Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Giáo trình Sáng tác mẫu thời trang - Trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex TP. HCM

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:249

9
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình Sáng tác mẫu thời trang cung cấp cho độc giả những kiến thức cơ bản nhất về các phương pháp vẽ dựng hình dáng người mẫu dùng trong vẽ sáng tác thời trang, các phương pháp thể hiện chất liệu, phương pháp vẽ phác họa bộ sưu tập trang phục theo thể loại trang phục và theo đề tài ý tưởng nghiên cứu. Giáo trình gồm có bốn chương, trong mỗi chương tập trung chủ yếu vào những kiến thức cơ bản nhất, cô đọng nhất để người đọc có thể nắm được những nội dung chính. Trong chương thứ nhất, tác giả muốn giới thiệu đến độc giả những kiến thức về phương pháp vẽ dựng hình dáng người mẫu thời trang để ứng dụng vào vẽ sáng tác thời trang.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Sáng tác mẫu thời trang - Trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex TP. HCM

  1. BỘ CÔNG THƯƠNG TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM TRƯỜNG CAO KINH TẾ - KỸ THUẬT VINATEX TP.HCM GIÁO TRÌNH SÁNG TÁC MẪU THỜI TRANG (Lưu hành nội bộ) Thành Phố Hồ Chí Minh – 2019
  2. Contents LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................... Error! Bookmark not defined. Phần 1: THIẾT KẾ TẠO DÁNG .......................................................... Error! Bookmark not defined. Chương I .......................................................................................................................................... 5 KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH NGHỀ THIẾT KẾ............................................................................... 5 I. KHÁI QUÁT CHUNG VỂ NGÀNH NGHỀ THIẾT KẾ ............................................................ 5 II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIẾN DESIGN GIAI ĐOẠN 1950-1990 ............................................ 14 III. SỰ PHÁT TRIẾN TỪ Ý TƯỞNG ĐẾN THIẾT KẾ .............................................................. 25 1. Hãy nêu khái niệm Design. ........................................................................................................ 29 2. Hãy trình bày tóm tắt quá trình hình thành ngành nghề thiết kế thời trang giai đoạn đầu. ....... 29 3. Hãy trình bày các quá trình phát triển Design giai đoạn 1950-1990. ........................................ 29 4. Hãy phân tích sự phát triển từ ý tưởng đến thiết kế sản phẩm nói chung. ................................. 29 Chương II ....................................................................................................................................... 30 KHÁI QUÁT VỀ THIẾT KẾ THỜI TRANG ............................................................................... 30 I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THIẾT KẾ THỜI TRANG ............................................................ 30 II. KHÁI QUÁT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIẾN NGÀNH THIẾT KẾ THỜI TRANG VIỆT NAM .................................................................................................................................... 39 III. TẦM QUAN TRỌNG CỦA THƯƠNG HIỆU THỜI TRANG VÀ PHONG CÁCH TRONG SỰ LỰA CHỌN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG .............................................................................. 43 IV. PHÂN LOẠI PHONG CÁCH THIẾT KẾ THỜI TRANG .................................................... 46 Chương III ..................................................................................................................................... 53 CƠ SỞ THIẾT KẾ TẠO DÁNG THỜI TRANG .......................................................................... 53 I. KHÁI NIỆM BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC ............................................................................ 53 II. ĐỐI TƯỢNG THIẾT KẾ.......................................................................................................... 55 III. ĐẶC ĐIỂM TRANG PHỤC ẢNH HƯỞNG THEO TÂM SINH LÝ ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG TRANG PHỤC ................................................................................................................. 56 IV. NGHỆ THUẬT PHỐI MÀU TRANG PHỤC ........................................................................ 64 V. TIẾN TRÌNH THIẾT KẾ THỜI TRANG ................................................................................ 71 Phần 2: SÁNG TÁC MẪU THỜI TRANG ...................................... Error! Bookmark not defined. Chương I ........................................................................................................................................ 75 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG VẼ PHÁC HỌA THỜI TRANG................................. 75 I. CÁC DỤNG CỤ HỌC TẬP ....................................................................................................... 75
  3. II. Ý TƯỞNG SÁNG TẠO VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP THỂ HIỆN ........................................... 79 III. NGUYÊN TẮC VẼ DỰNG HÌNH DÁNG NGƯỜI MẪU THỜI TRANG ........................... 84 IV.PHƯƠNG PHÁP VẼ TRANG PHỤC LÊN HÌNH VẼ DÁNG NGƯỜI MẪU .................... 103 V. BÀI TẬP ÁP DỤNG .............................................................................................................. 107 Chương II ..................................................................................................................................... 109 PHƯƠNG PHÁP THỂ HIỆN CHẤT LIỆU TRONG VẼ PHÁC HỌA ...................................... 109 THỜI TRANG ............................................................................................................................. 109 I. PHƯƠNG PHÁP VẼ THỂ HIỆN TÍNH CHẤT NGUYÊN LIỆU CỦA TRANG PHỤC ...... 109 II. PHƯƠNG PHÁP VẼ THỂ HIỆN HOA VĂN TRÊN TRANG PHỤC .................................. 124 III. BÀI TẬP ÁP DỤNG ............................................................................................................. 130 Chương III ................................................................................................................................... 131 PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC ........................................... 