BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐỖ DUNG HÕA
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ
VIÊM MÀNG BỒ ĐÀO KHÔNG NHIỄM TRÙNG
BẰNG PHỐI HỢP THUỐC ADALIMUMAB
VÀ THUỐC ỨC CHẾ MIỄN DỊCH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2025
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận án Tiến sỹ y học, tôi xin trân trọng cảm ơn:
Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Mắt
và Khúc xạ nhãn khoa, Trường Đại học Y Hà Nội đã đào tạo, dạy dỗ và tạo mọi
điều kiện để tôi hoàn thành chương trình học tập và luận án Tiến sĩ;
Đảng ủy, Ban Lãnh đạo và các khoa/phòng của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội,
Bệnh viện Lão Khoa Trung ương và Bệnh viện Bạch Mai đã ủng hộ và tạo mọi điều
kiện cho tôi trong quá trình công tác, học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu.
Ban lãnh đạo cùng các đồng nghiệp của Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu,
Khoa Cơ Xương Khớp, Khoa Hô Hấp, Khoa Nhi và Đơn vị Lưu trú Ban ngày –
Bệnh viện Đại học Y Hà nội đã luôn hợp tác, đồng hành cùng tôi trong quá trình
nghiên cứu cũng như trong quá trình điều trị bệnh nhân Viêm màng bồ đào.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn TS.BS. Mai
Quốc Tùng – Phó trưởng Bộ môn Mắt và Khúc xạ nhãn khoa, Trường Đại học Y Hà
Nội; Phó giám đốc Trung tâm khám chữa bệnh theo yêu cầu – Bệnh viện Lão khoa
trung ương; PGS. TS. Phạm Trọng V n – Chủ nhiệm Bộ môn Mắt và Khúc xạ nhãn
khoa, Trường Đại học Y Hà Nội; Nguyên trưởng khoa Tạo hình th m mỹ - Bệnh
viện Mắt trung ương - Những người thầy hướng d n đã truyền cho em ngọn l a yêu
nghề, đã tận tình ch bảo, chia s cho em kiến thức chuyên môn và luôn quan tâm,
ủng hộ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cũng như b công sức, tâm huyết, tận
tình hướng d n cho em trong suốt quá trình học tập, công tác và thực hiện luận án.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn Giáo sư
Bahram BODAGHI -Trưởng khoa Mắt, Bệnh viện Pitié Salpêtrière; Nguyên Chủ tịch
Hiệp hội quốc tế về bệnh lý Viêm và Miễn dịch tại Mắt - Người Thầy đã luôn quan
tâm, động viên, ch bảo cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn TS. BS. Lê Thị
Hồng Nhung – Người lãnh đạo, người chị luôn giúp đỡ, đồng hành và tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian làm việc và thực hiện nghiên cứu này.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn BSCKII. Lê
Việt Sơn, TS. BS. Phạm Thị Thu Thủy, PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Yên – Những người
Thầy đã luôn quan tâm, động viên, ch bảo cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho em
trong suốt quá trình hoàn thiện luận án.
Xin chân thành cảm ơn BS. Vũ Thùy Linh, BS. Hoàng Thanh Tùng, CN. Đào
Thị Kim Yến – Những người đồng nghiệp luôn động viên, cổ vũ và đồng hành cùng
tôi về chuyên môn kể từ khi xây dựng đề cương nghiên cứu và trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô của Bộ môn Mắt và Khúc xạ nhãn
khoa, Trường Đại học Y Hà Nội đã luôn theo sát, truyền đạt kiến thức và kinh
nghiệm cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn BSCK II. Đỗ Thị Thái Hà, TS.BS. Bùi Hữu Quang,
TS. BS. Vũ Thị Quế Anh, chị Huyền, chị Thao, chị Hạnh, chị Hồng, em Thúy và toàn
thể các anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã luôn ở
bên, nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn anh, chị, em NCS các khóa, chuyên ngành Nhãn
Khoa và bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên tôi, chia s cho tôi kinh nghiệm cho tôi
trong quá trình học tập và thực hiện luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn những người bệnh đã đồng ý tham gia nghiên cứu.
Cuối cùng, Con xin được t lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Cha, Mẹ đã
sinh thành, nuôi dưỡng cho con tình yêu với Y học. Con xin cảm ơn Mẹ đã luôn bên
con và hi sinh tất cả để con có ngày hôm nay.
Cám ơn Anh và hai con thân yêu đã luôn quan tâm, động viên, khích lệ và là
nguồn sức mạnh, là chỗ dựa vững chắc để tôi vượt qua mọi khó kh n, không ngừng
phấn đấu trong suốt quá trình học tập, công tác và hoàn thành luận án này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 2 tháng 0 8 n m 2025
Đỗ Dung Hòa
LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Đỗ Dung Hòa, nghiên cứu sinh Khóa 40, Trƣờng Đại học Y Hà Nội,
chuyên ngành Nhãn khoa, xin cam đoan:
1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn của
Thầy TS. Mai Quốc Tùng và PGS.TS. Phạm Trọng Văn.
2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã đƣợc
công bố tại Việt Nam.
3. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực
và khách quan, đã đƣợc xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về những cam kết này.
Hà Nội, ngày 1 2 tháng 0 8 n m 2025
Tác giả luận văn
Đỗ Dung Hòa
CHỮ VIẾT TẮT
Adalimumab ADA
Kháng thể kháng adalimumab ADABs
Azathioprine AZA
Cytomegalovirus CMV
Cyclosporine A CsA
EDI -OCT OCT với tăng cƣờng chiều sâu hình ảnh
Hội chứng HC
Herpes Simplex Virus HSV
Viêm khớp thiếu niên vô căn JIA
FK506 Tacrolimusm
Không nhiễm trùng KNT
Mycophenolate mofetyl MMF
Methotrexate MTX
Chụp cắt lớp quang học OCT
Chụp OCT mạch OCT-A
Hội chứng Posner−Schlossman PSS
Suy giam miễn dịch SGMD
Hội chứng Vogt−Koyanagi−Harada VKH
Viêm màng bồ đào VMBĐ
Varicella Zoster Virus VZV
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN ................................................................................................. 3
1.1. ĐẠI CƢƠNG BỆNH VIÊM MÀNG BỒ ĐÀO ............................................... 3
1.1.1. Định nghĩa ................................................................................................. 3
1.1.2. Dịch tễ học của bệnh viêm màng bồ đào ................................................... 3
1.1.3. Chẩn đoán bệnh viêm màng bồ đào ........................................................... 4
1.1.4. Phân loại bệnh viêm màng bồ đào ........................................................... 11
1.2. BỆNH VIÊM MÀNG BỒ ĐÀO KHÔNG NHIỄM TRÙNG ........................ 13
1.2.1. Cơ chế bệnh sinh bệnh ............................................................................. 13
1.2.2. Chẩn đoán viêm màng bồ đào không nhiễm trùng .................................. 16
1.3. ĐIỀU TRỊ VIÊM MÀNG BỒ ĐÀO KHÔNG NHIỄM TRÙNG TRÊN THẾ
GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM ...................................................................................... 25
1.3.1. Mục tiêu điều trị ....................................................................................... 25
1.3.2. Điều trị nội khoa ...................................................................................... 26
1.3.3. Điều trị phối hợp thuốc Adalimumab và thuốc ức chế miễn dịch ........... 37
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................... 40
2.1. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU ............................................... 40
2.2. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU ....................................................................... 40
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân ............................................................... 40
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ ................................................................................... 41
2.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................. 42
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu ................................................................................. 42
2.3.2. Mẫu nghiên cứu ....................................................................................... 42
Quy trình nghiên cứu ............................................................................... 43 2.3.3.
2.3.4. Phƣơng tiện nghiên cứu ........................................................................... 51
2.3.5. Công cụ và kỹ thuật thu thập số liệu ....................................................... 51
2.3.6. Nội dung và biến số - chỉ số nghiên cứu ................................................. 52
2.4. PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ................................. 54
2.5. KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC CỦA ĐỀ TÀI ....................................................... 55
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................................ 56
3.1. ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN VIÊM MÀNG BỒ ĐÀO ................................... 56
3.1.1. Đặc điểm bệnh nhân theo tuổi, giới và bên mắt viêm ............................. 56
3.1.2. Đặc điểm bệnh nhân theo phân loại giải phẫu ......................................... 57
3.1.3. Đặc điểm theo nguyên nhân gây bệnh ..................................................... 58
3.1.4. Đặc điểm theo biến chứng của bệnh ........................................................ 66
3.2. HIỆU QUẢ CỦA PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ ............................................ 67
Đặc điểm chung của đối tƣợng tham gia mục tiêu 2 ............................... 67 3.2.1.
3.2.2. Hiệu quả của phƣơng pháp điều trị .......................................................... 71
CHƢƠNG 4: BÀN LUẬN ................................................................................................... 91
4.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH VIÊM MÀNG BỒ ĐÀO ...................................... 91
4.1.1. Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu ............................................. 91
4.1.2. Đặc điểm bệnh viêm màng bồ đào .......................................................... 94
4.1.3. Đặc điểm biến chứng của bệnh viêm màng bồ đào ............................... 104
4.2. HIỆU QUẢ CỦA ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP ADALIMUMAB VÀ THUỐC ỨC
CHẾ MIỄN DỊCH ............................................................................................... 104
4.2.1. Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu ........................................... 104
4.2.2. Hiệu quả của điều trị phối hợp Adalimumab và thuốc ức chế miễn dịch ... 106
4.2.3. Một số yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị ....................................... 121
KẾT LUẬN .......................................................................................................................... 125
ĐÓNG GÓP MỚI CỦA NGHIÊN CỨU ....................................................................... 127
KHUYẾN NGHỊ ................................................................................................................. 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Thang điểm cho tế bào tiền phòng và độ đục thủy dịch theo SUN .................... 5
Bảng 1.2. Các yếu tố bệnh nhân trong chẩn đoán VMBĐ .................................................... 8
Bảng 1.3. Phân loại VMBĐ dựa trên giải phẫu theo nhóm nghiên cứu SUN .................. 11
Bảng 1.4. Phân loại diễn biến bệnh viêm màng bồ đào theo nhóm nghiên cứu SUN ..... 13
Bảng 1.5. Thuật ngữ viêm màng bồ đào dựa trên tiêu chí của nhóm nghiên cứu SUN .. 13
Bảng 1.6. Các triệu chứng toàn thân phối hơp VMBĐ không nhiễm trùng ...................... 17
Bảng 1.7. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Sarcoid tại mắt ........................................................ 20
Bảng 1.8. Tiêu chuẩn phân loại bệnh VKH .......................................................................... 22
Bảng 1.9. Hệ thống chẩn đoán bệnh Behcet ......................................................................... 24
Bảng 1.10. Tiêu chẩn phân loại bệnh viêm màng bồ đào Behcet ...................................... 24
Bảng 2.1. Các xét nghiệm cận lâm sàng phục vụ cho nghiên cứu ..................................... 44
Bảng 2.2. Các biến số và chỉ số nghiên cứu ......................................................................... 52
Bảng 3.1. Các đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu.............................................................. 56
Bảng 3.2. Căn nguyên gây bệnh theo vị trí giải phẫu viêm màng bồ đào ......................... 58
Bảng 3.3. Các nguyên nhân gây bệnh theo nhóm tuổi ....................................................... 64
Bảng 3.4. Các biến chứng của viêm màng bồ đào ............................................................... 66
Bảng 3.5 Đặc điểm lâm sàng trƣớc điều trị của đối tƣợng nghiên cứu .............................. 68
Bảng 3.6. Nguyên nhân gây bệnh và phƣơng pháp điều trị trƣớc nghiên cứu .................. 69
Bảng 3.7. Phƣơng pháp điều trị phối hợp trong thời gian nghiên cứu ............................... 70
Bảng 3.8. Các biến cố bất lợi xảy ra trong nghiên cứu ........................................................ 75
Bảng 3.9. Hiệu quả tại thời điểm trƣớc giãn liều và thời điểm kết thúc nghiên cứu ........ 77
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Các nguyên nhân gây VMBĐ trƣớc ................................................................ 61
Biều đồ 3.2. Các nguyên nhân gây VMBĐ sau ................................................................... 62
Biểu đồ 3.3. Các nguyên nhân gây VMBĐ toàn bộ ............................................................ 63
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ đáp ứng điều trị theo thời gian ................................................................ 71
Biểu đồ 3.5. Thay đổi thị lực theo thời gian ......................................................................... 72
Biểu đồ 3.6. Thay đổi độ dày hoàng điểm theo thời gian .................................................... 73
Biểu đồ 3.7. Thay đổi liều corticosteroids ............................................................................ 74
Biểu đồ 3.8. Tỷ lệ giãn cách liều ADA theo thời gian ......................................................... 76
Biểu đồ 3.9: Giãn liều Adalimumab của từng cá thể theo thời gian .................................. 77
Biểu đồ 3.10. Mối liên quan giữa tuổi và sự biến đổi thị lực theo thời gian...................... 78
Biểu đồ 3.11. Mối liên quan giữa giới và sự biến đổi thị lực theo thời gian ..................... 79
Biểu đồ 3.12. Mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh và sự biến đổi thị lực theo thời gian . 79
Biểu đồ 3.13. Mối liên quan giữa vị trí viêm và sự biến đổi thị lực theo thời gian .......... 80
Biểu đồ 3.14. Mối liện quan giữa dạng viêm và sự biến đổi thị lực theo thời gian .......... 80
Biểu đồ 3.15. Mối liên quan giữa vị trí nhóm tuổi và sự biến đổi độ dày hoàng điểm theo
thời gian .............................................................................................................. 81
Biểu đồ 3.16. Mối liên quan giữa giới và sự biến đổi độ dày hoàng điểm theo thời gian ..... 81
Biểu đồ 3.17. Mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh và sự biến đổi độ dày hoàng điểm
theo thời gian ..................................................................................................... 82
Biểu đồ 3.18. Mối liên quan giữa vị trí VMBĐ và sự biến đổi độ dày hoàng điểm theo
thời gian .............................................................................................................. 83
Biểu đồ 3.19. Mối liên quan giữa dạng viêm và sự biến đổi độ dày hoàng điểm
theo thời gian ................................................................................................... 84
Biểu đồ 3.20. Mối liên quan giữa thị lực trƣớc điều trị và tổng số mũi tiêm..................... 85
Biểu đồ 3.21. Mối liên quan giữa độ dày hoàng điểm trƣớc nghiên cứu và tổng số
mũi tiêm ............................................................................................................ 85
Biểu đồ 3.22. Mối liên quan giữa tuổi và số mũi tiêm ......................................................... 86
Biểu đồ 3.23. Mối liên quan giữa giới tính và số mũi tiêm ................................................. 86
Biểu đồ 3.24. Biểu đồ Kaplan-Meier cho khả năng giãn liều Adalimumab theo nhóm tuổi ... 87
Biều đồ 3.25. Biểu đồ Kaplan-Meier cho khả năng giãn liều Adalimumab theo giới tính .... 88
Biều đồ 3.26. Biểu đồ Kaplan-Meier cho giãn liều Adalimumab theo thời gian mắc bệnh.... 88
Biều đồ 3.27. Biểu đồ Kaplan-Meier cho khả năng giãn liều Adalimumab theo vị trí
VMBĐ ................................................................................................................ 89
Biều đồ 3.28. Biểu đồ Kaplan-Meier cho giãn liều Adalimumab theo dạng VMBĐ ...... 90
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1. Tủa sau giác mạc dạng mỡ cừu ............................................................................... 5
Hình 1.2. Nốt Bussaca mống mắt ............................................................................................ 5
Hình 1.3. Thang điểm đánh giá tế bào dịch kính và độ mờ dịch kính (Vitreous Haze) theo
NEI/SUN .............................................................................................................. 6
Hình 1.4. Cơ chế bệnh sinh của viêm màng bồ đào không nhiễm trùng ........................... 14
Hình 1.5. Tủa sau giác mạc dạng mỡ cừu trên bệnh nhân sarcoid ..................................... 19
Hình 1.6. U hạt góc tiền phòng trên bệnh nhân sarcoid....................................................... 19
Hình 1.7. Lồng bao quanh tĩnh mạch trên bệnh nhân sarcoid. ........................................... 21
Hình 1.8. U hạt hắc mạc trên bệnh nhân sarcoid. ................................................................. 21
Sơ đồ 2.1. Quy trình nghiên cứu ............................................................................................ 50
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý Viêm màng bồ đào (VMBĐ) là một trong những nguyên nhân hàng
đầu gây mù lòa trên thế giới. Ƣớc tính có khoảng 15% các trƣờng hợp mù lòa trên thế giới là do biến chứng của bệnh VMBĐ gây ra.1 Hiểu biết về dịch tễ học của
bệnh có vai trò quan trọng trong định hƣớng nguyên nhân gây bệnh, từ đó khu trú
đƣợc chỉ định xét nghiệm, giảm thiểu tối đa chi phí cho các thăm khám và xét
nghiệm không cần thiết. Đồng thời dịch tễ học cũng là cơ sở để xây dựng các hƣớng
dẫn chẩn đoán và điều trị phù hợp, từ đó ngăn ngừa các biến chứng gây mù lòa cho
ngƣời bệnh. Tính đến thời điểm trƣớc năm 2024, Việt Nam mới có một nghiên cứu
về dịch tễ học bệnh viêm màng bồ đào ở miền Nam Việt Nam, đƣợc công bố bởi nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và cộng sự.2 Việc thiếu các thông tin dịch tễ
học bệnh viêm màng bồ đào ở khu vực các tỉnh phía Bắc nói riêng và cả nƣớc nói
chung đã đặt ra nhiều khó khăn và thách thức cho các bác sỹ lâm sàng trong chẩn
đoán và điều trị bệnh.
Viêm màng bồ đào không nhiễm trùng (VMBĐ KNT) là một nhóm của bệnh VMBĐ, là nguyên nhân đứng thứ 5 gây mù lòa ở bệnh nhân lứa tuổi từ 20 đến 50.3
Đây là bệnh lý khó điều trị do có sinh bệnh học phức tạp. Để kiểm soát tình trạng viêm
tại mắt, bệnh nhân thƣờng cần đƣợc theo dõi và điều trị lâu dài. Thuốc nhóm
Corticosteroid thƣờng đƣợc sử dụng đầu tay để kiểm soát tình trạng VMBĐ không
nhiễm trùng, tuy nhiên thuốc này có nhiều tác dụng phụ. Các thuốc ức chế miễn dịch
(ƢCMD) bao gồm methotrexate, azathioprine và mycophenolate mofetil là lựa chọn
thứ hai sau corticosteroid, vừa giúp kiểm soát viêm vừa giúp giảm liều thuốc
corticosteroid đƣợc sử dụng, từ đó giảm nguy cơ tác dụng phụ của thuốc này. Tuy
nhiên, hiệu quả của các thuốc ức chế miễn dịch thƣờng xuất hiện muộn, sau thời điểm bắt đầu dùng thuốc từ 6-8 tuần 4 và không hoàn toàn.5–7
Sự ra đời và phát triển của liệu pháp sinh học, đặc biệt các thuốc kháng TNF
alpha (TNF-α) mang lại lựa chọn điều trị mới, đặc biệt khi bênh nhân kém dung nạp
với các thuốc corticosteroid và thuốc ƢCMD hoặc khi các thuốc này kém hiệu quả
trong kiểm soát phản ứng viêm tại mắt. Các thuốc kháng TNF-α đã đƣợc đƣa vào
2
thử nghiệm điều trị viêm màng bồ đào bao gồm Adalimumab, Infliximab,
Etarnercept và Golimumab. Trong đó, nhiều nghiên cứu đã khẳng định hiệu quả của Adalimumab trong điều trị bệnh lý VMBĐ KNT.5,8–10 Kết quả của hai thử nghiệm
lâm sàng đa quốc gia VISUAL 1 (2016) và VISUAL 2 (2016) khẳng định hiệu quả và độ an toàn của thuốc Adalimumab trên bệnh nhân VMBĐ không nhiễm trùng.8,9
Nhờ vậy, adalimumab hiện là thuốc kháng TNF-α đầu tiên và duy nhất đƣợc Cơ
quan thuốc và dƣợc phẩm Hoa Kỳ và Cơ quan y tế Châu Âu chấp thuận cho điều trị
bệnh lý VMBĐ không nhiễm trùng. Tại Việt Nam, thuốc Adalimumab cũng đã
đƣợc Bộ Y tế cấp phép trong điều trị bệnh VMBĐ KNT và đƣợc bảo hiểm y tế hỗ
trợ chi trả một phần chi phí điều trị.
Tuy nhiên, đáp ứng với điều trị thuốc Adalimumab có thể giảm theo thời gian
do nguy cơ xuất hiện các đáp ứng miễn dịch kháng lại thuốc (kháng thể kháng thuốc
Adalimumab) trong huyết thanh bệnh nhân, gây giảm nồng độ và hiệu quả của thuốc trong máu.11,12 Nhiều nhà lâm sàng phối hợp điều trị Adalimumab và các thuốc ức chế
miễn dịch để tăng hiệu quả chống viêm, tăng khả năng giãn liều thuốc Adalimumab và làm giảm nguy cơ sinh kháng thể kháng thuốc Adalimumab trong huyết thanh.13 14 15,16
Hiện nay, tại Việt Nam và trên thế giới, còn thiếu các nghiên cứu mô tả dịch tễ
học bệnh VMBĐ ở Việt Nam (đặc biệt là các tỉnh phía Bắc) và hiện chƣa có nghiên
cứu đánh giá hiệu quả của điều trị phối hợp Adalimumab với thuốc ức chế miễn dịch
trong điều trị VMBĐ KNT. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu hiệu quả điều trị viêm màng bồ đào không nhiễm trùng bằng phối
hợp thuốc Adalimumab và thuốc ức chế miễn dịch” với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm của bệnh nhân viêm màng bồ đào đến khám tại một số bệnh
viện ở Hà Nội.
2. Đánh giá hiệu quả của phối hợp thuốc Adalimumab và thuốc ức chế miễn
dịch trong điều trị viêm màng bồ đào không nhiễm trùng.
3
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. ĐẠI CƢƠNG BỆNH VIÊM MÀNG BỒ ĐÀO
1.1.1. Định nghĩa
Màng bồ đào là cấu trúc tạo nên lớp giữa của thành nhãn cầu. Màng bồ đào gồm
ba thành phần là mống mắt, thể mi và hắc mạc, đóng vai trò quan trọng trong nuôi
dƣỡng lớp ngoài của võng mạc và cân bằng nhiệt độ của nhãn cầu. Tuy nhiên, do có lƣợng máu lƣu thông lớn nên màng bồ đào cũng là vị trí đầu tiên xảy ra các phản ứng
viêm tại mắt, dẫn đến tình trạng viêm màng bồ đào. Viêm màng bồ đào (VMBĐ) là
tình trạng viêm của màng bồ đào. Tình trạng này có thể ảnh hƣởng đến các cấu trúc khác của nhãn cầu nhƣ võng mạc, củng mạc, giác mạc, dịch kính và thị thần kinh.
1.1.2.
Dịch tễ học của bệnh viêm màng bồ đào Các hiểu biết về dịch tễ học đóng vai trò quan trọng giúp định hƣớng cho các tiếp
cận chẩn đoán, chẩn đoán xác định, từ đó đƣa ra phƣơng pháp điều trị phù hợp. Tỷ lệ
mắc bệnh VMBĐ đi từ 17 đến 52 trên 100,000 và tần suất lƣu hành từ 38 đến 284 trên 100,000.17 Nghiên cứu mới đây dựa trên dữ liệu Medicare đƣợc thực hiện trên 4 triệu đối tƣợng nghiên cứu ở Hoa kỳ đã ghi nhận tỷ suất lƣu hành bệnh là 133 trên 100,000 bao gồm phần lớn là VMBĐ KNT (90,7%) và viêm màng bồ đào trƣớc (80%).17
Có sự phân bố khác nhau của các nguyên nhân gây VMBĐ ở khu vực châu Á
Thái Bình Dƣơng. VMBĐ do nguyên nhân không nhiễm trùng thƣờng gặp phổ biến
nhất, ngoại trừ tại Myammar và Nepal là nơi VMBĐ không nhiễm trùng chỉ chiếm
11% và 19% trƣờng hợp và VMBĐ vô căn lần lƣợt chiếm 35% và 56% trƣờng hợp.18,19 Các nghiên cứu tại New Zealand và Phillipnes cho thấy tỷ lệ VMBĐ nhiễm trùng chỉ chiếm một phần tƣ trƣờng hợp.20,21 Viêm màng bồ vô căn chiếm tỷ lệ cao ở Bangladesh (47%), Hàn Quốc (58%) và Sri Lanka (65%).22–24 Ở Australia, 40- 42% trƣờng hợp là VMBĐ không nhiễm trùng và 33-46% trƣờng hợp là VMBĐ vô căn.25,26 Bên cạnh đó, có sự khác nhau về tỷ lệ các hình thái VMBĐ giữa các quốc gia. Chẳng hạn, so với trƣớc năm 2010, gần đây tại Singapore các bệnh nhân mắc VMBĐ nhiễm trùng có tỷ lệ cao hơn.2 Các nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy 35- 63% các trƣờng hợp VMBĐ là không nhiễm trùng và 31-50% trƣờng hợp vô căn.27,28 VMBĐ không nhiễm trùng chiếm 41-55% trƣờng hợp VMBĐ tại Trung Quốc và 38-44% ở Thái Lan.3,29,30 Ở Đài Loan tỷ lệ này là 47-83%.31 Nếu nhƣ sự kết hợp viêm cột sống dính khớp và yếu tố kháng nguyên bạch cầu ngƣời HLA B27
4
là căn nguyên thƣờng gặp nhất gây VMBĐ trƣớc ở các nƣớc khác trên thế giới (ngoại trừ Nhật Bản) thì ở các nƣớc khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng, 3 nguyên
nhân chính gây VMBĐ trung gian, sau và toàn bộ là bệnh Vogt – Koyanagi –
Harada, bênh Behcet và bệnh sarcoid.
Tại miền Nam Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và cộng sự cho thấy các nguyên nhân gây VMBĐ KNT thƣờng gặp là VMBĐ vô căn (36%), hội chứng Vogt – Koyanagi – Harada (14%), và bệnh Behcet (7%).2 Một điểm đáng lƣu ý là tác giả không tìm thấy ca bệnh viêm hắc võng mạc Birdshot nào
trong thời gian 5 năm của nghiên cứu.
Chẩn đoán bệnh viêm màng bồ đào
1.1.3. 1.1.3.1. Đặc điểm lâm sàng
a. Triệu chứng cơ năng Các triệu chứng của bệnh viêm màng bồ đào phụ thuộc vào vị trí viêm của
màng bồ đào, tính chất khởi phát bệnh (đột ngột hay âm ỉ), thời gian mắc bệnh, tiến triển của bệnh (cấp, mãn tính hay tái phát), và đôi khi là nguyên nhân gây bệnh.32,33 VMBĐ trƣớc có thể biểu hiện các triệu chứng khác nhau, từ không có triệu
chứng cho đến đau nhức, đỏ, sợ ánh sáng; tùy thuộc dạng VMBĐ và/hoặc mức độ
nghiêm trọng của viêm. VMBĐ trƣớc khởi phát cấp tính thƣờng gây đau cấp tính,
sợ ánh sáng, đỏ mắt và nhìn mờ. Đau thƣờng do co quắp cơ thể mi, cũng có thể do
tăng nhãn áp. Ngƣợc lại, VMBĐ trƣớc mãn tính trên bệnh nhân viêm khớp mãn tính
thiếu niên (JIA) có thể không có triệu chứng. Các trƣờng hợp VMBĐ trƣớc mãn
tính hoặc nặng có thể biểu hiện nhìn mờ do các biến chứng nhƣ bệnh giác mạc dải băng, đục thủy tinh thể, hoặc phù hoàng điểm.32,33
Trong VMBĐ trung gian, mắt thƣờng trắng và yên, triệu chứng chủ yếu là ruồi
bay (do tế bào viêm và tổ chức viêm trong buồng dịch kính gây nên) và nhìn mờ (do
phù hoàng điểm hoặc do dịch kính viêm đục nhiều).
Các triệu chứng trên bệnh nhân VMBĐ sau bao gồm nhìn mờ không đau, ruồi bay, lóa, ám điểm, méo hình, quáng gà, hoặc phối hợp các triệu chứng trên. Nhìn mờ có thể
do viêm trực tiếp tại vùng hoàng điểm, hoặc là thứ phát do biến chứng của viêm.
b. Triệu chứng thực thể Viêm màng bồ đào trƣớc Triệu chứng chính của VMBĐ trƣớc là sự xuất hiện các tế bào viêm trong tiền
phòng và đục dịch tiền phòng. Theo phân loại của SUN, mức độ tế bào viêm tiền
phòng đƣợc phân loại dựa trên quan sát số lƣợng tế bào viêm trên thăm khám sinh hiển
5
vi với khe sáng kích thƣớc 1x1 mm ở 45-60 độ, trong buồng tối. Đục dịch tiền phòng quan sát đƣợc trên thăm khám sinh hiển vi và phân loại theo Hogan và cộng sự.34
Bảng 1.1. Thang điểm cho tế bào tiền phòng và độ đục thủy dịch theo SUN35
Mô tả Số lƣợng các tế bào (Khe sáng kích thƣớc 1x1mm cƣờng độ ánh sáng cao) Phân loại
<1 Không có 0
1-5 Không áp dụng 0,5+
6-15 Nhẹ 1+
16-25 2+
Trung bình (thấy rõ chi tiết mống mắt và thủy tinh thể)
26-50 3+ Nặng (mờ chi tiết mống mắt và thủy tinh thể)
>50 Rất nặng (fibin) 4+
Tủa sau giác mạc là tập hợp các tế bào viêm trên nội mô giác mạc. Các tủa sau
giác mạc mới thƣờng có màu trắng và bờ tròn đều, giai đoạn muộn hơn sẽ co lại, có
sắc tố hoặc dạng kính mờ. Các tủa sau giác mạc kích thƣớc lớn, màu trắng xám
đƣợc gọi là tủa mỡ cừu, và thƣờng kết hợp với hình thái VMBĐ dạng hạt. Bệnh
giác mạc dải băng gặp trong VMBĐ mãn tính (đặc biệt trong JIA).
Hình 1.1. Tủa sau giác mạc dạng mỡ cừu Hình 1.2. Nốt Bussaca mống mắt
Nguồn: Uveitis and Ocular inflammation 32
Tổn thƣơng mống mắt có thể biểu hiện dƣới dạng dính mống mắt phía trƣớc
hoặc dính mống mắt phía sau, các nốt mống mắt (các nốt Koppe ở bờ đồng tử, các
nốt Busacca ở nhu mô mống mắt và các nốt Berlin ở góc tiền phòng), u hạt mống
mắt, dị sắc mống mắt (trong hội chứng VMBĐ dị sắc Fuchs) hoặc teo nhu mô (nhƣ
VMBĐ do virus herpes).
6
Khi có tổn thƣơng của thể mi và vùng bè, nhãn áp thƣờng thấp do hậu quả của
giảm sản xuất thủy dịch hoặc tăng thoát thủy dịch, nhƣng nhãn áp có thể tăng liên
tục nếu vùng bè bị tắc nghẽn do tổ chức viêm hoặc tế bào viêm hoặc nếu vùng bè là
vị trí bị viêm (viêm vùng bè). Nghẽn đồng tử gây mống mắt vồng và đóng góc tiền
phòng thứ phát cũng có thể gây tăng nhãn áp thứ phát.
Viêm màng bồ đào trung gian
Triệu chứng chính của VMBĐ trung gian là các tế bào viêm trong dịch kính và
mờ đục dịch kính. Các tế bào viêm có thể nằm rải rác hoặc tập trung thành đám. Độ
mờ đục của dịch kính có thể là chỉ điểm tốt hơn mức độ tế bào để đánh giá hoạt
động của bệnh. Phân độ mờ đục dịch kính dựa trên khả năng quan sát bán phần sau
khi khám đáy mắt. Hệ thống phân loại của Viện mắt quốc gia Hoa Kỳ (NEI) đƣợc
áp dụng cho phân loại của SUN, đã sử dụng ảnh chụp đáy mắt tiêu chuẩn để phân
độ mờ đục dịch kính từ 0 đến 4 (Hình 1.3). Độ mờ đục dịch kính đƣợc sử dụng làm
tiêu chuẩn lựa chọn trong các thử nghiệm lâm sàng bệnh VMBĐ, và cải thiện 2 mức theo phân độ này cũng đƣợc sử dụng để đánh giá đáp ứng điều trị.32,33
Hình 1.3. Thang điểm đánh giá tế bào dịch kính và độ mờ dịch kính (Vitreous Haze) theo NEI/SUN Nguồn: National Eye Institute 35,36
Mô tả Dịch kính trong Mờ dạng vết không đáng kể Dịch kính mờ nhẹ, hơi mờ đầu thị thần kinh và dịch kính Mờ đầu thị thần kinh và mạch máu nhƣng vẫn quan sát đƣợc Quan sát đƣợc đầu thị thần kinh, bờ mờ, không thấy mạch máu võng mạc. Đục dịch kính đậm đặc, không quan sát đƣợc đầu thị thần kinh.
Mức độ 0 +0,5 +1 2 3 4
7
Các dấu hiệu khác của viêm dịch kính bao gồm đục dịch kính dạng nắm tuyết
(snowball) và tảng băng (xuất tiết qua vùng pars plana, thƣờng nằm phía dƣới).
VMBĐ trung gian mãn tính có thể kết hợp với màng phủ thể mi, bong thể mi thứ
phát, và hạ nhãn áp.
Viêm màng bồ đào sau
Các triệu chứng của viêm bán phần sau bao gồm:
- Thâm nhiễm viêm võng mạc hoặc hắc mạc;
- Lồng bao động mạch hoặc tĩnh mạch;
- Bong võng mạc xuất tiết, co kéo hoặc có vết rách;
- Phì đại hoặc teo biểu mô sắc tố võng mạc;
- Teo hoặc phù võng mạc, hắc mạc hoặc gai thị;
- Tăng sinh xơ trƣớc võng mạc hoặc dƣới võng mạc;
- Tân mạch hắc mạc hoặc võng mạc.
Phản ứng của bán phần sau là kết quả của thâm nhiễm viêm hoặc nhiễm trùng
và các tổn thƣơng về cấu trúc của võng mạc và hắc mạc. Các dấu hiệu của võng
mạc và hắc mạc có thể là một ổ, đa ổ, hoặc tỏa lan. Các tổn thƣơng đƣợc mô tả theo
kích thƣớc, màu sắc, và hình thái (ví dụ ranh giới rõ, hình địa đồ) và liên quan về giải phẫu của tổn thƣơng với hậu cực.32,33
Viêm màng bồ đào toàn bộ
Viêm màng bồ đào toàn bộ là tình trạng viêm của toàn bộ các cấu trúc màng
bồ đào từ trƣớc ra sau, mà không có vị trí ƣu thế. Trong hầu hết các trƣờng hợp,
viêm màng bồ đào toàn bộ có kèm tổn thƣơng của võng mạc, dịch kính, thị thần kinh hoặc thủy tinh thể.32
c. Tình trạng toàn thân và các yếu tố liên quan
Khai thác đầy đủ tiền sử (Bảng 1.2), bệnh sử và tình trạng toàn thân giúp khu
trú chẩn đoán phân biệt và định hƣớng cho thăm khám cận lâm sàng cũng nhƣ lựa
chọn điều trị. Viêm mắt có thể tồn tại độc lập hoặc cũng có thể kết hợp với bệnh lý
toàn thân. Một điểm cần lƣu ý là viêm màng bồ đào thƣờng không liên quan đến
hoạt động viêm của các cơ quan khác trong cơ thể và có thể xuất hiện trƣớc khi có
biểu hiện viêm ở các cơ quan khác.
8
Bảng 1.2. Các yếu tố bệnh nhân trong chẩn đoán VMBĐ32 Các yếu tố khác Yếu tố gia đình và xã hội Đặc điểm bệnh nhân
-Tuổi -Tiền sử bản thân hoặc gia -Tiền sử tiêm chủng
-Giới đình mắc bệnh tự -Tình trạng hệ miễn dịch
-Nguồn gốc chủng tộc/ miễn/nhiễm trùng theo dịch -Thuốc dùng toàn thân
quốc gia tễ. -Tiền sử chấn thƣơng
-Sử dụng thuốc uống hoặc -Tiền sử du lịch
đƣờng tĩnh mạch -Nhập viện/phẫu thuật
-Hút thuốc lá -Thiết bị nhân tạo trong
-Nghề nghiệp cơ thể.
-Thói quen quan hệ tình dục -Đánh giá toàn thân và
-Thói quen ăn uống các bệnh nội khoa kèm
-Vật nuôi và động vật đã theo
từng tiếp xúc
1.1.3.2. Đặc điểm cận lâm sàng
a. Các thăm dò chức năng và chẩn đoán hình ảnh tại mắt
Chụp cắt lớp cố kết quang học
Phƣơng pháp chụp cắt lớp cố kết quang học (Optical Coherence Tomography),
gọi tắt là OCT, cho một chuỗi các hình ảnh cắt lớp võng mạc và hắc mạc với độ phân
giải cao, đƣợc sử dụng để xác định các biến đổi hình thái ở mắt có VMBĐ. Đây là
phƣơng pháp tiêu chuẩn để đánh giá khách quan biến chứng phù hoàng điểm, dày võng
mạc, dịch trong/dƣới võng mạc, tân mạch hắc mạc. OCT còn hữu ích cho theo dõi độ dày lớp sợi thần kinh trên bệnh nhân glôcôm thứ phát do VMBĐ.32,33
OCT với tăng cƣờng chiều sâu hình ảnh (EDI-OCT) cho phép quan sát và
đánh giá độ dày hắc mạc, hữu ích trong các trƣờng hợp VMBĐ do hội chứng Vogt-
Koyanagi-Harada, nhãn viêm giao cảm và bệnh viêm hắc võng mạc Birdshot.
Chụp OCT mạch (OCT Angiography) là phƣơng pháp chụp mạch không can
thiệp, cho phép phát hiện biến chứng tân mạch hắc mạc của VMBĐ. Ngoài ra môt
số báo cáo cho thấy OCT-A giúp phát hiện và phân biệt các tổn thƣơng hắc võng
mạc hoạt động và không hoạt động.
Chụp OCT bán phần trƣớc có thể giúp phát hiện sót chất nhân thủy tinh thể
sau phẫu thuật hoặc cọ sát IOL gây VMBĐ sau mổ. Hiện tại, các nhà nghiên cứu
đang tập trung phát triển phân độ tế bào viêm dựa trên OCT bán phần trƣớc.
9
Chụp mạch huỳnh quang
Chụp mạch huỳnh quang là phƣơng pháp chẩn đoán hình ảnh quan trọng để
đánh giá các bệnh lý hắc võng mạc và các biến chứng về cấu trúc của VMBĐ sau.
Chụp mạch huỳnh quang giúp phát hiện phù hoàng điểm, viêm mạch võng mạc, tân
mạch võng mạc hoặc hắc mạc thứ phát, và các vùng viêm hắc mạc, võng mạc, gai
thị. Một số bệnh hắc võng mạc hoặc hội chứng nốt trắng có hình thái điển hình trên
FA. Gần đây, phƣơng pháp chụp mạch trƣờng rộng và trƣờng siêu rộng cung cấp thông tin hữu ích để xác định bệnh lý võng mạc chu biên.32
Chụp ảnh màu
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để ghi lại kích thƣớc, màu sắc, vị trí và đặc
điểm hình thái của tổn thƣơng bán phần trƣớc hoặc bán phần sau, từ đó giúp ích cho theo dõi tiến triển của bệnh.32,33
Chụp đáy mắt tự phát huỳnh quang
Chụp đáy mắt tự phát huỳnh quang (FAF) cho phép đánh giá khả năng phát
huỳnh quang của lipofusin, một sản phẩm giáng hóa của protein võng mạc, nằm
trong biểu mô sắc tố võng mạc (RPE). Tăng tự phát huỳnh quang tƣơng ứng với
hoạt động tăng chuyển hóa của RPE, hoặc hiệu ứng cửa sổ do mất các tế bào quang
thụ. Giảm tự phát huỳnh quang khi mất tế bào RPE hoặc do hiệu ứng che lấp RPE.
Hình ảnh FAF hữu ích với VMBĐ sau có tổn thƣơng ở võng mạc lớp ngoài, RPE và
hắc mạc lớp trong. Đặc điểm tự phát huỳnh quang sẽ thay đổi giữa các hình thái
bệnh khác nhau, nhƣng trong nhiều trƣờng hợp, tăng tự phát huỳnh quang gặp khi bệnh hoạt động và giảm dần tự phát huỳnh quang đến khi tình trạng viêm giảm.32,33
Chụp mạch với xanh Indocyanine
Chụp mạch với xanh Indocyanine (ICG) cho phép quan sát tuần hoàn hắc mạc.
Trong bệnh lý viêm có tổn thƣơng hắc mạc và võng mạc lớp ngoài, ICG giúp phát
hiện tổn thƣơng không quan sát đƣợc trên soi đáy mắt hoặc chụp FA. Chụp ICG có
vai trò không thể thay thế trong đánh giá bệnh lý viêm hắc võng mạc không rõ
nguyên nhân (hội chứng nốt trắng), hội chứng Vogt-Koyanagi-Harada, nhãn viêm giao cảm và sarcoid bán phần sau cũng nhƣ đánh giá tân mạch hắc mạc.32,33
Siêu âm
Phƣơng pháp siêu âm bán phần trƣớc (UMB) có thể hữu ích trong chẩn đoán
bệnh của thể mi, mống mắt và góc tiền phòng. Siêu âm bán phần sau hay siêu âm B
có thể cho hình ảnh đục dịch kính, dày hoặc bong hắc mạc, bong võng mạc và màng
10
thể mi, viêm củng mạc sau cũng nhƣ cho phép loại trừ dị vật nội nhãn, đặc biệt khi đục dịch kính cản trở khả năng quan sát chi tiết bán phần sau.32,33
Thị trƣờng
Phƣơng pháp đo thị trƣờng đƣợc sử dụng để theo dõi tiến triển và đáp ứng
điều trị của bệnh viêm hắc võng mạc Birdshot và AZOOR. Ngoài ra, phƣơng pháp
này cũng cho phép phát hiện tổn thƣơng thị trƣờng trên bệnh nhân glôcôm thứ phát do VMBĐ và viêm thị thần kinh.32,33
b. Xét nghiệm dịch và mô của mắt
Kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase (PCR) dịch tiền phòng và dịch kính
Xét nghiệm PCR dịch tiền phòng đặc hiệu với virus varicella-zoster, herpes
simplex type 1 và 2, và cytomegalovirus. Phƣơng pháp lấy dịch tiền phòng thƣờng
an toàn và đơn giản hơn phƣơng pháp sinh thiết dịch kính. Trƣờng hợp nghi ngờ
viêm võng mạc do toxoplasma, có thể lấy dịch tiền phòng làm PCR, mặc dù khả năng chẩn đoán có thể thấp hơn với bệnh phẩm dịch kính. 32 17
Cho đến gần đây, PCR vẫn không đƣợc sử dụng phổ biến để chẩn đoán
VMBĐ do vi khuẩn hoặc do nấm vì cần định hƣớng tác nhân gây bệnh cho việc
khuếch đại gen. Hiện nay, dựa trên các tiểu đơn vị gen trên vi khuẩn (16S) và nấm
(5.8S/18S/28S), công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới (Next generation
sequencing) toàn vi khuẩn hoặc toàn bộ nấm có vai trò tƣơng đƣơng thậm chí vƣợt
trội phƣơng pháp nuôi cấy. Kỹ thuật dựa trên PCR để kiểm tra tìm đột biến MYD88
của mẫu dịch kính đƣợc sử dụng để chẩn đoán u lympho nội nhãn nguyên phát.
Sản xuất kháng thể tại mắt
Các nƣớc châu Âu coi phƣơng pháp đánh giá sản xuất kháng thể trong thủy
dịch dựa trên hệ số Goldman-Witmer là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán bệnh do toxoplasma, toxocara…32,33
Nhuộm soi và nuôi cấy
Nuôi cấy và nhuộm soi tìm nấm và vi khuẩn có thể hữu ích cho các trƣờng
hợp nghi ngờ viêm nội nhãn do vi khuẩn hoặc nấm. Tuy nhiên, phƣơng pháp này thiếu độ nhạy và mất thời gian phân lập.32,33 Giải phẫu bệnh và tế bào học
Lấy dịch tiền phòng và làm tế bào học dịch tiền phòng đƣợc chỉ định trong
trƣờng hợp nghi ngờ bệnh leucemia hoặc u lympho. Khi nghi ngờ u lympho nguyên
phát dịch kính võng mạc, bệnh phẩm sinh thiết dịch kính không pha loãng đƣợc gửi
11
đi làm tế bào học và đếm tế bào dòng chảy (flow cytometry) cùng với các nghiên cứu phân tích sắp xếp lại gen và phân tích cytokine. .32,33
Sinh thiết hắc võng mạc cho giải phẫu bệnh hiện còn là kỹ thuật khó và đòi hỏi
phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm. Phƣơng pháp này có thể hiệu quả với VMBĐ sau
tiến triển nhanh trong khi nguyên nhân gây bệnh không rõ ràng và chƣa xác định
đƣợc hƣớng điều trị phù hợp. Sinh thiết hắc võng mạc cũng đƣợc chỉ định trong
trƣờng hợp nghi ngờ u lympho dịch kính võng mạc khu trú tại khoang dƣới võng
mạc. Chỉ định này chỉ đƣợc thực hiện khi không thể khẳng định bằng các phƣơng
pháp ít xâm lấn khác.
Sinh thiết tổn thƣơng kết mạc có thể hữu ích cho trƣờng hợp u lympho, bệnh
pemphigoid sẹo, và bệnh sarcoid. Hiếm hơn, sinh thiết củng mạc có thể áp dụng khi
nghi ngờ viêm củng mạc do nhiễm trùng.
1.1.4. Phân loại bệnh viêm màng bồ đào
Đặc điểm của viêm màng bồ đào (VMBĐ) là cơ sở cho việc xử trí bệnh, cho phép
so sánh giữa các bệnh nhân trong nghiên cứu dịch tễ học và nghiên cứu lâm sàng.35 1.1.4.1. Phân loại dựa theo giải ph u
Bảng 1.3. Phân loại VMBĐ dựa trên giải phẫu theo nhóm nghiên cứu SUN35
Dạng Vị trí khởi viêm Hình thái
Viêm màng bồ đào trƣớc Tiền phòng Viêm mống mắt
Viêm mống mắt thể mi
Viêm thể mi trƣớc
Viêm màng bồ đào trung Dịch kính Viêm pars plana
gian Viêm thể mi sau
Viêm dịch kính
Viêm màng bồ đào sau Võng mạc hoặc hắc Viêm hắc mạc khu trú, đa ổ
mạc hoặc tỏa lan
Viêm hắc võng mạc
Viêm võng mạc hắc mạc
Viêm võng mạc
Viêm võng mạc thị thần kinh
Viêm màng bồ đào toàn bộ Tiền phòng, dịch kính, võng mạc và hắc mạc
12
Phân loại giải phẫu dựa trên phân tích vị trí tổn thƣơng ban đầu của viêm nội
nhãn mà không quan tâm đến vị trí tổn thƣơng do biến chứng (Bảng 1.3). Viêm
màng bồ đào trƣớc bao gồm tổn thƣơng của mống mắt và thể mi. Viêm màng bồ
đào trung gian có vị trí viêm chính là dịch kính. Thuật ngữ ―Viêm màng bồ đào toàn
bộ‖ dùng để chỉ các hình thái VMBĐ mà mức độ viêm biểu hiện nhƣ nhau ở trong
tiền phòng, dịch kính, võng mạc và/hoặc hắc mạc (trong đó có viêm võng mạc,
viêm hắc mạc và/hoặc viêm mạch võng mạc). Các biến chứng của VMBĐ nhƣ phù
hoàng điểm hay tân mạch hắc võng mạc không nằm trong phân loại giải phẫu này.
Trƣờng hợp phản ứng viêm cả trong tiền phòng và dịch kính sẽ đƣợc gọi là VMBĐ
trƣớc hoặc VMBĐ trung gian tùy theo mức độ viêm của vị trí khởi viêm. Thuật ngữ
―Viêm mạch võng mạc‖ liên quan đến tình trạng viêm nội nhãn và viêm của thành mạch.
1.1.4.2. Phân loại theo nguyên nhân
Phân loại căn nguyên của Nhóm nghiên cứu bệnh lý VMBĐ quốc tế (IUSG) là
một phân loại lâm sàng đƣợc đơn giản hóa cho thực hành lâm sàng hiện tại. Nó tóm tắt các phân loại bệnh nguyên chính và đƣợc liên kết với các phân loại trƣớc đó.37 Tình trạng viêm nội nhãn có thể trực tiếp do nhiễm trùng hoặc qua trung gian miễn
dịch:
- Viêm màng bồ đào nhiễm trùng: khi nguyên nhân gây viêm do vi khuẩn,
virus, nấm, ký sinh trùng…
- Viêm màng bồ đào không nhiễm trùng có thể đƣợc phân loại thành bệnh
VMBĐ biểu hiện đơn thuần tại mắt (nhƣ trong bệnh viêm hắc mặc Birdshot) hoặc
có kèm theo tình trạng viêm toàn thân hoặc ngoài mắt (nhƣ trong sarcoid, Vogt -
Koyanagi - Harada (VKH), bệnh Behcet, viêm cột sống dính khớp (AS), viêm khớp
mãn tính thiếu niên (JIA), viêm khớp vảy nến (PsA)). Bệnh nhân mắc viêm màng
bồ đào không nhiễm trùng không điển hình hoặc không kèm tổn thƣơng toàn thân
khác thƣờng đƣợc xếp vào nhóm viêm màng bồ đào vô căn.
- Giả viêm màng bồ đào: khi nguyên nhân gây bệnh xuất phát từ các bệnh tân
sản hoặc không tân sản.
1.1.4.3. Phân loại theo diễn biến bệnh
Hệ thống phân loại danh pháp SUN đã bổ sung cho phân loại giải phẫu bệnh
VMBĐ bằng cách xác định các yếu tố dựa trên khởi phát lâm sàng, thời gian mắc bệnh,
và diễn biến bệnh (bảng 1.4). Đồng thời, các thuật ngữ giúp phân độ viêm và theo dõi
đáp ứng của bệnh viêm màng bồ đào cũng đƣợc nhóm này đƣa ra theo bảng 1.5.
13
Bảng 1.4. Phân loại diễn biến bệnh viêm màng bồ đào theo nhóm nghiên cứu SUN35
Chú thích Đặc điểm Khởi phát Mô tả Đột ngột
Âm ỉ
≤ 3 tháng Thời gian Giới hạn
>3 tháng
Diễn biến Kéo dài Cấp tính Giai đoạn đƣợc đặc trƣng bởi khởi phát cấp tính trong khoảng thời gian giới hạn.
Tái phát
Các đợt tái phát đƣợc cách nhau bởi các giai đoạn bệnh không hoạt động, không cần điều trị ≥ 3 tháng.
Mãn tính
Viêm màng bồ đào kéo dài với các đợt tái viêm xuất hiện trong thời gian < 3 tháng sau khi dừng điều trị.
Bảng 1.5. Thuật ngữ viêm màng bồ đào dựa trên tiêu chí của nhóm nghiên cứu SUN 21
Thuật ngữ Không hoạt động Định nghĩa Độ 0
Nặng lên Tăng 2 mức viêm với tyndall tế bào tiền phòng hoặc với tyndall dịch kính hoặc tăng đến mức tối đa 4+
Cải thiện
Giảm 2 mức viêm với tyndall tế bào tiền phòng hoặc tyndall dịch kính hoặc giảm đến mức không hoạt động viêm
Thoái triển Viêm không hoạt động từ 3 tháng trở lên sau khi ngừng điều trị
1.2. BỆNH VIÊM MÀNG BỒ ĐÀO KHÔNG NHIỄM TRÙNG
Cơ chế bệnh sinh bệnh
1.2.1.
