146
Chương 6
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TRÊN TH TRƯỜNG VỐN
(Investment Activities in Capital Markets)
6.1.NHÀ ĐẦU BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TRÊN THỊ
TRƯỜNG VỐN
MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG:
Hiểu được khái niệm, phân loại cách thức bảo vệ nhà đầu
trên thị trường
Nắm được khái niệm giao dịch nội gián cách kiểm soát
giao dịch nội gián trên thị trường vốn
Hiểu được khái niệm, quyền nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt
động, cấu tổ chức của Sở giao dịch chứng khoán
Hiểu được cách thức giao dịch mua bán chứng khoán trên thị
trường tập trung
Nắm được một số giao dịch đặc biệt trên thị trường vốn
Nắm được nguyên tắc hoạt động của hệ thống đăng ký, lưu
ký, trừ thanh toán chứng khoán
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
6.1. NHÀ ĐẦU BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TRÊN THỊ
TRƯỜNG VỐN
6.2. GIAO DỊCH TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
6.3. GIAO DỊCH MUA BÁN CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ
TRƯỜNG TẬP TRUNG
6.4. MỘT SỐ GIAO DỊCH ĐẶC BIỆT
6.5. HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ, LƯU KÝ, TRỪ THANH
TOÁN CHỨNG KHOÁN
147
6.1.1. Khái niệm:
Nhà đầu trên thị trường vốn các tổ chức, các nhân tham gia
đầu vào các công cụ của thị trường vốn nhằm mục đích tìm kiếm lợi
nhuận, gia tăng giá trị đầu tư. Thông thường nhà đầu trên thị trường
vốn phải chấp nhận đánh đổi giữa mức độ rủi ro của tài sản mình đầu
mức thu nhập kỳ vọng mình thể nhận được.
Để đánh giá kết quả hiệu quả của nhà đầu trên thị trường vốn
thông thường người ta sẽ nhìn vào các chỉ tiêu: quy vốn đầu tư thực
hiện, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư, tốc độ gia tăng giá trị danh mục
đầu tư, hệ số alpha, chỉ tiêu Treynor, chỉ tiêu Sharpe…
Mặc cách tính cụ thể th không giống nhau nhưng các chỉ tiêu
này thông thường sẽ đánh g mức độ đánh đổi giữa rủi ro với mức thu
nhập kỳ vọng danh mục đầu thể mang lại cho nhà đầu tư.
6.1.2. Phân loại nhà đầu tư:
Tùy theo từng tiêu chí thể chia nhà đầu thành các nhóm khác
nhau.
Theo tính chất của nhà đầu thể chia thành nhà đầu nhân
nhà đầu tổ chức. Theo xuất xứ của nhà đầu thể chia thành
nhà đầu trong nước nhà đầu nước ngoài. Theo tính chuyên nghiệp
thể chia thành nhà đầu nghiệp nhà đầu chuyên nghiệp.
Theo đối tượng đầu có thể chia thành nhà đầu cổ phiếu, nhà đầu tư
trái phiếu, nhà đầu kỳ hạn,
6.1.3. Bảo vệ nhà đầu trên thị trường vốn:
Vị trí quan trọng của nhà đầu trên thị trường được thừa nhận rộng
rãi tại bất cứ thị trường vốn nào bởi đây chủ thể quyết định cả phía
cung phía cầu thị trường. vậy, nhu cầu bảo vệ nhà đầu trên thị
trường vốn lại trở nên cấp thiết, đặc biệt một thị trường mới nổi, khi
chứng khoán còn khá mới mẻ, kiến thức nhà đầu phần lớn còn hạn chế
hệ thống pháp đang hoàn thiện như Việt Nam.
Bảo vệ nhà đầu bảo vệ thị trường. Đó yêu cầu mang tính
nguyên tắc, thể được đảm bảo trên thuyết hoặc trên thực tế. Đó cũng
yêu cầu đặt ra đối với quan quản phát triển thị trường. Bảo
148
đảm được công bằng cho nhà đầu tư, tạo được sự tin cậy họ sở để
tạo dựng một môi trường đầu minh bạch phát triển bền vững.