131 THEO THỂ LOẠI ....................................................................................................................... 131 I. PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO THỂ LOẠI DẠO PHỐ ............................................................................................................................................. 131 II. PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO THỂ LOẠI CÔNG SỞ ................................................................................................................................................ 162 III. PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO THỀ LOẠI ĐỒNG PHỤC ........................................................................................................................................... 178 IV. PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO THỂ LOẠI DẠ HỘI .............................................................................................................................................. 189 V. PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO THỂ LOẠI NGHỆ THUẬT BIỄU DIỄN ................................................................................................................... 210 Chương IV ................................................................................................................................... 223 PHƯƠNG PHÁP VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO ĐỀ TÀI Ý TƯỞNG ..................................................................................................................................................... 223 I. KHÁI NIỆM ĐỀ TÀI Ý TƯỞNG SÁNG TÁC ....................................................................... 223 III. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN VẼ PHÁC HỌA BỘ SƯU TẬP THEO ĐỀ TÀI Ý TƯỞNG ... 226 II. GIỚI THIỆU HÌNH VẼ MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP TRANG PHỤC THEO ĐỀ TÀI Ý TƯỞNG CỦA CÁC THÍ SINH DỰ THI CÁC CUỘC THI VIỆT NAM COLLECTION GRAN PRIX 239 IV. BÀI TẬP ÁP DỤNG ............................................................................................................. 246 TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................................... 247
  4. LỜI NÓI ĐẦU Giáo trình Sáng tác mẫu thời trang được biên soạn dùng để tham khảo giảng dạy và học tập cho giáo viên và học sinh - sinh viên chuyên ngành thiết kế thời trang các trường cao đẳng và trung cấp. Thông qua giáo trình, tác giả mong đánh thức và phát triển khả năng cảm nhận của người đọc về màu sắc, hình ảnh gây ấn tượng trong việc nghiên cứu và mẫu thiết kế trang phục, vận dụng ý tưởng sáng tạo thiết kế mẫu trang phục thời trang, nguyên lý thiết kế thời trang, phương pháp vẽ các bản vẽ thiết kế thời trang, phác thảo ý tưởng để phát triển ý tưởng thành bộ sưu tập thời trang. Giáo trình cung cấp cho đọc giả những kiến thức cơ bản nhất về các phương pháp vẽ dựng hình dáng người mẫu dùng trong vẽ sáng tác thời trang, các phương pháp thể hiện chất liệu, phương pháp vẽ phác hoạ bộ sưu tập trang phục theo thể loại trang phục và theo đề tài ý tưởng nghiên cứu. Giáo trình gồm có bốn chương, trong mỗi chương tập trung chủ yếu vào những kiến thức cơ bản nhất, cô đọng nhất để người đọc có thể nắm được những nội dung chính. Trong chương thứ nhất, tác giả muốn giới thiệu đến đọc giả những kiến thức về phương pháp vẽ dựng hình dáng người mẫu thời trang để ứng dụng vào vẽ sáng tác thời trang. Chương thứ hai cung cấp cho đọc giả những kiến thức về phương pháp thể hiện chất liệu theo tính chất và hoa văn của vải. Chương thứ ba và chương thứ tư cung cấp cho đọc giả phương pháp thực hiện vẽ phác họa mẫu bộ sưu tập thời trang theo thể loại trang phục và theo đề tài ý tưởng sáng tác. Trong giáo trình có sử dụng nguồn thông tin và một số tài liệu, hình ảnh từ Giáo trình Phương pháp vẽ người mẫu trong thiết kế thời trang, Nhà xuất bản mỹ thuật 2002, tài liệu Phương Pháp Vẽ Thiết Kế Thời Trang, tác giả Anh Vũ, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin- 2003, các trang web và các tạp chí dệt may, thời trang. Trong quá trình biên soạn, mặc dù tác giả đã cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định. Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà nghiên cứu, các đồng nghiệp, học sinh - sinh viên để giáo trình ngày càng được hoàn thiện hơn.
  5. 5 Phần 1: THIẾT KẾ TẠO DÁNG Chương I KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH NGHỀ THIẾT KẾ I. KHÁI QUÁT CHUNG VỂ NGÀNH NGHỀ THIẾT KẾ Chúng ta nghe thấy khái niệm Design ở mọi nơi, Design trở thành một phạm trù của văn hóa, nó chiếm một chuyên mục riêng trong các tạp chí, các chương trình vô tuyến giống như mỹ thuật văn học. Trước đây, trên thế giới tên tuổi các nhà tạo mẫu (tạo dáng công nghiệp) ít có ý nghĩa - ngoại trừ các nhà tạo mẫu thời trang nổi tiếng - nhưng ngày nay các nhà tạo dáng hàng đầu cũng có vị trí không khác gì các siêu sao màn bạc của điện ảnh và âm nhạc. Tên tuổi các nhà tạo mẫu nổi tiếng như: Ettore Sottsass, Philippe Starck và Metteo Thun và các sản phẩm do họ thiết kế được nhiều người biết đến và chính họ đã mở ra một chương sử mới của loại nghệ thuật này. Nhiều hãng đã sử dụng tên của các nhà tạo mẫu làm nhãn hiệu, biểu tượng cho hãng của mình. Để nâng được giá trị sản phẩm và sự hấp dẫn với người mua, họ cho ra đời các loại sản phẩm có ký hiệu riêng - như để sưu tập - từ các bộ ghế ngồi, các hệ thống thiết bị Hi-fi hoặc các bộ tách thủy tinh. Ngày nay, Design đã được thừa nhận là một bộ phận lịch sử văn hóa. Thế kỉ XX, Design được coi trọng như một chính sách kinh doanh của hãng. Trong một thời đại mà khoa học kỹ thuật đã được đến đỉnh cao, sự chênh lệch về chất lượng kỹ thuật trong những phương diện cụ thể không là vấn đề bàn cãi và giá cả cũng tương tự, mặt bằng chi phí vật tư nguyên liệu, điều kiện làm việc, lương bỗng giống nhau - thì Design sẽ trở thành yếu tố để so sánh cuối cùng và là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc cạnh tranh. Việc tạo dáng sản phẩm riêng lẻ chỉ là một phần trong hình ảnh của công ty - được biểu hiện từ tấm danh thiếp cho đến biểu trưng văn phòng của hãng, từ bao bì sản phẩm cho đến tiêu chí quảng cáo - gọi là Corporate Indentidy. Thực tế thì Design là nhận thức đã đi vào đời sống tuyên truyền, triễn lãm và cạnh tranh trong các họp bàn tròn của doanh nghiệp, của các trung tâm thiết kế và các cơ quan công cộng đến cán bộ y tế, các phòng thương mại và các công nghiệp của các quốc gia.