1.2.1.1. Cơ chế bênh sinh chung
Hàng rào máu − mắt là hàng rào giải phẫu giúp ngăn ngừa các tác nhân gây bệnh xâm nhập từ hệ tuần hoàn vào mắt và bảo vệ các tổ chức tại mắt để duy trì thị giác.32 Các báo cáo trƣớc đây đã mô tả các tế bào nằm tại mặt trong của hàng rào máu − mắt, bao gồm các tế bào biểu mô sắc tố võng mạc, tế bào biểu mô mống mắt, và các tế bào biểu mô giác mạc, tham gia vào hệ thống miễn dịch của mắt.38 Một
14
khi hàng rào máu − mắt bị tổn hại, chức năng miễn dịch của mắt có thể bảo vệ mắt bằng cách ức chế các tế bào T gây bệnh. Hơn nữa, các tế bào biểu mô sắc tố võng
mạc và các tế bào nội mô giác mạc có thể chuyển cả các tế bào T CD8+ và các tế
bào T CD4+ thành các tế bào T điều hòa (Treg), trong khi tế bào biểu mô sắc tố mống mắt có thể chuyển các tế bào T CD8+ thành tế bào Treg.38 Nhờ các tế bào Treg tiết ra các cytokine chống viêm mà các đáp ứng miễn dịch gây bệnh tự miễn đƣợc ngăn chặn hoặc loại bỏ.39 Hơn nữa, các tế bào tại mắt có thể biểu hiện các protein đặc biệt (CD59, CD46, FAS/FAS ligand, và TGF-β) để ngăn chặn các phản ứng viêm của mắt bằng cách bất hoạt các tế bào lympho gây bệnh.40,41
Bất chấp hệ thống bảo vệ và đặc quyền miễn dịch tại mắt, tình trạng viêm
nặng và kéo dài có thể vƣợt qua các cơ chế bảo vệ và các hàng rào này để gây bệnh
VMBĐ. VMBĐ tự miễn đƣợc cho là có liên quan đến tình trạng hoạt hóa các tế bào lympho bởi các tác nhân từ vi sinh vật và từ vi môi trƣờng có các vị trí kháng nguyên
chung với tổ chức của võng mạc. Các tế bào lympho nhận ra các kháng nguyên của
võng mạc đóng vai trò trung tâm và các đại thực bào cũng nhƣ các tế bào trình diện
kháng nguyên sản xuất các cytokine và các chemokine trực tiếp gây nên tổn thƣơng
trên võng mạc khi chúng thâm nhiễm vào mắt. Các tổn thƣơng đƣợc tạo nên bởi hiện
tƣợng hóa ứng động trong quá trình giải phóng cytokines tại chỗ (Hình 1.4).
Hình 1.4. Cơ chế bệnh sinh của viêm màng bồ đào không nhiễm trùng Nguồn: Yuhan Su và cộng sự (2022) 42 1.2.1.2. Vai trò của TNF-alpha và các cytokine khác
Nhiều nghiên cứu cho thấy các Interleukin và cytokine đóng vai trò lớn trong
cơ chế bệnh sinh và sự kéo dài của tình trạng viêm nội nhãn.43,44
- Trong VMBĐ vô căn, có tăng nồng độ các cytokine tiền viêm trong dịch nội
nhãn nhƣ TNF-alpha (TNF-α), IL-1, IL-2, IL-6, INF-γ, IL-8 và MCP-1.
15
- Trong bệnh Behcet, có sự tăng cao của các yếu tố miễn dịch TNF-α, IL-2, IL-6, INF-γ. Ngoài ra, Mesquida và cộng sự thấy có mối liên hệ dƣơng tính giữa nồng độ
TNF-α huyết thanh và các giai đoạn tái phát của VMBĐ do bệnh Behcet.
- Trong bệnh sarcoid, nhiều cytokine tiền viêm bao gồm TNF-α, IL-1, IL-6, IL-8, INF-γ và các chemokine nhƣ MIP-1α, MIP-1β đƣợc báo cáo có nồng độ tăng cao trong mẫu dịch kính của mắt VMBĐ do sarcoid so với mắt ngƣời khỏe mạnh.
- Trong hội chứng Vogt−Koynangi−Harada, TNF-α, INF-γ, IL-6, IL-17, và IL-15 đƣợc báo cáo tăng cao trong thủy dịch bệnh nhân mắt VKH so với nhóm
chứng khỏe mạnh.
- Nghiên cứu về bệnh viêm hắc mạc Birdshot, Kuiper và cộng sự thấy có sự tăng cao của nồng độ TNF-α, IL-17, IL-6, IL2, IL-1β trên bệnh nhân mắc bệnh
Birdshot so với nhóm chứng.
- Trong VMBĐ liên kết với HLA-B27, các báo cáo cho thấy có sự tăng cao
của nồng độ TNF-α, IL-2, IL-6 và INF-γ trong nội nhãn.
Qua đó, chúng ta thấy vai trò của các cytokine khác nhau tham gia vào cơ chế
bệnh sinh của các hình thái VMBĐ KNT khác nhau. Đặc biệt, sự có mặt của yếu tố
hoại tử khối u TNF-α trong nhiều hình thái của bệnh VMBĐ KNT. TNF-α là một
cytokine có chức năng tiền viêm và điều hòa miễn dịch, thuộc gia đình các TNF có
trình tự tƣơng đồng. TNF-α đƣợc sản xuất bởi các đại thực bào và các tế bào
lympho. Tại mắt, chúng đƣợc tiết bởi các tế bào vi mô, các tế bào Muller và các tế bào biểu mô sắc tố võng mạc.45 Sau đó, TNF-α đƣợc tổng hợp dƣới dạng xuyên màng (tmTNF-α) nhờ hoạt động của enzyme màng metalloproteinase, còn dạng hòa tan của nó (sTNF) đƣợc giải phóng.46 Các sTNF này có vài trò sinh học quan trọng khi chúng ở dạng tam phân. Nhƣng các tam phân này có cấu trúc không ổn định và
dễ tách ra tự nhiên tạo thành các đơn phân có rất ít hoạt tính sinh học. Việc chuyển
dạng tự nhiên này có thể có vai trò trong điều hòa quá trình viêm gây nên do TNF-
α. Tỷ lệ tái kết hợp của các đơn phân phụ thuộc chủ yếu vào nồng độ đơn phân TNF-α: với nồng độ thấp thì có thể là không đáng kể nhƣng khi nồng độ cao có thể
đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động của cytokine. Các tmTNF và sTNF liên kết chủ yếu với 2 thụ thể: các thụ thể loại I (TNFR-I hoặc p55/CD120a)
và các thụ thể loại II (TNFR-II hay p75). Cả hai receptor này thuộc về họ các TNFR đƣợc xác định nhờ sự tƣơng đồng về trình tự của các phần của liên kết ngoại bào, giàu cysteine.47 sTNF liên kết với hai thụ thể trong khi tmTNF chỉ liên kết với TNFR-II.48 Biểu hiện của TNFR-I là phổ biến. Tùy theo đƣờng hoạt hóa tín hiệu, sự
16
kích thích có thể tạo nên tín hiệu tiền viêm, tín hiệu ức chế sự chết theo chƣơng trình và tín hiệu tăng sinh, hay ngƣợc lại, thúc đẩy hiện tƣợng chết theo chƣơng
trình. Về phía TNFR-II, nó đƣợc biểu biện chủ yếu tại bề mặt các tế bào lympho T
điều hòa. Hoạt động của chúng đóng vai trò chính trong điều hòa hiện tƣợng tiền
viêm gây nên bởi TNFR-I. Vai trò của TNF-α trong bệnh lý tự miễn và đặc biệt là trong bệnh VMBĐ, vẫn còn chƣa rõ ràng. Sinh lý bệnh của VMBĐ phối hợp các
yếu tố tƣơng tự trong các bệnh không đặc hiệu của tổ chức. Trên thực nghiệm, bằng cách tiêm kháng nguyên võng mạc vào động vật gặm nhấm, các nhà khoa học đã
nghiên cứu đƣợc vai trò của TNF-α trong viêm võng mạc – màng bồ đào thực
nghiệm. Ban đầu các TNF-α đƣợc giải phóng bởi các đại thực bào, các tế bào vi mao
và biểu mô sắc tố võng mạc cũng nhƣ các tế bào mast của hắc mạc. Tiếp đó, nó đƣợc
sản xuất bởi các tế bào lympho T thâm nhiễm, các tế bào này kích hoạt sự xâm nhập bạch cầu mới bằng cách kích thích sự biểu hiện của các phân tử kết dính, sự trƣởng
thành và tồn tại của các tế bào gai, kích hoạt của các đại thực bào và của phản ứng tế
bào T loại Th1 trong mô. Trong các VMBĐ thực nghiệm, nồng độ TNF-α trong tổ
chức tăng cao thúc đẩy đáp ứng của các tế bào T và hoạt hóa đại thực bào, làm mất cân
Chẩn đoán viêm màng bồ đào không nhiễm trùng
bằng của vi môi trƣờng cytokine, gây phá hủy tổ chức. Điều trị thuốc kháng TNF-α sẽ làm giảm sự mất cân bằng này.45 Ở ngƣời, tỷ lệ TNF-α nội nhãn tăng lên trong VMBĐ. Trên bệnh nhân mắc VMBĐ, hiệu quả của thuốc kháng TNF-α cũng kết hợp với thay đổi thành phần lympho T CD4 trong máu ngoại vi sau mỗi lần điều trị.46 1.2.2. 1.2.2.1. Ch n đoán xác định bệnh viêm màng bồ đào
Viêm màng bồ đào không nhiễm trùng là bệnh lý tại mắt đáp ứng qua trung gian miễn dịch, có thể kết hợp với bệnh lý toàn thân chẳng hạn nhƣ bệnh viêm ruột
và sarcoid. Bênh nhân mắc VMBĐ không nhiễm trùng có nguy cơ tiến triển thành
Glôcôm, đục thủy tinh thể, giảm thị lực, bong võng mạc và các rối loạn khác của
võng mạc, cũng nhƣ khiếm thị.
Chẩn đoán nguyên nhân gây viêm màng bồ đào nhiều khi là thách thức với các
nhà lâm sàng. Việc chẩn đoán và xử trí các bệnh nhân có VMBĐ không nhiễm trùng thƣờng đòi hỏi sự phối hợp đa chuyên khoa. Đặc biệt sự phối hợp chặt chẽ
giữa các bác sỹ nhãn khoa với bác sỹ nội khoa, những ngƣời đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và đƣa ra phƣơng pháp xử trí phù hợp cho những bệnh nhân
mắc các bệnh hệ thống, từ đó mang lại lợi ích lâu dài cho bệnh nhân.
17
Các trƣờng hợp viêm màng bồ đào đều cần đƣợc khai thác kỹ triệu chứng cơ năng tại mắt và toàn thân phối hợp, bệnh sử, tiền sử bản thân gia đình bệnh nhân,
các yếu tố kinh tế xã hội, các yếu tố dịch tễ liên quan. Thăm khám toàn thân sẽ giúp
phát hiện những triệu chứng bên ngoài mắt có liên quan và gợi ý đến bệnh toàn thân
Bạc lông, tóc Rụng tóc
Bạch biến trên da
kèm theo (Bảng 1.6)
Ban đỏ dạng nốt sần dƣới da ở chi dƣới Phát ban
Vảy da
Bệnh viêm mạch; Lupus ban đỏ hệ thống; bệnh Behcet; Giang mai. Lupus ban đỏ hệ thống; Viêm khớp vảy nến; Giang mai; Hội chứng Reiter. Lupus ban đỏ hệ thống; Sarcoid; Phong; Lao. Viêm khớp vảy nến; hội chứng Reiter, viêm mạch Bệnh Behcet, hội chứng Reiter, giang mai.
Tổn thƣơng dạng đĩa Bất thƣờng móng Tổn thƣơng miệng và sinh dục Loét miệng đơn thuần Tiết dịch niệu đạo
Viêm mào tinh hoàn Viêm tiền liệt tuyến Viêm thận Đau khớp hoặc viêm khớp Mất sụn Biểu hiện mũi họng bao gồm viêm xoang Viêm bang quang Hạch lympho Bệnh thị thần kinh
Mất nghe Triệu chứng hô hấp Viêm ruột Sốt
Hội chứng Lupus ban đỏ; Bệnh viêm ruột Hội chứng Reiter; Bệnh giang mai; Herpes simplex; Viêm niệu đạo do tụ cầu. Bệnh behcet; Lao Hội chứng Reiter; Viêm cột sống dính khớp; Bệnh lậu Viêm mạch (U hạt Wegener; Lupus, Behcet); Sarcoid; Lao. Viêm cột sống huyết thanh âm tính; Viêm khớp dạng thấp thiếu niên; Behcet; Sarcoid; Lupus; Viêm đa sụn; Phản ứng phong Viêm đa sụn; Giang mai; Bệnh lậu; Phong; U hạt Wegener. U hạt Wegener; Sarcoid; Bệnh Whipple; Bệnh mucomycosis. Bệnh Whipple và bệnh Reiter. Lao; Sarcoid; U lympho Phong; Herpes zoster; Sarcoid; Xơ cứng rải rác; Giang mai; Sarcoid. Vogt – Koyanagi - Harada; Sarcoid. Lao; Sarcoid; U hạt Wegener. Bệnh whipple; Bệnh crohn; Viêm loét trực tràng. Bệnh mạch collagen; Lao; Leptospirosis.
Bảng 1.6. Các triệu chứng toàn thân phối hơp VMBĐ không nhiễm trùng49 Hội chứng Vogt Koyanagi Harada, nhãn viêm giao cảm Lupus ban đỏ hệ thống; Hội chứng Vogt – Koyanagi - Harada; Giang mai Phong; Nhãn viêm giao cảm; Hội chứng Vogt - Koyanagi - Harada Bệnh viêm ruột, Sarcoid; Lao; Bệnh Behcet
18
Thăm khám tại mắt cần đƣợc tiến hành tỉ mỉ, từ trƣớc ra sau bao gồm giác
mạc, tiền phòng, góc tiền phòng, mống mắt, thủy tinh thể, thăm khám bán phần sau
sau khi tra giãn đồng tử để đánh giá tính chất và mức độ viêm của dịch kính, võng
mạc, hắc mạc, gai thị. Sau khi thăm khám mắt, bác sỹ nhãn khoa sẽ đƣa ra chẩn
đoán sơ bộ trong đó có hình thái và đặc điểm của viêm màng bồ đào, từ đó giúp
định hƣớng đến các nguyên nhân gây bệnh và định hƣớng các thăm khám cận lâm
sàng tiếp theo.
1.2.2.2. Ch n đoán phân biệt viêm màng bồ đào không nhiễm trùng
Các nguyên nhân gây VMBĐ có thể do nhiễm trùng, bệnh tự miễn hoặc bệnh
tự viêm. Đây cũng là các mối đe dọa cho tiên lƣợng thị lực.
Giả viêm màng bồ đào có thể bắt chiếc hình thái VMBĐ và bao gồm nguyên
nhân ngoại sinh (nhiễm trùng sau phẫu thuật mắt hoặc sau chấn thƣơng) hoặc
nguyên nhân viêm nội nhãn nội sinh (nhiễm khuẩn huyết…), u lympho dịch kính
võng mạc (nguyên phát hoặc thứ phát từ lympho hệ thần kinh trung ƣơng) và các
trƣờng hợp u khác bao gồm hội chứng cận ung thƣ, u nguyên bào võng mạc và
leucemia. Loạn dƣỡng võng mạc di truyền và một số các bệnh hiếm gặp khác (nhƣ
các bệnh võng mạc tự miễn, các bệnh dịch kính võng mạc, bệnh thoái hóa tinh bột –
amyloidosis…) cũng nên đƣợc cân nhắc đƣa vào chẩn đoán phân biệt. Ngoài ra, dị vật nội nhãn cũng là một chẩn đoán phân biệt khác.32,33,50
Trƣờng hợp nghi ngờ giả VMBĐ cần nhanh chóng đƣợc chẩn đoán dựa vào
các xét nghiệm dịch tiền phòng hoặc sinh thiết dịch kính. Với các trƣờng hợp viêm
nội nhãn cần tiến hành các xét nghiệm vi sinh vật và/hoặc nấm dựa trên kỹ thuật
PCR. Với trƣờng hợp nghi ngờ u lympho, chẩn đoán xác định dựa trên xét nghiệm
tế bào học tìm tế bào bất thƣờng trong dịch nội nhãn, đồng thời có thể tính chỉ số IL10/IL6 trong dịch nội nhãn. 32,33,50
Bệnh võng mạc cận ung thƣ là tình trạng mắt kết hợp với bệnh lý ác tính ngoài
mắt, trong đó có hình thành các kháng thể tự miễn chống lại các protein của võng
mạc. Các bất thƣờng trên điện võng mạc (giảm hoặc mất đáp ứng tế bào nón và tế
bào que) cũng nhƣ các thăm khám lâm sàng/chẩn đoán hình ảnh đƣợc đề xuất bởi
các bác sỹ nội khoa hoặc ung bƣớu sẽ hữu ích cho việc chẩn đoán phân biệt với ung
thƣ biểu mô, hội chứng bệnh võng mạc kết hợp với ung thƣ (Cancer-Associated
Retinopathy) và hội chứng bệnh võng mạc kết hợp với ung thƣ hắc tố bào (Melanome-Associated Retinopathy). 32,33,50
19
Viêm màng bồ đào nhiễm trùng do virus, vi khuẩn, ký sinh trùng hoặc hiếm
hơn là nấm. Căn nguyên nhiễm trùng cần đƣợc nghi ngờ ngay từ đầu dựa trên các
triệu chứng của VMBĐ và các dấu hiệu nhiễm trùng đồng thời ngoài mắt. Ngoài ra,
bất kỳ hình thái VMBĐ nào kháng lại thuốc chống viêm hoặc/và các thuốc điều hòa
miễn dịch/ức chế miễn dịch cần đƣợc xem xét lại để loại trừ nguyên nhân nhiễm trùng tiềm tàng.32,33,50 1.2.2.3. Một số hình thái viêm màng bồ đào không nhiễm trùng thường gặp
a. Bệnh sarcoid
Bệnh sarcoid là rối loạn viêm hệ thống không rõ nguyên nhân, ảnh hƣởng đến
nhiều cơ quan trong đó có mắt. Bệnh đƣợc đặc trƣng bởi phản ứng viêm dạng u hạt
không hoại tử. Mặc dù tổn thƣơng tại phổi là thƣờng gặp nhất (90%), tổn thƣơng tại
mắt có thể chiếm đến 50% trƣờng hợp và viêm màng bồ đào là biểu hiện thƣờng gặp
nhất. Bệnh sarcoid phân bố khắp nơi trên thế giới và ảnh hƣởng đến tất cả các chủng
tộc; cao nhất là ở các nƣớc Bắc Âu (40 ca trên 100000 ngƣời dân). Bệnh thƣờng khởi phát ở lứa tuổi từ 20 đến 50 tuổi, với tỷ lệ mắc ngang nhau giữa hai giới.51
Hình 1.5. Tủa sau giác mạc dạng mỡ Hình 1.6. U hạt góc tiền phòng trên
cừu trên bệnh nhân sarcoid bệnh nhân sarcoid
Nguồn: Whitcup and Nussenblatt’s Uveitis Fundamentals and Clinical Practice (2022)33
Chẩn đoán sarcoid tại mắt dựa trên sự kết hợp giữa các dấu hiệu lâm sàng tại mắt
và kết quả của các thăm dò toàn thân. Năm 2009, hội thảo quốc tế về bệnh Sarcoid đã
đề ra tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế cho bệnh Sarcoid. Các tiêu chuẩn này đã đƣợc cập nhật sửa đổi và bồ sung gần đây nhất vào năm 2021 (Bảng 1.7).51
20
I.
Loại trừ các nguyên nhân khác gây viêm màng bồ đào dạng hạt
II. Các dấu hiệu lâm sàng gợi ý bệnh Sarcoid tại mắt:
1. Tủa sau giác mạc dạng mỡ cừu (to và nhỏ) và/hoặc ở bờ đồng tử (Koeppe)
hoặc trong nhu mô (Busacca)
2. Nốt viêm vùng bè hoặc dính góc tiền phòng dạng lều
3. Đục dịch kính dạng bóng tuyết hoặc vòng ngọc trai
4. Nhiều tổn thƣơng hắc võng mạc chu biên (thể teo và thể hoạt động)
5. Viêm quanh tĩnh mạch dạng nốt và/hoặc từng đoạn (±giọt sáp nến) và/hoặc
các đại phình mạch ở mắt viêm.
6. Một hoặc nhiều u hạt viêm gai thị và/hoặc nốt viêm hắc mạc đơn độc
7. Hai mắt (đánh giá bởi thăm khám nhãn khoa bao gồm chẩn đoán hình ảnh
tại mắt cho thấy viêm tiềm tàng)
III. Thăm khám toàn thân hƣớng đến nghi ngờ bệnh mắt do Sarcoid:
1. Bệnh hạch rốn phổi trên chụp phim X-Quang và/hoặc chụp Cắt lớp vi tính
phổi
2. Test lảy da âm tính hoặc xét nghiệm Gamma interferon âm tính
3. Tăng enzyme chuyển Angiotensin trong huyết thanh
4. Tăng lysozyme huyết thanh
5. Tăng tỷ lệ CD4/CD8 (>3,5) trong dịch rửa phế quản
6. Lắng đọng bất thƣờng trên hình ảnh chụp cắt lớp phát xạ gallium-67 hoặc
chụp cắt lớp phát xạ 18F - fluoreodeoxyglucose
7. Giảm tế bào lympho máu
8. Tổn thƣơng nhu mô phổi phù hợp với chẩn đoán Sarcoid, đƣợc khẳng định
bởi các chuyên gia hô hấp hoặc chẩn đoán hình ảnh.
IV.Tiêu chuẩn chẩn đoán:
- Khẳng định bệnh Sarcoid mắt: chẩn đoán đƣợc khẳng định nhờ kết quả sinh
thiết kèm theo hình thái viêm màng bồ đào tƣơng ứng.
- Khả năng là bệnh Sarcoid mắt: chẩn đoán không đƣợc khẳng định nhờ kết quả
sinh thiết, nhƣng có bệnh hạch rốn phổi kèm theo 2 dấu hiệu lâm sàng tại mắt.
- Có thể là bệnh Sarcoid: chẩn đoán không đƣợc khẳng định nhờ kết quả sinh
thiết và không có bệnh hạch rốn phổi, nhƣng có 3 tiêu chí trong mục dấu hiệu
lâm sàng tại mắt và 2 tiêu chí trong mục thăm khám toàn thân.
Bảng 1.7. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Sarcoid tại mắt
21
Hình 1.7. Lồng bao quanh tĩnh mạch Hình 1.8. U hạt hắc mạc trên bệnh
trên bệnh nhân sarcoid. nhân sarcoid.
Nguồn: Whitcup and Nussenblatt’s Uveitis Fundamentals and Clinical
33
Practice (2022)
b. Bệnh Vogt−Koyanagi−Harada
Hội chứng Vogt−Koyanagi−Harada là bệnh đa cơ quan có nguyên nhân tự
miễn, đƣợc đặc trƣng bởi tình trạng viêm màng bồ đào toàn bộ dạng hạt, tỏa lan, hai
mắt, mãn tính kèm theo tổn thƣơng của da, thần kinh, và thính giác. Bệnh thƣờng
gặp ở các chủng tộc ngƣời da màu, bao gồm ngƣời châu Á. Ở Việt Nam, theo
tác giả Nguyễn Mỹ Hạnh, tỷ
lệ mắc hội chứng nghiên cứu của Vogt−Koyanagi−Harada là 18,4% trong các nguyên nhân gây viêm màng bồ đào.2,52 Biểu hiện lâm sàng của hội chứng VKH cũng khác nhau tùy theo giai đoạn
bệnh. Giai đoạn tiền triệu đƣợc đánh dấu bởi các triệu chứng dạng cúm. Một vài
ngày trƣớc khởi phát triệu chứng tại mắt, ngƣời bệnh có thể xuất hiện đau đầu, buồn
nôn, viêm màng não, chứng khó đọc, ù tai, sốt, đau hốc mắt, sợ ánh sáng, tăng dị
cảm da khi sờ chạm. Giai đoạn viêm màng bồ đào cấp tính đƣợc báo trƣớc bằng sự
xuất hiện tình trạng nhìn mờ lần lƣợt ở cả hai mắt, 1–2 ngày sau khi xuất hiện các
dấu hiệu thần kinh trung ƣơng và đƣợc đánh dấu bằng tình trạng viêm màng bồ đào
trƣớc dạng hạt, viêm dịch kính ở nhiều mức độ khác nhau, dày hắc mạc sau, phù nề
của dây thần kinh thị giác và nhiều bọng bong võng mạc thanh dịch. Giai đoạn hồi
phục xảy ra một số tuần sau đó và đƣợc đánh dấu bởi sự cải thiện của tình trạng
bong võng mạc xuất tiết và mất dần sắc tố của hắc mạc, dẫn đến tổn thƣơng đáy
mắt hoàng hôn. Các thay đổi, bao gồm bệnh bạch biến, rụng tóc, bạc lông, điển hình
22
xuất hiện trong giai đoạn hồi phục chiếm khoảng 30% ngƣời bệnh tƣơng ứng với tiến
triển của tình trạng mất sắc tố đáy mắt. Giai đoạn mãn tính đƣợc đánh dấu bởi sự tái
phát của viêm màng bồ đào trƣớc dạng hạt, với tủa sau giác mạc, dính mống mắt
vào thủy tinh thể, nốt mống mắt, mất sắc tố mống mắt và teo nhu mô. Viêm màng
bồ đào sau tái phát hiếm gặp ở giai đoạn này. Di chứng giảm thị lực do bệnh tiến
triển mãn tính và bao gồm đục thủy tinh thể dƣới bao sau, tăng nhãn áp, tân mạch
hắc mạc và xơ dƣới võng mạc.
Năm 2021, Nhóm nghiên cứu chuẩn hóa danh pháp bệnh Viêm màng bồ đào
(gọi tắt là SUN) đã đƣa ra Tiêu chuẩn phân loại bệnh VKH nhƣ trình bày trong
bảng 1.8. Theo đó, bệnh VKH đƣợc chia thành bệnh VKH giai đoạn sớm và bệnh VKH giai đoạn muộn (Bảng 1.8).52
Bảng 1.8. Tiêu chuẩn phân loại bệnh VKH
Tiêu chu n phân loại Giai đoạn sớm bệnh Vogt−Koyanagi−Harada
Tiêu chuẩn (Chẩn đoán đòi hỏi #1 hoặc #2 VÀ #3)
1.Bằng chứng bệnh Harada
a. Bong võng mạc thanh dịch (xuất tiết) VÀ (b và/hoặc c)
b. Hình thái đọng thuốc đa thùy trên chụp mạch huỳnh quang HOẶC
c. Hình ảnh vách trong các bọng bong thanh dịch võng mạc trên chụp cắt lớp
võng mạc OCT
HOẶC 2.Viêm màng bồ đào toàn bộ a với ≥ 2 dấu hiệu hoặc triệu chứng thần kinh b sau đây:
a. Đau đầu HOẶC
b. Ù tai HOẶC
c. Chứng khó đọc HOẶC
d. Viêm màng não HOẶC
e. Tăng lympho trong dịch não tủy
AND
3.Không có tiền sử chấn thƣơng xuyên nhãn cầu hoặc phẫu thuật dịch kính võng
mạc trƣớc khi khởi phát bệnh
Các tiêu chu n loại trừ
1. Huyết thanh với giang mai dƣơng tính sử dụng xét nghiệm tìm kháng thể giang
mai đặc hiệu
23
2. Bằng chứng bệnh sarcoid (hoặc có hạch rốn phổi hai bên trên phim chụp ngực
hoặc kết quả sinh thiết tổ chức có tổn thƣơng viêm dạng u hạt không hoại tử) a Viêm màng bồ đào cần có bằng chứng tổn thƣơng hắc mạc trên thăm khám lâm sàng, chụp mạch huỳnh quang, chụp mạch với Indocyanin, hoặc chụp cắt lớp
võng mạc bằng OCT bao gồm chụp hắc mạc với chế độ tăng cƣờng độ sâu (EDI). b Thời điểm khởi phát của các triệu chứng thần kinh cơ năng và thực thể và thời điểm khởi phát của viêm màng bồ đào nên xuất hiện trong vòng 4 tuần.
Tiêu chu n phân loại cho bệnh Vogt−Koyanagi−Harada giai đoạn muộn
Tiêu chí
1.Tiền sử bệnh Vogt−Koyanagi−Harada
VÀ (#2 và/hoặc #3)
2.Tổn thƣơng đáy mắt dạng hoàng hôn
HOẶC
3.Viêm màng bồ đào* VÀ ≥ 1 triệu chứng ngoài da sau đây
a. Bệnh bạch biến HOẶC
b. Bạc lông HOẶC
c. Rụng tóc
Các tiêu chu n loại trừ
1. Huyết thanh với giang mai dƣơng tính sử dụng xét nghiệm tìm kháng thể giang
mai đặc hiệu.
2.Bằng chứng bệnh sarcoid (hoặc có hạch rốn phổi hai bên)
*Viêm màng bồ đào có thể: 1) Viêm màng bồ đào trƣớc mãn tính; 2) Viêm màng
bồ đào trƣớc và trung gian; 3) viêm màng bồ đào toàn bộ kèm viêm hắc mạc đa ổ
(các nốt dạng Dalen Fuchs)
c. Bệnh Behcet
Bệnh Behcet là một bệnh lý viêm hệ thống, mãn tính, tái phát, không rõ
nguyên nhân, điển hình với tam chứng loét miệng, loét đƣờng sinh dục và viêm
màng bồ đào. Bệnh thƣờng gặp ở các nƣớc dọc theo con đƣờng Tơ lụa cũ trải dài từ
phƣơng Tây sang phƣơng Đông, từ Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ đến Trung Quốc, Hàn
Quốc, Nhật Bản và trong đó có Việt Nam. Nam giới mắc viêm màng bồ đào do
bệnh Behcet cao hơn nữ giới và bệnh có thể đặc biệt nặng ở nam giới trẻ tuổi từ 15- 25 tuổi.53
24
Chẩn đoán bệnh Behcet là chẩn đoán lâm sàng và không có xét nghiệm đặc
hiệu nào giúp chẩn đoán xác định bệnh. Trong vòng 50 năm qua có nhiều hệ thống
tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đƣợc đề xuất (Bảng 1.9)
Bảng 1.9. Hệ thống chẩn đoán bệnh Behcet
(Nhóm nghiêm cứu quốc tế về bệnh Behcet)
Loét miệng tái phát (ít nhất 3 lần một năm) cộng với 2 trong số các tiêu chuẩn sau:
1. Loét sinh dục tái phát
2. Viêm nội nhãn
3. Các tổn thƣơng da
4. Dƣơng tính với test pathegy ở da
Năm 2021, nhóm nghiên cứu chuẩn hóa danh pháp bệnh viêm màng bồ đào đã
đƣa ra Tiêu chuẩn phân loại bệnh viêm màng bồ đào Behcet (Bảng 1.10).53 Bảng 1.10. Tiêu chẩn phân loại bệnh viêm màng bồ đào Behcet
1.Hội chứng viêm màng bồ đào phù hợp
a. Viêm màng bồ đào trƣớc
b. Viêm màng bồ đào trƣớc và trung gian
c.Viêm màng bồ đào sau kèm theo viêm mạch võng mạc và/hoặc thâm nhiễm viêm
võng mạc khu trú*
d.Viêm màng bồ đào toàn bộ kèm viêm mạch võng mạc và/hoặc thâm nhiễm viêm
võng mạc khu trú*
VÀ
2.Chẩn đoán bệnh Behcet sử dụng Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Behcet của nhóm
nghiên cứu quốc tế về bệnh Behcet
Các tiêu chuẩn loại trừ
1.Huyết thanh với giang mai dƣơng tính sử dụng xét nghiệm tìm kháng thể giang
mai đặc hiệu
2.Bằng chứng bệnh sarcoid (hoặc có hạch rốn phổi hai bên trên phim chụp ngực
hoặc kết quả sinh thiết tổ chức có tổn thƣơng viêm dạng u hạt không hoại tử)
*Viêm màng bồ đào sau hoặc viêm màng bồ đào toàn bộ kèm viêm hắc mạc không
tƣơng ứng với hinh thái viêm màng bồ đào trong bệnh Behcet.
25
d. Viêm màng bồ đào trƣớc mãn tính
Tình trạng viêm màng bồ đào trƣớc kéo dài và tái phát dƣới 3 tháng sau khi
ngừng điều trị đƣợc gọi là viêm màng bồ đào trƣớc mãn tính.
Bệnh viêm khớp thiếu niên vô căn (JIA) là rối loạn toàn thân thƣờng gặp nhất đi kèm viêm màng bồ đào trƣớc ở trẻ em. Bệnh điển hình với viêm khớp khởi phát trƣớc 16 tuổi và kéo dài ít nhất 6 tuần.54
Tuổi trung bình khởi phát viêm màng bồ đào trên bệnh nhân JIA là 6 tuổi.
Viêm màng bồ đào thƣờng xuất hiện trong vòng 5 đến 7 năm khởi phát viêm khớp. Thƣờng có ít hoặc không có liên quan giữa mức độ nặng hoặc thời gian viêm khớp và viêm màng bồ đào. Các yếu tố nguy cơ cho tiến triển mãn tính của viêm màng bồ
đào trên bệnh nhân JIA bao gồm giới tính nữ, khởi phát thể viêm ít khớp, và có kháng thể ANA dƣơng tính. Hầu hết bệnh nhân âm tính với yếu tố dạng thấp.55
Mắt bệnh nhân thƣờng không có cƣơng tụ. Các triệu chứng cơ năng có thể bao
gồm đau từ mức độ nhẹ đến trung bình, sợ ánh sáng và nhìn mờ, mặc dù hầu hết
bệnh nhân không có triệu chứng. Bệnh thƣờng đƣợc phát hiện tình cờ khi thăm
khám sàng lọc mắt. Các triệu chứng thực thể bao gồm tủa bụi sau giác mạc, bệnh
giác mạc dải băng, flare và tế bào viêm tiền phòng, dính mống mắt thủy tinh thể, và
đục thủy tinh thể. Bệnh nhân nghi ngời JIA cần đƣợc xét nghiệm tìm ANA và đƣợc
khám bởi bác sỹ khớp bởi vì bệnh khớp có thể nhẹ hoặc không biểu hiện ở thời điểm chẩn đoán viêm màng bồ đào. 54,56 1.3. Điều trị viêm màng bồ đào không nhiễm trùng trên thế giới và tại Việt Nam 1.3.1.
Mục tiêu điều trị Mục tiêu của điều trị chống viêm trong bệnh VMBĐ bao gồm:17,57–59 - Kiểm soát nhanh tình trạng viêm tại mắt để hạn chế tối đa các tổn hại cấu trúc không phục hồi và bảo tồn chức năng thị giác. Việc kiểm soát viêm nhanh chóng đặc
biệt cần thiết trong các trƣờng hợp có đe dọa hoàng điểm và/hoặc bệnh lý thị thần kinh do viêm. Điều trị đƣợc coi là hiệu quả nếu giảm đƣợc các tế bào viêm tiền phòng và/hoặc viêm dịch kính từ +2 độ viêm hoặc nếu hết hẳn tình trạng VMBĐ.
- Dự phòng tái phát VMBĐ, từ đó dự phòng các biến chứng của VMBĐ gây ra. - Xử trí hiệu quả các tổn thƣơng tại mắt và ngoài mắt trong trƣờng hợp
VMBĐ kết hợp với bệnh lý tự miễn hoặc bệnh tự viêm toàn thân.
- Hạn chế sử dụng corticosteroid toàn thân kéo dài nhằm hạn chế các tác dụng phụ liên quan đến chuyển hóa, nhiễm trùng, bệnh lý tim mạch, và ảnh hƣởng
đến sự tăng trƣởng ở trẻ em…
26
- Tối ƣu hóa giữa yếu tố hiệu quả-nguy cơ và tăng cƣờng sự hợp tác của bệnh
nhân. Cân bằng giữa lợi ích của điều trị chống viêm (phục hồi thị lực mong đợi, số
thuốc điều trị) và nguy cơ cần đƣợc đánh giá chặt chẽ bằng sự phối hợp với các bác
sỹ nội khoa, xƣơng khớp và/hoặc nhi khoa.
VMBĐ KNT có thể đƣợc đánh giá dựa trên sự thay đổi mức độ viêm bán phần
trƣớc và viêm dịch kính. Viêm bán phần trƣớc (mức độ tyndall tế bào tiền phòng)
đƣợc đánh giá theo thang điểm từ 0 đến 4+ theo tiêu chuẩn của SUN, theo đó điểm càng cao tƣơng ứng với mức độ bệnh càng nặng. 35 Tình trạng viêm của dịch kính (chằng hạn độ mờ dịch kính) đƣợc đánh giá theo thanh điểm 0 đến 4+ theo tiêu chí
của Viện Mắt quốc gia Hoa Kỳ đƣợc chỉnh sửa bởi nhóm nghiên cứu SUN, theo đó điểm càng cao thì mức độ viêm càng nhiều. 36 Các bằng chứng về viêm khác nhƣ tăng số lƣợng tổn thƣơng viêm trên hắc mạc và/hoặc võng mạc, theo đó số tổn
thƣơng viêm tăng lên tƣơng ứng với mức độ bệnh tăng lên. Thị lực cũng là kết quả có thể đo lƣờng trong các nghiên cứu về VMBĐ .35 Thị lực có thể đƣợc đánh giá sử dụng thang điểm LogMAR ETDRS, theo đó logMAR bằng 0 tƣơng đƣơng với thị
lực 20/20 ở thang điểm Snellen.
Phác đồ điều trị tăng dần cho bệnh nhân viêm màng bồ đào không nhiễm trùng
là (1) corticosteroid tại chỗ (đặc biệt cho viêm màng bồ đào trƣớc), (2) điều trị toàn
thân với corticosteroid liều thấp (nhƣ prednisone) hoặc uống liều cao hoặc truyền
tĩnh mạch với trƣờng hợp bệnh nhân VMBĐ nặng, (3) điều hòa miễn dịch toàn thân
(nhƣ thuốc ức chế tế bào T, thuốc chống chuyển hóa), và (4) các thuốc sinh học (nhƣ adalimumab hoặc infliximab).60 Lựa chọn điều trị sẽ phụ thuộc vào hình thái lâm sàng của VMBĐ KNT (chẳng hạn giai đoạn cấp, giai đoạn bùng phát hoặc mãn
tính). Điều trị tấn công bằng corticosteroid liều cao thƣờng đƣợc áp dụng trong thời
gian ngắn ở giai đoạn VMBĐ cấp. Trong khi đó, kế hoạch điều trị nhằm kiểm soát
viêm với liều corticosteroid thấp nhất có thể để giảm các tác dụng phụ sẽ đƣợc áp
dụng trên bệnh nhân có các đợt VMBĐ tái phát hoặc VMBĐ mãn tính.
1.3.2. Điều trị nội khoa
1.3.2.1. Thuốc corticosteroid
Corticosteroid là thuốc điều trị đầu tay và là tiêu chuẩn vàng trong điều trị bệnh lý viêm màng bồ đào.61 Ƣu điểm của thuốc là tác dụng giảm viêm nhanh, giá thành thấp so với các phƣơng pháp điều trị khác, và ít gặp các biến chứng cấp tính.61 Nhìn chung, corticosteroid tại chỗ thƣờng đủ để kiểm soát hầu hết các trƣờng
27
hợp VMBĐ trƣớc. Điều trị corticosteroid toàn thân đƣợc chỉ định trong VMBĐ sau và VMBĐ toàn bộ.62 Với VMBĐ trung gian vô căn, điều trị corticosteroid cạnh nhãn cầu là lựa chọn hàng đầu trên bệnh nhân có giảm thị lực dƣới 20/40 do biến
chứng phù hoàng điểm, mờ đục dịch kính và viêm mạch võng mạc, corticosteroid
đƣờng uống đƣợc lựa chọn nhƣ điều trị thay thế với trƣờng hợp bệnh không đáp ứng điều trị hoặc bệnh nặng ở hai mắt.63 Tuy nhiên, hạn chế của điều trị corticosteroid chính là các tác dụng phụ tại mắt và toàn thân khi sử dụng thuốc kéo dài.4 Nhìn chung, corticosteroid đƣờng uống liều cao đƣợc duy trì không quá 1 tháng trƣớc khi bắt đầu hạ liều, và liều prednisone duy trì kéo dài nên dƣới 10
mg/ngày. Bệnh nhân cần đƣợc theo dõi sát tác dụng phụ trong quá trình điều trị.
Hiện nay, kiểm soát VMBĐ KNT không cần corticosteroid là một trong những mục
tiêu chính cần đạt đƣợc với các bác sỹ nhãn khoa.
Hơn nữa, sự phát triển của các thuốc corticosteroid mới có thể tách rời tác
dụng phụ toàn thân với hiệu quả kháng viêm tại chỗ sử dụng thiết kế hậu chuyển hóa vẫn là mục tiêu quan trọng trong ngành công nghiêp dƣợc phẩm.62 Loterprednol etabonate và rimexolne đƣợc phát triển bởi cách tiếp cận này và cho
thấy ít tác dụng phụ gây glôcôm. Chẳng hạn, trên thực hành lâm sàng, Lotemax
(0,5% Loteprednol Etabonate Ophthalmic Suspension, Bausch & Lomb, Inc.,
Rochester, New York, USA) thƣờng đƣợc sử dụng thay thế Pred Forte (1%
Prednisolone Acetate Ophthalmic Suspension, Allergan, Inc., Irvine CA, USA) trên
bệnh nhân có nguy cơ hoặc đã có biến chứng tăng nhãn áp do thuốc.
Các thuốc ức chế miễn dịch đƣợc sử dụng trong điều trị VMBĐ không nhiễm
trùng nhằm giảm liều thuốc corticosteroid trên những bệnh nhân cần điều trị chống
viêm kéo dài. Vì các thuốc này không có khả năng ức chế hệ thống miễn dịch ngay
lập tức mà thƣờng cần một vài tuần để thuốc có hiệu lực, nên thƣờng đƣợc điều trị
phối hợp với corticosteroid liều cao trong giai đoạn cấp của viêm màng bồ đào
nặng. Cùng với việc điều trị thuốc ức chế miễn dịch, ngƣời ta hi vọng có thể giảm liều
thậm chí dừng hẳn corticosteroid trong kiểm soát các bệnh lý viêm mãn tính. Hay nói
cách khác khi điều trị phối hợp thuốc ức chế miễn dịch với corticosteroid, sẽ có nhiều
bệnh nhân đƣợc kiểm soát bệnh lý viêm ở liều thấp corticosteroid đồng thời với ít chịu tác dụng phụ của corticosteroid.4 Ngoài ra, trên những bệnh nhân có kháng thuốc corticosteroid, các thuốc ức chế miễn dịch có thể đóng vai trò quan trọng hơn trong kiểm soát bệnh lý viêm và đôi khi đây là phƣơng pháp điều trị cứu cánh.64
28
1.3.2.2. Thuốc ức chế miễn dịch
Các thuốc ức chế miễn dịch có thể đƣợc chia thành nhóm thuốc chống chuyển hóa,
thuốc ức chế tế bào T và thuốc ankyl hóa. Các thuốc chống chuyển hóa bao gồm
azathioprine (Imuran; Faro, Bedminster, New Jersey), methotrexate (Rheumatrex;
Lederle Laboratories, Wayne, New Jersey) và mycophenolate mofetyl (Cellcept; Roche,
Basel, Switzerland). Các thuốc ức chế tế bào T bao gồm cyclosporine (Sandimmune và
Neoral; Novartis, Basel, Switzerland and SangCya; Sangstar, Fremont, California) và
tacrolimus (Prograf; Fujisawa, Osaka, Japan). Các thuốc ankyl hóa bao gồm
cyclophosphamide (Cytoxane; Bristol Myers/Squibb, New York, New York) và
chlorambucil (Leukeran; Glaxo Welcome, Middlesex, United Kingdom). Vì hầu hết các
thuốc này phải mất vài tuần để cho thấy hiệu quả điều trị, nên khi bắt đầu điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch sẽ cần phối hợp cùng thuốc corticosteroid liều cao.4,65
Có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến việc lựa chọn loại thuốc ức chế miễn dịch toàn
thân trong điều trị VMBĐ, bao gồm kinh nghiệm của bác sỹ điều trị, khả năng tiếp
cận thuốc, hiệu quả, độ an toàn/khả năng dung nạp thuốc, sự tuân thủ của bệnh nhân, giá thành cũng nhƣ các khuyến cáo từ các bác sỹ nội khoa và nhi khoa.66,67 Theo một thống kê trong nghiên cứu của Andrew và cộng sự, các thuốc điều hòa
miễn dịch đƣợc khuyến cáo (Khuyến cáo mức độ B) về hiệu quả điều trị đối với
bệnh lý VMBĐ không nhiễm trùng bao gồm mycophenolate mofetil (EL 2B),
tacrolimus (EL 2B), cyclosporine (EL 2B), azathioprine(EL 2B) và methotrexate (EL 2B).65 Một khảo sát gần đây trên các thành viên của Hiệp hội bệnh lý Viêm màng bồ đào Hoa Kỳ cho thấy phần lớn những ngƣời trả lời đều chọn methotrexate
nhƣ lựa chọn đầu tiên trong số các thuốc giúp giảm liều corticosteroid trong điều trị
bệnh lý VMBĐ không nhiễm trùng trên ở cả 3 nhóm phân loại VMBĐ (trƣớc, trung gian và sau hoặc toàn bộ), tiếp đến là mycophenolate mofetil.66 Hai yếu tố quan trọng nhất ảnh hƣởng đến các lựa chọn của những ngƣời trả lời khảo sát là độ an
toàn/sinh khả dụng và hiệu quả, bên cạnh các yếu tố khác. Nhiều thuốc ức chế miễn
dịch đã đƣợc nghiên cứu đánh giá hiệu quả trong điều trị VMBĐ không nhiễm
trùng. Các dữ liệu với các thuốc thƣờng đƣợc sử dụng và điều trị nhiều nhất sẽ đƣợc
trình bày dƣới đây, bao gồm methotrexate, azathioprine, mycophenolate mofetyl.
a. Methotrexate
Methotrexate (MTX) là chất hóa học tƣơng tự axit folic, có vai trò ức chế men
dihydrofolate reductase - là một enzym phụ trách chuyển dihydrofolate thành
29
tetrahydrofolate. Từ đó MTX ức chế tổng hợp thymidylate, một thành phần chủ yếu
của quá trình nhân đôi ADN. Nhƣ vậy, MTX ức chế nhanh chóng quá trình phân
chia các tế bào nhƣ bạch cầu, tạo nên hiệu quả chống viêm.
Hiệu quả của methotrexate đƣợc mô tả lần đầu tiên từ năm 1965 trong điều trị bệnh lý VMBĐ không nhiễm trùng,68,69 bao gồm các hình thái VMBĐ đặc hiệu nhƣ VMBĐ phối hợp với viêm khớp thiếu niên vô căn,70 bệnh Behcet,71 viêm màng bồ đào toàn bộ và nhãn viêm giao cảm. Trong một nghiên cứu hồi cứu đa trung tâm,
Gangaputra và cộng sự (2009) báo cáo MTX cho hiệu quả mức độ trung bình,
nhƣng khả năng dung nạp thuốc tốt với ít tác dụng phụ nghiêm trọng lâu dài; các tác dụng phụ có xu hƣớng mất đi khi dừng thuốc.69 Vì vậy, MTX là lựa chọn số 1 với các chuyên gia về bệnh lý màng bồ đào tại Mỹ.66 Tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hiệu quả của MTX đối với các loại VMBĐ khác nhau (theo phân
loại giải phẫu), tỷ lệ thành công cao nhất trên bệnh nhân có VMBĐ trƣớc và viêm củng mạc.66 Một yếu tố cần lƣu ý là hiệu quả của thuốc thƣờng xuất hiện chậm, nhiều bệnh nhân cần đến 6 tháng để thu đƣợc hiệu quả dừng corticosteroid.69 Khi điều trị bằng MTX, nguy cơ ức chế hoạt động của tủy xƣơng là yếu tố chính giới
hạn liều điều trị thuốc. Nhiễm độc gan cũng là một tác dụng phụ nghiêm trọng của MTX, tăng men gan gặp trên 15% bệnh nhân điều trị thuốc.72 Vì vậy, bệnh nhân cần đƣợc theo dõi chức năng gan thƣờng xuyên và không sử dụng rƣợu bia trong quá
trình điều trị thuốc. Thận trọng khi dùng thuốc trên bệnh nhân viêm gan virus B.
