
có thể chỉ ra tài sản của công ty đang được sử dụng đạt hiệu quả mức nào và
liệu cơ cấu nợ của công ty đã hợp lý chưa.
Mặc dù có một loạt các hệ số quan trọng khác nhau, nhưng các hệ số thường
xoay quanh 4 loại chủ yếu sau:
- Các hệ số về khả năng thanh toán
- Các hệ số hoạt động
- Các hệ số nợ
- Các hệ số về khả năng sinh lời
Các hệ số về khả năng thanh toán
Tính thanh khảo của tài sản phụ thuộc vào mức độ dễ dàng chuyển đổi tài
sản thành tiền mặt mà không phát sinh thua lỗ lớn. Việc quản lý khả năng
thanh toán bao gồm việc khớp các yêu cầu trả nợ với thời hạn của tài sản và
các nguồn tiền mặt khác nhằm tránh mất khả năng thanh toán mang tính chất
kỹ thuật. Việc xác định khả năng thanh toán là quan trọng. Do đó, vấn đề
chính là liệu một công ty có khả năng tạo ra đủ tiền mặt để thanh toán cho
những nhà cung cấp nguyên vật liệu và các chủ nợ hay không.
Về cơ bản, các hệ số về khả năng thanh toán thử nghiệm mức độ thanh toán
của một công ty. Hai hệ số thông dụng được sử dụng để xác định khả năng
thanh toán của một công ty bao gồm hệ số khả năng thanh toán hiện tại tỷ lệ
tài sản trên nợ và hệ số khả năng thanh toán nhanh hay còn gọi là hệ số thử
axit.
a Hệ số khả năng thanh toán hiện tại:
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại là mối tương quan giữa tài sản lưu động
và các khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn
Ví dụ: Hệ số khả năng thanh toán hiện tại

Một công ty với tài sản lưu động trị giá 20 triệu USD và có các khoản nợ
ngăn hạn trị giáo triệu USD sẽ có hệ số khả năng thanh toán hiện tại là 2,0.
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại = $20.000.000 / $10.000.000 = 2,0
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại cho thấy mức độ an toàn của một công ty
trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số này có
thể khác nhau, tuỳ thuộc vào ngành công nghiệp và loại công ty. Hệ số bằng
2,0 hoặc lớn hơn có thể tốt cho một công ty sản xuất, trong khi hệ số bằng
1,5 có thể chấp nhận được với một công ty dịch vụ công cộng vì nguồn tiền
mặt dự tính thu vào cao và nợ hiện tại hay nợ ngắn hạn nhỏ.
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại không phản ánh được tính linh hoạt của
một công ty. Hiển nhiên là một công ty có dự trữ tiền mặt lớn và các chứng
khoán khả mại sẽ có khả năng thanh toán lớn hơn một công ty có mức hàng
tồn kho lớn. Một hệ số được thiết lập chi tiết hơn khi xem xét vấn đề cơ cấu
tài sản có thể loại bỏ được những thành tố kém tính thanh khoản nhất trong
tài sản lưu động chính là hệ số khả năng thanh toán nhanh.
b Hệ số khả năng thanh toán nhanh.
Bằng cách loại bỏ giá trị không chắc chắn của hàng trong kho và tập trung
vào những tài sản có khả năng chuyển đổi dễ dàng, hệ số khả năng thanh
toán nhanh được thiết lập nhằm xác định khả năng đáp ứng nhu cầu trả nợ
của công ty trong trường hợp doanh số bán tụt xuống một cách bất lợi.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tài sản lưu động - Hàng dự trữ/Nợ
ngắn hạn
Ví dụ: Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Trong ví dụ trước, tài sản lưu động trị giá 20 triệu USD. Nhưng điều gì sẽ
xảy ra nếu 5 triệu USD trong phần tài sản đó là hàng trong kho.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = 20.000.000 - $5.000.000 / $10.000.000 =
1,5