  6. 6 1. Khái niệm Design Trong thực tế, danh từ Design bị lạm dụng đã dẫn đến lạm phát về khái niệm giống như sử dụng một con dấu chất lượng, danh từ được sử dụng vô tội vạ cho mọi hàng hóa, cho mọi đồ vật cốt để bán hàng. Nào là “Designer -Jen”, “Designer - Brille”, “Designer - Moebel”, thậm chí cả “Design - Drogen” không có liên quan gì đến ý nghĩa gốc của danh từ này.
  7. Chương I: Khái quát về Design 7 Bên cạnh những hiện tượng sử dụng ngôn từ đó, trong những năm 1980 đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận về khái niệm Design nhằm xác định ranh giới của nó giữa mỹ thuật, thủ công, công nghiệp Design - trong quá trình phát triển của cách mạng công nghiệp cũng như qua các hình thức biểu đạt mới về thẩm mỹ học - khái niệm trên thường bị hòa đồng với nhau. Design là một lĩnh vực về mặt lý luận và thực diễn đều chịu sự chi phối của các yếu tố rất khác nhau, nên đối với lĩnh vực mới mẻ này người ta cũng chưa thể có một định nghĩa thống nhất. Danh từ Design xuất xứ từ gốc chữ Ý “Disegno” - có từ thời Phục Hưng - có nghĩa là phác thảo, bản vẽ và bao trùm toàn bộ là công việc của một sự sáng tạo. Đến thế kỷ XVI, thì khái niệm Design đã được mở rộng ở Anh và mang nghĩa lả “lập trình một cái gì đó để thể hiện”. Nhà nghiên cứu Buerdek khái niệm về Design là thực hiện phác thảo một bản vẽ đầu tiên cho một tác phẩm nghệ thuật hoặc một phác thảo của một sản phẩm mỹ nghệ. Ngày nay, chúng ta hiểu Design như là khái niệm về phác thảo và lập kế hoạch cho sản phẩm công nghiệp. Nội dung đó có thể sử dụng chung cho thời đại công nghiệp hóa mà ở Anh, Đức và sau cùng là Ý đã dùng. Với quá trình công nghiệp hóa cũng là quá trình hình thành lịch sử Design được bắt đầu vào khoảng giữa thế kỷ XIX.Trong quá trình phát triển của mỹ thuật công nghiệp, Design đã có nhiều đánh giá khác nhau, những nhìn nhận khác nhau về vai trò, vị trí của lĩnh vực mới mẻ này. Có những giai đoạn đã dẫn đến các cuộc tranh cãi nảy lửa bao quanh khái niệm – thế nào là Design? Trong khu vực những nước nói tiếng Đức chẳng hạn, thuật ngữ cho việc tạo dáng các sản phẩm công nghiệp cho đến năm 1954 vẫn chưa thấy mấy ai sử dụng danh từ Design- mà vẫn được gọi là “tạo dáng sản phẩm”, “tạo dáng công nghiệp”…Đến nay, từ định nghĩa cho đến nội dung đều đã thay đổi nhiều đối với khái niệm Design. Trước đây, người ta quan niệm Design là việc sản xuất ra một sản phẩm theo phương pháp công nghiệp, bởi lẽ do sự phát triển và phân công lao động của quá trình công nghiệp hóa thì việc thiết kế thi công, đã không còn nằm trong tay một người thợ như trước đây và đó chính là tiền đề cơ bản cho sự ra đời nghề Design (nhà tạo mẫu), người lãnh trách nhiệm sau này được gọi là nhà tạo dáng công nghiệp. Kể từ khi bắt đầu công nghiệp hóa đã có nhiều phong trào cải cách xuất hiện ở Anh và Đức. Đó là cuộc cải cách nền nghệ thuật thủ công, giáo dục ý thức xã hội và giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, nhằm đối lập lại những hậu quả tiêu cực của công nghiệp hóa. Có một xu hướng muốn thay thế các sản phẩm thô kệch của sản xuất công nghiệp bằng những sản
  8. Chương I: Khái quát về Design 8 phẩm chất lượng cao của một sự cách tân trong sản xuất thủ công - phong trào này kêu gọi hãy trở về với quá khứ, một phong trào khác có mục đích muốn tạo dáng tốt hơn, nâng cao chất lượng sản phẩm công nghiệp - bằng cách phải tạo mẫu sao cho phù hợp với những điều kiện sản xuất công nghiệp - nhằm hiện đại hóa sản phẩm - đạt đến mục tiêu hiện đại, giá cả phải chăng, bền và đẹp . Những nỗ lực trên cuối cùng cũng đã dẫn đến kết quả của những điều kiện của việc sản xuất ra các sản phẩm hàng loạt trong công nghiệp phải tuân thủ theo những yếu tố có tính đạo đức và mang nội dung của cải cách xã hội - cụ thể là thông qua lý luận của chủ nghĩa công năng đã đưa ra những quan điểm thẩm mỹ trên trở thành nội dung của khái niệm về Design. Các đại diện của chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa công năng cho rằng - hình thức của