Hệ thống sản xuất tức thời JIT
HỆ THỐNG SẢN XUẤT TỨC THỜI Just-In-Time = JIT
Chiến lược Just-In-Time (JIT) được gói gọn trong một câu: đúng sản
phẩm với đúng số lượng tại đúng nơi vào đúng thời điểm”. Trong sản xuất hay
dịch vụ, mỗi công đoạn của quy trình sản xuất ra một số lượng đúng bằng số
lượng công đoạn sản xuất tiếp theo cần tới. Các quy trình không tạo ra giá trị
gia tăng phải bỏ. Điều này cũng đúng với giai đoạn cuối cùng của quy trình sản
xuất, tức là hthống chỉ sản xuất ra cái mà khách hàng muốn.
Nói cách khác, JIT h thống sản xuất trong đó các luồng nguyên vật
liệu, hàng hoá và sản phm truyền vận trong qtrình sản xuất và phân phối được
lập kế hoạch chi tiết từng bước sao cho quy trình tiếp theo thể thực hiện ngay
khi quy trình hiện thời chấm dứt. Qua đó, không hạng mục nào rơi vào tình
trạng để không, chờ xử lý, không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi để có đầu
vào vận hành. Các dây truyền lắp ráp của hãng Ford đã áp dụng JIT từ những năm
30. Cần nói thêm rằng Ford người đi đầu trong việc áp dựng các dây truyền sản
xuất. Tuy nhiên, phải đến những m 1970, quy trình sản xuất theo hình JIT
mới được hoàn thin và được Toyota Motors áp dụng. Trong công cuộc công
nghiệp hoá sau Đại chiến thế giới thứ 2, nước Nhật thực hiện chiến lược nhập
khẩu công nghệ nhằm tránh gánh nặng chi phí cho nghiên cứu và phát triển (R&D)
và tập trung vào việc cải thiện quy trình sản xuất (kaizen). Mục tiêu của chiến lược
này nâng cao chất lượng độ tin cậy của sản phẩm. Eiji Toyoda và Taiichi
Ohno của Toyota Motor đã phát triển một khái niệm hệ thống sản xuất mới, mà
ngày nay được gọi là Hthống SX Toyota. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nước
Nhật có được ngày hôm nay xuất phát từ nền tảng sản xuất dựa trên hthống tuyệt
với đó. Để thử cùng tìm hiểu JIT trong hệ thống sản xuất Toyota, trước hết cần
phân biệt được hai khái niệm sản xuất truyền thống là tinh xảo (craft) đại trà
(mass). Sản xuất tinh xảo thường sử dụng c công nhân cực kỳ lành nghcùng
với những công cụ đơn giản nhưng linh hoạt (đặc biệt trong các ngành nghthủ
công) đtạo ra từng sản phẩm theo ý khách hàng. Chất lượng của hình thức sản
xuất này lkhỏi cần phải bàn, tuy nhiên g thành dẫn tới giá bán rất cao là yếu
tlàm thu hẹp thị trường. Cũng vì thế mà sản xuất đại trà đã ra đời, đánh dấu một
bước phát triển trong sản xuất đầu thế k20. Sản xuất đại trà sdụng ng nhân
tay nghbậc trung vận hành các máy ng nghiệp đơn năng, tạo ra các sản
phẩm được tiêu chuẩn hoá với số lượng rất lớn. Vì giá trmáy móc cũng như chi
phí tái thiết kế rất đắt tiền nên nhà sản xuất đại trà luôn cgắng giữ các tiêu chuẩn
thiết kế sản phẩm càng lâu càng tốt. Kết quả là gthành kéo theo giá bán gim.
Tuy nhiên tác phong công nghip làm cho công nhân nm chán mất động lực
làm việc. Toyota Motor đã kết hợp 2 phương thức sản xuất tinh xảo và đại trà, loại
bcác yếu điểm về giá thành schặt chẽ công nghiệp, cho ra đời một phương
thức sản xuất mới với đội ncông nhân tay nghề cao được trang bị hệ thống
máy móc linh hoạt, đa năng, khả năng sản xuất với nhiều mức công suất.
