ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ VÂN ANH

PH¸P LUËT QUèC TÕ Vµ PH¸P LUËT VIÖT NAM

VÒ NG¡N NGõA Vµ XãA Bá LAO §éNG TRÎ EM

Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con ngƣời

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. VŨ CÔNG GIAO

HÀ NỘI - 2014

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của

riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong

bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong

Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã

hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ

tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để

tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƢỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Vân Anh

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 1

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA NGĂN NGỪA VÀ

XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM ............................................................ 7

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM QUAN TRỌNG .................................................. 7

1.1.1. Trẻ em ........................................................................................................... 7

1.1.2. Quyền trẻ em ................................................................................................ 9

1.1.3. Lao động trẻ em ......................................................................................... 11

1.1.4. Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em ..................................................... 21

1.2. THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG TIÊU

CỰC CỦA LAO ĐỘNG TRẺ EM TRÊN THẾ GIỚI .......................... 22

1.2.1. Thực trạng ................................................................................................... 22

1.2.2. Nguyên nhân .............................................................................................. 26

1.2.3. Tác động tiêu cực ....................................................................................... 28

1.3. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGĂN NGỪA VÀ XÓA

BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM ....................................................................... 30

1.3.1. Mục đích ..................................................................................................... 30

1.3.2. Ý nghĩa ........................................................................................................ 32

Kết luận Chƣơng 1 ..................................................................................................... 34

Chƣơng 2: KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP

LUẬT VIỆT NAM VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO

ĐỘNG TRẺ EM ...................................................................................... 35

2.1. KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NGĂN NGỪA

VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM ..................................................... 35

2.1.1. Khái quát các văn bản pháp luật quốc tế về ngăn ngừa và xóa bỏ

lao động trẻ em ........................................................................................... 35

2.1.2. Pháp luật quốc tế về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em ................... 45

2.2. KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGĂN NGỪA

VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM ..................................................... 58

2.2.1. Khái quát các văn bản pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa

bỏ lao động trẻ em ...................................................................................... 58

2.2.2. Pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em 63

2.3. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TƢƠNG THÍCH CỦA PHÁP LUẬT

VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NGĂN NGỪA

VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM ..................................................... 79

Chƣơng 3: THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT VÀ

PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO

ĐỘNG TRẺ EM Ở VIỆT NAM ........................................................... 81

3.1. THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ

NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM .......................... 81

3.1.1. Khái quát thực trạng, nguyên nhân và tác động tiêu cực của lao

động trẻ em ở Việt Nam ............................................................................ 81

3.1.2. Thực trạng thực thi pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động

trẻ em ở Việt Nam ...................................................................................... 84

3.2. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP

LUẬT VIỆT NAM VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO

ĐỘNG TRẺ EM ........................................................................................ 92

3.2.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về

ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em ...................................................... 92

3.2.2. Quan điểm về hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về

ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em ...................................................... 94

3.2.3. Những giải pháp cụ thể về hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt

Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em ........................................ 96

3.2.4. Một số biện pháp hỗ trợ khác ................................................................. 102

Kết luận Chƣơng 3 .................................................................................................. 104

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 107

Công ƣớc số 138

Công ƣớc số 138 của ILO về tuổi lao động tối thiểu

(Minimum Age Convention), 1973

Công ƣớc số 182

Công ƣớc số 182 của ILO về cấm và hành động ngay lập

tức nhằm xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ

nhất (Worst Forms of Child Labour Convention), 1999

Tổ chức Lao động Quốc tế (the International Labour

ILO

Organization)

Chƣơng trình quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em của

IPEC

ILO (International Programme on the Elimination of

Child Labour)

Khuyến nghị số 146

Khuyến nghị số 146 của ILO về tuổi lao động tối thiểu

(Minimum Age Recommendation), 1973

Khuyến nghị số 190

Khuyến nghị số 190 của ILO về cấm và hành động ngay

lập tức nhằm xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em

tồi

tệ nhất

(Worst Forms of Child Labour

Recommendation), 1999

SIMPOC

Chƣơng trình Thông tin thống kê và giám sát lao động trẻ

em (Statistical Information and Monitoring Programme on

Child Labour)

UNICEF

Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (United Nations Children’s

Fund)

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng

Trang

Bảng 1.1: Phân loại lao động trẻ em dựa theo tính chất nguy hại

17

Bảng 1.2: Phân loại lao động trẻ em theo tình trạng công việc

19

Bảng 1.3: Phân loại lao động trẻ em theo lĩnh vực ngành nghề

21

Bảng 1.4: Thống kê tỷ lệ lao động trẻ em trong nhóm tuổi từ 5-17,

năm 2000-2012

24

Bảng 2.1: Mức tuổi lao động tối thiểu xác lập theo Công ƣớc số 138

của ILO

45

Bảng 2.2: Độ tuổi lao động tối thiểu theo pháp luật Việt Nam

64

Bảng 2.3 Bảng đối chiếu giữa những hình thức lao động trẻ em tồi tệ

nhất theo Công ƣớc số 182 và các tội có liên quan trong Bộ

luật Hình sự Việt Nam

76

Tên bảng

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Ngày nay, trên thế giới, tình trạng lao động trẻ em vẫn là một hiện

tƣợng phổ biến, trong đó, nhiều trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều

kiện độc hại, nguy hiểm và bị khai thác triệt để. Những mối nguy hại đe dọa

từ lao động trẻ em thay đổi tùy thuộc vào loại hình lao động, điều kiện lao

động và để lại những hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển bình thƣờng của

trẻ. Không những thế, lao động trẻ em gia tăng còn gây ra những tác động tiêu

cực tới cộng đồng, xã hội, tăng trƣởng kinh tế và sự phát triển lâu dài của mỗi

quốc gia. Vì vậy, ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là mục tiêu chung mà

cộng đồng quốc tế đang hƣớng tới.

Ở Việt Nam, số lƣợng trẻ em lao động vẫn còn ở mức cao, trong đó có

nhiều em đang rơi vào những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất đƣợc quy

định trong Công ƣớc số 182 của ILO về cấm và hành động ngay lập tức để

xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Thực tế đó đặt ra những

yêu cầu cấp bách cho Chính phủ và toàn xã hội Việt Nam trong việc ngăn

ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Nhà nƣớc Việt Nam đã rất tích cực trong vấn đề đảm bảo thực hiện quyền

trẻ em. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê

chuẩn Công ƣớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Việt Nam cũng đã phê

chuẩn và gia nhập cả hai điều ƣớc chủ chốt của ILO về lao động trẻ em, bao gồm

Công ƣớc số 182 và Công ƣớc số 138 về tuổi lao động tối thiểu. Đây là những

bằng chứng cho thấy cam kết mạnh mẽ của nhà nƣớc Việt Nam trong việc bảo

vệ quyền trẻ em nói chung và ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em nói riêng.

Mặc dù vậy, Việt Nam hiện vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn

1

trong việc giải quyết vấn đề lao động trẻ em. Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến

tình trạng lao động trẻ em ở Việt Nam gồm có: do nghèo đói, do ngƣời sử

dụng lao động muốn tiết kiệm chi phí sản xuất đã sử dụng lao động trẻ em với

tiền công rẻ mạt, do sự thiếu hiểu biết của một bộ phận dân cƣ về điều kiện

làm việc, về nguy cơ tiềm ẩn khi trẻ em tham gia lao động… Tuy nhiên,

không thể kể đến nguyên nhân quan trọng là pháp luật về lao động trẻ em còn

bộc lộ những bất cập, hạn chế nhất định: quy định hiện hành liên quan trực

tiếp đến lao động trẻ em còn ít, đặc biệt là chƣa xây dựng hoàn thiện khung

pháp lý quy định các vấn đề cơ bản về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Bên cạnh đó, việc thực thi pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

còn kém hiệu quả, công tác thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật lao

động trẻ em vẫn hạn chế và bị coi nhẹ, việc tuyên truyền và phổ biến pháp

luật trong lĩnh vực này chƣa thƣờng xuyên và chƣa sâu rộng. Điều này đòi hỏi

một số quy định pháp luật lao động, pháp luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục

trẻ em cần đƣợc sửa đổi, bổ sung nhằm điều chỉnh và phù hợp với tình trạng

lao động trẻ em đang ngày một gia tăng và diễn biến phức tạp.

Vì những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật quốc tế và

pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em” làm đề tài

luận văn thạc sĩ của mình, nhằm nghiên cứu pháp luật quốc tế và làm sáng

tỏ lý luận, thực tiễn pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em ở

Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh

vực này.

2. Tình hình nghiên cứu

Vấn đề lao động trẻ em đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế

và đƣợc tổ chức nghiên cứu ở nhiều phạm vi khác nhau. Có thể kể tới các báo

cáo thƣờng kỳ của Tổ chức Lao động quốc tế ILO nhƣ: Báo cáo về xu hướng

lao động trẻ em toàn cầu giai đoạn 2000-2004, 2004-2008, 2008-2012, Báo

2

cáo “Đánh dấu sự tiến bộ chống lại lao động trẻ em năm 2013”... Các báo

cáo này đã đƣa ra tình hình lao động trẻ em ở nhiều khu vực trên thế giới và

chỉ ra những nỗ lực của nhiều quốc gia trong việc ngăn chặn và loại bỏ các

hình thức lao động trẻ em tồi tệ. Báo cáo cũng khuyến nghị các quốc gia thực

hiện các chính sách kinh tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo cần thiết nhằm loại

bỏ lao động trẻ em.

Ở Việt Nam, ngày càng có nhiều công trình khoa học, báo cáo thƣờng

kỳ, bài viết và các cuộc hội thảo, hội nghị chuyên đề về lao động trẻ em, lao

động chƣa thành niên. Có thể kể đến một số công trình nhƣ:

“Vấn đề lao động trẻ em” của Vũ Ngọc Bình, Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia Hà Nội, năm 2000, phân tích vấn đề lao động trẻ em trên thế giới và

vấn đề lao động trẻ em ở Việt Nam hiện nay, đƣa ra các giải pháp nhằm giải

quyết vấn đề lao động trẻ em trong nền kinh tế thị trƣờng.

Bài viết “Quản lý và ngăn ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam hiện nay”

của tác giả Nguyễn Bao Cƣờng đăng trên Bản tin số 23 - Viện Khoa học và

Lao động xã hội đƣa ra một số điểm cơ bản về tình trạng, nguyên nhân của

lao động trẻ em, một số hoạt động ƣu tiên nhằm giải quyết tình trạng lao động

trẻ em giai đoạn 2010-2015.

Bài viết “Giúp trẻ thoát khỏi các hình thức lao động tồi tệ: cần sự

chung tay của toàn xã hội” của tác giả Anh Nguyễn đăng trên Báo Giáo dục

và Thời đại số 22 ra ngày 30.5.2010; bài viết “Xóa bỏ lao động trẻ em - một

việc làm cấp bách” của tác giả Lan Hƣơng đăng trên Tạp chí Cộng sản số 844

ra ngày 01-4-2013; bài viết “Giải quyết vấn đề lao động trẻ em và trẻ em lang

thang trong Chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” của tác giả

Quách Thị Quế đăng trên Tạp chí Cộng sản số 846 ra ngày 01-06-2013... và

một số bài báo, tạp chí khác. Tuy nhiên, các bài viết, công trình này chủ yếu

tập trung vào đối tƣợng trẻ em và lao động trẻ em mà không đi sâu vào nghiên

3

cứu vấn đề ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em hoặc nếu có đề cập tới vấn

đề xóa bỏ lao động trẻ em thì mới chỉ đƣợc thực hiện dƣới góc độ kinh tế, xã

hội mà chƣa đề cập nhiều dƣới góc độ luật học.

Tóm lại, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu dƣới các dạng khác nhau

về vấn đề lao động trẻ em nhƣng các công trình nghiên cứu này hầu nhƣ chƣa đề

cập tới ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em - mục tiêu chung mà cộng đồng

quốc tế đang hƣớng tới cũng nhƣ chƣa đƣa ra đƣợc những bất cập của thực trạng

pháp luật về vấn đề này. Cho nên, có thể nói đề tài “Pháp luật quốc tế và pháp

luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là công trình đầu tiên

nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và cập nhật về pháp luật quốc tế và

thực tiễn pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn

liên quan đến việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, đồng thời đƣa ra các

giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.

Để đạt đƣợc mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những vấn

đề cụ thể sau:

- Phân tích cơ sở lý luận của việc cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về

ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

- Nghiên cứu, phân tích nội dung các Công ƣớc quốc tế liên quan đến

ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

- Đánh giá thực trạng pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

ở Việt Nam.

- Tổng kết lý luận và đánh giá thực tiễn, luận văn đề xuất phƣơng

hƣớng, giải pháp để hoàn thiện pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ

em ở Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Lao động trẻ em là vấn đề phức tạp, liên quan tới cả các lĩnh vực kinh

4

tế, xã hội. Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định cơ bản

của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động

trẻ em; phân tích, đánh giá việc thực thi pháp luật về vấn đề trên tại Việt Nam

và từ đó nêu ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

4. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu Luâ ̣n văn đƣơ ̣c tiếp câ ̣n nghiên cƣ́ u trên cơ sở kế thƣ̀ a các công trình nghiên cƣ́ u trƣớ c đây cù ng cơ sở lý luâ ̣n và pháp luật thực định quốc tế và của Viê ̣t Nam về lao động trẻ em nói chung và ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em

nói riêng.

Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở áp dụng các phƣơng pháp luận duy

vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ

Chí Minh, các quan điểm, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam về pháp

luật và xây dựng pháp luật.

Trong Chƣơng 1, để làm sáng tỏ vấn đề lý luận về lao động trẻ em, luâ ̣n văn sƣ̉ du ̣ng p hƣơng pháp hê ̣ thống , phân tích, so sánh để làm rõ khái niệm “trẻ em”, “lao động trẻ em”, “ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em”. Phƣơng

pháp phân tích cũng đƣợc vận dụng để đề cập tới nguyên nhân, tác động tiêu

cực, mục đích và ý nghĩa của ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Tại Chƣơng 2 của luận văn, các phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sƣ̉ du ̣ng

là thống kê , so sánh, phân tích để làm rõ mƣ́ c đô ̣ tƣơng thích giƣ̃a pháp luâ ̣t quốc tế và pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Với Chƣơng 3, phƣơng pháp thống kê, phân tích , tổng hơ ̣p đƣơ ̣c sƣ̉ dụng để nghiên cứu thực trạng lao động trẻ em tại Việt Nam, tính cấp thiết

của việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa, xóa bỏ lao

động trẻ em và đƣa ra các giải pháp nhằm hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam về vấn đề này.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Lao động trẻ em là một thực tế đã có từ rất lâu. Vấn đề bảo vệ lao động

trẻ em cũng đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm. Các nghiên cứu và nhận

5

thức từ trƣớc tới nay luôn cho rằng, lao động trẻ em vẫn cần đƣợc duy trì để

đáp ứng nhu cầu của xã hội và của chính bản thân, gia đình các em. Tuy

nhiên, nhìn nhận dƣới góc độ quyền con ngƣời, lao động trẻ em cần phải đƣợc

ngăn ngừa và xóa bỏ, đặc biệt là các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.

Yêu cầu này cũng đặt ra việc xác định một cách rõ ràng khái niệm “lao động

trẻ em”, phân biệt với một số loại hình khác gần giống nhƣng dễ gây nhầm

lẫn, đó là trẻ em làm việc, trẻ em tham gia hoạt động kinh tế…

Luận văn là công trình đầu tiên đi sâu vào phân tích một cách toàn diện

và cập nhật hệ thống các quy định quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam về

ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật

về vấn đề này ở Việt Nam. Từ đó đóng góp một số giải pháp hoàn thiện pháp

luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

6. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn

Luận văn làm rõ một số nội dung cơ bản về lao động trẻ em và ngăn

ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.

Đánh giá mức độ tƣơng thích của pháp luật Việt Nam với các công ƣớc quốc

tế mà Việt Nam là thành viên và thực trạng thực thi pháp luật Việt Nam, nêu

ra một số vấn đề tồn tại cần sửa đổi, bổ sung trong pháp luật Việt Nam hiện

hành nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa, xóa bỏ

lao động trẻ em.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

gồm 3 chƣơng nhƣ sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn của việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao

động trẻ em

Chương 2: Khuôn khổ pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về

ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

Chương 3: Thực trạng thực thi pháp luật và phƣơng hƣớng, giải pháp

hoàn thiện pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ

6

em ở Việt Nam.

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA

NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM QUAN TRỌNG

1.1.1. Trẻ em

Về phƣơng diện khoa học, trẻ em đƣợc định nghĩa tùy theo góc độ tiếp

cận của từng khoa học cụ thể. Trong triết học, trẻ em đƣợc xem xét trong mối

quan hệ biện chứng với sự phát triển xã hội nên ở mọi thời đại, tƣơng lai của

quốc gia, dân tộc đều tùy thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Đối với chuyên ngành xã hội học, trẻ em đƣợc xác định là ngƣời có vị thế, vai

trò xã hội khác với ngƣời lớn, vì vậy, cần đƣợc xã hội quan tâm, tạo điều kiện

sinh trƣởng, nuôi dƣỡng, bảo vệ, chăm sóc phát triển. Trong tâm lý học, khái

niệm trẻ em đƣợc dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý, nhân

cách con ngƣời. Dƣới khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em thƣờng đƣợc tiếp

cận theo độ tuổi.

Trẻ em có những đặc điểm tâm sinh lý khá đặc thù do chƣa phát triển

đầy đủ về thể chất và trí tuệ, dễ thay đổi, dễ thích nghi, dễ uốn nắn và đặc biệt

là dễ bị tổn thƣơng. Chính vì vậy, việc xác định trẻ em theo độ tuổi là điều

cần thiết nhằm bảo vệ trẻ em một cách tốt nhất khỏi những nguy cơ từ xã hội

ảnh hƣởng tới sự phát triển của trẻ.

Theo Điều 1 Công ƣớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em: “Trẻ em là

những người dưới 18 tuổi” [18]. Đây là một quy định mở, trong đó mức trần

18 tuổi đƣợc coi là mức tiêu chuẩn nhƣng không phải là cố định, bắt buộc đối

với mọi quốc gia, nói cách khác, điều này cho phép các quốc gia thành viên xác

định độ tuổi đƣợc coi là trẻ em thấp hơn so với quy định kể trên. Công ƣớc số

7

182 cũng quy định “Trong phạm vi Công ước này, thuật ngữ “trẻ em” được áp

dụng để chỉ tất cả những người dưới 18 tuổi” [33, Điều 1] và không quy định

ngoại lệ. Điều này là do mục đích của Công ƣớc 182, độ tuổi 18 đƣợc xác định

là độ tuổi trƣởng thành của một con ngƣời mà từ khi đó họ mới có khả năng

đảm nhiệm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Nhƣ vậy, nếu cho

phép các quốc gia thành viên có ngoại lệ quy định độ tuổi thấp hơn đƣợc công

nhận là trẻ em, sẽ có nguy cơ nhiều trẻ em trên thế giới phải làm các công việc

nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm khi các em chƣa đủ trƣởng thành.

Cũng theo định nghĩa kể trên, Công ƣớc về quyền trẻ em không quy

định từ khi nào đƣợc coi là trẻ em, nhƣng theo Lời nói đầu thì “… trẻ em cần

phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt

pháp lý từ trước cũng như khi chào đời” [18]. Quy định này hàm nghĩa rằng

việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em cần phải đƣợc thực hiện ngay từ giai đoạn bào

thai chứ không đợi đến lúc trẻ chào đời.

Trong pháp luật Việt Nam, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm

2004 quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” [25, Điều 1].

Nhƣ vậy trong pháp luật chuyên ngành, Việt Nam thừa nhận độ tuổi trẻ em

đƣợc pháp luật bảo vệ và chăm sóc là những công dân dƣới 16 tuổi. Mặc dù

quy định độ tuổi thấp hơn so với Công ƣớc quốc tế, nhƣng quy định của Việt

Nam vẫn đƣợc coi là phù hợp bởi quy định mở của Công ƣớc.

Bên cạnh văn bản luật chuyên ngành, trong hệ thống pháp luật Việt

Nam còn có nhiều ngành luật khác cũng đề cập tới vấn đề trẻ em nhƣ Bộ luật

Hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật

Thanh niên, Luật Quốc tịch, Luật Giáo dục, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học…

Tuy nhiên trong mỗi ngành luật đều tiếp cận khái niệm trẻ em ở một khía

cạnh khác nhau. Đặc biệt, một số văn bản luật đã có các chế định cụ thể quy

định quyền tự định đoạt của trẻ em đối với các vấn đề liên quan trực tiếp tới

8

mình nhƣ: trẻ em từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng

hoặc nhờ cha mẹ quản lý (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi, bổ

sung năm 2014); trẻ em từ đủ 15 tuổi đến chƣa đủ 18 tuổi đƣợc lấy ý kiến

bằng văn bản khi thay đổi quốc tịch (Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008)…

Ngoài khái niệm trẻ em, luật pháp Việt Nam còn có nhiều quy định đề

cập đến nhóm ngƣời trong độ tuổi từ 16 đến dƣới 18 (hay còn gọi là ngƣời

chƣa thành niên). Theo Điều 18 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Người đủ

mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là

người chưa thành niên” [26]. Điều 161 Bộ luật Lao động 2012 cũng quy

định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [29].