một đồ vật phải tuân thủ nội dung (công năng) của nó - ở đó không được trang trí thừa thãi. Điều thứ hai là những điều kiện sản xuất công nghiệp đòi hỏi phải có một ngôn ngữ tạo hình đơn giản, theo những hình kỷ hà (hình học) và phải được tiêu chuẩn hóa, định hình hóa, nhằm tạo ra những sản phẩm bền, đẹp có chất lượng cao, sản xuất với giá thành phải chăng để thỏa mãn và phù hợp với nhu cầu cải cách xã hội. Lý luận của chủ nghĩa công năng là kim chỉ nam và định hướng cho đến thời kỳ hiện đại, nó đã thống trị về nội dung thẩm mỹ đối với nền Design công nghiệp chính thống. Khái niệm Design đồng nghĩa với sự đơn giản về hình dáng, và sự đơn giản của hình dáng lại đồng nghĩa với tiện dụng, chất lượng cao và giá thành hợp lý. 2. Khái niệm nghề nghiệp nhà tạo mẫu nói chung Danh hiệu nghề nghiệp nhà tạo mẫu (Designer) không có trong danh sách đăng ký bản quyền, cho nên bất kỳ ai làm gì dính dáng đến công việc thiết kế đều có thể tự phong là Designer. Trong thực tế có nhiều nhà tạo dáng nổi tiếng không qua đào tạo chuyên nghiệp mà họ tạt sang từ các lĩnh vực kiến trúc hoặc quảng cáo. Ngày nay, việc đào tạo các nhà tạo dáng thông thường phải qua các nhà đào tạo trung cấp hoặc cao đẳng toàn phần để có được bằng Diploma - Tạo dáng công nghiệp hoặc thiết kế đồ họa. Việc đào tạo các nhà tạo dáng công nghiệp bao gồm toàn bộ các lĩnh vực của các bộ môn khoa học rất cần thiết cho kiến thức để hành nghề Design thực thụ đó là các môn thẩm mỹ học, tín hiệu học, lý thuyết màu… Bộ môn phân tích và thể hiện sản phẩm gồm: Hình học, viễn cận và lý thuyết về tỉ lệ. Về chuyên ngành của quá trình thiết kế cần có những thông tin cập nhật về vật lý, sức bền vật liệu, thiết kế mỹ thuật, tiêu chuẩn hóa và định hình hóa. Design là một nghề nghiệp phong phú và đa dạng. Người ta chia ngành làm hai nhánh: Thiết kế đồ họa và Thiết kế công nghiệp. Ngày nay, khái niệm công nghiệp không còn nữa bởi các hình thức tổ chức và sản xuất nói chung đã không thể tách bạch nổi. Các
  9. Chương I: Khái quát về Design 9 nhà tạo dáng công nghiệp đã có một phạm vi hoạt động rộng lớn từ những sản phẩm tiêu dùng hàng ngày như đồ gỗ, dụng cụ gia đình, quần áo… cho đến các sản phẩm công nghiệp không chỉ hoạt động trên thế giới của hàng hóa tiêu dùng - họ còn hoạt động cả trong lĩnh vực thiết kế xe tăng, tên lửa, thiết kế các dụng cụ y tế, các sản phẩm siêu âm…trong các năm gần đây, các nhà Design còn tham gia thúc đẩy sự tiến bộ của kỹ thuật, y học, hoặc các lĩnh vực phục hồi chức năng. Design là một quá trình được bắt đầu từ phác thảo và lập kế hoạch để thực hiện sản xuất một sản phẩm hoặc thực hiện một dịch vụ. Đó là quá trình phát triển biện chứng qua lại giữa việc xác định nội dung của sản phẩm để xây dựng một hình thức thích hợp cho nó. Nói đến điều đó không chỉ đề cập đến việc xác định các chức năng kỹ thuật, chức năng về nhân trắc (Ergonomie), mà còn hàng loạt các chức năng khác như: thẩm mỹ, tín hiệu và biểu tượng, tạo nên khả năng giao tiếp của sản phẩm. Nhiều mô hình lý thuyết tương tự đã xuất hiện, trở thành đối tượng tranh luận giữa hình dáng và công năng trong lịch sử phát triển Design. Chúng ta có thể xác định ba chức năng chính của một sản phẩm khi nói về Design: - Chức năng kỹ thuật và thực tiễn. - Chức năng thẩm mỹ. - Chức năng biểu tượng. Giới thiệu một số nhà thiết kế tạo dáng nổi tiếng và một số tác phẩm tạo dáng tiêu biểu. (Xem hình 1.1,1.2, 1.3) Hình 1.1. Ettore Sottsass và một số sản phẩm tiêu biểu do ông thiết kế
