh nghiệp
- Vận dụng mô hình tài chính để phân tích và ra quyết định về tồn quĩ tiền mặt, hàng tồn
kho và đưa ra các biện pháp quản lý các khoản nợ của doanh nghiệp một cách có hiệu quả.
NỘI DỤNG
7.1. VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG.
7.1.1 . Khái niệm vốn lưu động của doanh nghiệp.
Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần có đối tượng lao động. Lượng tiền ứng
trước để thoả mãn nhu cầu về các đối tượng lao động gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Biểu
hiện dưới hình thái vật chất của vốn lưu động là tài sản lưu động. Tài sản lưu động là những tài
sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Trong bảng cân đối kế
toán của doanh nghiệp, tài sản lưu động được được thể hiện ở bộ phận tiền mặt, các chứng khoán
có khả năng thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho. Quản lý, sử dụng hợp lý tài
sản lưu động có ảnh hưởng rất lớn đối với việc hoàn thành các mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hậu quả của nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ
do quản trị vốn lưu động tồi. Nhưng cũng cần thấy rằng sự bất lực của một số công ty trong việc
hoạch định và kiểm soát tài sản lưu động là các khoản nợ ngắn hạn hầu như là nguyên nhân dẫn
đến thất bại cuối cùng của họ

Chương VII: Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
110
7.1.2 . Phân loại vốn lưu động.
a. Phân loại theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Theo cách phân loại này, vốn lưng động được phân thành:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị của vật tư, nhiên liệu, phụ tùng
thay thế, công cụ lao động
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm giá trị của sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm, chi phí chờ kết chuyển.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông bao gồm: giá trị của thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả
vàng bạc đá quí..); các khoản đầu tư ngắn hạn và các khoản ký cược, ký quí ngắn hạn; các khoản
phải thu.
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của từng loại vốn trong trong từng khâu
của quá trình kinh doanh. Từ đó doanh nghiệp có thể điều chỉnh cơ cấu sao cho có hiệu quả sử
dụng cao nhất.
b. Phân loại theo hình thái biểu hiện.
Theo cách này người ta chia vốn lưu động thành 2 loại:
- Vốn vật tư hàng hoá bao gồm giá trị của vật tư, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ lao
động, bao gồm giá trị của sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm.
- Vốn bằng tiền bao gồm vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc đá quí..); các khoản đầu tư ngắn hạn
và các khoản ký cược, ký quí ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán..
c. Phân loại theo mối quan hệ sở hữu về vốn
Theo cách phân loại này vốn lưu động được phân thành vốn chủ sở hữu và vốn vay. Cách
phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp thấy được hình thành từ vốn của
bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ. Từ đó có các quyết định trong việc huy động và quản
lý, sử dụng vốn hợp lý hơn.
c. Phân loại theo nguồn hình thành.
Xét về nguồn hình thành, vốn lưu động có thể hình thành từ các nguồn: vốn điều lệ, vốn tự
bổ sung, vốn liên doanh, liên kết, vốn đi vay.
Cách phân lợi này cho thấy cơ cấu nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động của doanh
nghiệp. Mỗi mộ nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó. Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ
cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm chi phí sử dụng vốn.
7.1.3 - Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng.
Kết cấu vốn lưu động phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa thành phần trong
tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp khác nhau thì có kết cấu vốn lưu động
khác nhau. Việc phân tích kết cấu vốn lưu động theo các cách thức phân loại khác nhau sẽ giúp
doanh nghiệp hiểu rõ hơn về những đặc điểm riêng về vốn lưu động của doanh nghiệp. Từ đó có
được các biện pháp quản lý phù hợp.
Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động, có thể chia thành 3 nhóm chính:
- Các nhân tố về mặt dự trữ vật tư như khoản cách giữa doanh nghiệp với nơi cung cấp, khả
năng cung cấp của thị trường, đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư.
- Các nhân tố về m
ặt sản xuất như: đặc điểm kỹ thuật, công nghệ sản xuất của doanh
nghiệp; mức độ phức tạp của sảm phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản xuất; trình độ tổ chức và
quản lý.

Chương VII: Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
111
- Các nhân tố về mặt thanh toán như phương thức thanh toán, thủ tục thanh toán, việc chấp
nhận kỷ luật thanh toán.
7.1.4 - Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
a. Các chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
Việc sử dụng hợp lý tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện trước hết ở tốc độ luân chuyên
vốn lưu động của doanh nghiệp. Vốn lưu động luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng vốn
lưu động của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luân chuyển (số vòng
quay vốn) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày của một vòng quay vốn).
- Số lần luân chuyển vốn lưu động phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện trong một
thời kỳ nhất định, thường tính trong một năm. Công thức tính toán như sau:
§L
V
M
L= (7.1)
Trong đó : L là số lần luân chuyển (số vòng quay) của vốn lưu động trong kỳ
M là tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ( thường là doanh thu thuần trong kỳ)
VLĐ là vốn lưu động bình quân trong kỳ.
Vòng quay vốn càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút ngắn và chứng to vốn lưu
động càng được sử dụng có hiệu quả.
- Kỳ luân chuyển vốn phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay vốn lưu động. Công
thức xác định như sau:
ML
K360x V
Khay
360 LD
== (7.2)
Trong đó : K là kỳ luân chuyển vốn lưu động.
Tổng mức luân chuyển vốn phản ánh tổng giá trị luân chuyển của doanh nghiệp thực hiện
trong kỳ, nó được xác định bằng tổng doanh thu trừ đi các khoản thuế gián thu và doanh nghiệp
phải nộp cho ngân sách Nhà nước.
Số vốn lưu động bình quân trong kỳ được tính theo phương pháp bình quân số vốn lưu động
trong kỳ quý hoặc tháng. Công thức tính như sau:
4
VVVV q4q3q2q1
§
+
+
+
=
L
V
Hoặc :
4
2
V
VVV
2
Vcq4
cq3cq2cq1
dq1
§
++++
=
L
V (7.3)
Trong đó : VLĐ là vốn lưu động bình quân trong kỳ.
Vq1, Vq2, Vq3, Vq4 là vốn lưu động bình quân các quý 1, 2, 3,4.
Vđq1 là vốn lưu động đầu quý 1.
Vcq1, Vcq2, Vcq3, Vcq4 là vốn lưu động cuối quý 1, 2, 3, 4.
b.- Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển.
- Mức tiết kiệm tuyệt đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp có thể tiết
kiệm được một số vốn lưu động để sử dụng vào công việc khác.

Chương VII: Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
112
Công thức tính như sau:
()
01
0
ld01
0
tktd K x
360
VK x
360
M
VK
M−
⎟
⎠
⎞
⎜
⎝
⎛
=−
⎟
⎠
⎞
⎜
⎝
⎛
= (7.4)
Trong đó : Vtktd là vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối.
VLĐ0, VLĐ1 là vốn lưu động bình quân kỳ báo cáo và kỳ kế hoạch.
M0 là tổng mức luân chuyển vốn năm báo cáo.
K1 là kỳ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch.
- Mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp có thể tăng
thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô vốn
lưu động. Công thức xác định số vốn VLĐ tiết kiệm tương đối như sau:
()
01
1
tktgd KKx
360
M
V−
⎟
⎟
⎠
⎞
⎜
⎜
⎝
⎛
= (7.5)
Trong đó : Vtktgđ là vốn lưu động tiết kiệm tương đối.
M1 là tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch.
K0, K1là kỳ luân chuyển vốn năm báo cáo và năm kế hoạch.