Nhƣ vậy, chúng ta đang sử dụng đồng thời hai thuật ngữ “trẻ em” và

“ngƣời chƣa thành niên”. Điều này gây khá nhiều rắc rối trong việc áp dụng

cũng nhƣ nghiên cứu luật.

1.1.2. Quyền trẻ em

Từ lâu trẻ em luôn đƣợc coi là một trong các nhóm xã hội dễ bị tổn

thƣơng nhất và đƣợc các nhà nƣớc, các cộng đồng quan tâm bảo vệ. Mặc dù

vậy, trong các thời kỳ trƣớc đây, ở tất cả các xã hội, việc bảo vệ trẻ em cơ bản

xuất phát từ góc độ tình thƣơng, lòng nhân đạo, sự che chở chứ không phải

dƣới góc độ nghĩa vụ bảo vệ quyền. Do vậy, việc bảo vệ trẻ em ở thời kỳ

trƣớc về cơ bản chƣa mang tính phổ biến, thống nhất, quy chuẩn và ràng buộc

về nghĩa vụ với mọi đối tƣợng trong xã hội.

Đến đầu thế kỷ XX, thuật ngữ pháp lý “quyền trẻ em” mới đƣợc đề cập

sau một loạt biến cố quốc tế lớn, nhất là cuộc Chiến tranh thế giới I (1914-

1918). Cuộc chiến tranh này đã khiến rất nhiều trẻ em ở châu Âu bị rơi vào

hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhƣ mồ côi không nơi nƣơng tựa, đói khát, bệnh

tật và thƣơng tích… Tình cảnh đó đã thúc đẩy việc thành lập hai tổ chức cứu

trợ trẻ em đầu tiên trên thế giới ở Anh và Thụy Điển vào năm 1919. Vào năm

9

1923, bà Eglantyne - ngƣời sáng lập Quỹ cứu trợ trẻ của nƣớc Anh năm 1919

- đã soạn thảo một bản Tuyên bố gồm 7 điểm, trong đó kêu gọi bảo vệ và thừa

nhận các “quyền của trẻ em”. Vào năm 1924, Tuyên bố này đƣợc Hội Quốc

liên thông qua (đƣợc gọi là Tuyên ngôn Geneva về quyền trẻ em). Sự kiện

này có thể coi là mốc đánh dấu thời điểm thuật ngữ “quyền trẻ em” lần đầu

tiên đƣợc nêu chính thức trong pháp luật quốc tế, đồng thời cũng là mốc đánh

dấu một bƣớc ngoặt trong nhận thức và hành động bảo vệ trẻ em trên thế giới.

Vì khi trẻ em đƣợc coi là một chủ thể của quyền, các hành động liên quan đến

trẻ em sẽ không chỉ còn đặt trên nền tảng tình thƣơng, lòng nhân đạo hay sự

che chở nữa, mà còn là nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan, kể cả cha mẹ.

Sau khi đƣợc thành lập, Liên hợp quốc đã đƣa vấn đề quyền trẻ em phát

triển lên một bƣớc ngoặt mới. Với mệnh đề mở đầu phổ biến trong Tuyên

ngôn toàn thế giới về quyền con ngƣời năm 1948 và hai công ƣớc về các

quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 là

“mọi ngƣời có quyền” hoặc “bất cứ ngƣời nào đều có quyền”… thì trẻ em

đƣợc thừa nhận là chủ thể bình đẳng với ngƣời lớn trong việc hƣởng tất cả các

quyền và tự do cơ bản đƣợc ghi nhận trong luật quốc tế về quyền con ngƣời.

Tuy nhiên, do đặc trƣng của trẻ em là còn non nớt cả về thể chất và tinh

thần, nên ngay trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ƣớc

quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ƣớc quốc tế về các

quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 và Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ

em, trẻ em đã đƣợc ghi nhận những quyền đặc thù, đó là quyền đƣợc chăm

sóc, giáo dƣỡng và đƣợc bảo vệ đặc biệt.

Nhƣ vậy, quyền trẻ em là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em đƣợc

hƣởng, đƣợc làm, đƣợc tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn,

tham gia và phát triển toàn diện.

Công ƣớc về quyền trẻ em là luật quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em bao

gồm 54 điều khoản đƣợc Liên hợp quốc thông qua năm 1989. Công ƣớc đề ra

các quyền cơ bản của con ngƣời mà trẻ em trên toàn thế giới đều đƣợc hƣởng.

10

Bốn nhóm quyền trẻ em theo Công ƣớc quốc tế gồm:

- Nhóm quyền đƣợc sống: nhằm đảm bảo quyền đƣợc sống và đáp ứng

các nhu cầu cơ bản để tồn tại;

- Nhóm quyền đƣợc bảo vệ: nhằm bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bị

bỏ rơi và bị lạm dụng và bóc lột hay phân biệt đối xử;

- Nhóm quyền đƣợc phát triển: nhằm đảm bảo nhu cầu cải thiện chất

lƣợng cuộc sống để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần, gồm

các quyền đƣợc học tập, nghỉ ngơi và giải trí, tham gia hoạt động văn hóa…;

- Nhóm quyền đƣợc tham gia: là những quyền cho phép trẻ em tham dự

vào những công việc ảnh hƣởng đến cuộc sống của chúng, nhƣ quyền đƣợc

bày tỏ quan điểm riêng, quyền tiếp cận thông tin…

1.1.3. Lao động trẻ em

1.1.3.1. Khái niệm lao động trẻ em

Cho tới nay, trên phạm vi quốc tế vẫn chƣa có một định nghĩa thống

nhất về lao động trẻ em.

Không phải mọi công việc hàng ngày mà trẻ em làm đều đƣợc coi là

lao động trẻ em. Cần xác định rõ khái niệm lao động trẻ em và lấy đó là căn

cứ để thực hiện ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Khác với khái niệm trẻ em, khái niệm về “lao động trẻ em” đòi hỏi

ngoài góc độ độ tuổi còn phải tiếp cận ở góc độ tính chất công việc mà chủ

thể phải làm.

Về độ tuổi, sau khi Công ƣớc về quyền trẻ em và Công ƣớc số 182 về

cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi

tệ nhất của ILO đƣợc ban hành, trong đó đƣa ra định nghĩa trẻ em là những

ngƣời dƣới 18 tuổi thì độ tuổi này đƣợc cộng đồng quốc tế coi là mốc chuẩn

để xác định phạm vi chủ thể của khái niệm lao động trẻ em.

Về tính chất công việc, lao động trẻ em bao gồm những công việc có

11

ảnh hƣởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ em. Nói cách khác,

thuật ngữ này đề cập đến những công việc và điều kiện làm việc không thể

chấp nhận đƣợc đối với trẻ em.

Trên thực tế, nhận thức về công việc có ảnh hƣởng tiêu cực đến sự phát

triển toàn diện của trẻ em không đồng nhất do sự khác biệt về hoàn cảnh kinh

tế, xã hội, quan niệm truyền thống, phong tục tập quán của mỗi quốc gia. Do

đó, khó có thể đƣa ra một định nghĩa thống nhất về lao động trẻ em.

Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO, nhìn chung, những công việc có

ảnh hƣởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện của trẻ là những công việc mà:

gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, đạo đức và xã

hội của trẻ; làm ảnh hƣởng đến việc học tập của trẻ (ví dụ, khiến cho trẻ

không đƣợc đến trƣờng, buộc trẻ phải nghỉ học sớm, buộc trẻ phải cố gắng để

vừa học vừa làm các công việc nặng nhọc hay mất nhiều thời gian).

Có những công việc có thể chấp nhận đƣợc với trẻ em. Đó là những

công việc không gây ảnh hƣởng đến sức khỏe và sự phát triển, không cản trở

việc học của trẻ và mang ý nghĩa tích cực. Ví dụ nhƣ việc trẻ em giúp đỡ cha

mẹ trong công việc nhà hoặc tham gia việc kinh doanh của gia đình ngoài giờ

học. Đây là những hoạt động góp phần vào sự phát triển của trẻ và cũng nâng

cao phúc lợi của gia đình, cung cấp cho trẻ những kỹ năng và kinh nghiệm có

ích cho việc hòa nhập xã hội khi trƣởng thành.

Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc UNICEF, lao động trẻ em là những

công việc mà:

(a) Làm việc ở độ tuổi quá sớm;

(b) Phải làm việc quá nhiều giờ, ảnh hƣởng đến việc học tập của

trẻ;

(c) Lao động trong những điều kiện xấu;

(d) Công việc hạ thấp danh dự nhân phẩm, lòng tự trọng của trẻ, có

hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ;

12

(e) Gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại cho trẻ em trên các

phƣơng diện thể chất, tinh thần, tâm lý và xã hội [49].

Ở Việt Nam, pháp luật cũng chƣa có định nghĩa nào về lao động trẻ em,

mặc dù thuật ngữ này đã đƣợc đề cập đến trong một số văn bản pháp luật. Ví

dụ, Khoản 7 Điều 7 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 quy định

các điều nghiêm cấm, trong đó có hành vi lạm dụng lao động trẻ em.

Bộ luật Lao động 2012 có quy định khái niệm lao động chƣa thành niên

và định nghĩa lao động chƣa thành niên là ngƣời lao động dƣới 18 tuổi và ít

nhất phải đủ 15 tuổi, trừ một số ngành nghề và công việc do Bộ Lao động -

thƣơng binh xã hội quy định có thể là ngƣời nhỏ hơn 15 tuổi. Cụ thể, theo

Điều 164 Bộ luật Lao động:

Ngƣời sử dụng lao động chỉ đƣợc sử dụng ngƣời từ đủ 13

tuổi đến dƣới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ

Lao động - Thƣơng binh và Xã hội quy định và không đƣợc sử

dụng lao động là ngƣời dƣới 13 tuổi làm việc trừ một số công việc

cụ thể do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội quy định [29].

Điều 165 Bộ luật Lao động cũng quy định về các công việc và nơi làm

việc cấm sử dụng lao động là ngƣời chƣa thành niên.

Nhƣ vậy, khái niệm lao động chƣa thành niên trong pháp luật Việt

Nam chƣa hoàn toàn đồng nhất với khái niệm lao động trẻ em trong pháp

luật quốc tế. Lao động chƣa thành niên chỉ bị coi là lao động trẻ em khi làm

một số ngành nghề hoặc trong các điều kiện bị cấm theo quy định của pháp

luật. Trong khi đó, lao động trẻ em luôn bị coi là bất hợp pháp, bao gồm: lao

động dƣới độ tuổi luật cho phép; lao động quá nhiều giờ; không đƣợc trả

công đầy đủ hoặc cản trở việc học hành của các em; lao động trong điều

kiện xấu, công việc hạ thấp danh dự nhân phẩm hay có hại đến sự phát triển

tâm lý, xã hội của trẻ.

13

Báo cáo “Điều tra quốc gia về lao động trẻ em 2012: Các kết quả

chính” do Viện Khoa học Lao động và Xã hội thuộc Bộ Lao động - Thƣơng

binh và Xã hội thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của ILO - IPEC/SIMPOC xuất

bản lần đầu năm 2014 đƣa ra khái niệm lao động trẻ em nhƣ sau:

(a) Trẻ em từ 5-11 tuổi: tham gia hoạt động kinh tế từ 1 giờ

trở lên vào bất kỳ ngày nào trong tuần tham chiếu hoặc từ 5 giờ trở

lên trong cả tuần tham chiếu.

(b) Trẻ em từ 12-14 tuổi: tham gia hoạt động kinh tế trên 4

giờ vào bất kỳ ngày nào trong tuần tham chiếu hoặc trên 24 giờ

trong cả tuần tham chiếu.

(c) Trẻ em từ 15-17 tuổi: tham gia hoạt động kinh tế trên 7

giờ vào bất kỳ ngày nào trong tuần tham chiếu hoặc trên 42 giờ

trong cả tuần tham chiếu.

(d) Trẻ em từ 5-17 tuổi, tham gia làm các công việc cấm sử

dụng lao động vị thành niên theo quy định của Thông tƣ số 09/TL-

LB ngày 13-4-1995 của liên Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội

- Y tế quy định chi tiết các điều kiện lao động có hại và các công

việc cấm sử dụng lao động vị thành niên (Đã đƣợc thay thế bằng

Thông tƣ số 10/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thƣơng binh và

xã hội về Ban hành danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử

dụng lao động là ngƣời chƣa thành niên) [4].

Tuy nhiên, đây chỉ là khái niệm sử dụng nhằm phục vụ cho điều tra của

Báo cáo này và mang tính chất tham khảo chứ chƣa phải định nghĩa chính thức.

Từ các góc độ tiếp cận kể trên và từ các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan

của ILO, có thể định nghĩa nhƣ sau:

Lao động trẻ em là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ em (những ngƣời dƣới 18

tuổi) phải làm những công việc có ảnh hƣởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện

14

của trẻ nhƣ: gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, đạo

đức và xã hội của trẻ; hoặc thời gian làm việc quá nhiều hay ở độ tuổi quá nhỏ,

làm ảnh hƣởng đến thời gian học tập, vui chơi, giải trí của trẻ.

Để hiểu rõ khái niệm lao động trẻ em, cần phân biệt với một số khái

niệm khác có liên quan, cụ thể nhƣ sau:

Trẻ em lao động (child labourer): “Thuật ngữ này đi liền với thuật ngữ

lao động trẻ em (child labour), chỉ những trẻ em bị rơi vào vòng xoáy của lao

động trẻ em, hay nói cách khác là nạn nhân của lao động trẻ em” [37].

Lao động chƣa thành niên (juvenile worker): Thuật ngữ này, nhƣ đã đề

cập ở trên, “thường để chỉ những lao động dưới 18 tuổi và không hoàn toàn

đồng nghĩa với lao động trẻ em. Lao động chưa thành niên có là lao động trẻ

em hay không tùy thuộc vào tính chất công việc, đặc điểm môi trường làm

việc, độ tuổi và thời gian làm việc của trẻ” [37].

Trẻ em làm việc (child work) là thuật ngữ “đề cập đến việc trẻ em tham

gia làm các công việc khác nhau, thông thường là nhẹ nhàng, có thể chấp

nhận được, được đưa ra nhằm mục đích phân biệt với khái niệm lao động trẻ

em mà được coi là chỉ những công việc không thể chấp nhận được đối với trẻ

em” [37]. Cụ thể, theo nhóm công tác khu vực về lao động trẻ em thì trẻ em

tham gia làm việc bao gồm các hoạt động không làm hại tới, và có thể góp

phần vào sự phát triển lành mạnh của trẻ trong khi lao động trẻ em bao gồm

tất cả những loại công việc do trẻ em đến 18 tuổi thực hiện mà có hại cho sức

khỏe, tinh thần, trí tuệ hay sự phát triển về mặt xã hội và ảnh hƣởng tới việc

học tập của trẻ em. Trẻ em làm việc không gây những tác động tiêu cực cho

sự phát triển của trẻ vì đó là những việc làm tự nguyện, phi lợi nhuận hay các

công việc trong gia đình. Những công việc này cũng cho trẻ những kỹ năng,

kinh nghiệm trong cuộc sống. Trái lại, lao động trẻ em hƣớng tới lợi nhuận,

trẻ em phải làm việc liên tục trong những ngành công nghiệp làm ra hàng hóa.

Điều đó ảnh hƣởng lớn tới sức khỏe, cơ hội học tập và phát triển của trẻ.

15

Trẻ em tham gia hoạt động kinh tế (“economically active children”

hoặc “children at work in economic activity”) là thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ

biến trong công tác điều tra, thống kê về lao động việc làm nói chung và lao

động trẻ em nói riêng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là một khái niệm

“chỉ các công việc sinh lợi do trẻ em thực hiện, bất kể các công việc đó có

hay không được trả lương, hợp pháp hay bất hợp pháp, thường xuyên hay

không thường xuyên, thời giờ làm việc ngắn hay trọn thời gian” [37]. Những

công việc vặt, không sinh lời mà trẻ em thƣờng làm trong gia đình hoặc ở

trƣờng không thuộc phạm trù này, mặc dù trên thực tế, một số trẻ em có thể

phải dành nhiều thời gian để làm những công việc đó, làm ảnh hƣởng đến thời

giờ học tập, vui chơi, giải trí. Để đƣợc xem là có tham gia các hoạt động kinh

tế, trẻ em phải làm các công việc sinh lời ít nhất trong một giờ vào bất kỳ

ngày nào trong tuần. Nhƣ vậy, trẻ em tham gia làm kinh tế có đƣợc coi là lao

động trẻ em hay không cũng tùy thuộc vào tính chất công việc, đặc điểm môi

trƣờng làm việc, độ tuổi và thời gian làm việc của trẻ. Bên cạnh đó, không

phải tất cả trẻ em tham gia hoạt động kinh tế đều trái với Công ƣớc số 138 của

ILO về tuổi lao động tối thiểu và Công ƣớc số 182 của ILO về cấm và hành

động ngay lập tức để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.

1.1.3.2. Phân loại lao động trẻ em

Phân loại lao động trẻ em giúp làm rõ các đặc điểm của lao động trẻ em

và đƣa ra những giải pháp phù hợp để ngăn ngừa và xóa bỏ từng dạng lao

động trẻ em. Có nhiều tiêu chí để phân loại lao động trẻ em, trong đó các tiêu

chí thƣờng đƣợc sử dụng là: theo tính chất nguy hại, theo tình trạng công việc

và theo lĩnh vực ngành nghề mà trẻ em làm việc.

* Phân loại theo tính chất nguy hại là cách thức đƣợc thực hiện trong

các Công ƣớc số 138 và 182 của ILO, trong đó lao động trẻ em đƣợc chia

thành các cấp độ tùy theo ảnh hƣởng tiêu cực của công việc với sự phát triển

của trẻ. Theo cách phân chia này, lao động trẻ em bao gồm: công việc nhẹ

16

nhàng, công việc thông thƣờng, công việc nguy hại và những hình thức lao

động trẻ em tồi tệ nhất [37].

Bảng dƣới đây khái quát những tình huống có thể coi là lao động trẻ em

dựa trên sự phân loại theo tính chất nguy hại từ các quy định có liên quan

trong các Công ƣớc 138 và 182 của ILO.

Bảng 1.1: Phân loại lao động trẻ em dựa theo tính chất nguy hại

Dạng công việc

Độ tuổi

Những hình thức lao động

Các công việc không nguy hại (trong các ngành nghề không nguy

trẻ em tồi tệ nhất

hại, thời giờ làm việc ít hơn 43

giờ/tuần)

Công việc

Công việc

Công việc

Những hình

nhẹ nhàng

thức lao động

(làm việc ít hơn

thông thƣờng (làm việc nhiều

nguy hại (trong các

trẻ em tồi tệ

14 giờ/tuần)

hơn 14 giờ/tuần

ngành nghề

nhất bị cấm

nhƣng chƣa đến

đƣợc coi nguy

tuyệt đối (buôn bán trẻ

43 giờ/tuần)

hại, hoặc trong

các ngành nghề

em; lao động

khác không

cƣỡng bức và

nguy hại nhƣng

gán nợ, sử dụng

với thời giờ làm việc nhiều hơn

trẻ em trong xung đột vũ

43 tiếng/tuần)

trang, các hoạt

động khiêu dâm và bất hợp pháp)

5-11

12-14

15-17

Nguồn: Bộ tài liệu tập huấn về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em,

(Trong bảng này, phần được coi là lao động trẻ em được đánh dấu đậm)

17

Điều 7 Công ƣớc số 138 của ILO quy định công việc nhẹ là công việc:

(a) Không có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe hoặc sự phát

triển của các em;

(b) Không ảnh hƣởng đến việc học tập, việc tham gia vào

những chƣơng trình hƣớng nghiệp hay đào tạo nghề đã đƣợc các

nhà chức trách có thẩm quyền chấp thuận, hoặc những chƣơng trình

mà các em có khả năng tiếp thu [31].

Theo ILO, “công việc nhẹ của trẻ em từ 12 đến 14 là công việc mà

không phải là gây nguy hại và không vượt quá 14 giờ mỗi tuần” [41]. Định

nghĩa này đƣợc ILO đƣa ra dựa trên kết quả nghiên cứu về tác động của lao

động trẻ em đối với việc học tập và phát triển của trẻ.

Cả hai Công ƣớc số 138 và 182 của ILO xác định công việc nguy hại là

những công việc có khả năng gây nguy hiểm hoặc tổn hại đến sức khỏe, an

toàn và đạo đức của trẻ em và danh sách các công việc này phải đƣợc xác

định ở cấp quốc gia. Đây là công việc trong các ngành nghề đƣợc coi nguy

hại, hoặc trong các ngành nghề khác không nguy hại nhƣng với thời giờ làm

việc nhiều hơn 43 tiếng/tuần. Việc phân loại này dựa trên các quy định nêu

trong Khuyến nghị số 190 kèm theo Công ƣớc số 182 và quy định về công

việc nguy hiểm trong luật pháp quốc gia.