  10. Chương I: Khái quát về Design 10 3. Quá trình hình thành Design nói chung Nếu như ngày nay chúng ta coi Design là sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa thì sự hình thành của Design hiện đại cũng không tách rời những yếu tố của thời kỳ tiền công nghiệp. Bởi ngay thời kỳ đầu từ hình dáng, phong tục tập quán, cách sử dụng và hình mẫu thẩm mỹ của thời kỳ đó đã mang tính định hướng và ý nghĩa to lớn cho sự phát triển sau này. Giai đoạn quá độ chuyển từ sản xuất thủ công lên cơ khí là giai đoạn tách giữa lao động cơ bắp và lao động cơ khí - công việc đó được phân biệc bằng bản vẽ (phác thảo). Để đáp ứng cho sản xuất công nghiệp, đã có rất nhiều cặp đựng các bản vẽ thiết kế và đã có nhiều sách in các bản mẫu thiết kế để phục vụ cho các hợp đồng sản xuất. Nhiều mẫu thiết kế đã được tiêu chuẩn hóa và in ra theo đơn đặt hàng như các loại đồ gỗ đã được quảng cáo qua các tờ gấp và trên các tạp chí. Cho nên phác thảo còn có một ý nghĩa quan trọng không chỉ để phục vụ sản xuất mà còn phục vụ tiêu thụ. Với tầm quan trọng ngày
  11. Chương I: Khái quát về Design 11 càng tăng của bản vẽ thiết kế - môn vẽ kỹ thuật đã được chuyên môn hóa và trở thành bộ môn hàng đầu trong sản xuất công nghiệp. Ngoài những chuyển động trên, bên cạnh việc bổ sung các bộ môn kỹ thuật đã xuất hiện các ngành học mới về giáo dục thị hiếu. Giữa thế kỷ XIX, ở Đức hình thành các bảo tàng, các sưu tập, các trường nghề của thủ công mỹ nghệ và thủ công nghiệp bên cạnh các Viện hàn lâm nghệ thuật cổ điển. Song, nơi đi tiên phong trong quá trình công nghiệp hóa và phát triển sớm nhất trong lĩnh vực này phải kể đến nước Anh, bởi từ cuối thế kỷ XVIII nền công nghiệp đã bắt đầu có ở đó và họ đã đi trước 50 năm so với phần còn lại của châu Âu. Cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX, ở châu Âu có những chính sách kinh tế nhằm phát triển công nghiệp và thương mại, chính nhờ vậy đã tạo tiền đề cho mỹ thuật công nghiệp hình thành. Cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 là điểm xuất phát cho sự thay đổi về luận lý và kinh tế - tiến trình cách mạng và trật tự chính trị mới ở châu Âu. Sau hội nghị Viên năm 1814… đã tạo đà bãi bỏ những chính sách thuế quan, thương mại khắt khe và bộ máy hành chính quan liêu tạo thuận lợi cho sự phát triển của thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng như sản xuất công nghiệp nói chung. Ngoài những chính sách trên còn một yếu tố nữa đó là giai cấp tư sản sau khi đã thống trị, đã tạo cho nó một hình mẫu thẩm mỹ mới trong đời sống. Đạo đức, lối sống có tác động mạnh mẽ đến thị hiếu tiêu dùng, ảnh hưởng trực tiếp đến Design ngày hôm nay. Những yêu cầu quan trọng nhất của Design hiện đại như công bằng, sự thuần khiết và chuẩn xác - hình thành lúc khởi đầu bởi kỹ thuật sản xuất do tư bản sinh ra - nhưng đồng thời con người làm việc lúc đó cũng còn nặng nề về tín ngưỡng, ít ai có được sự kích thích nhờ vào trình độ kỹ thuật. 4. Quá trình hình thành ngành nghề thiết kế thời trang - Fashion design Thời trang hiện đại với tính quần chúng rất cách mạng được bắt đầu vào nửa cuối thế kỷ XIX ở Châu Âu ở Paris thủ đô nước Pháp. Có thể nói người khởi đầu ngành nghề thiết kế thời trang, khởi đầu thời kỳ thời trang hiện đại là Charles Frederick Worth (1825 - 1895) một thợ may người Anh sang sinh sống tại Paris. Ông là người đầu tiên thấy rõ một tầng lớp tư sản mới được sinh sôi nẩy nở có nhu cầu ăn mặc đẹp nhưng thiếu khả năng thẩm mỹ và kinh nghiệm may mặc, phụ thuộc vào những lời khuyên của thợ may, đây là điều kiện đặc biệt làm nảy sinh cho một nền thời trang mới. Năm 1858, Charles Frederick Worth thành lập cửa hiệu mang tên ông tại Paris đặt viên gạch đầu tiên của ngành may đo hiện đại, không còn là một hiệu may bình thường như những hiệu may từ trước đến mà hiệu may của ông trở thành Haute Couture - nhà may, nơi tạo mẫu, sản xuất, tư vấn về thời trang cho khách hàng. Worth là người đầu tiên thay đổi hình ảnh Couturier (thợ may),
