
Chương VIII - Chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
125
CHƯƠNG VIII
CHI PHÍ, DOANH THU VÀ LỢI NHUẬN
CỦA DOANH NGHIỆP
GIỚI THIỆU
Nghiên cứu doanh thu, chi phí giúp chúng ta xác định kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp và phân biệt các khái niệm doanh thu- chi phí và thu- chi mà trên thực tiễn đôi khi vẫn bị
nhầm lẫn.
Doanh thu và chi phí được thể hiện trên báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh và được sử
dụng để xác định kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Thu, chi phản ánh luồng tiền vào,
luồng tiền ra của doanh nghiệp thường trong ngắn hạn. Nó cho biết khả năng thanh toán của
doanh nghiệp. Các khoản thu và các khoản chi được thể hiện trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Đây là cơ sở quan trọng để nhà quản lý xây dựng kế hoạch tiền mặt của doanh nghiệp.
Nghiên cứu doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp còn giúp chúng ta lập và
hiểu các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, nhận biệt được mối liên hệ giữa báo cáo kết quả kinh
doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bảng cân đối kế toán- những căn cứ để phân tích tài chính
doanh nghiệp.
Nghiên cứu doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp là tiền đề để dự đoán và xác
định được qui mô các dòng tiền trong tương lai, làm căn cứ để tính toán thời gian thu hồi vốn đầu
tư, giá trị hiện tại dòng (NPV), tỷ suất thu hồi nộ bộ (IRR)….để ra các quyết định đầu tư dài hạn
của doanh nghiệp. Chương này sẽ tập trung nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu về doanh thu , chi
phí, lợi nhuận và phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp; các biện pháp quản lý doanh thu, chi
phí, lợi nhuận; các biện pháp nhằm tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí và hại giá thành same phẩm
của doanh nghiệp.
NỘI DUNG
8.1 - CHI PHÍ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
8.1.1 – Khái niệm và phân loại chi phí của doanh nghiệp.
a. Khái niệm chi phí
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, dng phải tiêu hao các loại vật tư, nguyên vật liệu, hao
mòn máy móc thiết bị, trả công cho người lao động..v.v…
Chi phí sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí
về vật chất và về lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và một số
khoản tiền thuế gián thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất - kinh doanh
trong một thời kỳ nhất định.
b. Nội dung chi phí hoạt động kinh doanh
Chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là các khoản chi phí phát sinh liên quan đến
hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm tài chính, bao gồm chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh
và chi phí khác.
b1. Chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm

Chương VIII - Chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
126
- Chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực, bán thành phẩm, dịch vụ mua ngoài (tính theo
mức tiêu hao thực tế và giá gốc thực tế), chi phí phân bổ công cụ, dụng cụ lao động, chi phí sửa chữa
tài sản cố định, chi phí trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định
- Chi phí tiền lương, tiền công, chi phí có tính chất lương phải trả cho người lao động
- Kinh phí bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế cho người lao động mà doanh
nghiệp phải nộp theo quy định.
- Chi phí giao dịch, môi giới, tiếp khách, tiếp thị, xúc tiến thương mại, quảng cáo, hội họp tính
theo chi phí thực tế phát sinh.
- Chi phí bằng tiền khác gồm:
+ Các khoản thuế tài nguyên, thuế đất, thuế môn bài;
+ Tiền thuê đất;
+ Trợ cấp thôi việc, mất việc cho người lao động;
+ Đào tạo nâng cao năng lực quản lý, tay nghề của người lao động;
+ Chi cho công tác y tế; chi nghiên cứu khoa học, nghiên cứu đổi mới công nghệ;
+ Thưởng sáng kiến cải tiến, thưởng tăng năng suất lao động, thưởng tiết kiệm vật tư và chi phí.