Các tác dụng phụ đƣờng tiêu hóa (nôn, viêm loét niêm mạc, và tiêu chảy) là nguyên
nhân thƣờng gặp gây dừng thuốc trên bệnh nhân VMBĐ, nhƣng các tác dụng phụ
này thƣờng không đáng lo ngại. Nhiễm độc phổi biểu hiện bởi viêm phổi cấp
thƣờng hiếm gặp nhƣng tác dụng phụ này của MTX có thể ảnh hƣởng đến tính
mạng, nhƣng nó thƣờng cải thiện sau khi ngừng thuốc và điều trị liều cao
corticosteroid. Ngoài ra, còn một số tác dụng phụ khác của MTX bao gồm suy thận, viêm mạch da, mày đay, nhạy cảm ánh sáng, rụng tóc và nốt trên da.73
b. Azathioprine
Azathioprine (AZA) là chất hóa học tƣơng tự nucleoside purine. Thuốc ức chế
tổng hợp axit inosinic, làm giảm các ribonucleotide là adenine và guanine, từ đó
làm giảm tổng hợp ADN và sao chép ARN. Về mặt miễn dịch học, AZA làm giảm
số lƣợng các tế bào lympho T và lympho B trong máu ngoại biên, làm giảm hoạt hóa các tế bào lympho nói chung, giảm tổng hợp interleukine-2 và IgM.4
30
Thuốc AZA lần đầu tiên đƣợc sử dụng tại mắt năm 1996, đã cho thấy hiệu quả
trong điều trị các bệnh lý viêm tại mắt có kháng lại corticosteroid, đặc biệt trong
viêm củng mạc thứ phát do viêm đa sụn, bệnh pemphigoid sẹo tại mắt, viêm khớp
vô căn thiếu niên kết hợp với viêm mống mắt thể mi và VMBĐ trung gian. Tuy
nhiên, hiệu quả của AZA trên các trƣờng hợp VMBĐ khác chẳng hạn nhãn viêm giao cảm và bệnh Behcet là không rõ ràng.74,75 Trong một nghiên cứu hồi cứu lớn, AZA cho thấy hiệu quả tƣơng đƣơng với Cyclosporine A và MTX nhƣng nguy cơ
gây độc của thuốc đã giới hạn chỉ định điều trị, mặc dù gần nhƣ toàn bộ các tác dụng phụ đều đƣợc phát hiện và có thể hết sau khi ngừng thuốc.76 Bệnh nhân VMBĐ trung gian đáp ứng với AZA tốt hơn so với VMBĐ trƣớc, với 89,8% thu
đƣợc sự cải thiện hoàn toàn phản ứng viêm kéo dài trong ít nhất 28 ngày và 68,2%
đạt đƣợc mục tiêu ngừng corticosteroid trƣớc 12 tháng. Cũng theo nghiên cứu này,
hầu hết các tác dụng phụ của AZA là gây kích ứng đƣờng tiêu hóa, làm giảm khả
năng dung nạp thuốc trên 9% bệnh nhân trong thời gian theo dõi là 230 ngày. Tác
dụng ức chế tủy xƣơng gặp trên 5% bệnh nhân và ngộ độc gan gặp trên 4% bệnh
nhân là hai tác dụng phụ chính gây ngừng thuốc. Nguy cơ ức chế tủy xƣơng thƣờng
xuất hiện từ 1 đến 2 tuần sau khi bắt đầu điều trị và thƣờng phục hồi sau khi ngừng thuốc.77 Những bệnh nhân bị thiếu hụt gen thiopurine S-methyltransferase (TMPT) thể đồng hợp tử (xảy ra ở khoảng 1 trong số 300 trƣờng hợp) cực kỳ nhạy cảm với AZA, có thể bị suy tủy và đe dọa tính mạng khi đƣợc điều trị với loại thuốc này.78 Tƣơng tác thuốc giữa allopurinol và AZA có thể dẫn đến suy tủy nặng thậm chí tử
vong; vì vậy khi cần kê đơn phối hợp allopurinol và AZA, liều thuốc AZA cần đƣợc giảm 25-33% liều thông thƣờng và sau đó cần theo dõi cẩn thận công thức máu.79 Các tác dụng phụ khác của thuốc là nhiễm trùng thứ phát, viêm phổi kẽ, viêm tụy, viêm dạ dày, nhiễm trùng, và rụng tóc.74,76 Một điểm đáng lƣu ý nữa là có các bằng chứng khoa học cho thấy độ an toàn của AZA (50-100mg/ngày) trên phụ nữ mang thai, thuốc có thể là lựa chọn tốt trên các đối tƣợng này.80,81
c. Mycophenolate mofetil
Mycophenolate mofetil là chất ức chế chọn lọc men dehydrogenase
monophosphate, làm cản trở tổng hợp nucleotide loại guanosine. Thuốc ảnh hƣởng
chính lên tế bào lympho B và lympho T thông qua cản trở quá trình tăng sinh của tế
bào lympho, ức chế tổng hợp kháng thể, giảm kết dính tế bào viêm vào thành mạch. và giảm tập trung của các tế bào bạch cầu tại vị trí viêm.4
31
Mycophenolate mofetil (MMF) là một thuốc ức chế miễn dịch tƣơng đối mới, đƣợc sử dụng trong điều trị bệnh VMBĐ từ năm 1998.64 Hiện có nhiều nghiên cứu khẳng định hiệu quả của thuốc trong điều trị bệnh lý VMBĐ, và MMF cũng là
thuốc thứ hai trong số các thuốc ức chế miễn dịch đƣợc các chuyên gia về VMBĐ của Mỹ lựa chọn điều trị.66 Đƣợc sử dụng đơn thuần hoặc phối hợp với thuốc ức chế miễn dịch khác, MMF đã cho thấy hiệu quả trong điều trị VMBĐ ở cả trẻ em 82 và ngƣời lớn 68 có các hình thái VMBĐ khác nhau (trƣớc, trung gian, sau hoặc toàn bộ), cũng nhƣ trong những bệnh lý VMBĐ phối hợp bênh toàn thân nhƣ sarcoid 83 và VKH.84 Trong Nghiên cứu điều trị ức chế miễn dịch toàn thân cho bệnh lý tại mắt (SITE), hiệu quả và độ an toàn của MMF với vai trò là một thuốc chống viêm
giúp giảm liều corticosteroid không có sự khác biệt nhiều so với các thuốc ức chế
miễn dịch thay thế khác đƣợc sử dụng trong nghiên cứu, tuy nhiên khả năng dung nạp thuốc tốt và kéo dài tƣơng tự nhƣ MTX.68 Trong nghiên cứu này, điều trị trƣớc bằng thuốc nhóm ankyl hóa làm giảm 70% hiệu quả điều trị. Trong khi điều trị ban
đầu với các thuốc chống chuyển hóa thì không có hiện tƣợng này. Hiện tại, trong
một báo cáo khác, khoảng một nửa số bệnh nhân trƣớc đây từng thất bại hoặc không
dung nạp với MTX đã đƣợc kiểm soát viêm hiệu quả với MMF, cho thấy MMF là
lựa chọn thay thế trên những bệnh nhân không đáp ứng với MTX. Trên một nghiên
cứu hồi cứu so sánh hiệu quả và độ an toàn giữa MTX, MMF và AZA, MMF có vẻ
có khả năng kiểm soát tình trạng viêm tại mắt nhanh hơn MTX hoặc AZA và AZA có tỷ lệ tác dụng phụ cao hơn so với hai thuốc còn lại.85 Nghiên cứu cho thấy MMF ít có tác dụng phụ, trong đó tác dụng phụ gây dừng điều trị là trên 12% bệnh nhân
trong năm đầu tiên và hiếm hơn ở những năm sau đó. Các tác dụng phụ làm ngừng điều trị bao gồm rối loạn tiêu hóa, ức chế tủy xƣơng và ngộ độc gan. Một số tác
dụng phụ khác bao gồm đau đầu, mệt mỏi, dị ứng, đau cơ, chóng mặt, đau ngực và
rụng tóc. 1.3.2.3. Thuốc kháng TNF alpha và các thuốc sinh học khác
a. Thuốc kháng TNF alpha - Adalimumab
TNF alpha (TNF-α) là một cytokine tiền viêm gây nên phá vỡ hàng rào máu
võng mạc. Ở mắt, cả dạng TNF- α hòa tan và dạng TNF- α xuyên màng đều có thể
gắn với các receptor của chúng (TNF- α receptor 1 và 2). Các receptor này có mặt
trên mống mắt, thể mi, biểu mô sắc tố võng mạc và võng mạc. Biểu hiện của TNF- α và các receptor của nó tăng lên trong huyết thanh và dịch tiền phòng của bệnh nhân viêm màng bồ đào.86 Điều trị thuốc kháng TNF-α là phƣơng pháp hiệu quả
32
giúp giảm tình trạng viêm nội nhãn cũng nhƣ biến chứng phù hoàng điểm.
Hiện nay trên thị trƣờng có 5 phẩn tử kháng TNF khác nhau bởi cấu trúc.
Trong đó Adalimumab là một kháng thể đơn dòng IgG1 tái tổ hợp ở ngƣời.
Adalimumab là kháng thể kháng TNF-α duy nhất đƣợc Cơ quan thuốc và dƣợc
phẩm Hoa kỳ (FDA) và Cơ quan Y tế châu Âu (EMA) cấp phép cho điều trị các
trƣờng hợp VMBĐ sau hoặc VMBĐ trung gian hoặc VMBĐ toàn bộ không nhiễm
trùng và VMBĐ trƣớc mãn tính kháng trị ở trẻ em, dựa trên kết quả của các nghiên
cứu VISUAL I và II. Đây là các nghiên cứu tiến cứu ngẫu nhiên so sánh hiệu quả
điều trị của adalimumab so với nhóm chứng trên bệnh nhân có VMBĐ hoạt động (VISUAL I) và không hoạt động (VISUAL II).8,9
Ch định, chống ch định và liều dùng của Adalimumab
Tại mắt ADA đƣợc chỉ định trong điều trị VMBĐ trung gian, sau và toàn bộ
không nhiễm trùng ở ngƣời trƣởng thành có đáp ứng không đầy đủ với
corticosteroid, ở bệnh nhân cần điều trị thay thế corticosteroid hoặc ở bệnh nhân mà
việc điều trị với corticosteroid là không phù hợp. Ở trẻ em, thuốc đƣợc chỉ định
trong điều trị VMBĐ mãn tính ở trẻ em từ 2 tuổi trở lên có đáp ứng không đầy đủ
hoặc không dung nạp với liệu pháp thông thƣờng hoặc ở bệnh nhân mà việc điều trị
với liệu pháp thông thƣờng là không phù hợp.
Thuốc bị chống chỉ định với các trƣờng hợp sau:
- Bệnh nhân quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ tá dƣợc nào đƣợc liệt kê trong
thành phần của thuốc.
- Lao thể hoạt động hoặc những nhiễm trùng nghiêm trọng khác nhƣ nhiễm
trùng huyết hoặc nhiễm trùng cơ hội.
- Suy tim mức độ trung bình tới nặng (phân loại NYHA mức III/IV)
Liều khởi đầu đƣợc khuyến cáo cho bệnh nhân bị viêm màng bồ đào là
80mg, sau đó đƣợc duy trì ở liều 40 mg mỗi 2 tuần bắt đầu 1 tuần sau liều đầu
tiên. Điều trị có thể đƣợc phối hợp với corticosteroid và /hoặc với thuốc điều hòa
miễn dịch khác.
Dữ liệu khoa học về hiệu quả và độ an toàn của Adalimumab
Hiệu quả của ADA trong kiểm soát viêm, dự phòng tái phát và giảm liều
corticosteroid đã đƣợc chứng minh trong hai nghiên cứu tiến cứu ngẫu nhiên lớn.
Trong nghiên cứu VISUAL I, 217 bệnh nhân có VMBĐ hoạt động (mặc dù đã điều
trị prednisolone liều từ 10-60mg từ 2 tuần trở lên) đã đƣợc phân chia ngẫu nhiền
33
vào 2 nhóm: 110 bệnh nhân vào nhóm điều trị ADA và 107 bệnh nhân vào nhóm chứng.8 Trong đó, corticosteroid đƣợc giảm liều từ từ trong vòng 16 tuần. Thời gian điều trị thất bại trung bình là 24 tuần ở nhóm điều trị ADA và 13 tuần ở nhóm
chứng. Thuốc ADA giúp tránh đƣợc 50% điều trị thất bại (hazard ratio, 0,05; 95%
khoảng tin cậy 0,36 đến 0,70; p<0,001). Bệnh nhân điều trị ADA có ít phản ứng
viêm tiền phòng và viêm dịch kính hơn. Nghiên cứu không cho thấy sự khác biệt về
tỷ lệ các biến chứng nhiễm trùng nặng giữa nhóm điều trị ADA và nhóm chứng.
Nhóm điều trị ADA có 2 trƣờng hợp mắc bệnh ác tính (u carcinoid đƣờng tiêu hóa,
glioblastoma đa hình thái), 1 trƣờng hợp với mỗi bệnh lý sau: lao hoạt động, lao
tiềm ẩn, lupus và rối loạn mất myeline. Kháng thể kháng thuốc gặp ở 2,7% bệnh
nhân (có thời gian điều trị thất bại xung quanh tuần thứ 36). Ngừng điều trị thuốc
ADA thƣờng do các tác dụng phụ nhƣ tân mạch hắc mạc, nhìn mờ, mệt mỏi, và
trầm cảm nặng.
Trong nghiên cứu VISUAL II, 229 bệnh nhân có VMBĐ không hoạt động phụ
thuộc vào corticosteroid đƣợc phân bố ngẫu nhiên vào 2 nhóm: 115 bệnh nhân điều trị ADA và 114 bệnh nhân vào nhóm chứng.9 Thuốc corticosteroid đƣợc giảm liều và dừng hẳn trong 19 tuần. Thời gian điều trị thất bại trung bình là trên 18 tháng với
nhóm điều trị ADA và 8.3 tháng với nhóm chứng. Không có sự khác biệt giữa hai nhóm về tỷ lệ điều trị thất bại do phản ứng viêm tiền phòng và viêm dịch kính 6. Kết quả của các nghiên cứu VISUAL cho thấy hiệu quả của ADA trong kiểm soát viêm
tại mắt. Xét về tính an toàn, nhóm điều trị ADA có 1 trƣờng hợp (0,9%) ung thƣ
biểu mô tế bào vảy và 3 trƣờng hợp lao tiềm ẩn. Nhóm chứng chỉ có 1 trƣờng hợp
lao tiềm ẩn. Cả hai nhóm đều không ghi nhận các trƣờng hợp có nhiễm trùng cơ
hội, lao hoạt động, lupus hay phản ứng dạng lupus hoặc các rối loạn mất myeline.
Nghiên cứu VISUAL III là nghiên cứu tiến cứu pha IV bao gồm 371 bệnh nhân từ nghiên cứu VISUAL I và VISUAL II.87 Trong đó, 242 bệnh nhân (chiếm 65%) có VMBĐ hoạt động. Kết thúc nghiên cứu (tuần thứ 78), 40% bệnh nhân vẫn
còn VMBĐ hoạt động. Về độ an toàn của ADA, dữ liệu từ VISUAL III ghi nhận
các sự kiện nghiêm trọng sau đây: 4,4 nhiễm trùng nặng/100 bệnh nhân-năm, 1,6
bệnh ác tính/100 bệnh nhân – năm; 0,8 rối loạn mất myelin/100 bệnh nhân – năm;
và 0,5 tác dụng phụ gây tử vong/ 100 bệnh nhân – năm.
Trong một nghiên cứu tiến cứu lớn gồm 131 bệnh nhân, Díaz-Llopis và cộng
sự (2012) đã chứng minh hiệu quả của ADA trong kiểm soát phản ứng viêm của cả
34
bán phần trƣớc và bán phần sau sau 6 tháng điều trị.6 Tất cả các bệnh nhân có VMBĐ kháng trị với ít nhất một thuốc ƢCMD. Trong đó, 43% bệnh nhân có
VMBĐ toàn bộ, 29,7% bệnh nhân có viêm khớp mãn tính thiếu niên, 20,6% bệnh
nhân có VMBĐ vô căn. Trong 6 tháng theo dõi, 38,2% bệnh nhân có tái phát. 70%
bệnh nhân hết hoàn toàn phù hoàng điểm. 85% bệnh nhân có thể giảm 50% thuốc
ức chế miễn dịch. Về độ an toàn, có 1 bệnh nhân (0,8%) có 1 trong những triệu
chứng sau: mệt mỏi, tăng huyết áp, zona, nhiễm trùng đơn nhân, viêm gan C hoạt
động và viêm màng bồ đào tái hoạt nặng sau 6 tháng theo dõi.
Trong một nghiên cứu đa trung tâm nhãn mở gần đây, Atienza-Mateo và cộng
sự (2019) đã đánh giá hiệu quả của infliximab và ADA trong điều trị VMBĐ do Behcet kháng trị.88 Trong đó 74 bệnh nhân đƣợc điều trị ADA và 103 bệnh nhân đƣợc điều trị infliximab. Kết quả cho thấy, mặc dù cả hai thuốc đều giúp cải thiện
tình trạng viêm tại mắt. Tuy nhiên, bệnh nhân nhận ADA có kết quả tốt hơn trong
cải thiện phản ứng viêm tiền phòng (92,31% so với 78,18% với IFX; P=0,06), cải
thiện viêm dịch kính (93,33% so với 78,95% với IFX; P=0,06) và cải thiện thị lực
chỉnh kính tối ƣu (trung bình 0,81±0,26 so với 0,67±0,34 với IFX; P=0,001). Không
có sự khác biệt giữa hai phƣơng pháp điều trị về độ dày hoàng điểm (trung bình
±SD là 250,62±36,85 với ADA so với 264,89±59,74 với IFX; P=0,15) và tình trạng
viêm mạch võng mạc (95% với ADA so với 97% với IFX; P=0,28).
Furst và cộng sự (2003) đã tiến hành nghiên cứu nhãn mở đánh giá hiệu quả
và độ an toàn của ADA trên 846 bệnh nhân có Viêm khớp dạng thấp, trong đó 286
bệnh nhân điều trị ADA liều 40 mg (ở các khoảng cách tiêm khác nhau) trong 10 năm.89 Thời gian điều trị ADA trung bình là 6,2 năm. Tỷ lệ tác dụng phụ có thể liên quan đến điều trị là 69,0% trong đó nhiễm trùng đƣờng hô hấp trên (46,3%), bùng
phát bệnh (34%) và viêm xoang (25,1%) là các tác dụng phụ thƣờng gặp nhất.
Nhiễm trùng nặng gặp trên 14,8% bệnh nhân với 0,2% bị lao. Bệnh ác tính ghi nhận
trên 14,8% bệnh nhân, bao gồm ung thƣ bạch cầu, u lympho, và u hắc tố. Hầu hết
các tác dụng này đƣợc cho là không liên quan đến thuốc nghiên cứu. Có 5 bệnh
nhân tử vong có thể liên quan đến điều trị, nguyên nhân do leukemia tủy cấp, ung
thƣ vú, ung thƣ phổi, di căn gan và sốc nhiễm khuẩn.
Nhƣ vậy, nhiều nghiên cứu bao gồm hồi cứu và cả tiến cứu đã cho thấy ADA
rất hiệu quả trong điều trị VMBĐ không nhiễm trùng. Thuốc cũng có khả năng dung nạp tốt cùng với các tác dụng không mong muốn có thể chấp nhận đƣợc.
35
b. Các thuốc sinh học khác
Ngoài adalimumab, hiện chƣa có thuốc sinh học nào đƣợc FDA cấp phép cho
điều trị VMBĐ KNT. Tính đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều báo cáo về hiệu quả
của các thuốc sinh học cũng nhƣ thuốc điều hòa miễn dịch khác trong điều trị
VMBĐ KNT. Tuy nhiên, việc điều trị VMBĐ KNT bằng các thuốc này hiện vẫn
đƣợc coi là ―off-label‖ hay ―dùng thuốc ngoài chỉ định‖, áp dụng trong các trƣờng
hợp bệnh nhân không có điều kiện dùng thuốc adalimumab hoặc bệnh nhân không
đáp ứng với thuốc Adalimumab.
Các thuốc kháng TNF-alpha khác
Infliximab (IFX)
IFX là kháng thể đơn dòng IgG1 (ngƣời/chuột) trực tiếp chống lại các dạng
xuyên màng của TNF-α. IFX là thuốc kháng TNF-α đầu tiên đƣợc sử dụng trong điều trị VMBĐ và đƣợc đƣa vào qua đƣờng tĩnh mạch.90 Ngoài ra, IFX cũng đƣợc khuyến cáo nhƣ thuốc đầu tay trong điều trị bệnh mắt do Behcet.91 IFX ở liều 3- 10mg/kg có hiệu quả với VMBĐ phối hợp với JIA.92 Ngoài ra, IFX cũng có hiệu quả với VMBĐ trong bệnh sarcoid, bệnh viêm ruột và bệnh viêm hắc võng mạc Birdshot.93–95
Golimumab
Golimumab là kháng thể đơn dòng tái tổ hợp của ngƣời kháng trực tiếp các thụ
thể TNF-α hòa tan và xuyên màng. Hiện nay, số lƣợng các nghiên cứu đƣơc công
bố về việc sử dụng Golimumab trong điều trị VMBĐ KNT còn ít, với cỡ mẫu tƣơng đối nhỏ.96,97 Cùng với các thuốc sinh học khác, Golimumab gần đây đã đƣợc sử dụng cho điều trị VMBĐ trong JIA.43 Thuốc cũng là ứng cử viên cho điều trị VMBĐ kháng trị với các thuốc sinh học khác.98 Trong một nghiên cứu đa trung tâm, 87% VMBĐ kháng trị trong bệnh viêm cột sống dính khớp đã đáp ứng hoàn toàn sau khi điều trị Golimumab.99 Ngoài ra, Fabiana và cộng sự ghi nhận Golimumab giúp kiểm soát hoàn toàn viêm nội nhãn trên bệnh nhân VMBĐ do Behcet sau 12 tháng theo dõi.100 Thuốc ức chế interleukine
Ức chế IL-16
Tocillizumab (TCZ) là một kháng thể đơn dòng IgG1 tái tổ hợp của ngƣời/chuột, trực tiếp chống lại các thụ thể của IL-6 hòa tan và xuyên màng.101 TCZ có hiệu quả trong điều trị VMBĐ phối hợp với viêm khớp thiếu niên vô căn,
36
VMBĐ trong bệnh Behcet, hội chứng Blau, viêm hắc võng mạc Birdshot và viêm
củng mạc. Các kết quả đem lại nhiều hứa hẹn trong điều trị phù hoàng điểm kháng
trị với các thuốc sinh học/ ức chế miễn dịch khác.
Ức chế IL-17
Secukinumab là một kháng thể đơn dòng kháng lại IL-17. Một thử nghiệm lâm
sàng có nhóm chứng ngẫu nhiên đã cho thấy điều trị Secukinumab đƣờng tĩnh mạch
tốt hơn đƣờng tiêm dƣới da trong việc làm lui bệnh VMBĐ KNT và cải thiện triệu chứng lâm sàng.102 Ức chế IL-23
Guselkumab là một kháng thể đơn dòng kháng IL-23. Báo cáo loạt ca lâm
sàng cho thấy hiệu quả của Guselkumab trong trƣờng hợp VMBĐ toàn bộ do sarcoid kiểm soát kém.103 Thêm vào đó, ustekinumab, một kháng thể đơn dòng, có thể kháng lại IL-1 và Il-23. Một số nghiên cứu ghi nhận Ustekinumab nhƣ là liệu
pháp thay thế trong điều trị VMBĐ kháng trị kết hợp với bệnh Behcet và viêm khớp vảy nến.104,105 Thuốc ức chế tế bào B
Rituximab là một kháng thể đơn dòng của chuột kháng lại CD-20 từ đó loại bỏ tế bào B. Có nhiều báo cáo về rituximab trong VMBĐ KNT.106,107 Liên quan đến bệnh VMBĐ KNT, hiệu quả của Rituximab đã đƣợc chứng minh trong các trƣờng hợp VMBĐ KNT liên quan đến bệnh JIA, VKH và bệnh Behcet.107–109 Thuốc ức chế tế bào T
Abatacept là một protein tổng hợp đƣợc tạo thành từ một đoạn globulin miễn
dịch 1 ở ngƣời (IgG1) và miền liên kết phối tử của kháng thể 4 liên kết tế bào
lynpho T gây độc tế bào (CTLA-4). Abatacept liên kết và ngăn chặn phân tử
CD80/86 của tế bào trình diện kháng nguyên, từ đó ngăn ngừa hoạt hóa tế bào T.
Trong VMBĐ liên kết với viêm khớp mãn tính thiếu niên, abatacept cho thấy hiệu
quả tƣơng đƣơng hiệu quả của thuốc sinh học đầu tay khác.
Interferon
Các IFN là các cytokine thành phần glycoprotein thúc đẩy đáp ứng miễn dịch.
Y văn ủng hộ việc sử dụng IFN trong điều trị phù hoàng điểm do VMBĐ kháng trị, xơ cứng rải rác và bệnh Behcet.110–112 IFN alpha là thuốc điều hòa miễn dịch. Một số nghiên cứu cho thấy hiệu quả của IFN-α trong điều trị VMBĐ KNT dƣới dạng đơn trị
liệu hoặc khi phối hợp với corticosteroid hoặc các thuốc ƢCMD khác. Các nghiên cứu
37
cho thấy IFNα đạt hiệu quả kiểm soát viêm ở 78% đến 92% trƣờng hợp bệnh Behcet nặng.113 Điều thú vị là IFN-α có vẻ hiệu quả hơn các thuốc ƢCMD thông thƣờng trong điều trị phù hoàng điểm do VMBĐ.114,115 Bên cạnh đó, IFN-β cũng có thể đƣợc sử dụng trong điều trị VMBĐ KNT. Trong một thử nghiệm lâm sàng trên các trƣờng hợp
phù hoàng điểm do VMBĐ thứ phát trong bệnh xơ cứng rải rác, nhóm điều trị IFN-β có sự cải thiện rõ rệt về thị lực và tình trạng phù hoàng điểm ở tháng thứ 3.115 Ức chế JAK
Các bộ chuyển tín hiệu JAK đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sinh học
của các cytokines. Tofacitinib (Xeljanz, Pfixer Inc, New York, New York, USA) đã
đƣợc báo cáo về khả năng ức chế chọn lọc JAK1 và JAK3, và thuốc đã đƣợc công nhận trong điều trị viêm khớp dạng thấp.42 Tofacitinib cũng có hiệu quả trong điều trị VMBĐ kết hợp với JIA kháng trị mà không có tác dụng phụ đáng kể.116,117 1.3.3. Điều trị phối hợp thuốc Adalimumab và thuốc ức chế miễn dịch
1.3.3.1. Những hạn chế khi điều trị thuốc Adalimumab đơn trị liệu
Sau khi đƣợc chỉ định chính thức cho điều trị VMBĐ KNT, ADA giúp kiểm
soát tốt hơn tình trạng viêm và cải thiện chất lƣợng thị giác cũng nhƣ ít biến chứng
hơn so với các phƣơng pháp chống viêm thông thƣờng, tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ
tƣơng đối cao, khoảng 40% bệnh nhân gặp thất bại điều trị trong vòng 6 tháng đầu tiên theo kết quả của các thử nghiệm VISUAL.8,9 Các kết quả nghiên cứu từ dữ liệu đời thực cho thấy tỷ lệ duy trì điều trị thuốc sau 5 năm là 55%, trong đó không đáp ứng điều trị là nguyên nhân chính gây dừng điều trị.118 Các nghiên cứu đánh giá các yếu tố liên quan đến thất bại điều trị tại mắt còn hạn chế so với các bệnh lý của
khớp và của đƣờng tiêu hóa, chủ yếu do thời gian điều trị thuốc kháng TNF-α trong
VMBĐ KNT còn ngắn, đồng thời bệnh có tỷ xuất lƣu hành thấp và tính không đồng
nhất cao. Nghiên cứu dƣợc động học của thuốc kháng TNF-α trong các bệnh qua
trung gian miễn dịch khác đã cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa các cá thể về
nồng độ toàn thân của thuốc sinh học. Điều này liên quan đến việc hình thành các
kháng thể kháng thuốc (ADAbs), việc phối hợp điều trị cùng thuốc ức chế miễn dịch, và biến đổi chỉ số sinh hóa trong đó albumin là yếu tố quan trọng nhất.119
Thật vậy, đáp ứng với điều trị thuốc kháng TNF-α nói chung và của thuốc
ADA nói riêng có thể giảm theo thời gian do nguy cơ xuất hiện các đáp ứng miễn
dịch kháng lại thuốc, gây giảm nồng độ thuốc trong máu và xuất hiện kháng thể kháng thuốc TNF-α trong huyết thanh bệnh nhân.12,120 Một số nghiên cứu tập trung
38
tìm hiểu nguy cơ hình thành ADAbs và lợi ích của việc điều trị phối hợp anti-
TNF-α với các thuốc ức chế miễn dịch, chẳng hạn MTX, MMF, AZA để ngăn ngừa
nguy cơ hình thành kháng thể kháng thuốc. Trong một nghiên cứu đa trung tâm trên
595 bệnh nhân có viêm khớp dạng thấp, tác giả Moots và cộng sự (2017) đã báo cáo
31,2% bệnh nhân đƣợc điều trị Adalimumab và 17,4% bệnh nhân điều trị Infliximab có hình thành ADAbs.121 Những bệnh nhân xuất hiện ADAbs sẽ bị giảm mức độ biểu hiện của thuốc và ít khi đạt đƣợc khả năng lui bệnh. Trong điều trị
VMBĐ, kháng thể kháng Adalimumab đƣợc phát hiện sớm ngay sau khi bắt đầu
điều trị adalimumab và thƣờng có nồng độ Adalimumab trong huyết thanh thấp cũng nhƣ kết quả điều trị VMBĐ thấp.10 Trong các bệnh nhân viêm khớp vô căn thiếu niên, Marino và cộng sự (2018) nhận thấy 37% bệnh nhân có kháng thể kháng adalimumab.122 Những bệnh nhân này có tỷ lệ tái phát bệnh cao hơn hẳn các bệnh nhân không có kháng thể này.
1.3.3.2. Điều trị phối hợp Adalimumab và thuốc ức chế miễn dịch trên thế giới và
tại Việt Nam
Một số tác giả gợi ý điều trị phối hợp thuốc ức chế miễn dịch sẽ giúp giảm
kháng thể kháng thuốc, tăng nồng độ huyết thanh và hiệu quả của thuốc kháng TNF-α trong các bệnh viêm mãn tính.123 Brunelli và cộng sự (2020) nhận thấy tại thời điểm 3 tháng sau điều trị, phƣơng pháp phối hợp điều trị ADA với leflunomide
có xuất hiện ADAbs, tuy nhiên phƣơng pháp phối hợp điều trị ADA với MTX thì không tìm thấy ADAbs.120 Tƣơng tự nhƣ vậy, Eurelings và cộng (2022) sự báo cáo việc sử dụng ADA đơn trị liệu có nguy cơ hình thành ADAbs cao hơn (p=0,01).124 Skrabl-Baumgartner và cộng sự (2019) đã chỉ ra rằng điều trị phối hợp ADA với
thuốc ức chế miễn dịch (bất kỳ) ít gặp hơn ở nhóm bệnh nhân có ADAbs hơn trong nhóm bệnh nhân không có ADAbs, với p<0,05.125 Leinonen và cộng sự (2017) báo cáo việc điều trị ADA đơn trị liệu (không phối hợp MTX) kết hợp với tỷ lệ ADAbs cao hơn.11 Trong phân tích tổng hợp gồm 9 nghiên cứu đƣợc chọn lọc từ 2373 nghiên cứu, Pachón-Suárez và cộng sự đã nhận định việc không điều trị phối hợp ADA với thuốc ức chế miễn dịch là một yếu tố nguy cơ cho hình thành ADAbs.126
Theo tác giả đƣợc biết hiện còn thiếu các dữ liệu nghiên cứu đánh giá hiệu quả
của điều trị phối hợp Adalimumab với thuốc ức chế miễn dịch cho VMBĐ không
nhiễm trùng. Tác giả Hiyama và cộng sự (2022) nghiên cứu hiệu quả của
Adalimumab phối hợp với MTX trên bệnh VKH không đáp ứng với đơn trị liệu
39
ADA.127 Tác giả nhận định rằng bệnh VKH có thể cần điều trị chống viêm mạnh hơn so với các nguyên nhân gây VMBĐ KNT khác và ADA đạt hiệu quả cao hơn
khi sử dụng phối hợp với các thuốc ức chế miễn dịch. Vì vậy, tác giả khuyến cáo
nên điều trị phối hợp ngay ADA với MTX cho các trƣờng hợp VKH giai đoạn muộn.
Tác giả Lian nghiên cứu hồi cứu về hiệu quả của thuốc kháng TNFα và MTX trên
ngƣời bệnh Trung Quốc bị viêm màng bồ đào liên quan đến bệnh viêm khớp cột sống.128 Tác giả nhận định rằng điều trị phối hợp thuốc kháng TNF-α và MTX đem lại sự cải thiện nhanh chóng và MTX là lựa chọn cho điều trị duy trì, nhằm ngăn ngừa tái
phát VMBĐ trên ngƣời bệnh đã đạt lui bệnh và cần đƣợc giãn liều thuốc kháng TNF-α.
Một số nghiên cứu trên bệnh nhân có viêm khớp thiếu niên vô căn cũng cho thấy hiệu quả vƣợt trội của điều trị phối hợp ADA với MTX so với đơn trị liệu.129–131
Tại Việt Nam, hiện chƣa có nghiên cứu nào đánh về hiệu quả và độ an toàn
của Adalimumab trên bệnh nhân VMBĐ KNT. Mặc dù đƣợc bảo hiểm y tế chi trả
một phần cho điều trị bệnh lý VMBĐ không nhiễm trùng, hiện giá thành điều trị
thuốc Adalimumab còn cao so với mức thu nhập bình quân của ngƣời Việt Nam.
Ngƣời bệnh cũng còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận với thuốc Adalimumab
do thuốc chỉ đƣợc chỉ định điều trị ở một số các bệnh viện lớn trên cả nƣớc.
Đồng thời, liệu trình tiêm thuốc 2 tuần một lần tại cơ sở y tế cũng là một trong
những trở ngại ảnh hƣởng đến công việc và cuộc sống của nhiều ngƣời bệnh.
40
CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đƣợc triển khai tại 3 bệnh viên ở Hà nội bao gồm:
- Khoa Mắt, bệnh viện Đại học Y Hà Nội
- Khoa Mắt, viện Lão khoa trung ƣơng
- Khoa Mắt, bệnh viện Bạch Mai
Thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2024.
2.2. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
2.2.1.1. Mục tiêu 1:
- Bệnh nhân đƣợc chẩn đoán VMBĐ, ở ít nhất 1 mắt.35
2.2.1.2. Mục tiêu 2:
- Tuổi từ 2 tuổi trở lên, hợp tác tốt trong quá trình thăm khám.
- Bệnh nhân đƣợc chẩn đoán VMBĐ không nhiễm trùng, ở ít nhất 1 mắt,
thuộc các nhóm:
Trẻ em từ 2 tuổi trở lên: có hình thái VMBĐ mãn tính (bao gồm cả VMBĐ
trƣớc, VMBĐ trung gian, VMBĐ sau hoặc VMBĐ toàn bộ).
Hoặc ngƣời trƣởng thành: có hình thái VMBĐ trung gian hoặc VMBĐ sau
hoặc VMBĐ toàn bộ.
- Bênh nhân có ít nhất 1 lần tái viêm trong vòng 180 ngày trƣớc lần thăm khám
sàng lọc, đƣợc xác định khi có ít nhất 1 trong các tiêu chí sau đây ở ít nhất 1 mắt:
Tổn thƣơng hắc võng mạc hoặc viêm mạch võng mạc hoạt động VÀ/HOẶC
Có phù hoàng điểm trên OCT (Chiều dày ≥ 315µm kèm nang hoặc dịch
trong võng mạc),8 VÀ/HOẶC
≥2+ tế bào tiền phòng VÀ/HOẶC
≥ 2+ độ mờ dịch kính
- Bệnh nhân có VMBĐ hoạt động tại thời điểm sàng lọc.Bệnh nhân có ít nhất 1
trong các tiêu chí sau đây: Bệnh nhân có VMBĐ KNT mãn tính132
Cần điều trị thuốc ức chế miễn dịch giúp giảm/cắt liều corticosteroid
41
VÀ/HOẶC
- Bệnh nhân có VMBĐ phụ thuộc hoặc kháng trị với corticosteroid toàn
thân/tại chỗ.
- Bệnh nhân có khả năng chi trả tiền thuốc điều trị.
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
2.2.2.1. Mục tiêu 1
- Bệnh nhân già yếu, không thể hoặc không hợp tác trong quá trình thăm khám.
- Bệnh nhân mắc viêm tổ chức hốc mắt, hội chứng giả bong bao, viêm mống mắt
sau chấn thƣơng, thải ghép giác mạc, viêm thƣợng củng mạc, viêm củng mạc.
2.2.2.2. Mục tiêu 2
− Bệnh nhân có bất thƣờng tại mắt gây cản trở quá trình thăm khám VÀ/HOẶC
gây tổn thƣơng mắt không phải do VMBĐ.
− Đã điều trị corticosteroid tiêm cạnh nhãn cầu hoặc điều trị tiêm nội nhãn một
trong các thuốc sau:
Corticosteroid trong vòng 30 ngày trƣớc khi bắt đầu tham gia nghiên cứu.
Riêng với Ozurdex (Dexamethason): trong vòng 6 tháng trƣớc khi bắt đầu
nghiên cứu.
Methotrexatre trong vòng 90 ngày trƣớc khi bắt đầu tham gia nghiên cứu.
Ranibizumab hoặc bevacizumab, trong vòng 45 ngày.
Aflibercept trong vòng 60 ngày.
- Tiền sử phẫu thuật mắt trong vòng 90 ngày trƣớc thời điểm tham gia nghiên
cứu, ngoại trừ phẫu thuật tật khúc xạ, quang đông võng mạc, hoặc mở bao sau bằng
laser (bị loại trừ nếu trong vòng 30 ngày trƣớc khi bắt đầu tham gia nghiên cứu).
− Có bệnh nhiễm trùng cấp tính cần điều trị kháng sinh đƣờng tĩnh mạch (trong
vòng 30 ngày trƣớc khi bắt đầu tham gia nghiên cứu) hoặc kháng sinh đƣờng uống trong
vòng 14 ngày trƣớc đó. Bệnh nhân có nhiễm trùng tái phát, lao hoạt động, hoặc HIV.
− Tiền sử trụy tim mạch mức độ trung bình-nặng (NYHA độ III hoặc IV), tai
biến mạch máu não (6 tháng), bệnh mất myelin, bệnh ác tính hoặc bất kỳ tình trạng
nào khác có thể gây nguy hiểm khi bệnh nhân tham gia nghiên cứu.
− Tiền sử quá mẫn với các thuốc sử dụng trong nghiên cứu.
− Phụ nữ có thai, cho con bú hoặc dự định có thai.
− Tiền sử nghiện rƣợu, sử dụng chất gây nghiện trong 12 tháng qua.
42
2.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
2.3.1.1. Mục tiêu 1: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.1.2. Mục tiêu 2: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không có nhóm chứng.
2.3.2. Mẫu nghiên cứu
2.3.2.1. Cỡ m u nghiên cứu
n =
- Mục tiêu 1: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu 1 tỷ lệ cho quần thể vô hạn
Trong đó n: là cỡ mẫu nghiên cứu
Với độ tin cậy là 95% thì Z1-α/2 = 1,96
Lấy p=0,5 là tỷ lệ mắt của ngƣời bệnh trong quần thể bị bệnh, chúng tôi lấy giá
trị p = 0,5 để đạt cỡ mẫu tối đa.
d : sai lệch mong muốn tƣơng đối, lấy ε = 0,06
Thay vào công thức trên có số bệnh nhân tối thiểu n + 10% = 294 bệnh nhân.
- Mục tiêu 2: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu so sánh 2 tỷ lệ trƣớc và sau
√ ̅ ̅ ( ) √
] [
Với:
̅
̅ ̅
Trong đó:
n1 và n2: là cỡ mẫu nghiên cứu trƣớc và sau điều trị
Với độ tin cậy là 95% thì Z1-α/2 = 1,96
Với độ sai số là 10% thì Z1-β = 0,84
43
Lấy p1 = 0,5 là tỷ lệ mắt của ngƣời bệnh có thể thành công trƣớc điều trị bệnh
lý Viêm màng bồ đào, chúng tôi lấy giá trị p = 0,5 để đạt cỡ mẫu tối đa.
Lấy p2 =0 ,945 là tỷ lệ mắt của ngƣời bệnh thành công sau điều trị. Tỷ lệ này
đƣợc tham khảo trong nghiên cứu về bệnh lý Viêm màng bồ đào không nhiễm trùng bằng Adalimumab của tác giả Bitossi A.133
Thay vào công thức trên có số bệnh nhân trƣớc điều trị cần tối thiểu để triển
khai nghiên cứu là n1 + 10% = 22 bệnh nhân và số bệnh nhân sau điều trị cần
tối thiểu để đối chứng là n2 + 10% = 22 bệnh nhân.
2.3.2.2. Chọn m u
Mục tiêu 1: Chọn mẫu toàn bộ.
Mục tiêu 2: Chọn mẫu theo phƣơng pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích.
Cụ thể, quy trình bắt đầu bằng việc lựa chọn bệnh nhân ngay trong quá trình
khám và chẩn đoán bệnh tại các địa điểm nghiên cứu (Mục tiêu 1). Bệnh nhân sẽ
đƣợc khám mắt và thăm khám toàn thân, trong đó thực hiện các xét nghiệm hình
ảnh và cận lâm sàng cần thiết để xác định nguyên nhân gây viêm màng bồ đào và
đánh giá tình trạng sức khỏe toàn thân phục vụ cho điều trị. Những bệnh nhân đủ
điều kiện sẽ đƣợc lựa chọn dựa trên các tiêu chí đã đề ra. Sau khi có sự đồng thuận
của bệnh nhân hoặc đại diện hợp pháp thông qua chữ ký vào biên bản đồng thuận,
họ sẽ chính thức tham gia vào nghiên cứu. Các dữ liệu liên quan đến sức khỏe, tình
trạng bệnh và hiệu quả điều trị sẽ đƣợc ghi nhận thƣờng xuyên trong suốt quá trình
nghiên cứu để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.
2.3.3. Quy trình nghiên cứu
2.3.3.1. Các bước nghiên cứu:
Bƣớc 1: Chẩn đoán bệnh viêm màng bồ đào và sàng lọc trƣớc can thiệp
Th m khám mắt
● Đo thị lực, nhãn áp
● Khám mắt bằng máy sinh hiển vi
● Chụp ảnh đáy mắt
● Chụp cắt lớp hắc võng mạc vùng hoàng điểm bằng phƣơng pháp OCT và
OCT A (trƣờng hợp nghi ngờ tân mạch hắc mạc vùng hoàng điểm).
44
● Chụp mạch huỳnh quang trong trƣờng hợp nghi ngờ viêm mạch võng mạc.
Th m khám toàn thân
● Đo các dấu hiệu sinh tồn, chiều cao, cân nặng.
● Thăm khám tổng quát sức khỏe toàn thân.
● Khai thác tiền sử bệnh toàn thân (trầm cảm, đái tháo đƣờng…) và tại mắt
● Khai thác tiền sử dùng thuốc lá, rƣợu bia, thói quen sinh hoạt, vật nuôi, du
lịch đến vùng dịch tễ bệnh…
● Hội chẩn chuyên khoa liên quan nếu có dấu hiệu toàn thân/cận lâm sàng nghi ngờ.
Ch định và thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng
Bảng 2.1. Các xét nghiệm cận lâm sàng phục vụ cho nghiên cứu
Mục tiêu 2 + + ± + + +
Mục tiêu 1 + + ± − + ± ±
+ ± ±
+ - -
±
-
±
±
Xét nghiệm Công thức máu Sinh hóa máu: Chức năng gan, thận… Tổng phân tích nƣớc tiểu Viêm gan siêu vi B, C Chụp phim phổi Quantiferon Xét nghiệm miễn dịch tìm: toxocara, toxoplasma, Dengue, Bartonella, giang mai… HIV test nhanh HLA B27 Xét nghiệm dịch tiền phòng (PCR, nuôi cấy, giải phẫu bệnh, đếm tế bào dòng chảy) tìm vi rút, vi khuẩn, tế bào ác tính... Xét nghiệm tìm nguyên nhân viêm mạch võng mạc: RF, ANA, Ds-DNA, ANCA, kháng thể kháng phospholipid… MRI sọ não Chú thích: (+) được ch định; (-) không ch định; (±) ch định tùy hình thái lâm sàng
Các bệnh nhân đảm bảo tiêu chuẩn lựa chọn và không có các tiêu chuẩn loại trừ
của mục tiêu 1 sẽ đƣợc chỉ định và thực hiện bộ xét nghiệm cơ bản tìm nguyên nhân
gây Viêm màng bồ đào. Ngoài các xét nghiệm cơ bản đƣợc chỉ định cho tất cả các
bệnh nhân, các xét nghiệm chuyên sâu đƣợc chỉ định dựa trên hình thái viêm màng bồ
đào của từng bệnh nhân, kết quả của xét nghiệm cận lâm sàng và chỉ định của các bác
sỹ chuyên khoa có liên quan (Bảng 2.1), từ đó giúp cho chẩn đoán xác định nguyên
nhân gây VMBĐ.
Với các bệnh nhân đảm bảo các tiêu chuẩn lựa chọn và không có các tiêu
45
chuẩn loại trừ cho mục tiêu 2 sẽ đƣợc mời tham gia nghiên cứu ở mục tiêu 2. Các
bệnh nhân này sẽ đƣợc bổ sung thêm một số xét nghiệm phục vụ cho điều trị và
theo dõi của mục tiêu 2 (Bảng 2.1).
Ch n đoán nguyên nhân
Chẩn đoán xác định nguyên nhân gây VMBĐ dựa trên kết quả của thăm khám
lâm sàng và của các xét nghiệm cận lâm sàng tƣơng ứng. Một số chẩn đoán đặc biệt
đƣợc dựa trên các tiêu chí phân loại chẩn đoán quốc tế nhƣ sau:
- Chẩn đoán cho hội chứng Vogt−Koyanagi−Harada,52 bệnh Behcet,53 bệnh sarcoid,51 và hoại tử võng mạc cấp tính 134 dựa trên các tiêu chí chẩn đoán quốc tế
tƣơng ứng, đƣợc xây dựng bởi các nhóm nghiên cứu quốc tế về bệnh VMBĐ. Với
chẩn đoán bệnh lao màng bồ đào, chúng tôi dựa trên các khuyến cáo chẩn đoán
bệnh lao của nhóm nghiên cứu bệnh lao mắt (Collaborative Ocular Tuberculosis Study group).135–137 Đối với chẩn đoán u lympho dịch kính võng mạc, chúng tôi
chẩn đoán dựa trên kết quả tế bào học từ sinh thiết dịch kính hoặc sinh thiết tổ chức
bệnh tại não. Chẩn đoán hội chứng kháng phospholipid dựa trên tiêu chí cập nhật phân loại chẩn đoán của Hội khớp học châu Âu/Hội khớp học Hoa Kỳ năm 2023.138
- Viêm màng bồ đào do toxoplasma đƣợc chẩn đoán dựa trên các biểu hiện
lâm sàng và ít nhất một xét nghiệm huyết thanh dƣơng tính IgG có hoặc không kèm
IgM dƣơng tính với Toxoplasma gondii. Chẩn đoán viêm màng bồ đào do toxocara
dựa trên các dấu hiệu lâm sàng bao gồm viêm u hạt võng mạc kèm dải tăng sinh xơ
đến gai thị, và phản ứng viêm dịch kính. Xét nghiệm huyết thanh dƣơng tính với
Toxocara có giá trị ủng hộ chẩn đoán.
- Chẩn đoán Viêm màng bồ đào dị sắc Fuchs dựa trên các triệu chứng lâm
sàng, bao gồm phản ứng viêm tiền phòng nhẹ, mãn tính, một mắt kèm viêm dịch
kính trƣớc, tủa hạt dạng sao trời rải rác sau giác mạc, teo mống mắt lan tỏa hoặc dị
sắc mống mắt, đục thủy tinh thể, và không có dính mống mắt vào thủy tinh thể,
đồng thời xét nghiệm PCR dịch tiền phòng cho kết quả âm tính. Tiêu chí chẩn đoán
hội chứng Posner – Schlossman bao gồm các giai đoạn viêm mống mắt nhẹ một
mắt, tái phát, có một vài tủa hạt sau giác mạc, kết hợp với tăng nhãn áp cấp tính và
kết quả PCR dịch tiền phòng âm tính.
46
Bƣớc 2: Thăm khám trƣớc điều trị
Sau khi đã có hết các kết quả của lần khám sàng lọc, đối tƣợng đảm bảo có
đủ các tiêu chuẩn nghiên cứu và không có tiêu chuẩn loạ trừ của Mục tiêu 2 sẽ đủ
điều kiện tham gia nghiên cứu can thiệp tại Mục tiêu 2.
Người nghiên cứu sẽ:
● Giải thích tình trạng bệnh cho bệnh nhân.
● Tƣ vấn phƣơng pháp điều trị đƣợc triển khai trong nghiên cứu.
● Những lợi ích và nguy cơ có thể xảy ra khi tham gia nghiên cứu.
● Thăm khám mắt (nhƣ quy trình tại lần khám sàng lọc).
● Khám toàn thân bao gồm cả đo các dấu hiệu sinh tồn, chiều cao, cân nặng.
Đối tượng tham gia nghiên cứu:
● Ngƣời bệnh hoặc đại diện hợp pháp của ngƣời bệnh chấp nhận tham gia
nghiên cứu sẽ đƣợc ký vào Biên bản đồng thuận tham gia nghiên cứu.
Bƣớc 3: Điều trị bệnh nhân
Từ tuần đầu tiên, bệnh nhân đƣợc phối hợp điều trị Adalimumab với thuốc
ức chế miễn dịch, có hoặc không phối hợp với thuốc Medrol. Liều thuốc Medrol sẽ
đƣợc giảm dần để đạt mục tiêu kiểm soát viêm mà không phụ thuộc vào Medrol.
Phác đồ điều trị cụ thể gồm 3 giai đoạn là giai đoạn điều trị tấn công, giai đoạn điều
trị duy trì và giai đoạn giãn liều cá thể hóa, Chi tiết các giai đoạn điều trị đƣợc trình
bày cụ thể nhƣ sau:
Tuần 1: Giai đoạn điều trị tấn công
Với thuốc Adalimumab: Bệnh nhân đƣợc lựa chọn sẽ đƣợc chỉ định nhập viện
nội trú điều trị Adalimumab 80mg tiêm dƣới da ở tuần đầu tiên (Tuần 1).
Với thuốc ức chế miễn dịch: Bệnh nhân đƣợc phối hợp điều trị 1 trong các
thuốc thuộc nhóm chống chuyển hóa sau đây, với liều lƣợng có thể tùy chỉnh tùy
theo cân nặng và khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân:
− Với Azathioprine: liều điều trị là 1-3 mg/kg/ngày chia 2 lần
− Với Methotrexate: liều điều trị là 15mg/tuần
− Với Mycophenolate mofetil: liều điều trị là 1-2 g/ngày chia 2 lần
47
Nếu trƣớc khi tham gia nghiên cứu bệnh nhân đã đƣợc điều trị 1 trong các
thuốc trên và dung nạp với thuốc, thì bệnh nhân sẽ tiếp tục duy trì thuốc này khi
tham gia vào nghiên cứu Mục tiêu 2. Nếu trƣớc đó bệnh nhân chƣa từng đƣợc điều
trị thuốc chống chuyển hóa, thì khi tham gia nghiên cứu sẽ đƣợc lựa chọn thuốc ƣu tiên theo thứ tự Methotrexate > Mycophenolate mofetil > Azathioprine.65 Trong đó,
có cân nhắc khả năng dung nạp thuốc, và điều kiện kinh tế của từng bệnh nhân.
Với thuốc corticosteroid: Bệnh nhân không có chống chỉ định và có khả năng
dung nạp corticosteroid sẽ đƣợc điều trị phối hợp Medrol. Liều khởi đầu Medrol
tƣơng đƣơng 0,4 mg/kg/ngày trong vòng 1 tuần đầu tiên.
Bắt đầu từ tuần 2: Giai đoạn điều trị duy trì
Với Adalimumab: 40mg tiêm dƣới da bắt đầu từ tuần thứ 2, sau đó cách 2
tuần tiêm 40mg/lần.
Trƣờng hợp đáp ứng hoàn toàn với liều Medrol 4mg/ngày trong 1 tháng:
Bệnh nhân đƣợc chuyển sang giai đoạn giãn liều cá thể hóa.
Trƣờng hợp đáp ứng không hoàn toàn: Bệnh nhân tiếp tục đƣợc điều trị
40mg/lần cách mỗi 2 tuần, và đƣợc đánh giá lại ở tuần thứ 24:
Nếu bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn: sẽ đƣợc chuyển sang giai đoạn giãn liều
cá thể hóa.
Nếu bệnh nhân đáp ứng không hoàn toàn: kiểm tra lại chẩn đoán. Nếu chẩn
đoán vẫn là VMBĐ không nhiễm trùng, bệnh nhân sẽ điều trị Adalimumab
40mg mỗi 2 tuần kết hợp với thay đổi thuốc ức chế miễn dịch mới. Tại tuần
thứ 36, đánh giá lại hiệu quả kiểm soát viêm. Nếu đáp ứng hoàn toàn, bệnh
nhân đƣợc giãn liều Adalimumab 40mg mỗi 3 tuần kết hợp thuốc ức chế
miễn dịch nhƣ cũ. Nếu đáp ứng không hoàn toàn, bệnh nhân đƣợc duy trì
Adalimumab liều 40mg mỗi 2 tuần.
Nếu bệnh nhân không đáp ứng, bệnh nhân đƣợc loại khỏi nghiên cứu. Khi
đó, ghi nhận lại các kết quả của các chỉ số và biến số nghiên cứu cho đến
thời điểm điều trị Adalimumab cuối cùng. Tỷ lệ thất bại điều trị tƣơng ứng
với tỷ lệ mắt không đáp ứng điều trị trên tổng số mắt tham gia điều trị.
48
Nếu vì lý do nào đó bệnh nhân không thể đến nhập viện điều trị theo hẹn, đợt
điều trị đó sẽ đƣợc thực hiện sớm nhất có thể cho đến trƣớc đợt tiêm mũi sau đó.
Không tiêm 2 mũi trong cùng một ngày tiêm, trừ lần điều trị tấn công đầu tiên.
Với thuốc ức chế miễn dịch: Tiếp tục duy trì thuốc ức chế miễn dịch nhƣ giai
đoạn tấn công.
Với thuốc corticosteroid: liều thuốc sẽ đƣợc giảm từ từ tùy theo đáp ứng lâm
sàng cho đến khi về liều sinh lý tƣơng đƣơng 4mg/ngày và dừng. Thuốc
corticosteroid tra tại chỗ đƣợc chấp nhận điều trị trong thời gian ngắn, tại bất kỳ thời
điểm nào của nghiên cứu, trên mắt chỉ có dấu hiệu tái phát của VMBĐ trƣớc. Thuốc
corticosteroid tiêm tại chỗ chỉ đƣợc chấp nhận cho sử dụng trong 3 tháng đầu của điều
trị trên bệnh nhân kém dung nạp với corticosteroid toàn thân.
Giai đoạn giãn liều cá thể hóa (tùy theo đáp ứng của từng bệnh nhân)
Với Adalimumab: Trƣờng hợp đáp ứng hoàn toàn với liều Medrol 4mg/ngày
trong 1 tháng, bệnh nhân đƣợc chuyển sang điều trị duy trì 40mg/lần cách 3 tuần.