  12. Chương I: Khái quát về Design 12 người chỉ biết thực hiện ý định của khách hàng thành Fashion designer (nhà tạo mẫu, người sáng tạo, thực hiện và định hướng thẩm mỹ, thời trang cho khách hàng). Xuất thân từ một gia đình nghèo khó nhưng nhờ chí có chí lớn nên ông đã thu thập được những kiến thức vô giá rất có lợi cho sự nghiệp của ông sau này. Công việc đầu tiên của Worth là phụ việc cho cửa hàng bán vải Swan và Edgar một, công việc của ông là giúp cho khách hàng tìm được loại vải theo nhu cầu của họ để họ mang đi may. Ông phải làm việc vất vả 12 giờ/ngày, nhưng những kiến thức học được là vốn quý giá sau 7 năm ông học được cách tìm hiểu, đánh giá tính chất các loại vải, những đặc tính thích hợp cho các kiểu mẫu khác nhau, thấu hiểu mối quan tâm về mốt của các tầng lớp thượng lưu bấy giờ. Ông còn tìm cách đọc sách báo, đi xem các cuộc triển lãm, trưng bày nghệ thuật để bổ sung cho kiến thức của mình. Đầy tham vọng và can đảm, ông bỏ Swan và Edgar để chuyển sang làm cho Lewis và Allenby, một trong những cửa hàng vải lụa lớn nhất London. Năm 1845 tròn 20 tuổi, ông bỏ Anh sang Paris với rất ít tiền trong túi và vốn tiếng Pháp bán tạp phẩm. Năm 1847, ông tìm được chổ làm tại Gagelin và Opigez, một trong những cửa hàng vải lụa có tiếng lớn nhất nước Pháp với kinh nghiệm sau 12 năm bán hàng và sau vài năm ông trở thành thợ may. Với tài năng sáng tạo, cải tiến cách may đo thời đó ông bắt đầu bằng cách tìm những chất liệu vải thích hợp, ông dùng các kỹ thuật may đo của Anh để sáng tạo ra sự hoà hợp giữa các đường cắt và chất vải, ông luôn đòi hỏi sự vừa vặn và chuẩn mực cao. Một trong những tiêu chuẩn cơ bản của thời trang hiện đại, nhờ vậy ông được tặng các giải thưởng ở Lodon và Paris. Năm 1858, đó là thời kỳ đế chế Napoleon thứ III, cùng với sự giúp đỡ của vợ, Worth mở ra nhà may mang tên ông tại số 7 đường Rue de la Paris. Tầng lớp tư sản mới ở Paris là một đối tượng lí tưởng cho những chuyên gia có tài như ông, ông đã may áo cho công chúa Metternich - vợ của đại sứ Áo - bộ váy dạ hội mặc đến dự hội tại cung đình. Tại đây, Worth đã được giới thiệu cho bà hoàng Eugénie. Từ đó cửa hàng của ông trở thành nhà may đo cho hoàng cung. Chỉ sau một thời gian ngắn nhà may của ông trở thành “nhà độc tài” của thời trang thời bấy giờ. Worth là người đầu tiên thoát ly hoàn toàn khỏi vai trò thuần tuý thợ may. Trước ông, khách hàng đặt ra những yêu cầu và thuê thợ may may cho họ, Worth là người đầu tiên dám áp đặt quan điểm may mặc của ông lên khách hàng. ( Xem hình 1.4) Đây là lần đầu tiên xã hội có được khái niệm về Brand name (hàng xịn) loại quần áo làm tại một nhà may nhất định với kiểu mẫu và mác áo riêng. Để gây tác động mạnh hơn đến khách hàng, Worth còn thuê những cô gái trẻ, người mẫu mặc trước và trình diễn
  13. Chương I: Khái quát về Design 13 cho khách xem. Những người mẫu này thường được chọn trông giống với khách hàng để họ dể hình dung. Đó chính là nền móng của những cuộc trình diễn thời trang sau này. Cùng vời sự phát triển của nhà may, Worth cũng dần dần trở thành một trong những người lãnh đạo thời trang thời bấy giờ, đoán trước và sáng tạo ra mốt cho từng thời kỳ, Worth là cha đẻ của thời trang hiện đại. Worth là người biến đổi hoàn toàn mối quan hệ giữa khách hàng và Couturier. Bắt đầu từ ông, Couturier không còn thuần tuý là thợ may, người chỉ biết thực hiện ý định thời trang, mà họ đã trở thành những nhà tạo mẫu - những Fashion designers - tên của Worth đã trở thành biểu tượng của Haute Couture. Thành công của ông đã làm các Couturier thời bấy giờ đều theo bước chân ông, những nhà may khác thành lập sau ông như Jeans Paquin, Paul Poiret Jaques Douhacest,…. đều có cùng hoạt động và mang ý nghĩa như nhà may của ông. Cũng có thể nói, từ sự đột phá của Charles Frederick Worth đã sinh ra ngành nghề thiết kế thời trang và nó được phát triển toàn châu Âu và cả châu Mỹ. Qua thời gian, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngành nghề thiết kế thời trang cũng đã phát triển và cho ra đời những tuyệt tác thời trang gắn liền với tên tuổi với các nhà thiết kế như Coco Chanel, Christan Dior, Yves Saint Lauren, Mary Quant, Valentino, Giorgio Armani, Calvin Klein, Rauph Laurent, Lagerfeld,… ( Xem hình 1.5, 1.6, 1.7, 1.8, 1.9) Hình 1.7. Chân dung Yves Saint Lauren và một số trang phục tiêu biểu do ông thiết kế Hình 1.8. Chân dung Mary Quant và một số trang phục tiêu biểu do bà thiết kế