Hình thức cực đoan nhất của lao động trẻ em là trẻ em bị bắt làm nô lệ,

bị tách ra khỏi gia đình, tiếp xúc với các mối nguy hiểm nghiêm trọng và bệnh

tật hoặc phải tự lo cho bản thân trên các đƣờng phố của các thành phố lớn,

thƣờng là vào độ tuổi rất sớm.

* Phân loại theo tình trạng công việc dựa trên các khía cạnh nhƣ: trẻ

em làm việc công khai hay bị che giấu, làm việc một mình hay theo nhóm, tập

trung hay phân tán… Cách phân loại này thể hiện cụ thể tại Bảng 1.2 - Phân

loại lao động trẻ em theo tình trạng công việc.

18

Bảng 1.2: Phân loại lao động trẻ em theo tình trạng công việc

Công khai

Không công khai

Nhiều trẻ cùng làm việc ở một địa

Nhiều trẻ cùng làm việc ở một địa

điểm hoặc ở các địa điểm gần nhau,

điểm hoặc ở các địa điểm gần nhau

có thể dễ dàng chứng kiến hoặc tiếp

nhưng không thể hoặc khó chứng

cận, ví dụ:

kiến hay tiếp cận, ví dụ:

 May mặc; khâu bóng đá; cơ khí; sản

 Làm việc trong các lò gạch, mỏ

xuất đồ gỗ; giúp việc trong cửa hàng.

khai thác đá.

 Làm bánh, mứt, kẹo; đầu bếp; bán

 Làm thợ mộc; phụ việc và vận

thức ăn nhanh.

chuyển vận liệu tại các công trƣờng

xây dựng.

 Làm việc trong các cửa hiệu sửa

chữa nhỏ, ví dụ, sửa chữa xe máy..

 Làm công nhân hoặc ngƣời học việc

trong các cơ sở sản xuất các sản phẩm

 Làm dịch vụ ở khu vực đông ngƣời, ví

gốm, kính, sắt, nhựa, kim hoàn..

dụ đánh giầy, rửa hoặc trông xe ô tô..

 Làm công nhân trong nhà máy chế

 Giúp việc trong siêu thị; bán dạo;

biến thực phẩm.

khuân vác; vệ sinh; thu ngân ở chợ…

g n u r t p ậ T

 Dệt các loại vải hoặc thảm truyền

 Vận chuyển vật liệu trên đƣờng

thống, bất kể trong gia đình hay tại

hoặc trong các công trƣờng xây dựng.

các cơ sở sản xuất nhỏ.

 Làm thuê trong các đồn điền, trang

 Sản xuất thuốc lá.

trại trồng mía, cà phê, rau…, một

mình hoặc cùng với gia đình.

 Làm việc trong các nhà máy sản

xuất diêm, pháo hoa hay thuốc nổ.

 Làm việc trong các cơ sở sản xuất

hay đồn điền, trang trại của gia đình,

 Làm việc trong các mỏ than hay mỏ

bất kể để sản xuất hàng hóa tiêu thụ

khoáng sản khác.

trong nội địa hay xuất khẩu.

 Làm việc trong các nhà máy đóng

 Chế biến các sản phẩn nông nghiệp

tàu hoặc trên các tàu, thuyền đánh cá.

và ngƣ nghiệp.

19

Trẻ làm việc một mình trong môi

Trẻ làm việc một mình ở môi trường

trường công khai, ví dụ bao gồm:

cách biệt, cô lập, không thể hoặc

khó chứng kiến hay tiếp cận, ví dụ:

 Đƣa báo, đƣa tin, chạy việc vặt.

 Giúp việc gia đình.

 Làm các dịch vụ hoặc bán hàng trên

đƣờng phố, ví dụ nhƣ đánh giầy, bán

 Làm việc trong các cơ sở sản xuất

hoa.

của gia đình, ví dụ nhƣ cơ sở sản xuất

đồ thủ công mỹ nghệ.

 Bồi bàn, rửa bát, quét dọn trong các

khách sạn, nhà hàng, quán cà phê

 Tự kiếm sống bằng săn bắn, đánh

cá, hái lƣợm hoặc các công việc nông

 Nhạc công, vũ công, diễn viên trong

nghiệp khác.

các gánh hát, đoàn xiếc…

n á t n â h P

 Ăn cắp, móc túi, buôn lậu, tham gia

 Ăn xin chuyên nghiệp.

sản xuất, buôn bán ma túy hoặc các

 Giúp việc, phụ xe trên các phƣơng

hoạt động khiêu dâm.

tiện giao thông đƣờng dài (xe buýt,

 Bị bóc lột tình dục.

tàu khách, tàu chở hàng…)

 Bị rơi vào tình trạng nô lệ hoặc lao

 Trông nom, bảo vệ nông trại khỏi

động gán nợ.

sự phá hoại của chim chóc, khỉ và kẻ

trộm.

 Bị buộc phải tham gia các nhóm vũ

trang hoặc phải phục vụ trong các

 Chăn thả bầy gia súc; nuôi dƣỡng,

cuộc xung đột vũ trang.

chăm sóc và quản lý vật nuôi.

Nguồn: A Tool Kit for Labour Inspectors

* Phân loại theo lĩnh vực ngành nghề (ví dụ, khu vực kinh tế chính

thức/không chính thức, hoặc cụ thể hơn, lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp

hay thƣơng mại) cho phép làm rõ mối quan hệ giữa trẻ em lao động và những

chủ thể có liên quan đến việc sử dụng các em (khách hàng, ngƣời sử dụng lao

động…). Ví dụ, bảng dƣới đây so sánh những đặc điểm cơ bản của lao động

trẻ em trong khu vực kinh tế chính thức và không chính thức. Lƣu ý là khái

niệm khu vực kinh tế chính thức, không chính thức ở đây chỉ mang tính tƣơng

đối, phục vụ mục đích chính là tìm hiểu vấn đề lao động trẻ em. Vì vậy, có

20

thể khái niệm đƣợc sử dụng ở đây không hoàn toàn giống với một số định

nghĩa về khu vực kinh tế chính thức, không chính thức thƣờng đƣợc sử dụng

ở Việt Nam.

Bảng 1.3: Phân loại lao động trẻ em theo lĩnh vực ngành nghề

Khu vực kinh tế không chính thức

Khu vực kinh tế chính thức

(informal sector)

(formal sector)

 Trẻ em dễ tham gia

 Trẻ em khó tham gia hơn

 Ít bị giám sát bởi các cơ quan nhà nƣớc  Bị giám sát chặt chẽ hơn

 Thƣờng dƣới dạng công ty lớn, bao

 Thƣờng dƣới dạng doanh nghiệp gia

gồm doanh nghiệp nƣớc ngoài nên dễ

đình nên khó phát hiện

phát hiện

 Dễ sử dụng lao động trẻ em

 Ít sử dụng lao động trẻ em hơn

 Có thể trực tiếp song thƣờng gián tiếp

 Sử dụng lao động trẻ em trực tiếp

ở một khâu nhất định của dây chuyền

sản xuất.

Nguồn: Child labour - A textbook for university students

1.1.4. Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

“Ngăn ngừa lao động trẻ em là một khái niệm rộng, tuy nhiên, cốt lõi

của nó là bảo vệ trẻ khỏi bị rơi vào vòng xoáy của lao động trẻ em vì bất cứ

lý do gì” [37]. Về vấn đề này, UNICEF nhấn mạnh rằng tất cả trẻ em đều có

quyền đƣợc bảo vệ khỏi bị bóc lột về kinh tế, và điều này chỉ có thể thành

công khi bắt đầu với việc ngăn ngừa những nguy cơ trẻ em phải lao động sớm

hoặc phải làm các công việc nguy hại.

Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em đang là mục tiêu hƣớng tới của

cộng đồng quốc tế. Do đó, bên cạnh việc xác định khái niệm “lao động trẻ

em”, cần định nghĩa rõ ràng về “ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em” làm cơ

sở cho việc xây dựng các chính sách, pháp luật hành động vì mục tiêu này. Có

thể hiểu nhƣ sau:

21

Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là sự phòng ngừa và loại bỏ tình

trạng trẻ em (những ngƣời dƣới 18 tuổi) phải làm những công việc có ảnh

hƣởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện của trẻ nhƣ: gây tổn hại hoặc có khả

năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc thời

gian làm việc quá nhiều hay ở độ tuổi quá nhỏ, làm ảnh hƣởng đến thời gian

học tập, vui chơi, giải trí của trẻ.

1.2. THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC

CỦA LAO ĐỘNG TRẺ EM TRÊN THẾ GIỚI

1.2.1. Thực trạng

Lao động trẻ em là vấn đề toàn cầu, diễn ra ở mọi quốc gia, mọi khu

vực với tính chất rộng lớn và phức tạp. Việc đƣa ra một đánh giá xác thực về

thực trạng lao động trẻ em trên thế giới là một công việc khó khăn.

Theo ILO, vào thời điểm năm 1995, có khoảng 250 triệu trẻ em ở độ

tuổi 5 đến 14 tham gia hoạt động kinh tế, trong đó ít nhất có khoảng 120 triệu

trẻ em phải làm việc trọn thời gian. Tuy nhiên số liệu kể trên mới chỉ phản

ánh phần nào thực trạng của vấn đề lao động trẻ em trên thế giới vào thời

điểm đó, bởi lẽ chúng chủ yếu đƣợc thu thập thông qua tổng hợp từ các bảng

hỏi gửi tới cơ quan thống kê của một số quốc gia, từ những số liệu thống kê

về lao động, việc làm do các quốc gia đó xuất bản, kết hợp với số liệu thu

đƣợc từ một số cuộc khảo sát về lao động trẻ em. Số lƣợng đã thu hút sự chú

ý của quốc tế về phạm vi và mức độ của lao động trẻ em trên toàn thế giới.

Những năm gần đây, khi phong trào toàn cầu chống lao động trẻ em

phát triển, nhu cầu về sự chính xác và chi tiết hơn trong việc ƣớc tính lao

động trẻ em trở nên rõ ràng. Dữ liệu từ SIMPOC (Chƣơng trình Thông tin

thống kê và giám sát lao động trẻ em), các đơn vị thống kê của Chƣơng trình

quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em của ILO (IPEC) và các nguồn khác cũng

nhƣ các công cụ phân tích mới giúp việc thống kê lao động trẻ em chính xác

22

hơn, ƣớc tính đƣợc số liệu trẻ em phải làm công việc nguy hiểm và các hình

thức lao động tồi tệ nhất. Từ đó, đƣa ra bức tranh toàn diện và xác thực hơn

về tình hình lao động trẻ em trên toàn thế giới.

Thời điểm năm 2000 là lần đầu tiên ILO cố gắng ƣớc tính mức độ trẻ

em phải làm công việc nguy hiểm và cả các hình thức lao động trẻ em tồi tệ

nhất. Theo thống kê, ƣớc tính trên thế giới có khoảng 211 triệu trẻ em ở độ

tuổi từ 5 đến 14 và 141 triệu trẻ em ở độ tuổi từ 15 đến 17 tham gia một số

hình thức hoạt động kinh tế; 186 triệu trẻ em ở độ tuổi từ 5 đến 14 và 59 triệu

trẻ em ở độ tuổi từ 15 đến 17 phải làm các công việc thuộc các hình thức lao

động trẻ em cần xóa bỏ (trong đó bao gồm cả các hình thức lao động trẻ em

tồi tệ nhất). Kết quả thống kê cũng cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ lao động trẻ

em giữa các lãnh thổ.

Theo Báo cáo “Đánh dấu sự tiến bộ trong việc chống lại lao động trẻ

em” đƣợc ILO công bố vào tháng 9 năm 2013, cho thấy sự tiến bộ thực sự

trong công cuộc chống lại lao động trẻ em, đặc biệt là trong khoảng thời gian

4 năm trở lại đây. Tuy nhiên thành công này có thể chỉ mang tính chất tƣơng

đối. Theo đánh giá của “Báo cáo toàn cầu về lao động trẻ em trƣớc đó vào

năm 2010” nhấn mạnh, tiến độ này vẫn còn quá chậm. Bản Báo cáo mới đã

chỉ ra rằng số lao động trẻ em trên toàn thế giới vào khoảng 168 triệu, chiếm

gần 11% tổng số trẻ em nói chung. Trẻ em trong độ tuổi 5-17 làm các công

việc nguy hại ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe, sự an toàn và phát triển nhân

cách của trẻ chiếm hơn một nửa số lao động trẻ em, vào khoảng 85 triệu em.

Đây là sự tiến bộ đáng kể trong vòng 12 năm kể từ năm 2000. Số lao động trẻ

em đã giảm gần 1/3 trong khoảng thời gian này, trong đó, tỷ lệ giảm với nữ là

khoảng 40% và với nam là 25%. Tổng số trẻ em làm các công việc nguy hiểm

mà phần lớn là thuộc các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em giảm hơn

một nửa. Tình hình lao động trẻ em ở khu vực cận sa mạc Sa-ha-ra của châu

23

Phi là nghiêm trọng nhất, nơi mà cứ trong năm trẻ em thì có một trẻ thuộc

diện lao động trẻ em. Cũng theo Báo cáo thì thế giới không có lao động trẻ

em vẫn còn trong một tƣơng lai xa.

Bảng 1.4: Thống kê tỷ lệ lao động trẻ em trong nhóm tuổi từ 5-17,

năm 2000-2012

Children in Hazardous work Child labour employment (‘000)% (‘000) % (‘000)%

351,90023.0 245,50016.0 170,50011.1 2000

322,72920.6 222,29414.2 128,3818.2 2004

305,66919.3 215,20913.6 115,3147.3 2008

264,42716.7 167,95610.6 85,3445.4 2012

Nguồn: Marking progress against child labour

Từ các số liệu điều tra có thể thấy:

Lao động trẻ em chiếm tỷ lệ cao trên tổng số trẻ em. Năm 2012, lao

động trẻ em chiếm 11% số trẻ em trên toàn thế giới. Tỷ lệ này mặc dù có

giảm so với các khoảng thời gian trƣớc nhƣng vẫn là tỷ lệ khá cao.

Tình trạng trẻ em phải làm những công việc nguy hại, kể cả các hình

thức tồi tệ nhất vẫn rất nghiêm trọng. Theo thống kê năm 2012, trẻ em trong

độ tuổi 5-17 làm các công việc nguy hại ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe, sự

an toàn và phát triển nhân cách của trẻ vào khoảng 85 triệu em, chiếm hơn

một nửa số lao động trẻ em trên thế giới.

Một vấn đề đáng lo ngại là phần lớn lao động trẻ em ở độ tuổi nhỏ: Số trẻ

em lao động ở độ tuổi dƣới 15 (mức tuổi tối thiểu cơ bản đƣợc tuyển dụng và

tham gia làm việc theo công ƣớc số 138 của ILO) là 120,5 triệu em, chiếm 72%

tổng số lao động trẻ em. Trong đó, số liệu này ở nhóm tuổi 5-11 là 73 triệu em,

đây là đối tƣợng rất dễ bị lạm dụng tại nơi làm việc và dễ bị tổn thƣơng.

24

Về phân bố địa lý, lao động trẻ em diễn ra ở khắp các khu vực trên thế

giới nhƣng khác nhau về mức độ: Khu vực châu Á, Thái Bình Dƣơng có số

lƣợng lao động trẻ em cao nhất, với 77,7 triệu trẻ em lao động. Tiếp theo là

khu vực cận sa mạc Sa-ha-ra của châu Phi, với 59 triệu em. Số liệu này ở khu

vực châu Mỹ - Latin và vùng Caribbe là 12,5 triệu; Trung Đông và Nam Phi

là 9,2 triệu. Tuy nhiên, tình hình lao động trẻ em ở khu vực cận sa mạc Sa-ha-

ra của châu Phi là nghiêm trọng nhất, do lao động trẻ em ở khu vực này chiếm

tới 21% tổng số trẻ em, trong khi tỷ lệ này ở châu Á, Thái Bình Dƣơng là 9%,

Trung Đông và Nam Phi là 8%.

Các ƣớc tính toàn cầu mới cũng cung cấp số liệu cập nhật về ngành

nghề mà lao động trẻ em tham gia. Khu vực nông nghiệp có số trẻ em làm

việc cao nhất là 98 triệu em, khu vực dịch vụ là 54 triệu em (trong đó 11,5

triệu em làm công việc gia đình) và khu vực công nghiệp là 12 triệu em.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, số lƣợng bé trai nhiều hơn bé gái trong tất cả

các lĩnh vực ngoại trừ công việc gia đình, hình thức làm việc khó bị sự giám

sát của cộng đồng và nằm ngoài tầm với của thanh tra lao động, cũng là hình

thức mà những đứa trẻ đặc biệt dễ bị bóc lột và lạm dụng.

Từ các số liệu thống kê về thực trạng lao động trẻ em trên toàn thế giới,

có thể thấy rằng đây là vấn đề toàn cầu. Do đó, để chiến dịch toàn cầu chống

lạm dụng và bóc lột trẻ em có hiệu quả, trƣớc hết các quốc gia cần có chính

sách đúng đắn và khuôn khổ pháp lý vững chắc. Một hệ thống pháp luật quốc

gia hoàn chỉnh về lao động trẻ em và phù hợp với các tiêu chuẩn pháp luật

quốc tế là nền tảng cơ bản cho việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, đặc

biệt là xác định thế nào là lao động trẻ em cần đƣợc xóa bỏ, đồng thời cung

cấp cơ sở cho việc thu thập thông tin thống kê lao động trẻ em. Hơn hết, pháp

luật cần ghi nhận trách nhiệm cụ thể (không chỉ của cá nhân mà của cả nhà

nƣớc và các cơ quan, tổ chức), thiết lập các biện pháp pháp lý bảo vệ nạn

nhân và trừng phạt ngƣời vi phạm.

25

1.2.2. Nguyên nhân

Lao động trẻ em là một vấn đề rất phức tạp và có nhiều nguyên nhân

dẫn đến lao động trẻ em. Mỗi nguyên nhân có vai trò và mức độ tác động

khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau. Các nguyên nhân chính của tình

trạng này gồm:

* Tình trạng nghèo đói

Nghèo đói đƣợc coi là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới trẻ em phải làm

những công việc không phù hợp với lứa tuổi của mình. Trong nhiều trƣờng

hợp, trẻ em phải làm việc để đảm bảo sự sống còn của gia đình và bản thân.

Mặc dù trẻ em không đƣợc trả lƣơng cao, nhƣng ở nhiều nƣớc đang phát

triển, đó vẫn là nguồn đóng góp lớn cho thu nhập gia đình. Cũng theo nhiều

cuộc điều tra thống kê, đói nghèo gia tăng trong vùng của châu Phi, châu Á và

châu Mỹ La tinh dẫn tới sự gia tăng lao động trẻ em.

* Hoàn cảnh gia đình

Tại nhiều nơi, cha mẹ không nhận thức đƣợc ý nghĩa của việc giáo dục

với trẻ em, cho rằng trẻ em cần thiết phải làm việc để rèn luyện bản thân, giúp

đỡ gia đình. Ban đầu là những công việc nhẹ nhàng nhƣng dần dần tiến tới

nhƣng công việc nặng nhọc hơn, có thể ảnh hƣởng tới thời gian học tập của

trẻ hoặc ảnh hƣởng tới sự phát triển của trẻ.

Những tác động của các cú sốc thu nhập hộ gia đình, chẳng hạn nhƣ

thiên tai, khủng hoảng kinh tế, nông nghiệp, tác động của HIV, AIDS, có thể

dẫn đến lao động trẻ em. Ví dụ, nhiều trẻ em sống với HIV, trong khi một số

thậm chí đã bị mồ côi hoặc bị tổn thƣơng do AIDS, hoặc nếu cha mẹ bị ốm do

các bệnh liên quan đến HIV và AIDS, trẻ có thể phải bỏ học tham gia lao

động để chăm sóc cho các thành viên gia đình.

* Các yếu tố truyền thống, văn hóa cũng rất quan trọng. Có một quan

niệm phổ biến trong một số quốc gia chậm phát triển là không để phụ nữ

26

đƣợc đi học. Điều này làm hạn chế giáo dục đối với trẻ em gái và thúc đẩy

lao động trẻ em.

* Bất ổn về chính trị, kinh tế, xã hội cũng là một trong những nguyên

nhân dẫn tới lao động trẻ em. Đây là những nhân tố tác động từ bên ngoài

khiến trẻ em sớm vƣớng vào vòng xoáy của lao động và khó kiểm soát lao

* Toàn cầu hóa

động trẻ em.