Nếu đáp ứng hoàn toàn sau 3 tháng, bệnh nhân đƣợc tiếp tục giãn liều Adalimumab
40mg. Nếu trong quá trình giãn liều Adalimumab, bệnh nhân có dấu hiệu tái phát sẽ
đƣợc chuyển về liều giãn cách Adalimumab 40mg có đáp ứng trƣớc đó.
Với thuốc ức chế miễn dịch: Tiếp tục duy trì thuốc ức chế miễn dịch nhƣ giai
đoạn trƣớc đó.
Với thuốc corticosteroid: liều thuốc tiếp tục đƣợc giảm từ từ cho đến khi
dừng thuốc hoàn toàn. Thuốc corticosteroid tra tại chỗ đƣợc chấp nhận điều trị trong
thời gian ngắn, tại bất kỳ thời điểm nào của nghiên cứu, trên mắt chỉ có dấu hiệu tái
phát của VMBĐ trƣớc.
Xử trí tác dụng không mong muốn trong quá trình nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, nếu đối tƣợng nghiên cứu mắc các nhiễm trùng
đòi hỏi điêu trị bằng thuốc kháng sinh đƣờng tĩnh mạch hoặc tình trạng nhiễm trùng
đƣợc định nghĩa là ―nặng‖, việc điều trị thuốc Adalimumab có thể đƣợc dừng lại.
Khi đó, thuốc chỉ đƣợc điều trị lại khi tình trạng nhiễm trùng đƣợc kiểm soát thành
công.
49
Trƣờng hợp bệnh nhân cần đƣợc phẫu thuật (có chuẩn bị), việc điều trị
adalimumab sẽ đƣợc tạm dừng trƣớc khi phẫu thuật 2 tuần. Nếu bệnh nhân cần phẫu
thuật cấp cứu, việc điều trị adalimumab cần đƣợc dừng tại thời điểm quyết định
phẫu thuật. Thuốc adalimumab có thể đƣợc điều trị lại sau phẫu thuật ít nhất 2 tuần
khi vị trí phẫu thuật đã liền và không có dấu hiệu nhiễm trùng.
Đối với corticosteroid đƣờng uống và Methotrexate, tại thời điểm phẫu thuật,
quyết định điều trị sẽ tùy thuộc vào đánh giá lâm sàng của ngƣời làm nghiên cứu.
Bƣớc 4: Thăm khám trong quá trình điều trị
Đối tƣợng nghiên cứu đƣợc thăm khám tại các thời điểm: sàng lọc, khám
tuần 1, tuần 2, tuần 4, và mỗi tháng đến tiêm, cho đến khi Thất bại điều trị hoặc đến
khi kết thúc nghiên cứu. Cả 2 mắt của bệnh nhân đều đƣợc đánh giá.
Bệnh nhân đƣợc làm các xét nghiệm cận lâm sàng bao gồm công thức máu,
sinh hóa máu (urê, creatinine, GOT, GPT, GGT, CRP, máu lắng), tổng phân tích
nƣớc tiểu, điện giải đồ, định kỳ mỗi 3 tháng hoặc ngay khi có chỉ định (theo quyết
định của bác sỹ điều trị).
Thời gian khám lại có thể dao động ±3 ngày quanh thời điểm Tuần 4, ± 7
ngày cho các lần thăm khám sau đó. Nếu bệnh nhân không khám lại đúng thời điểm
trên, lần thăm khám tiếp theo sẽ đƣợc mặc định nhƣ lịch thăm khám từ đầu nghiên
cứu (tƣơng ứng với ngày bắt đầu điều trị Adalimumab).
Trƣờng hợp đƣợc xác đinh là Thất bại điều trị hoặc ngừng điều trị vì bất kỳ
lý do gì sẽ đƣợc đánh giá ở lần Thăm khám cuối cùng, bệnh nhân không đƣợc điều
trị thuốc tại lần thăm khám đó.
50
2.3.3.2. Sơ đồ tóm tắt quy trình nghiên cứu
CHẨN ĐOÁN VMBĐ
THĂM KHÁM TRƢỚC ĐIỀU
M ụ c t i ê u 1
Không đáp ứng
LOẠI KHỎI
NGHIÊN CỨU
ĐIỀU TRỊ Tuần 1: Adalimumab 80mg Tuần 2: Adalimumab 40mg mỗi 2 tuần
Ức chế
Corticosteroid
miễn dịch
KHẲNG ĐỊNH
LẠI
Dấu hiệu
VMBĐ KNT
Đáp ứng hoàn toàn
tái phát
(Medrol ≤ 4mg/ngày)
ƢCMD MỚI +
ADALIMUMAB 3 TUẦN/LẦN
ADALIMUMAB 2
M ụ c t i ê u 2
TUẦN/LẦN
Đáp ứng
Dấu hiệu
hoàn toàn
tái phát
ADALIMUMAB 4 TUẦN/LẦN
Đáp ứng
Dấu hiệu
hoàn toàn
tái phát
ADALIMUMAB 5 TUẦN/LẦN
Sơ đồ 2.1. Quy trình nghiên cứu
51
2.3.4. Phƣơng tiện nghiên cứu
− Phòng khám mắt đƣợc trang bị các phƣơng tiện:
● Bộ thử thị lực
● Máy sinh hiển vi khám mắt kèm theo kính Volk (Wide field)
● Máy đo nhãn áp hơi
● Máy chụp OCT Spectralis (Heidelberg)
● Máy đo thị trƣờng (Zeiss)
● Máy chụp mạch huỳnh quang Kowa Vx 20
− Khoa chuẩn đoán hình ảnh với đầy đủ trang thiết bị cần thiết (máy chụp
XQuang, máy chụp cắt lớp vi tính, máy chụp cộng hƣởng từ, máy siêu âm…)
− Khoa xét nghiệm: huyết học, sinh hóa, vi sinh, ký sinh trùng.
− Thuốc Adalimumab và các thuốc ức chế miễn dịch điều trị phối hợp
Hình 1.9. Thuốc Adalimumab 40mg/0.4ml Nguồn: Humira.com
2.3.5. Công cụ và kỹ thuật thu thập số liệu
Thông tin cá nhân
Bệnh sử
Chỉ số và biến số nghiên cứu
Theo dõi và đánh giá điều trị qua các tháng.
− Công cụ thu thập số liệu là bệnh án nghiên cứu đƣợc thiết kế gồm các mục:
− Kỹ thuật thu thập số liệu: Quy trình thu thập số liệu đƣợc thực hiện bởi đội
ngũ bác sĩ và nhân viên y tế có chuyên môn, sử dụng các phƣơng tiện nghiên
cứu và công tụ thu nhập số liệu đã đƣợc thiết kế để thu thập và lƣu trữ dữ
liệu trong quá trình thực hiện các bƣớc của quy trình nghiên cứu.
52
2.3.6. Nội dung và biến số - chỉ số nghiên cứu
Bảng 2.2. Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Các biến số Tiêu chí đánh giá Đơn vị Phƣơng pháp đo đạc
Trung bình
Mục tiêu 1: Đặc điểm bệnh nhân VMBĐ Tuổi Giới Số đợt tái phát trong 12 tháng qua: Mức độ tái phát Năm Nam/Nữ/Khác Tỷ lệ Tỷ lệ Đợt
● 1 đợt ● 2 đợt ● ≥ 3 đợt
Tháng Trung bình
Thời gian mắc bệnh Tính từ thời điểm bệnh nhân tự phát hiện triệu chứng tại mắt lần đầu tiên. Thị lực chỉnh kính tối ƣu Đặc điểm VMBĐ LogMAR
Vị trí: Trung bình T test Tỷ lệ
● Trƣớc ● Trung gian ● Sau ● Toàn bộ
Số mắt:
● 1 mắt ● 2 mắt Dạng viêm:
Tỷ lệ Trung bình
Tỷ lệ chứng do Biến VMBĐ
● Dạng hạt ● Dạng không hạt Viêm mạch võng mạc Phù hoàng điểm: khi độ dày võng mạc vùng hoàng điểm > 315µm trên OCT8 -Biến chứng giác mạc -Dính mống mắt -Đục thủy tinh thể -Tăng nhãn áp/Glôcôm -Xuất huyêt dịch kính -Thiếu máu/tân mạch VM -Mất thị lực
Nguyên nhân Dựa trên các tiêu chí chẩn đoán Tỷ lệ
53
Các biến số Tiêu chí đánh giá Đơn vị Phƣơng pháp đo đạc
VMBĐ
Tỷ lệ
Thuốc chống viêm/ ức chế miễn dịch đã điều trị trƣớc đây
Tỷ lệ từng nguyên nhân gây cho bệnh, đƣợc trình bày ở mục 2.3.3 -Corticosteroid -Thuốc chống chuyển hóa -Thuốc ức chế tế bào T -Thuốc alkyl hóa Đƣợc xác định qua thăm khám và xét nghiệm cận lâm sàng.
soát viêm Tỷ lệ Tác dụng phụ do điều trị VMBĐ Mục tiêu 2: Đánh giá hiệu quả của phối hợp thuốc ADA và thuốc ƢCMD trong điều trị VMBĐ KNT Kiểm mắt10 Đáp ứng hoàn toàn khi có đủ các tiêu chí sau: ● Tyndall tế bào tiền phòng và dịch kính ≤ 0,5.
● Không có dấu hiệu viêm trên lâm thăm khám sàng, OCT và chụp mạch huỳnh quang.
Đáp ứng một phần khi có 1 trong các tiêu chí sau:
● Giảm 2 bậc viêm (tế bào tiền phòng, tế bào dịch kính, mờ đục dịch kính) theo phân loại SUN hoặc giảm về 0.
● Không còn phù hoàng (chiều dày HĐ điểm dƣới 315 µm và không còn dịch trong/dƣới võng mạc trên OCT). ● Không có
rò huỳnh quang trên chụp mạch huỳnh quang.
LogMAR Trung bình Thị lực đƣợc chỉnh kính tối ƣu
Không đáp ứng: không đủ tiêu chuẩn đánh giá là đáp ứng hoàn toàn hay đáp ứng một phần. Thị lực tối ƣu đƣợc quy đổi theo thang logMAR. Bệnh nhân có thị lực 6/6 tƣơng đƣơng điểm logMAR là 0. Thị lực đếm ngón tay tƣơng ứng logMAR
54
Các biến số Tiêu chí đánh giá Đơn vị Phƣơng pháp đo đạc
1,4. Thị lực bóng bàn tay tƣơng ứng logMAR 2.7. Thị lực sáng tối dƣơng tƣơng ứng tính logMAR 3,7. Thị lực sáng tối âm tính tƣơng ứng logMAR 4,7.139
µm Trung bình
ứng tiền + Trung bình Độ dày hoàng điểm Phù hoàng điểm nếu độ dày hoàng điêm trung tâm > 315 µm.8 Tyndall tế bào tiền phòng theo phân loại SUN35
Phản phòng Phản ứng dịch kính Độ mờ đục dịch kính theo phân + Trung bình
loại của NEI/SUN 35,36 Giảm corticosteroid Liều điều trị trong ngày Độ an toàn dụng cố/100 nhân- mg/ngày Biến bệnh năm
liều mũi Tác không mong muốn/biến cố bất lợi đƣợc thu thập từ thời điểm bắt đầu điều trị cho đến 70 ngày sau khi ngừng điều trị (nếu có).8 Khả giãn năng Adalimumab Số tiêm/năm Khả năng giãn liều Adalimumab
2.4. PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
- Số liệu thu đƣợc trong nghiên cứu đƣợc phân tích, xử lý theo phƣơng pháp
xác suất thống kê y sinh học. Các số liệu đƣợc xử lý trên máy vi tính sử dụng phần
mềm SPSS 16.0.
- Thống kê mô tả đƣợc sử dụng để biểu diễn đặc điểm lâm sàng, cân lâm sàng
của ngƣởi bệnhVMBĐ tham gia vào nghiên cứu. Chúng tôi sử dụng tần số (n) và tỷ
lệ (%) để biểu diễn cho biến số định tính và trung bình (Mean), sai số chuẩn (SE) và
độ lệch chuẩn (SD) đƣợc sử dụng để biểu diễn biến định lƣợng. Các test kiểm định
Chi-square hay Fisher’s Exact đƣợc sử dụng để kiệm định sự khác biệt cho các cặp
biến định tính. T-test ghép cặp đƣợc sử dụng cho kiểm định sự khác biệt theo cặp
(trƣớc-sau)) của các biến định lƣợng.
- Về thống kê ngoại suy, chúng tôi tiến hành tính hệ số tƣơng quan (r) đƣợc sử
dụng để kiểm tra mối tƣơng quan giữa thị lực, độ dày hoàng điểm với số mũi tiêm.
Ngoài ra, chúng tôi sử dụng phân tích ANOVA text two tail (ANOVA 2 đuôi) để
55
phân tích mỗi liên quan giữa đặc điểm ngƣời bệnh với thị lực, độ dày hoàng điểm,
liều corticoid theo các mốc thời gian theo dõi trong 12 tháng.
- Khả năng giãn liều Adalimumab của ngƣời bệnh đƣợc phân thành: Nếu ai
đạt đủ điều kiện giãn liều (bệnh đáp ứng hoàn toàn) thì sẽ giãn ra 3 tuần/lần, quy
ƣớc là ―Có giãn liều―, trƣờng hợp duy trì từ 2 tuần/lần thì quy ƣớc là ―Không giãn
liều―. Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp phân tích sống còn (survival analysis) để
phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng giãn liều Adalimumab của ngƣời bệnh
theo các mốc thời gian theo dõi trong 12 tháng.
- Các kết quả có ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,05. Các phân tích đƣợc xử
lý bởi phần mềm SPSS.
2.5. KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC CỦA ĐỀ TÀI
- Đề tài nghiên cứu này đã đƣợc thực hiện dƣới sự chấp thuận của Hội đồng
đạo đức Nghiên cứu Y Sinh học – Trƣờng Đại học Y Hà Nội theo giấy chứng nhận
số 681/GCN-HĐĐĐNCYSH-ĐHYHN.
- Các bệnh nhân trong nghiên cứu đều đƣợc giải thích rõ về mục đích nghiên
cứu, biết đƣợc trách nhiệm và quyền lợi cụ thể của mình, tự nguyện tham gia và hợp
tác chấp hành đầy đủ các qui định trong quá trình nghiên cứu.
- Các bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ đọc và ký tên chấp thuận vào
Biên bản đồng thuận tham gia nghiên cứu.
- Bệnh nhân có quyền rút ra khỏi nghiên cứu bất kỳ thời điểm nào.
- Nghiên cứu nhằm mục đích chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng,
ngoài ra không có mục đích nào khác.
56
CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN VIÊM MÀNG BỒ ĐÀO
3.1.1. Đặc điểm bệnh nhân theo tuổi, giới và bên mắt viêm
Bảng 3.1. Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Vị trí viêm màng bồ đào
Trƣớc
Tổng (n=410)
Đặc điểm
Trung gian (n=16; 3,9%)
Sau (n=107; 26,1%)
Toàn bộ (n=123; 30%)
(n=164; 40%)
n
%
n %
%
N %
n %
n
Nam
186 45,4
70 42,7
12,5
41 38,3 73 59,3
2
Giới
Nữ
224 54,6
94 57,3 14
87,5
66 61,7 50 40,7
p-value
0,37
0,088
0,007
<0,001
≤20
50
12,2
18 11,0
18,8
14 13,1 15 12,2
3
21-40
185 45,1
69 42,1
25,0
54 50,5 58 47,2
4
Nhóm tuổi
41-60
118 28,8
48 29,3
43,8
28 26,2 35 27,5
7
≥61
57
13,9
29 17,7
12,5
11 10,3 15 12,2
2
p-value
0,29
0,33
0,44
0,91
1 mắt
220 53,7 121 73,8
56,3
52 48,6 38 30,9
9
tổn
2 mắt
190 46,3
43 26,2
43,8
55 51,4 85 69,1
7
Mắt thƣơng
p-value
0,83
0,22
<0,001
<0,001
286 47,8 135 64,9 13
56,5
65 40,4 73 35,4
<0,4
312 52,2
73 35,1 10
43,5
96 59,6 133 64,6
≥0,4
Tổng
598 100,0
p-value
0,39
<0,001
0,027
<0,001
Thị lực
141 23,6
32 15,4
21,7
41 25,5 63 30,6
≥1
5
55
9,2
15
7,2
4,3
13 8,1
26 12,6
≥1,6
1
14
2,3
5
2,4
0,0
4
2,5
5
2,4
2,7
0
6
1,0
3
1,4
0,0
0
0,0
3
1,5
3,7
0
7
1,2
2
1,0
0,0
3
1,9
2
1,0
4,7
0
57
Trong thời gian nghiên cứu, 410 bệnh nhân (tƣơng ứng với 600 mắt) đƣợc chẩn
đoán viêm màng bồ đào, bao gồm 186 nam (chiếm 45,4%) và 224 nữ (chiếm 54,6%).
Tỷ lệ nữ: nam mắc bệnh VMBĐ tƣơng ứng là 1,2:1, với nữ giới chiếm ƣu thế.
Bảng 3.1 biểu diễn các đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu ở thời điểm
thăm khám ban đầu. Tuổi trung bình của đối tƣợng nghiên cứu là 39,9±16,8 tuổi
(trải từ 1 đến 85 tuổi). Phần lớn các bệnh nhân nằm ở độ tuổi 21-40 tuổi, tƣơng ứng
185 bệnh nhân (chiếm 45,1%). Trong khi đó, nhóm tuổi từ 20 trở xuống chỉ chiếm
12,2%, tƣơng ứng với 50 bệnh nhân.
Trong số 410 đối tƣợng tham gia nghiên cứu, có 220 bệnh nhân (53,7%) chỉ
biểu hiện VMBĐ ở một mắt và 190 bệnh nhân (46,3%) có biểu hiện VMBĐ ở cả
hai mắt. VMBĐ mãn tính gặp ở 222 bệnh nhân (54,1%) còn VMBĐ cấp tính biểu
hiện ở 188 bệnh nhân (45,9%). Tại thời điểm thăm khám ban đầu, 286 mắt (47,8%)
có thị lực tốt hơn 0,4 logMAR. Thị lực bằng hoặc kém hơn 0,4 logMAR gặp ở 312
mắt (52,2%). Trong nhóm bệnh nhân có VMBĐ trƣớc, bệnh nhân có thị lực tốt hơn
0,4 logMAR chiếm ƣu thế (64,9%). Ngƣợc lại, thị lực bằng hoặc kém hơn 0,4
logMAR gặp chủ yếu ở nhóm có VMBĐ sau và VMBĐ toàn bộ, tƣơng ứng là
59,6% và 64,6%.
3.1.2. Đặc điểm bệnh nhân theo phân loại giải phẫu
Viêm màng bồ đào trƣớc chiếm 40% (n = 164), tiếp đến là VMBĐ toàn bộ
chiếm 30% (n=123), VMBĐ sau chiếm 26,1% (n=107), và VMBĐ trung gian
chiếm 3,9% (n=16) (Bảng 3.1). Trong nhóm VMBĐ trung gian, nữ giới chiếm ƣu
thế với tỷ lệ là 87,5% (p=0,007), ngƣợc lại ở nhóm VMBĐ sau, nam giới lại chiếm
ƣu thế với tỷ lệ 59,3 % (p<0,001).
Đặc điểm vị trí giải phẫu của VMBĐ có mối liên quan có ý nghĩa với đặc
điểm bên mắt VMBĐ (viêm một mắt hay hai mắt) ở nhóm bệnh nhân VMBĐ trƣớc
với p<0,001 và nhóm bệnh nhân VMBĐ sau (p<0,001). VMBĐ một bên mắt chiếm
tỷ lệ cao ở nhóm VMBĐ trƣớc (73,8%). Ngƣợc lại, tỷ lệ VMBĐ hai bên mắt chiếm
tỷ lệ cao ở nhóm VMBĐ sau (69,1%).
58
3.1.3.
Đặc điểm theo nguyên nhân gây bệnh
Bảng 3.2. Căn nguyên gây bệnh theo vị trí giải phẫu viêm màng bồ đào
Giới tính Vị trí giải phẫu
Tổng số (n = 410) Trƣớc (n = 164)
Nam (n = 186) % n Nữ (n = 224) n % n % Trung gian (n = 16) % n Sau (n = 107) n % Toàn bộ (n = 123) n % n %
0,9 0,0 1,9 0,0
26 14 13 2 14 10 10 6 5 4 3 2 1 6,3 3,4 3,2 0,5 3,4 2,4 2,4 1,5 1,2 1,0 0,7 0,5 0,2 15 5 4 2 8 5 4 3 1 2 2 1 1 8,1 2,7 2,2 1,1 4,3 2,7 2,2 1,6 0,5 1,1 1,1 0,5 0,5 11 9 9 0 6 5 6 3 4 2 1 1 0 4,9 4,0 4,0 0,0 2,7 2,2 2,7 1,3 1,8 0,9 0,4 0,4 0,0 18 14 10 0 0 4 0 3 0 0 0 1 0 11,0 0 0 8,5 1 6,3 0 0,0 0 0,0 2 2,4 0 0 0 1,8 0 0,0 0 0,0 0 0,0 0 0,6 0 0,0 0,0 0,0 6,3 0,0 0,0 12,4 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 1 0 2 0 11 10,3 3 7 2 5 4 1 0 0 2,8 6,5 1,9 4,7 3,8 0,9 0,0 0,0 7 0 0 2 3 1 3 1 0 0 2 1 1 5,7 0,0 0,0 1,6 2,4 0,8 2,4 0,8 0,0 0,0 1,6 0,8 0,8
0,0
Nhiễm trùng CMV* HSV * VZV* EBV* Toxocara Lao Toxoplasma Haemophilus influenzae Virus Dengue Bartonella Cysticercosis Viêm nội nhãn sau mổ Giang mai Không nhiễm trùng Hội chứng Vogt–Koyanagi– Harada Hội chứng Posner – Schlossman Bệnh Behcet’s HLA-B27 Bệnh sarcoid 51 30 22 14 11 12,5 7,3 5,4 3,4 2,7 21 9 19 11 1 11,3 30 21 4,8 10,2 3 3 6,0 10 0,5 13,6 2 9,6 1,3 1,3 4,5 30 0 12 6 1,2 0 18,5 0 0 0,0 0 7,2 0 3,6 0,0 0,0 0,0 0 0,0 19 17,8 0 3 1 0 0,0 2,8 0,9 0,0 30 24,4 0 19 15,4 1 5 0,8 4,1
59
Giới tính Vị trí giải phẫu
Tổng số (n = 410) Trƣớc (n = 164)
Nữ (n = 224) n 2 3 1 4 4 1 0 0 0 0 1 2 1 1 0 1 n 0 5 0 0 3 0 0 0 0 0 1 0 0 3 0 0 n 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 1
Nam (n = 186) % 2,2 1,1 1,6 0,0 0,5 0,0 0,5 0,5 0,5 0,5 0,0 0,0 0,0 1,1 1,1 0,0 29,0 77 % 0,9 1,3 0,4 1,8 1,8 0,4 0,0 0,0 0,0 0,0 0,4 0,9 0,4 0,4 0,0 0,4 34,4 52 n 4 2 3 0 1 0 1 1 1 1 0 0 0 2 2 0 54 Trung gian (n = 16) % 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 6,3 75,0 % 0,0 3,0 0,0 0,0 1,8 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,6 0,0 0,0 1,8 0,0 0,0 31,7 12 Sau (n = 107) n % 5,6 6 0,0 0 0,0 0 1,9 2 0,0 0 0,9 1 0,9 1 0,9 1 0,9 1 0,0 0 0,0 0 1,9 2 0,9 1 0,0 0 0,0 0 0,0 0 31 29 Toàn bộ (n = 123) n % 0,0 0 0,0 0 3,3 4 1,6 2 1,6 2 0,0 0 0,0 0 0,0 0 0,0 0 0,8 1 0,0 0 0,0 0 0,0 0 0,0 0 1,6 2 0,0 0 36 29,3 % 1,5 1,2 0,7 0,9 1,2 0,2 0,2 0,2 0,2 0,2 0,2 0,5 0,2 0,7 0,5 0,2 32,0 n 6 5 4 4 5 1 1 1 1 1 1 2 1 3 2 1 131
*CMV, cytomegalovirus; HSV, herpes simplex virus; VZV, varicella zoster virus; EBV, Epstein–Barr virus; APMPPE (acute posterior
multifocal placoid pigment epitheliopathy): bệnh biểu mô sắc tố dạng mảng đa ổ phía sau cấp tính.
Viêm hắc mạc loang dần Hội chứng Fuchs Nhãn viêm giao cảm Lupus ban đỏ hệ thống Viêm khớp thiếu niên vô căn Viêm khớp dạng thấp Bệnh Eales APMPPE* Hội chứng kháng phospholipid Hội chứng Susac U hạt xantho ở thiếu niên Viêm hắc mạc đa ổ Bệnh hắc mạc lớp trong dạng chấm Viêm màng bồ đào do thủy tinh thể Viêm nội nhãn nội sinh Vảy nến Viêm màng bồ đào vô căn Bệnh lý tân sản U lympho 2 1,9 0 0,0 2 0,5 0 0,0 2 0,9 0 0,0 0 0,0
60
Trong số 410 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, 110 trƣờng hợp VMBĐ nhiễm
trùng chiếm 26,8%, 298 trƣờng hợp VMBĐ không nhiễm trùng (72,7%), và 2
trƣờng hợp VMBĐ liên quan đến bệnh lý tân sản (0,5% trƣờng hợp có u lympho
dịch kính võng mạc). Trong đó, 279 trƣờng hợp xác định đƣợc nguyên nhân gây
VMBĐ (68%). VMBĐ vô căn đƣợc chẩn đoán ở 131 trƣờng hợp (32%). (Bảng 3.2)
Trong số các trƣờng hơp VMBĐ nhiễm trùng, Cytomegalo virus (CMV) là tác
nhân gây bệnh thƣờng gặp nhất, gặp ở 26 bệnh nhân (6,3%), tiếp đến là herpes
simplex virus (14 bệnh nhân; 3,4%), Varicella zoster virus (13 bệnh nhân; 3,2%),
lao (10 bệnh nhân; 2,4% trƣờng hợp), và toxoplasma (10 bệnh nhân; 2,4%). Trong
nghiên cứu này, chúng tôi tìm thấy Haemophilus influenza trong mẫu dịch nội nhãn
của 6 trƣờng hợp VMBĐ (1,5%), bao gồm 3 trƣờng hợp viêm màng bồ đào trƣớc, 2
trƣờng hợp viêm màng bồ đào sau, và một trƣờng hợp viêm màng bồ đào toàn bộ.
Các nguyên nhân hiếm gặp hơn của VMBĐ nhiễm trùng bao gồm virus Dengue,
Bartonella, giang mai, và nhiễm sán dây lợn. Trong nhóm VMBĐ trƣớc do nhiễm
trùng, nguyên nhân gây bệnh thƣờng gặp nhất là CMV (18 bệnh nhân; 11%), tiếp
đến là HSV (14 bệnh nhân; 8,5%) và VZV (10 bệnh nhân; 6,3%). Trong nhóm
VMBĐ sau do nhiễm trùng, nguyên nhân hàng đầu là toxocara (11 bệnh nhân;
10,3%), toxoplasma (7 bệnh nhân; 6,5%), và viêm hắc võng mạc do virus Dengue
(5 bệnh nhân; 4,7%). Virus CMV là nguyên nhân gây bệnh thƣờng gặp nhất trong
nhóm VMBĐ toàn bộ do nhiễm trùng.
Trong số các trƣờng hợp VMBĐ không nhiễm trùng, có 131 trƣờng hợp
(32%) đƣợc chẩn đoán là VMBĐ vô căn, chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là hội chứng
Vogt−Koyanagi−Harada (VKH) (51 bệnh nhân; 12,5%), hội chứng Posner-
Schlossman (PSS) (30 bệnh nhân; 7,3%), và bệnh Behcet (22 bệnh nhân; 5,4%).
Trong nhóm VMBĐ trƣớc không nhiễm trùng, nguyên nhân vô căn chiếm tỷ lệ cao
nhất (52 bệnh nhân; 31,7%), tiếp đến là PSS (30; 18,5%), VMBĐ liên kết HLA-B27
(12 bệnh nhân; 7,2%). Trong nhóm VMBĐ toàn bộ không nhiễm trùng, hội chứng
VKH là nguyên nhân thƣờng gặp nhất (30 bệnh nhân; 24,4%), tiếp đến là bệnh
Behcet (19 bệnh nhân; 15,4%).
61
Hai trƣờng hợp u lympho dịch kính võng mạc (0,5%) đƣợc xếp vào nhóm
bệnh lý tân sản. Cả hai trƣờng hợp đều biểu hiện trên bệnh nhân nữ, ngoài 50 tuổi, ở
VMBĐ vô căn
31,7
Hội chứng Posner–Schlossman
18,5
CMV
11
HSV
8,5
HLA–B27
7,2
Zona
6,3
Sarcoidosis
3,6
Hội chứng Fuchs
3
Lao
2,4
VMBĐ do chất thủy tinh thể
1,8
Viêm khớp thiếu niên vô căn
1,8
Haemophilus infulenzae
1,8
Hội chứng Vogt–Koyanagi–Harada
1,2
Juvenile xanthogranuloma
0,6
VMBĐ sau phẫu thuật
0,6
0
5
10
15
20
25
30
35
hình thái VMBĐ sau (1,9%).
Tỉ lệ %
Biểu đồ 3.1. Các nguyên nhân gây VMBĐ trƣớc
Nhận xét: Xét về vi trí giải phẫu, trong số các bệnh nhân có VMBĐ trƣớc,
nguyên nhân vô căn (52 bệnh nhân; 31,7%) và hội chứng PSS (30; 18,5%) là các
nguyên nhân thƣờng gặp nhất, tiếp đến là VMBĐ do CMV (18 bệnh nhân; 11%),
VMBĐ do HSV (14 bệnh nhân; 8,5%) và VMBĐ liên kết HLA-B27 (12 bệnh nhân;
7,2%) (Biểu đồ 3.1).
62
VMBĐ vô căn
29
Hội chứng VKH
17,8
Toxocara
10,3
Toxoplasma
6,5
Viêm HVM loang dần
5,6
Virus sốt xuất huyết
4,7
Bartonella
3,8
Bệnh Behcet
2,8
Lao
2,8
Zona
1,9
Haemophilus infulenzae
1,9
Bệnh Lupus
1,9
Multifocal choroiditis
1,9
U lympho
1,9
CMV
0,9
Cysticercosis
0,9
HLA–B27
0,9
Viêm khớp dạng thấp
0,9
Eales's disease
0,9
APPME
0,9
HC kháng phospholipid
0,9
0
5
10
15
20
25
30
35
Tỉ lệ %
Biều đồ 3.2. Các nguyên nhân gây VMBĐ sau
Nhận xét: Trong số các bệnh nhân có VMBĐ sau, ngoài nguyên nhân vô căn
thì hội chứng VKH là nguyên nhân thƣờng gặp nhất (19 bệnh nhân; 17,8%), tiếp
đến là VMBĐ do toxocara (11 bệnh nhân; 10,3%), VMBĐ do toxoplasma (7 bệnh
nhân; 6,5%) và viêm hắc võng mạc loang dần (6 bệnh nhân; 5,6%) (Biểu đồ 3.2)
63
VMBĐ vô căn
29,3
Hội chứng VKH
24,4
Bệnh Behcet
15,4
CMV
5,7
Sarcoidosis
4,1
Nhãn viêm giao cảm
3,3
Toxoplasma
2,4
Toxocara
2,4
Bệnh Lupus
1,6
JIA
1,6
Viêm nội nhãn nội sinh
1,6
EBV
1,6
Cysticercosis
1,6
Lao
0,8
Giang mai
0,8
Hội chứng Susac
0,8
VMBĐ sau phẫu thuật
0,8
HLA–B27
0,8
Haemophilus infulenzae
0,8
0
5
10
15
20
25
30
35
Tỉ lệ %
Biểu đồ 3.3. Các nguyên nhân gây VMBĐ toàn bộ
Nhận xét: Các nguyên nhân hàng đầu gây VMBĐ toàn bộ là nguyên nhân vô
căn (36 bệnh nhân; 29,3%) và hội chứng VKH (30 bệnh nhân; 24,4%), tiếp đến là
bệnh Behcet (19 bệnh nhân; 15,4%), VMBĐ do CMV (7 bệnh nhân; 5,7%), và bệnh
sarcoid (5 bệnh nhân; 4,1%) (Biểu đồ 3.3).
64
Bảng 3.3. Các nguyên nhân gây bệnh theo nhóm tuổi (Năm)
21–40 (n = 185) 41–60 (n = 118) ≥61 (n = 57)
≤20 (n = 50) VMBĐ vô căn % 34,0 VMBĐ vô căn n 17 % 31,5 VMBĐ vô căn n 58 n % 40 33,9 VMBĐ vô căn n % 16 28,1
thiếu 10,0 24 13,1 12,7 15 9 15,7 5 Viêm khớp niên vô căn Hội chứng Vogt– Koyanagi–Harada Hội chứng Vogt– Koyanagi–Harada
6,0 Bệnh Behcet 17 9,2 CMV* Hội chứng Vogt–Koyanagi– Harada 9,3 HSV* 11 6 10,4 3
do 4,0 15 8,1 10 8,5 VZV* 6 10,4 2 Hội chứng Posner– Schlossman Hội chứng Posner– Schlossman Hội chứng Vogt– Koyanagi–Harada VMBĐ Bartonella
chứng Bệnh Behcet 4,0 CMV* 10 5,4 HLA-B27 4,2 5 4 7,0 2 Hội Posner– Schlossman
4,2 CMV 2,5 Bartonella 2,5 Sarcoid 5 3 3 3 2 2 5,3 3,5 3,5 4,0 Toxocara 4,0 HLA-B27 4,0 4,9 VZV* 4,3 Bệnh Behcet 2,7 Sarcoid 9 8 5 CMV* HSV* Lao 2 2 2
2,5 3 2 3,5 4,0 2,7 HSV 5 Toxocara 2 Viêm nội nhãn sau mổ Sarcoid Haemophilus influenzae
2,5 Giang mai 3 1 1,8 4,0 Toxoplasma 2,7 Lao 5 2
3 1 1,8 2,0 Lao 2,2 Toxoplasma 2,5 Lao 4 1 Toxoplasma Lupus ban đỏ hệ thống
2 1 1,8 2,0 2,2 1,7 4 Sarcoid 1 Viêm hắc mạc loang dần Lupus ban đỏ hệ thống
2 1 1,8 2,0 HSV 1,6 Hội chứng Fuchs 3 1
lympho nội 2 1 1,8 2,0 1,6 1,7 3 1 Hôi chứng VMBĐ Fuchs Nhãn viêm giao cảm Nhãn viêm giao cảm 1,7 Toxocara U nhãn Cysticercosis Hemophilus influenzae
65
1,7 1 1,8 2,0 Cysticercosis 1,1 Toxocara 1 2 2 VMBĐ do thủy tinh thể
1,7 HLA-B27 1 1,8 1 2 2
1 2,0 Virus Dengue 2,0 VZV* 2 1 0,8
1 2,0 1 1,1 Virus Dengue 1,1 APMPPE* 0,5 EBV* 1 0,8 Hội chứng Posner– Schlossman U hạt xantho ở thiếu niên Viêm hắc mạc đa ổ Viêm hắc mạc lớp trong dạng chấm
Virus Dengue 1 Lupus ban đỏ hệ thống 2,0 EBV* 1 0,5 1 0,8
1 2,0 Bệnh Eales 1 0,5 1 0,8 Viêm hắc mạc loang dần
hắc mạc Vảy nến 1 2,0 1 0,5 1 0,8
Hội chứng kháng phospholipid Hội chứng Susac 1 0,5 1 0,8
Viêm hắc mạc đa ổ 1 0,5 1 0,8
0,5
U lympho nội nhãn nguyên phát VMBĐ do thủy tinh thể Viêm Serpiginous Viêm khớp phản ứng Viêm nội nhãn nội sinh 1 0,5
1 0,5 Nhãn viêm giao cảm 1 VMBĐ do thủy tinh thể Viêm nội nhãn nội sinh
*CMV, cytomegalovirus; HSV, herpes simplex virus; VZV, varicella zoster virus; EBV, Epstein–Barr virus; APMPPE (acute
posterior multifocal placoid pigment epitheliopathy): bệnh biểu mô sắc tố dạng mảng đa ổ phía sau cấp tính.
66
VMBĐ vô căn là nguyên nhân thƣờng gặp nhất ở tất cả các nhóm tuổi (Bảng
3.3). Trong nhóm bằng hoặc nhỏ hơn 20 tuổi, viêm khớp mãn tính thiếu niên là
nguyên nhân thƣờng gặp thứ hai (5 bệnh nhân; 10,0%), tiếp đến là hội chứng VKH
(3 bệnh nhân; 6,0%). Trong khi đó, ở nhóm trên 20 tuổi, hội chứng VKH lại là nguyên
nhân thƣờng gặp thứ hai (24 bệnh nhân; 13,1%). Riêng nhóm bệnh nhân 21-40 tuổi,
các chẩn đoán thƣờng gặp khác là bệnh Behcet (17 bệnh nhân; 9,2%), hội chứng PSS
(15 bệnh nhân; 8,1%), và VMBĐ do CMV (10 bệnh nhân; 5,4%). Còn ở nhóm bệnh
nhân 41-60 tuổi, các chẩn đoán thƣờng gặp là VMBĐ do CMV (11 bệnh nhân; 9,3%)
và hội chứng PSS (10 bệnh nhân; 8,5%). Ở nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi, các nguyên
nhân thƣờng gặp khác là HSV (6 bệnh nhân; 10,4%) và VZV (6 bệnh nhân; 10,4%).
3.1.4. Đặc điểm theo biến chứng của bệnh
Bảng 3.4. Các biến chứng của viêm màng bồ đào
Vị trí giải phẫu của viêm màng bồ đào
Trung Biến chứng Tổng số Trƣớc Sau Toàn bộ gian
N % N % N % N % N %
Tăng nhãn áp 71 17,3 55 77,5 0 0,0 7,0 11 15,5 5
Đục thủy tinh thể 46 11,2 18 10,9 2 13,3 3,8 22 17,7 4
Phù hoàng điểm 45 11 7 4,2 5 33,3 14 13,2 19 15,3
Bong võng mạc 33 8 3 1,8 1 6,7 15 14,2 14 11,3
Glôcôm 31 7,6 21 12,7 0 0 4 3,8 6 4,8
Teo gai thị 26 6,3 1 0,6 0 0 8 7,5 17 13,7
Sẹo võng mạc 14 3,4 1 0,6 0 0 2 1,9 11 8,9
Tân mạch võng mạc 11 2,7 0 0 0 0 4 3,8 7 5,6
Xuất huyết dịch kính 8 2 0 0 0 0 3 2,8 5 4,0
Tân mạch hắc mạc 8 2 0 0 0 0 3 2,8 5 4,0
Thoái hóa hắc võng mạc 8 2 0 0 0 0 0 0,0 8 6,5
Bệnh giác mạc dải băng 4 1 2 1,2 0 0 0 0 2 1,6
Teo nhãn cầu 3 0,7 1 0,6 0 0 0 0 2 1,6
Loạn dƣỡng giác mạc 1 0,2 1 0,6 0 0 0 0 0 0
67
Trong số 410 bệnh nhân tham gia nghiên cứu có 226 bệnh nhân (55,1%) có ít
nhất một biến chứng của bệnh VMBĐ (bảng 3.4). Một bệnh nhân có thể có một
hoặc hơn một biến chứng do bệnh VMBĐ gây nên. Các biến chứng thƣờng gặp nhất
là tăng nhãn áp (71 bệnh nhân; 17.3%) và đục thủy tinh thể (46 bệnh nhân; 11,2%),
tiếp đến là phù hoàng điểm (11%), bong võng mạc (8%), và glôcôm (7,6%). Biến
chứng tăng nhãn áp gặp chủ yếu trên bệnh nhân có VMBĐ trƣớc (55 bệnh nhân;
77.5%). Biến chứng đục thủy tinh thể gặp chủ yếu trên bệnh nhân có VMBĐ toàn
bộ (22 bệnh nhân; 17,9%) và VMBĐ trƣớc (18 bệnh nhân; 10,9%). Biến chứng phù
hoàng điểm, tân mạch võng mạc, và tân mạch hắc mạc là các biến chứng thƣờng
gặp nhất trong nhóm VMBĐ sau và VMBĐ toàn bộ. Các biến chứng khác nhƣ teo
gai thị (6,3%), sẹo võng mạc (3,4%), tân mạch võng mạc (2,7%), thoái hóa hắc
võng mạc hoàng hôn (2%), tân mạch hắc mạc (2%), bệnh giác mạc dải băng (1%),
teo nhãn cầu (0,7%), và loạn dƣỡng giác mạc (0,2%).
3.2. HIỆU QUẢ CỦA PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
3.2.1. Đặc điểm chung của đối tƣợng tham gia mục tiêu 2
Trong tổng số 410 bệnh nhân có viêm màng bồ đào tham gia nghiên cứu, 25
bệnh nhân với 49 mắt đƣợc chẩn đoán viêm màng bồ đào không nhiễm trùng và đáp
ứng đầy đủ các tiêu chí của mục tiêu 2 đã đƣợc điều trị bằng phối hợp Adalimumab
và thuốc ức chế miễn dịch. Trong đó có 9 bệnh nhân nữ (36,0%) và 16 bệnh nhân
nam (64,0%). Độ tuổi trung bình ở thời điểm sàng lọc là 29,2 ± 13,4 tuổi (trung vị
là 30 tuổi), bệnh nhân lớn tuổi nhất là 60 tuổi và nhỏ tuổi nhất là 8 tuổi.
Thời gian mắc bệnh trung bình là 29,0 ± 31,3 tháng. Bệnh nhân có thời gian
mắc bệnh ngắn nhất là 5 tháng tính từ thời điểm bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng
đầu tiên. Bệnh nhân có thời gian mắc bệnh dài nhất là 120 tháng. Tại thời điểm sàng
lọc, thị lực trung bình của các đối tƣơng tham gia nghiên cứu là 0,601±0,547
logMAR.
68
Bảng 3.5 Đặc điểm lâm sàng trước điều trị của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm chung n (%)
Tổng (n=25 bệnh nhân) 49 mắt
25 (100%)
6 (24,0%) 1 (4,0%) 1 (4,0%) 17 (68,0%)
25 (100,0%) 0 (0,0%)
11 (44,0%) 14 (56,0%) 21 (84,0%)
Số mắt điều trị Mức độ tái phát trong 12 tháng (Bệnh nhân) ≥ 3 đợt/mãn tính kéo dài Vị trí VMBĐ (Bệnh nhân) Trƣớc và trung gian Trung gian Sau Toàn bộ Số mắt viêm (Bệnh nhân) 2 mắt 1 mắt Dạng viêm (Bệnh nhân) Dạng hạt Dạng không hạt Viêm mạch võng mạc (Bệnh nhân) Biến chứng của VMBĐ (Mắt) Đục thủy tinh thể Phù hoàng điểm Tăng nhãn áp/Glôcôm Teo võng mạc Teo gai thị Xuất huyết dịch kính Thiếu máu/tân mạch võng mạc Teo nhãn cầu 20 (80,0%) 12 (48,0%) 8 (32,0%) 7 (28,0%) 5 (20,0%) 2 (8,0%) 2 (8,0%) 1 (4,0%)
Tất cả 25 bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều có biểu hiện VMBĐ ở cả hai
mắt với phân loại vị trí VMBĐ tƣơng tự giữa hai mắt trên cùng một bệnh nhân.
VMBĐ toàn bộ gặp ở 17 bệnh nhân (68,0%), 6 bệnh nhân có VMBĐ trƣớc kết hợp
VMBĐ trung gian (24,0%), 1 bệnh nhân có VMBĐ trung gian (4%) và 1 bệnh nhân
có VMBĐ sau (4,0%) (Bảng 3.5) Trong đó có 11 trƣờng hợp (44,0%) có viêm dạng
hạt và 14 trƣờng hợp (56%) có viêm dạng không hạt (Bảng 3.5)
Tại thời điểm sàng lọc, 12 bệnh nhân (48,0%) có biến chứng phù hoàng điểm do
viêm màng bồ đào không đƣợc kiểm soát; 21 bệnh nhân (84,0%) có viêm mạch võng
69
mạc; 20 bệnh nhân (80%) có biểu hiện đục thủy tinh thể biến chứng ở một hoặc cả hai
mắt; 8 bệnh nhân (32%) trƣờng hợp có tăng nhãn áp hoặc glôcôm thứ phát; 2 bệnh
nhân (8,0%) có tân mạch võng mạc và từng bị xuất huyết dịch kính; 5 bệnh nhân có teo
gai thị do viêm; 7 bệnh nhân có teo mỏng võng mạc (28,0%) và 1 bệnh nhân có teo
nhãn cầu và mất chức năng ở một trong hai mắt bị VMBĐ (4,0%) (Bảng 3.5).
Bảng 3.6. Nguyên nhân gây bệnh và phương pháp điều trị trước nghiên cứu
Đặc điểm chung n (%) Tổng (n=25)
9 (36,0%) 6 (24,0%) 5 (20,0%) 1 (4,0%) 1 (4,0%) 1 (4,0%) 1 (4,0%) 1 (4,0%)
3 (12,0%) 1 (4,0%) 1 (4,0%) 5 (20,0%) 7 (28,0%) 8 (32,0%)
17 (68,0%) 8 (32,0%) 1 (4,0%)
Nguyên nhân gây VMBĐ Bệnh Behcet CRNN* Hội chứng Vogt−Koyanagi−Harada Hội chứng susac JIA* Bệnh Sarcoid Bệnh vảy nến Viêm cột sống dính khớp Thuốc ức chế miễn dịch đã dùng Adalimumab Azathioprine Cyclosporine Mycophenolate mofetyl Methotrexate Không dùng Tác dụng phụ do điều trị Corticosteroid Hội chứng giả Cushing Trầm cảm Suy thƣợng thận *JIA (Juvenile idiopathic arthritis) viêm khớp thiếu niên vô c n; CRNN: chưa rõ
nguyên nhân
Các bệnh nguyên của VMBĐ bao gồm bệnh Behcet (n=9 chiếm 36%), bệnh
Vogt−Koyanagi−Harada (n=5 chiếm 20%), Viêm cột sống dính khớp (n=1 chiếm
4%) , Vảy nến (n=1 chiếm 4%), bệnh Sarcoid (n=1 chiếm 4%), bệnh Viêm khớp
thiếu niên vô căn (n=1 chiếm 4%), hội chứng Susac (n=1 chiếm 4%). Còn lại là 6
trƣờng hợp VMBĐ vô căn, chiếm tỷ lệ 24% (Bảng 3.6).
Trƣớc khi tham gia nghiên cứu, 100% bệnh nhân đã từng đƣợc điều trị với
70
corticosteroid kết hợp cả đƣờng toàn thân và đƣờng tại chỗ. Liên quan đến tác dụng
phụ toàn thân của corticosteroid, 17 bệnh nhân (68,0%) có hội chứng Cushing do điều
trị corticosteroid kéo dài, 8 bệnh nhân (32,0%) có các triệu chứng trầm cảm và 1
trƣờng hơp (4,0%) có biểu hiện suy thƣợng thận do điều trị corticosteroid (Bảng 3.6).
Trƣớc khi tham gia nghiên cứu, 17 bệnh nhân (68,0%) đã đƣợc điều trị với
thuốc chống viêm khác không phải corticosteroid, bao gồm: 3 bệnh nhân điều trị
Adalimumab (12,0%), 1 bệnh nhân điều trị Azathioprine (4,0%), 1 bệnh nhân điều
trị Cyclosporine (4,0%), 5 bệnh nhân điều trị Mycophenolate mofetil (20,0%) và 7
bệnh nhân điều trị Methotrexate (28.0%). Tuy nhiên, tình trạng viêm không đƣợc
kiểm soát hoàn toàn (Bảng 3.6).
Bảng 3.7. Phương pháp điều trị phối hợp trong thời gian nghiên cứu
Chế độ điều trị Không điều trị tại chỗ (Mắt; %)
17 (53,1%) Phối hợp corticosteroid đƣờng tra (Mắt) 10 (31,3%) Phối hợp corticosteroid tiêm cạnh nhãn cầu (Mắt) 6 (18,8%)
Adalimumab và methotrexate (n=16 bệnh nhân; 32 mắt)
8 (88,9%) 1 (11,1%) 0 (0%)
Adalimumab và azathioprine (n=5 bệnh nhân; 9 mắt)
7 (87,5%) 1 (12,5%) 0 (0%)
Adalimumab và mycophenolate mofetil (n=4 bệnh nhân; 8 mắt)
32 (65,3%) 12 (24,5%) 6 (12,2%)
Tổng (n=25 bệnh nhân; 49 mắt)
Trong quá trình nghiên cứu, 49 mắt của 25 bệnh nhân đƣợc điều trị bằng phối hợp
ADA và thuốc ức chế miễn dịch (ƢCMD). Trong số đó, 32 mắt (65,3%) không cần phối
hợp thêm thuốc corticosteroid đƣờng tại chỗ trong suốt quá trình nghiên cứu, 12 mắt
(24,5%) có phối hợp thuốc đƣờng tra tại chỗ và 6 mắt (12,2%) có phối hợp thuốc đƣờng
tiêm cạnh nhãn cầu để giúp kiểm soát hoàn toàn tình trạng viêm tại mắt (Bảng 3.7).
Liên quan đến thuốc ức chế miễn dịch đƣợc sử dụng phối hợp với Adalimumab, 16
bệnh nhân (64%) điều trị Methotrexate (MTX), 5 bệnh nhân (20%) điều trị Azathioprine
71
(AZA) và 4 bệnh nhân (16%) điều trị Mycophenolate mofetil (MMF).
Trong số các bệnh nhân điều trị phối hợp ADA và MTX, 10 mắt cần phối hợp
thuốc chống viêm tra tại chỗ tại một thời điểm nào đó của quá trình điều trị, 6 mắt
cần phối hợp thuốc tiêm cạnh nhãn cầu tại thời điểm tái phát bệnh (3 tháng đầu).
Trong số các bệnh nhân điều trị phối hợp ADA và AZA, 1 mắt cần phối hợp thuốc
chống viêm tra tại chỗ tại một thời điểm bệnh tái phát, không có trƣờng hợp nào cần phối
hợp thêm thuốc tiêm cạnh nhãn cầu.
Trong số các bệnh nhân điều trị phối hợp ADA và MMF, 1 mắt cần phối hợp
thêm thuốc chống viêm tra tại chỗ tại một thời điểm bệnh tái phát. Không có mắt
nào cần phối hợp thuốc tiêm cạnh nhãn cầu.
3.2.2. Hiệu quả của phƣơng pháp điều trị
3.2.2.1. Đáp ứng điều trị theo thời gian
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ đáp ứng điều trị theo thời gian
Nhận xét: Trong tổng số 49 mắt tham gia nghiên cứu, ngoài 4 mắt (8.2%) không
đáp ứng điều trị và đƣợc rút khỏi nghiên cứu (tháng thứ 3, 5), còn lại 45/49 mắt
(91.8%) mắt đều đạt đáp ứng điều trị. So với thời điềm sàng lọc, tỷ lệ đáp ứng điều
trị tăng dần theo thời gian. Tại thời điểm 1 tháng, 98% số mắt đáp ứng điều trị với
20,4% đáp ứng hoàn toàn và 77,6 % đáp ứng một phần. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn
vƣợt 50% vào tháng thứ 2 (57,1%), sau đó tiếp tục tăng dần ở các tháng tiếp theo,
72
đạt đến 88,9% ở tháng thứ 7, sau đó có dao động nhẹ ở khoảng thời gian tháng
8,9,10 rồi lại tiếp tục tăng và đạt hiệu quả cao nhất ở tháng thứ 12 với 95,6% đáp
ứng hoàn toàn và 4,4 % đáp ứng một phần.
3.2.2.2. Hiệu quả lên thị lực và độ dày hoàng điểm
Biểu đồ 3.5. Thay đổi thị lực theo thời gian
Nhận xét: Thị lực của các mắt nghiên cứu đƣợc quy đổi về giá trị logMAR để
thuận tiện cho quá trình phân tích và đánh giá. Tại tuần 1, thị lực trung bình là 0,6.
Trị số logMAR giảm nhanh ngay từ tuần thứ 2, đến tuần thứ 4 (0,4). Sau đó lại tăng
ở thời điểm tháng thứ 2. Từ sau tháng thứ 2, trị số logMAR giảm ổn định qua các
tháng, có tăng nhẹ ở tháng thứ 8 sau đó giảm dần về giá trị 0,2 ở tháng thứ 12.
73
Biểu đồ 3.6. Thay đổi độ dày hoàng điểm theo thời gian
Nhận xét: Độ dày hoàng điểm giảm dần theo thời gian. Vào tuần thứ 2, độ dày
hoàng điểm của bệnh nhân là khoảng 341,7±17,9 µm. Sau đó, độ dày giảm mạnh
liên tục trong các tháng tiếp theo và rơi xuống mức khoảng 288,4±7,8 µm vào tháng
thứ 3. Sau đó, độ dày hoàng điểm tăng nhẹ trong 2 tháng tiếp theo, lên khoảng
304,6±14,8 µm vào tháng 5. Sau đó chỉ số giảm mạnh vào tháng 6, xuống khoảng
275,7±5 µm. Trong các tháng tiếp theo, độ dày hoảng điểm giảm nhẹ và đều, dừng
ở mức 266,6± 4,8 µm vào tháng 12.
74
3.2.2.3. Khả n ng giảm và cắt thuốc corticosteroid
Biểu đồ 3.7. Thay đổi liều corticosteroids
Nhận xét:
Biểu đồ 3.7 cho thấy liều corticosteroid đƣợc giảm nhanh trong 4 tháng đầu
của quá trình theo dõi. Liều trung bình ở mức 26,2±1,6mg/ngày ở tuần 1. Sau đó
liều giảm dần đều về khoảng 5,8±0,5mg/ngày ở tháng điều trị thứ 4. Sau đó liều
corticosteroid trung bình lại tăng nhẹ ở thời điểm tháng thứ 5 (6±1,1mg/ngày) và
tháng thứ 8 (3,9±0,8mg/ngày) rồi lại giảm dần cho đến tháng 12 (0,6±0,2mg/ngày).
Ở thời điểm tháng thứ 12, có 20 trong số 23 bệnh nhân (86,96%) không còn dùng
corticosteroid cả đƣờng toàn thân và đƣờng tại chỗ. Trong 3 bệnh nhân còn dùng
corticosteroid, 2 bệnh nhân dùng liều 4mg/ngày và 1 bệnh nhân duy trì liều
6mg/ngày để đạt đáp ứng điều tri hoàn toàn.
75
3.2.2.4. Độ an toàn của phương pháp điều trị
Bảng 3.8. Các biến cố bất lợi xảy ra trong nghiên cứu
Số lƣợng
Các biến cố xảy ra
trong thời gian nghiên cứu Bệnh nhân
Biến cố (Biến cố/100PY*) N=25; PM* =284 (%)
Mệt mỏi 5 (21,1) 3 (12%)
Rối loạn tiêu hóa 3 (12,7) 2 (8%)
Lẫn lộn, mất trí nhớ tạm thời 1 (4,2) 1 (4%)
Nhiễm trùng 7 (29,6)
- Covid 19 3 (12,7) 3 (12%)
- Viêm giác mạc do virus Herpes 1 (4,2) 1 (4%)
- Viêm bàng quang 1 (4,2) 1 (4%)
- Hen phế quản bội nhiễm 1 (4,2) 1 (4%)
- Quantiferon + 1 (4,2) 1 (4%)
Biến đổi công thức máu/ giảm các dòng tế 1 (4,2) bào máu 1 (4%)
Tăng men gan 1 (4,2) 1 (4%)
Tổng số 18 (76,1)
*PM (patient-month): bệnh nhân-tháng; PY (person-year): bệnh nhân-n m
Nhận xét:
Nghiên cứu ghi nhận 18 biến cố (adverse events) trong suốt quá trình theo dõi.
Thƣờng gặp nhất là tình trạng mệt mỏi, tƣơng ứng với 5 biến cố (21,1/100PY) đƣợc
ghi nhận ở 5 thời điểm khác nhau trong quá trình nghiên cứu ở 3 bệnh nhân (12%).
Bẩy biến cố nhiễm trùng tƣơng ứng với 29,6/100PY, trong đó có 3 bệnh nhân
nhiễm Covid-19 (12%), một trƣờng hợp viêm giác mạc do virus Herpes (4%), một
trƣờng hợp mắc cả viêm bàng quang (4%) và hen phế quản bội nhiễm (4%) ở hai
thời điểm khác nhau trong thời gian nghiên cứu. Một trƣờng hợp có xét nghiệm
quantiferon chuyển dƣơng tính tại thời điểm tháng thứ 6 (4,2/100PY), nhƣng không
76
có tổn thƣơng lao ở cơ quan đích. Rối loạn tiêu hóa tƣơng ứng với 3 biến cố
(12,7/100PY) gặp trên 2 bệnh nhân (8%). Các biến cố khác đƣợc ghi nhận trong quá
trình theo dõi bao gồm: biến đổi công thức máu/giảm các dòng tế bào máu
(4,2/100PY), lẫn lộn và mất trí nhớ tạm thời (4,2/100PY).
3.2.2.5. Khả n ng giãn liều Adalimumab
Biểu đồ 3.8. Tỷ lệ giãn cách liều ADA theo thời gian
Nhận xét: Thời gian cách liều adalimumab tăng dần theo thời gian. Tuần 1, tất cả
bệnh nhân có thời gian giãn liều là 1 tuần. Từ tuần thứ 2 trở đi, thời gian giãn liều
tăng lên 2 tuần/lần. Từ tháng 2 bắt đầu có bệnh nhân đƣợc giãn liều ít nhất 3
tuần/lần. Đến tháng điều trị thứ 5, bắt đầu có bệnh nhân giãn liều 4 tuần/lần. Vào 5
tháng cuối kỳ điều trị, khoảng trên 50% bệnh nhân có thời gian giãn liều
adalimumab từ 3 tuần trở lên.
77
Biểu đồ 3.9: Giãn liều Adalimumab của từng cá thể theo thời gian
Nhận xét:
Biểu đồ 3.9 biểu diễn chi tiết lịch trình tiêm của 25 bệnh nhân tham gia trong
nghiên cứu. Sau liều tiêm tấn công, 100% các bệnh nhân đƣợc tiêm đợt tiếp theo ở
tuần thứ 2. Sau đó các bệnh nhân bƣớc sang điều trị duy trì, tiêm Adalimumab cách
mỗi 2 tuần/lần. Từ tháng thứ 2, bắt đầu có 1 trƣờng hợp bệnh nhân đủ điều kiện
giãn liều từ 2 tuần/lần sang 3 tuần/lần. Từ cuối tháng thứ 4, bắt đầu có bệnh nhân đủ
điều kiện giãn liều từ 3 tuần/lần thành 4 tuần/lần. Ngoài hai bệnh nhân bị loại khỏi
nghiên cứu, tại thời điểm cuối của nghiên cứu, trên 52% bệnh nhân (12/23 bệnh
nhân) đƣợc điều trị giãn liều từ 3 tuần/lần trở lên, trong đó có 3 bệnh nhân đã
chuyển qua chế độ giãn liều 5 tuần/lần.
Bảng 3.9. Hiệu quả tại thời điểm trước giãn liều và thời điểm kết thúc nghiên cứu
Các chỉ số mắt
p-value (a)
Trƣớc giãn liều adalimumab (n=35)
Kết thúc nghiên cứu (n=35)
Thị lực
Trung bình (Độ lệch chuẩn)
0,30 (0,39)
0,19 (0,30)
0.07
Trung vị [Nhỏ nhất - Lớn nhất]
0,14 [-0,04; 1,56]
0,04 [-0,08; 0,98]
Liều corticosteroid
Trung bình (Độ lệch chuẩn)
3,89 (1,45)
0,23 (0,94)
<0.001
Trung vị [Nhỏ nhất - Lớn nhất]
4,00 [0 – 8,00]
0 [0 – 4,00]
Độ dày hoàng điểm
Trung bình (Độ lệch chuẩn)
276 (30,3)
265 (33,2)
<0.001
283 [182; 326]
268 [165; 320]
Trung vị [Nhỏ nhất - Lớn nhất] (a) t-test ghép cặp
78
Nhận xét: Trong tổng số 25 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, ngoài 2 trƣờng hợp đƣợc
loại khỏi nghiên cứu và 5 trƣờng hợp không đủ điều kiện giãn liều Adalimumab, thì
có 18 bệnh nhân tƣơng ứng với 35 mắt đủ đủ điều kiện giãn liều ở các thời điểm
khác nhau của nghiên cứu. Trong số đó, 6 bệnh nhân tái phát sau khi giãn từ 2
tuần/lần tiêm Adalimumab sáng 3 tuần/lần và phải quay trở lại liều Adaliumumab 2
tuần/lần cho đến kết thúc nghiên cứu, 12 bệnh nhân còn lại giãn đƣợc liều tiêm
adalimumab ít nhất 3 tuần/lần. So sánh về hiệu quả điều trị lên độ dày hoàng điểm
và khả năng giãn liều corticosteroid trên 35 mắt của 18 bệnh nhân đủ điều kiện giãn
liều này, kết quả cho có sự cải thiện rõ rệt về độ dày hoàng điểm (từ 276 ± 30,3 µm
xuống 265 ± 33,2 µm; p < 0.001) và khả năng giảm liều corticosteroid (từ 3,89 ±
1,45 xuống 0.23 ± 0.94 mg/ngày; p < 0,001) ở thời điểm kết thúc nghiên cứu so với
thời điểm trƣớc khi giãn liều Adalimumab. Đồng thời, không có sự khác biệt về thị
lực tại thời điểm kết thúc nghiên cứu so với thời điểm đạt yên bệnh trƣớc khi giãn
liều Adalimumab trên 35 mắt của 18 bệnh nhân này.
3.2.2.6. Một số yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị
a. Một số yếu tố liên quan lên thị lực trong quá trình điều trị
Biểu đồ 3.10. Mối liên quan giữa tuổi và sự biến đổi thị lực theo thời gian
Nhận xét: Kết quả phân tích ANOVA 2 chiều cho thấy không có sự khác biệt giữa
các nhóm tuổi với sự biến đổi thị lực của mắt VMBĐ theo thời gian.
79
Biểu đồ 3.11. Mối liên quan giữa giới và sự biến đổi thị lực theo thời gian
Nhận xét: Kết quả phân tích ANOVA 2 chiều cho thấy không có sự khác biệt giữa
các giới về sự biến đổi thị lực của mắt VMBĐ theo thời gian.
Biểu đồ 3.12. Mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh
và sự biến đổi thị lực theo thời gian
Nhận xét: Kết quả phân tích ANOVA 2 chiều cho thấy không có sự khác biệt giữa
thời gian mắc bệnh với sự biến đổi thị lực trên các mắt VMBĐ theo thời gian
80
Biểu đồ 3.13. Mối liên quan giữa vị trí viêm và sự biến đổi thị lực theo thời gian
Nhận xét: Kết quả phân tích ANOVA 2 chiều cho thấy không có sự khác biệt giữa
vị trí VMBĐ một phần (VMBĐ trƣớc, VMBĐ trung gian, VMBĐ sau) và VMBĐ
toàn bộ với sự thay đổi thị lực trong thời gian nghiên cứu.
Biểu đồ 3.14. Mối liện quan giữa dạng viêm và sự biến đổi thị lực theo thời gian
Nhận xét: Kết quả phân tích ANOVA 2 chiều cho thấy không có sự khác biệt giữa
dạng viêm với sự biến đổi thị lực trên các mắt VMBĐ theo thời gian.
81
b. Một số yếu tố liên quan đến biến đổi độ dày hoàng điểm trong quá trình điều trị
Biểu đồ 3.15. Mối liên quan giữa vị trí nhóm tuổi và sự biến đổi độ dày hoàng
điểm theo thời gian
Nhận xét: Kết quả phân tích ANOVA 2 chiều cho thấy không có sự khác biệt giữa
các nhóm tuổi về sự biến đổi độ dày hoàng điểm của bệnh nhân theo thời gian.
Biểu đồ 3.16. Mối liên quan giữa giới và sự biến đổi độ dày hoàng điểm
theo thời gian
82
Nhận xét: Kết quả phân tích ANOVA hai chiều với p-value nhỏ hơn 0,001 cho thấy
rằng cả yếu tố giới tính và thời gian theo dõi đều ảnh hƣởng có ý nghĩa thống kê
đến độ dày của hoàng điểm. Cụ thể, ở mỗi mốc thời gian, độ dày hoàng điểm trung
bình của nữ luôn cao hơn so với nam, đặc biệt rõ rệt trong các tuần đầu. Vào tuần 1,
nữ có độ dày hoàng điểm trung bình là 487,4 µm (SE = 44,86), trong khi nam chỉ
đạt 305,5 µm (SE = 13,7). Theo thời gian, độ dày hoành điểm của cả hai nhóm có
xu hƣớng giảm dần, nhƣng mức giảm ở nữ dƣờng nhƣ diễn ra nhanh hơn. Đến
tháng thứ 6, độ dày hoàng điểm của nữ (275,0 µm, SE = 8,24) gần nhƣ bằng với
nam (276,1 µm, SE = 6,03), và ở các mốc sau đó, độ dày của hai giới gần nhƣ
tƣơng đƣơng.
Biểu đồ 3.17. Mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh và sự biến đổi độ dày
hoàng điểm theo thời gian
Nhận xét: Kết quả phân tích ANOVA 2 chiều cho thấy không có sự khác biệt giữa
thời gian mắc bệnh với sự biến đổi độ dày hoàng điểm theo thời gian.
83
Biểu đồ 3.18. Mối liên quan giữa vị trí VMBĐ và sự biến đổi độ dày hoàng
điểm theo thời gian
Nhận xét: Kết quả phân tích ANOVA hai chiều với p-value nhỏ hơn 0,001 cho thấy
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biến đổi độ dày hoàng điểm theo thời gian giữa
các nhóm vị trí VMBĐ khác nhau. Cụ thể, vào tuần 1, độ dày hoàng điểm trung
bình của nhóm VMBĐ một phần (bao gồm VMBĐ trƣớc và trung gian, VMBĐ sau
và VMBĐ trung gian) là 446,9 µm (SE = 50,36), và của nhóm VMBĐ toàn bộ là
318,6 µm (SE = 16,8). Đến tuần 2, độ dày hoàng điểm giảm còn 412,7 µm (SE =
41,40) ở nhóm VMBĐ một phần và 296,2 µm (SE = 11,46) ở nhóm VMBĐ toàn
bộ. Tại tuần 4, độ dày hoàng điểm trung bình tiếp tục giảm xuống 367,1 µm (SE =
28,16) đối với nhóm VMBĐ một phần và 280,1 µm (SE = 7,77) đối với nhóm
VMBĐ toàn bộ. Từ tháng thứ 2 trở đi, độ dày hoàng điểm có xu hƣớng giảm ổn
định hơn, với giá trị trung bình duy trì khoảng 273 µm (SE từ 6,14 đến 7,52) ở cả
hai nhóm đến tận tháng 12.
84
Biểu đồ 3.19. Mối liên quan giữa dạng viêm và sự biến đổi độ dày hoàng điểm
theo thời gian
Nhận xét: Kết quả phân tích ANOVA hai chiều với p-value nhỏ hơn 0,001 cho thấy
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biến đổi độ dày hoàng điểm theo thời gian giữa
các nhóm có dạng VMBĐ khác nhau. Ở tuần 1, độ dày hoành điểm trung bình của
nhóm dạng hạt là 299,3 µm (SE = 16,13), thấp hơn 115,9 µm so với nhóm dạng
không hạt, có độ dày trung bình đạt 415,2 µm (SE = 34,76). Trong quá trình điều
trị, độ dày hoàng điểm ở nhóm VMBĐ dạng không hạt giảm nhanh, đặt biệt trong 3
tháng đầu. Đến cuối nghiên cứu, cả hai nhóm đều có độ dày hoàng điểm trung bình
dƣới 300 µm. Nhóm VMBĐ dạng hạt có độ dày hoàng điểm trung bình là 261,0 µm
(SE = 8,22), chỉ thấp hơn 11 µm so với nhóm VMBĐ dạng không hạt với độ dày
hoàng điểm trung bình là 272,0 µm (SE = 5,25).
85
c. Một số yếu tố liên quan đến tổng số mũi tiêm ADA trong thời gian nghiên cứu
Biểu đồ 3.20. Mối liên quan giữa thị lực trƣớc điều trị và tổng số mũi tiêm
Nhận xét: Không có mối tƣơng quan tuyến tính giữa thị lực trƣớc điều trị và và
tổng số mũi tiêm ADA trong thời gian nghiên cứu.
Biểu đồ 3.21. Mối liên quan giữa độ dày hoàng điểm trƣớc nghiên cứu và tổng
số mũi tiêm
Nhận xét: Không có mối tƣơng quan tuyến tính giữa độ dày hoàng điểm trƣớc điều
trị và tổng số mũi tiêm ADA trong quá trình nghiên cứu.
86
Biểu đồ 3.22. Mối liên quan giữa tuổi và số mũi tiêm
Nhận xét: Biểu đồ chỉ ra có mối tƣơng quan tuyến tính giữa tuổi và tổng số mũi
tiêm ADA trong thời gian nghiên cứu. Cụ thể, tuổi có hệ số tƣơng quan thuận với số
mũi tiêm.
Biểu đồ 3.23. Mối liên quan giữa giới tính và số mũi tiêm
Nhận xét: Biểu đồ chỉ ra không có mối liên quan giữa giới và số mũi tiêm.
87
d. Phân tích sống còn (survival analysis)
Biểu đồ 3.24. Biểu đồ Kaplan-Meier cho khả năng giãn liều Adalimumab
theo nhóm tuổi
Nhận xét: Kết quả phân tích sống còn bằng mô hình Kaplan-Meier đối với các
nhóm tuổi cho thấy có sự khác biệt trong xu hƣớng giãn liều Adalimumab ở các độ
tuổi khác nhau. Đối với nhóm bệnh nhân từ 16 tuổi trở xuống, thời gian trung vị để
giãn liều là 32 tuần, với khoảng tin cậy 95% dao động từ 32 đến 36 tuần. Nhóm
bệnh nhân từ 17 đến 40 tuổi có thời gian trung vị để giãn liều là 40 tuần, với khoảng
tin cậy 95% từ 40 đến 44 tuần. Đối với nhóm bệnh nhân trên 40 tuổi, thời gian trung
vị để giãn liều ở nhóm này không thể xác định đƣợc vì đa phần bệnh nhân trên 40
tuổi không đạt đƣợc giãn liều từ 3 tuần/lần trở lên trong thời gian nghiên cứu.
88
Biều đồ 3.25. Biểu đồ Kaplan-Meier cho khả năng giãn liều Adalimumab theo
giới tính
Nhận xét: Kết quả phân tích sống còn bằng mô hình Kaplan-Meier đối với biến
giới tính cho thấy không có sự khác biệt về khả năng giãn liều Adalimumab giữa
nam và nữ.
Biều đồ 3.26. Biểu đồ Kaplan-Meier cho giãn liều Adalimumab theo thời gian
mắc bệnh
89
Nhận xét: Kết quả phân tích sống còn bằng mô hình Kaplan-Meier đối với biến
thời gian mắc bệnh cho thấy không có sự khác biệt về khả năng giãn liều
Adalimumab và thời gian mắc bệnh.
Biều đồ 3.27. Biểu đồ Kaplan-Meier cho khả năng giãn liều Adalimumab theo
vị trí VMBĐ
Nhận xét: Kết quả phân tích sống còn bằng mô hình Kaplan-Meier đối với biến vị
trí VMBĐ cho thấy có sự khác biệt về khả năng giãn liều Adalimumab giữa các
nhóm có vị trí VMBĐ khác nhau. Đối với nhóm VMBĐ một phần, thời gian giãn
liều trung vị đƣợc xác định là 36 tuần, với khoảng tin cậy 95% dao động từ 32 đến
40 tuần. Ngƣợc lại, nhóm VMBĐ toàn bộ có thời gian giãn liều trung vị là 40 tuần,
với khoảng tin cậy 95% từ 40 đến 44 tuần.
90
Biều đồ 3.28. Biểu đồ Kaplan-Meier cho giãn liều Adalimumab
theo dạng VMBĐ
Nhận xét: Kết quả phân tích sống còn bằng mô hình Kaplan-Meier đối với biến
dạng viêm cho thấy sự khác biệt về thời gian giãn liều Adalimumab giữa các nhóm
có dạng viêm khác nhau. Đối với nhóm VMBĐ dạng không hạt, thời gian giãn liều
trung vị đƣợc xác định là 36 tuần, với khoảng tin cậy 95% dao động từ 32 đến 40
tuần. Trong khi đó, nhóm VMBĐ dạng hạt có thời gian giãn liều trung vị là 44 tuần,
với khoảng tin cậy 95% từ 40 đến 48 tuần.
91
CHƢƠNG 4
BÀN LUẬN
4.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH VIÊM MÀNG BỒ ĐÀO
4.1.1. Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu
Bệnh VMBĐ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa trên thế
giới. Ƣớc tính có khoảng 15% các trƣờng hợp mù lòa trên thế giới là do biến chứng của bệnh VMBĐ gây ra.1 Hiểu biết về dịch tễ học của bệnh có vai trò quan trọng
trong định hƣớng nguyên nhân gây bệnh, từ đó khu trú đƣợc chỉ định xét nghiệm,
giảm thiểu tối đa chi phí cho các thăm khám và xét nghiệm không cần thiết. Đồng
thời, dịch tễ học cũng là cơ sở để xây dựng các hƣớng dẫn chẩn đoán và điều trị phù
hợp, từ đó giảm thiểu các biến chứng gây mù lòa cho ngƣời bệnh. Việt Nam là một
nƣớc đang phát triển, nằm ở khu vực Đông Nam Á. Mảnh đất hình chữ S của chúng
ta trải dọc từ Bắc xuống Nam, với sự thay đổi của điều kiện khí hậu và các yếu tố
môi trƣờng (nhƣ các tác nhân nhiễm trùng…) theo từng vùng miền. Nếu nhƣ ở miền
Bắc có bốn mùa Xuân – Hạ − Thu – Đông, thì ở miền Nam, nơi vị trí gần xích đạo
hơn, có khí hậu ấm áp với chỉ hai mùa là mùa mƣa và mùa khô. Năm 2016, lần đầu
tiên tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và cộng sự đã báo cáo về dịch tễ học bệnh VMBĐ ở miền Nam Việt nam. 2 Nghiên cứu này của chúng tôi là nghiên cứu đầu
tiên báo cáo về dịch tễ học bệnh VMBĐ ở miền Bắc.
Ở các nƣớc phát triển, tỷ lệ nam và nữ mắc bệnh VMBĐ là tƣơng đƣơng nhau.140 Trong nghiên cứu này, tỷ lệ nữ : nam là 1,2:1, tỷ lệ nữ giới mắc bệnh
VMBĐ là 54,6%, chiếm ƣu thế nhẹ so với nam giới mắc bệnh (45,4%). Kết quả
này cũng phù hợp với kết quả của Nghiên cứu bệnh lý viêm mắt khu vực Thái Bình
Dƣơng và nhiều nghiên cứu khác trên thế giới, nhƣ Malaysia, Trung Quốc, và Đức.141–144 Thật vậy, sự khác biệt về đáp ứng viêm theo giới tính hiện đang đƣợc
nghiên cứu. Giới nữ đƣợc coi là có đáp ứng miễn dịch với chấn thƣơng và nhiễm trùng khác so với nam giới.140 Viêm màng bồ đào có nguyên nhân tự miễn thƣờng
gặp hơn ở nữ giới. Các yếu tố bao gồm hóc môn, di truyền và môi trƣờng có ảnh
hƣởng lên việc hoạt hóa các tế bào miễn dịch khác nhau, từ đó đóng vai trò quan
trọng trong các bệnh lý nhiễm trùng và bệnh lý tự miễn. Estrogen đƣợc chứng minh
92
là làm tăng đáp ứng miễn dịch, trong khi androgen lại ức chế đáp ứng này. Đặc biệt,
các dữ liệu gần đây gợi ý rằng estrogen có ảnh hƣởng lên khả năng tự miễn dịch
phụ thuộc vào nồng độ. Các nồng độ thấp gây kích thích trong khi các nồng độ cao gây ức chế các đáp ứng miễn dịch.145
Một số hình thái bệnh VMBĐ có sự phân bố ƣu tiên về giới. Trong nghiên cứu
này, chúng tôi có số lƣợng nam giới mắc bệnh cao hơn nữ giới trong một số nguyên
nhân nhƣ VMBĐ liên kết HLA-B27 (nam/nữ là 11/3), bệnh Behcet (nam/nữ là
19/3), nhãn viêm giao cảm (nam/nữ là 3/1). Ngƣợc lại, số lƣợng nữ giới mắc bệnh
cao hơn nam giới trong một số nguyên nhân nhƣ hội chứng PSS (nữ/nam là 21/9),
bệnh sarcoid (nữ/nam là 10/1), hội chứng VKH (nữ/nam là 30/21), viêm khớp thiếu
niên vô căn (nữ/nam là 4/1). Mặc dù số lƣợng bệnh nhân trong nghiên cứu của
chúng tôi còn hạn chế, tuy nhiên sự chênh lệch về giới trong nghiên cứu của chúng
tôi cũng phù hợp các kết quả của nhiều nghiên cứu lớn trên thế giới. Chẳng hạn, tỷ
lệ mắc bệnh ở nam giới chiếm ƣu thế trong VMBĐ trƣớc liên kết với HLA-B27 (tỷ lệ nam:nữ là 3:1),146 bệnh Behcet (đa số các quốc gia có tỷ lệ nam:nữ mắc bệnh lớn hơn 1,1),147 bệnh nhãn viêm giao cảm.148,149 Mặt khác, tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới
chiếm ƣu thế so với nam giới gặp ở VMBĐ trƣớc mãn tính trong bệnh viêm khớp thiếu niên vô căn (tỷ lệ nữ:nam là 5:1),150 bệnh sarcoid (ƣớc tính nam giới: 5,9/100000 dân/năm; nữ giới: 6,3/100000 dân/năm),51 hội chứng VKH (các nghiên cứu của Philippine,21 Malaysia,151 Nepal19, Iran152 ghi nhận nữ giới mắc hội chứng
VKH nhiều hơn nam giới, trong khi đó nghiên cứu của một số nƣớc khác của vùng
châu Á Thái Bình Dƣơng lại cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tƣơng đƣơng nhau của hai giới153,154). Riêng với hội chứng PSS, khác với kết quả trong nghiên cứu của chúng
tôi, nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ƣu thế ở nam giới.
Chẳng hạn, nghiên cứu của tác giả Warjri (Ấn Độ) báo cáo tỷ lệ nam mắc hội chứng PSS là 81,75%,155 tác giả Gao (Trung Quốc) ghi nhận tỷ lệ nam giới mắc bệnh là
57%. Các nghiên cứu này không có sự phân biệt giữa hội chứng PSS vô căn và hội
chứng PSS có nguyên nhân (do CMV, Rubella…). Trong nghiên cứu của chúng tôi,
những trƣờng hợp VMBĐ có biểu hiện của hội chứng PSS nhƣng tìm thấy tác nhân
gây bệnh trong dịch tiền phòng thì sẽ đƣợc xếp vào nhóm nguyên nhân gây bệnh
tƣơng ứng (nhƣ do CMV, HSV…), chỉ các trƣờng hợp không tìm thấy tác nhân gây
93
bệnh trong dịch tiền phòng mới đƣợc xếp vào nhóm hội chứng PSS. Đây có thể là
lý do khiến kết quả của chúng tôi có sự khác biệt so với các nghiên cứu khác. Hội
chứng PSS cũng là nguyên nhân thƣờng gặp thứ hai gây VMBĐ trƣớc trong nghiên
cứu này, vì vậy cần tiến hành thêm các nghiên cứu chuyên sâu trên số lƣợng lớn
bệnh nhân để có đánh giá tốt hơn về hội chứng này trong quần thể ngƣời Việt Nam.
Bệnh viêm màng bồ đào có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Tuổi trung bình của đối
tƣợng nghiên cứu tại thời điểm thăm khám là 39,9±16,8 tuổi. Bệnh VMBĐ thƣờng
gặp hơn ở ngƣời trong độ tuổi lao động. Chúng tôi quan sát thấy có 73,9% bệnh
nhân có độ tuổi từ 20 đến 60 tuổi. Các nghiên cứu dịch tễ bệnh VMBĐ trên thế giới cũng công bố tỷ lệ này trong khoảng 60% đến 80%.140 Các dạng đặc biệt của
VMBĐ có thể tập trung ở những nhóm tuổi nhất định. Chẳng hạn, VMBĐ trong
bệnh viêm khớp thiếu niên vô căn chỉ gặp ở nhóm dƣới 20 tuổi. VMBĐ liên kết với
HLA-B27 gặp ở ngƣời trong độ tuổi lao động với số lƣợng cao hơn ở ngƣời trẻ tuổi
từ 21-40 tuổi (8/13 trƣờng hợp). Hội chứng giả viêm màng bồ đào, nhƣ trong u lympho dịch kính võng mạc thƣờng gặp ở ngƣời lớn tuổi.140 Nghiên cứu của chúng
tôi có gặp 2 trƣờng hợp u lympho dịch kính võng mạc. Một trƣờng hợp đƣợc chẩn
đoán dựa vào kết quả đếm tế bào dòng chảy trong dịch kính trên bệnh nhân nữ 69
tuổi. Một trƣờng hợp bệnh nhân nữ 56 tuổi, đƣợc chẩn đoán sau khi phát hiện u
lympho hệ thần kinh trung ƣơng.
Nhóm trẻ em (12,2%) và ngƣời lớn tuổi (13,9%) có tỷ lệ mắc bệnh VMBĐ
thấp hơn nhóm tuổi từ 20-60 tuổi. Các nghiên cứu trên thế giới cũng nhận định VMBĐ hiếm gặp hơn ở trẻ em, với tỷ lệ trong khoảng 5-16%.2,24,141,143,156 Các
nguyên nhân gây VMBĐ ở trẻ em đƣợc liệt kê trong bảng 3.3. Viêm màng bồ đào
vô căn (34%) là dạng thƣờng gặp nhất, tiếp đến là viêm khớp mãn tính thiếu niên
(10%). Hình thái viêm màng bồ đào trƣớc dƣơng tính với kháng thể kháng nhân
(ANA), nhƣng không có biểu hiện của viêm khớp mãn tính cũng đƣợc xếp vào
nhóm VMBĐ vô căn. Theo báo cáo của Tsirouki và cộng sự (2018), 10% bệnh nhi có viêm khớp mãn tính thiếu niên mắc VMBĐ, trong đó 70-80% là nữ.3 Nghiên cứu
của chúng tôi cũng cho tỷ lệ nữ giới mắc VMBĐ liên kết bệnh viêm khớp mãn tính
thiếu niên (1,5%) cao hơn so với tỷ lệ nam giới mắc bệnh (0,5%). Các nguyên nhân
khác gây VMBĐ ở trẻ em là hội chứng VKH, sarcoid, Bartonella, CMV, lao…
94
Theo các công bố trƣớc đây, có khoảng 6-21,8% các trƣờng hợp VMBĐ xuất hiện lần đầu tiên ở ngƣời cao tuổi.140 Nghiên cứu này có tỷ lệ VMBĐ ở nhóm bệnh
nhân trên 60 tuổi là 13,9%. Trong đó, đông nhất là VMBĐ trƣớc (29/57 trƣờng
hợp), tiếp đến là VMBĐ toàn bộ (15/57 trƣờng hợp), VMBĐ sau (11/57 trƣờng
hợp), VMBĐ trung gian (2/57 trƣờng hợp). Theo thống kê của tác giả Tsirouki và
cộng sự (2018), thực hiện trên các nghiên cứu dịch tễ của gần 70 quốc gia, tỷ lệ của
VMBĐ trƣớc ở nhóm ngƣời cao tuổi trong khoảng 22-75%, của VMBĐ toàn bộ là 13,2-41,7%, của VMBĐ trung gian là 4,4-8,8%, và VMBĐ sau là 7,3-20,9%.3
Trong nghiên cứu này, VMBĐ vô căn (28,1%) và hội chứng VKH (15,7%) là hai
nguyên nhân thƣờng gặp nhất ở nhóm tuổi từ 61 trở lên. VMBĐ do virus nhóm
herpes là nguyên nhân gây nhiễm trùng thƣờng gặp ở ngƣời lớn tuổi.
4.1.2. Đặc điểm bệnh viêm màng bồ đào
VMBĐ trƣớc đƣợc biết đến là hình thái giải phẫu thƣờng gặp nhất trong các
dạng viêm tại mắt, tiếp đến là VMBĐ sau và VMBĐ toàn bộ. VMBĐ trung gian là hình thái ít gặp nhất.2,3,21 Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả tƣơng tự, với
VMBĐ trƣớc chiếm ƣu thế (40%) và VMBĐ trung gian chiếm tỷ lệ thấp nhất
(3,9%). Ngoài ra, tỷ lệ VMBĐ toàn bộ là 30%, vƣợt qua tỷ lệ của VMBĐ sau (26,1%), kết quả này tƣơng tự kết quả công bố của Singapore và Philippin.21,24 Tỷ lệ
cao của hình thái VMBĐ toàn bộ này có sự góp mặt của hội chứng VKH (12,5%)
và bệnh Behcet (5,4%).
4.1.2.1. Viêm màng bồ đào trước
Tỷ lệ VMBĐ trƣớc, mãn tính, một mắt chiếm ƣu thế nhẹ so với các hình thái
viêm còn lại, kết quả này cũng tƣơng ứng với kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả nhƣ tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – miền Nam Việt Nam,2 tác giả Borde - Ấn Độ,156 tác giả Abano – Philippine. 21
Trong nhóm VMBĐ trƣớc, nguyên nhân vô căn chiếm tới 31,7%. Tỷ lệ này
thấp hơn so với tỷ lệ VMBĐ trƣớc vô căn (55,1%) ở miền Nam Việt nam, đƣợc báo cáo bởi tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh năm 2017.2 Hội chứng PSS chiếm tỷ lệ 18,5%
và là nguyên nhân thƣờng gặp thứ hai gây VMBĐ trƣớc, tiếp đến là VMBĐ do
CMV (11%) và VMBĐ do HSV (8,5%). CMV cũng là nguyên nhân chính gây
VMBĐ trƣớc nhiễm trùng, chủ yếu biểu hiện triệu chứng điển hình của hội chứng
95
PSS trên ngƣời có hệ miễn dịch bình thƣờng. Tác giả Siak và cộng sự cũng ghi nhận
CMV là nguyên nhân thứ hai gây VMBĐ trƣớc trên bệnh nhân ngƣời Trung Quốc, Malaysia và Ấn Độ sống tại Singapore.24 Tác giả Chiang và cộng sự đã ghi nhận
CMV là nguyên nhân gây bệnh thƣờng gặp nhất (81%) trên các bệnh nhân có VMBĐ trƣớc do herpes, kết quả này tƣơng tự kết quả nghiên cứu của chúng tôi.157
Các nghiên cứu của Thái Lan cho thấy CMV là nguyên nhân của 33-49% các
trƣờng hợp VMBĐ trƣớc không rõ nguyên nhân trên 2 nhóm bệnh nhân âm tính với HIV.158,159 Tại các trung tâm không có sẵn xét nghiệm PCR hoặc PCR không đƣợc
chỉ định thƣờng quy, hội chứng PSS và hội chứng VMBĐ dị sắc Fuchs là những nguyên nhân thƣờng gặp nhất của VMBĐ trƣớc ở dân số châu Á.24 Theo tác giả
Chee, CMV đƣợc tìm thấy trong mẫu thủy dịch của 52,2% và 41,7% lần lƣợt các trƣờng hợp đƣợc chẩn đoán là hội chứng PSS và hội chứng Fuchs.160 Tác giả nhận
định VMBĐ trƣớc do CMV có thể bị bỏ sót trong nhiều công bố trƣớc đây. Trong
nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành lấy dịch tiền phòng cho tất cả các trƣờng hợp
có VMBĐ trƣớc và thực hiện phân tích bệnh phẩm bằng kỹ thuật PathoFinder’s
SmartFinder. Kỹ thuật này cho phép tìm kiếm đến 24 tác nhân gây bệnh trong cùng
một lƣợng mẫu bệnh phẩm rất nhỏ, một số trong đó là CMV, HSV, VZV, EBV,
trực khuẩn lao, và Haemophilus influenza. Đây có thể là lý do nghiên cứu của
chúng tôi có tỷ lệ VMBĐ trƣớc vô căn thấp hơn và tỷ lệ VMBĐ do CMV cao hơn
so với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và kết quả của một số nƣớc láng giềng nhƣ Thái Lan, Trung Quốc và Malaysia.2,143,161
Đặc biệt, y văn hiếm khi nhắc đến Haemophilus influenza (HI) là tác nhân gây bệnh VMBĐ.162,163 Qua các phân tích sử dụng nền tảng kỹ thuật SmartFinder, chúng
tôi đã thành công phát hiện 6 trƣờng hợp VMBĐ do HI gây ra (chiếm tỷ lệ 1,5%).
Trong đó, có 3 trƣờng hợp biểu hiện VMBĐ trƣớc, một trƣờng hợp viêm võng mạc và
hai trƣờng hợp VMBĐ toàn bộ (Phụ lục 2, Hình 2). Cả 6 trƣờng hợp đều không có các
triệu chứng toàn thân khác đi kèm. Điều thú vị là cả 3 trƣờng hợp VMBĐ trƣớc đều có
biểu hiện triệu chứng của hội chứng PSS tái phát nhiều lần. Các trƣờng hợp này đáp
ứng tốt với điều trị kháng sinh và chống viêm, đồng thời giảm tần số tái phát bệnh sau
điều trị. Trƣớc đây, tác giả Panchal B đã ghi nhân HI là nguyên nhân gây viêm nội nhãn sau khi cắt chỉ giác mạc.162 Tóm tắt hàng năm các bệnh truyền nhiễm của Sở Y tế
96
Minnesota năm 2019 ghi nhận HI là bệnh nguyên của 2% trƣờng hợp viêm nội nhãn và 1% trƣờng hợp VMBĐ gặp ở 120 trƣờng hợp nhiễm HI.163
HLA-B27 là nguyên nhân thƣờng gặp của VMBĐ trƣớc ở các nƣớc phƣơng Tây.144,164,165 Đồng thời HLA-B27 cũng là nguyên nhân gây bệnh thƣờng gặp ở Singapore (21,1%), Thái Lan (23,7%), và Ấn Độ (15,15%).24,143,161 Tác giả Yang và
cộng sự ghi nhận tỷ lệ dƣơng tính của HLA-B27 lên đến 62,7% ở 253 bệnh nhân Trung Quốc có VMBĐ trƣớc.166 Một nghiên cứu khác của Thái Lan công bố tỷ lệ này là 44% trên 121 bệnh nhân VMBĐ trƣớc.167 Tuy nhiên, trong nghiên cứu của
chúng tôi chỉ ghi nhận 7,2% các trƣờng hợp mắc VMBĐ trƣớc có liên kết với yếu
tố HLA-B27. Tỷ lệ này cao hơn so với kết quả công bố của tác giả Nguyễn Thị Mỹ
Hạnh thực hiện ở miền Nam Việt Nam năm 2017 (4,1%). Điều này có thể đƣợc giải
thích bởi tỷ lệ mắc bệnh VMBĐ ở nhóm bệnh nhân viêm cột sống dính khớp có
HLA-B27 tại Việt Nam (2%) thấp hơn nhiều so với tỷ lệ của các nƣớc khu vực châu Á (17,9%) và tỷ lệ của các nƣớc trên thế giới (22%-26%).168–170 Sự khác biệt này có
thể liên quan đến các yếu tố di truyền và yếu tố địa dƣ. Thật vậy, trong nghiên cứu
dịch tễ học bệnh VMBĐ thực hiện trên những ngƣời Trung Quốc, Malaysia và Ấn
độ cùng sinh sống tại Singapore, tác giả Siak nhận định VMBĐ trƣớc liên kết HLA-
B27 gặp phổ biến hơn ở ngƣời Trung quốc (21%) so với ngƣời Malaysia (8%) và ngƣời Ấn Độ (10%).24 Tác giả cũng chỉ ra rằng ngƣời Trung Quốc mang HLA-B27 chủ yếu thuộc dƣới nhóm B*2704 (30,8-76,9%),171 trong khi ngƣời Malaysia mang
HLA-B27 chủ yếu là dƣới nhóm B*2706 (72,2%), B*2704 (19,4%) và B*2705 (5,6%).172 Dƣới nhóm B27 phổ biến ở ngƣời Ấn Độ là B*2705 (36,2-70,0%) và B*2704 (14,3-34,5%) và ở ngƣời Thái lan là B*2706 (53%).171 Một số nghiên cứu
cũng chỉ ra rằng độ nhạy tăng cao của B*2705 với VMBĐ trƣớc trong những ngƣời Nhật Bản173 và Trung Quốc174 bị viêm cột sống dính khớp (16% so với 6% trong số
những ngƣời mang B*2704, p=0,002). Trong khi, một số nghiên cứu khác lại gợi ý
tỷ lệ VMBĐ tái phát cao hơn ở ngƣời viêm cột sống dính khớp mang B*2704 (35%) so với ngƣời mang B*2705 (16%), p=0,13.175 Riêng yếu tố B*2706 lại đƣợc cho là có vai trò bảo vệ chống lại bệnh VMBĐ trên dân số Malaysia.172 Vì vậy, việc
tiến hành thêm các nghiên cứu đánh giá về đa hình gen HLA-B27 sẽ có giá trị trong
dự phòng và tiên lƣợng nguy cơ mắc bệnh VMBĐ trong nhóm bệnh nhân có bệnh
viêm cột sống dính khớp với HLA-B27 dƣơng tính ở Việt Nam.
97
4.1.2.2. Viêm màng bồ đào trung gian
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 16 trƣờng hợp VMBĐ trung gian chiếm
3,9% tổng số trƣờng hợp VMBĐ. Theo các công bố trƣớc đây, tỷ lệ VMBĐ trung
gian đƣợc ƣớc tính trong khoảng 0,9-22,9% các trƣờng hợp VMBĐ, và thƣờng thấp hơn các hình thái VMBĐ sau và VMBĐ trƣớc.176 Trong nghiên cứu này, bệnh gặp
chủ yếu ở nữ giới (chiếm 87,5%), và chủ yếu ở độ tuổi từ 41-60 tuổi (43,8%). Trên
50% trƣờng hợp bệnh nhân có thị lực tƣơng đối tốt với giá trị nhỏ hơn hoặc bằng
0,4 logMAR. Khoảng trên 60% trƣờng hợp bệnh diễn biến mãn tính kéo dài.
Nguyên nhân vô căn chiếm tỉ lệ cao nhất là 75%. Kết quả này tƣơng đồng với kết quả của nhiều công bố khác trên thế giới.176–178 Mặc dù nhiều nghiên cứu ghi
nhận bệnh xơ cứng rải rác và bệnh sarcoid là các nguyên nhân toàn thân thƣờng gặp
nhất gây VMBĐ trung gian, trong nghiên cứu này chúng tôi không gặp trƣờng hợp
bệnh nhân nào có VMBĐ kết hợp với các bệnh trên. Nghiên cứu chỉ ghi nhận 1
trƣờng hợp VMBĐ trung gian kết hợp bệnh vảy nến có biến chứng phù hoàng điểm
dai dẳng gây giảm thị lực. Trƣờng hợp này, bệnh nhân đáp ứng kém với thuốc ức
chế miễn dịch (MMF), và dung nạp kém với Corticosteroid. Bệnh nhân sau đó đã
đƣợc tham gia vào mục tiêu 2 của nghiên cứu và đáp ứng tốt với điều trị phối hợp
ADA và thuốc ƢCMD (Phụ lục 2, Hình 6).
Các nguyên nhân nhiễm trùng đƣợc báo cáo cùng với VMBD trung gian bao
gồm lao, giang mai, bệnh Lyme, bệnh mèo cào, nhiễm virus Epstein-Barr, và virus
viêm gan C. Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận bệnh lao là nguyên nhân phổ biến
thứ 2 (12,4%) gây VMBĐ trung gian. Bệnh đƣợc chẩn đoán và điều trị dựa theo
hƣớng dẫn của nghiên cứu bệnh lao tại mắt COTS (Collaborative ocular tuberculosis study).136,137 Nghiên cứu COTS mô tả VMBĐ trung gian do lao có hình
thái thỏa mãn các biểu hiện lâm sàng của VMBĐ trung gian (viêm dạng hạt hoặc
không hạt kèm xuất tiết ở vùng pars plana, có hoặc không có tổn thƣơng dạng nắm
tuyết snowball), kèm theo chẩn đoán lao (dựa trên test lảy da, xét nghiệm
quantiferon hoặc interferon γ release assay (IGRA), X-Quang hoặc cắt lớp vi tính lồng ngực, nuôi cấy và/hoặc PCR lao).179 Một số nghiên cứu gợi ý rằng VMBĐ
trung gian do lao thƣờng biểu hiện hai mắt và kết hợp với phản ứng viêm dịch kính nặng.176 Hai bệnh nhân có VMBĐ trung gian trong nghiên cứu của chúng tôi đều có
98
phản ứng viêm dịch kính nhiều. Trong đó, 1 bệnh nhân biểu hiện VMBĐ trung gian
ở 2 mắt và 1 bệnh nhân biểu hiện VMBĐ trung gian ở 1 mắt. Cả hai bệnh nhân đều
đáp ứng với điều trị thuốc lao kết hợp thuốc chống viêm toàn thân.
VMBĐ trung gian giai đoạn đầu thƣờng biểu hiện bằng triệu chứng nhìn mờ,
ruồi bay do phản ứng viêm của dịch kính. Bệnh thƣờng dễ bị bỏ qua, và thƣờng đƣợc phát hiện muộn khi bệnh nhân đã có biến chứng.176 Nhiều nghiên cứu báo cáo
biến chứng thƣờng gặp của VMBĐ trung gian bao gồm phù hoàng điểm, viêm phù
gai thị, đục thủy tinh thể, màng trƣớc võng mạc, bong võng mạc, tăng nhãn áp, glôcôm, xuất huyết dịch kính, tách lớp võng mạc và bệnh giác mạc dải băng.177,178
Trong khuôn khổ số lƣợng bệnh nhân mắc VMBĐ trung gian trong nghiên cứu còn
hạn chế (16; 3,9%), các biến chứng của VMBĐ trung gian đƣợc ghi nhận trong
nghiên cứu này bao gồm phù hoàng điểm (33,3%), đục thủy tinh thể (13,3%) và
bong võng mạc (6,7%).
4.1.2.3. Viêm màng bồ đào sau và viêm màng bồ đào toàn bộ
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ mắc bệnh VMBĐ sau vô căn (29%) và
VMBĐ toàn bộ vô căn (29,3%) còn cao hơn so với kết quả công bố của các quốc gia khác.24,31 Thật vậy, hiện nay tại Việt Nam, chúng ta còn gặp khó khăn về khả
năng tiếp cận với các phƣơng tiện chẩn đoán hiện đại, chẳng hạn các hệ thống chẩn
đoán hình ảnh đa mô thức mới hay các phƣơng pháp xét nghiệm mẫu bệnh phẩm
tiên tiến (công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới) và cả các phƣơng pháp can thiệp
cho chẩn đoán nhƣ sinh thiết hắc võng mạc. Điều đó làm hạn chế khả năng phát
hiện nguyên nhân gây bệnh, đặc biệt khi tình trạng viêm tập trung ở bán phần sau nhƣ
viêm hắc mạc, viêm võng mạc. Đồng thời, bệnh lý VMBĐ là bệnh lý viêm tại mắt,
nhƣng trong nhiều trƣờng hợp VMBĐ lại đi kèm với các bệnh toàn thân, có thể là
nhiễm trùng hoặc không nhiễm trùng. Vì thế, việc chẩn đoán và điều trị bệnh luôn cần
có sự phối hợp của nhiều chuyên khoa nhƣ hô hấp, thần kinh, miễn dịch, cơ xƣơng
khớp, huyết học… Kết quả nghiên cứu cho thấy chúng ta cần tăng cƣờng hơn nữa sự
hợp tác đa chuyên khoa trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý viêm màng bồ đào để mang
lại chất lƣợng chăm sóc tốt nhất cho ngƣời bệnh VMBĐ tại Việt Nam.
Trong số các trƣờng hợp VMBĐ sau có nguyên nhân xác định, hội chứng
VKH chiếm tỷ lệ cao nhất (17,8%), tiếp đến là VMBĐ do Toxocara (10,3%). Trật
99
tự này ngƣợc nhẹ so với kết quả công bố của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2017)
với tỷ lệ VMBĐ sau cao nhất do Toxocara (25,5%), theo sau là hội chứng VKH (21,3%).2 Hội chứng VKH thuộc bệnh lý tự miễn, đƣợc đặc trƣng bởi tình trạng
VMBĐ toàn bộ hai mắt, thƣờng kèm theo các triệu chứng của hệ thần kinh, của tai và của da-tóc.52 Giai đoạn sớm của bệnh thƣờng biểu hiện VMBĐ sau, sau đó tiến
triển thành VMBĐ toàn bộ, và cuối cùng là VMBĐ trƣớc, dạng hạt, mãn tính, tái
phát, kèm theo tổn thƣơng thoái hóa hắc võng mạc dạng hoàng hôn đặc trƣng với
các nốt Dalen−Fuchs và các biến chứng gây suy giảm thị lực nhƣ tân mạch hắc mạc, glôcôm, đục thủy tinh thể.180 Việc điều trị chống viêm sớm và đầy đủ sẽ có thể
ngăn chặn bệnh không chuyển sang giai đoạn mãn tính tái phát, từ đó tránh đƣợc các biến chứng nặng nề do bệnh gây nên.180 Trong số 51 trƣờng hợp VMBĐ đƣợc
chẩn đoán là hội chứng VKH, có 30 trƣờng hợp có biểu hiện VMBĐ toàn bộ tại
thời điểm nghiên cứu. Mƣời chín trƣờng hợp đƣợc chẩn đoán ở giai đoạn VMBĐ
sau cấp tính và không có biểu hiện viêm ở bán phần trƣớc. Hai trƣờng hợp còn lại
có tiền sử mắc hội chứng VKH đã đạt yên bệnh với điều trị thuốc ức chế miễn dịch
trong thời gian hơn 1 năm. Tại thời điểm tham gia nghiên cứu, các bệnh nhân này
có tái phát bệnh ở hình thái VMBĐ trƣớc dạng hạt hai bên. Sau khi đƣợc làm các
xét nghiệm loại trừ nguyên nhân gây bệnh khác (bao gồm PCR dịch nội nhãn), hai
bệnh nhân đƣợc chẩn đoán là VMBĐ trƣớc trong hội chứng VKH.