Con số này có thể cho bạn biết rằng công ty có khả năng đáp ứng việc thanh
toán nợ ngắn hạn vì công ty không gặp khó khăn nào trong việc chuyển các
tài sản lưu động khác thành tiền mặt. Mặt khác, công ty này có thể có các
khoản phải thu khó đòi hoặc hoạt động trong một ngành công nghiệp vô
cùng nhạy cảm mà các chủ nợ đòi hỏi phải được thanh toán nhanh. Do đó,
công ty này có thể đòi hệ số thanh toán nhanh bằng 0,2 lần, và mức 1,5 lần
có thể cho thấy rằng công ty đang cố gắng giảm hàng dự trữ hoặc tăng giá trị
của các tài sản dễ chuyển đổi khác của mình.
Việc sử dụng thông minh các hệ số đòi hỏi bạn phải vận dụng chúng trong
mối liên hệ với các thông tin khác.
BÁO CÁO TÀI CHÍNH - Phần 4: Các hệ số hoạt động
Các hệ số hoạt động xác định tốc độ mà một công ty có thể tạo ra được tiền
mặt nếu có nhu cầu phát sinh. Rõ ràng là một công ty có khả năng chuyển
đổi hàng dự trữ và các khoản phải thu thành tiền mặt nhanh hơn sẽ có tốc độ
huy động tiền mặt nhanh hơn. Các hệ số sau đây và việc tính toán được thiết
lập dựa trên giả định rằng một năm có 360 ngày.
a Hệ số thu hồi nợ trung bình
Việc tìm ra kỳ thu hồi nợ bán hàng trung bình của một công ty sẽ cho bạn
biết công ty đó phải mất bao lâu để chuyển các khoản phải thu thành tiền
mặt. Lưu ý rằng doanh số bán thu tiền ngay được loại khỏi tổng doanh thu.
Kỳ thu hồi nợ trung bình = Các khoản phải thu/Doanh số bán chịu hàng
năm/360 ngày
Ví dụ: Kỳ thu hồi nợ trung bình

Nếu bảng cân đối kế toán của một công ty cho biết số liệu của các khoản
phải thu là $700.000 và báo cáo thu nhập của nó cho biết doanh số bán chịu
là $5.500.000, thì:
Kỳ thu hồi nợ trung bình = $700.000 / $5.500.000/360 ngày = 45,5
Cũng như các hệ số khác, kỳ thu hồi nợ trung bình phải được xem xét trong
mối liên hệ với các thông tin khác. Nếu chính sách của công ty là bán chịu
cho khách hàng trong vòng 38 ngày thì thời hạn 45,8 ngày cho thấy là công
ty gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ đúng hạn và cần xem xét lại chính
sách bán chịu của mình. Ngược lại, nếu chính sách thông thường của công ty
là ấn định thời hạn thu hồi nợ là 55 ngày, thì thời hạn trung bình 45,8 ngày
cho thấy chính sách thu hồi nợ của công ty là có hiệu quả. Cần nhớ rằng hệ
số thu hồi nợ trung bình chỉ là một số trung bình và có thể dẫn đến sự hiểu
nhầm.
Ví dụ, xem xét công ty A và B, có cùng giá trị các khoản phải thu nhưng có
thời biểu thu hồi nợ khác nhau.
Bảng 4. Thời hạn cần thiết để thu hồi nợ
% n
ợ
thu h
ồ
i
được trong 10
ngày
% n
ợ
thu h
ồ
i
được trong 30
ngày
% n
ợ
thu h
ồ
i
được trong 60
ngày
Công ty
A
10
30
60
Công ty
B
60
30
10

Bảng 4 cho thấy tỷ lệ các khoản phải thu của hai công ty thu hồi được trong
mỗi thời hạn. Rõ ràng, Công ty B ở vào vị trí tốt hơn vì 60% các khoản phải
thu của công ty này đã được thu trong vòng 10 ngày, so với mức chỉ là 10%
của công ty A. Nếu công ty A và công ty B có chung một số lượng khách
hàng và cùng một lượng các khoản phải thu thì thời hạn thu hồi nợ trung
bình của hai công ty này sẽ giống nhau. Nhưng việc phân bổ các kỳ thu hồi
nợ lại là yếu tố không được đề cập đến trong hệ số, rõ ràng điều này đã
khiến cho Công ty B có lợi thế hơn nếu chỉ nhìn trên bảng hệ số thu hồi nợ
trung bình. Một lần nữa cần phải nhắc lại, các hệ số tài chính là hữu ích,
nhưng phải thật cẩn trọng khi diễn giải chúng.
b Hệ Số thanh toán trung bình
Đối lập với các khoản phải thu là các khoản phải trả. Để tìm ra thời hạn
thanh toán trung bình đối với các khoản phải trả, rất đơn giản bạn chỉ cần
làm tương tự như đã làm đối với các khoản phải thu, tức là chia các khoản
phải trả cho tiền mua hàng chịu mỗi năm.
Thời hạn thanh toán trung bình = Các khoản phải trả /Tiền mua hàng chịu
hàng năm/360 ngày
Tuy nhiên, tiền mua hàng chịu hàng năm không được đề cập trong một báo
cáo tài chính. Để có được số liệu này, phải dự tính tỷ lệ giá trị hàng hoá
được mua chịu.Ví dụ: Tính toán thời hạn thanh toán trung bình
Giả định rằng số liệu các khoản phải trả của công ty là 275.000 USD. Nếu
giá mua hàng là 3.000.000 USD và dự tính là 80% hàng hoá này được mua
chịu, thì thời hạn thanh toán trung bình là bao nhiêu? Số tiền mua chịu hàng