Để thực hiện mục tiêu này, trước hết quan quản cần phải làm
tốt vai trò đầu mối bảo vệ của mình, tạo được một địa chỉ của niềm tin
thực sự. Tại Mỹ, một quan độc lập chuyên biệt với kinh phí hoạt
động chính từ nguồn xử phạt các hành vi vi phạm quyền lợi của nhà
đầu để bảo vệ nhà đầu tư; quan điểm của nhà điều hành luôn được
thống nhất rằng bảo vệ nhà đầu chính bảo vệ thị trường từ gốc.
quan quản thể bảo vệ thị trường, nhà đầu bằng các công
cụ chính sách, bằng các điều kiện hoạt động hay các chế tài xử phạt. Tuy
nhiên, một biện pháp khác rất quan trọng đó biện pháp giáo dục. Tăng
cường giáo dục nhà đầu chính biện pháp gián tiếp bảo vệ họ bảo
vệ thị trường. Nhà đầu tiềm lực tài chính nhưng thể chưa đủ kiến
thức để tự bảo vệ mình. Nhiều khi đơn giản chỉ khả năng lựa chọn,
tiếp cận những trung gian, những dịch vụ chất lượng của thị trường; khả
năng tiếp cận thông tin, nằm hiểu các chủ trương chính sách hay khả
năng lường tránh được những thủ đoạn, mánh khóe trên thị trường.
Ngay tại Mỹ, nơi thị trường chứng khoán phát triển hàng đầu thế
giới, một khảo sát của NASD cũng cho thấy chỉ 35% nhà đầu được
hỏi trả lời chính xác 7 trong số 10 câu hỏi kiến thức bản đưa ra
tới 97% cho rằng cần phải nâng cao kiến thức của mình. khi nhà đầu
tiềm lực tài chính, kiến thức khả năng nhạy bén với những
thay đổi chính sách, với biến động của thị trường thì vấn đề đạo đức của
họ lại càng trở nên quan trọng. Họ khả ng tác động tới thị trường, cụ
thể hơn các giao dịch nếu mục đích xấu thì ảnh hưởng sẽ rất lớn.
6.1.4. Giao dịch nội gián kiểm soát giao dịch nội gián trên thị
trường vốn.
6.1.4.1. Giao dịch nội gián (insider trading) các giao dịch chứng
khoán như cổ phiếu, trái phiếu của người khả năng tiếp cận những
thông tin đặc biệt mà các nhà đầu tư khác không bởi vậy được lợi
về tài chính từ hiểu biết này.
Giao dịch nội gián hành vi của nhà đầu nhân hoặc nhà đầu
tổ chức được thông tin nội bộ giá trị sử dụng thông tin đó
trước khi thông tin được công bố công khai nhằm mua - bán cho chính
149
mình hoặc cung cấp cho bên thứ ba để hưởng lợi. Cụ thể về các khoản
giao dịch như sử dụng thông tin nội bộ để thực hiện mua - bán chứng
khoán của công ty đại chúng, quỹ đại chúng cho chính mình hoặc bên thứ
ba; hoặc tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc vấn cho bên thứ ba mua
- bán chứng khoán trên sở thông tin nội bộ. Chẳng hạn, một người
được công ty bảo lãnh thuê vào làm việc hàng ngày nhiệm vụ
nghiên cứu chi tiết một trường hợp mua thôn tính khách hàng của
thể thực hiện. Nếu chính anh ta (hay thông qua người khác) mua c
phiếu của công ty khả ng bị thôn tính trước khi cuộc mua thôn tính
được công bố cho công chúng biết, thì người ta gọi đó là sự mua bán hay
giao dịch nội gián.