+ Chi phí cho lao động nữ;
+ Chi phí cho công tác bảo vệ môi trường;
+ Chi phí ăn ca cho người lao động;
+ Chi phí cho công tác Đảng, đoàn thể tại doanh nghiệp (phần chi ngoài kinh phí của tổ chức
Đảng, đoàn thể được chi từ nguồn quy định);
+ Các khoản chi phí bằng tiền khác;
- Giá trị tài sản tổn thất thực tế, nợ phải thu không có khả năng thu hồi
- Giá trị các khoản dự phòng giảm giá hàng hoá tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự
phòng trợ cấp mất việc làm, thôi việc, chênh lệch tỷ giá theo số dư khoản nợ vay dài hạn bằng ngoại
tệ, chi phí trích trước bảo hành sản phẩm, các khoản dự phòng theo quy định của pháp luật đối với
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đặc thù.
- Chi phí hoạt động tài chính, bao gồm: các khoản chi liên quan đến đầu tư ra ngoài doanh
nghiệp, tiền lãi phải trả do huy động vốn, chênh lệch tỷ giá khi thanh toán, chi phí chiết khấu thanh
toán, chi phí cho thuê tài sản, dự phòng giảm giá các khoản đầu tư dài hạn.
b2. Chi phí khác bao gồm:
- Chi phí nhượng bán, thanh lý tài sản cố định gồm cả giá trị còn lại của tài sản cố định khi
thanh lý, nhượng bán;
- Chi phí cho việc thu hồi các khoản nợ đã xoá sổ kế toán;
- Chi phí để thu tiền phạt;
- Chi phí về tiền phạt do vi phạm hợp đồng;
- Các chi phí khác.
b3. Các khoản chi không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
- Chi phí mua sắm xây dựng, lắp đặt tài sản cố định hữu hình, vô hình;

Chương VIII - Chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
127
- Chi phí lãi vay vốn được tính vào chi phí đầu tư và xây dựng, chênh lệch tỷ giá ngoại tệ của
các khoản đầu tư xây dựng phát sinh trước thời điểm đưa công trình vào sử dụng;
- Các khoản chi phí khác không liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; các
khoản chi không có chứng từ hợp lệ;
- Các khoản tiền phạt về vi phạm pháp luật không mang danh doanh nghiệp mà do cá nhân gây
ra.
c. Phân loại chi phí của doanh nghiệp.
c1. Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế. ( theo yếu tố)
Theo cách phân loại này, chi phí của doanh nghiệp bao gồm: chi phí vật tư mua ngoài; chi phí
tiền lương và các khoản trích theo lương; chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí dịch vụ mua ngoài; chi phí
bằng tiền khác…
c2. Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế ( theo khoản mục)
Theo cách phân loại này, chi phí của doanh nghiệp bao gồm:
- Chi phí vật tư trực tiếp bao gồm chi phí về nguyên liệu, nhiên liệu sử dụng trực tiếp tạo ra sản
phẩm, dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí lương, tiền công, các khoản trích nộp của công
nhân trực tiếp tạo ra sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp phải nộp theo quy định như bảo hiểm xã
hội, kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế của công nhân sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung bà các chi phí sử dụng cho hoạt động sản xuất, chế biến của phân
xưởng trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Bao gồm: Chi phí vật liệu, công cụ lao động
nhỏ; khấu hao tài sản cố định phân xưởng, tiền lương các khoản trích nộp theo quy định của nhân
viên phân xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài; chi phí khác bằng tiền phát sinh ở phạm vi phân
xưởng.
- Chi phí bán hàng là toàn bộ các chi phí liên quan tới việc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, bao
gồm cả chi phí bảo hành sản phẩm.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm các chi phí cho bộ máy quản lý và điều hành
doanh nghiệp, các chi phí có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: Chi phí
công cụ lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định phục vụ bộ máy quản lý và điều hành doanh
nghiệp; tiền lương và các khoản trích nộp theo quy định của bộ máy quản lý và điều hành doanh
nghiệp; chi phí dịch vụ mua ngoài; chi phí khác bằng tiền phát sinh ở doanh nghiệp như chi phí về
tiếp tân khánh tiết, giao dịch, chi các khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động (có hướng dẫn cụ
thể như Bộ Tài chính - Thương binh - Xã hội) v.v..
c3. Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với qui mô sản xuất kinh doanh.