Ví dụ: năm 2005 một doanh nghiệp bưu chính viễn thông có tình hình như sau:
Vốn lưu động các quí ( Triệu đồng) :
Ngày 01/01/2005 31/03/2005 30/06/2005 30/09/2005 31/12/2005
Vốn lưu động 500 600 850 650 500
Doanh thu thuần năm 2005 đạt: 3900 triệu đồng
Năm 2006: doanh thu đạt 5040 triệu đồng, kỳ luân chuyển vốn lưu động rút ngắn 10 ngày
so với năm 2005.
Với số liệu trên, các chỉ tiêu trên được xác định như sau:
- Vốn lưu động bình quân năm 2005 :
650
4
2/5006508506002/500
2005 =
+
+
++
=
BQ
V triệu đồng
- Số vòng quay vốn lưu động năm 2005:
6
650
3900
2005
2005
2005 ===
LD
V
M
L vòng
- Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm 2005:
K2005 = 360 / L2005 = 360 ngày/6 vòng = 60 ngày
- Năm 2006 kỳ luân chuyển vốn lưu động giảm 10 ngày:
K2006 = 60 ngày -10 ngày = 50 ngày.
- Vòng quay vốn lưu động năm 2006 là
L
2006 = 360/ K2006 = 360 /50 = 7,2 vòng
- Vốn lưu động bình quân năm 2006 là
V
LD 2006 = (K2006 x M2006 )/ 360
= (50 ngày x 5040 triệu đ)/360 ngày = 700 triệu đồng.

Chương VII: Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
113
- Do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động từ 6 vòng năm 2005 lên 7,2 vòng năm 2006,
công ty đã tiết kiệm được một lượng vốn lưu động như sau:
+ Mức tiết kiệm tuyệt đối:
V
tktd = (M0/360) x (k1 – K0)
= (3900/ 360) x (50 – 60)= - 108,33 triệu
Như vậy do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, doanh nghiệp đã tiết kiệm được một
lượng tuyệt đối vốn lưu động là 108,33 triệu đ. Để đạt được mức doanh thu như năm 2005, doanh
nghiệp chỉ cần một lượng vốn lưu động bình quân là 541,67 triệu đ (650 triệu đ- 108,33 triệu đ).
+ Mức tiết kiệm tương đối:
V
tktd = (M1/360) x (k1 – K0)
= (5040/ 360) x (50 – 60)= - 140 triệu đ
Nếu tốc độ luân chuyển vốn lưu động không đổi, thì để đạt được doanh thu 5040 triệu đồng
thì doanh nghiệp phải cần một lượng vốn lưu động là 840 triệu đồng ((5040triệu đ/360 ngày)x60
ngày)). Nhưng do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, doanh nghiệp chỉ cần một lượng vốn là
700 triệu đồng, tiết kiệm được một lượng (tương đối) vốn lưu động là 140 triệu đ.
c. Mức doanh lợi vốn lưu động.
Được tính bằng cách lấy tổng số lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập)
chia cho số vốn lưu động bình quân trong kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có
thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập). Mức doanh lợi
vốn lưu động càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao.
7.2. NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH
NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP.
7.2.1 - Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn lưu đông thường xuyên, cần thiết để đảm
bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục và có hiệu quả.
Xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên có ý nghĩa sau:
- Tránh được tình trạng ứ đọng vốn, sử dụng vốn hợp lý và tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động.
- Đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được bình thường và liên tục.
- Không gây nên sự căng thẳng giả tạo về nhu cầu vốn kinh doanh và doanh nghiệp.
- Là căn cứ quan trọng cho việc xác định các nguồn tài trợ nhu cầu vốn lưu động của doanh
nghiệp.
7.2.2 - Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
a. Phương pháp trực tiếp.
Công thức tính toán tổng quát như sau:
()
∑∑ ==
=n
1j
ijij
k
1i
N x MV (7.6)
Trong đó : V là nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
M là mức tiêu dùng bình quân 1 ngày của loại vốn được tính toán.
N : số ngày luân chuyển của loại vốn được tính toán.