Hội chứng VKH cũng là nguyên nhân hàng đầu đƣợc xác định gây nên
VMBĐ toàn bộ trong nghiên cứu này. Đây cũng là nguyên nhân thƣờng gặp gây
nên VMBĐ toàn bộ ở nhiều nƣớc nhƣ Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản, và các quốc gia Trung Đông.24,28,143,181 Hội chứng VKH thƣờng gặp ở ngƣời châu Á, ngƣời
thổ dân châu Mỹ, ngƣời Mỹ gốc Latinh, và ngƣời Ấn châu Á, tuy nhiên bệnh lại hiếm gặp trên ngƣời gốc châu Âu.3 Yếu tố di truyền và yếu tố địa lý góp phần vào tỷ lệ phân bố khác nhau của bệnh trên thế giới.182,183 Tác giả Shi tiến hành nghiên
cứu phân tích tổng hợp 21 bài báo (1853 bệnh nhân VKH và 4164 chứng) tìm hiểu
về mối quan hệ giữa HLA-DR4/HLA-DRB1*04 với hội chứng VKH. Kết quả cho
thấy những ngƣời mang HLA-DR4/HLA-DRB1*04 có nguy cơ cao mắc hội chứng
VKH với OR 8,42. Độ mạnh của mối liên quan này cao nhất ở ngƣời Đông Á và
yếu nhất ở ngƣời Ấn Độ. Các allen làm tăng nguy cơ mắc VKH bao gồm HLA-
100
DR4/HLA-DRB1*0404, 0405 và 0410; allen 0401 làm giảm nguy cơ mắc VKH;
trong khi allen 0402, 0403, 0406, 0407, 0410, 0411, 0417, hoặc 0437 không liên kết với hội chứng VKH.183
Bệnh VMBĐ Toxocara là bệnh lý viêm do nhiễm ấu trùng của giun tròn Toxocara, thƣờng gặp ở các nƣớc nhiệt đới.184 Nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ mắc bệnh tăng cao ở những ngƣời có nuôi chó mèo.184–186 Trong nghiên cứu này,
bệnh do toxocara là nguyên nhân thứ hai gây VMBĐ sau ở miền Bắc Việt Nam, với
tỷ lệ nam:nữ tƣơng ứng là 1,3:1, tỷ lệ này tƣơng tự kết quả công bố của một số nghiên cứu khác trên thế giới.184,185 Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh VMBĐ
do Toxocara chủ yếu gặp ở ngƣời trong độ tuổi lao động (11/14; 78,6%). Việt Nam
là nƣớc có truyền thống làm nông nghiệp. Những ngƣời bệnh này có thể bị phơi
nhiễm với Toxocara trong quá trình sản xuất nông nghiệp hoặc liên quan đến thói
quen ăn rau sống bị nhiễm trứng giun từ nguồn nƣớc tƣới không đảm bảo vệ sinh. Tác
giả Woodhall và cộng sự (2012) đã ghi nhận VMBĐ do Toxocara là một nguyên nhân
quan trọng gây suy giảm thị lực ở trẻ em, với độ tuổi khởi phát trung bình là 11,5 tuổi.184 Thật vậy, trẻ em ở các nƣớc phƣơng Tây thƣờng có thói quen chơi với các động
vật nuôi nhƣ chó, mèo. Đồng thời, trẻ em phƣơng Tây cũng hay tập trung vui chơi ở
các sân cát công cộng trong các công viên. Các địa điểm này cũng thƣờng là nơi lui tới
của cả vật nuôi trong nhà nhƣ chó và mèo, vì thế các nơi này trở thành nguồn lây nhiễm cho trẻ em.184 Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện tại thủ đô Hà nội, nơi có số
lƣợng các khu vui chơi ngoài trời còn hạn chế, trẻ em thƣờng tập trung tại các khu vui
chơi nhân tạo trong nhà, nên cũng giúp giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm Toxocara từ đất
và vật nuôi. Đây có thể là lý do khiến tỷ lệ nhiễm Toxocara ở nhóm tuổi trẻ em trong
nghiên cứu này thấp hơn so với các công bố trên thế giới.
Sốt xuất huyết là bệnh xảy ra phổ biến ở vùng có khí hậu nhiệt đới, trong đó
có Việt Nam. Trong nghiên cứu này có 5 bệnh nhân có tổn thƣơng mắt do sốt xuất
huyết, chiếm tỷ lệ 1,2%. Kết quả này tƣơng tự kết quả công bố của Singapore (1,7%).24 Cả 5 bệnh nhân đều có biểu hiện VMBĐ sau, trong đó có 4 trƣờng hợp
viêm võng mạc và một trƣờng hợp viêm hắc mạc. Bệnh có thể biểu hiện ở một hoặc
cả hai mắt (Phụ lục 2, Hình 1). Ở miền Bắc Việt Nam, dịch sốt xuất huyết thƣờng bùng phát vào mùa mƣa, bắt đầu từ khoảng tháng 6 và đạt đỉnh vào tháng 10. 187 Cả
101
4 típ virus gây bệnh bao gồm DENV-1, DENV-2, DENV-3, và DENV-4 đều gặp là
tác nhân gây bệnh ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, trong đó DENV-1 và DENV-2 là các tác nhân thƣờng gặp nhất.187,188 Những năm gần đây, tỷ lệ nhiễm sốt xuất huyết có xu hƣớng giảm ở Việt Nam.189 Đồng thời, hầu hết các bệnh nhân sốt xuất huyết
đều đƣợc điều trị tại nhà và tuyến y tế cơ sở. Đây có thể là lý do góp phần làm hạn
chế số lƣợng VMBĐ do sốt xuất huyết đƣợc ghi nhận trong nghiên cứu này.
Nghiên cứu của nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Malaysia, Philippine, Australia,
Hoa Kỳ, châu Phi, và Nam Mỹ đã ghi nhận toxoplasma là nguyên nhân chính gây VMBĐ sau.3,21,142,181,190–192 Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, VMBĐ do toxoplasma
chỉ chiếm 6,5% trƣờng hợp VMBĐ sau và 2,4% tất cả các trƣờng hợp VMBĐ. Tác
giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2017) cũng ghi nhận một tỷ lệ tƣơng đối thấp VMBĐ do toxoplasma ở miền Nam Việt Nam (0,5%).2 Theo tác giả Tsirouki và cộng sự
(2018), sự khác biệt này có thể liên quan đến thói quen ăn uống và phong tục tập quán từng vùng miền.3 Chúng ta đều biết rằng mèo là vật chủ duy nhất của
Toxoplasma Gondii và quá trình sinh sản hữu tính của loài ký sinh trùng này chỉ có
thể thực hiện trong đƣờng ruột của mèo. Từ đó, một lƣợng lớn nang trứng đƣợc bài
tiết qua phân của mèo. Mỗi nang trứng mất 1-5 ngày để trở thành thoa trùng. Đất,
nƣớc, cây cối và hộp vệ sinh của mèo là nguồn chứa nang trứng. Các vật chủ trung
gian trong tự nhiên (nhƣ chim, động vật) bị nhiễm bệnh sau khi ăn phải thức ăn
nhiễm mầm bệnh. Con ngƣời có thể bị nhiễm bệnh do ăn thịt chƣa nấu chín có chứa
nang trứng hoặc do ăn phải thức ăn hoặc nƣớc bị ô nhiễm phân mèo. Theo tác giả
Tsirouki, việc giảm tỷ lệ nuôi mèo nhà ở các nƣớc châu Á những năm gần đây có thể là nguyên nhân giúp giảm tỷ lệ viêm hắc võng mạc do toxoplasma gây ra.3
Ngƣợc lại, ở các nƣớc châu Âu, nuôi mèo cảnh còn phổ biến, làm tăng nguy cơ phơi nhiễm với mầm bệnh.191 Thêm vào đó, việc tiêu thụ thịt sống hoặc thịt nấu chƣa chín có mang mầm bệnh cũng có thể gây nhiễm Toxoplasma gondii ở ngƣời.25
Trong nghiên cứu này, nếu CMV là nguyên nhân thƣờng gặp nhất gây VMBĐ
trƣớc thì viêm võng mạc do CMV chỉ chiếm 0,9% và chỉ gặp ở ngƣời suy giảm
miễn dịch (SGMD). Viêm võng mạc do CMV là nguyên nhân hàng đầu gây VMBĐ sau ở Singapore.24 Nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận VMBĐ toàn bộ do
CMV chiếm 5,7%, chủ yếu gặp ở ngƣời SGMD nhƣ ngƣời mắc HIV, leukemia.
102
Trong khuôn khổ nghiên cứu, chúng tôi không tập trung đi sâu vào đặc điểm chi tiết
của VMBĐ sau và VMBĐ toàn bộ do CMV. Tác giả Iu và cộng sự (2016) đã
nghiên cứu đánh giá đặc điểm lâm sàng và tiên lƣợng thị lực trên bệnh nhân SGMD (không nhiễm HIV) có viêm võng mạc do CMV.193 Tác giả nhận định rằng tình
trạng viêm võng mạc do CMV trên đối tƣợng bệnh nhân SGMD không nhiễm HIV
thƣờng có biểu hiện cấp tính và nặng hơn biểu hiện gặp ở bệnh nhân có nhiễm HIV
với 55% bệnh biểu hiện ở vùng 1 của võng mạc, 40% có tổn thƣơng trên 1 góc phần
tƣ của võng mạc, 25% có thị lực dƣới 20/400. Giải thích về điều này, tác giả cho
rằng các bệnh nhân SGMD không nhiễm HIV thƣờng có tình trạng SGMD nặng nề
hơn vì phần lớn họ mắc các bệnh lý ác tính về máu và đã đƣợc điều trị hóa chất tăng
cƣờng trƣớc khi biểu hiện bệnh. Trên các bệnh nhân này, phản ứng viêm nội nhãn
mạnh cũng không phải là hiếm gặp. Ngƣợc lại, viêm võng mạc do CMV trên ngƣời
nhiễm HIV điển hình chỉ biểu hiện khi lƣợng tế bào T CD4+ dƣới 50 tế bào/µl với
tình trạng viêm nội nhãn nhẹ hoặc không biểu hiện. Theo tác giả, việc biểu hiện
viêm nội nhãn mạnh hơn trên bệnh nhân không nhiễm HIV có thể do các bệnh nhân
này có chức năng miễn dịch của tế bào T và đáp ứng viêm tốt hơn. Tƣơng tự kết
quả nghiên cứu của chúng tôi, tác giả IU cũng ghi nhận bong võng mạc là biến
chứng thƣờng gặp gây mất thị lực sau viêm võng mạc do CMV. Những đặc điểm
này có thể hỗ trợ cho các bác sỹ lâm sàng trong quá trình thăm khám và điều trị
bệnh nhân SGMD mắc bệnh VMBĐ.
Bệnh Behcet là bệnh lý viêm mãn tính tái phát vô căn đƣợc đặc trƣng bởi tình
trạng loét miệng và loét bộ phân sinh dục, tổn thƣơng da dạng mụn mủ và nốt sẩn, và viêm màng bồ đào.53 Bệnh thƣờng gặp ở các nƣớc nằm dọc con đƣờng tơ lụa cũ,
trải dài từ Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ ở phía Tây, đến Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, và Việt Nam ở phía Đông.3 Trong nghiên cứu này, bệnh Behcet là nguyên
nhân thƣờng gặp gây VMBĐ toàn bộ (15,4%), tiếp sau hội chứng VKH. Bệnh chủ
yếu gặp ở nam giới (19/22; 86,4%), trong độ tuổi từ 21-40 tuổi (17/22; 77,3%).
Nhìn chung, tỷ lệ VMBĐ toàn bộ do bệnh Behcet trong nghiên cứu này tƣơng
đƣơng với tỷ lệ bệnh ở Trung Quốc (15,3%) và Thái Lan (15,4%), nhƣng cao hơn tỷ lệ bệnh ở miền Nam Việt Nam (6,6%) và Singapore (9,7%).2,24,153,161 Bệnh Behcet
103
đƣợc xem là nguyên nhân hàng đầu gây nên các biến chứng nặng tại mắt nhƣ teo thị
thần kinh, tân mạch võng mạc, glôcôm, và các biến chứng của hoàng điểm, từ đó gây suy giảm thị lực không hồi phục và mù lòa ở ngƣời bệnh.53 Từ khi Adalimumab
đƣợc Bộ Y Tế Việt Nam cấp phép cho sử dụng trong điều trị VMBĐ không nhiễm
trùng, đồng thời ngƣời bệnh đƣợc hƣởng bảo hiểm y tế trong quá trình điều trị
thuốc, đã mở ra một bƣớc tiến lớn trong điều trị bệnh VMBĐ không nhiễm trùng nói chung và VMBĐ do bệnh Behcet nói riêng.194
Bệnh lao là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế và tử vong ở các nƣớc trên thế
giới. Theo Tổ chức y tế thế giới, trong giai đoạn 2016-2020, Việt Nam vẫn nằm trong danh sách 20 nƣớc có tỷ lệ nhiễm lao cao nhất thế giới.195 Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2017) đã báo cáo tỷ lệ mắc lao tƣơng đƣơng 9% ở miền Nam Việt Nam.2
Thật đáng ngạc nhiên, VMBĐ do lao chỉ chiếm 2,4% các nguyên nhân gây VMBĐ
trong nghiên cứu của chúng tôi. Sự khác biệt này có thể có liên quan đến thời gian
bùng nổ và kết thúc của dịch Covid-19. Nghiên cứu này đƣợc thực hiện từ tháng 1
năm 2022, đánh dấu giai đoạn cuối của đại dịch Covid-19, toàn thế giới bƣớc sang
giai đoạn bình thƣờng hóa. Ảnh hƣởng của các biện pháp giãn cách xã hội trƣớc đó,
cùng với thói quen đeo khẩu trang, sát khuẩn tay thƣờng xuyên, và tăng thông khí
khu vực sinh sống, đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc hƣớng dẫn và tuyên truyền thƣờng
xuyên, chắc chắn đã giúp giảm tỷ lệ lây nhiễm không chỉ bệnh Covid-19 mà cả các
bệnh lây truyền qua đƣờng hô hấp khác, bao gồm có bệnh lao trong thời gian tiến hành nghiên cứu.196 Thêm vào đó, ảnh hƣởng của đại dịch Covid-19 lên tình hình
kinh tế xã hội và tâm lý sợ lây nhiễm bệnh khi vào bệnh viện cũng có thể làm hạn
chế khả năng ngƣời bệnh tiếp cận với cách dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Các điểm
này có thể góp phần làm sai lệch tỷ lệ thật của nhiễm lao nói chung và VMBĐ do
lao nói riêng tại Việt Nam.
Trong nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận trƣờng hợp VMBĐ nào có
viêm hắc võng mạc Birdshot, VMBĐ trong bệnh xơ cứng rải rác, hội chứng
histoplasmosis, và VMBĐ do bệnh Lyme. Kết quả này cũng tƣơng tự báo cáo của
các nƣớc khu vực châu Á khác nhƣ Malaysia, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc.24,30,142,161
104
4.1.3. Đặc điểm biến chứng của bệnh viêm màng bồ đào
Nghiên cứu này ghi nhận 55,1% bệnh nhân có ít nhất một biến chứng tại mắt
do bệnh VMBĐ gây ra. Các biến chứng thƣờng gặp bao gồm tăng nhãn áp (17.3%),
đục thủy tinh thể (11,2%), phù hoàng điểm (11%), bong võng mạc (8,0%), glôcôm
(7,6%), và teo thị thần kinh (6,3%). Đây cũng chính là các nguyên nhân thƣờng gặp gây suy giảm thị lực trầm trọng. Các nghiên cứu của các nƣớc nhƣ Anh197,198, Ethiopia199, và Ả−rập−xê−út200 cũng ghi nhận phù hoàng điểm và đục thủy tinh thể
là các biến chứng thƣờng gặp nhất. Glôcôm thứ phát do viêm đƣợc xem là biến
chứng thƣờng gặp nhất của bệnh VMBĐ ở Thái Lan (23,4%) và Bắc California
(10,9%). Tuy nhiên, chúng tôi chỉ ghi nhận 7,6% trƣờng hợp glôcôm thứ phát do
viêm, chủ yếu trên bệnh nhân VMBĐ trƣớc. Thật vậy, tăng nhãn áp và bệnh
Glôcôm có thể là hậu quả của tình trạng viêm vùng bè cấp tính (trong hội chứng
PSS, VMBĐ do virus…) hoặc do tình trạng viêm vùng bè giác củng mạc mãn tính
(hậu quả của VMBĐ kéo dài) cũng có thể do thuốc corticosteroid. Mặc dù, nghiên
cứu này ghi nhận 17,3% trƣờng hợp có tăng nhãn áp, đa số các trƣờng hợp đƣợc
kiểm soát tốt tình trạng viêm và nhãn áp, nên không tiến triển thành bệnh Glôcôm.
VMBĐ có thể gây nên 3 hình thái bong võng mạc khác nhau đƣợc gặp trong nghiên
cứu, bao gồm bong võng mạc có vết rách, gây nên do viêm võng mạc hoại tử do
CMV; bong võng mạc thanh dịch, chủ yếu gặp trong hội chứng VKH; bong võng
mạc co kéo là hậu quả của VMBĐ do toxocara, VMBĐ kèm viêm tắc mạch và tân
mạch võng mạc.
4.2. HIỆU QUẢ CỦA ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP ADALIMUMAB VÀ THUỐC
ỨC CHẾ MIỄN DỊCH
4.2.1. Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu
Trong tổng số 410 bệnh nhân có viêm màng bồ đào thuộc mục tiêu 1, 25 bệnh
nhân (49 mắt) đƣợc chẩn đoán VMBĐ KNT và đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của mục
tiêu 2 đã đƣợc điều trị bằng phƣơng pháp phối hợp ADA và thuốc ƢCMD.
Tỷ lệ nữ: nam tƣơng ứng là 1:1,78 với nam giới chiếm số lƣợng ƣu thế (64%).
Kết quả này cũng phù hợp với phân bố nguyên nhân gây bệnh. Trong mục tiêu 2
của nghiên cứu, bệnh Behcet (36%) là nguyên nhân thƣờng gặp nhất gây VMBĐ
KNT đƣợc điều trị, với 8 bệnh nhân nam và 1 bệnh nhân nữ. Thật vậy, nam giới
105
thƣờng có tỷ lệ mắc bệnh Behcet cao hơn so với nữ giới, và VMBĐ có thể diễn biến đặc biệt nặng trên đối tƣợng nam giới trẻ tuổi từ 15-25.53 Bệnh nhân nữ duy nhất
mắc bệnh Behcet có một bên mắt mất chức năng do biến chứng của bệnh. Biến
chứng nặng nhất tại mắt của bệnh Behcet là viêm tắc mạch võng mạc, có thể gây
nhồi máu võng mạc và thị thần kinh, từ đó ảnh hƣởng nặng nề lên chức năng thị
giác. Thêm vào đó, tình trạng viêm nội nhãn kéo dài xen kẽ các đợt viêm cấp tính
nặng có thể gây phù hoàng điểm và suy giảm thị lực. Khi không đƣợc kiểm soát đầy đủ, VMBĐ do Behcet có tiên lƣợng kém với tỷ lệ mù lòa cao (>75%).53 Điều trị
corticosteroids đơn thuần có thể làm chậm diễn biến mù lòa nhƣng không đủ duy trì hiệu quả để làm thay đổi tiên lƣợng lâu dài.53 Vì vậy, thuốc ức chế miễn dịch
và/hoặc thuốc sinh học đƣợc khuyến cáo là biện pháp đầu tay đƣợc điều trị phối hợp với corticosteroid ngay tại thời điểm chẩn đoán bệnh.58,65
Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều là những trƣờng hợp VMBĐ khó điều
trị (hoặc có phụ thuộc corticosteroid hoặc không dung nạp corticosteroid hoặc
không đạt đƣợc hiệu quả kiểm soát viêm hoàn toàn với các thuốc chống viêm thông
thƣờng). Tuổi trung bình của các bệnh nhân này là 29,2±13,4. Nhƣ vậy, đa số các
bệnh nhân đều nằm trong độ tuổi lao động. Có 68% (17 bệnh nhân) có biểu hiện
VMBĐ toàn bộ. Đây là hình thái VMBĐ có tiên lƣợng kém hơn các hình thái giải phẫu khác, do nguy cơ biến chứng và ảnh hƣởng chức năng thị giác nặng nề hơn.37
Với thời gian mắc bệnh kéo dài (29,0±31,3 tháng) và thị lực trung bình tại thời điểm
sàng lọc thấp (0,601±0,547 logMAR), gánh nặng bệnh VMBĐ ảnh hƣởng nhiều
đến công việc và cuộc sống của tất cả các bệnh nhân này. Đồng thời với đó là gánh
nặng chi phí điều trị khiến cho họ khó tiếp cận với các phƣơng pháp điều trị mới.
Tất cả các bệnh nhân tham gia mục tiêu 2 đều có biểu hiện VMBĐ KNT ở cả
hai mắt với diễn biến mãn tính kéo dài, đáp ứng kém và/hoặc không dung nạp với
các thuốc chống viêm thông thƣờng (corticosteroid, ƢCMD). Trong đó có 3 trƣờng
hợp bệnh nhân đã đƣợc điều trị Adalimumab đơn trị liệu và 14 trƣờng hợp đã đƣợc
điều trị ƢCMD trƣớc đó nhƣng không đạt đƣợc hiệu quả kiểm soát viêm hoàn toàn.
Thật vậy, theo nghiên cứu của tác giả Bitossi và cộng sự (2019), hiệu quả kiểm soát
viêm của ADA đơn trị liệu tại thời điểm 6 tháng và 12 tháng lần lƣợt là 88.0% và 85%.133 Liên quan đến thuốc ƢCMD, tỷ lệ điều trị thành công sau 6 tháng với MMF
106
là khoảng 60%, với AZA là 58% và với MTX là khoảng 42%.85 Nhƣ vậy, khi điều
trị đơn trị liệu, vẫn có một tỷ lệ bệnh nhân không đạt đƣợc hiệu quả kiểm soát viêm.
Ngoài ra, các tác dụng phụ nặng nề toàn thân mà corticosteroid gây ra cũng là nỗi
ám ảnh với nhiều bệnh nhân. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có
những bệnh nhân có thể chấp nhận tình trạng VMBĐ kéo dài nhƣng không chấp
nhận điều trị corticosteroid do các tác dụng phụ của thuốc. Trong nghiên cứu này,
17 trong số 25 bệnh nhân (68,0%) có hội chứng Cushing do điều trị corticosteroid
kéo dài, 8 bệnh nhân (32,0%) có triệu chứng trầm cảm và 1 bệnh nhân (4,0%) bị
suy tuyến thƣợng thận do thuốc.
Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu này với mong muốn đánh giá
hiệu quả của điều trị phối hợp của thuốc ADA và ƢCMD, cụ thể là khả năng kiểm
soát viêm; hiệu quả cải thiện thị lực, độ dày hoàng điểm; khả năng giảm ngừng
corticosteroid; khả năng giãn liều Adalimumab (giúp giảm gánh nặng điều trị và
thời gian điều trị) và khía cạnh an toàn của phối hợp điều trị (các biến cố/tác dụng
không mong muốn). Các thuốc ƢCMD đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này là
MMF, MTX và AZA. Các thuốc này đều thuộc nhóm thuốc chống chuyển hóa, đều
có cơ chế tác dụng lên quá trình phân chia và nhân lên của các tế bào lympho, làm
giảm sinh kháng thể và các yếu tố trung gian gây viêm, từ đó làm giảm phản ứng viêm.202 Để đảm bảo đạo đức cho nghiên cứu, với các bệnh nhân chƣa từng điều
trị ƢCMD trƣớc đó thì MTX là lựa chọn đầu tay nhờ vào hiệu quả điều trị và độ
an toàn đã đƣợc chứng minh trong nhiều nghiên cứu, cũng nhƣ chi phí điều trị tiết kiệm.16,65,127,203 Với các trƣờng hợp bệnh nhân đã điều trị với thuốc ƢCMD
không phải MTX trƣớc khi tham gia nghiên cứu và dung nạp tốt với thuốc này
thì sẽ tiếp tục duy trì thuốc đó trong quá trình can thiệp. Trong quá trình nghiên
cứu, bệnh nhân đƣợc theo dõi sát bởi một bác sỹ miễn dịch và đƣợc làm xét
nghiệm định kỳ để phát hiện kịp thời các tác dụng không mong muốn liên quan
đến quá trình điều trị.
4.2.2. Hiệu quả của điều trị phối hợp Adalimumab và thuốc ức chế miễn dịch
4.2.2.1. Hiệu quả kiểm soát viêm màng bồ đào
Viêm màng bồ đào không nhiễm trùng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa trên thế giới.204 Mặc dù các thuốc ức chế miễn dịch thƣờng đƣợc sử
107
dụng ở dạng đơn trị liệu để kiểm soát viêm màng bồ đào, một số nghiên cứu cho
thấy có khoảng 21-52% các bệnh nhân VMBĐ KNT, việc sử dụng đơn trị liệu các thuốc ƢCMD không thể giúp kiểm soát hoàn toàn tình trạng viêm.65 Một số nghiên
cứu đã báo cáo rằng điều trị phối hợp từ 2 thuốc ƢCMD trở lên có thể mang lại
nhiều lợi ích hơn trong hiệu quả kiểm soát viêm cũng nhƣ sự dung nạp điều trị trên
các bệnh lý nhƣ viêm hắc võng mạc Birdshot, hội chứng Vogt−Koyanagi−Harada, bệnh Behcet...205–207 Một số các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên (Randomized
clinical trial-RCTs) đã cung cấp các bằng chứng về hiệu quả điều trị phối hợp ADA và MTX trên các bệnh lý viêm qua trung gian miễn dịch khác.203 Trong VMBĐ
KNT, sự kết hợp điều trị này đã đƣợc thử nghiệm thành công trên bệnh nhi mắc VMBĐ liên kết viêm khớp thiếu niên vô căn.131
Tính đến thời điểm hiện tại, đây là một trong các nghiên cứu đầu tiên tập trung
đánh giá hiệu quả của điều trị phối hợp ADA với ƢCMD trong điều trị VMBĐ
KNT. Tỷ lệ đáp ứng điều trị đạt 98% (với 20,4% đáp ứng hoàn toàn) ở tháng thứ 1
và có giảm nhẹ ở tháng thứ 5 là 96,8% (với 74,5% đáp ứng hoàn toàn) sau đó tăng
lên đạt 100% ở tháng thứ 12 (với tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn tăng lên 95,6%) (Biểu đồ
3.5). Cho đến nay, đa phần các nghiên cứu về hiệu quả của ADA trên VMBĐ KNT
đều bao gồm cả các trƣờng hợp có và không phối hợp với ƢCMD. Nhƣ nghiên cứu
của Mercier và cộng sự (2018), tỷ lệ đáp ứng điều trị với ADA có và/hoặc không
phối hợp với ƢCMD là 50% ở tháng thứ 3, 85,7% ở tháng thứ 6 và giảm về 66,7% ở tháng thứ 12 rồi lại tăng lên đến 80% ở sau tháng thứ 12.7 Tƣơng tự, nghiên cứu
của Cordero-Coma và cộng sự (2016) cho thấy tỷ lệ đáp ứng điều trị ở tháng thứ 6 là 72% với 44% bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn.10 Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
tỷ lệ đáp ứng điều trị có thể cao hơn các nghiên cứu trên, có thể bởi tất cả các bệnh
nhân đều đƣợc điều trị phối hợp hai loại thuốc trong suốt thời kỳ nghiên cứu.
Xét trong toàn bộ quá trình điều trị, có 45/49 mắt (91.8%) mắt đều đạt đáp ứng
điều trị. Riêng 4 mắt (8.2%) không đáp ứng điều trị và đƣợc rút khỏi nghiên cứu
(tháng thứ 3, 5), đánh dấu tỷ lệ thất bại điều trị chung của nghiên cứu là 8.2%. Ban
đầu các trƣờng hợp thất bại điều trị này đều có đáp ứng một phần. Tuy nhiên, khi
giảm liều Corticosteroid, tình trạng viêm lại tái phát. Một bệnh nhân có tăng nhãn
áp cấp tính, không kiểm soát với thuốc điều trị, đã đƣợc chỉ định phẫu thuật hạ nhãn
108
áp và đƣợc loại khỏi nghiên cứu từ tháng thứ 3. Một trƣờng hợp bệnh nhân VMBĐ
có biến chứng phù hoàng điểm hai mắt. Tình trạng phù tái phát ngay khi giảm liều
methylprednisolone dƣới 20mg. Đến tháng thứ 5 của điều trị phối hợp (ADA và
MMF), 2 mắt của bệnh nhân vẫn không đáp ứng điều trị nên đã đƣợc loại khỏi
nghiên cứu.
Có nhiều yếu tố góp phần vào thất bại của điều trị.208 Đầu tiên, bệnh có thể có
sinh bệnh học độc lập với cơ chế tác động của thuốc điều trị. Vì VMBĐ KNT là tập
hợp các bệnh lý khác nhau, nên khả năng yếu tố TNF không tham gia vào sinh bệnh
học của bệnh cũng có thể dẫn đến thất bại điều trị với thuốc kháng TNF-α. Tiếp đến
là các yếu tố liên quan đến di truyền có thể ảnh hƣởng đến chuyển hóa của nhiều thuốc.209 Gần đây, ngƣời ta ngày càng đánh giá cao vai trò của microbiome (hệ vi
sinh vật sống cộng sinh trên cơ thể ngƣời) trong sinh bệnh học của VMBĐ cũng
nhƣ ảnh hƣởng của chúng lên dƣợc động học của nhiều thuốc điều trị. Điều đáng
ngạc nhiên là microbiome còn ảnh hƣởng lên hiệu quả của các kháng thể đơn dòng.210 Cùng với đó, sự hình thành kháng thể kháng Adalimumab (ADAbs) đã
đƣợc xem là một trong những nguyên nhân khiến VMBĐ KNT không đáp ứng điều trị Adalimumab.10,12
Thật vậy, ở phần lớn bệnh nhân (85%) có mang ADAbs, nồng độ ADA trong
huyết thanh thƣờng thấp, trong khi đó chỉ có một phần ba bệnh nhân không mang ADAbs có nồng độ ADA thấp trong huyết thanh.124 Mối liên quan này chỉ ra rằng
các kháng thể kháng thuốc có thể gây giảm nồng độ của ADA trong huyết thanh.
Trong nghiên cứu phân tích tổng hợp từ 6 nghiên cứu khác nhau, tác giả Pachón-
Suárez (2024) nhận định thời gian xuất hiện ADAbs sớm nhất là 2 tháng kể từ thời điểm bắt đầu điều trị ADA và muộn nhất là 76 tháng.126 Trong thử nghiệm VISUAL
I, tác giả Jaffe đã phát hiện ADAbs ở 3 trong số 110 bệnh nhân ở nhóm điều trị
ADA. Cả 3 bệnh nhân này đều gặp thất bại điều trị ở thời điểm lần lƣợt là 16, 44 và
48 tuần. Trong khi đó, trung bình thời gian gặp thất bại điều trị ở 107 bệnh nhân còn lại (không có ADAbs) là 24 tuần.8 Trong thử nghiệm VISUAL II, tác giả Nguyễn
Đông Quan và cộng sự đã phát hiện 6 bệnh nhân mang ADAbs, 5 trong số đó gặp thất bại điều trị lần lƣợt ở thời điểm 13, 16, 16, 24 và 31 tuần.9 Trong khi đó, hơn
50% số bệnh nhân không có ADAbs không gặp thất bại điều trị.
109
Trong điều kiện của nghiên cứu này, chúng tôi không thể đánh giá đƣợc sự có
mặt của ADAbs trên các bệnh nhân nghiên cứu. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng
hai trƣờng hợp không đáp ứng điều trị đƣợc loại khỏi nghiên cứu ở tháng thứ 3 và
tháng thứ 5 này có mang ADAbs. Kể từ sau tháng thứ 5 cho đến thời điểm kết thúc
nghiên cứu, không có trƣờng hợp nào không đáp ứng điều trị và bị loại khỏi nghiên
cứu. Thời điểm từ sau tháng thứ 5 cũng là thời điểm các thuốc ức chế miễn dịch
phát huy hết hiệu quả bao gồm hiệu quả chống viêm. Thật vậy, nhiều nghiên cứu
nhận định việc điều trị phối hợp thuốc ức chế miễn dịch sẽ giúp giảm sinh kháng
thể kháng thuốc và giúp tăng nông độ của thuốc kháng TNF-α trong huyết thanh ở các bệnh viêm mãn tính.100 Năm 2012, Krieckaert và cộng sự báo cáo rằng MTX có khả năng giảm sinh kháng thể kháng ADA trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.13
Brunelli và cộng sự (2020) nhận thấy tại thời điểm 3 tháng sau điều trị, phƣơng
pháp phối hợp điều trị ADA với leflunomide có xuất hiện ADAbs, tuy nhiên phƣơng pháp phối hợp điều trị ADA với MTX thì không tìm thấy ADAbs.211 Tƣơng
tự nhƣ vậy, Eurelings và cộng sự (2022) báo cáo việc sử dụng ADA đơn trị liệu có nguy cơ hình thành ADAbs cao hơn (p=0,01).124 Skrabl và cộng sự (2019) đã chỉ ra
rằng nhóm bệnh nhân mang ADAbs thƣờng ít đƣợc điều trị phối hợp với thuốc ức chế miễn dịch (bất kỳ) hơn so với nhóm bệnh nhân không có ADAbs, với p<0,05.212
Leinonen và cộng sự (2017) báo cáo rằng việc không phối hợp điều trị ADA và MTX cho tỷ lệ ADAbs cao hơn.11 Trong phân tích tổng hợp gồm 9 nghiên cứu đƣợc
chọn lọc từ 2373 nghiên cứu, Pachón-Suárez và cộng sự đã nhận định việc không
điều trị phối hợp ADA với thuốc ƢCMD là một yếu tố nguy cơ cho hình thành ADAbs.126
Nghiên cứu về hiệu quả kết hợp thuốc ƢCMD với thuốc kháng TNF trên bệnh
nhân viêm khớp cột sống, tác giả Lie và công sự kết luận rằng nhóm điều trị phối
hợp ƢCMD với thuốc kháng TNF có thời gian điều trị hiệu quả với thuốc sinh học dài hơn so với nhóm không điều trị phối hợp.213 Trong nghiên cứu của chúng tôi
không ghi nhận trƣờng hợp nào đã đáp ứng điều trị hoàn toàn bị tái phát dẫn đến
thất bại điều trị. Các trƣờng hợp có tái phát trong quá trình điều trị đều là tái phát
nhẹ, liên quan đến giãn cách điều trị và đều đáp ứng tốt khi bệnh nhân đƣợc quay lại
khoảng giãn cách tiêm ADA trƣớc đó. Không có trƣờng hợp nào liều ADA phải rút
110
xuống dƣới 2 tuần/lần. Mặc dù không có yếu tố cụ thể nào đƣợc xác định là liên quan
đến tình trạng tái phát của các trƣờng hợp VMBĐ KNT đã đáp ứng điều trị với ADA, Eurelings cho rằng ADAbs có thể là một yếu tố gây tái phát.124 Cordero-Coma M và
cộng sự (2016) cũng chỉ ra rằng những bệnh nhân có ADAbs dai dẳng thƣờng có kết quả điều trị kém.10 Ramanan và cộng sự (2017) cũng báo cáo 8 bệnh nhân ban đầu đáp ứng với ADA đã tái phát bệnh.129 Cả 8 bệnh nhân này đều mang ADAbs dƣơng tính.
Vì vậy, nếu theo lập luận bên trên, việc phối hợp điều trị ADA với thuốc ƢCMD làm
giảm nguy cơ hình thành ADAbs, thì đây cũng có thể là lý do bảo vệ bệnh nhân khỏi
các đợt tái phát dẫn đến thất bại điều trị trong nghiên cứu này.
Trong nghiên cứu này có 3 bệnh nhân đã đƣợc điều trị thuốc ADA trƣớc khi
tham gia nghiên cứu. Tuy nhiên, hiệu quả kiểm soát viêm không hoàn toàn và xen
lẫn là các đợt viêm võng mạc tái phát, ngay cả khi duy trì điều trị corticosteroid kéo
dài. Sau khi đƣợc điều trị phối hợp ADA với MTX, cả 3 trƣờng hợp đều đạt đáp
ứng điều trị hoàn toàn và có thể dừng corticosteroid. Phối hợp điều trị giúp tăng
cƣờng hiệu quả kiểm soát viêm cũng đƣợc báo cáo qua một số nghiên cứu. Trong
nghiên cứu của Hiyama (2022), có 11 trong số 14 bệnh nhân mắc hội chứng Vogt−Koyanagi−Harada bị tái phát khi đang điều trị ADA.127 Các bệnh nhân này đã
đạt đƣợc lui bệnh sau khi đƣợc điều trị phối hợp thêm MTX. Tác giả khẳng định
ADA mang lại hiệu quả cao hơn khi sử dụng phối hợp với ƢCMD và khuyến cáo nên điều trị phối hợp ngay từ đầu cho những trƣờng hợp VKH giai đoạn muộn.127
Tác giả Ramanan và cộng sự (2017) tiến hành nghiên cứu hiệu quả của điều trị phối
hợp ADA với MTX cho các trƣờng hợp VMBĐ trong Viêm khớp thiếu niên vô căn.131 Kết quả cho thấy điều trị phối hợp ADA và MTX làm trì hoãn thời gian thất
bại điều trị một cách có ý nghĩa so với nhóm điều trị MTX đơn thuần (p<0,0001).
Hiệu quả của ADA thƣờng xuất hiện sớm. Theo nghiên cứu của Theodossiadis 11, hầu hết bệnh nhân đáp ứng với điều trị ở ngày thứ 28. Theo Vallet12, thời gian
đạt yên bệnh hoàn toàn là 2 tháng. Trong khi đó, hiệu quả điều trị của thuốc ƢCMD lại thƣờng xuất hiện muộn (từ 4 – 6 tháng)13. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ
đáp ứng điều trị tăng dần đến cuối tháng thứ 1, đến tháng thứ 2 có giảm nhẹ, dao
động từ tháng 2, 3, 4 và đạt thấp nhất ở tháng thứ 5. Sau đó, tỷ lệ đáp ứng điều trị
lại tăng lên ở tháng thứ 6. Từ tháng thứ 6 đến tháng thứ 12, 100% các mắt có đáp
111
ứng điều trị với tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn từ 77,8% - 95,6%. Kết quả này phù hợp với sự
thay đổi của thị lực ở Biểu đồ 3.5. Điều này có thể giải thích dựa trên tác dụng hiệp
đồng của các thuốc chống viêm đƣợc sử dụng. Thật vậy, hiệu quả kiểm soát viêm trong
tháng đầu tiên là nhờ tác dụng phối hợp của ADA và corticosteroid. Sau tháng thứ 2,
khi liều corticosteroid giảm dƣới mức 10,0 ± 4,2 mg/ngày, trong khi đó thuốc ƢCMD
chƣa đạt đƣợc hiệu quả tối đa, lúc này tỷ lệ đáp ứng điều trị giảm nhẹ (95,9%). Tỷ lệ
này lại tăng lên ở tháng thứ 6 (100%), cùng với sự cải thiện của độ dày hoàng điểm
(Biểu đồ 3.6) và thị lực (Biểu đồ 3.5), khi các thuốc ƢCMD đạt hiệu quả tối đa và liều
corticosteroid đạt ở mức thấp (4,5 ± 6,2 mg/ngày) (Biểu đồ 3.7).
Hiệu quả này tiếp tục đƣợc duy trì và củng cố ở 6 tháng sau đó. Tại các tháng
này, mặc dù tỷ lệ đáp ứng điều trị vẫn duy trì 100%, tuy nhiên tỷ lệ đáp ứng hoàn
toàn có giảm và dao động ở giai đoạn tháng thứ 8 (77,8%), 9 (84,4%), 10 (80%)
(Biểu đồ 3.4). Quan sát biểu đồ 3.8, từ tháng thứ 2, có 4% trƣờng hợp có thể giãn
cách 3 tuần/lần tiêm ADA. Tỷ lệ này tăng cao ở tháng thứ 7 với 78,2% trƣờng hợp
đƣợc giãn cách tiêm (73,9% giãn 3 tuần/lần và 4,3% giãn 4 tuần/lần). Tại tháng thứ
8, tỷ lệ trƣờng hợp có thể giãn cách liều giảm và đạt ổn định ở các tháng 9, 10, 11,
12. Đồng thời tỷ lệ giãn cách tiêm 4 tuần/lần và 5 tuần/lần tăng lên.
Thật vậy, các tháng đầu sau giãn liều là giai đoạn cá thể hóa theo đáp ứng điều
trị. Những trƣờng hợp bệnh nhân không đáp ứng với việc giãn liều đều đƣợc quay
trở lại khoảng cách tiêm ADA trƣớc đó. Giai đoạn này những trƣờng hợp chuyển từ
đáp ứng hoàn toàn sang đáp ứng không hoàn toàn đều đƣợc phát hiện nhờ thăm
khám lâm sàng có tăng chỉ số viêm của dịch tiền phòng và dịch kính. Không có
trƣờng hợp nào xuất hiện các tổn thƣơng nghiêm trọng ảnh hƣởng tới cấu trúc nhãn
cầu. Theo tác giả Eureling và cộng sự có khoảng 7,9% trƣờng hợp VMBĐ tái phát phải ngừng điều trị ADA và chuyển qua phƣơng pháp điều trị khác.124 Trong nghiên
cứu này, chúng tôi không gặp trƣờng hợp bệnh nhân đã đáp ứng hoàn toàn chuyển
sang không đáp ứng điều trị và phải rút khỏi nghiên cứu. Trong điều kiện Việt Nam
hiện nay, chỉ có ADA là thuốc sinh học duy nhất đƣợc cấp phép cho điều trị VMBĐ
KNT, thì việc điều trị phối hợp ADA và thuốc ƢCMD kết hợp theo dõi sát có thể là
phƣơng án phù hợp nhằm hỗ trợ giãn liều và duy trì hiệu quả lâu dài của ADA.
112
4.2.2.2. Hiệu quả lên thị lực và độ dày hoàng điểm
Phù hoàng điểm đã đƣợc xem là yếu tố nguy cơ cho giảm thị lực trên mắt
VMBĐ. Theo nghiên cứu của Massa H và công sự (2019), biến chứng phù hoàng điểm do VMBĐ gây giảm thị lực nghiêm trọng ở 30 – 42% bệnh nhân.214 Matas và
cộng sự (2019) nhấn mạnh các yếu tố tiên lƣợng tốt đối với phù hoàng điểm do
VMBĐ là bệnh lý hai mắt, tìm thấy bệnh toàn thân kết hợp và có tế bào viêm trong tiền phòng.215 Trong khi đó độ dày hoàng điểm, biến đổi diện tiếp xúc dịch kính –
võng mạc và phù hoàng điểm dạng nang lại là yếu tố tiên lƣợng dè dặt. Vì vậy, song
song với việc kiểm soát tình trạng VMBĐ, độ dày hoàng điểm cũng là yếu tố luôn
cần đƣợc quan tâm để đảm bảo chất lƣợng thị giác cho bệnh nhân.
Trên các mắt có phù hoàng điểm, sau khi điều trị tấn công ADA kèm
corticosteroid và ƢCMD, tình trạng viêm đƣợc kiểm soát tƣơng ứng với thị lực
đƣợc cải thiện và độ dày hoàng điểm cũng đƣợc điều chỉnh. Khi liều corticosteroid
giảm từ tháng thứ 2, tỷ lệ đáp ứng điều trị giảm (95,9%), song song với đó là thị lực
cũng bị giảm (0,5 ± 0,1), tuy nhiên lúc này chiều dày hoàng điểm chƣa biến đổi
nhiều. Độ dày hoàng điểm chỉ thực sự tăng lên ở tháng thứ 4 (293,3±10,8 µm) và
tháng thứ 5 (304,6±14,8 µm). Thật vậy, trên mắt có VMBĐ, thị lực thƣờng bị ảnh
hƣởng sớm hơn do biến đổi trực tiếp của các môi trƣờng trong suốt (bao gồm dịch
tiền phòng, thủy tinh thể và dịch kính). Tình trạng dày hoàng điểm thƣờng xuất hiện sau đó một thời gian.197 Một điểm đáng lƣu ý là, ở thời điểm sàng lọc, thị lực giảm
tƣơng ứng với mức độ chiều dày hoàng điểm. Ở tháng thứ 4 và thứ 5, mặc dù phù
hoàng điểm tăng lên nhƣng thị lực tại các tháng này lại ít thay đổi. Giải thích cho
trƣờng hợp này, chúng ta thấy sau tháng thứ 1, tình trạng viêm đƣợc kiểm soát hiệu
quả hơn nhờ sự kết hợp của các thuốc chống viêm khác nhau, chức năng của hàng
rào máu võng mạc và cấu trúc võng mạc vùng hoàng điểm đƣợc phục hồi ít nhiều
tốt hơn thời điểm sàng lọc. Vì thế, mặc dù tỷ lệ đáp ứng điều trị giảm nhẹ, độ dày
hoàng điểm trung bình tăng lên trong thời gian ngắn cũng chƣa làm ảnh hƣởng
nhiều đến thị lực trung bình. Kể từ tháng thứ 6 trở đi, tỷ lệ đáp ứng điều trị lại tăng
lên, tƣơng ứng với giai đoạn thuốc ƢCMD phát huy hiệu quả tối đa, thuốc ADA đạt
hiệu quả bền vững. Cùng với đó, thị lực và độ dày hoàng điểm dần đƣợc cải thiện
tốt hơn. Nếu ở tháng thứ 6, 86,7% đáp ứng hoàn toàn với thị lực trung bình là 0,3 ±
113
0,1 logMAR và độ dày hoàng điểm 275,7 ± 5 µm, thì đến tháng thứ 12, có 95,6%
mắt có đáp ứng hoàn toàn với thị lực trung bình là 0,2 ± 0 logMAR và độ dày hoàng
điểm là 266,6 ± 4,8 µm, ở liều corticosteroid 0,6 ± 0,2 mg/ngày.
Hiệu quả của thuốc ức chế miễn dịch bao gồm MTX, MMF đối với phù hoàng điểm VMBĐ đã đƣợc ghi nhận trong một số nghiên cứu.216,217 Tác giả Doycheva và
công sự ghi nhận MMF giúp cải thiện hoàn toàn phù hoàng điểm ở 50% trƣờng hợp.216 Tác giả cũng nhận định rằng MMF không phải luôn hiệu quả để kiểm soát
lâu dài tình trạng phù hoàng điểm. Năm 2014, Schaap-Fogler và cộng sự đã so sánh
hiệu quả của thuốc kháng TNF-α với các thuốc ức chế miễn dịch trong điều trị phù
hoàng điểm do VMBĐ trên 23 bệnh nhận và ghi nhận có sự cải thiện độ dày hoàng
điểm ở cả hai nhóm điều trị. Trong đó, hiệu quả của thuốc kháng TNF-α lên tình
trạng dày hoàng điểm vƣợt trội so với thuốc ƢCMD ở tháng thứ 6 nhƣng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở thời điểm 12 tháng.218 Nghiên cứu năm 2008 của
Diaz-Llopis M báo cáo tỷ lệ cải thiện phù hoàng điểm là 54% trên mắt VMBĐ điều trị Adalimumab.219 Cũng tác giả này, trong một nghiên cứu khác công bố năm
2012, đã báo cáo tỷ lệ cải thiện phù hoàng điểm là 70% trên bệnh nhân VMBĐ kháng trị đƣợc điều trị Adalimumab kết hợp giảm liều ƢCMD.6 Tác giả Lejoyeux
và công sự ghi nhận Adalimumab giúp cải thiện 50% trƣờng hợp phù HĐ trên mắt VMBĐ.220 Nghiên cứu đa trung tâm năm 2022, tác giả Leclercq ghi nhận thuốc
kháng TNF-α (ADA và IFX) giúp cải thiện 46,2% trƣờng hợp phù hoàng điểm do VMBĐ (21,8% cải thiện hoàn toàn và 24,4% cải thiện một phần).221 Trong nghiên
cứu này, ngoài 2 mắt (của 1 bệnh nhân) có phù hoàng điểm không đáp ứng điều trị
và đƣợc loại khỏi nghiên cứu từ tháng thứ 5, 21 mắt có phù hoàng điểm còn lại
(91,3%) đều có cải thiện hoàn toàn tình trạng phù hoàng điểm (<300µm) ở tháng
thứ 12. Hiệu quả ghi nhận trong nghiên cứu này cao hơn so với kết quả công bố
trong các nghiên cứu trƣớc đây phải chăng là nhờ sự kết hợp của ADA và ƢCMD
đã phát huy hiệu quả đơn lẻ của mỗi nhóm thuốc và tạo nên tác dụng hiệp đồng lên
tình trạng phù hoàng điểm do VMBĐ.
4.2.2.3. Hiệu quả giảm liều corticosteroid
Corticosteroid là thuốc đầu tay trong điều trị VMBĐ KNT nhờ khả năng kiểm
soát viêm nhanh và mạnh. Tuy nhiên, do có nhiều tác dụng phụ lên ngƣời bệnh nên
114
thuốc không đƣợc ƣu tiên điều trị kéo dài. Ở thời điểm sàng lọc, 100% các bệnh
nhân đã từng đƣợc điều trị Corticosteroid toàn thân, có hoặc không phối hợp với
corticosteroid tại chỗ. Một bệnh nhân mắc bệnh Behcet đã điều trị liên tục
Corticosteriod trong thời gian 10 năm nhƣng vẫn bị mất chức năng một bên mắt do
VMBĐ. Liên quan đến tác dụng phụ của thuốc này lên toàn thân, 17 bệnh nhân
(68%) có hội chứng Cushing, 8 bệnh nhân (32%) từng bị trầm cảm (trong đó 1 bệnh
nhân nữ 16 tuổi từng có biểu hiện trầm cảm nặng), 1 bệnh nhân (4%) mắc suy
thƣợng thận do thuốc. Mục tiêu điều trị với các trƣờng hợp VMBĐ KNT không chỉ
là kiểm soát hoàn toàn tình trạng VMBĐ, mà còn là giảm và cắt đƣợc thuốc
corticosteroid nhằm hạn chế tối đa tác dụng không mong muốn của thuốc lên chất
lƣợng cuộc sống của bệnh nhân.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của thuốc ƢCMD và thuốc
Adalimumab trong việc giúp cắt giảm liều corticosteroid. Các nghiên cứu đƣợc thực
hiện bởi Nhóm nghiên cứu điều trị thuốc ức chế miễn dịch toàn thân cho các bệnh
mắt đã công bố tỷ lệ thành công của MTX và MMF trong việc cắt giảm liều corticosteroid ở thời điểm 6 tháng lần lƣợt là 21% và 41%.68,69 Một nghiên cứu
khác, bao gồm đa số các bệnh nhân VMBĐ sau và VMBĐ toàn bộ, báo cáo tỷ lệ này là 42% với MTX và 79% với MMF.85 AZA cũng có hiệu quả tƣơng tự hiệu quả của MTX.85 Đối với Adalimumab, kết quả từ thử nghiệm VISUAL III, nghiên cứu
pha 3 của các thử nghiệm VISUAL I và II, đã cho thấy ADA có hiệu quả cắt giảm 75% corticosteroid ở tuần thứ 78 của nghiên cứu.8,9,222 Nghiên cứu của Eureling và
cộng sự khẳng định hiệu quả giảm cắt corticosteroid của ADA trên bệnh nhân điều
trị ADA kéo dài, nhờ đó ADA giúp hạn chế tác dụng không mong muốn lâu dài do corticosteroid gây ra.124
Theo nghiên cứu đoàn hệ SITE (SITE cohort study), nếu VMBĐ đƣợc kiểm
soát hoàn toàn ở liều tƣơng đƣơng với liều thấp hơn hoặc bằng 10mg
prednisolone/ngày đƣợc coi là đã cắt giảm đƣợc corticosteroid (corticosteroid- sparing).223 Trong nghiên cứu này, tác dụng hiệp đồng của ADA và ƢCMD lên hiệu
quả cắt giảm liều corticosteroid đã đƣợc biểu diễn trong biểu đồ 3.7. Biểu đồ cho
thấy liều methylprednisolone trung bình giảm dƣới 8 mg/ngày (tƣơng đƣơng dƣới
10mg prednisolone/ngày) từ tháng thứ 3 với hiệu quả kiểm soát viêm đạt 95,9%
115
(63,7% đáp ứng hoàn toàn). Từ tháng thứ 7, liều methylprednisolone giảm dƣới 4 mg/ngày tƣơng đƣơng với liều corticosteroid sinh lý của cơ thể.61 Hiệu quả giảm
liều corticosteroid này đƣợc duy trì đến cuối nghiên cứu.