Toàn cầu hóa là một trong các nguyên nhân của lao động trẻ em. Toàn

cầu hóa có những tác động tích cực và tiêu cực. Toàn cầu hóa có thể cung cấp

cho các nƣớc đang phát triển cơ hội tăng trƣởng kinh tế qua đầu tƣ trực tiếp từ

nƣớc ngoài và giao lƣu thƣơng mại. Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng mang lại

ảnh hƣởng xấu đến lao động trẻ em ở các nƣớc đang phát triển. Trong những

năm gần đây, nhiều công ty quốc tế chuyển các nhà xƣởng sản xuất sang nƣớc

ngoài. Các công ty này thƣờng tuyển dụng lao động trẻ em do giá nhân công

rẻ, do một số nghề cần sự dẻo dai linh hoạt của trẻ và do trẻ em là đối tƣợng

yếu ớt, không chống lại đƣợc sự bóc lột, lạm dụng của chủ sử dụng lao động.

Đối với các nƣớc ví dụ nhƣ Việt Nam, Mexico và Thái Lan, có bằng chứng

cho thấy lao động trẻ em giảm do toàn cầu hóa, nhƣng các nƣớc nhƣ Bolivia

và Zambia đã cho thấy một sự suy giảm trong giáo dục và sự gia tăng lao

động trẻ em [47].

* Rào cản đối với giáo dục

Giáo dục cơ sở không phải là miễn phí tại tất cả các nƣớc và không phải

là mọi trẻ em đều đƣợc tiếp cận, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa. Chi phí cho

giáo dục hoặc việc cha mẹ không nhận thức đƣợc giá trị của giáo dục dẫn tới

việc trẻ em phải tham gia lao động thay vì đƣợc học tập. Thực tế là, tại nhiều

quốc gia đang phát triển, chất lƣợng giáo dục thấp do điều kiện cơ sở vật chất,

năng lực giáo viên yếu… Kết quả là cha mẹ cho rằng việc để các em làm việc

27

rèn luyện các kỹ năng phục vụ cho cuộc sống tốt hơn là việc để trẻ đến trƣờng

học tập. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi trẻ em không đƣợc đi học, các em

trở thành nguồn lao động tiềm năng làm gia tăng lao động trẻ em.

* Pháp luật và các chính sách bảo vệ trẻ em chưa hoàn chỉnh và còn

hạn chế trong việc thực thi cũng dẫn tới tình trạng lao động trẻ em gia tăng.

Ví dụ, đã có hơn 130 quốc gia ký kết điều ƣớc quốc tế quy định rằng trẻ em

có thể không làm việc toàn thời gian trƣớc khi họ 15 tuổi. Tuy nhiên, pháp

luật của các quốc gia này vẫn chƣa quy định rõ ràng và không đƣợc thực thi.

Ngƣời sử dụng lao động thƣờng có thể tìm thấy kẽ hở luật pháp để biện minh

cho việc tuyển dụng trẻ em lao động. Ngoài ra ở một số nƣớc không có một

hệ thống đăng ký khai sinh thống nhất, rất nhiều ngƣời không có giấy khai

sinh, việc này cùng với việc không có tài liệu hƣớng dẫn có thể dẫn tới trẻ em

bị từ chối tới trƣờng [47].

1.2.3. Tác động tiêu cực

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng lao động trẻ em không chỉ có tác

động tiêu cực đến đời sống và sự phát triển của bản thân trẻ, mà còn đến gia

đình, cộng đồng và quốc gia nơi trẻ sinh sống.

* Tác động tiêu cực của trẻ em với cộng đồng, quốc gia nơi trẻ sinh sống:

Lao động trẻ em làm tăng tỷ lệ mù chữ dẫn tới trình độ dân trí thấp,

nghèo đói gia tăng. Nguyên nhân là do trẻ em phải làm việc sớm, thƣờng là

những công việc lao động chân tay, không đƣợc giáo dục và đào tạo những kỹ

năng nghề nghiệp cần thiết để giúp các em có nghề nghiệp ổn định, thu nhập

cao khi trƣởng thành. Điều đó làm ảnh hƣởng tới sự phát triển kinh tế lâu dài

của đất nƣớc. Cũng vì thế mà lao động trẻ em ảnh hƣởng tiêu cực đến nguồn

nhân lực khiến cho năng lực cạnh tranh của quốc gia giảm sút khi tham gia

vào thị trƣờng thế giới, tạo ra những trở ngại lớn đối với sự phát triển của

quốc gia. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng lao động trẻ em ảnh hƣởng rõ rệt

28

tới nền kinh tế quốc gia thông qua các chỉ số, không chỉ hiện tại mà trong cả

tƣơng lai do chất lƣợng nguồn nhân lực kém. Rõ ràng, giữa nghèo đói và lao

động trẻ em có mối liên hệ chặt chẽ. Nghèo đói là một trong những nguyên

nhân dẫn tới lao động trẻ em và lao động trẻ em làm gia tăng tỷ lệ nghèo đói

trong tƣơng lai. Đây là một vòng luẩn quẩn khó có thể chấm dứt và do đó, lao

động trẻ em cần phải đƣợc ngăn ngừa và xóa bỏ.

Bên cạnh đó, lao động trẻ em sẽ dẫn tới các hậu quả xấu cho xã hội, trẻ

không đƣợc giáo dục dễ sa ngã phạm tội hoặc mắc phải các tệ nạn xã hội.

* Tác động tiêu cực của lao động trẻ em đến bản thân trẻ:

Về thể chất:

Do còn non nớt, thiếu kinh nghiệm, sức khỏe và sự dẻo dai

còn hạn chế, trẻ em dễ bị tổn thƣơng và gặp nhiều rủi ro về thể chất

hơn ngƣời lớn khi làm việc. Ví dụ, trẻ em lao động có thể bị tai nạn

dẫn tới bị thƣơng, bị chết hoặc tàn tật. Trẻ em làm việc trong những

điều kiện lao động không bảo đảm có thể phải đối mặt với những

vấn đề sức khỏe nghiêm trọng về lâu dài [37].

Các nghiên cứu cho thấy số lƣợng trẻ em làm việc trong các nhà máy

và hầm mỏ có sử dụng máy móc thiết bị công nghiệp, hóa chất, yêu cầu công

việc khó khăn, đối phó với động vật và côn trùng, hoặc tiếp xúc với nhiệt độ

rất cao hay rất thấp đều gây nguy hiểm cho sức khỏe của trẻ. Hơn nữa, trẻ em

có thể phải làm các công việc nhƣ mại dâm, phục vụ trong chiến tranh,và

trong hành vi buôn lậu, ma túy, dẫn đến việc bị lạm dụng và thậm chí có nguy

cơ tử vong.

Về tâm lý: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, lao động trẻ em thậm chí

còn gây ra những hậu quả về tâm lý của trẻ hơn là về thể chất.

Hậu quả tâm lý gây ra cho trẻ em lao động có thể bao gồm:

chậm phát triển về trí tuệ; thiếu tự tin, khó hòa nhập xã hội, gặp khó

29

khăn trong việc tạo lập các mối quan hệ; có thái độ bạo lực hoặc

các hành vi phạm tội, sử dụng chất kích thích; hoặc tâm trạng trầm

cảm, lo lắng, thậm chí có ý định tự hủy hoại bản thân [37].

Về nhận thức: Trong nhiều trƣờng hợp, khả năng nhận thức của trẻ em

bị ảnh hƣởng do công việc mà trẻ phải làm, ví dụ nhƣ suy giảm năng lực nhận

thức, giao tiếp và thực hành - những yếu tố cốt yếu để trẻ em thích nghi xã hội

và có điều kiện sống tốt hơn.

Về giáo dục:

Lao động nặng nhọc hoặc nhiều thời gian có thể khiến trẻ

em phải bỏ học sớm hoặc giảm khả năng tiếp thu trong quá trình

học tập. Tuy nhiên, phổ biến hơn là lao động tƣớc đi của trẻ em

thời gian cần thiết cho việc học tập, và vì vậy thành tích học tập

của các em giảm sút, kỹ năng học tập yếu, bị thụt lùi so với bạn

bè, bị bỏ mặc hoặc gặp khó khăn khi hòa nhập với bạn học [37].

Nhìn chung, lao động trẻ em là vấn đề phức tạp, có những tác động

tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ, ảnh hƣởng tới các quyền cơ bản

của trẻ. Bên cạnh đó, nó còn gây ra những hậu quả cho cộng đồng và xã hội,

cho sự phát triển bền vững của quốc gia, bởi trẻ em chính là thế hệ tƣơng lai

của đất nƣớc.

1.3. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ

LAO ĐỘNG TRẺ EM

1.3.1. Mục đích

Lao động trẻ em hiện nay đang là vấn đề toàn cầu, diễn ra ở mọi quốc

gia và khu vực. Bên cạnh đó, lao động trẻ em xuất phát từ nhiều nguyên nhân:

bối cảnh gia đình, nghèo đói, bất ổn về chính trị và xã hội, toàn cầu hóa… Do

đó, ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là vấn đề vô cùng phức tạp và không

thể giải quyết đƣợc một cách nhanh chóng mà cần sự phối hợp, kiên trì và nỗ

lực của các quốc gia, các tổ chức trên toàn thế giới.

30

Hành động để chống lại lao động trẻ em có cơ sở từ pháp luật quốc tế

về lao động và chủ yếu trong Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em, Công ƣớc số

138 về tuổi lao động tối thiểu và Công ƣớc số 182 về cấm và hành động ngay

lập tức nhằm xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất của ILO. Chính

sách của ILO đƣợc củng cố bởi những nỗ lực của cộng đồng quốc tế để đạt

đƣợc các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, để vƣợt qua những trở ngại đối với

việc đạt đƣợc giáo dục cho mọi ngƣời và thực hiện Kế hoạch toàn cầu hành

động phù hợp để loại bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.

Mục đích trƣớc tiên của việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là

loại bỏ các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em. Đây là mục tiêu cần ƣu

tiên hành động ngay lập tức, đƣợc xác định trong Công ƣớc của ILO về các

hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em năm 1999 (số 182). Để thực hiện

đƣợc mục tiêu này, cần xác định những công việc gây tổn hại về thể chất, tâm

lý, nhận thức, đạo đức và không thể chấp nhận đƣợc với trẻ em và đƣa ra các

biện pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật, về chính sách kinh tế, xã hội có liên

quan, đồng thời xây dựng các chƣơng trình mục tiêu quốc gia nhằm đảm bảo

thực thi hiệu quả các biện pháp trên.

Mục đích tiếp theo là bảo vệ trẻ em lao động khỏi những tác động xấu.

Điều này cần thiết có một hệ thống pháp luật quy định rõ ràng về cơ chế quản

lý lao động trẻ em, các tiêu chuẩn về lao động trẻ em nhƣ độ tuổi tối thiểu,

điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi… Đây là những biện

pháp trƣớc tiên có thể giúp kiểm soát và ngăn ngừa lao động trẻ em.

Bên cạnh đó, cần tiến hành các biện pháp hỗ trợ nhƣ nâng cao giáo dục

cho trẻ em, chính sách xóa đói giảm nghèo... Bậc giáo dục cơ sở cần đƣợc

miễn phí ở tất cả các quốc gia, cần cải thiện hệ thống giáo dục một cách triệt

để, từ cơ sở hạ tầng tới chất lƣợng giáo dục, cắt giảm chi phí đào tạo nhằm

tăng tỷ lệ trẻ em đƣợc tới trƣờng. Trẻ đƣợc tới trƣờng thay vì phải tham gia

31

làm việc, trẻ cũng đƣợc giáo dục những kiến thức cơ bản, học nghề, tập

nghề… Đây là biện pháp không chỉ giúp giảm thiểu, ngăn ngừa lao động trẻ

em mà còn giúp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực quốc gia trong tƣơng lai.

Chính sách xóa đói giảm nghèo đƣợc thực hiện tốt cũng làm giảm một cách

đáng kể tình trạng lao động trẻ em vì đây là một trong những nguyên nhân

chính của tình trạng này.

Mục đích lâu dài của việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là

không còn lao động trẻ em trên toàn thế giới. Đây là mục đích cộng đồng

quốc tế đều đang hƣớng tới và đƣợc nêu ra ngay tại điều 1 Công ƣớc số 138

của ILO. Trẻ em không còn phải tham gia làm việc với thời gian kéo dài,

trong những môi trƣờng độc hại làm ảnh hƣởng tới sự phát triển của trẻ. Các

quyền cơ bản của trẻ cũng đƣợc đảm bảo: quyền đƣợc học tập, quyền vui

chơi, giải trí… Tuy nhiên, thực sự rất khó khăn và mất nhiều thời gian cùng

nỗ lực mới có thể đạt đƣợc mục tiêu này.

Để đạt đƣợc các mục đích kể trên, cần có sự phối hợp giữa các chính

phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội dân sự và cả các cá nhân trên toàn

thế giới, trong đó đặc biệt quan trọng là vai trò của chính phủ.

1.3.2. Ý nghĩa

Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em có ý nghĩa vô cùng lớn đối với

việc phát triển toàn diện của trẻ, sự phát triển quốc gia và tiến bộ xã hội.

Đối với bản thân trẻ: Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em giúp trẻ

không phải tham gia làm các công việc ảnh hƣởng tới sức khỏe, tâm lý, đạo

đức của trẻ. Trẻ đƣợc phát triển bình thƣờng và đƣợc đảm bảo các quyền cơ

bản. Trẻ đƣợc tới trƣờng ít nhất là ở bậc giáo dục cơ sở và có cơ hội học đƣợc

những kiến thức nền tảng cần thiết, giúp ích cho sự phát triển và cơ hội nghề

nghiệp trong tƣơng lai.

Đối với cộng đồng, quốc gia: Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em có

32

ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và sự phát triển bền vững của

quốc gia. Lao động trẻ em đƣợc loại bỏ, các em có cơ hội đƣợc học tập nhiều

hơn, cả giáo dục cơ bản và học nghề, tập nghề. Điều này có ý nghĩa trong việc

nâng cao trình độ dân trí và chất lƣợng nguồn nhân lực của đất nƣớc. Đây là

yếu tố giúp kinh tế phát triển về lâu dài. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giữa

nghèo đói và lao động trẻ em có mối liên hệ chặt chẽ, ngăn ngừa và loại bỏ

đƣợc lao động trẻ em sẽ làm giảm tỷ lệ nghèo đói trong tƣơng lai.

Trẻ em là thế hệ tƣơng lai của đất nƣớc. Trẻ em đƣợc chăm sóc, bảo vệ

và tạo điều kiện phát triển toàn diện cũng chính là đầu tƣ cho sự phát triển

tƣơng lai của đất nƣớc.

Bên cạnh đó, nhƣ đã phân tích trên đây, lao động trẻ em dễ dẫn tới các

hậu quả xấu cho xã hội, trẻ không đƣợc giáo dục dễ sa ngã phạm tội hoặc mắc

phải các tệ nạn xã hội. Lao động trẻ em có nhiều hình thức, trong đó có cả

buôn bán trẻ em, sử dụng hay lôi kéo trẻ em tham gia vào các hành vi phạm

tội… Nếu không loại bỏ đƣợc các hình thức lao động trẻ em này, các tội

phạm có liên quan sẽ ngày càng gia tăng và khó kiểm soát. Vì vậy, loại bỏ lao

động trẻ em có ý nghĩa rất lớn đối với đảm bảo an ninh, trật tự xã hội.

Trẻ em là chủ thể, thế hệ đại diện cho sự phát triển của thế giới trong

tƣơng lai. Do đó, trẻ em cần đƣợc tạo mọi điều kiện có thể để đảm bảo các

quyền cơ bản và phát triển toàn diện. Ngăn ngừa và loại bỏ lao động trẻ em

đóng vai trò rất lớn trong mục tiêu này. Cần nhận thức đầy đủ và cụ thể về

mục đích, ý nghĩa của ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em để đƣa ra các biện

pháp hiệu quả và kịp thời nhằm loại bỏ lao động trẻ em trong một tƣơng lai

không xa. Đây cũng chính là mục tiêu theo đuổi chung của nhân loại.

33

Kết luận Chƣơng 1

Lao động trẻ em hiện nay là vấn đề của nhiều quốc gia. Lao động trẻ

em không chỉ gây ra những tác động tiêu cực đối với bản thân trẻ mà còn ảnh

hƣởng tới sự phát triển của cộng đồng, xã hội và quốc gia. Lao động trẻ em

bắt nguồn từ các nguyên nhân chủ yếu nhƣ: nghèo đói, hoàn cảnh gia đình,

giáo dục, yếu tố truyền thống văn hóa, bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội… và

đặc biệt là khuôn khổ pháp luật về lao động trẻ em còn chƣa hoàn chỉnh dẫn

tới tình trạng lao động trẻ em gia tăng và khó kiểm soát. Do đó, ngăn ngừa và

xóa bỏ lao động trẻ em đang là mục tiêu cộng đồng quốc tế hƣớng tới. Tuy

nhiên, không thể xóa bỏ ngay lập tức lao động trẻ em, cần phải xác định các

mục tiêu ƣu tiên nhằm tiến tới loại bỏ lao động trẻ em trong tƣơng lai, đó là

xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và tiến hành các biện pháp

bảo vệ trẻ em lao động một cách triệt để nhất. Để đạt đƣợc các mục đích kể

trên, cần có sự phối hợp giữa các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức

xã hội dân sự và cả các cá nhân trên toàn thế giới, trong đó đặc biệt quan

trọng là vai trò của chính phủ.

34

Chương 2

KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM

2.1. KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NGĂN NGỪA VÀ

XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM

2.1.1. Khái quát các văn bản pháp luật quốc tế về ngăn ngừa và xóa

bỏ lao động trẻ em

2.1.1.1. Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945

Hiến chƣơng Liên hợp quốc đƣợc ban hành ngay sau khi chiến tranh thế

giới thứ hai kết thúc vào năm 1945. Đây là văn kiện quốc tế rất quan trọng,

không chỉ là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng thành lập Liên hợp quốc mà còn

là văn kiện ghi nhận sự bảo vệ quyền con ngƣời trên phạm vi toàn cầu.

Điều 1 của Hiến chƣơng xác định mục đích của Liên hợp quốc là:

Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề

quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo và khuyến khích phát

triển sự tôn trọng các quyền con ngƣời và tự do cho tất cả mọi ngƣời

không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo [14].

Hiến chƣơng kêu gọi tất cả các nƣớc cùng phối hợp hành động với Liên

hợp quốc để đạt đƣợc việc tôn trọng và thực hiện quyền con ngƣời trên phạm vi

toàn cầu, trong đó có quyền trẻ em.

2.1.1.2. Bộ luật quốc tế về nhân quyền

Khái niệm “Bộ luật quốc tế về nhân quyền” là thuật ngữ chỉ tập hợp ba

văn kiện quốc tế cơ bản trên lĩnh vực này, đó là Tuyên ngôn toàn thế giới về

quyền con ngƣời năm 1948, Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị

và Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (hai công ƣớc này

cùng đƣợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1966). Ngoài ra, theo

35

một số tài liệu, các nghị định thƣ bổ sung của hai công ƣớc cơ bản về quyền

con ngƣời năm 1966 cũng là những bộ phận cấu thành của bộ luật này.

* Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948

Ngày 10-12-1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Tuyên

ngôn thế giới về quyền con ngƣời (gọi chung là Tuyên ngôn). Đây là văn kiện

đầu tiên của bộ luật quốc tế về quyền con ngƣời, áp dụng cho tất cả mọi ngƣời,

không phân biệt vì bất cứ yếu tố gì.

Mục tiêu cuối cùng của Tuyên ngôn là làm cho tất cả các cá nhân, các tổ

chức xã hội, các quốc gia, dân tộc nỗ lực tôn trọng và thúc đẩy việc thực hiện

các quyền con ngƣời.

Tuyên ngôn gồm 30 điều quy định về các quyền và một điều quy định về

bảo vệ Tuyên ngôn. Trong đó, điều 25 quy định “Phụ nữ và trẻ em cần được

chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt” [15].

Điều 29 của Tuyên ngôn đề cập tới nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng

đồng, theo đó khi thực hiện các quyền và tự do của bản thân mình, mỗi cá nhân

phải bảo đảm là việc đó không ảnh hƣởng đến việc hƣởng thụ các quyền, tự do

của ngƣời khác hoặc làm tổn hại đến những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật

tự xã hội hay lợi ích chung của cộng đồng. Việc quy định nghĩa vụ này cũng có

ý nghĩa đối với việc ngăn ngừa lạm dụng, bóc lột trẻ em, vì đây là hành động

ảnh hƣởng nghiêm trọng tới các quyền cơ bản của trẻ.

* Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966

Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị có hiệu lực từ ngày 23-

3-1976, gồm 53 điều. Việt Nam đã gia nhập Công ƣớc này vào ngày 24-9-1982.

Toàn bộ các điều từ điều 6 đến điều 27 của Công ƣớc quy định về các

quyền cụ thể của con ngƣời trong lĩnh vực dân sự và chính trị. Trong đó có các

quyền đƣợc bảo vệ không bị bắt giữ làm nô lệ hay nô dịch; bị lao động bắt

buộc hay cƣỡng bức; quyền đƣợc tôn trọng và bảo đảm tính mạng, danh dự,

36

nhân phẩm… của tất cả mọi ngƣời, bao gồm cả trẻ em. Điều 24 Công ƣớc này

đề cập đến quyền của trẻ em đƣợc gia đình, xã hội và Nhà nƣớc bảo hộ. Đây là

những tiền đề rất quan trọng để bảo vệ trẻ em khỏi những hình thức xâm hại,

bóc lột và lạm dụng.

* Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966

Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa có hiệu lực từ

ngày 03-01-1976. Việt Nam đã gia nhập Công ƣớc này vào ngày 24-9-1982.

Một trong các nguyên tắc của Công ƣớc là chú trọng đến việc đảm bảo

các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội đối với các nhóm yếu thế và dễ bị tổn

thƣơng, bao gồm cả trẻ em.

Điều 10 Công ƣớc khẳng định:

Cần áp dụng những biện pháp bảo vệ và trợ giúp đặc biệt đối

với mọi trẻ em và thanh thiếu niên mà không có bất kỳ sự phân biệt

đối xử nào vì các lý do xuất thân hoặc các điều kiện khác. Trẻ em

và thanh thiếu niên cần đƣợc bảo vệ để không bị bóc lột về kinh tế

và xã hội. Việc thuê trẻ em và thanh thiếu niên làm các công việc có

hại cho tinh thần, sức khoẻ hoặc nguy hiểm tới tính mạng, hay có

hại tới sự phát triển bình thƣờng của các em phải bị trừng trị theo

pháp luật. Các quốc gia cần định ra những giới hạn về độ tuổi mà

việc thuê lao động trẻ em dƣới hạn tuổi đó phải bị pháp luật nghiêm

cấm và trừng phạt [16].

2.1.1.3. Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989

Trong số các công ƣớc của Liên hợp quốc có liên quan đến lao động trẻ

em, Công ƣớc về quyền trẻ em có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Công ƣớc

đƣợc Liên hợp quốc thông qua ngày 20-11-1989, có hiệu lực từ ngày 02-9-

1990 và là điều ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời của Liên hợp quốc có số

lƣợng quốc gia thành viên cao nhất từ trƣớc đến nay. Việt Nam là nƣớc đầu

37

tiên ở châu Á và là nƣớc thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ƣớc này. Công

ƣớc về quyền trẻ em là công ƣớc đầu tiên đề cập khá toàn diện và đầy đủ đến

các quyền trẻ em theo xu hƣớng tiến bộ. Nó xác định một tập hợp các quyền

và tự do của trẻ em trên tất cả các lĩnh vực, nhằm mục đích bảo đảm sự sống

còn, phát triển toàn diện và bảo vệ trẻ em trƣớc các nguy cơ bị xâm hại. Công

ƣớc này vừa là cơ sở lý luận, vừa là công cụ bổ trợ hữu hiệu cho các văn kiện

cơ bản của ILO về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Các nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho Công ƣớc là:

(a) Trẻ em cũng là những con ngƣời, có vị thế bình đẳng với ngƣời lớn

về phƣơng diện chủ thể của quyền;

(b) Tất cả trẻ em trên thế giới đều đƣợc hƣởng các quyền quy định trong

Công ƣớc, bất kể dân tộc, chủng tộc, giới tính, tôn giáo, xuất thân gia đình…;

(c) Trong mọi hoạt động có liên quan đến trẻ em, Nhà nƣớc, cha mẹ và

các chủ thể khác luôn phải dành lợi ích tốt nhất cho trẻ;

(d) Các chủ thể khác phải tôn trọng ý kiến, quan điểm của trẻ em,

nguyên tắc này nhằm bảo đảm trẻ em thực sự là chủ thể của quyền.

Công ƣớc đã đƣa ra một định nghĩa chung về trẻ em làm cơ sở cho việc

thực hiện các quyền của trẻ em trên toàn thế giới mà không có sự phân biệt về

bất cứ yếu tố nào nhƣ chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa…

Quan trọng hơn, Công ƣớc đã xác lập một tập hợp các quyền trẻ em mà

có nhiều quyền trƣớc đó chƣa từng đƣợc pháp điển hóa trong luật quốc tế, tạo

ra một khuôn khổ các thỏa thuận quốc tế về những tiêu chuẩn tối thiểu cần

thiết bảo đảm cho trẻ em đƣợc bảo vệ, chăm sóc một cách có hiệu quả và

đƣợc phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tình cảm và đạo đức xã hội.

Trong đó, các quyền quan trọng nhất là quyền đƣợc học tập; quyền đƣợc nghỉ

ngơi và giải trí; quyền đƣợc bảo vệ khỏi bị bóc lột về kinh tế và phải làm các

công việc có hại tới sức khỏe, sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo

38

đức hoặc ảnh hƣởng đến việc học tập của trẻ; quyền đƣợc bảo vệ khỏi bị lôi

kéo vào sử dụng, sản xuất, buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy; quyền đƣợc

bảo vệ trƣớc các hình thức bóc lột và xâm hại tình dục.

Công ƣớc cũng đề cập đến việc giải quyết những thách thức cấp bách

mà trẻ em đang gặp phải nhƣ lạm dụng tình dục trẻ em, bóc lột lao động,

buôn bán trẻ em, trẻ em bị buộc cầm súng, tác động của ma túy với trẻ em…

và xác định những biện pháp nhằm xóa bỏ những vấn đề cấp bách đó.

Nhằm bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc lột về kinh tế, điều 32 Công ƣớc quy định:

Các quốc gia thành viên công nhận quyền của trẻ em đƣợc bảo

vệ không bị bóc lột về kinh tế và không phải làm bất cứ công việc gì

nguy hiểm hoặc ảnh hƣởng đến việc học hành của trẻ em, hoặc có

hại đối với sức khỏe hay sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần,

đạo đức hay xã hội của trẻ em [18].

Tại điều này cũng yêu cầu nhà nƣớc phải áp dụng các biện pháp để ngăn

chặn, đặc biệt là ấn định tuổi tối thiểu cho việc tuyển dụng lao động, quy định

thời gian làm việc và điều kiện lao động cũng nhƣ các hình thức xử phạt việc

sử dụng lao động trẻ em.

Công ƣớc về quyền trẻ em và Công ƣớc về các quyền kinh tế, xã hội và

văn hóa đều tiếp cận theo hƣớng bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc lột về kinh tế thay

vì thiết lập quy định chung về lao động trẻ em. Các quốc gia cần phải tham

chiếu và vận dụng hai công ƣớc quan trọng nhất của ILO về vấn đề lao động trẻ

em, đó là Công ƣớc số 138 về tuổi lao động tối thiểu (1973) và Công ƣớc số

182 về hành động ngay lập tức để xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi

tệ nhất (1999).

Ngoài ra, Liên hợp quốc cũng đã ban hành hai Nghị định thƣ không bắt

buộc, đó là “Nghị định thƣ về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa

phẩm khiêu dâm trẻ em” và “Nghị định thƣ về việc sử dụng trẻ em trong xung

39

đột vũ trang”. Hai văn bản này đề cập đến việc xóa bỏ hai trong số những

dạng lao động trẻ em tồi tệ nhất là việc cƣỡng bức trẻ em tham gia chiến tranh

và việc buôn bán, bóc lột tình dục trẻ em. Việt Nam đã phê chuẩn hai Nghị

định thƣ này vào ngày 11-9-2011.

Nhƣ vậy, mặc dù không đề cập riêng về vấn đề lao động trẻ em, nhƣng

Công ƣớc về quyền trẻ em là cơ sở để xây dựng và thực hiện Công ƣớc số

138 và 182 của ILO. Đây đều là những văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng

trong việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

2.1.1.4. Các Công ước và Khuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế

(ILO) về lao động trẻ em

* Vai trò và hoạt động của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong việc

xây dựng các công ước quốc tế về lao động trẻ em

Kể từ khi thành lập vào năm 1919 đến nay, ILO đã thông qua 188 Công

ƣớc và 199 Khuyến nghị, trong đó có 08 Công ƣớc đƣợc coi là các công ƣớc

cơ bản, điều chỉnh bốn nhóm quyền và nghĩa vụ cơ bản tại nơi làm việc, đó là:

loại bỏ mọi hình thức lao động cƣỡng ép hoặc bắt buộc; xóa bỏ lao động trẻ

em và đặt ƣu tiên hàng đầu là loại trừ những hình thức lao động tồi tệ nhất;

tạo cơ hội công bằng và chống phân biệt đối xử về việc làm; tự do liên kết và

quyền đƣợc thƣơng thuyết tập thể.

Cũng trong số các công ƣớc và khuyến nghị do ILO ban hành, có

khoảng 30 văn kiện đề cập đến việc bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức bóc lột

và lạm dụng sức lao động. Các công ƣớc về lao động trẻ em bao gồm: Công

ƣớc số 5 năm 1919 về tuổi tối thiểu trong công nghiệp; Công ƣớc số 6 năm

1919 về làm việc ban đêm của trẻ em trong công nghiệp; Công ƣớc số 7 năm

1920 về tuổi tối thiểu làm việc trên biển; Công ƣớc số 10 năm 1921 về tuổi tối

thiểu trong nông nghiệp…

Hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế về lao động của ILO có liên quan đến

40

bảo vệ trẻ em chủ yếu gồm quy định tuổi tối thiểu đƣợc phép nhận vào làm

việc, cấm sử dụng trẻ em làm việc ban đêm, kiểm tra sức khỏe cho trẻ em lao

động và xóa bỏ ngay những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.

Trong số các Công ƣớc của ILO, có hai công ƣớc quan trọng nhất và là nền

tảng cho việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là Công ƣớc số 138 năm 1973

về độ tuổi lao động tối thiểu của ILO và Công ƣớc số 182 năm 1999 về cấm và

hành động ngay lập tức để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.

* Công ước số 138 năm 1973 về độ tuổi lao động tối thiểu của ILO

Để đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ

em, quy định về độ tuổi lao động tối thiểu là nền tảng cơ sở. Từ quy định này,

các quốc gia mới có thể thực thi đƣợc các biện pháp giảm thiểu trẻ em phải

lao động ở độ tuổi quá nhỏ hoặc phải làm các công việc nguy hại, ngăn ngừa

và dần tiến tới xóa bỏ lao động trẻ em.

Xuất phát từ nhận thức đó, ngay sau khi đƣợc thành lập vào năm 1919,

ILO đã thông qua một loạt công ƣớc về tuổi lao động tối thiểu áp dụng trong

những ngành nghề, công việc khác nhau nhƣ công nghiệp, nông nghiệp, công

việc dƣới mặt đất trong hầm mỏ… thƣờng đƣợc gọi là các Công ƣớc về tuổi

tối thiểu. Tuy nhiên các công ƣớc này mới chủ yếu xoay quanh độ tuổi lao

động tối thiểu trong một số ngành nghề, trong khi thực tế là có nhiều công

việc khác thậm chí còn mang tính chất nguy hại hơn.

Sự ra đời của Công ƣớc số 138 vào năm 1973 đã đánh dấu một bƣớc

phát triển quan trọng trong việc giải quyết vấn đề lao động trẻ em và cho thấy

vai trò rõ ràng của Tổ chức Lao động quốc tế ILO. Công ƣớc ra đời với mục

tiêu là công ƣớc toàn diện nhất về lao động trẻ em cho đến thời điểm đó, vì nó

thay thế cho các công ƣớc trƣớc đây chỉ quy định độ tuổi tối thiểu trong một số

lĩnh vực, ngành nghề. Công ƣớc số 138 đã cố gắng xác định một cách rõ ràng

các quy định đƣợc đƣa ra ở các Công ƣớc về tuổi lao động tối thiểu trƣớc.

41

Công ƣớc này cũng đƣa ra các khái niệm nhƣ công việc nhẹ, đƣa ra một

số loại trừ nhƣ trƣờng hợp trẻ em tham gia hoạt động nghệ thuật. Đây là các

yếu tố mới đƣợc đƣa ra nhằm cụ thể hóa các mức tuổi tối thiểu theo hƣớng

hợp lý nhất, phù hợp với tính chất từng loại hình công việc và phù hợp với sự

phát triển sức khỏe, tâm lý và đạo đức của trẻ.

Ngoài ra, Công ƣớc số 138 của ILO còn quan trọng ở chỗ nó đã đƣa

ra một chiến lƣợc mới để chống lại lao động trẻ em, đó là bãi bỏ hoàn toàn

lao động trẻ em. Ngay tại Điều 1 Công ƣớc đã yêu cầu các quốc gia thành

viên cam kết theo đuổi một chính sách quốc gia đƣợc xây dựng để bảo đảm

việc xóa bỏ một cách hiệu quả tình trạng lao động trẻ em và để nâng dần độ

tuổi tối thiểu đƣợc tuyển dụng vào làm việc hoặc đƣợc tham gia lao động

tới độ tuổi mà thanh thiếu niên đạt đƣợc mức độ phát triển đầy đủ nhất về

thể chất và trí lực.

ILO cũng đã ban hành Khuyến nghị số 146 về độ tuổi lao động tối

thiểu, đây là văn kiện bổ trợ cho Công ƣớc số 138, đƣa ra bổ sung trong việc

xác định độ tuổi lao động tối thiểu, hƣớng dẫn về công việc nguy hại và các

điều khoản thực thi Công ƣớc và Khuyến nghị.

* Công ước số 182 năm 1999 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa

bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất

Công ƣớc số 182 cũng nhƣ Công ƣớc số 138 là một trong tám công ƣớc

cơ bản của ILO và là một trong những văn kiện quốc tế quan trọng nhất về

vấn đề lao động trẻ em. Trƣớc khi Công ƣớc này đƣợc thông qua, ILO đã ban

hành nhiều công ƣớc, trong đó có Công ƣớc số 138 đƣợc coi là văn kiện có

cách tiếp cận toàn diện về vấn đề lao động trẻ em. Trong khi đó, lao động trẻ

em là một vấn đề rộng lớn, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực chính trị,

kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc biệt là gắn liền với tình trạng đói nghèo, kém

phát triển, nên không thể giải quyết trong thời gian ngắn. Bởi vậy, cần phải

42

xác định những ƣu tiên trong hành động để thực hiện dần mục tiêu này, cụ thể

là phải tập trung xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất - tình

trạng mà đang tác động nghiêm trọng đến sự sống còn, phát triển toàn diện và

đặt ra những vấn đề cấp thiết về quyền con ngƣời của trẻ em.

Xuất phát từ nhận thức kể trên, Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao

động quốc tế, trong phiên họp lần thứ 87 ngày 01-6-1999, đã thông qua Công

ƣớc số 182 về cấm và hành động ngay để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ

em tồi tệ nhất. Công ƣớc có hiệu lực từ ngày 19-11-2000 và hiện có hơn 140

quốc gia thành viên. Việt Nam đã phê chuẩn Công ƣớc này ngày 19-12-2000.

Bên cạnh sự khác biệt về ƣu tiên hành động, còn có một vài điểm khác

biệt giữa Công ƣớc số 182 và Công ƣớc số 138, cụ thể là:

Một là, theo Công ƣớc 138, việc giải quyết vấn đề lao động

trẻ em là một quá trình lâu dài, phụ thuộc vào hoàn cảnh, mức độ

phát triển của mỗi quốc gia trong khi đó Công ƣớc 182 đòi hỏi việc

xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất phải đƣợc thực hiện

ngay, trong một thời gian xác định, bất kể hoàn cảnh và mức độ

phát triển của các quốc gia.

Hai là, nếu nhƣ Công ƣớc 138 quy định một khuôn khổ chiến

lƣợc quốc gia nhằm xóa bỏ lao động trẻ em căn cứ vào hoàn cảnh

của mỗi quốc gia thì Công ƣớc 182 đặt việc xóa bỏ các hình thức

lao động trẻ em tồi tệ nhất lên vị trí ƣu tiên cao nhất trong khuôn

khổ chiến lƣợc này.

Ba là, Công ƣớc 138 phân biệt giữa các nƣớc có trình độ phát

triển kinh tế và giáo dục khác nhau qua việc đƣa ra những mức độ tuổi

lao động tối thiểu tƣơng ứng với các hoàn cảnh thông thƣờng và các

hoàn cảnh đặc thù còn Công ƣớc 182 không có sự phân biệt nhƣ vậy.

Công ƣớc này áp dụng nhƣ nhau cho tất cả các nƣớc, với tất cả trẻ em

không phân biệt trai hay gái dƣới 18 tuổi [37].

43

Tuy có những khác biệt nhất định, cả hai công ƣớc có sự liên kết với

nhau trong một mục đích chung là giải quyết vấn đề lao động trẻ em. Công ƣớc

182 không sửa đổi, thay thế hoặc gây bất cứ ảnh hƣởng gì đến việc phê chuẩn

hay thực hiện Công ƣớc 138. Công ƣớc 138 vẫn giữ vai trò nền tảng cho việc

giải quyết vấn đề lao động trẻ em. Việc ban hành Công ƣớc 182 chỉ nhằm hỗ

trợ cho Công ƣớc 138, qua việc tập trung xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em

tồi tệ nhất, coi đó là những mục tiêu ƣu tiên so với các hình thức lao động trẻ

em khác. Bởi vậy, trong một số trƣờng hợp, việc một quốc gia tham gia Công

ƣớc 182 có thể coi là một bƣớc đi tiến tới việc tham gia Công ƣớc 138, tức là

tiến tới cam kết xóa bỏ hoàn toàn các hình thức lao động trẻ em.

Khuyến nghị số 190 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ lao

động trẻ em đƣợc ILO ban hành nhằm bổ sung những quy định của Công ƣớc

số 182 và đƣợc khuyến nghị nên đƣợc áp dụng cùng với Công ƣớc.

* Ngoài ra, khi nói đến khuôn khổ pháp lý quốc tế về lao động trẻ em,

còn cần kể đến Chương trình quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em của ILO (the

International Programme on the Elimination of Child Labour - IPEC). Đây là

một chƣơng trình hành động toàn cầu do ILO triển khai từ năm 1992 nhằm

giúp các quốc gia thành viên tăng cƣờng năng lực giải quyết vấn đề lao động

trẻ em, tiến tới xóa bỏ dần tình trạng lao động trẻ em. Mặc dù chƣơng trình này

không phải là một điều ƣớc quốc tế, song nó có ý nghĩa rất to lớn đối với việc

ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em trên thế giới do nó thể hiện cam kết

chung của cộng đồng quốc tế trong vấn đề này, mặt khác nó cung cấp những hỗ

trợ kỹ thuật rất hữu ích cho các quốc gia trong việc xây dựng và thực thi các

chính sách, pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Các vấn đề về lao động trẻ em đƣợc IPEC tập trung giải quyết đó là:

những công việc độc hại, bóc lột, lao động cƣỡng bức hay trong các điều kiện

dễ bị tổn thƣơng nhất, lao động của trẻ em gái và trẻ em dƣới 12 tuổi.

Các hoạt động cụ thể mà IPEC thƣờng hợp tác với các quốc gia bao gồm:

44

(a) Đánh giá, phân tích tình hình lao động trẻ em và xác định

những nhóm đối tƣợng cần ƣu tiên trợ giúp, can thiệp;

(b) Hỗ trợ xây dựng kế hoạch hành động quốc gia về xóa bỏ

lao động trẻ em, trong đó xác định rõ chiến lƣợc, mục tiêu và biện

pháp hành động cụ thể, phân công trách nhiệm, dự trù kinh phí và

thời gian cần thiết cho các hoạt động, phù hợp với các tiêu chuẩn

quốc tế có liên quan;

(c) Tạo lập và củng cố sự thống nhất về quan điểm và hành động

giữa các chủ thể tham gia thực hiện kế hoạch hành động quốc gia;

(d) Tổ chức thực hiện các kế hoạch hành động quốc gia đã đƣợc

xây dựng;

(e) Giám sát, đánh giá hiệu quả tác động của các kế hoạch

hành động quốc gia [37].

2.1.2. Pháp luật quốc tế về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

2.1.2.1. Quy định về độ tuổi lao động tối thiểu

Công ƣớc số 138 đã xác định ba mức tuổi tối thiểu áp dụng chung cho

mọi quốc gia, có thể khái quát qua bảng dƣới đây:

Bảng 2.1: Mức tuổi lao động tối thiểu xác lập theo Công ước số 138 của ILO

Tuổi tối thiểu Tuổi tối thiểu ngoại lệ, áp dụng Mức tuổi lao động áp dụng chung cho các quốc gia cho mọi quốc gia đang phát triển

Tuổi tối thiểu cơ bản (Điều 2) 15 tuổi 14 tuổi

Tuổi tối thiểu áp dụng với các công việc nguy hại (Điều 3) Không có ngoại lệ với bất cứ quốc gia nào 18 tuổi (16 tuổi trong một số trƣờng hợp, có điều kiện đi kèm)

13-15 tuổi 12-14 tuổi Tuổi tối thiểu áp dụng với các công việc nhẹ nhàng (Điều 7)

Nguồn: Bộ tài liệu tập huấn về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

45

Thứ nhất, theo Khoản 3 điều 2 Công ƣớc, 15 tuổi là mức tuổi lao động

tối thiểu phổ biến mà các quốc gia thành viên phải nêu rõ trong bản tuyên bố

kèm theo văn bản phê chuẩn Công ƣớc. Từ độ tuổi này có thể đƣợc tuyển

dụng hoặc làm các công việc không có tính chất nguy hại. Tuy nhiên, mức

tuổi này phải không đƣợc thấp hơn độ tuổi kết thúc chƣơng trình giáo dục bắt

buộc. Điều đó có nghĩa là khi xác định độ tuổi lao động tối thiểu phổ biến, các

quốc gia phải căn cứ vào độ tuổi kết thúc chƣơng trình giáo dục bắt buộc và

độ tuổi này phải luôn luôn bằng hoặc cao hơn tuổi hoàn thành chƣơng trình

giáo dục bắt buộc.