6.1.4.2. Kiểm soát giao dịch nội gián
Nếu các giao dịch mua bán trên thị trường vốn tuân thủ nguyên tắc
công bằng, bình đẳng với mọi khách hàng trong giao dịch, trong thông tin
vấn, thì giao dịch nội gián, giao dịch không công bằng sẽ được hạn
chế rất nhiều.
Công ty đại chúng, bao gồm cả công ty niêm yết chưa niêm yết,
sử dụng vốn của công chúng đầu để kinh doanh, do đó công ty phải
công khai, minh bạch hoạt động trước công chúng - đó triết của vấn
đề thông tin. vậy, công khai, minh bạch thông tin mối quan hệ giữa
công ty đại chúng với công chúng đầu tư.
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) Sở GDCK là trung gian
quản lý, giám sát, để đảm bảo thông tin từ công ty tới công chúng được
tốt nhất. vậy, nội dung thông tin phải thống nhất cho tất c các công ty,
những Nhà đầu cần.
Thông tin rất cần cập nhật, hàng tháng tốt nhất. Phương thức
công bố thông tin nên thống nhất qua Internet. Công ty thiết lập website
của mình theo mẫu thống nhất. Tất cả thông tin được công bố qua website,
theo thời hạn quy định của UBCK. Nhà đầu các quan quản
khai thác thông tin qua website đó.
Tổ chức niêm yết những người cung cấp chứng khoán thông
tin kinh tế cho thị trường. Nếu doanh nghiệp niêm yết sử dụng thông tin
như những "món quà" cho một hoặc một nhóm nhỏ Nhà đầu tư, thì thị
150
trường sẽ giao dịch nội gián.
6.2. GIAO DỊCH TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
(STOCK EXCHANGE):
6.2.1.Khái niệm:
Sở Giao dịch Chứng khoán một thị trường giao dịch chứng khoán
tổ chức được thực hiện tại một địa điểm cụ thể thông qua một hệ thống
giao dịch nhằm thực hiện việc mua bán chứng khoán theo các nguyên tắc
chuẩn mực nhất định.
Sở giao dịch chứng khoán một pháp nhân được thành lập hoạt
động theo quy định của pháp luật, chức năng tổ chức giám t hoạt
động giao dịch của các chứng khoán niêm yết. Thông thường, trên thế
giới Sở giao dịch chứng khoán các hình thức sở hữu chủ yếu như sau:
sở hữu thành viên, hình thức công ty cổ phần sở hữu nhà nước.
Hinh thức sở hữu thành viên: với hình thức sở hữu này, Sở giao
dịch chứng khoán do các thành viên các công ty chứng khoán sở hữu
được tổ chức dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, hội đồng quản
trị do các thành viên bầu ra theo từng nhiệm kỳ. hình này ưu điểm
thành viên vừa người tham gia giao dịch đồng thời cũng vừa người
chủ sở hữu của Sở giao dịch nên chi phí thấp dễ ứng phó với tình hình
thay đổi trên thị trường. Nhiều sở giao dịch như S giao dịch Chứng
khoán NewYork, Sở giao dịch chứng khoán Tokyo hay Sở giao dịch
chứng khoán Thái Lan được tổ chức theo hình thức sở hữu thành viên.
Hinh thức công ty cổ phần: theo hình thức sở hữu này thì Sở giao
dịch chứng khoán được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần do các công ty
chứng khoán thành viên, các ngân hàng thương mại, c công ty tài chính,
các tổ chức bảo hiểm tham gia sở hữu với cách cổ đông. Tổ chức, hoạt
động của Sở giao dịch chứng khoán theo luật doanh nghiệp mục tiêu
lợi nhuận. hình này được thực hiện tại Đức, Anh, Hồng Kông.
Hinh thức sở hữu nhà nươc: Thực chất hình thức sở hữu này
chính phủ hoặc một quan của chính phủ đứng ra thành lập, quản
sở hữu một phần hay toàn bộ Sở giao dịch chứng khoán. Ưu điểm của
hình thức sở hữu này hoạt động không mực tiêu lợi nhuận nên bảo
vệ được quyền lợi của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp