Chương i : những lý luận chung về marketing.
I. Sra đời và phát triển của Marketing:
Đặc trưng lớn nhất của hàng hoá được sản xuất ra để bán. Do đó bán ng
mt trong những khâu quan trọng nhất của tái sản xuất hàng hoá và cũng là khâu quan
trng nhất của kinh doanh. Bán hàng một trong những khâu cui cùng ca kinh
doanh. So với các khâu khác trong quá trình tái sản xuất, khâu bán hàng có mt s đặc
trưng như: th hiện tập trung mâu thuẫn của người mua và người bán, thế mạnh của
doanh nghip của sản phm được thể hiện rõ nhất. Đồng thời các mặt yếu cũng
được tập trung ở đây: cạnh tranh quan hệ sản xuất và tiêu dùng quan htiền hàng cũng
qua khâu nàygặp nhau... sản xuất hàng hoá càng phát triển, nhu cầu buôn bán càng
lớn, các đặc trưng và các mâu thun này càng được thể hiện rõ nét hơn. Các mâu thuẫn
đó tồn tại khách quan trong quá trình kinh doanh gắn liền với khâu bán hàng.
những doanh nghiệp nhỏ hay các doanh nghiệp lớn đã hoạt động trên thương trường,
hmuốn tồn tại thì không thlẩn tránh được những mâu thun đó. Giải quyết các mâu
thun này được thực hin khâu bán hàng. Tu theo những điều kiện cụ thcủa s
phát triển hàng hoá và của các mâu thun gắn với mà các nhà kinh doanh phải tìm
ra các giải pháp khác nhau đgiải quyết các u thun trên. Đó chính cơ sở, là
nguồn gốc của sự ra đi Marketing. Sẽ không là khoa học nếu cho rằng sự ra đi của
Marketing do yêu cầu giải quyết mâu thuẫn khủng hoảng thừa của TBCN. Đây ch
yếu tố bức bách buộc các nhà khoa hc cũng như các nhà kinh doanh phải phát triển
lí luận Marketing cho phù hợp với những điu kiện mới.
Thuật ngMarketing nguồn gốc từ tiếng Anh (Marketing là th trường, là cái chợ)
được quốc tế hoá sử dụng trực tiếp mà không dch ngữ. Từ những năm đu thế kỉ 20,
các nhà kinh doanh nội ngoại thương của Nhật, Anh, M, Trung Quốc...đã có những
chtrương khẩu hiệu: hãy bánng mà khách cần, kch hàng không mua hãy vui v
nhận lại...Với các chủ trương này, các nhà kinh doanh thương nghiệp đã bán hàng
nhanh hơn, khối lượng bán lớn hơn lợi nhun thu cũng nhiều hơn. Các nhà kinh
doanh nhận thức được là không thtrường, không người tiêu ththì không th
tiến hành sản xuất và không thlợi nhuận, không thể có s giàu sang. Giai cấp
sản coi trọng thtrường, chú trọng nhiu n đến nời tiêu dùng. Nhờ nhận thức này
thì Markering bao hàm mt ý nghĩa rộng lớn và m rộng lĩnh vực, phạm vi, đối tượng
được ứng dụng rộng rãi hơn. Do đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và ca
thị tờng thì các nhà kinh doanh không thể chỉ dừng lại hoạt động “ làm thtrường
h phải liên kết, phân công nhau cả trong khâu đưa hàng ra thtrường (t chức
kênh lưu thông). Với các biện pháp này tcác nhà kinh doanh đã tạo ra được sthống
nhất giữa cung ứng hàng hra th trường và bán ng. Do vậy, hàng hoá được bán
nhiun, lợi nhuận thu được ngày càng lớn.
Trong suốt một thời kì i, tđu thế kỷ 20 đến trước chiến tranh thế giới lần thứ II,
Marketing chgiới hạn trong lĩnh vực thương mại, tức là đã có hàng hoá tìm cách
đem đi bán đthu lợi nhuận. giai đoạn này người ta gi là Marketing truyền thống.
Tsau chiến tranh thế giới lần thứ hai thì Marketing không chcòn giới hn hẹp trong
phạm vi thương mại mà đã bao trùm tất cả những mặt của đời sống xã hội. Và
Marketing truyền thống a kia ny nay đã pt triển thành Marketing hiện đại.
Marketing hin đại bao gồm các hoạt động tính toán, suy nghĩ, ý đồ từ trước khi sản
phẩm ra đời đến hoạt động tiêu th, dịch vụ sau bán hàng... Nó trthành giao đim của
nhiu quá trình kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, thể thao, quốc phòng...
II.Các định nghĩa về Marketing và những tư tưởng chủ đạo của Marketing:
1.Các định nghĩa về Marketing:
Marketing với cách một hoạt động đem lại những hiệu qukinh tế lớn lao trên
nhiu mặt, ngay từ khi ra đời đã không ngừng được ứng dụng phát triển và hoàn thiện.
Năm 1905 tại trường Đại học Pensylvania (Mỹ), ông W.E.Kreussi đã tiến hành hàng
lot các bài giảng về Marketing.
Marketing, theo sđánh giá của giới hc giả kinh tế TBCN, là một n c vai trò,
ý nghĩa cả về lý luận lẫn hoạt động thực tiễn đặc biệt quan trọng, khả dĩ tới mức
quyết định sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế TBCN. Họ gán cho Marketing
những danh từ thật m miều “Triết học kinh doanh mới”, “bí quyết tạo nên thành công
trong kinh doanh”... Và Marketing được coi là mt khoa học kinh tế, là mt nghệ thuật
kinh doanh. không ngừng phát huy tác dụng và không ngng được bổ sung và phát
triển, do đóđược các tác giả, các nhà khoa học đưa ra các đình nghĩa khác nhau:
- Định nghĩa của Học viện Hamilton (M):
“Marketing nghĩa là hot động kinh tế trong đó hàng a được đưa tngười sản xuất
đến người tiêu thụ.
- Định nghĩa của U Ban hiệp hi Marketing Mỹ:
“Marketingviệc tiến hành các hoạt động kinh doanhliên quan trc tiếp đến dòng
chuyển vận hàng hoá và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
- Định nghĩa của Philip Kotler (Mỹ)- Ch tịch hiệp hội Marketing thế giới:
“Marketing s phân tích, tchức, kế hoạch hoá và kiểm tra những khảng thu t
khách hàng của một công ty cũng như chính sách và hoạt động với hoạt động với quan
điểm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của nhóm kch hàng đã lựa chọn ...Hoạt động
ca Marketing là mt quá trình hot động được coi n phương tiện đẩy nhanh quá
trình lưu thông hàng hoá. Hoạt động của Marketing bắt đầu từ khi sản phẩm được sản
xuất ra và kết thúc khi nó bán trực tiếp cho người tiêu dùng.”
-Định nghĩa của Brifish Institue of Marketing (Anh):
“Marketing chc năng quản công ty v mặt tổ chức và quản toàn bcác hoạt
động linh doanh từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu
cầu thực sự về một mặt hàng c thể đến việc đưa hàng hoá đó đến người tiêu thcuối
cùng, nm đẩm bảo cho công ty thu được lợi nhuận như đã dự kiến.
- Định nghĩa của John H.Crighton (Autralia):
“Marketingquá trình cung cp đúng sản phẩm đúng kênh hay luồng hàng, đúng thời
gian đúng địa đim.”
- Định nghĩa của V.J.Stanton:
“Marketing một hthống tổng thcủa những hot động kinh doanh được biểu hiện
bằng kế hoạch, giá cả, khuyếch trương phân phi những hàng hoá dịch vụ nhằm
tha mãn những nhu cầu mong muốn của khách hàng hin tại và tiềm năng.”
- Định nghĩa của Peter Drucker – nhà kinh tế học cận đại M:
“Marketingtoàn b những công việc kinh doanh nhìn theo quan đim của người tiêu
th.”
Từ những định nghĩa nêu trên chúng ta thy cách hiểu về Marketing hết sức phong phú
đa dạng. Hại định nghĩa đầu phù hợp với Markeitng truyền thống còn các định
nghĩa sau thì phù hợp với Marketing hiện đại. Mỗi đnh nghĩa chđúng xét theo quan
điểm về mặt thời gian, đúng tại thời điểm này. Do đó cho đến nay ni ta vẫn thống
nhất là không nên và không cn thiết một định nghĩa, một khuôn mẫu đối với hoạt
động Marketing. Việc m đó thdẫn tới sự hạn chế tính đa dạng, phong phú và
sinh động của hoạt động Marketing trong thực tiễn.
2. Những tư tưởng chủ đo ca Marketing:
Marketing coi trọng khâu tiêu thhay ưư tiên dành cho vtrí cao nhất trong chiến
lược của doanh nghip. Mục tiêu đu tiên ca doanh nghiệp đó là tạo ra lợi nhuận, do
đó các chính sách của doanh nghip đều phải làm sao đthu được lợi nhuận. Vì vy
doanh nghiệp phải quan tâm đến khâu tiêu thụ.
Chỉ bán cái thị trường cn chứ không phải bán cái mình có. Điều nàyđiều mà doanh
nghiệp cý trong thời buổi kinh tế thị trường như hiện nay. Người bán thì nhiều, do
đó chn cái thị trường cần thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại được.
Nhưng muốn biết thị trường và người tiêu th cần gì thì phi tổ chức tìm hiểu th
trường, tìm hiu những nhu cầu của thị trường, thị hiếu... Từ đó các doanh nghip phải
tìm hiểu tỉ mỉ, linh hoạt và phải có những phản ứng linh hoạt, nhạy bén với th trường.
Ngoài ra, mục tiêu của Marketing không chỉ là li nhuận. Marketing đi liền với quản
và t chức trong hoạt động của doanh nghiệp. Ngày nay, cùng với sphát triển của
nền kinh tế nói riêng và mọi lĩnh vực ca đời sống xã hi i chung thì các hoạt động
ca Marketing đã trthành điu không ththiếu trong bất kỳ một doanh nghiệp nào.
Với những tưởng chủ đo trên thì Marketing đã thực sự trở thành một công cụ tất
yếu nhằm nâng cao khả năng kinh doanh ca tất cả các doanh nghiệp.
III.Vai trò và các chức năng của Marketing:
Ngày nay không mt doanh nghiệp nào bắt tay vào kinh doanh mà không muốn kiếm
lời. Cùng với s phát triển của nền kinh tế thị trường, chấp nhận cạnh tranh, chp nhận
mcửa, cùng với sự biến đổi không ngừng về thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng,
sphát triển n vũ bão của khoa học và công ngh thì các doanh nghiệp đang bt
vào mt cơn xoáy biến động, do đó sthành công thay cho thất bại, phá sản thì các
doanh nghiệp phải nằm trong sự qun hay quản Nhà nước về kinh tế. Thị
trường là đối ợng và căn cquan trọng ca qun . Thông qua thtrường