Khuyến nghị số 146, tại Đoạn 7 mục II yêu cầu các quốc gia thành viên

cần đặt ra mục tiêu nâng dần độ tuổi lao động tối thiểu lên 16 tuổi và khuyến

cáo các quốc gia mà độ tuổi tối thiểu vẫn dƣới 15 tuổi đối với những công

việc quy định tại Điều 2 Công ƣớc số 138 thì cần thực hiện ngay các bƣớc để

nâng lên 15 tuổi bằng với mức quy định của Công ƣớc.

Thứ hai, theo Khoản 1 điều 3 Công ƣớc, 18 tuổi là mức tuổi lao động

tối thiểu cho phép đối với công việc hoặc nghề nghiệp nào mà do tính chất

hoặc điều kiện tiến hành có thể gây hại cho sức khỏe, an toàn hoặc đạo đức

của thanh thiếu niên. Những loại việc làm hoặc lao động này sẽ do pháp luật

quy định hoặc do cơ quan có thẩm quyền xác định, sau khi tham khảo ý kiến

tổ chức của ngƣời sử dụng lao động và của ngƣời lao động có liên quan.

Khuyến nghị số 146 cũng khuyến cáo:

Trƣờng hợp độ tuổi tối thiểu để đƣợc nhận vào làm các loại

công việc hoặc việc làm có thể gây tổn hại tới sức khoẻ, an toàn và

tinh thần của ngƣời trẻ tuổi dƣới 18 tuổi, cần thực hiện ngay các

bƣớc để tăng độ tuổi đó lên mức đã ấn định [32].

Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 3 điều 3 Công ƣớc, mặc dù độ tuổi

lao động tối thiểu với các công việc nguy hại là 18, sau khi tham khảo ý kiến

46

của tổ chức của ngƣời sử dụng lao động và của ngƣời lao động có liên quan,

pháp luật quốc gia hoặc các nhà chức trách có thẩm quyền vẫn có thể cho

phép các thanh thiếu niên đƣợc sử dụng hoặc đi làm việc ngay từ độ tuổi 16,

với điều kiện là an toàn và đạo đức của họ phải đƣợc bảo đảm đầy đủ và

những thanh thiếu niên này phải đƣợc hƣớng dẫn hay đào tạo một cách cụ thể

và thích đáng để làm các công việc tƣơng ứng. Đây là mức tuổi tối thiểu có

điều kiện mà các quốc gia trong hoàn cảnh thông thƣờng hay quốc gia có điều

kiện đặc thù đều có thể áp dụng

Thứ ba, từ 13 đến 15 tuổi là mức tuổi tối thiểu mà có thể cho phép

tuyển dụng hoặc tham gia lao động trong những công việc nhẹ mà không có

khả năng gây tổn hại đến sức khỏe hoặc sự phát triển của trẻ và không ảnh

hƣởng đến việc học tập, việc tham gia vào những chƣơng trình hƣớng

nghiệp hay đào tạo nghề đã đƣợc các nhà chức trách có thẩm quyền chấp

thuận, hoặc những chƣơng trình mà các em có khả năng tiếp thu theo Khoản

1 điều 7 Công ƣớc.

Ngoài mức tuổi tối thiểu áp dụng chung kể trên, Công ƣớc số 138 cũng

quy định về các mức tuổi tối thiểu trong hoàn cảnh đặc thù với các quốc gia

có nền kinh tế và điều kiện giáo dục còn hạn chế. Cụ thể:

Theo Khoản 4 điều 2, “Mọi quốc gia thành viên mà nền kinh tế và các

phương tiện giáo dục chưa phát triển đầy đủ thì, sau khi tham khảo ý kiến các

tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao động có liên quan có

thể xác định mức tối thiểu là 14 tuổi trong giai đoạn đầu” [31]. Mọi quốc gia

thành viên đã quy định mức tối thiểu là 14 tuổi nhƣ trên, thì trong các báo cáo

theo Điều 22 của Điều lệ Tổ chức Lao động quốc tế, phải cho biết lý do của

việc quy định mức tuổi nhƣ vậy và tới thời điểm cụ thể nào họ sẽ thôi không

áp dụng Khoản 4 nói trên.

Theo Khoản 4 điều 7, quốc gia thành viên nào mà nền kinh tế và các

47

phƣơng tiện giáo dục chƣa phát triển đầy đủ và thể xác định mức tối thiểu là 14

tuổi (sử dụng những quy định của Khoản 4 điều 2) vẫn có thể cho phép trẻ em

từ 12 đến 14 tuổi nhƣng chƣa hoàn thành chƣơng trình giáo dục bắt buộc tham

gia làm những công việc nhẹ nhàng mà không có khả năng gây tổn hại đến sức

khỏe hoặc sự phát triển của trẻ và không ảnh hƣởng đến việc học tập, việc tham

gia vào những chƣơng trình hƣớng nghiệp hay đào tạo nghề đã đƣợc các nhà

chức trách có thẩm quyền chấp thuận, hoặc những chƣơng trình mà các em có

khả năng tiếp thu (thay vì 13 đến 15 tuổi nhƣ áp dụng thông thƣờng).

Nhƣ vậy, quy định chính của Công ƣớc 138 là các quốc gia phải đƣa ra

pháp luật độ tuổi trẻ em đƣợc tham gia lao động với mức tuổi lao động tối

thiểu là 15, tuổi tối thiểu cho công việc nguy hại là 18 tuổi. Tuy nhiên, Công

ƣớc cũng đƣa ra loại trừ cho những công việc nhẹ nhàng. Các quốc gia thành

viên cũng có thể giới hạn phạm vi áp dụng tuổi tối thiểu đối với từng ngành

nghề.

Khuyến nghị 146 là văn bản quan trọng bổ sung cho Công ƣớc 138. Nó

cung cấp một số hƣớng dẫn bổ trợ, ví dụ nhƣ các yếu tố mà chính sách quốc

gia nhằm xóa bỏ lao động trẻ em nên chú trọng, cách xác định công việc nguy

hại. Công ƣớc 138 cùng với Khuyến nghị 146 còn đƣợc gọi chung là Các văn

kiện năm 1973 đã củng cố nội dung những văn kiện trƣớc đó về lao động trẻ

em bằng việc xác định các độ tuổi lao động tối thiểu áp dụng chung cho tất cả

các ngành, nghề, khu vực kinh tế, đồng thời yêu cầu các quốc gia phải thiết

lập chính sách và thực thi các biện pháp nhằm xóa bỏ lao động trẻ em một

cách nhanh nhất.

Về phạm vi tác động, Công ƣớc 138 áp dụng với mọi lĩnh vực kinh tế

và mọi dạng nghề nghiệp, việc làm, bất kể đó là công việc có hợp đồng hay

không có hợp đồng, công việc làm công ăn lƣơng hay tự quản lý, công việc có

đƣợc hay không đƣợc trả công, công việc trong hay ngoài môi trƣờng gia

48

đình. Tuy nhiên, theo Điều 6, Công ƣớc không áp dụng với những dạng công

việc sau đây:

- Công việc do trẻ em hoặc ngƣời chƣa thành niên thực hiện

trong các trƣờng phổ thông, dạy nghề hoặc kỹ thuật hoặc trong các

cơ sở đào tạo khác;

- Công việc do những ngƣời từ đủ 14 tuổi trở lên thực hiện

trong các cơ sở kinh doanh, nếu đƣợc thực hiện theo đúng những

điều kiện mà nhà chức trách có thẩm quyền quy định sau khi tham

khảo ý kiến với các tổ chức của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời

lao động có liên quan, và là một phần không tách rời của: (a) Một

chƣơng trình giáo dục hoặc đào tạo nghề mà trách nhiệm trƣớc hết

thuộc một nhà trƣờng hay một cơ sở đào tạo nghề; (b) Một chƣơng

trình đào tạo nghề đƣợc cơ quan có thẩm quyền chấp thuận và đƣợc

tiến hành chủ yếu hoặc toàn bộ tại một doanh nghiệp; (c) Một

chƣơng trình hƣớng nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc

lựa chọn một nghề hoặc một hƣớng đào tạo nào đó [31].

Ngoài ra, Điều 8 quy định một ngoại lệ của việc cấm tuyển dụng trẻ em

hoặc trẻ em tham gia lao động, đó là sau khi đã tham khảo ý kiến từ các tổ

chức của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động có liên quan, các nhà

chức trách có thẩm quyền có thể cấp giấy phép lao động trên cơ sở các trƣờng

hợp của cá nhân, với mục đích chuẩn bị cho các hoạt động biểu diễn nghệ

thuật. Giấy phép này phải quy định giới hạn về thời gian và những điều kiện

của việc tuyển dụng hoặc lao động.

2.1.2.2. Quy định về điều kiện làm việc

* Công việc nhẹ nhàng

Khoản 2 điều 7 Công ƣớc số 138 cho phép tuyển dụng hoặc tham gia

lao động trong những công việc nhẹ với những ngƣời ít nhất từ 15 tuổi trở lên

49

tuy chƣa hoàn thành chƣơng trình giáo dục bắt buộc. Những hoạt động cho

phép tuyển dụng hoặc lao động này phải đƣợc nhà chức trách có thẩm quyền

quy định và phải quy định số giờ cũng nhƣ những điều kiện cho việc tuyển

dụng hoặc lao động đó. Quy định này nhằm ngăn ngừa việc lạm dụng sự cho

phép giảm độ tuổi trên nhằm mục đích bóc lột sức lao động trẻ em.

Khuyến nghị số 146 (Đoạn 13 Khoản 4) yêu cầu khi áp dụng quy định

kể trên đối với công việc nhẹ cần chú ý đến:

(a) Đảm bảo tiền lƣơng công bằng và bảo vệ mức lƣơng đó

trên cơ sở tiền công bằng nhau cho công việc bằng nhau;

(b) Giới hạn nghiêm giờ làm việc trong ngày và trong tuần,

và cấm làm thêm giờ nhằm tạo đủ thời gian cho việc giáo dục và

đào tạo (bao gồm thời gian cần thiết để làm bài tập), cho việc nghỉ

ngơi trong ngày và các hoạt động lúc nhàn rỗi;

(c) Không loại trừ khả năng cứu nguy trong các tình huống

khẩn cấp thực sự, tạo thời gian liên tục tối thiểu trong 12 giờ nghỉ

đêm, và các ngày nghỉ thông thƣờng hàng tuần;

(d) Đảm bảo có một kỳ nghỉ lễ hàng năm có lƣơng bằng ít

nhất bốn tuần và, trong bất kỳ trƣờng hợp nào, không đƣợc ngắn

hơn mức đảm bảo cho ngƣời trƣởng thành;

(e) Phạm vi áp dụng của các chƣơng trình an sinh xã hội, bao

gồm các chƣơng trình trợ cấp chấn thƣơng do công việc, chăm sóc

y tế và trợ cấp ốm đau, bất kỳ điều kiện làm việc hoặc công việc

nào có thể;

(f) Việc duy trì các tiêu chuẩn thoả đáng về an toàn, sức khoẻ

và hƣớng dẫn, giám sát phù hợp [32].

* Công việc nguy hại

Công ƣớc 138 mô tả công việc nguy hại là mọi loại hình việc làm hoặc

50

công việc mà bản chất hoặc các điều kiện làm việc có thể nguy hại tới sức

khoẻ, sự an toàn hoặc phẩm hạnh của thanh, thiếu niên. Công ƣớc này không

đƣa ra định nghĩa rõ ràng, nhƣng Điều 3 của Công ƣớc 182 đã liệt kê các công

việc thuộc nhóm này.

Theo Đoạn 3 Khuyến nghị số 190, khi xác định các loại công việc nguy

hại và những nơi tồn tại các công việc đó, ngoại trừ những vấn đề khác, quốc

gia cần xem xét các yếu tố sau:

a) Công việc khiến trẻ em lâm vào tình trạng dễ bị lạm dụng

về mặt thể chất tâm lý hay tình dục;

b) Công việc dƣới mặt đất, dƣới nƣớc, ở các độ cao nguy

hiểm hay trong các khoảng không gian bị tù hãm;

c) Công việc với các loại máy móc thiết bị và dụng cụ nguy

hiểm hoặc công việc đòi hỏi phải dùng sức để xử lý hoặc vận

chuyển những khối hàng nặng;

d) Công việc trong môi trƣờng có hại cho sức khoẻ ví dụ nhƣ

có thể khiến trẻ em phải tiếp xúc với các chất, những tác nhân hay

những chu trình độc hại hoặc với tiếng ồn, nhiệt độ hay độ rung làm

tổn hại đến sức khoẻ của trẻ em;

e) Công việc trong những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ví dụ

làm việc trong nhiều giờ liền, công việc vào ban đêm hay công việc

khiến trẻ em bị giam hãm vô lý tại địa điểm của ngƣời sử dụng lao

động [34].

Đoạn 3 Khuyến nghị số 190 là cơ sở cho các quốc gia xác định các

công việc nguy hại đƣợc nêu cả trong Công ƣớc số 182 và 138. Trong trƣờng

hợp một quốc gia đã phê chuẩn Công ƣớc 138 nhƣng chƣa phê chuẩn Công

ƣớc 182, quy định kể trên vẫn đƣợc coi là tài liệu tham khảo (cùng với quy

định có liên quan trong Khuyến nghị 146) trong vấn đề này. Tuy nhiên, Công

51

ƣớc 182 yêu cầu các quốc gia có nghĩa vụ cao hơn đối với các công việc nguy

hại so với Công ƣớc 138, thể hiện qua các khía cạnh:

Thứ nhất, khác với Công ƣớc số 138, công ƣớc số 182 yêu cầu các

quốc gia khi xác định các công việc đƣợc coi là nguy hại theo Khoản d điều 3

bắt buộc phải tham khảo các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan, đặc biệt là các

tiêu chuẩn nêu trong Đoạn 3 và 4 của Khuyến nghị 190.

Thứ hai, nếu nhƣ Công ƣớc số 138 cho phép áp dụng độ tuổi tối thiểu

có điều kiện với các công việc nguy hại (có thể là từ 16 tuổi nếu đáp ứng một

số điều kiện nhất định) thì Công ƣớc 182 không cho phép ngoại lệ nhƣ vậy.

Đây là sự không đồng nhất giữa hai công ƣớc và có thể gây khó khăn cho

những quốc gia đã tham gia cả hai công ƣớc này. Tuy nhiên, Khuyến nghị số

190 đã giải quyết sự không đồng nhất này khi gợi ý rằng các quốc gia có thể

cho phép trẻ em từ độ tuổi 16 đƣợc làm những công việc nguy hại với các

điều kiện tƣơng tự nêu ở Khoản 3 điều 3 Công ƣớc 138 (theo Đoạn 4).

Thứ ba, Công ƣớc số 182 có quy định chặt chẽ hơn Công ƣớc 138 về

công việc nguy hại. Cụ thể, tại Khoản 2 và 3 Công ƣớc 182 quy định:

Cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên phải xác

định những nơi tồn tại các công việc nguy hại sau khi tham khảo ý

kiến của các tổ chức của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động

có liên quan và phải định kỳ xem xét, sửa đổi danh mục các công

việc nguy hại khi cần thiết [33].

2.1.2.3. Quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Đoạn 13, mục IV Khuyến nghị số 146 quy định giới hạn nghiêm giờ

làm việc trong ngày và trong tuần, và cấm làm thêm giờ nhằm tạo đủ thời

gian cho việc giáo dục và đào tạo, cho việc nghỉ ngơi trong ngày và các hoạt

động lúc nhàn rỗi và đảm bảo có một kỳ nghỉ lễ hàng năm có lƣơng bằng ít

52

nhất bốn tuần và trong bất kỳ trƣờng hợp nào, không đƣợc ngắn hơn mức đảm

bảo cho ngƣời trƣởng thành.

2.1.2.4. Quy định về thanh tra, kiểm tra lao động trẻ em

Đoạn 14 Khuyến nghị số 146 đƣa ra các biện pháp nhằm đảo bảo áp

dụng hiệu quả Công ƣớc số 138 về độ tuổi tối thiểu và của Khuyến nghị này

cần bao gồm:

(a) Củng cố việc thanh kiểm tra lao động và các dịch vụ liên

quan, ví dụ bằng chƣơng trình đào tạo đặc biệt cho các thanh tra

viên nhằm phát hiện các trƣờng hợp lạm dụng các cơ sở hoặc việc

làm của trẻ em và ngƣời trẻ tuổi để điều chỉnh các trƣờng hợp lạm

dụng đó;

(b) Củng cố các dịch vụ cải thiện và thanh kiểm tra việc đào

tạo trong các cơ sở;

(c) Chú trọng vai trò mà các thanh tra viên có thể thể hiện

đƣợc trong việc cung cấp thông tin và tƣ vấn về những công cụ hiệu

quả phù hợp với các điều khoản liên quan cũng nhƣ đảm bảo việc

thực thi các điều khoản đó;

(d) Việc thanh kiểm tra lao động và kiểm tra công tác đào tạo

trong các cơ sở cần phối kết hợp chặt chẽ với nhau để tạo đƣợc hiệu

quả kinh tế lớn nhất và các công tác quản lý lao động cần phối hợp

chặt chẽ với các công tác về giáo dục, đào tạo, phúc lợi và hƣớng

dẫn cho trẻ em và ngƣời trẻ tuổi [32].

2.1.2.5. Quy định về xử lý vi phạm

Công ƣớc 138 và Khuyến nghị 146 đƣa ra những biện pháp cụ thể

nhằm đảm bảo sự thực hiện các văn kiện này. Công ƣớc nêu "tất cả

những biện pháp cần thiết, bao gồm điều khoản về những hình phạt thích

hợp, sẽ được cơ quan có thẩm quyền thực hiện để đảm bảo sự cưỡng chế

hiệu quả của những điều khoản của Công ước này" [31, Điều 9].

53

Công ƣớc 182 còn nêu rõ một quốc gia cần thực hiện tất cả các biện

pháp mà quốc gia đó xét thấy cần thiết để thực hiện và cƣỡng chế thi hành các

quy định của quốc gia mà sẽ đem lại hiệu quả đối với Công ƣớc này. Trong

mọi trƣờng hợp, các biện pháp này sẽ bao gồm cả các biện pháp trừng phạt và

có thể bao gồm những biện pháp trừng phạt khác nếu cần thiết.

2.1.2.6. Pháp luật quốc tế về ngăn ngừa và xóa bỏ những hình thức

lao động trẻ em tồi tệ nhất

* Khái niệm “các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất”

Theo Điều 3 Công ƣớc số 182, thuật ngữ “các hình thức lao động trẻ

em tồi tệ nhất” bao gồm:

a) Mọi hình thức nô lệ hay tƣơng tự nô lệ nhƣ buôn bán và

vận chuyển trẻ em, gán nợ, lao động nô lệ và lao động cƣỡng bức

trong đó có tuyển mộ cƣỡng bức trẻ em tham gia vào các xung đột

vũ trang;

b) Sử dụng, dụ dỗ hoặc lôi kéo trẻ em vào hoạt động mại

dâm, sản xuất các sản phẩm phim ảnh khiêu dâm hoặc biểu diễn

khiêu dâm;

c) Sử dụng, dụ dỗ hoặc lôi kéo trẻ em vào các hoạt động bất

hợp pháp, đặc biệt vào mục đích sản xuất và vận chuyển chất ma

tuý nhƣ đƣợc nêu tại các hiệp định quốc tế;

d) Những công việc mà tính chất hoặc các điều kiện của nó

có thể xâm hại đến sức khoẻ, an toàn và đạo đức của trẻ [33].

“Các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất trong nhóm thứ nhất (a)

“mọi hình thức nô lệ hay tương tự nô lệ” bao trùm nội dung của các văn kiện

pháp lý quốc tế về xóa bỏ chế độ nô lệ hay tương tự như nô lệ” [37].