Phương thức này được đánh giá là sdụng ít nhân lực hơn, ít diện tích n, tạo ra
ít phế phẩm hơn, sản xuất được nhiều loại sản phẩm hơn hình thức sản xuất đại
trà. Nền tảng của hệ thống sản xuất Toyota dựa trên khả năng duy trì liên tục dòng
sản phẩm trong các nhà máy nhm thích ứng linh hoạt với các thay đổi của th
trường, chính là khái nim JIT sau này. Dư thừa tồn kho và lao động được hạn chế
tối đa, qua đó tăng năng suất và giảm chi phí. Bên cạnh đó, mặc dù khả năng giảm
thiểu chi phí yêu cầu hàng đầu của hệ thống, Toyota đã đưa ra 3 mục tiêu ph
nhằm đạt được mục tiêu chính yếu đó:- Kim soát chất lượng: giúp cho hệ thống
thích ứng hàng tháng hay thậm chí hàng ngày với sự thay đổi của thị trường về số
lượng độ đa dạng.- Bảo đảm chất lượng: đảm bảo mỗi quy trình chtạo ra các
đơn vsản phẩm tốt cho các quy trình tiếp theo.- Tôn trọng con người: vì nguồn
nhân lực phải chịu nhiều sức ép dưới nỗ lực giảm thiểu chi phí. Trong quy trình
lắp ráp ô tô, các linh kiện phải được các quy trình khác cung cấp đúng lúc với
đúng slượng cần thiết. Tđó, tồn kho sẽ giảm đáng kể kéo theo việc giảm diện
tích kho hàng. Kết quả là chi phí cho kho bãi được triệt tiêu, tăng tỷ suất hoàn vốn.
Tuy nhiên, trong một ngành công nghiệp phc tạp như ngành ô tô, việc áp dụng
JIT vào tất cả các quy trình điều rất kho khăn. Toyota Motor đã thực hiện theo
hướng ngược lại, tức là công nhân của quy trình sau stự động lấy các linh kiện
cần thiết với số lượng cần thiết tại từng quy trình trước đó. Va như vậy, những gì
mà công nhân quy trình trước phải làm là sản xuất cho đủ số linh kiện đã được lấy
đi. Kanban một hệ thống thông tin nhằm kiểm soát số lượng linh kiện hay sản
phẩm trong từng quy trình sản xuất. Mang nghĩa một nhãn hay một bảng hiệu, mỗi
kanban được gắn với mỗi hộp linh kiện qua từng công đoạn lắp ráp. Mỗi công
nhân của công đoạn này nhận linh kiện từ công đoạn trước đó phải để lại 1
kamban đánh dấu việc chuyển giao số lượng linh kiện cụ thể. Sau khi được điền
đầy đủ từ tất cả các ng đoạn trong dây truyền sản xuất, một kamban tương tự sẽ
được gửi ngược lại vừa để lưu bản ghi công việc hoàn tất, vừa để yêu cầu linh kiện
mới. Kanban qua đó đã kết hợp luồng đi của linh kiện với cấu thành của dây
truyền lắp ráp, giảm thiểu độ dài quy trình. Kanban được áp dụng với 2 hình thức:-
Thrút (withdrawal kanban): chi tiết về chủng loại và slượng sản phẩm mà quy
trình sau s rút từ quy trình trước.- Th đặt (production-ordering): chi tiết về
chủng loại và slượng sản phẩm mà quy trình sau phải sản xuất. Sau Nhật, JIT
được 2 chuyên gia TQM (Total Quality Manufacturing) la Deming Juran phát
triển Bắc Mỹ. Từ đó mô hình JIT lan rộng trên khắp thế giới. JIT là một triết
sản xuất với mục tiêu triệt tiêu tất cả các nguồn gây hao phí, bao gồm cả tồn kho
không cn thiết và phế liệu sản xuất. m lại, JIT tạo ra các lợi điểm sau:- Gim
các cấp độ tồn kho bán thành phm, thành phẩm và hàng hoá.- Gim không gian
sdụng.- Tăng chất lượng sản phẩm, giảm phế liệu và sản phẩm lỗi.- Gim tổng
thời gian sản xuất.- Linh hoạt hơn trong việc thay đổi phức hệ sản xuất.- Tận dụng
stham gia của nhân công trong giải quyết vấn đề.- Áp lực về quan hệ với khách
hàng.- Tăng năng suất và s dụng thiết bị.- Giảm nhu cầu v lao động gián
tiếp. Cùng với sphát triển như bão của ng nghệ truyền thông thông tin, JIT
đã tr thành khả năng cạnh tranh phải có đối với bất cứ doanh nghiệp nào.