4.2.2.4. Hiệu quả lên khả n ng giãn liều Adalimumab
Thuốc ADA đã chứng minh hiệu quả trong điều trị VMBĐ KNT. Tuy nhiên,
việc điều trị thuốc này kéo dài có thể dẫn đến các tác dụng không mong muốn đặc biệt là nhiễm trùng cơ hội và các bệnh lý ác tính.87
Theo phác đồ của EULAR cho xử trí bệnh viêm khớp dạng thấp, với các bệnh
nhân đã đạt lui bệnh trên 6 tháng, các thuốc sinh học có thể đƣợc cân nhắc giảm liều hoặc giãn cách liều để đạt hiệu quả kinh tế tối ƣu.224 Một số nghiên cứu đã chỉ ra
rằng việc tối ƣu hóa các thuốc sinh học bằng cách giãn cách liều hoặc giảm liều trên
các bệnh tự miễn nhƣ bệnh viêm khớp dạng thấp, bệnh Crohn, bệnh vảy nến, hoặc
bệnh Behcet, là có thể và mang lại hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, hiện còn chƣa có
hƣớng dẫn cụ thể cho việc tối ƣu hóa điều trị ADA trên các bệnh lý viêm nói chung
cũng nhƣ trên bệnh VMBĐ nói riêng. Trong các thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm,
đa quốc gia đƣợc công bố đến nay (VISUAL I và VISUAL II), ADA đƣợc sử dụng
liên tục với liều 2 tuần/lần trên bệnh nhân VMBĐ KNT.
Tại Việt Nam, việc điều trị VMBĐ KNT bằng ADA hiện nay còn gặp nhiều
khó khăn do giá thành điều trị thuốc còn cao so với mức thu nhập bình quân của
ngƣời dân, số lƣợng trung tâm điều trị thuốc còn hạn chế, bệnh nhân cần nhập viện
để đƣợc điều trị và theo dõi. Nếu thời gian điều trị ADA đƣợc giãn cách thì sẽ giảm
gánh nặng chi phí và thời gian điều trị cho bệnh nhân. Vì vậy, tại Việt Nam, việc tối
ƣu hóa điều trị ADA trên bệnh nhân đã đạt yên bệnh là rất quan trọng để tiết kiệm
chi phí điều trị và giảm tác dụng không mong muốn cho bệnh nhân.
Tác giả Martín-Varillas và cộng sự 6 đã đề xuất chiến lƣợc giãn liều điều trị
ADA trên bệnh nhân VMBĐ trong bệnh Behcet. Sau 1 năm điều trị ADA và đạt lui
bệnh trong 3 đến 6 tháng, tác giả đề xuất tăng chậm và từ từ thời gian giữa các đợt
điều trị đến khi đạt khoảng cách 6 tuần/lần thì dừng điều trị. Hiệu quả thu
đƣợc tƣơng đƣơng với hiệu quả điều trị ở nhóm chứng (tiêm ADA 2 tuần/lần). Một
số nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả trong giãn liều ADA trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp 14 và viêm khớp vảy nến.15
116
Nghiên cứu DRESS đã chỉ ra việc kết hợp điều trị ADA với MTX có thể cải
thiện tỷ lệ thành công của việc giãn cách liều trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.225 Hơn nữa, một số tác giả nhận định việc giãn cách liều ADA sẽ thuận lợi hơn
trên bệnh nhân có nồng độ ADA trong máu cao, điều đó ủng hộ cho việc kết hợp
điều trị ADA với MTX trên bệnh nhân viêm cột sống dính khớp và có thể cả trên bệnh nhân VMBĐ KNT.226 Thử nghiệm CONCERTO cho thấy bắt đầu điều trị đồng thời MTX với ADA có thể giúp giảm sinh kháng thể kháng Adalimumab.16 Có
hai cơ chế đƣợc tác giả đƣa ra để giải thích cho hiện tƣợng này. Đầu tiên, MTX có
thể có hiệu quả ức chế miễn dịch trực tiếp lên đáp ứng miễn dịch dịch thể với ADA,
từ đó giúp giảm sản xuất ADAbs. Hai là việc phối hợp MTX giúp giảm đào thải
ADA, từ đó làm tăng nồng độ ADA trong huyết thanh, so với nhóm không điều trị
phối hợp MTX. Trên chuột thực nghiệm đƣợc điều trị ADA, các tác giả quan sát thấy biểu hiện của FcRn tăng trong tổ chức đi kèm với giảm đào thải ADA.227 Đồng
thời, các tác giả cũng ghi nhận MTX có thể giúp tăng biểu hiện của FcRn, từ đó góp
phần tăng nồng độ của ADA.
Tính đến cuối thời điểm nghiên cứu, ngoài 2 bệnh nhân rút khỏi nghiên cứu do
thất bại điều tri, có 5 bệnh nhân (5/23) không thể giãn liều, 6 bệnh nhân (6/23 ) giãn
đƣợc từ 2 tuần/lần sang 3 tuần/lần sau đó có dấu hiệu tái phát nên phải quay lại
khoảng cách 2 tuần/lần, 2 bệnh nhân (2/23) giãn đƣợc từ 2 tuần/lần sang 3 tuần/lần,
7 bệnh nhân (7/23) thành công giãn liều về 4 tuần/lần, và 3 bệnh nhân (3/23) đã
chuyển sang 5 tuần/lần (Biểu đồ 3.9). Nhƣ vậy, có 52,2% (12/23) bệnh nhân có thể
giãn cách ít nhất 3 tuần/lần.
Trên các bệnh nhân đƣợc giãn cách tiêm, chúng tôi thấy rằng thị lực đƣợc duy
trì ổn định tại thời điểm thăm khám cuối cùng (0,19 ± 0,30 logMAR) so với thời
điểm trƣớc khi giãn cách tiêm (0,30 ± 0,39 logMAR) (p=0.07), gặp cả trên các
trƣờng hợp có hoặc không giãn cách tiêm thành công. Cùng với đó là chiều dày
hoàng điểm tiếp tục cải thiện từ 276 ± 30,3 µm (trƣớc khi giãn cách tiêm) xuống
265 ± 33,2 µm tại thời điểm cuối nghiên cứu (p<0,001). Đồng thời, liều
corticosteroid tiếp tục đƣợc giảm từ 3,89 ± 1,45 mg/ngày về 0,23 ± 0,94 mg/ngày
(p<0,001) (Bảng 3.10).
117
Các trƣờng hợp không đáp ứng với giãn cách tiêm đều đƣợc phát hiện ngay
khi có tủa sau giác mạc và tăng phản ứng viêm tiền phòng và/hoặc viêm dịch kính.
Các trƣờng hợp này đều đạt đáp ứng điều trị hoàn toàn ngay khi quay lại khoảng
cách tiêm trƣớc khi giãn liều. Không có trƣờng hợp nào có phù hoàng điểm dạng
nang hoặc xuất hiện ổ viêm mới trong võng mạc. Không xuất hiện thêm biến chứng
tại mắt trong quá trình giãn cách liều.
Một nghiên cứu tƣơng tự của tác giả Yuan và cộng sự đánh giá khả năng giảm
và dừng thuốc ADA trên trẻ em dƣới 18 tuổi mắc VMBĐ điều trị ổn định với ADA và MTX.228 Các bệnh nhi này đƣợc giãn liều trong 6 tháng sau đó dừng hoàn toàn
ADA (tiếp tục duy trì MTX) và theo dõi trong 6 tháng tiếp theo. Kết quả cho thấy
có 22% trẻ không có tái phát ở tuần thứ 48, 33,3% trẻ tái phát khi giãn cách 4
tuần/lần và 44,5% bệnh nhi tái phát sau khi dừng ADA. Tác giả cũng ghi nhận
không có sự khác biệt về mặt thị lực hoặc tái phát phù hoàng điểm, mà chỉ có gia
tăng chỉ số viêm của tiền phòng và/hoặc viêm dịch kính. Sau khi các trƣờng hợp tái
phát quay trở về khoảng giãn cách tiêm ADA cũ, tình trạng viêm mắt lại đƣợc kiểm
soát hiệu quả và không có biến chứng mới xuất hiện. Tác giả nhận định rằng tối ƣu
hóa điều trị ADA là an toàn trên các bệnh nhân đã đặt lui bệnh. Ngay cả khi VMBĐ
tái phát, việc xử trí kịp thời có thể kiểm soát viêm một cách hiệu quả mà không gây
bất kỳ tổn hại nào lên chức năng thị giác và cấu trúc võng mạc.
Nhƣ vậy, việc phối hợp điều trị thuốc ƢCMD có thể đồng thời tác động lên cơ
chế sinh miễn dịch chống lại ADA, vừa giúp tăng nồng độ thuốc ADA, bản thân các
thuốc này cũng có khả năng kiểm soát VMBĐ KNT (khoảng 40%), do đó giúp tăng
khả năng giãn cách tiêm, giảm nguy cơ tái phát và bảo vệ mắt khỏi những tác động
có hại từ các lần viêm tái phát.
4.2.2.5. Biến cố và tác dụng không mong muốn
Điều trị phối hợp thuốc ƢCMD với thuốc kháng TNF-α có thể làm tăng nguy
cơ xuất hiện các tác dụng không mong muốn. Tác giả Ramanan và cộng sự báo cáo
về tỷ lệ tác dụng phụ theo năm và tác dụng phụ nghiêm trọng khi phối hợp ADA
với MTX (điều trị VMBĐ trong bệnh viêm khớp thiếu niên vô căn) là cao hơn so
với nhóm điều trị MTX đơn trị liệu (tƣơng ứng là 9,86 so với 7,21, và 21,7% so với 6,7%).131 Phần lớn các tác dụng phụ là nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm virus. Các tác
118
dụng phụ nghiêm trọng thƣờng ở mức độ nhẹ hoặc trung bình. Không có trƣờng
hợp mắc bệnh ác tính, bệnh mất myelin hay tử vong trong quá trình nghiên cứu.
Tính đến cuối thời gian nghiên cứu, chúng tôi chƣa ghi nhận trƣờng hợp tác dụng
phụ nghiêm trọng gây tử vong hoặc ảnh hƣởng nặng nề lên sức khỏe của ngƣời
bệnh (Bảng 3.7).
Biến cố thƣờng gặp là tình trạng mệt mỏi, gặp trên 3 bệnh nhân (12%) đƣợc
ghi nhận ở 5 thời điểm thăm khám khác nhau. Các thăm khám toàn thân và xét
nghiệm cận lâm sàng không cho thấy bất thƣờng. Tình trạng mệt mỏi này cải thiện
sau 3 tháng điều trị.
Trong nghiên cứu này, có 7 biến cố bất lợi liên quan đến nhiễm trùng, bao
gồm 3 trƣờng hợp nhiễm Covid-19, 1 trƣờng hợp nhiễm lao tiềm ẩn, 1 trƣờng hợp
viêm giác mạc dạng đĩa do virus herpes và 1 bệnh nhân có viêm bàng quang và hen
phế quản bội nhiễm ở hai thời điểm khác nhau trong nghiên cứu.
Giai đoạn đầu của nghiên cứu cũng chính là giai đoạn cuối của đại dịch Covid-
19. Ba trƣờng hợp nhiễm Covid-19 xảy ra đồng thời khi cả 3 bệnh nhân cùng nhập
viện tiêm Adalimumab. Các bệnh nhân đƣợc hƣớng dẫn tạm dừng thuốc ƢCMD
trong thời gian mắc bệnh. Cả ba trƣờng hợp đều chỉ biểu hiện triệu chứng nhẹ và
hết triệu chứng trong thời gian dƣới 1 tuần. Vì vậy, bệnh nhân vẫn duy trì liều tiêm
Adalimumab theo đúng lộ trình. Việc điều trị phối hợp thuốc chống viêm làm tăng
nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là bệnh lây truyền qua đƣờng hô hấp.
Tuy nhiên, điều trị chống viêm mạnh cũng góp phần làm giảm nhẹ triệu chứng của
nhiễm Covid-19 và rút ngắn thời gian biểu hiện triệu chứng trên các bệnh nhân này.
Nghiên cứu của Lian nhấn mạnh nguy cơ nhiễm trùng, đặc biệt là lao trên bệnh nhân Trung Quốc điều trị thuốc kháng TNF-α phối hợp với ƢCMD.128 Việt
Nam cũng thuộc nhóm các nƣớc có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 11 trong 30 nƣớc có số ngƣời bệnh lao cao nhất toàn cầu.229 Trong nghiên cứu này, có 1 trƣờng
hợp bệnh nhân có test quantiferon chuyển từ âm tính tại thời điêm sàng lọc sang
dƣơng tính ở thời điểm 6 tháng của điều trị, tuy nhiên không tìm thấy tổn thƣơng
lao ở các cơ quan đích. Bệnh nhân đƣợc chẩn đoán nhiễm lao tiềm ẩn, đƣợc theo
dõi và điều trị dự phòng với bác sỹ chuyên khoa hô hấp theo đúng phác đồ của Bộ
Y tế. Trong thời gian điều trị dự phòng lao, tình trạng VMBĐ vẫn đƣợc kiểm soát
119
tốt nhờ điều trị phối hợp ADA và ƢCMD. Cho đến thời điểm tháng thứ 12 của
nghiên cứu, bệnh nhân hoàn toàn khỏe mạnh và không có biểu hiện bệnh lao. Tại
thời điểm tháng thứ 12, bệnh nhân đƣợc giãn cách 5 tuần/lần tiêm ADA.
Một trƣờng hợp bệnh nhân nam mắc VMBĐ sau do bệnh Behcet đƣợc điều trị
AZA kết hợp ADA (tiêm mỗi 2 tuần). Tình trạng VMBĐ đƣợc kiểm soát với phác
đồ ADA 2 tuần/lần. Tại thời điểm thăm khám cuối cùng (tháng 12), bệnh nhân xuất
hiện viêm giác mạc dạng đĩa do virus Herpes. Bệnh nhân sau đó đã đƣợc điều trị
thuốc kháng virus (cả đƣờng tra và đƣờng toàn thân) kết hợp thuốc chống viêm tại
chỗ, đồng thời dừng ADA và duy trì tiếp tục AZA. Mặc dù tình trạng VMBĐ vẫn
đƣợc kiểm soát, tuy nhiên tình trạng viêm nhu mô giác mạc khó kiểm soát ngay cả
khi đã điều trị duy trì thuốc kháng virus kéo dài. Vì vậy, bệnh nhân đƣợc dừng cả
hai thuốc chống viêm là ADA và AZA. Tại thời điểm 3 tháng sau khi dừng hoàn
toàn điều trị phối hợp, tình trạng viêm giác mạc cải thiện tốt nhƣng xuất hiện ổ viêm
võng mạc mới do bệnh Behcet. Cuối cùng cả VMBĐ sau và viêm giác mạc nhu mô
đƣợc kiểm soát tốt với điều trị ADA đơn trị liệu (4 tuần/lần) kết hợp thuốc kháng
virus liều duy trì. Thật vậy, ADA là kháng thể đơn dòng kháng lại yếu tố TNF-α, do đó thuốc chỉ có tác dụng chọn lọc lên yếu tố trung gian gây viêm là TNF-α .46 Còn
AZA là thuốc ức chế miễn dịch, có cơ chế tác dụng lên quá trình phân chia của cả tế
bào lympho B và T, làm giảm số lƣợng các tế bào này ở máu ngoại vi và làm giảm
khả năng bảo vệ của cơ thể. Vì vậy, trong những trƣờng hợp nhiễm trùng cơ hội khó
kiểm soát, việc duy trì điều trị ADA và dừng thuốc ƢCMD có thể là lựa chọn phù
hợp giúp duy trì tác dụng kiểm soát VMBĐ và bệnh lý nhiễm trùng hiệu quả hơn.
Một trƣờng hợp mắc viêm bàng quang và hen phế quản bội nhiễm trên cùng
một bệnh nhân ở hai thời điểm khác nhau của nghiên cứu. Nhờ đƣợc phát hiện và
điều trị sớm, bệnh đáp ứng tốt với điều trị chuyên khoa và không làm ảnh hƣởng
đến quá trình điều trị bệnh VMBĐ.
Việt Nam với đặc điểm là nƣớc nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mƣa nhiều, thời
tiết thay đổi thất thƣờng, vì vậy nguy cơ lây lan các bệnh truyền nhiễm vẫn chiếm tỷ
lệ cao, có nhiều vụ dịch xảy ra quanh năm (sốt xuất huyết, lỵ…). Vì vậy, song song
với điều trị, việc giáo dục cho bệnh nhân về tầm quan trọng của các biện pháp vệ
sinh (bao gồm đeo khẩu trang và sát khuẩn tay thƣờng xuyên), dự phòng nhiễm
120
trùng cơ hội, kết hợp với theo dõi sàng lọc định kỳ có vai trò then chốt quyết định
thành công của điều trị với các thuốc chống viêm.
Các biến cố khác đƣợc ghi nhận là rối loạn tiêu hóa (2 trƣờng hợp), tăng men
gan (1 trƣờng hợp), biến đổi công thức máu/giảm nhẹ các dòng tế bào máu ngoại vi
(1 trƣờng hợp), lẫn lộn mất trí nhớ tạm thời (1 trƣờng hợp). Trƣờng hợp tăng men
gan xuất hiện ở tuần thứ 8 và sau đó ổn định ở tuần 20, sau khi bệnh nhân đƣợc đổi
thuốc ƢCMD (MMF sang MTX). Tăng men gan đã đƣợc báo cáo là một trong những tác dụng phụ thƣờng gặp khi điều trị MTX.103,162,165 Tác dụng phụ này
thƣờng mất đi, không để lại di chứng sau khi giảm liều thuốc hoặc bệnh nhân đƣợc
chuyển sang thuốc khác. Trƣờng hợp có biến đổi công thức máu, bệnh nhân đang
điều trị phối hợp AZA và ADA, đƣợc phát hiện giảm các dòng tế bào máu ngoại vi
qua xét nghiệm công thức máu định kỳ. Tác dụng phụ này đã đƣợc ghi nhận trên bệnh nhân điều trị AZA trong các nghiên cứu trƣớc đây.65,114,202,230 Một tháng sau
khi chuyển từ AZA sang MTX, công thức máu của bệnh nhân đã trở về bình
thƣờng, đồng thời hiệu quả kiểm soát viêm không bị ảnh hƣởng. Một trƣờng hợp
bệnh nhân nam, 60 tuổi xuất hiện tình trạng lẫn lộn, mất trí nhớ tạm thời ở thời
điểm tuần 2, không tìm thấy tổn thƣơng thực thể. Biến cố xuất hiện trong thời gian
dƣới 48 tiếng sau đó tự phục hồi và không tái phát trong suốt quá trình theo dõi. Biến cố đƣợc cho là có thể liên quan đến việc điều trị corticosteroid.62
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tổng số 18 biến cố xuất hiện trong 284
bệnh nhân-tháng, tƣơng đƣơng với nguy cơ chung của tất cả các biến cố là 76,1
biến cố/100 bệnh nhân-năm (PY). Chúng tôi không ghi nhận biến cố nghiêm trọng
ảnh hƣởng đến tính mạng cũng nhƣ biến cố mới so với các biến cố đã đƣợc báo cáo bởi các nghiên cứu trƣớc đây.8,127,131 Chúng tôi chƣa ghi nhận trƣờng hợp bệnh ác
tính, bệnh mất myelin hay tử vong trong quá trình nghiên cứu.
Nghiên cứu VISUAL I đánh giá hiệu quả của ADA có hoặc không phối hợp
ƢCMD trong điều trị VMBĐ KNT hoạt động đã ghi nhận tần suất biến cố là 1052 cho 100 bệnh nhân-năm.8 Nghiên cứu VISUAL III đánh giá hiệu quả và độ an toàn
khi điều trị kéo dài Adalimumab có hoặc không phối hợp thuốc ƢCMD đã ghi nhận 423,9 biến cố/100PY.87 Trong nghiên cứu phân tích tổng hợp thực hiện trên 6 thử
nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên về độ an toàn của ADA trong điều trị VMBĐ KNT,
121
tác giả Biao Li đã báo cáo nguy cơ các biến cố trong khoảng 6,743 – 12,101 biến
cố/PY (tƣơng ứng 674,3-1210,1 biến cố/100PY). Nhƣ vậy, trong nghiên cứu này,
nguy cơ sinh biến cố tính theo bệnh nhân-năm không cao hơn so với các nghiên cứu
đánh giá hiệu quả điều trị ADA có hoặc không phối hợp ƢCMD khác.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu bệnh nhân đƣợc sàng lọc đầy đủ thì nguy cơ sinh biến chứng là thấp.222,231 Một số tác dụng không muốn khác đã đƣợc đề cập
đến nhƣ nổi ban tại chỗ tiêm thuốc, sarcoid thứ phát do thuốc kháng TNF-α hiện
chƣa đƣợc báo cáo trong nghiên cứu này. Nhƣ vậy, việc sàng lọc đầy đủ, theo dõi
cẩn thận và phối hợp chặt chẽ giữa chuyên khoa mắt và chuyên khoa miễn dịch là
yếu tố then chốt giúp mang lại thành công của quá trình điều trị.
4.2.3. Một số yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị
Nghiên cứu cho thấy thị lực của bệnh nhân cải thiện dần theo thời gian. Đồng
thời, không có mối liên quan giữa tuổi (Biêu đồ 3.10), giới tính (Biểu đồ 3.11), thời
gian mắc bệnh (Biểu đồ 3.12), hay vị trí viêm (Biểu đồ 3.13), với sự thay đổi thị lực
theo thời gian theo dõi. Kết quả công bố bởi Sheppard và cộng sự sau phân tích post-
hoc của thử nghiệm lâm sàng VISUAL I và II gợi ý rằng thuốc ADA giúp cải thiện chức năng thị lực một cách có ý nghĩa trên tất cả các bệnh nhân VMBĐ KNT.232 Tác
giả Eureling và cộng sự cũng quan sát thấy bệnh nhân có thị lực thấp ở thời điểm sàng lọc thì thị lực ổn định hoặc cải thiện trong quá trình điều trị ADA.124 Ở nhóm có thị lực
tốt khi bắt đầu điều trị, thì thị lực không bị kém đi trong quá trình theo dõi. Tác giả
Eureling khẳng định ADA không nên chỉ giới hạn điều trị trên bệnh nhân có thị lực tốt ban đầu mà cả những trƣờng hợp có suy giảm thị lực nặng.124
Trong nghiên cứu này, kết quả phân tích ANOVA hai chiều cho thấy sự biến
đổi của độ dày hoàng điểm theo thời gian, không có sự khác biệt giữa dạng viêm
(Biểu đồ 3.14) các nhóm tuổi khác nhau (Biểu đồ 3.15) cũng nhƣ giữa những bệnh
nhân có thời gian mắc bệnh khác nhau (Biểu đồ 3.17). Tuy nhiên, biến đổi độ dày
hoàng điểm theo thời gian có sự khác biệt theo giới tính (Biểu đồ 3.16), dạng
VMBĐ (Biểu đồ 3.19) và vị trí VMBĐ (Biểu đồ 3.18). Cụ thể, tại thời điểm sàng
lọc, độ dày hoàng điểm trung bình ở nữ (487,4 ±44,86µm) cao hơn rõ rệt so với
nam giới (305,5±13,7µm). Theo thời gian, độ dày hoàng điểm của cả hai nhóm có
xu hƣớng giảm dần, với mức giảm ở nữ dƣờng nhƣ diễn ra nhanh hơn. Vì vậy, đến
tháng thứ 6, độ dày hoàng điểm của nữ (275,0 µm, SE = 8,24) gần nhƣ tƣơng đƣơng
122
với nam (276,1 µm, SE = 603), và ở các mốc sau đó, độ dày của hai giới gần nhƣ
tƣơng đƣơng. Hiệu quả điều trị nhanh chóng lên độ dày hoàng điểm ở nữ có thể
đƣợc giải thích dựa trên một số yếu tố. Ở nữ giới, kích thƣớc cơ quan nội tạng thƣờng nhỏ hơn và chỉ số mỡ cơ thể cao hơn so với nam giới.233 Trên nữ giới trƣớc
tuổi mãn kinh, chu kỳ kinh nguyệt tạo nên những dao động về tỷ lệ nƣớc trong các
mô cơ thể. Sự khác biệt sinh lý này dẫn đến có sự phân bố thể tích thuốc khác nhau
giữa nam và nữ, và có thể khiến cơ thể nữ giới đáp ứng thuốc nhanh hơn. Thứ hai
phải kể đến họ enzyme CYP3A4 và vai trò của chúng lên quá trình chuyển hóa của
nhiều nhóm thuốc. Enzym này hoạt động mạnh hơn ở nữ giới so với nam giới và
chịu ảnh hƣởng của TNFα. Vì vậy, sử dụng thuốc kháng TNFα có thể ảnh hƣởng
lên enzyme này, từ đó lại ảnh hƣởng đến hiệu quả thuốc kháng TNFα trên hai giới
là khác nhau. Thêm vào đó, độ thanh thải thuốc ADA có thể khác nhau giữa nam và
nữ. Nam giới thƣờng có trọng lƣợng cao hơn nữ giới, do đó nam giới có thể có độ thanh thải thuốc nhanh hơn.234 Thật vậy, một mô hình toán học dựa trên các dữ liệu
từ bệnh nhân điều trị IFX cho thấy nữ giới có độ thanh thải thuốc thấp hơn 50% so với nam giới.235 Ngƣời ta thấy rằng nam giới điều trị IFX có nồng độ kháng thể kháng thuốc cao hơn nữ giới.234 Các kháng thể kháng thuốc làm tăng độ thanh thải
thuốc kháng TNFα. Các lý do trên có thể giải thích lý do với cùng liều ADA, nữ
giới có thể có đáp ứng nhanh và mạnh hơn so với nam giới.
Tại thời điểm sàng lọc, các bệnh nhân có VMBĐ một phần (bao gồm VMBĐ
trƣớc và trung gian, VMBĐ trung gian và VMBĐ sau) có độ dày hoàng điểm trung
bình cao hơn so với các bệnh nhân có VMBĐ toàn bộ. Kết quả phân tích ANOVA
hai chiều với p-value nhỏ hơn 0,001 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê
giữa vị trí VMBĐ với biến đổi của độ dày hoàng điểm theo thời gian (Biểu đồ
3.18). Trong quá trình theo dõi, các bệnh nhân có VMBĐ một phần có tốc độ cải
thiện độ dày hoàng điểm nhanh trong tháng đầu. Từ tháng thứ 2 trở đi, độ dày
hoàng điểm có xu hƣớng giảm ổn định, với giá trị trung bình duy trì khoảng 273 µm
(SE từ 6,14 đến 7,52) ở cả hai nhóm đến tận tháng 12. Kết quả phân tích sống còn
bằng mô hình Kaplan-Meier cũng cho thấy sự khác biệt về khả năng giãn liều giữa
các nhóm có vị trí viêm khác nhau (Biểu đồ 3.28). Với nhóm VMBĐ một phần, thời
gian đạt giãn liều trung vị là 36 tháng (dao động từ 32-40 tuần; CI:95%). Nhóm
VMBĐ toàn bộ có thời gian giãn liều trung vị là 40 tuần (dao động từ 40-44; CI:
123
95%). Yếu tố TNF-α là một cytokine tiền viêm có vai trò chìa khóa trong sinh bệnh
học của nhiều hình thái VMBĐ KNT khác nhau. Yếu tố này đƣợc tiết ra bởi các bạch
cầu trung tính, đại thực bào, các tế bào T, các tế bào diệt tự nhiên, các tế bào mast, và các tế bào nội mô.46 Nhiều thử nghiệm lâm sàng báo cáo yếu tố TNF-α tăng cao trong thủy dịch của các bệnh nhân VMBĐ.236 Yếu tố này gắn với các thụ thể hòa tan và các
thụ thể đặc hiệu của màng tế bào, biểu hiện trên nhiều tế bào nội nhãn bao gồm cả tế
bào biểu mô sắc tố của mống mắt, thể mi và võng mạc. Ngoài việc tác động trực tiếp
lên liên kết của các tế bào nội mô, thì TNF-α còn thúc đẩy quá trình tiết VEGF gây phù hoàng điểm trên mắt có VMBĐ.237 Điều trị phối hợp thuốc ƢCMD và thuốc kháng
TNF-α đã đồng thời tác động lên cả hai cơ chế bao gồm giảm tiết TNF-α (do làm giảm
phân chia của các tế bào viêm tiết ra TNFα) và ngăn cản yếu tố này gắn lên thụ thể của
nó. Với trƣờng hợp VMBĐ một phần, hàm lƣợng thuốc nội nhãn cao gắn với tổ chức
chọn lọc có thể mang lại hiệu quả nhanh và mạnh hơn trong trƣờng hợp VMBĐ toàn
bộ. Vì vậy, mặc dù tại thời điểm sàng lọc, nhóm VMBĐ một phần có độ dày hoàng
điểm trung bình cao hơn so với nhóm VMBĐ toàn bộ, hai nhóm này có độ dày hoàng
điểm xấp xỉ nhau ở thời điểm cuối của nghiên cứu.
Nghiên cứu không tìm thấy mối tƣơng quan giữa các yếu tố thị lực (Biểu đồ
3.20), mức độ dày hoàng điểm (Biểu đồ 3.21) và giới tính trƣớc điều trị và tổng số
mũi tiêm (Biểu đồ 3.23). Tuy nhiên, có mối tƣơng quan thuận giữa tuổi bệnh nhân
và số mũi tiêm (Biểu đồ 3.22). Bệnh nhân càng lớn tuổi thì số mũi tiêm trong thời
gian nghiên cứu càng cao. Điều này cũng phù hợp với kết quả của biểu đồ Kaplan-
Meier, khi thấy có sự khác biệt trong xu hƣớng giãn liều ADA ở các độ tuổi khác
nhau (Biểu đồ 3.24). Đối với nhóm nhỏ hơn hoặc bằng 16 tuổi, thời gian trung vị để
giãn liều là 32 tuần, sớm hơn so với nhóm tuổi từ 17 – 40 có thời gian trung vị là 40
tuần. Nhóm bệnh nhân trên 41 tuổi không có trƣờng hợp nào duy trì đƣợc giãn liều
từ 3 tuần/lần trở lên. Nhiều nghiên cứu về hiệu quả của thuốc kháng TNF-α lên
bệnh nhân viêm khớp dạng thấp cũng chỉ ra hiệu quả của thuốc này kém hơn trên bệnh nhân lớn tuổi.238 Sự khác biệt về hiệu quả điều trị có thể liên quan đến khác
biệt về hệ thống miễn dịch ở các lứa tuổi khác nhau.
Hiện nay, thuốc Adalimumab đƣợc đóng gói dƣới dạng bút tiêm có liều cố
định là 40mg/bút. Bút tiêm dùng cho mọi lứa tuổi. Trẻ em thƣờng có chỉ số BMI
thấp hơn so với ngƣời lớn vì vậy cùng một mũi tiêm có thể mang lại hiệu quả mạnh
124
và lâu dài hơn so với ở ngƣời lớn. Việc tối ƣu hóa khoảng cách giữa các lần tiêm sẽ
giúp duy trì hiệu quả và giảm tác dụng không mong muốn lên đối tƣợng trẻ em.
Trong nghiên cứu the Humira on Ocular Inflammations Taper (HOT) study, tác giả
Pichi Francesco có báo cáo rằng, sau khi ngừng điều trị ADA, bệnh nhân trẻ em và ngƣời dƣới 40 tuổi có nguy cơ tái phát cao hơn so với ngƣời lớn tuổi.239 Tác giả chỉ
ra rằng cứ tăng 10 năm tuổi thì nguy cơ tái phát giảm đi 12%. Nhƣ vậy, có thể trẻ
em và ngƣời trẻ tuổi đáp ứng nhanh và đạt đƣợc giãn liều ADA so với ngƣời lớn
tuổi, tuy nhiên cần thận trọng khi cân nhắc dừng ADA ở các nhóm tuổi này. Việc
phối hợp điều trị ADA và thuốc ƢCMD có thể hỗ trợ giãn cách tiêm thuốc nhanh
hơn đồng thời giảm nguy cơ tái phát trên đối tƣợng bệnh nhân trẻ.
Phân tích ANOVA hai chiều cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê
giữa dạng viêm với sự biến đổi độ dày hoàng điểm theo thời gian (Biểu đồ 3.19).
Cụ thể là nhóm VMBĐ dạng không hạt ban đầu có độ dày hoàng điểm trung bình
cao hơn hẳn nhóm VMBĐ dạng hạt. Tuy nhiên, từ tháng thứ 6, hai nhóm có độ dày
hoàng điểm tƣơng đƣơng nhau. Điều đó cho thấy VMBĐ dạng không hạt đáp ứng
nhanh với điều trị phối hợp. Trong nghiên cứu này, các nguyên nhân gây VMBĐ
dạng không hạt thƣờng gặp là bệnh Behcet, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp
thiếu niên vô căn. Các nguyên nhân gây VMBĐ dạng hạt chủ yếu là hội chứng
VKH và bệnh sarcoid. Về mặt mô học, tổn thƣơng dạng u hạt chủ yếu bao gồm các
đại thực bào, các tế bào biểu mô, các tế bào khổng lồ đa nhân, và các tế bào
lympho. Nghiên cứu so sánh đặc điểm của bệnh Crohn cho thấy bệnh nhân có tổn
thƣơng dạng u hạt thƣờng có biểu hiện tổn thƣơng nặng hơn và cần điều trị tích cực hơn so với bệnh nhân không có tổn thƣơng dạng u hạt.240 Mắt có VMBĐ dạng hạt
thƣờng có nguy cơ gặp các biến chứng sau phẫu thuật cắt bè giác củng mạc cao hơn so với nhóm VMBĐ không hạt.241 Biểu đồ Kaplan-Meier cũng cho thấy có sự khác
biệt về khả năng giãn liều giữa nhóm VMBĐ dạng hạt và VMBĐ dạng không hạt
(Biểu đồ 3.26). Với nhóm dạng không hạt, thời gian giãn liều trung vị đƣợc xác
định là 36 tuần (dao động từ 32-40 tuần). Nhóm dạng hạt có thời gian giãn liều
trung vị muộn hơn là 44 tuần (dao động từ 40-48 tuần).
125
KẾT LUẬN
1. Đặc điểm của bệnh nhân viêm màng bồ đào đến khám tại một số bệnh viện ở
Hà nội.
- Tuổi trung bình mắc bệnh là 39.9 ± 16.8; tỷ lệ nam: nữ là 1:1,2 với 46.3%
trƣờng hợp bệnh gặp ở 2 mắt và tỷ lệ thị lực bằng hoặc kém hơn 0.4 logMAR chiếm
tới 52.2%.
- VMBĐ không nhiễm trùng (298 bệnh nhân - 72.7%) chiếm ƣu thế với
VMBĐ vô căn (131 bệnh nhân - 32%).
- VMBĐ trƣớc (40%) thƣờng gặp nhất, tiếp đến là VMBĐ toàn bộ (30%),
VMBĐ sau (26.1%), và VMBĐ trung gian (3.9%).
- Trong khi hội chứng Posner−Schlossman (18.5%) và VMBĐ do CMV (11%) là
các nguyên nhân thƣờng gặp nhất gây VMBĐ trƣớc, hội chứng Vogt−Koyanagi−Harada
là nguyên nhân phổ biến gây VMBĐ sau (17.8%) và VMBĐ toàn bộ (24.4%).
- Nghiên cứu ghi nhận 6 trƣờng hợp VMBĐ do Haemophilus influenza
(1.5%), không kèm theo triệu chứng toàn thân.
- VMBĐ do virus Dengue (1.2%) là hình thái VMBĐ riêng của đất nƣớc có
khí hâu nhiệt đới gió mùa nhƣ Việt nam.
- Các biến chứng thƣờng gặp nhất của VMBĐ ở Việt Nam là tăng nhãn áp
(17.3%), đục thủy tinh thể (11.2%), phù hoàng điểm (11%), bong võng mạc (8%),
và glôcôm (7.6%).
2. Hiệu quả của phối hợp thuốc Adalimumab và thuốc ức chế miễn dịch trong
điều trị viêm màng bồ đào không nhiễm trùng.
Trong tổng số 49 mắt tham gia nghiên cứu, ngoài 4 mắt (8.2%) không đáp
ứng điều trị và đƣợc rút khỏi nghiên cứu (tháng thứ 3, 5), còn lại 45/49 mắt (91.8%)
mắt đều đạt đáp ứng điều trị. Trong số 45 mắt này, nghiên cứu cho thấy:
- Điều trị phối hợp ADA và thuốc ƢCMD mang lại hiệu quả kiểm soát VMBĐ
tăng dần theo thời gian với tỷ lệ đáp ứng điều trị cao nhất ở tháng thứ 12 (95.6%
mắt có đáp ứng hoàn toàn). Cùng với đó là hiệu quả cải thiện lên thị lực, độ dày
hoàng điểm và khả năng giãn giảm liều corticosteroid.
126
- Từ tháng thứ 2 của điều trị phối hợp ADA và thuốc ƢCMD, bắt đầu có bệnh
nhân đạt đƣợc giãn liều ADA từ 3 tuần/lần. Đến thời điểm các tháng cuối của quá
trình theo dõi, có 12/23 bệnh nhân (52.2%) đạt đƣợc giãn liều tiêm ADA ít nhất 3
tuần/lần (7/23 giãn liều 4 tuần/lần; 3/23 giãn liều 5 tuần/lần)
- Nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê về thị lực (p=0.043)
và khả năng giảm liều corticosteroid (p<0.001) trên các trƣờng hợp đủ điều kiện
giãn liều Adalimumab (35 mắt/18 bệnh nhân) ở thời điểm kết thúc nghiên cứu.
- Yếu tố giới tính và thời gian theo dõi đều ảnh hƣởng có ý nghĩa thống kê đến
độ dày của hoàng điểm ((p<0.001). Nữ giới có độ dày hoàng điểm cải thiện nhanh
theo thời gian theo dõi.
- Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa vị trí VMBĐ, thời gian theo dõi và
độ dày hoàng điểm (p<0.001). Nhóm VMBĐ một phần có độ dày hoàng điểm cải thiện
nhanh theo thời gian. Đồng thời, nhóm VMBĐ một phần có thời gian giãn liều trung vị
(32 tuần; 32-40 tuần) ngắn hơn nhóm VMBĐ toàn bộ (40 tuần; 40-44 tuần).
- Tuổi bệnh nhân có mối tƣơng quan tuyến tính thuận với số mũi tiêm ADA.
Đồng thời, có sự khác biệt về xu hƣớng giãn liều ADA ở các độ tuổi khác nhau.
Tuổi càng cao thì khả năng giãn liều càng thấp.
- Nghiên cứu ghi nhận 76.1 biến cố/100 bệnh nhân-năm. Các biến cố bất lợi
thƣờng gặp trong nghiên cứu là tình trạng mệt mỏi, nhiễm trùng, rối loạn tiêu hóa.
Nghiên cứu không ghi nhận các biến cố nghiêm trọng, không phục hồi hoặc nguy
hiểm đến tính mạng.
127
ĐÓNG GÓP MỚI CỦA NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu bổ sung và cung cấp các dữ liệu cập nhật mới nhất về tình hình
dịch tễ học bệnh viêm màng bồ đào tại miền Bắc Việt Nam. Bộ dữ liệu có
thể đƣợc sử dụng làm cơ sở để xây dựng các hƣớng dẫn chẩn đoán và điều trị
bệnh viêm màng bồ đào tại Việt Nam.
- Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả và độ an toàn của phƣơng pháp phối
hợp điều trị Adalimumab và thuốc ức chế miễn dịch trong điều trị viêm
màng bồ đào không nhiễm trùng. Nghiên cứu cũng cho thấy nếu đƣợc áp
dụng vào điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, việc phối hợp điều trị này có thể
giúp tăng hiệu quả kiểm soát VMBĐ đồng thời giúp giãn cách thời gian tiêm
Adalimumab, từ đó giảm gánh nặng điều trị cho bệnh nhân.
128
KHUYẾN NGHỊ
Dựa vào kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu xin đƣa ra một số kiến nghị
phục vụ cho chẩn đoán và điều trị bệnh VMBĐ tại Việt Nam nhƣ sau:
- Xây dựng Hƣớng dẫn chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh Viêm màng bồ đào
dựa trên việc áp dụng và hoàn thiện quy trình chẩn đoán nguyên nhân gây
Viêm màng bồ đào đƣợc sử dụng trong mục Phƣơng pháp nghiên cứu.
- Đƣa điều trị phối hợp Adalimumab và thuốc ức chế miễn dịch vào quy trình
điều trị các trƣờng hợp viêm màng bồ đào không nhiễm trùng kháng trị.
- Cần tiến hành thêm các nghiên cứu đa trung tâm, có nhóm chứng, trong thời
gian nghiên cứu đủ dài, để đánh giá đƣợc hiệu quả và độ an toàn của việc
phối hợp ADA và thuốc ƢCMD lên các nguyên nhân cụ thể gây VMBĐ
KNT thƣờng gặp ở Việt Nam (nhƣ hội chứng Vogt−Koyanagi−Harada, bệnh
Behcet…). Từ đó làm cơ sở để chúng ta có thể xây dựng đƣợc các hƣớng dẫn
điều trị cụ thể với từng nhóm bệnh VMBĐ KNT nặng, thƣờng gặp ở Việt
Nam.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Kết quả bƣớc đầu điều trị viêm màng bồ đào không nhiễm trùng bằng phối
hợp Adalimumab và thuốc ức chế miễn dịch tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên
cứu Y học, Tập 168 số 7 (2023). Nhóm tác giả: Đỗ Dung Hòa, Lê Thị Hồng
Nhung, Bùi Thị Linh, Đào Thị Kim Yến, Phạm Trọng Văn, Mai Quốc Tùng.
2. Pattern of Uveitis in Northern Vietnam, Tạp chí Ocular Immunology and
Inflammation, 2024. Nhóm tác giả: Đỗ Dung Hòa, Phạm Trọng Va Lê Thị
Hồng Nhung, Lê Việt Sơn, Đào Thị Kim Yến, Bahram Bodaghi, Trần Hồng
Hạnh, Mai Quốc Tùng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Suttorp-Schulten MS, Rothova A. The possible impact of uveitis in blindness:
a literature survey. Br J Ophthalmol. 1996;80(9):844-848.
2. Nguyen M, Siak J, Chee SP, Diem VQH. The spectrum of uveitis in Southern
Vietnam. Ocul Immunol Inflamm. 2017;25(sup1):S100-S106.
3. Tsirouki T, Dastiridou A, Symeonidis C, et al. A focus on the epidemiology of
uveitis. Ocul Immunol Inflamm. 2018;26(1):2-16.
4. Jabs DA, Rosenbaum JT, Foster CS, et al. Guidelines for the use of
immunosuppressive drugs in patients with ocular inflammatory disorders:
recommendations of an expert panel. Am J Ophthalmol. 2000;130(4):492-513.
5. Burek-Michalska A, Turno-Kręcicka A. Adalimumab in the treatment of non-
infectious uveitis. Adv Clin Exp Med Off Organ Wroclaw Med Univ.
2020;29(10):1231-1236.
6. Díaz-Llopis M, Salom D, Garcia-de-Vicuña C, et al. Treatment of refractory
uveitis with adalimumab: a prospective multicenter study of 131 patients.
Ophthalmology. 2012;119(8):1575-1581.
7. Mercier AE, Ribeiro E, Korobelnik JF, Delyfer MN, Rougier MB. Efficacy of
Anti-Tnf-Α Therapy for the Treatment of Non-Infectious Uveitis: A
Retrospective Study of 21 Patients. Ocul Immunol Inflamm. 2018;26(3):477-
484.
8. Jaffe GJ, Dick AD, Brézin AP, et al. Adalimumab in Patients with Active
Noninfectious Uveitis. https://doi.org/10.1056/NEJMoa1509852.
9. Nguyen QD, Merrill PT, Jaffe GJ, et al. Adalimumab for prevention of uveitic
flare in patients with inactive non-infectious uveitis controlled by
corticosteroids (VISUAL II): a multicentre, double-masked, randomised,
placebo-controlled phase 3 trial. Lancet Lond Engl. 2016; 388(10050):1183-
1192.
10. Cordero-Coma M, Calleja-Antolín S, Garzo-García I, et al. Adalimumab for
Treatment of Noninfectious Uveitis: Immunogenicity and Clinical Relevance of
Measuring Serum Drug Levels and Antidrug Antibodies. Ophthalmology.
2016;123(12):2618-2625.
11. Leinonen ST, Aalto K, Kotaniemi KM, Kivelä TT. Anti-adalimumab
antibodies in juvenile idiopathic arthritis-related uveitis. Clin Exp Rheumatol.
2017;35(6):1043-1046.
12. Immunogenicity of Adalimumab in Patients with Non-Infectious- Uveitis:
Systematic Review and Meta-Analysis - PubMed. Accessed November 22,
2023.
13. Krieckaert CL, Nurmohamed MT, Wolbink GJ. Methotrexate reduces
immunogenicity in adalimumab treated rheumatoid arthritis patients in a dose
dependent manner. Ann Rheum Dis. 2012;71(11):1914-1915.
14. Vermeire S, Noman M, Van Assche G, Baert F, D’Haens G, Rutgeerts P.
Effectiveness of concomitant immunosuppressive therapy in suppressing the
formation of antibodies to infliximab in Crohn’s disease. Gut.
2007;56(9):1226-1231.
15. Sejournet L, Kerever S, Mathis T, Kodjikian L, Jamilloux Y, Seve P.
Therapeutic drug monitoring guides the management of patients with chronic
non-infectious uveitis treated with adalimumab: a retrospective study. Br J
Ophthalmol. Published online April 19, 2021:bjophthalmol-2021-319072.
16. Ducourau E, Rispens T, Samain M, et al. Methotrexate effect on
immunogenicity and long-term maintenance of adalimumab in axial
spondyloarthritis: a multicentric randomised trial. RMD Open.
2020;6(1):e001047.
17. Quartier P, Saadoun D, Belot A, et al. French recommendations for the
management of non-infectious chronic uveitis. Rev Med Interne.
2023;44(5):227-252.
18. Win MZA, Win T, Myint S, Shwe T, Sandar H. Epidemiology of Uveitis in a
Tertiary Eye Center in Myanmar. Ocul Immunol Inflamm. 2017;25(sup1):S69-
S74.
19. Manandhar A. Patterns of Uveitis and Scleritis in Nepal: A Tertiary Referral
Center Study. Ocul Immunol Inflamm. 2017;25(sup1):S54-S62.
20. Wong A, McKelvie J, Slight C, Sims J. Land of the Long White Cloud: The
Spectrum of Uveitis at a Tertiary Referral Center in New Zealand. Ocul
Immunol Inflamm. 2017;25(sup1):S115-S121.
21. Abaño JM, Galvante PR, Siopongco P, Dans K, Lopez J. Review of
epidemiology of uveitis in Asia: Pattern of uveitis in a Tertiary Hospital in the
Philippines. Ocul Immunol Inflamm. 2017;25(sup1):S75-S80.
22. Rahman Z, Ahsan Z, Rahman NA, Dutta Majumder P. Pattern of Uveitis in a
Referral Hospital in Bangladesh. Ocul Immunol Inflamm. 2018;26(6):893-896.
23. Lee JY, Kim DY, Woo SJ, et al. Clinical Patterns of Uveitis in Tertiary
Ophthalmology Centers in Seoul, South Korea. Ocul Immunol Inflamm.
2017;25(sup1):S24-S30.
24. Siak J, Jansen A, Waduthantri S, Teoh CS, Jap A, Chee SP. The Pattern of
Uveitis among Chinese, Malays, and Indians in Singapore. Ocul Immunol
Inflamm. 2017;25(sup1):S81-S93.
25. Wakefield D, Chang JH. Epidemiology of uveitis. Int Ophthalmol Clin.
2005;45(2):1-13.
26. Zagora SL, Symes R, Yeung A, Yates W, Wakefield D, McCluskey PJ.
Etiology and Clinical Features of Ocular Inflammatory Diseases in a Tertiary
Referral Centre in Sydney, Australia. Ocul Immunol Inflamm. 2017;25
(sup1):S107-S114.
27. Takahashi R, Yoshida A, Inoda S, Okubo A, Kawashima H. Uveitis incidence
in Jichi Medical University Hospital, Japan, during 2011–2015. Clin
Ophthalmol Auckl NZ. 2017;11:1151-1156.
28. Nakahara H, Kaburaki T, Tanaka R, et al. Frequency of uveitis in the central
Tokyo area (2010-2012). Ocul Immunol Inflamm. 2017;25(sup1):S8-S14.
29. Silpa-Archa S, Noonpradej S, Amphornphruet A. Pattern of Uveitis in a
Referral Ophthalmology Center in the Central District of Thailand. Ocul
Immunol Inflamm. 2015;23(4):320-328.
30. Gao F, Zhao C, Cheng G, et al. Clinical patterns of uveitis in a tertiary center
in North China. Ocul Immunol Inflamm. 2017;25(sup1):S1-S7.
31. Chen SC, Chuang CT, Chu MY, Sheu SJ. Patterns and etiologies of uveitis at a
Tertiary Referral Center in Taiwan. Ocul Immunol Inflamm.
2017;25(sup1):S31-S38.
32. H. Nida S, Thomas A. A, Bryn M. B, Sam S. D. Basic and Clinical Science
Course. Vol Uveitis and Ocular inflammation. 2022nd-2023rd ed. American
Academy of Ophthalmology
33. Scott M W, H. Nida S. Whitcup and Nussenblatt’s Uveitis Fundamentals and
Clinical Practice. Fifth edition. Elsevier; 2022.
34. Hogan MJ, Kimura SJ, Thygeson P. Signs and symptoms of uveitis. I. Anterior
uveitis. Am J Ophthalmol. 1959;47(5 Pt 2):155-170.
35. Jabs DA, Nussenblatt RB, Rosenbaum JT, Standardization of Uveitis
Nomenclature (SUN) Working Group. Standardization of uveitis nomenclature
for reporting clinical data. Results of the First International Workshop. Am J
Ophthalmol. 2005;140(3):509-516.
36. Nussenblatt RB, Palestine AG, Chan CC, Roberge F. Standardization of vitreal
inflammatory activity in intermediate and posterior uveitis. Ophthalmology.
1985;92(4):467-471.
37. Deschenes J, Murray PI, Rao NA, Nussenblatt RB, International Uveitis Study
Group. International Uveitis Study Group (IUSG): clinical classification of
uveitis. Ocul Immunol Inflamm. 2008;16:1-2.
38. Mochizuki M, Sugita S, Kamoi K. Immunological homeostasis of the eye.
Prog Retin Eye Res. 2013;33:10-27.
39. Sakaguchi S, Mikami N, Wing JB, Tanaka A, Ichiyama K, Ohkura N.
Regulatory T Cells and Human Disease. Annu Rev Immunol. 2020; 38(1):541-
566.
40. Kawazoe Y, Sugita S, Keino H, et al. Retinoic acid from retinal pigment
epithelium induces T regulatory cells. Exp Eye Res. 2012;94(1):32-40.
41. Zamiri P, Masli S, Streilein JW, Taylor AW. Pigment Epithelial Growth Factor
Suppresses Inflammation by Modulating Macrophage Activation. Invest
Ophthalmol Vis Sci. 2006;47(9):3912-3918.
42. Su Y, Tao T, Liu X, Su W. JAK-STAT signaling pathway in non-infectious
uveitis. Biochem Pharmacol. 2022;204:115236.
43. Agrawal R, Iyer J, Connolly J, Iwata D, Teoh S. Cytokines and Biologics in
non-infectious autoimmune uveitis: Bench to Bedside. Indian J Ophthalmol.
2014;62(1):74.
44. Bonacini M, Soriano A, Cimino L, et al. Cytokine Profiling in Aqueous Humor
Samples From Patients With Non-Infectious Uveitis Associated With Systemic
Inflammatory Diseases. Front Immunol. 2020;11. Accessed March 8, 2022.
45. Dick AD, Forrester JV, Liversidge J, Cope AP. The role of tumour necrosis
factor (TNF-alpha) in experimental autoimmune uveoretinitis (EAU). Prog
Retin Eye Res. 2004;23(6):617-637.
46. Jang D in, Lee AH, Shin HY, et al. The Role of Tumor Necrosis Factor Alpha
(TNF-α) in Autoimmune Disease and Current TNF-α Inhibitors in
Therapeutics. Int J Mol Sci. 2021;22(5):2719.
47. Smith CA, Farrah T, Goodwin RG. The TNF receptor superfamily of cellular
and viral proteins: activation, costimulation, and death. Cell. 1994;76(6):959-
962.
48. The transmembrane form of tumor necrosis factor is the prime activating
ligand of the 80 kDa tumor necrosis factor receptor - ScienceDirect. Accessed
December 13, 2021.
49. Rathinam SR, Babu M. Algorithmic approach in the diagnosis of uveitis.
Indian J Ophthalmol. 2013;61(6):255-262.