Theo cách phân loại này, chi phí của doanh nghiệp chia làm 2 loại: Chi phí cố định và chi phí
biến đổi.
- Chi phí cố định là chi phí không thay đổi (hoặc thay đổi không đáng kể) theo sự thay đổi qui
mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thuộc loại này có: Chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền
lương quản lý, lãi tiền vay phải trả, chi phí thuê tài sản, văn phòng.
- Chi phí biến đổi là các chi phí thay đổi trực tiếp theo sự thay đổi của qui mô sản xuất. Thuộc
loại này có chi phí nguyên vật liệu, tiền lương công nhân sản xuất trực tiếp…

Chương VIII - Chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
128
Cách phân loại này giáp doanh nghiệp thấy được xu hướng biến đổi của từng loại chi phí theo
qui mô kinh doanh, từ đó doanh nghiệp có thể xác định được sản lượng hoà vốn cũng như qui mô
kinh doanh hợp lý để đạt hiệu quả cao nhất.
8.1.2 – Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
a. Khái niệm.
Nghiên cứu chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa cho chúng ta biết lượng chi phí
cần thiết để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm, dịch vụ , công việc …nhất định.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khi quyết định lựa chọn phương án kinh doanh một sản phẩm,
dịch vụ nào đó, doanh nghiệp cần phải tính đến lượng chi phí bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,
dịch vụ đó. Do vậy doanh nghiệp cần phải xác định giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để hoàn
thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm , dịch vụ, công việc nhất nhất định.
Nội dung giá thành sản phẩm và dịch vụ.
- Giá thành sản xuất của sản phẩm và dịch vụ gồm: chi phí vật tư trực tiếp; chi phí nhân công
trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ bao gồm: giá thành sản xuất của sản
phẩm, dịch vụ tiêu thụ; chi phí bán hàng; chi phí quản lý doanh nghiệp:
b. Lập kế hoạch giá thành sản phẩm - dịch vụ.
Để quản trị giá thành, mỗi doanh nghiệp đều phải xác định kế hoạch giá thành. Nhiệm vụ
chủ yếu của xác định kế hoạch giá thành là phát hiện và khai thác mọi khả năng tiềm tàng để giảm
bớt chi phí sản xuất, tiêu thụ.
Muốn xác định giá thành kế hoạch theo khoản mục, trước hết phải xác định giá thành đơn vị
sản phẩm. Cách xác định giá thành đơn vị sản phẩm như sau:
Đối với các khoản mục độc lập (khoản mục trực tiếp) như chi phí vật tư trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp ta tính được bằng cách lấy định mức tiêu hao cho đơn vị sản phẩm nhân với
đơn giá kế hoạch.
Đối với những khoản mục chi phí tổng hợp (chi phí gián tiếp) như chi phí sản xuất chung,
chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, trước hết phải lập dự toán chung sau đó lựa chọn
tiêu chuẩn thích hợp để phân bố cho mỗi đơn vị sản phẩm. Ví dụ: phân bố theo giờ công định
mức, tiền lương chính của công nhân sản xuất, hoặc số giờ chạy máy.
8.1.3 - Các nhân tố ảnh hưởng và biện pháp để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
a- Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Có thể chia làm 3 nhóm nhân tố:
+ Các nhân tố về mặt kỹ thuật, công nghệ sản xuất.
+ Các nhân tố về mặt tổ chức quản lý sản xuất, quản lý tài chính doanh nghiệp.
+ Các nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của DN.
b- Các biện pháp chủ yếu để tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.