Các văn kiện pháp lý quốc tế về xóa bỏ chế độ nô lệ hay tƣơng tự nhƣ

nô lệ chính mà các quốc gia có thể tham chiếu bao gồm: Các Công ƣớc số 29

54

năm 1930 và số 105 năm 1957 của ILO về lao động cƣỡng bức; Công ƣớc về

chế độ nô lệ năm 1926 và Nghị định thƣ sửa đổi năm 1953 (của Liên hợp

quốc); Công ƣớc bổ sung về xóa bỏ chế độ nô lệ, buôn bán nô lệ và các thể

chế, tập tục tƣơng tự nhƣ chế độ nô lệ (của Liên hợp quốc) năm 1956; Nghị

định thƣ không bắt buộc bổ sung cho Công ƣớc về quyền trẻ em về sử dụng

trẻ em trong xung đột vũ trang năm 2001…

“Các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất trong nhóm thứ hai (b) và thứ

ba (c) bao trùm nội dung của các văn kiện pháp lý quốc tế về buôn bán người

vào mục đích mại dâm và sản xuất văn hóa phẩm khiêu dâm và chống tội phạm

xuyên quốc gia” [47]. Các văn kiện pháp lý quốc tế tiêu biểu có liên quan mà

các quốc gia có thể tham chiếu bao gồm: Công ƣớc về trấn áp việc buôn ngƣời

và bóc lột mại dâm ngƣời khác của Liên hợp quốc năm 1949; Nghị định thƣ

không bắt buộc bổ sung cho Công ƣớc này về việc ngăn ngừa, phòng chống và

trừng trị việc buôn bán ngƣời, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000.

Với các hình thức công việc tại nhóm thứ tƣ, Công ƣớc 182 quy định sẽ

do các quốc gia thành viên xác định trên cơ sở tham vấn với các tổ chức của

ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động, cũng nhƣ trên cơ sở tham chiếu

với các quy định ở Đoạn 3, 4 Khuyến nghị 190 của ILO - văn kiện bổ sung

Công ƣớc số 182.

* Biện pháp xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất

Theo Điều 1 Công ƣớc 182, nghĩa vụ tổng quát của quốc gia là phải áp

dụng ngay những biện pháp khẩn cấp có hiệu quả để bảo đảm nghiêm cấm và

xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Để thực hiện nghĩa vụ này,

Công ƣớc xác định những yêu cầu mang tính nguyên tắc với các quốc gia, đó là:

- Thiết lập hoặc chỉ định cơ chế quốc gia giám sát việc thực hiện Công

ƣớc (Điều 5);

- Thiết lập và thực hiện chƣơng trình hành động quốc gia nhằm ƣu tiên

xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (Điều 6);

55

- Triển khai tất cả các biện pháp cần thiết, bao gồm các chế tài thích

hợp, để bảo đảm thực hiện có hiệu quả Công ƣớc (Khoản 1 điều 7);

- Triển khai các biện pháp hiệu quả trong thời gian hạn định, có tính

đến tầm quan trọng của giáo dục, để ngăn ngừa lao động trẻ em và bảo vệ trẻ

em lao động (Khoản 2 điều 7);

- Chỉ định một cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc thực

hiện Công ƣớc (Khoản 3 điều 7);

- Tiến hành các biện pháp thích hợp để hỗ trợ và hợp tác quốc tế (Điều 8).

Theo Đoạn 2 Khuyến nghị số 190, Chƣơng trình hành động quốc gia

nên đƣợc xây dựng và thực hiện nhƣ một vấn đề khẩn cấp, có sự tham khảo ý

kiến của các cơ quan Chính phủ liên quan và tổ chức của ngƣời sử dụng lao

động và ngƣời lao động, có xét đến ý kiến của những trẻ em bị ảnh hƣởng

trực tiếp bởi những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, ý kiến của gia đình

các em và nếu thích hợp, ý kiến của các nhóm liên quan khác cam kết thực

hiện mục đích của Công ƣớc 182 và Khuyến nghị này. Ngoài ra, chƣơng trình

nên nhằm vào các mục tiêu cụ thể là:

- Xác định và tố cáo những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất;

- Ngăn chặn việc đƣa trẻ em tham gia vào hoặc đƣa trẻ em ra khỏi

những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, bảo vệ các em khỏi những hành

động bức hại và giúp các em phục hồi, hoà nhập xã hội thông qua các biện

pháp đáp ứng đƣợc các nhu cầu về giáo dục thể chất và tâm lý cho các em;

- Đặc biệt quan tâm đến những em ở lứa tuổi nhỏ hơn, trẻ em gái,

những nơi làm việc không công khai mà trẻ em gái đặc biệt gặp nguy cơ cao,

những trẻ em khác có nguy cơ bị tổn thƣơng cao hoặc có nhu cầu đặc biệt;

- Xác định, tiếp cận và phối hợp với cộng đồng mà ở đó trẻ em có nguy

cơ cao;

56

- Cung cấp thông tin, cảnh tỉnh và huy động sự tham gia của công luận và

của các nhóm xã hội có liên quan khác, bao gồm trẻ em và gia đình của các em.

Khuyến nghị số 190 đề xuất những biện pháp cần thiết mà các quốc gia

cần tiến hành để thực hiện có hiệu quả Công ƣớc 182, bao gồm:

- Pháp luật quốc gia hoặc cơ quan có thẩm quyền nên xác định ngƣời

chịu trách nhiệm trong trƣờng hợp các quy định quốc gia về việc cấm và loại

bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất không đƣợc tuân thủ.

- Hình sự hóa những hành vi sử dụng trẻ em làm các công việc thuộc về

các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (theo Đoạn 12 Khuyến nghị).

- Đảm bảo rằng các hình phạt sẽ đƣợc áp dụng cho việc vi phạm những

quy định pháp luật quốc gia về nghiêm cấm và loại bỏ các hình thức lao động

trẻ em tồi tệ nhất, bao gồm cả hình phạt hình sự nếu thích hợp.

- Quy định ngay những biện pháp hành chính, dân sự hay hình sự, ví dụ

nhƣ một hệ thống giám sát đặc biệt đối với những doanh nghiệp đã sử dụng

những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, và trong trƣờng hợp thƣờng xuyên

vi phạm có thể xem xét việc tạm thời hay vĩnh viễn rút giấy phép hoạt động.

- Tiến hành những biện pháp khác bao gồm: tuyên truyền nâng cao

nhận thức cho các đối tƣợng trong xã hội; lôi cuốn sự tham gia của toàn xã

hội; đào tạo nâng cao năng lực cho các cơ quan, cá nhân có trách nhiệm; quy

định và xử lý hình sự những công dân lạm dụng trẻ em cả khi ở nƣớc khác;

cải cách thủ tục pháp lý và hành chính để xử lý vi phạm một cách hiệu quả;

xây dựng cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo và bảo vệ nhân chứng, nạn nhân;

thúc đẩy thực hiện quyền giáo dục; nâng cao nhận thức và hỗ trợ các bậc cha

mẹ và gia đình không sử dụng trẻ em vào các hoạt động kinh tế.

Công ƣớc 182 và Khuyến nghị 190 đã đƣa ra khái niệm các hình thức

lao động trẻ em tồi tệ nhất, biện pháp loại bỏ vấn đề này và cả các biện pháp

57

cƣỡng chế thi hành các điều khoản của công ƣớc. Điều này cho thấy những nỗ

lực của ILO nhằm thực hiện mục tiêu ƣu tiên xóa bỏ các hình thức lao động

trẻ em tồi tệ nhất trong mục tiêu tổng thể là loại bỏ lao động trẻ em. Đây là

những văn kiện quốc tế quan trọng nhằm cung cấp cho các quốc gia thành

viên cơ sở pháp lý và các mục tiêu xây dựng chính sách quốc gia nhằm ngăn

ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em một cách hiệu quả nhất.

2.2. KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGĂN NGỪA VÀ

XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM

2.2.1. Khái quát các văn bản pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và

xóa bỏ lao động trẻ em

Việt Nam hiện đã tham gia tất cả các điều ƣớc quốc tế cơ bản về lao

động trẻ em, bao gồm Công ƣớc về quyền trẻ em, hai Nghị định thƣ không bắt

buộc bổ sung Công ƣớc về quyền trẻ em, các Công ƣớc số 182 và 138 của

ILO. Điều này cho thấy sự quan tâm của Việt Nam trong việc giải quyết vấn

đề lao động trẻ em.

“Phòng ngừa trẻ em rơi vào hoàn cảnh phải lao động sớm hoặc bị bóc

lột, lạm dụng là những biện pháp đầu tiên, đồng thời là biện pháp cơ bản

không thể bỏ qua để đảm bảo hiệu quả lâu dài và vững chắc của việc xóa bỏ

lao động trẻ em” [10, tr.69]. Đây cũng là biện pháp đƣợc vận dụng trong các

chƣơng trình xóa bỏ lao động trẻ em của Liên hợp quốc, ILO và một số tổ

chức quốc tế khác.

Nhiều văn bản pháp luật Việt Nam đã đề cập đến việc phòng ngừa nguy

cơ trẻ em lao động sớm hoặc bị bóc lột, lạm dụng. Trong đó, các văn bản có ý

nghĩa quan trọng nhất về vấn đề này là Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Bộ luật Hình sự và một số văn

bản khác.

58

* Bộ luật Lao động 2012: Bộ luật này đặt ra khuôn khổ pháp lý cụ

thể để ngăn chặn trẻ em lao động sớm và lạm dụng sức lao động của

ngƣời chƣa thành niên. Bộ luật đã dành hẳn một mục gồm những điều

khoản quy định riêng đối với lao động chƣa thành niên. Theo đó thì

“Lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [29, Điều

161]. Bộ luật cũng quy định rõ, ngƣời sử dụng lao động chỉ đƣợc sử

dụng ngƣời lao động chƣa thành niên vào những công việc phù hợp với

sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách

nhiệm quan tâm chăm sóc ngƣời lao động chƣa thành niên về các mặt lao

động, tiền lƣơng, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động.

Để cụ thể hóa những quy định quan trọng về vấn đề lao động trẻ em

trong Bộ luật Lao động, Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội đã ban hành

Thông tƣ số 10/2013/TT-BLĐTBXH ngày 10 tháng 06 năm 2013 về danh

mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là ngƣời chƣa thành

niên. Ngày 11-06-2013, Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội tiếp tục ban

hành Thông tƣ số 11/2013/TT-BLĐTBXH về danh mục công việc nhẹ đƣợc

sử dụng ngƣời dƣới 15 tuổi làm việc.

* Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004:

Đạo luật này xác lập một khuôn khổ pháp lý nền tảng có tác dụng

phòng ngừa, bảo vệ và giúp đỡ trẻ em lao động. Điều đó đƣợc thể hiện ở một

số khía cạnh nhƣ:

Thứ nhất, Luật đã quy định một hệ thống các quyền cơ bản mà trẻ em

Việt Nam đƣợc hƣởng, trong đó tất cả các quyền đều trực tiếp hoặc gián tiếp

giúp trẻ em tránh khỏi nguy cơ phải lao động sớm, bị bóc lột, lạm dụng hoặc

xâm hại. Cụ thể là các quyền:

- Quyền đƣợc khai sinh và có quốc tịch (điều 11);

- Quyền đƣợc chăm sóc, nuôi dƣỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh

thần và đạo đức (điều 12);

59

- Quyền đƣợc sống chung với cha mẹ (điều 13);

- Quyền đƣợc tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh

dự (điều 14);

- Quyền đƣợc chăm sóc sức khỏe (điều 15);

- Quyền đƣợc học tập, đƣợc học tiểu học miễn phí ở các trƣờng công

lập (điều 16);

- Quyền đƣợc vui chơi, giải trí lành mạnh, đƣợc hoạt động văn hóa,

nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi (điều 17)…

Các quyền này cơ bản đều phù hợp với các quyền trẻ em đƣợc pháp

luật quốc tế công nhận, nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ.

Thứ hai, tại Điều 7 của Luật nghiêm cấm các hành vi bóc lột, lạm dụng

lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc

tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của

pháp luật về lao động và một số điều cấm khác có liên quan nhƣ: cấm bỏ rơi

trẻ em; dụ dỗ, lôi kéo, lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi; lạm dụng tình

dục trẻ em; dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em đánh bạc, hoạt động mại dâm, mua,

bán, sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý, văn hoá

phẩm bạo lực, khiêu dâm; cản trở việc học tập của trẻ em.

Thứ ba, Luật đã quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, các tổ

chức xã hội và gia đình trong việc bảo đảm các quyền của trẻ em. Những quy

định này nhằm bảo đảm các quyền trẻ em đƣợc tôn trọng và thực hiện trên

thực tế, đồng thời củng cố vững chắc khuôn khổ pháp lý về bảo vệ trẻ em

khỏi các hình thức bóc lột, lạm dụng hay xâm hại.

* Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009:

Bộ luật này có một điều quy định trực tiếp về tội vi phạm quy định về sử

dụng lao động trẻ em là Điều 228. Ngoài ra, Bộ luật còn bao gồm một số tội

60

danh khác trừng trị những hành vi liên quan đến một số hình thức lao động trẻ

em tồi tệ nhất. Cụ thể: Điều 120 Bộ Luật Hình sự quy định về tội danh mua bán,

đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; các tội danh liên quan đến mại dâm trẻ em,

xâm hại tình dục trẻ em và khiêu dâm trẻ em (Điều 112, 114, 115 và 116); tội dụ

dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp ngƣời chƣa thành niên phạm pháp (Điều 252)…

* Luật Phổ cập giáo dục tiểu học và Luật Giáo dục:

Thực tế trên thế giới và ở Việt Nam đã cho thấy, việc bảo đảm quyền

đƣợc học tập của trẻ em là một trong những biện pháp quan trọng và có hiệu

quả nhất trong việc phòng ngừa và giảm thiểu tình trạng trẻ em lao động sớm.

Các đạo luật này quy định chi tiết về quyền học tập của trẻ em, gồm quyền

đƣợc học tiểu học miễn phí, là cơ sở pháp lý chủ yếu để hiện thực hóa quyền

đƣợc giáo dục của trẻ em. Bên cạnh đó, ngày 24-3-2014, Chính phủ đã ban

hành Nghị định số 20/2014/NĐ-CP quy định về điều kiện bảo đảm, trách

nhiệm của các cơ quan; tiêu chuẩn, thẩm quyền công nhận đạt chuẩn phổ cập

giáo dục tới cấp trung học cơ sở và xóa mù chữ.

* Luật Dạy nghề năm 2006:

Bên cạnh giáo dục, việc dạy nghề cũng là biện pháp hiệu quả không chỉ

giúp trẻ em tránh đƣợc nguy cơ lao động sớm mà còn chuẩn bị cho trẻ các kỹ

năng lao động để trẻ có thể tham gia vào thị trƣờng lao động khi đến độ tuổi

pháp luật cho phép. Theo đó, Nhà nƣớc khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi

cho việc thành lập và vận hành các trƣờng dạy nghề, trung tâm dạy nghề, lớp

dạy nghề… dƣới dạng độc lập hay gắn với các cơ sở sản xuất, kinh doanh,

dịch vụ, cơ sở giáo dục; theo hình thức công lập, bán công, dân lập, tƣ nhân

hay của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Điều 9 quy định các

hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động dạy nghề, trong đó có hành vi lợi

dụng việc dạy nghề để trục lợi, lạm dụng sức lao động. Luật cũng quy định về

61

hợp đồng dạy nghề và quyền, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tham gia dạy

nghề và trách nhiệm quản lý của Nhà nƣớc nhằm đảm bảo việc học và dạy

nghề mang lại hiệu quả và ngăn ngừa các tiêu cực phát sinh từ hoạt động này.

* Bên cạnh khuôn khổ pháp luật nêu trên, Việt Nam cũng đã và đang

triển khai các chƣơng trình mục tiêu quốc gia liên quan tới ngăn ngừa và xóa

bỏ lao động trẻ em, cụ thể là các chƣơng trình:

Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015 (đã đƣợc

Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22

tháng 02 năm 2011) với mục đích chính là chủ động phòng ngừa, giảm thiểu,

loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em, giảm thiểu tình trạng trẻ em rơi

vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, trẻ em bị bạo lực. Trƣớc đó,

chúng ta đã triển khai Chƣơng trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam

giai đoạn 2001-2010 (ban hành kèm theo Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg)

ngày 25-02-2001 của Thủ tƣớng Chính phủ). Nội dung chính của chƣơng

trình gồm: truyền thông, giáo dục, vận động xã hội nhằm tạo mối quan tâm và

thúc đẩy sự thay đổi về nhận thức của toàn xã hội đối với công tác bảo vệ trẻ

em; xây dựng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; xây

dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào

cộng đồng; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về bảo vệ chăm sóc trẻ em.

Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012 - 2020 (đã

đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày

17-10-2012) với mục tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dƣỡng; hoàn thành mục tiêu

phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015; đến năm 2020, có

ít nhất 30% trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo

đƣợc chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; đến năm 2020, tỷ lệ

đi học đúng tuổi ở bậc tiểu học là 99% và ở bậc trung học cơ sở là 95%, trong

62

đó đặc biệt quan tâm đến trẻ em dân tộc ít ngƣời, trẻ em khuyết tật; khuyến

khích các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức xã

hội nghề nghiệp, gia đình, cộng đồng, ngƣời dân và trẻ em tham gia bảo vệ,

chăm sóc, giáo dục trẻ em.

Chúng ta cũng đang nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện các

chƣơng trình, kế hoạch:

- Chƣơng trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016 - 2020.

- Chƣơng trình phòng, chống tai nạn, thƣơng tích trẻ em giai đoạn 2016 - 2020.

- Chƣơng trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em giai đoạn 2013 - 2020.

- Chƣơng trình phòng, chống bạo lực đối với trẻ em giai đoạn 2016 - 2020.

- Chƣơng trình xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất giai

đoạn 2016 - 2020…

Theo các cam kết của Chính phủ, đến năm 2016, Việt Nam sẽ xóa bỏ

các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; đến 2020 sẽ xóa bỏ lao động trẻ em

trong điều kiện nặng nhọc, độc hại nguy hiểm và giảm thiểu lao động trẻ em,

trẻ em tham gia hoạt động kinh tế.

Cùng với các chƣơng trình xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm, các quy

định và chƣơng trình kể trên đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý toàn diện, hoàn

chỉnh nhằm bảo vệ trẻ em Việt Nam trƣớc những nguy cơ dẫn đến tình trạng

phải lao động quá sớm hoặc bị bóc lột, lạm dụng hay xâm hại.

2.2.2. Pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

2.2.2.1. Quy định về độ tuổi lao động tối thiểu

Nhìn chung, có thể khái quát khuôn khổ pháp luật Việt Nam liên quan

đến tuổi lao động tối thiểu nhƣ sau:

63

Bảng 2.2: Độ tuổi lao động tối thiểu theo pháp luật Việt Nam

Độ tuổi

Công việc đƣợc làm

Ghi chú

Từ đủ 15 đến

Các công việc không nguy hại

Tức những công việc nằm ngoài

dƣới 18 tuổi

đến sự phát triển thể lực, trí lực,

danh mục nêu ở Thông

nhân cách của trẻ.

10/2013/TT-BLĐTBXH của Bộ

Lao động - Thƣơng binh và Xã hội.

Từ đủ 13 đến

Học nghề và làm những công

Khoản 2 Điều 164 Bộ luật lao

dƣới 15 tuổi

việc đƣợc sử dụng ngƣời dƣới

đông và Thông tƣ số 11/2013

13 tuổi làm việc; các nghề

/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao

truyền thống; các nghề thủ công

động - Thƣơng binh và Xã hội.

mỹ nghệ; nuôi tằm; gói kẹo dừa

(với điều kiện phải tuân thủ quy

dịnh đối với việc sử dụng trẻ em

từ đủ 13 đến dƣới 15 tuổi).

Điều 61 Bộ luật Lao động.

Riêng ngƣời học nghề, tập nghề

để làm việc cho ngƣời sử dụng

lao động phải đủ 14 tuổi và phải

có đủ sức khoẻ phù hợp với yêu

cầu của nghề, trừ một số nghề

do Bộ Lao động - Thƣơng binh

và Xã hội quy định.

Dƣới 13 tuổi

Học nghề và có thể làm các

Khoản 3 Điều 164 Bộ luật Lao

nghề biểu diễn nghệ thuật với

động

Thông

số

điều kiện tuân thủ các quy định

11/2013/TT-BLĐTBXH của Bộ

về sử dụng lao động trẻ em dƣới

Lao động - Thƣơng binh và Xã

15 tuổi.

hội.

Nguồn: Bộ tài liệu tập huấn về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

Theo Điều 3 Bộ luật Lao động, ngƣời lao động là ngƣời từ đủ 15 tuổi

64

trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, đƣợc trả

lƣơng và chịu sự quản lý, điều hành của ngƣời sử dụng lao động. Nhƣ vậy, có

thể hiểu độ tuổi tối thiểu đƣợc tham gia lao động ở Việt Nam là từ đủ 15 tuổi,

tƣơng ứng với quy định tại Điều 2 Công ƣớc số 138 của ILO.

Bên cạnh đó, từ quy định của Điều 163 Bộ luật lao động:

Không đƣợc sử dụng lao động chƣa thành niên làm những công

việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh

hƣởng xấu tới nhân cách của họ theo danh mục do Bộ Lao động -

Thƣơng binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành [29].

Có thể hiểu là độ tuổi tối thiểu đƣợc tuyển dụng và tham gia làm các

công việc nguy hại theo pháp luật Việt Nam là từ đủ 18 tuổi.

Với mức dưới 15 tuổi, Điều 164 Bộ luật Lao động quy định:

1. Ngƣời sử dụng lao động chỉ đƣợc sử dụng ngƣời từ đủ 13

tuổi đến dƣới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ

Lao động - Thƣơng binh và Xã hội quy định.