50. Sève P, Cacoub P, Bodaghi B, et al. Uveitis: Diagnostic work-up. A literature
review and recommendations from an expert committee. Autoimmun Rev.
2017;16(12):1254-1264.
51. Classification Criteria for Sarcoidosis-Associated Uveitis. Am J Ophthalmol.
2021;228:220-230.
52. Classification criteria for Vogt-Koyanagi-Harada disease. Am J Ophthalmol.
2021;228:205-211.
53. Jabs D, Dick A, Dunn J, Standardization of Uveitis Nomenclature (SUN)
Working Group. Classification criteria for Behçet disease uveitis. Am J
Ophthalmol. 2021;228:80-88.
54. Juvenile idiopathic arthritis-associated uveitis - PubMed. Accessed November
17, 2023.
55. Angeles-Han ST, Ringold S, Beukelman T, et al. 2019 American College of
Rheumatology/Arthritis Foundation Guideline for the Screening, Monitoring,
and Treatment of Juvenile Idiopathic Arthritis-Associated Uveitis. Arthritis
Care Res. 2019;71(6):703-716.
56. Zierhut M, Heiligenhaus A, deBoer J, Cunningham ET, Tugal-Tutkun I.
Controversies in Juvenile Idiopathic Arthritis-associated Uveitis. Ocul
Immunol Inflamm. 2013;21(3):167-179.
57. Wu X, Tao M, Zhu L, Zhang T, Zhang M. Pathogenesis and current therapies
for non-infectious uveitis. Clin Exp Med. 2023;23(4):1089-1106.
58. Diwo E, Sève P, Trad S, et al. [Therapeutic strategy for the treatment of non-
infectious uveitis proposed by an expert panel]. Rev Med Interne.
2018;39(9):687-698.
59. Rosenbaum JT, Bodaghi B, Couto C, et al. New observations and emerging
ideas in diagnosis and management of non-infectious uveitis: A review. Semin
Arthritis Rheum. 2019;49(3):438-445.
60. Diagnosis and treatment of uveitis; not restricted to the ophthalmologist -
PMC. Accessed November 1, 2023.
61. LeHoang P. The gold standard of noninfectious uveitis: corticosteroids. Dev
Ophthalmol. 2012;51:7-28.
62. Sherif Z, Pleyer U. Corticosteroids in Ophthalmology: Past – Present – Future.
Ophthalmologica. Published online 2002.
63. Babu BM, Rathinam SR. Intermediate uveitis. Indian J Ophthalmol.
2010;58(1):21-27.
64. Kilmartin D, Forrester J, Dick A. Rescue therapy with mycophenolate mofetil
in refractory uveitis. Lancet. 1998;352:35-36.
65. Ad D, Jt R, Ha AD, et al. Guidance on Noncorticosteroid Systemic
Immunomodulatory Therapy in Noninfectious Uveitis: Fundamentals Of Care
for UveitiS (FOCUS) Initiative. Ophthalmology. 2018;125(5).
66. Esterberg E, Acharya NR. Corticosteroid-sparing therapy: practice patterns
among uveitis specialists. J Ophthalmic Inflamm Infect. 2012;2(1):21-28.
67. Murphy CC, Greiner K, Plskova J, et al. Cyclosporine vs tacrolimus therapy
for posterior and intermediate uveitis. Arch Ophthalmol Chic Ill 1960.
2005;123(5):634-641.
68. Daniel E, Thorne JE, Newcomb CW, et al. Mycophenolate mofetil for ocular
inflammation. Am J Ophthalmol. 2010;149(3):423-432.e1-2.
69. Gangaputra S, Newcomb CW, Liesegang TL, et al. Methotrexate for ocular
inflammatory diseases. Ophthalmology. 2009;116(11):2188-2198.e1.
70. Immunosuppressive drugs in the management of progressive, corticosteroid-
resistant uveitis associated with juvenile rheumatoid arthritis. Accessed
December 13, 2021.
71. Davatchi F, Shams H, Shahram F, et al. Methotrexate in ocular manifestations
of Behcet’s disease: a longitudinal study up to 15 years. Int J Rheum Dis.
2013;16(5):568-577.
72. Kremer JM, Alarcón GS, Lightfoot RW, et al. Methotrexate for rheumatoid
arthritis. Suggested guidelines for monitoring liver toxicity. American College
of Rheumatology. Arthritis Rheum. 1994;37(3):316-328.
73. Zhao C, Zhang M. Immunosuppressive Treatment of Non-infectious Uveitis:
History and Current Choices. Chin Med Sci J Chung-Kuo Hsueh Ko Hsueh Tsa
Chih. 2017;32(1):48-61.
74. Durrani K, Zakka FR, Ahmed M, Memon M, Siddique SS, Foster CS.
Systemic Therapy With Conventional and Novel Immunomodulatory Agents
for Ocular Inflammatory Disease. Surv Ophthalmol. 2011;56(6):474-510.
75. Kruh J, Foster CS. Corticosteroid-sparing agents: conventional systemic
immunosuppressants. Dev Ophthalmol. 2012;51:29-46.
76. Pasadhika S, Kempen JH, Newcomb CW, et al. Azathioprine for ocular
inflammatory diseases. Am J Ophthalmol. 2009;148(4):500-509.e2.
77. Singh G, Fries JF, Spitz P, Williams CA. Toxic effects of azathioprine in
rheumatoid arthritis. A national post-marketing perspective. Arthritis Rheum.
1989;32(7):837-843.
78. Yates CR, Krynetski EY, Loennechen T, et al. Molecular diagnosis of
thiopurine S-methyltransferase deficiency: genetic basis for azathioprine and
mercaptopurine intolerance. Ann Intern Med. 1997;126(8):608-614.
79. Gearry RB, Day AS, Barclay ML, Leong RWL, Sparrow MP. Azathioprine
and allopurinol: A two-edged interaction. J Gastroenterol Hepatol.
2010;25(4):653-655.
80. Goldstein LH, Dolinsky G, Greenberg R, et al. Pregnancy outcome of women
exposed to azathioprine during pregnancy. Birt Defects Res A Clin Mol
Teratol. 2007;79:696-701.
81. Natekar A, Pupco A, Bozzo P, Koren G. Safety of azathioprine use during
pregnancy. Can Fam Physician. 2011;57(12):1401-1402.
82. Doycheva D, Deuter C, Stuebiger N, Biester S, Zierhut M. Mycophenolate
mofetil in the treatment of uveitis in children. Br J Ophthalmol.
2007;91(2):180-184.
83. Bhat P, Cervantes-Castañeda R, Doctor P, Anzaar F, Foster C. Mycophenolate
Mofetil Therapy for Sarcoidosis-Associated Uveitis. Ocul Immunol Inflamm.
2009;17:185-190.
84. Abu El-Asrar AM, Hemachandran S, Al-Mezaine HS, Kangave D, Al-
Muammar AM. The outcomes of mycophenolate mofetil therapy combined
with systemic corticosteroids in acute uveitis associated with Vogt-Koyanagi-
Harada disease. Acta Ophthalmol (Copenh). 2012;90(8):e603-608.
85. Galor A, Jabs DA, Leder HA, et al. Comparison of antimetabolite drugs as
corticosteroid-sparing therapy for noninfectious ocular inflammation.
Ophthalmology. 2008;115(10):1826-1832.
86. Couret C, Ducloyer JB, Touhami S, et al. [Treatment of noninfectious
intermediate uveitis, posterior uveitis, or panuveitis]. J Fr Ophtalmol.
2020;43(4):341-361.
87. Suhler EB, Adán A, Brézin AP, et al. Safety and Efficacy of Adalimumab in
Patients with Noninfectious Uveitis in an Ongoing Open-Label Study:
VISUAL III. Ophthalmology. 2018;125(7):1075-1087.
88. Atienza-Mateo B, Martín-Varillas JL, Calvo-Río V, et al. Comparative Study
of Infliximab Versus Adalimumab in Refractory Uveitis due to Behçet’s
Disease: National Multicenter Study of 177 Cases. Arthritis Rheumatol
Hoboken NJ. 2019;71(12):2081-2089.
89. Furst DE, Schiff MH, Fleischmann RM, et al. Adalimumab, a fully human anti
tumor necrosis factor-alpha monoclonal antibody, and concomitant standard
antirheumatic therapy for the treatment of rheumatoid arthritis: results of
STAR (Safety Trial of Adalimumab in Rheumatoid Arthritis). J Rheumatol.
2003;30(12):2563-2571.
90. Sharma SM, Fu DJ, Xue K. A Review of the Landscape of Targeted
Immunomodulatory Therapies for Non-Infectious Uveitis. Ophthalmol Ther.
2018;7(1):1-17.
91. Levy-Clarke G, Jabs DA, Read RW, Rosenbaum JT, Vitale A, Van Gelder RN.
Expert panel recommendations for the use of anti-tumor necrosis factor
biologic agents in patients with ocular inflammatory disorders. Ophthalmology.
2014;121(3):785-796.e3.
92. Kahn P, Weiss M, Imundo LF, Levy DM. Favorable Response to High-Dose
Infliximab for Refractory Childhood Uveitis. Ophthalmology.
2006;113(5):860-864.e2.
93. Tumour necrosis factor α inhibitor treatment for sarcoidosis refractory to
conventional treatments: a report of five patients | Annals of the Rheumatic
Diseases. Accessed November 1, 2023.
94. Rispo A, Scarpa R, Di Girolamo E, et al. Infliximab in the treatment of extra‐
intestinal manifestations of Crohn’s disease. Scand J Rheumatol. 2005;
34(5):387-391.
95. Artornsombudh P, Gevorgyan O, Payal A, Siddique SS, Foster CS. Infliximab
Treatment of Patients with Birdshot Retinochoroidopathy. Ophthalmology.
2013;120(3):588-592.
96. Faez S, Lobo AM, Sobrin L, Papaliodis GN. Treatment of seronegative
spondyloarthropathy-associated uveitis with golimumab: retrospective case
series. Clin Experiment Ophthalmol. 2014;42(4):392-395.
97. Cordero-Coma M, Salom D, Díaz-Llopis M, López-Prats MJ, Calleja S.
Golimumab for Uveitis. Ophthalmology. 2011;118(9):1892.e3-1892.e4.
98. Miserocchi E, Modorati G, Pontikaki I, Meroni PL, Gerloni V. Long-term
Treatment with Golimumab for Severe Uveitis. Ocul Immunol Inflamm.
2014;22(2):90-95.
99. Calvo-Río V, Blanco R, Santos-Gómez M, et al. Golimumab in refractory
uveitis related to spondyloarthritis. Multicenter study of 15 patients. Semin
Arthritis Rheum. 2016;46(1):95-101.
100. Fabiani C, Sota J, Rigante D, et al. Rapid and Sustained Efficacy of
Golimumab in the Treatment of Multirefractory Uveitis Associated with
Behçet’s Disease. Ocul Immunol Inflamm. 2019;27(1):58-63.
101. Leclercq M, Le Besnerais M, Langlois V, et al. Tocilizumab for the treatment
of birdshot uveitis that failed interferon alpha and anti-tumor necrosis factor-
alpha therapy: two cases report and literature review. Clin Rheumatol.
2018;37(3):849-853.
102. Secukinumab in the treatment of noninfectious uveitis: results of three
randomized, controlled clinical trials - PubMed. Accessed November 2, 2023.
103. Thomas AS, Rosenbaum JT. Poor Control of Sarcoidosis-Related Panuveitis
with an Antibody to IL-23. Ocul Immunol Inflamm. 2020;28(3):491-493.
104. Lopalco G, Fabiani C, Venerito V, Lapadula G, Iannone F, Cantarini L.
Ustekinumab efficacy and safety in mucocutaneous multi-refractory Behçet’s
disease. Clin Exp Rheumatol. 2017;35 Suppl 108(6):130-131.
105. Successful ustekinumab treatment of noninfectious uveitis and concomitant
severe psoriatic arthritis and plaque psoriasis - Mugheddu - 2017 -
Dermatologic Therapy - Wiley Online Library. Accessed November 2, 2023.
106. Zhu L, Chen B, Su W. A Review of the Various Roles and Participation Levels
of B-Cells in Non-Infectious Uveitis. Front Immunol. 2021;12:676046.
107. Umran RMR, Shukur ZYH. Rituximab for sight-threatening refractory
pediatric Vogt–Koyanagi–Harada disease. Mod Rheumatol. 2018;28(1):197-
199.
108. Miserocchi E, Modorati G, Berchicci L, Pontikaki I, Meroni P, Gerloni V.
Long-term treatment with rituximab in severe juvenile idiopathic arthritis-
associated uveitis. Br J Ophthalmol. 2016;100(6):782-786.
109. Rituximab in intractable ocular lesions of Behcet’s disease; randomized single‐
blind control study (pilot study) - DAVATCHI - 2010 - International Journal of
Rheumatic Diseases - Wiley Online Library. Accessed November 2, 2023.
110. Interferon alpha 2b in the Treatment of Uveitic Cystoid Macular Edema:
Ocular Immunology and Inflammation: Vol 20, No 2. Accessed November 2,
2023.
111. Hasanreisoglu M, Cubuk MO, Ozdek S, Gurelik G, Aktas Z, Hasanreisoglu B.
Interferon Alpha-2a Therapy in Patients with Refractory Behçet Uveitis. Ocul
Immunol Inflamm. 2017;25(1):71-75.
112. Diwo E, Gueudry J, Saadoun D, Weschler B, LeHoang P, Bodaghi B. Long-
term Efficacy of Interferon in Severe Uveitis Associated with Behçet Disease.
Ocul Immunol Inflamm. 2017;25(1):76-84.
113. Gueudry J, Wechsler B, Terrada C, et al. Long-term Efficacy and Safety of
Low-dose Interferon Alpha2a Therapy in Severe Uveitis Associated With
Behçet Disease. Am J Ophthalmol. 2008;146(6):837-844.e1.
114. Touhami S, Gueudry J, Leclercq M, et al. Perspectives for immunotherapy in
noninfectious immune mediated uveitis. Expert Rev Clin Immunol.
2021;17(9):977-989.
115. Mackensen F, Jakob E, Springer C, et al. Interferon versus Methotrexate in
Intermediate Uveitis With Macular Edema: Results of a Randomized
Controlled Clinical Trial. Am J Ophthalmol. 2013;156(3):478-486.e1.
116. Bauermann P, Heiligenhaus A, Heinz C. Effect of Janus Kinase Inhibitor
Treatment on Anterior Uveitis and Associated Macular Edema in an Adult
Patient with Juvenile Idiopathic Arthritis. Ocul Immunol Inflamm.
2019;27(8):1232-1234.
117. JAK inhibitors in refractory juvenile idiopathic arthritis-associated uveitis -
PubMed. Accessed November 2, 2023.
118. Llorenç V, Cordero-Coma M, Blanco-Esteban A, et al. Drug Retention Rate
and Causes of Discontinuation of Adalimumab in Uveitis: Real-World Data
from the Biotherapies in Uveitis (BioÚvea) Study Group. Ophthalmology.
2020;127(6):814-825.
119. Rodríguez-Fernández K, Mangas-Sanjuán V, Merino-Sanjuán M, et al. Impact
of Pharmacokinetic and Pharmacodynamic Properties of Monoclonal
Antibodies in the Management of Psoriasis. Pharmaceutics. 2022;14(3):654.
120. Brunelli JB, Silva CA, Pasoto SG, Saa CGS. Adalimumab | Anti-adalimumab
antibodies kinetics: an early guide for juvenile idiopathic arthritis (JIA)
switching | springermedicine.com. Issue 2020. Accessed December 22, 2024.
121. Moots RJ, Xavier RM, Mok CC, et al. The impact of anti-drug antibodies on
drug concentrations and clinical outcomes in rheumatoid arthritis patients
treated with adalimumab, etanercept, or infliximab: Results from a
multinational, real-world clinical practice, non-interventional study. PloS One.
2017;12(4):e0175207.
122. Marino A, Real-Fernández F, Rovero P, et al. Anti-adalimumab antibodies in a
cohort of patients with juvenile idiopathic arthritis: incidence and clinical
correlations. Clin Rheumatol. 2018;37(5):1407-1411.
123. Strik AS, van den Brink GR, Ponsioen C, Mathot R, Löwenberg M, D’Haens
GR. Suppression of anti-drug antibodies to infliximab or adalimumab with the
addition of an immunomodulator in patients with inflammatory bowel disease.
Aliment Pharmacol Ther. 2017;45(8):1128-1134.
124. Eurelings LEM, Missotten TOAR, Velthoven MEJ van, et al. Long-Term
Follow-up of Patients With Uveitis Treated With Adalimumab: Response
Rates and Reasons for Discontinuation of Therapy. Am J Ophthalmol.
2022;240:194-204.
125. Skrabl-Baumgartner A, Seidel G, Langner-Wegscheider B, Schlagenhauf A,
Jahnel J. Drug monitoring in long-term treatment with adalimumab for juvenile
idiopathic arthritis-associated uveitis. Arch Dis Child. 2019;104(3):246-250.
126. Pachón-Suárez DI, Zárate-Pinzón L, Cifuentes-González C, et al.
Immunogenicity of Adalimumab in Patients with Non-Infectious Uveitis:
Systematic Review and Meta-Analysis. Ocul Immunol Inflamm.
2024;32(8):1539-1548.
127. Hiyama T, Harada Y, Kiuchi Y. Clinical Characteristics and Efficacy of
Adalimumab and Low-Dose Methotrexate Combination Therapy in Patients
With Vogt–Koyanagi–Harada Disease. Front Med. 2022;8:730215.
128. Lian F, Zhou J, Wei C, et al. Anti-TNFα agents and methotrexate in
spondyloarthritis related uveitis in a Chinese population. Clin Rheumatol.
2015;34(11):1913-1920.
129. Ramanan AV, Dick AD, Jones AP, et al. Adalimumab plus Methotrexate for
Uveitis in Juvenile Idiopathic Arthritis. N Engl J Med. 2017;376(17):1637-
1646.
130. Ramanan AV, Dick AD, Benton D, et al. A randomised controlled trial of the
clinical effectiveness, safety and cost-effectiveness of adalimumab in
combination with methotrexate for the treatment of juvenile idiopathic arthritis
associated uveitis (SYCAMORE Trial). Trials. 2014;15:14.
131. Ramanan AV, Dick AD, Jones AP, et al. Adalimumab in combination with
methotrexate for refractory uveitis associated with juvenile idiopathic arthritis:
a RCT. Health Technol Assess Winch Engl. 2019;23(15):1-140.
132. Jabs DA, Nussenblatt RB, Rosenbaum JT, Standardization of Uveitis
Nomenclature (SUN) Working Group. Standardization of uveitis nomenclature
for reporting clinical data. Results of the First International Workshop. Am J
Ophthalmol. 2005;140(3):509-516.
133. Bitossi A, Bettiol A, Silvestri E, et al. Adalimumab Accounts for Long-Term
Control of Noninfectious Uveitis Also in the Absence of Concomitant
DMARD Treatment: A Multicenter Retrospective Study. Mediators Inflamm.
2019;2019:1623847.
134. Holland GN. Standard diagnostic criteria for the acute retinal necrosis
syndrome. Executive Committee of the American Uveitis Society. Am J
Ophthalmol. 1994;117(5):663-666.
135. Agrawal R, Agarwal A, Jabs DA, et al. Standardization of nomenclature for
ocular tuberculosis - Results of collaborative ocular tuberculosis Study (COTS)
Workshop. Ocul Immunol Inflamm. 2020;28(sup1):74-84.
136. Agrawal R, Betzler BK, Testi I, et al. The Collaborative Ocular Tuberculosis
Study (COTS)-1: A Multinational Review of 447 Patients with Tubercular
Intermediate Uveitis and Panuveitis. Ocul Immunol Inflamm. 2020;0(0):1-11.
137. Agrawal R, Testi I, Bodaghi B, et al. Collaborative Ocular Tuberculosis Study
Consensus Guidelines on the Management of Tubercular Uveitis—Report 2.
Ophthalmology. 2021;128(2):277-287.
138. Barbhaiya M, Zuily S, Naden R, et al. The 2023 ACR/EULAR
antiphospholipid syndrome classification criteria. Arthritis Rheumatol.
2023;75(10):1687-1702.
139. Clevenger LM, Cao JL, Steinkerchner MS, Nowacki AS, Yuan A.
Demographics, Presenting Features, and Outcomes of Adult Patients with
Ocular Trauma. J Ophthalmol. 2024;2024:8871776.
140. A Focus on the Epidemiology of Uveitis - PubMed. Accessed November 18,
2021.
141. Acharya NR, Tham VM, Esterberg E, et al. Incidence and prevalence of
uveitis: Results from the pacific ocular inflammation study. JAMA Ophthalmol.
2013;131(11):1405-1412.
142. Rajan RS, Mohamed SO, Salowi MA, Malaysian Uveitis Study Group,
Ministry of Health Malaysia. Demography and clinical pattern of newly
diagnosed uveitis patients in Malaysia. J Ophthalmic Inflamm Infect.
2022;12:28.
143. Hao T, Yang LI, Li B, Chen X, Li D, Liu X. Epidemiology of 2000 Chinese
uveitis patients from Northeast China. Br J Ophthalmol. 2021;105:317-321.
144. Grajewski RS, Caramoy A, Frank KF, et al. Spectrum of uveitis in a german
tertiary center: Review of 474 consecutive patients. Ocul Immunol Inflamm.
2015;23:346-352.
145. Yeung IYL, Popp NA, Chan CC. The role of sex in uveitis and ocular
inflammation. Int Ophthalmol Clin. 2015;55(3):111-131.
146. Rothova A, Buitenhuis HJ, Meenken C, et al. Uveitis and systemic disease. Br
J Ophthalmol. 1992;76(3):137-141.
147. Fazaa A, Makhlouf Y, Ben Massoud F, et al. Behçet disease: epidemiology,
classification criteria and treatment modalities. Expert Rev Clin Immunol.
Published online August 11, 2024:1-12.
148. Galor A, Davis JL, Flynn HW, et al. Sympathetic ophthalmia: incidence of
ocular complications and vision loss in the sympathizing eye. Am J
Ophthalmol. 2009;148(5):704-710.e2.
149. Gupta V, Gupta A, Dogra MR. Posterior sympathetic ophthalmia: a single
centre long-term study of 40 patients from North India. Eye Lond Engl.
2008;22(12):1459-1464.
150. Heiligenhaus A, Minden K, Föll D, Pleyer U. Uveitis in juvenile idiopathic
arthritis. Dtsch Arzteblatt Int. 2015;112(6):92-100, i.
151. Hasan AN, Mustapha M, Wan HAHW. Vogt-Koyanagi-Harada Disease: The
Clinical Spectrum and Management of Case Series in a Tertiary Eye Centre in
Northern Part Of Malaysia. Ceska Slov Oftalmol Cas Ceske Oftalmol
Spolecnosti Slov Oftalmol Spolecnosti. 2024;80(3):140-144.
152. Hedayatfar A, Hosseini SM, Karimi N, et al. The spectrum of Vogt-Koyanagi-
Harada disease in Iran. Int Ophthalmol. 2018;38(2):443-449.
153. Hsu YR, Huang JCC, Tao Y, et al. Noninfectious uveitis in the Asia-Pacific
region. Eye Lond Engl. 2019;33(1):66-77.
154. Chee SP, Jap A, Bacsal K. Spectrum of Vogt-Koyanagi-Harada disease in
Singapore. Int Ophthalmol. 2007;27(2-3):137-142.
155. Warjri GB, Das AV, Senthil S. Clinical profile, demographic distribution, and
management of Posner-Schlossman syndrome: An electronic medical record-
driven data analytics from an eye care network in India. Indian J Ophthalmol.
2024;72(3):347-351.
156. Borde P, Priyanka, Kumar K, Takkar B, Sharma B. Pattern of uveitis in a
tertiary eye care center of central India: Results of a prospective patient
database over a period of two years. Indian J Ophthalmol. 2020;68(3):476-481.
157. Chiang WY, Chen SC, Sheu SJ, Kuo HK. A prospective study of clinical
features of anterior uveitis in Taiwan. J Ophthalmol. 2023;2023:9647418.
158. Kongyai N, Sirirungsi W, Pathanapitoon K, et al. Viral causes of unexplained
anterior uveitis in Thailand. Eye Lond Engl. 2012;26(4):529-534.
159. The diagnostic value of intraocular fluid analysis by polymerase chain reaction
in Thai patients with uveitis - ScienceDirect. Accessed September 14, 2024.
160. Chee SP, Jap A. Presumed Fuchs Heterochromic Iridocyclitis and Posner-
Schlossman Syndrome: Comparison of Cytomegalovirus-Positive and
Negative Eyes. Am J Ophthalmol. 2008;146(6):883-889.e1.
161. Keorochana N. Pattern and outcome of uveitis in a Tertiary Military Hospital
in Thailand. Ocul Immunol Inflamm. Published online April 2, 2020. Accessed
February 16, 2024.
162. Panchal B, Tyagi M, Pathengay A, et al. Endophthalmitis following Suture
Removal - Clinical Outcomes and Microbiological Profile. Semin Ophthalmol.
2019;34(2):115-123.
163. Annual summary of communicable diseases reported to the Minnesota
Department of Health, 2019 - MN Department of Health.
164. Neiter E, Conart JB, Baumann C, Rousseau H, Zuily S, Angioi-Duprez K.
[Epidemiologic and etiologic patterns of uveitis in a University Hospital]. J Fr
Ophtalmol. 2019;42(8):844-851.
165. Hermann L, Falcão-Reis F, Figueira L. Epidemiology of uveitis in a tertiary
care centre in Portugal. Semin Ophthalmol. 2021;36(1-2):51-57.
166. Yang P, Zhang Z, Zhou H, et al. Clinical patterns and characteristics of uveitis
in a tertiary center for uveitis in China. Curr Eye Res. 2005;30(11):943-948.
167. Pathanapitoon K, Suksomboon S, Kunavisarut P, et al. HLA-B27-associated
acute anterior uveitis in the University Referral Centre in North Thailand:
clinical presentation and visual prognosis. Br J Ophthalmol. 2006;90(12):1448-
1450.
168. Nguyen TTV, Nguyen VH, Tran HT. The initial assessment of HLA-B27
status on the axial spondyloarthritis. Viet Med J. May (1/2023).
169. Kishimoto M, Ono K, Fukui S, et al. Clinical characteristics of non-
radiographic versus radiographic axial spondyloarthritis in Asia and non-
radiographic axial spondyloarthritis in other regions: Results of the cross-
sectional ASAS-COMOSPA study. RMD Open. 2021;7(3):e001752.
170. Chaudhary H, López-Medina C, Khan MA, Dougados M, Magrey M. Clinical
profile and treatment utilisation based on HLA-B*27 status in axial
spondyloarthritis: Results from ASAS-PerSpA study. RMD Open.
2023;9(3):e003179.
171. Gonzalez-Roces S, Alvarez MV, Gonzalez S, et al. HLA-B27 polymorphism
and worldwide susceptibility to ankylosing spondylitis. Tissue Antigens.
1997;49(2):116-123.
172. Dhaliwal JS, Too CL, Lisut M, Lee YY, Murad S. HLA-B27 polymorphism in
the Malays. Tissue Antigens. 2003;62(4):330-332.
173. Konno Y, Numaga J, Tsuchiya N, et al. HLA-B27 subtypes and HLA class II
alleles in Japanese patients with anterior uveitis. Invest Ophthalmol Vis Sci.
1999;40(8):1838-1844.
174. Qi J, Li Q, Lin Z, et al. Higher risk of uveitis and dactylitis and older age of
onset among ankylosing spondylitis patients with HLA-B*2705 than patients
with HLA-B*2704 in the Chinese population. Tissue Antigens.
2013;82(6):380-386.
175. Chavan H, Samant R, Deshpande A, Mankeshwar R. Correlation of HLA B27
subtypes with clinical features of ankylosing spondylitis. Int J Rheum Dis.
2011;14(4):369-374.
176. Intermediate Uveitis: A Review - PubMed. Accessed December 4, 2024.
177. Rojas-Carabali W, Reyes-Guanes J, Villabona-Martinez V, Fonseca-Mora MA,
de-la-Torre A. Intermediate Uveitis Etiology, Complications, Treatment, and
Outcomes in a Colombian Uveitis Referral Center. Clin Ophthalmol Auckl NZ.
2021;15:2597-2605.
178. Al-Hujaili H, AlAbduljabbar K, AlAkeely A, Al-Dhibi HA. Intermediate
uveitis: Etiologies and outcomes in a tertiary referral hospital in KSA. Saudi J
Ophthalmol Off J Saudi Ophthalmol Soc. 2021;35(2):81-83.
179. Agrawal R, Betzler B, Testi I, et al. The Collaborative Ocular Tuberculosis
Study (COTS)-1: A Multinational review of 165 patients with tubercular
anterior uveitis. Ocul Immunol Inflamm. 2020;28(sup1):1-10.
180. Yang P, Liao W, Pu Y, et al. Vogt-Koyanagi-Harada disease in pediatric, adult
and elderly: clinical characteristics and visual outcomes. Graefes Arch Clin
Exp Ophthalmol. 2023;261:2641-2650.
181. Al Dhahri H, Al Rubaie K, Hemachandran S, et al. Patterns of uveitis in a
university-based Tertiary Referral Center in Riyadh, Saudi Arabia. Ocul
Immunol Inflamm. 2015;23(4):311-319.
182. Du L, Kijlstra A, Yang P. Vogt-Koyanagi-Harada disease: Novel insights into
pathophysiology, diagnosis and treatment. Prog Retin Eye Res. 2016;52:84-
111.
183. Shi T, Lv W, Zhang L, Chen J, Chen H. Association of HLA-DR4/HLA-
DRB1*04 with Vogt-Koyanagi-Harada disease: A systematic seview and
meta-analysis. Sci Rep. 2014;4(1):6887.
184. Woodhall D, Starr MC, Montgomery SP, et al. Ocular toxocariasis:
Epidemiologic, anatomic, and therapeutic variations based on a survey of
ophthalmic subspecialists. Ophthalmology. 2012;119(6):1211-1217.
185. Hu XF, Feng J, Kang H, Wang H, Liu XH, Tao Y. Clinical characteristics of
ocular toxocariasis in adults in north China. Int J Ophthalmol. 2022;15(3):401-
406.
186. Despommier D. Toxocariasis: Clinical aspects, epidemiology, medical
ecology, and molecular aspects. Clin Microbiol Rev. 2003;16(2):265-272.
187. Nabeshima T, Ngwe Tun MM, Thuy NTT, et al. An outbreak of a novel
lineage of dengue virus 2 in Vietnam in 2022. J Med Virol.
2023;95(11):e29255.
188. Duong Thi Hue K, da Silva Goncalves D, Tran Thuy V, et al. Wolbachia wMel
strain-mediated effects on dengue virus vertical transmission from Aedes
aegypti to their offspring. Parasit Vectors. 2023;16(1):308.
189. World Health Organization. Update on the Dengue situation in western Pacific
region. 2024;Dengue Situation Update;2024 691.
190. Rathinam SR, Namperumalsamy P. Global variation and pattern changes in
epidemiology of uveitis. Indian J Ophthalmol. 2007;55(3):173-183.
191. Chang JHM, Wakefield D. Uveitis: A global perspective. Ocul Immunol
Inflamm. 2002;10(4):263-279.
192. Hart CT, Zhu EY, Crock C, Rogers SL, Lim LL. Epidemiology of uveitis in
urban Australia. Clin Exp Ophthalmol. 2019;47(6):733-740.
193. Iu LP, Fan MC, Lau JK, Chan TS, Kwong YL, Wong IY. Long-term Follow-
up of Cytomegalovirus Retinitis in Non-HIV Immunocompromised Patients:
Clinical Features and Visual Prognosis. Am J Ophthalmol. 2016;165:145-153.
194. Hòa ĐD, Nhung LTH, Linh BT, Yến ĐTK, Văn PT, Tùng MQ. Kết quả bƣớc
đầu điều trị viêm màng bồ đào không nhiễm trùng bằng phối hợp Adalimumab
và thuốc ức chế miễn dịch tại Việt Nam. Tạp Chí Nghiên Cứu Học.
2023;168(7):67-76.
195. WHO releases new global lists of high-burden countries for TB, HIV-
associated TB and drug-resistant TB.
196. Facciolà A, Laganà A, Genovese G, et al. Impact of the COVID-19 pandemic
on the infectious disease epidemiology. J Prev Med Hyg. 2023;64(3):E274-
E282.
197. Dick AD, Tundia N, Sorg R, et al. Risk of ocular complications in patients
with noninfectious intermediate uveitis, posterior uveitis, or panuveitis.
Ophthalmology. 2016;123(3):655-662.
198. Durrani OM, Tehrani NN, Marr JE, Moradi P, Stavrou P, Murray PI. Degree,
duration, and causes of visual loss in uveitis. Br J Ophthalmol.
2004;88(9):1159-1162.
199. Solomon L, Tsegaw A. Pattern of uveitis at a tertiary eye care and training
center, North-West Ethiopia. Ocul Immunol Inflamm. 2022;30(7-8):1848-1852.
200. Alarfaj G, Alahmadi G, Alabdullah H, Al-Khars W, Al-Hammad F. Pattern of
uveitis at a Tertiary Eye Hospital in Eastern Province of Saudi Arabia and
comparison with local literature. Ocul Immunol Inflamm. 2023;31(9):1837-
1841.
201. Doan T, Acharya NR, Pinsky BA, et al. Metagenomic DNA Sequencing for the
Diagnosis of Intraocular Infections. Ophthalmology. 2017;124(8):1247-1248.
202. Jabs DA, Rosenbaum JT, Foster CS, et al. Guidelines for the use of
immunosuppressive drugs in patients with ocular inflammatory disorders:
recommendations of an expert panel. Am J Ophthalmol. 2000;130(4):492-513.
203. Hazlewood GS, Barnabe C, Tomlinson G, Marshall D, Devoe DJA,
Bombardier C. Methotrexate monotherapy and methotrexate combination
therapy with traditional and biologic disease modifying anti-rheumatic drugs
for rheumatoid arthritis: A network meta-analysis. Cochrane Database Syst
Rev. 2016;2016(8):CD010227.
204. Full article: Uveitis: a global view. Accessed October 21, 2024.
205. Cervantes-Castañeda RA, Gonzalez-Gonzalez LA, Cordero-Coma M, Yilmaz
T, Foster CS. Combined therapy of cyclosporine A and mycophenolate mofetil
for the treatment of birdshot retinochoroidopathy: a 12-month follow-up. Br J
Ophthalmol. 2013;97(5):637-643.
206. Agarwal M, Ganesh SK, Biswas J. Triple agent immunosuppressive therapy in
Vogt-Koyanagi-Harada syndrome. Ocul Immunol Inflamm. 2006;14(6):333-
339.
207. Katsuyama A, Kusuhara S, Nishisho R, Matsumiya W, Azumi A, Nakamura
M. Long-term efficacy and safety of infliximab and cyclosporine combination
therapy for refractory uveoretinitis in Behçet’s disease. Clin Ophthalmol Auckl
NZ. 2019;13:521-527.
208. Rosenbaum JT, Friedman M. Seasoning to Perfection: How to Optimize Anti-
TNF Therapy. Ocul Immunol Inflamm. 2022;30(4):767-768.
209. Lopez-Rodriguez R, Perez-Pampin E, Marquez A, et al. Validation study of
genetic biomarkers of response to TNF inhibitors in rheumatoid arthritis. PloS
One. 2018;13(5):e0196793.
210. Wang Y, Wiesnoski DH, Helmink BA, et al. Fecal Microbiota Transplantation
for refractory immune checkpoint inhibitor-associated colitis. Nat Med.
2018;24(12):1804.
211. Anti-adalimumab antibodies kinetics: an early guide for juvenile idiopathic
arthritis (JIA) switching | SpringerLink. Accessed November 23, 2023.
212. Drug monitoring in long-term treatment with adalimumab for juvenile
idiopathic arthritis-associated uveitis | Archives of Disease in Childhood.
Accessed November 23, 2023.
213. Lie E, Kristensen LE, Forsblad-d’Elia H, et al. The effect of comedication with
conventional synthetic disease modifying antirheumatic drugs on TNF
inhibitor drug survival in patients with ankylosing spondylitis and
undifferentiated spondyloarthritis: results from a nationwide prospective study.
Ann Rheum Dis. 2015;74(6):970-978.
214. Massa H, Pipis SY, Adewoyin T, Vergados A, Patra S, Panos GD. Macular
edema associated with non-infectious uveitis: pathophysiology, etiology,
prevalence, impact and management challenges. Clin Ophthalmol Auckl NZ.
2019;13:1761-1777.
215. Matas J, Llorenç V, Fonollosa A, et al. Predictors for functional and anatomic
outcomes in macular edema secondary to non-infectious uveitis. PloS One.
2019;14(1):e0210799.
216. Doycheva D, Zierhut M, Blumenstock G, Stuebiger N, Deuter C.
Mycophenolate mofetil in the therapy of uveitic macular edema--long-term
results. Ocul Immunol Inflamm. 2012;20(3):203-211.
217. Methotrexate vs. Mycophenolate Mofetil for Ocular Inflammatory Diseases |
IOVS | ARVO Journals. Accessed December 13, 2021.
218. Schaap-Fogler M, Amer R, Friling R, Priel E, Kramer M. Anti-TNF-α agents
for refractory cystoid macular edema associated with noninfectious uveitis.
Graefes Arch Clin Exp Ophthalmol Albrecht Von Graefes Arch Klin Exp
Ophthalmol. 2014;252(4):633-640.
219. Diaz-Llopis M, García-Delpech S, Salom D, et al. Adalimumab therapy for
refractory uveitis: a pilot study. J Ocul Pharmacol Ther Off J Assoc Ocul
Pharmacol Ther. 2008;24(3):351-361.
220. Lejoyeux R, Diwo E, Vallet H, et al. INFLIXIMAB and ADALIMUMAB in
Uveitic Macular Edema. Ocul Immunol Inflamm. 2018;26(7):991-996.
221. Leclercq M, Andrillon A, Maalouf G, et al. Anti-Tumor Necrosis Factor α
versus Tocilizumab in the Treatment of Refractory Uveitic Macular Edema: A
Multicenter Study from the French Uveitis Network. Ophthalmology.
2022;129(5):520-529.
222. Suhler EB, Jaffe GJ, Fortin E, et al. Long-Term Safety and Efficacy of
Adalimumab in Patients with Noninfectious Intermediate Uveitis, Posterior
Uveitis, or Panuveitis. Ophthalmology. 2021;128(6):899-909.
223. Kempen JH, Daniel E, Gangaputra S, et al. Methods for identifying long-term
adverse effects of treatment in patients with eye diseases: the Systemic
Immunosuppressive Therapy for Eye Diseases (SITE) Cohort Study.
Ophthalmic Epidemiol. 2008;15(1):47-55.
224. Smolen JS, Landewé RBM, Bergstra SA, et al. EULAR recommendations for
the management of rheumatoid arthritis with synthetic and biological disease-
modifying antirheumatic drugs: 2022 update. Ann Rheum Dis. 2023;82(1):3-
18.
225. Broeder AA den, Herwaarden N van, Maas A van der, et al. Dose REduction
strategy of subcutaneous TNF inhibitors in rheumatoid arthritis: design of a
pragmatic randomised non inferiority trial, the DRESS study. BMC
Musculoskelet Disord. 2013;14:299.
226. Successful reduction of overexposure in patients with rheumatoid arthritis with
high serum adalimumab concentrations: an open-label, non-inferiority,
randomised clinical trial - PubMed. Accessed October 26, 2024.
227. Deng Y, Liu L, Qiang W, Hu L, Wang L, Cheng Z. Methotrexate Reduces the
Clearance of Adalimumab by Increasing the Concentration of Neonatal Fc
Receptor in Tissues. Pharm Res. 2019;36(11):157.
228. Yuan PD, Hu YW, Chen XQ, et al. Adalimumab Dose Reduction and
Withdrawal in Stable Non-Infectious Pediatric Uveitis: An Open-Label,
Prospective, Pilot Study. Ocul Immunol Inflamm. Published online April 23,
2024:1-8.
229. Nguyen HV, Tiemersma EW, Nguyen HB, et al. The second national
tuberculosis prevalence survey in Vietnam. PLoS ONE. 2020;15(4):e0232142.
230. Mili-Boussen I, Zitouni M, Ammous I, et al. Azathioprine for glucocorticoid
resistant noninfectious uveitis. Tunis Med. 2015;93(3):158-163.
231. Li B, Li H, Zhang L, Zheng Y. Efficacy and Safety of Adalimumab in
Noninfectious Uveitis: A Systematic Review and Meta-Analysis of
Randomized Controlled Trials. Front Pharmacol. 2021;12:673984.
232. Sheppard J, Joshi A, Betts KA, et al. Effect of Adalimumab on Visual
Functioning in Patients With Noninfectious Intermediate Uveitis, Posterior
Uveitis, and Panuveitis in the VISUAL-1 and VISUAL-2 Trials. JAMA
Ophthalmol. 2017;135(6):511-518.
233. Lie MRKL, Kreijne JE, van der Woude CJ. Sex Is Associated with
Adalimumab Side Effects and Drug Survival in Patients with Crohn’s Disease.
Inflamm Bowel Dis. 2017;23(1):75-81.
234. Shehab M, Alasfour H, Abdullah I, et al. Relationship Between Patient Sex and
Serum Tumor Necrosis Factor Antagonist Drug and Anti-drug Antibody
Concentrations in Inflammatory Bowel Disease; A Nationwide Cohort Study.
Front Med. 2021;8:801532.
235. Infliximab pharmacokinetics in inflammatory bowel disease patients -
PubMed. Accessed October 30, 2024.
236. Chen W, Zhao B, Jiang R, et al. Cytokine Expression Profile in Aqueous
Humor and Sera of Patients with Acute Anterior Uveitis. Curr Mol Med.
2015;15(6):543-549.
237. Daruich A, Matet A, Moulin A, et al. Mechanisms of macular edema: Beyond
the surface. Prog Retin Eye Res. 2018;63:20-68.
238. Radovits BJ, Kievit W, Fransen J, et al. Influence of age on the outcome of
antitumour necrosis factor alpha therapy in rheumatoid arthritis. Ann Rheum
Dis. 2009;68(9):1470-1473.
239. Pichi F, Smith SD, Goldstein DA, et al. The Humira in Ocular Inflammations
Taper (HOT) Study. Am J Ophthalmol. 2024;258:87-98.
240. Zhao L, Tang Y, Lei N, et al. Clinical features and monocyte/macrophage
subsets characterization in granulomatous vs non-granulomatous Crohn’s
disease. Scand J Gastroenterol. 2020;55(4):442-448.
241. Almobarak FA, Alharbi AH, Aljadaan I, Aldhibi H. Long-term outcomes of
initial trabeculectomy in glaucoma associated with granulomatous and non-
granulomatous uveitis. Int Ophthalmol. 2021;41(10):3459-3470.
PHỤ LỤC 1: BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu hiệu quả của điều trị viêm màng bồ đào không nhiễm trùng bằng
phối hợp thuốc Adalimumab với thuốc ức chế miễn dịch
Mã bệnh nhân nghiên cứu:
HỌ TÊN
TUỔI (Năm)
GIỚI
ĐỊA DƢ
Đặc điểm
Mắt phải
Mắt trái
ĐẶC ĐIỂM VMBĐ
Vị trí
Toàn bộ
Trƣớc và trung gian
Sau
Trung gian
Dạng viêm
Dạng hạt
Dạng không hạt
Biểu hiện tại mắt (N (%)
Viêm giác mạc
Dính mống mắt
Đục thủy tinh thể
Viêm mạch võng mạc (Retinal vasculitis)
Viêm dịch kính (Vitritis)
Viêm võng mạc (Retinitis)
Phù hoàng điểm (Cystoid edema)
(khi độ dày võng mạc vùng hoàng điểm
> 315µm trên OCT)
Tắc mạch võng mạc (Retinal vessel obstruction)
Teo dây thần kinh thị giác (Optic nerve atrophy)
Đặc điểm
Mắt phải
Mắt trái
Tắc nhánh tĩnh mạch võng mạc (Branch retinal
vein occlusion)
Tăng áp nội nhãn (Intraocular hypertension)
Viêm nhú (Papillitis)
Xuất huyết võng mạc (Retinal hemorrhages)
Tân mạch mống mắt (Iris neovascularization)
Tân mạch hắc mạc (Choroid neovascularization)
Bong võng mạc (Retinal detachment)
Lỗ hoàng điểm (Macular hole)
Teo nhãn cầu
Biểu hiện khác (others)
Biểu hiện ngoài mắt (N (%))
Loét miệng (Oral ulcers)
Loét bộ phận sinh dục (Genital ulcers)
Tổn thƣơng da (Dermatologic lesions)
Viêm khớp (Arthritis)
Tổn thƣơng thần kinh trung ƣơng (CNS involvement)
Viêm mạch hệ thống (Systemic vasculitis)
Biểu hiện khác (others)
Nguyên nhân VMBĐ (%)
Thời gian mắc bệnh (tháng)
(Tính từ thời điểm bệnh nhân tự phát hiện triệu
chứng tại mắt lần đầu tiên)
Số đợt tái phát trong 12 tháng qua (%)
Thuốc miễn dịch trƣớc nghiên cứu
Tác dụng phụ do điều trị Corticosteriod (%)
Chỉ số
T0
T1 T2 T4 Th2 Th3 Th4 Th5 Th6 Th7 Th8 Th9 Th10 Th11 Th12 Ghi chú
Ngày Đáp ứng ĐT Thị lực Độ dày hoàng điểm Tyndall TP Độ mờ dịch kính FA Liều corticoid Biến cố Thất bại điều trị Giãn liều Ada Nhỏ thuốc Tiêm tại chỗ UCMD
MẮT PHẢI
Chỉ số
T0
T1 T2 T4 Th2 Th3 Th4 Th5 Th6 Th7 Th8 Th9 Th10 Th11 Th12 Ghi chú
Ngày Đáp ứng ĐT Thị lực Độ dày hoàng điểm Tyndall TP Độ mờ dịch kính FA Liều corticoid Biến cố Thất bại điều trị Giãn liều Ada Nhỏ thuốc Tiêm tại chỗ UCMD
MẮT TRÁI
PHỤ LỤC 2
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG NGHIÊN CỨU
1. Bệnh nhân nữ 20 tuổi đƣợc chuyển đến khám vì hai mắt nhìn mờ 1 tuần sau khi sốt
xuất huyết. (A, B) Ảnh chụp đáy mắt màu cho thấy các ổ viêm võng mạc nhỏ rải rác ở
võng mạc hậu cực, kèm xuất huyết võng mạc và viêm quanh mạch võng mạc. (C, D)
Ảnh chụp mạch huỳnh quang với Fuorescein cho thấy hiện tƣợng rò huỳnh quang tại
các mao mạch và các nhánh tĩnh mạch quanh hố trung tâm.
B
A
D
C 2. Bệnh nhân nam 22 tuổi mắc VMBĐ toàn bộ kèm viêm võng mạc gai thị do HI. (A)
Ảnh chụp đáy mắt màu cho thấy viêm phù gai thị kết hợp với bong thanh dịch võng
mạc. (B) Ảnh SD-OCT cho thấy võng mạc dày nhiều, chủ yếu phía mũi, kèm theo
dịch dƣới võng mạc và dịch trong võng mạc. (C, D, E) Ảnh chụp mạch huỳnh quang
cho thấy rò huỳnh quang tại gai thị và mao mạch võng mạc tăng dần qua các thì. (F,
G) Ảnh chụp đa sắc và SD -OCT thực hiện 1 tháng sau khi bệnh nhân đƣợc điều trị
kháng sinh và chống viêm cho thấy có sự cải thiện của tình trạng viêm võng mạc gai
thị, kèm lắng đọng các điểm màu vàng, tăng tín hiệu tƣơng ứng với sao hoàng điểm.
(H, I) Ảnh chụp đáy mắt và SD-OCT thực hiện tại thời điểm 1 năm sau điều trị.
B
A
E
C
D
G
F
I
H
3. Bệnh nhân nam, 12 tuổi, đƣợc chẩn đoán 2 mắt viêm hắc võng mạc loang dần. (A,
B) Ảnh đáy mắt màu cho thấy tổn thƣơng hắc võng mạc bao quanh gai thị, có xu
hƣớng lan ra xung quanh về phía hoàng điểm. (C, D) Ảnh chụp tự phát huỳnh quang
trƣớc điều trị cho thấy tăng tự phát huỳnh quang ở bờ tổn thƣơng hoạt động. (E, F)
Sau điều trị Corticosteroid, bờ tổn thƣơng chuyển sang giảm tự phát huỳnh quang.
A
B
D
C
E
F
4.Bệnh nhân nữ, 44 tuổi, có tiền sử 2 mắt Viêm màng bồ đào toàn bộ 11 năm trƣớc
khi tham gia nghiên cứu. Mắt phải đã mất chức năng do hậu quả của Glôcôm thứ phát.
Sau giai đoạn khám sàng lọc, bệnh nhân đƣợc chẩn đoán VMBĐ toàn bộ trong bệnh
Behcet. Bệnh nhân đã đƣợc điều trị phối hợp Adalimumab và Azathioprine. (A) Ảnh
chụp màu đáy mắt trái trƣớc điều trị. (B) Ảnh chụp đáy mắt sau 1 năm điều trị. (C)
Ảnh SD-OCT cho thấy phù hoàng điểm trƣớc điều trị. (E) Ảnh SD-OCT sau 1 năm
điều trị cho thấy hoàng điểm không phù, xuất hiện màng xơ trƣớc võng mạc. (F) Ảnh
chụp mạch huỳnh quang trƣớc điều trị cho thấy có rò huỳnh quang vùng gai thị và hệ
mạch máu võng mạc. (G) Ảnh chụp mạch huỳnh quang sau 1 năm điều trị phối hợp.
A
B
D
C
E
F
5. Bệnh nhân nữ, 55 tuổi, đƣợc chẩn đoán 2 mắt viêm màng bồ đào toàn bộ biến
chứng phù hoàng điểm, phụ thuộc corticosteroid. Tuy nhiên, sau quá trình điều trị
corticosteroid liều cao kéo dài, bệnh nhân có biểu hiện suy tuyến thƣợng thận. Sau
giai đoạn sàng lọc, bệnh nhân đƣợc chẩn đoán VMBĐ trong bệnh Sarcoid. Bệnh
nhân đƣợc điều trị phối hợp Adalimumab và Methotrexate. (A, C) Ảnh chụp đáy
mắt trƣớc điều trị. Phù hoàng điểm dạng nang mắt phải. Măt trái có tinh thể buồng
dịch kính nên khó quan sát chi tiết hoàng điểm. (B, D) Ảnh SD-OCT cho thấy phù
hoàng điểm hai mắt trƣớc điều trị. (E, G) Ảnh chụp đáy mắt sau điều trị 1 năm. (F,
H) Ảnh SD-OCT cho thấy hoàng điểm cải thiện sau điều trị 1 năm. (I, J) Ảnh chụp
mạch huỳnh quang trƣớc điều trị cho thấy có rò huỳnh quang vùng gai thị, hoàng
điểm, nền mao mạch và hệ tĩnh mạch võng mạc. (K, L) Ảnh chụp mạch huỳnh
quang tại thời điểm 6 tháng sau điều trị cho thấy có sự cải thiện rõ rệt tính thấm
B
A
C
D
H
E
F
G
thành mạch võng mạc.
I
J
L
K
6. Bệnh nhân nữ, 16 tuổi, có tiền sử 2 mắt VMBĐ trung gian biến chứng phù hoàng
điểm phụ thuộc corticosteroid, phát hiện trƣớc đó 1 năm. Trƣớc khi tham gia nghiên
cứu, bệnh nhân có các biểu hiện trầm cảm do corticosteroid. Sau quá trình sàng lọc,
bệnh nhân đƣợc chẩn đoán Viêm màng bồ đào kết hợp bệnh Vảy nến. (A, B) Ảnh
chụp đáy mắt trƣớc khi điều trị cho thấy vùng hoàng điểm có tổn thƣơng dạng nang.
(C, D) Ảnh SD-OCT cho thấy phù hoàng điểm dạng nang do hậu quả của VMBĐ kéo
dài. (E, F) Ảnh SD-OCT vùng hoàng điểm sau điều trị cho thấy cấu trúc vùng hoàng
điểm đƣợc hồi phục.
A
B
D
C
F
E