Trên cơ sở đánh giá đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm các doanh nghiệp cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình để tìm ra các biện pháp thích
hợp. Tuy nhiên có thể nêu ra những biện pháp chủ yếu là:

Chương VIII - Chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
129
- Thường xuyên đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất trong doanh nghiệp, ứng dụng kịp
thời các thành tựu tiến bộ khoa học - kỹ thuật và sản xuất. Tuy nhiên việc đầu tư, đổi mới kỹ
thuật, công nghệ sản xuất thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn, vì vậy doanh nghiệp phải có các biện
pháp cụ thể, phù hợp để huy động, khai thác các nguồn vốn đầu tư cho doanh nghiệp.
- Không ngừng hoàn thiện và nâng cao trình độ tổ chức sản xuất, tổ chức lao động trong
doanh nghiệp để nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí lao động vật tư, chi phí quản lý,
hạn chế tối đa các thiệt hại tổn thất trong quá trình sản xuất... từ đó có thể tiết kiệm chi phí và hạ
giá thành.
- Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính đối với việc sử dụng chi phí và giá
thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản trị tài chính doanh nghiệp đối với quản trị
chi phí là phải đảm bảo tiết kiệm chi phí kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm.
Muốn tiết kiệm chi phí, phải tăng cường công tác quản lý chi phí ở mỗi doanh nghiệp, cụ
thể:
- Phải lập được kế hoạch chi phí, dùng hình thức tiền tệ tính toán trước mọi chi phí cho sản
xuất kinh doanh kỳ kế hoạch; phải xây dựng được ý thức thường xuyên tiết kiệm chi phí để đạt
được mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra.
- Phải xác định rõ nội dung, phạm vi sử dụng từng loại chi phí để có biện pháp quản lý phù
hợp.
- Đối với các khoản chi về nguyên, nhiên vật liệu, thông thường những khoản này thường
chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản xuất, nếu tiết kiệm những
khoản chi phí này sẽ có tác dụng rất lớn đến hạ giá thành sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu phụ
thuộc hai nhân tố: số lượng nguyên vật liệu tiêu hao và giá cả nguyên vật liệu. Vì vậy để tiết kiệm
chi phí phải xây dựng được các định mức kinh tế - kỹ thuật về tiêu hao vật tư tiên tiến, phù hợp
với doanh nghiệp và đặc điểm kinh tế - kỹ thuật cho phép làm cơ sở cho việc quản lý; đồng thời
kiểm tra chặt chẽ đơn giá từng loại vật tư sử dụng.
+ Để tiết kiệm chi phí về lao động, doanh nghiệp cần xây dựng định mức lao động khoa học
và hợp lý đến từng người, từng bộ phận và định mức tổng hợp phù hợp với qui định mà nhà nước
đã hướng dẫn và ban hành. Các doanh nghiệp thực hiện việc đăng ký định mức lao động với các
cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp phải tự xây dựng đơn giá tiền lương, thường xuyên kiểm tra định mức lao
động, đơn giá tiền lương, đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động và tốc độ tăng thu nhập thực tế
có một quan hệ tỷ lệ phù hợp.
Xác định tổng quỹ lương của doanh nghiệp căn cứ vào đơn giá tiền lương và kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Để tiết kiệm chi tiêu quỹ lương, thì quỹ tiền lương phải được dùng đúng
mục đích; không được sử dụng quỹ tiền lương một cách tuỳ tiện để chi cho các mục đích khác.
Quản lý quỹ tiền lương phải trên cơ sở quản lý chặt chẽ cả số lượng và chất lượng lao động; đơn
giá tiền lương và gắn với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Đối với các khoản chitiền mặt cho tiếp khách, hội họp giao dịch, chi đối ngoại, các doanh
nghiệp cần tự xây dựng định mức chi tiêu và quy chế quản lý sử dụng. Các khoản chi phải có
chứng từ hợp lệ, phải gắn với kết quả kinh doanh và không được vượt quá mức khống chế tối đa
theo tỷ lệ tính trên tổng chi phí; các khoản chi hoa hồng môi giới phải căn cứ vào hiệu quả kinh tế
do việc môi giới mang lại.