  14. Chương I: Khái quát về Design 14 Hình 1.9. Chân dung Jeanne-Paquin và một số trang phục tiêu biểu do bà thiết kế II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIẾN DESIGN GIAI ĐOẠN 1950-1990 Khi nói đến lịch sử Design ta không chỉ đề cập đến sự phát triển về kỹ thuật, kinh tế, thẩm mỹ và xã hội mà còn phải đề cập đến các yếu tố khác nữa như tâm lý, văn hóa và môi trường. Lịch sử Design không chỉ là lịch sử của đồ vật và hình dáng của chúng, lịch sử Design là lịch sử của các hình thức sống, là mối quan tâm và phong cách ứng xử trong quan hệ giữa con người và đồ vật được phản ánh phần lớn trong lịch sử văn hóa và nền văn minh của thế kỷ XX. Năm 1995, nhà nghiên cứu Kuethe Thun đã nghiên cứu và diễn tả bằng mô hình sự phát triển Design trong giai đoạn 1950 -1990 như sau:
  15. Chương I: Khái quát về Design 15 Xã hội phát Xã hội ấm no Xã hộ dư thừa triển cao Thẩm mỹ Tín hiệu học Giá trị sử dụng- công năng T.niên 60 T.niên 70 T.niên 80 Xã hội dư Xã hội bắt đầu phát triển Xu hướng phát thừa T.niên 50 triển và các hình T.niên 90 Hình thức chủ thức xã hội Tự điều chỉnh nghĩa Styling Design cảm ứng 1. Giai đoạn 1950 Năm 1947 Liên đoàn thủ công Đức được tái lập sau chiến tranh thế giới lần 2, năm 1951 tại thành phố Darmstadt thành lập Vụ tạo dáng công nghiệp do Bộ kinh tế liên bang Đức quản lý, đây cũng là nơi đề xướng và đặt ra các chính sách khuyến khích và phát triển tạo dáng công nghiệp. Những cơ quan chức năng này ngay cả sau năm 1945 vẫn giữ vững quan điểm ủng hộ chủ nghĩa công năng, không chấp nhận các khuynh hướng tạo dáng khác như chủ nghĩa lịch sử hoặc các phong cách có hình dáng hữu cơ.
  16. Chương I: Khái quát về Design 16 Khái niệm cái tốt là tiêu chuẩn thẩm mỹ của sự đơn giản và hợp lý, không có trang trí thừa. Quan niệm này đã có ngay từ khi mới thành lập Liên đoàn thủ công Đức. Năm 1949 khái niệm “Hình dáng tốt” đã trở thành tên gọi của một triển lãm do Mác Bill tổ chức ở Basel và Ulm. Năm 1957 Mác Bill công bố cuốn sách của mình lấy tiêu đề như vậy và gây ảnh hưởng rộng rãi trong nhân dân. “Hình dáng tốt” trở thành biểu tượng không chỉ có giá trị thẩm mỹ, mà còn có giá trị đạo đức. Khái niệm đó có sức mạnh vững vàng trong nền Design Đức đến những năm 70. Hình dáng tốt - có nghĩa là sự đơn giản, sự chuẩn xác, là bền lâu và là một hình dáng có tuổi thọ cao. (Xem hình 1.10) Hình 1.10. Các sản phẩm tiêu dùng giai đoạn 1950 2. Giai đoạn 1960 Nếu ở thập niên 50 là những năm biến động thì đến thập niên 60 các nước có nền công nghiệp đã đạt được các thành tựu kinh tế đến đỉnh cao - mà ta gọi là kỳ quan kinh tế. Đời sống kinh tế của đại đa số nhân dân được bảo đảm trong cuộc khôi phục - kỹ thuật phát triển với một tốc độ chưa từng có, cuối thập niên này là sự kiện con người chinh phục mặt trăng (Năm 1969 Edwin Aldrin và Neil Armstrong là người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng). Kỹ thuật và mức sống ổn định đã tác động mạnh vào Design và thói quen
  17. Chương I: Khái quát về Design 17 tiêu dùng của người dân ở châu Âu và ở Mỹ đã thành thông lệ. Hàng hóa tràn ngập, hầu như gia đình nào cũng có vô tuyến truyền hình, loa stereo… nhu cầu mỗi gia đình có ô tô riêng và căn hộ riêng tăng vọt. Nội dung của Design không dựa vào cốt lõi của nghệ thuật để định hướng mà lúc này dựa vào kỹ thuật, khoa học và phương pháp sản xuất hiện đại để phát triển. Sự tiến bộ vượt bậc của kỹ thuật trong giao thông, trong khoa học chinh phục vũ trụ, trong thông tin và truyền thông cũng như sự khám phá ra các chất liệu mới như chất dẻo… đã đánh thức các nhà tạo dáng công nghiệp dám có những giấc mơ xa vời đến một tương lai xây dựng các ngôi nhà ở không tưởng và mạnh dạng tạo ra các sản phẩm mới với muôn hình vạn vẻ và màu sắc bất ngờ. Cuối thập kỷ này, tại châu Âu diễn ra các cuộc đấu tranh chống lại nếp sống tiêu thụ của một xã hội tư sản no đủ, buộc trong thiết kế phải đổi mới, phải phá vỡ những định kiến cứng nhắc. Nguyên lý trong việc hình thành phong cách của Design Đức những năm 60 theo mô hình Ulm là: chủ nghĩa công năng với hình dáng tốt. Nguyên lý này đã được các cơ quan, các viện nghiên cứu, các trung tâm thiết kế và hội đồng mỹ thuật công nghiệp khác nhau coi là chuẩn mực và ứng dụng cho một cách giáo điều. Các giảng viên của trường đại học tạo dáng công nghiệp Ulm làm việc tại các hãng như Braun, Vitosoe hay Rosenthal đã tham gia thiết kế các sản phẩm và tạo uy tín cho tên gọi “Hình dáng tốt” hay “Design German”- yếu tố công năng và công nghệ được đề cao. Khi nói đến danh hiệu Design người ta nghĩ ngay đến đó phải là nhà kỹ thuật, người kỹ sư chứ không phải là họa sĩ thiết kế. Triết lý của “Hình dáng tốt” là hữu ích, hình dáng đơn giản, giá trị sử dụng cao, tuổi thọ cao, bền lâu, hợp lý, dễ nhìn, xử lý bề mặt tốt, sử dụng vật tư hợp lý, chi tiết tinh xảo, công nghệ và nhân trắc thích hợp, không gây hại đến môi trường. Tại Ý xuất hiện một nghề có tên gọi Consultant Designers: nghề tư vấn về tạo dáng có thể cùng một lúc làm việc cho nhiều hãng khác nhau. Ý nghĩa và mục đích trong chiến lược kinh doanh của hãng tại Ý bao hàm cả tầng cao văn hóa. Một trong các thí dụ điển hình nhất là chính sách của hãng Olivetti đã sử dụng các nhà thiết kế và kiến trúc sư trẻ tuổi như E.Sottass, M.Zanuso hoặc M.Bellini và đã cộng tác với họ. (Xem hình 1.11)
  18. Chương I: Khái quát về Design 18 Design ở đây không còn là việc riêng của các chuyên gia tạo dáng và kỹ thuật, mà còn là sự nghiệp của kiến trúc sư,1.11. Hình triếtCác giasảnvàphẩm nhà tiêu văndùng nữa.giai NướcđoạnÝ1960 đã sinh ra các nhà lý luận về tạo dáng công nghiệp vĩ đại như: G.Dorfles.G.C.Argan, V.Gregotti và sau nữa phải kể đến U.Eco. Đội ngũ này đã tạo nên không khí nghệ thuật trên các tạp chí Design và kiến trúc rộng rãi trong công luận, điều mà tại Đức mãi đến thập niên 80 mới có được. 3. Giai đoạn 1970 Những năm 60 là thời điểm đạt tới đỉnh cao của một xã hội tiêu dùng và của chủ nghĩa công năng, song chuyển sang nửa sau của thập niên này người ta đã thấy xuất hiện dấu hiệu của khủng hoảng. Mọi sự gia tăng, mọi quá trình phát triển của bất kỳ một xu hướng nào đều có đỉnh điểm của nó và mở đầu những năm 70 (1973) thế giới được chứng kiến cú sốc về khủng hoảng dầu lửa. Sự no nê sung sướng, do có nhiều hàng hóa sản xuất hàng loạt và kết quả của các sản phẩm theo phong cách thực dụng của chủ nghĩa công năng trong thiết kế hiện đại ngày càng bị phê phán kịch liệt và vị trí của Design trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trở nên nghi ngại. Nhiều nhà tạo mẫu không muốn mình trở thành kẻ “Tiếp tay cho nền công nghiệp”. Họ làm việc tự do và đi làm thể nghiệm với mong muốn sẽ là người tạo ra một thự tế mới được xã hội chấp nhận. Những sự kiện chính trị sôi động tại các thành phố lớn của châu Âu, cuộc chiến tranh Việt Nam,… cũng làm cho Design thay đổi. Ý nghĩa của một sản phẩm được thiết kế không chỉ mang biểu tượng của hình thức mà còn mang ý nghĩa xã hội. Thực tế đến lúc này lý thuyết của chủ nghĩa công năng không còn sức thuyết phục nữa. Người ta đi tìm lối thoát khỏi sự bế tắc này. Những thay đổi lớn trong đời sống văn hóa của các đô thị, đặt biệt tầng lớp thanh niên bị cuốn hút bởi các phong trào âm nhạc, Pop-art và phim ảnh mạnh mẽ. Khởi đầu từ nước Anh, rồi Ý và sang lan Đức hình thành các phong trào cực đoan chống lại chủ nghĩa công năng trong kiến trúc và tạo dáng công nghiệp, chống lại quan niệm sản xuất hàng loạt của các Viện tạo dáng công nghiệp. Tại Mỹ xuất hiện đầu tiên các bài báo phê phán phái hiện đại trên các mặt văn hóa, tâm lý và biểu tượng trong kiến trúc, coi kiến trúc là trung tâm của vấn đề cần lên án và cũng từ đây bắt đầu sự ra đời của lý luận hậu hiện đại. Ở Đức, nơi chủ nghĩa công năng được ứng dụng một cách giáo điều trong kiến trúc và Design, đặt biệt sau chiến tranh lại được ứng dụng cứng nhắc cho các khu dân cư mới xây dựng lại mà ngày nay chúng ta phải gánh lấy hậu quả của các qui trình hoạch tổng thể của thập niên 60. Nhiều vấn đề trong lý luận của chủ nghĩa công năng được xét lại, ngay
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2