2. Khi sử dụng ngƣời từ đủ 13 tuổi đến dƣới 15 tuổi thì ngƣời

sử dụng lao động phải tuân theo quy định sau đây:

a) Phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với ngƣời đại

diện theo pháp luật và phải đƣợc sự đồng ý của ngƣời từ đủ 13 tuổi

đến dƣới 15 tuổi;

b) Bố trí giờ làm việc không ảnh hƣởng đến giờ học tại

trƣờng học của trẻ em;

c) Bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn lao động, vệ sinh lao

động phù hợp với lứa tuổi.

3. Không đƣợc sử dụng lao động là ngƣời dƣới 13 tuổi làm việc

trừ một số công việc cụ thể do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội

quy định. Khi sử dụng ngƣời dƣới 13 tuổi làm việc thì ngƣời sử dụng

lao động phải tuân theo quy định tại khoản 2 Điều này [29].

65

Thông tƣ số 11/2013 /TT-BLĐTBXH ngày 11 tháng 6 năm 2013 của

Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội đã quy định rõ danh mục công việc

đƣợc sử dụng ngƣời dƣới 13 tuổi và ngƣời từ 13 đến dƣới 15 tuổi làm việc.

Công việc đƣợc sử dụng ngƣời dƣới 13 tuổi làm việc gồm:

- Diễn viên: múa; hát; xiếc; điện ảnh; sân khấu kịch, tuồng,

chèo, cải lƣơng, múa rối (trừ múa rối dƣới nƣớc);

- Vận động viên năng khiếu: thể dục dụng cụ, bơi lội, điền kinh

(trừ tạ xích), bóng bàn, cầu lông, bóng rổ, bóng ném, bi-a, bóng đá,

các môn võ, đá cầu, cầu mây, cờ vua, cờ tƣớng, bóng chuyền.

Công việc đƣợc sử dụng ngƣời từ 13 đến dƣới 15 tuổi làm

việc gồm:

- Những công việc đƣợc sử dụng ngƣời dƣới 13 tuổi làm việc;

- Các nghề truyền thống: chấm men gốm, cƣa vỏ trai, vẽ

tranh sơn mài, làm giấy dó, nón lá, se nhang, chẩm nón, dệt chiếu,

làm trống, dệt thổ cẩm, làm bún gạo, làm giá đỗ, làm bánh đa

(miến), làm bánh đa Kế;

- Các nghề thủ công mỹ nghệ: thêu ren, mộc mỹ nghệ, làm

lƣợc sừng, đan lƣới vó, làm tranh Đông Hồ, nặn tò he;

- Đan lát, làm các đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ từ

nguyên liệu tự nhiên nhƣ: mây, tre, nứa, dừa, chuối, bèo lục bình;

- Nuôi tằm;

- Gói kẹo dừa [3].

Theo Điều 164 Bộ luật Lao động, ngƣời học nghề, tập nghề phải đủ 14

tuổi và phải có đủ sức khoẻ phù hợp với yêu cầu của nghề, trừ một số nghề do

Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội quy định. Nhƣ vậy theo Bộ luật thì độ

tuổi tối thiểu để học nghề là từ đủ 14 tuổi.

Quy định về độ tuổi tham gia lao động của Bộ luật Lao động cũng phù

66

hợp với Luật Dạy nghề. Luật này quy định về thời gian học nghề trình độ

trung cấp cho ngƣời hoàn thành xong chƣơng trình trung học cơ sở “Từ ba

đến bốn năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp

trung học cơ sở” [27, Điều 18]. Điều này có nghĩa là trẻ em 15 tuổi thì học

hết lớp 9 và có thể bắt đầu học nghề.

Các tiêu chuẩn của ILO về việc thiết lập độ tuổi tối thiểu đƣợc nhận

vào làm việc hoặc lao động với ba độ tuổi khác nhau phụ thuộc vào bản chất

của việc làm hoặc công việc đƣợc thực hiện. Những độ tuổi này đƣợc thiết lập

theo nguyên tắc không thấp hơn độ tuổi hoàn thành giáo dục bắt buộc và,

trong mọi trƣờng hợp, không thấp hơn 15 đối với độ tuổi tối thiểu chung, 13

đối với công việc nhẹ nhàng và 18 (16 tuổi với những điều kiện nhất định) đối

với công việc độc hại.

Nhìn chung, có thể thấy việc quy định về độ tuổi tối thiểu đƣợc nhận

vào làm việc của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

2.2.2.2. Quy định về điều kiện làm việc

Bộ Luật lao động đã đƣa ra yêu cầu chặt chẽ về điều kiện sử dụng lao

động chƣa thành niên. Điều 162 của Bộ Luật lao động quy định:

1. Ngƣời sử dụng lao động chỉ đƣợc sử dụng ngƣời lao động

chƣa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo

đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan

tâm chăm sóc ngƣời lao động chƣa thành niên về các mặt lao động,

tiền lƣơng, sức khoẻ, học tập trong quá trình lao động.

2. Khi sử dụng ngƣời lao động chƣa thành niên, ngƣời sử

dụng lao động phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày

tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra

sức khoẻ định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nƣớc có thẩm

quyền yêu cầu [29].

67

Khoản 2 Điều 165 Bộ luật Lao động đã quy định các nơi làm việc cấm

sử dụng lao động là người chưa thành niên, bao gồm:

a) Dƣới nƣớc, dƣới lòng đất, trong hang động, trong đƣờng hầm;

b) Công trƣờng xây dựng;

c) Cơ sở giết mổ gia súc;

d) Sòng bạc, quán bar, vũ trƣờng, phòng hát karaoke, khách

sạn, nhà nghỉ, phòng tắm hơi, phòng xoa bóp;

e) Nơi làm việc khác gây tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn và

đạo đức của ngƣời chƣa thành niên [29].

Thông tƣ 10/2013/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thƣơng binh và

Xã hội về ban hành danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao

động là ngƣời chƣa thành niên đã cụ thể hóa Điểm e khoản 2 điểu 165 nhƣ sau:

1. Tiếp xúc với các yếu tố vệ sinh môi trƣờng lao động không

đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn vệ sinh cho phép theo quy định của pháp

luật hiện hành: điện từ trƣờng, rung, ồn, nhiệt độ, bụi silic, bụi

không chứa silic, bụi bông, bụi amiăng;

2. Tiếp xúc với các loại chất, tia phóng xạ; bức xạ bởi tia X

và các tia có hại khác không đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn vệ sinh cho

phép theo qui định của pháp luật hiện hành;

3. Tiếp xúc với các yếu tố gây bệnh truyền nhiễm;

4. Thời gian làm việc trên 04 giờ/ngày trong không gian làm

việc gò bó, chật hẹp, công việc có khi phải quỳ gối, nằm, cúi khom;

5. Trên giá cao hay dây treo cao hơn 3 m so với mặt sàn làm

việc; địa hình đồi núi dốc trên 300 [2].

Khoản 1 Điều 165 đã quy định các công việc cấm sử dụng lao động là

người chưa thành niên, bao gồm:

a) Mang, vác, nâng các vật nặng vƣợt quá thể trạng của ngƣời

chƣa thành niên;

68

b) Sản xuất, sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ;

c) Bảo trì, bảo dƣỡng thiết bị, máy móc;

d) Phá dỡ các công trình xây dựng;

đ) Nấu, thổi, đúc, cán, dập, hàn kim loại;

e) Lặn biển, đánh bắt cá xa bờ;

g) Công việc khác gây tổn hại cho sức khoẻ, an toàn hoặc đạo

đức của ngƣời chƣa thành niên [29].

Các công việc khác tại Điểm g khoản 1 Điều 165 bao gồm 91 công việc

đƣợc quy định tại danh mục đi kèm Thông tƣ số 10/2013/TT-BLĐTBXH.

Danh mục này đã mở rộng hơn so với quy định tại Thông tƣ trƣớc đây quy

định về điều kiện lao động có hại và các công việc cấm sử dụng lao động chƣa

thành niên là Thông tƣ liên Bộ số 09/TTLB ngày 13-4-1995 của Bộ Lao động -

Thƣơng binh và Xã hội và Bộ Y tế. Đây là những công việc nặng nhọc, nguy

hiểm hoặc phải tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh hƣởng đến tính mạng, sức

khỏe và ảnh hƣởng đến sự phát triển bình thƣờng của ngƣời chƣa thành niên, ví

dụ nhƣ: trực tiếp nấu rót và vận chuyển kim loại lỏng, tháo dỡ khuôn đúc làm

sạch sản phẩm đúc ở các lò; công việc trên giàn giáo hoặc trên rầm xà cao hơn

3 m so với sàn thao tác và các công việc tƣơng tự; lắp dựng, tháo dỡ hoặc thay

đổi giàn giáo (trừ trƣờng hợp phụ việc làm trên mặt đất hoặc trên sàn nhà)...

2.2.2.3. Quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

* Về thời giờ làm việc, Điều 163 Bộ luật Lao động quy định:

1. Thời giờ làm việc của ngƣời lao động chƣa thành niên từ

đủ 15 tuổi đến dƣới 18 tuổi không đƣợc quá 08 giờ trong 01 ngày

và 40 giờ trong 01 tuần.

2. Thời giờ làm việc của ngƣời dƣới 15 tuổi không đƣợc quá 04

giờ trong 01 ngày và 20 giờ trong 01 tuần và không đƣợc sử dụng làm

thêm giờ, làm việc vào ban đêm [29].

69

Nhƣ vậy, so với ngƣời lao động thành niên, thời giờ làm việc của ngƣời

lao động chƣa thành niên ít hơn 8 giờ/tuần. Quy định này cũng có rút ngắn so

với quy định trƣớc đó trong Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2002 với

mức thời giờ làm việc của ngƣời lao động chƣa thành niên là 42 giờ/ngày.

Đối với trẻ em từ đủ 14 tuổi đƣợc phép học nghề thì thời gian học nghề

cũng chƣa đƣợc quy định rõ để bảo vệ sức khỏe và sự phát triển về thể chất

của các em.

* Về vấn đề làm thêm giờ, Điều 163 Bộ luật Lao động quy định:

“Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được làm thêm giờ, làm việc vào ban

đêm trong một số nghề và công việc theo quy định của Bộ Lao động - Thương

binh và Xã hội” [29]. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chƣa có hƣớng dẫn của Bộ

Lao động - Thƣơng binh và Xã hội về các nghề và công việc này. Quy định

này vẫn chƣa phù hợp với nội dung Đoạn 13 Khuyến nghị số 146 vì theo

Khuyến nghị, cấm làm thêm giờ nhằm tạo đủ thời gian cho việc giáo dục,

nghỉ ngơi và các hoạt động khác.

* Về thời giờ nghỉ ngơi

Từ Điều 108 đến Điều 112 Bộ luật Lao động mới chỉ có quy định

chung cho tất cả ngƣời lao động gồm:

- Ngƣời lao động đƣợc nghỉ 30 phút nếu làm việc liên tục trong 8 giờ

hoặc 6 giờ đối với công việc nặng nhọc theo danh mục quy định của Thông tƣ

số 10/TT-BLĐTBXH và đƣợc nghỉ 45 phút trong trƣờng hợp làm việc vào

ban đêm;

- Ngƣời lao động làm việc theo ca đƣợc nghỉ ít nhất 12 giờ trƣớc khi

chuyển sang ca khác;

- Ngƣời lao động đƣợc nghỉ ít nhất là 24 giờ/tuần làm việc (01 ngày) và

4 ngày/tháng làm việc;

- Ngƣời lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một ngƣời sử dụng lao

70

động thì đƣợc nghỉ 12 ngày và hƣởng nguyên lƣơng hàng năm đối với công

việc bình thƣờng, 14-16 ngày đối với công việc nặng nhọc, độc hại tùy theo

danh mục do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội ban hành.

Đây là những chuẩn mực đã đƣợc quy định một cách cụ thể, chi tiết cho

ngƣời lao động. Tuy nhiên chƣa có quy định cụ thể, chi tiết và nghiêm ngặt

riêng cho ngƣời lao động chƣa thành niên để tránh việc lạm dụng sử dụng lao

động chƣa thành niên trái pháp luật và để phù hợp với thể trạng, sự phát triển

của lao động chƣa thành niên.

2.2.2.4. Quy định về thanh tra

Bộ luật Lao động dành một chƣơng quy định Thanh tra Nhà nƣớc về

lao động, xử phạt vi phạm lao động. Cụ thể, nhiệm vụ thanh tra nhà nƣớc về

lao động bao gồm: thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về lao

động; điều tra tai nạn lao động và những vi phạm an toàn lao động, vệ sinh

lao động; tham gia hƣớng dẫn áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ

thuật về điều kiện lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động; giải quyết

khiếu nại, tố cáo về lao động; xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị các cơ quan

có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về lao động. Những nhiệm vụ này

do Thanh tra chuyên ngành lao động là Thanh tra Bộ Lao động - Thƣơng binh

và Xã hội và Thanh tra Sở Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thực hiện.

Ngoài ra, luật cũng quy định:

Việc thanh tra an toàn lao động, vệ sinh lao động trong các

lĩnh vực: phóng xạ, thăm dò, khai thác dầu khí, các phƣơng tiện vận

tải đƣờng sắt, đƣờng thuỷ, đƣờng bộ, đƣờng hàng không và các đơn

vị thuộc lực lƣợng vũ trang do các cơ quan quản lý nhà nƣớc về

lĩnh vực đó thực hiện với sự phối hợp của thanh tra chuyên ngành

về lao động [29].

71

Việc thanh tra lao động chƣa thành niên, lao động trẻ em cũng nằm

trong các loại hình và thuộc thẩm quyền thanh tra chung nêu trên.

Tuy nhiên, để bảo vệ đối tƣợng là trẻ em dƣới 15 tuổi, Thông tƣ số

10/2013/TT-BLĐTBXH và cả Thông tƣ số 11/2013/TT-BLĐTBXH đã

nhấn mạnh:

Sở Lao động - Thƣơng binh và xã hội có trách nhiệm:

a) Phối hợp với Sở Y tế, Liên đoàn Lao động địa phƣơng

thƣờng xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Thông tƣ;

b) Tăng cƣờng thanh tra phát hiện và xử lý kịp thời các

trƣờng hợp vi phạm quy định của pháp luật về sử dụng lao động

chƣa thành niên;

c) Hàng năm, tổng hợp và báo cáo Bộ Lao động - Thƣơng binh

và Xã hội về tình hình thực hiện Thông tƣ này cùng với báo cáo công

tác an toàn lao động, vệ sinh lao động trên địa bàn [2, Điều 2].

Nhƣ vậy, Sở Lao động - Thƣơng binh và xã hội có trách nhiệm chính

trong việc thanh tra, kiểm tra và giám sát thực hiện pháp luật về lao động

chƣa thành niên tại địa phƣơng và Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội có

trách nhiệm giám sát, quản lý trên phạm vi cả nƣớc.

2.2.2.5. Quy định về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến lao động

trẻ em

Xử phạt vi phạm pháp luật nhằm mục đích ngăn ngừa và hạn chế

những hành vi vi phạm quyền trẻ em mà chƣa đến mức truy cứu trách nhiệm

hình sự. Ngƣời có hành vi vi phạm các quy định của Bộ luật Lao động thì tuỳ

theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành

chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi

thƣờng theo quy định của pháp luật.

Tại Điều 9 Nghị định 71/2011/NĐ-CP ngày 22-8-2011 quy định chi tiết

72

và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em quy định chi tiết các hành vi vi phạm quyền trẻ em, lạm dụng lao động trẻ

em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với

chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao

động, làm cơ sở cho việc xử lý hành vi vi phạm trên thực tế. Các quy định cụ

thể nhƣ sau:

- Cha, mẹ, ngƣời giám hộ, ngƣời nhận nuôi dƣỡng trẻ em bắt

trẻ em làm công việc gia đình quá sức, quá thời gian, ảnh hƣởng

đến việc học tập, vui chơi, giải trí, ảnh hƣởng xấu đến sự phát triển

của trẻ em hoặc bắt trẻ em làm những công việc mà pháp luật

không cho phép.

- Ngƣời nhận dạy nghề cho trẻ em bắt trẻ em làm công việc

quá sức, nặng nhọc, quá thời gian, trong môi trƣờng độc hại, nguy

hiểm ảnh hƣởng xấu đến sự phát triển của trẻ em.

- Sử dụng lao động trẻ em không trả công hoặc trả công

không tƣơng xứng, không có cam kết của cha, mẹ, ngƣời giám hộ,

không có hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; bắt trẻ em

lao động quá sức, quá thời gian, nặng nhọc, trong môi trƣờng độc

hại, nguy hiểm; sử dụng trẻ em làm những công việc trái với quy

định của pháp luật về lao động.

- Sử dụng trẻ em làm những công việc trong vũ trƣờng, cơ

sở xoa bóp, vật lý trị liệu, sòng bạc, nhà hàng ka-ra-ô-kê, quán

rƣợu, quán bia hoặc những nơi có nguy cơ ảnh hƣởng xấu đến sự

phát triển của trẻ em.

- Sử dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng giả, hàng

cấm, hàng trốn thuế.

- Để trẻ em tham gia, sử dụng trẻ em trong sản xuất, kinh

73

doanh, phổ biến sản phẩm văn hóa, thông tin, truyền thông, đồ chơi,

trò chơi, đồ dùng có nội dung bạo lực, đồi trụy, nguy hiểm, không

phù hợp hoặc có hại cho sự phát triển của trẻ em [6].

Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22-8-2013 quy định xử phạt vi phạm

hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đƣa ngƣời lao động Việt

Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng đã đƣa ra các mức xử phạt cụ thể

với các hình thức vi phạm pháp luật lao động chƣa thành niên nhƣ sau:

1. Phạt cảnh cáo đối với ngƣời sử dụng lao động có hành vi

không lập sổ theo dõi riêng khi sử dụng lao động chƣa thành niên

hoặc không xuất trình sổ theo dõi khi cơ quan nhà nƣớc có thẩm

quyền yêu cầu.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với

ngƣời sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng ngƣời dƣới 15 tuổi mà không ký kết hợp đồng lao

động bằng văn bản với ngƣời đại diện theo pháp luật;

b) Sử dụng lao động chƣa thành niên làm việc quá thời giờ

làm việc quy định tại Khoản 2 Điều 163 của Bộ luật Lao động;

c) Sử dụng ngƣời từ đủ 15 tuổi đến dƣới 18 tuổi làm thêm

giờ, làm việc vào ban đêm, trừ một số nghề, công việc đƣợc pháp

luật cho phép.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với

ngƣời sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng lao động là ngƣời chƣa thành niên làm công việc,

tại nơi làm việc bị cấm sử dụng theo quy định tại Điều 165 của Bộ

luật Lao động;

b) Sử dụng ngƣời dƣới 15 tuổi làm công việc ngoài danh mục

đƣợc pháp luật cho phép theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3

Điều 164 của Bộ luật Lao động [7, Điều 19].

74

Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ngày 29-10-2013 quy định xử phạt vi

phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã đƣa

ra mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về cấm lạm dụng lao động

trẻ em; sử dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng hóa, hàng giả, hàng trốn

thuế, tiền tệ trái phép nhƣ sau:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với

hành vi của cha, mẹ, ngƣời giám hộ, ngƣời nuôi dƣỡng trẻ em bắt

trẻ em làm công việc gia đình quá sức, quá thời gian, ảnh hƣởng

đến việc học tập, vui chơi, giải trí, ảnh hƣởng xấu đến sự phát triển

của trẻ em.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với

hành vi sử dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng hóa, hàng

giả, hàng trốn thuế, tiền tệ trái phép. Hình thức phạt bổ sung: tịch

thu hàng trốn thuế, hàng giả, tiền tệ trái phép [8, Điều 29].

Điều 228 Bộ luật Hình sự cũng có quy định về hành vi sử dụng lao

động trẻ em trái phép đƣợc xác định là tội phạm:

Ngƣời nào sử dụng trẻ em làm những công việc nặng nhọc,

nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục mà

Nhà nƣớc quy định gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phát

hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm

triệu đồng đến năm mƣơi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai

năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm [28].

2.2.2.6. Pháp luật Việt Nam về xóa bỏ những hình thức lao động trẻ

em tồi tệ nhất

So sánh với các tiêu chuẩn tối thiểu có liên quan của ILO, có thể thấy

quy định mức tuổi tối thiểu là 18 của Việt Nam đối với công việc nguy hại phù

hợp với nội dung Điều 3 Công ƣớc số 138, còn quy định về những dạng công

việc nguy hại phù hợp với nội dung đoạn 3 Khuyến nghị số 190 của ILO.

75

Mặc dù không có định nghĩa nào về “những hình thức lao

động trẻ em tồi tệ nhất” hay “các công việc nguy hại” với trẻ em,

tuy nhiên, qua đối chiếu với Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục

trẻ em, Bộ luật Lao động và các đạo luật khác có liên quan, có

thể thấy rằng tất cả những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất

nêu ở Điều 3 Công ƣớc 182 đều bị cấm và xử lý theo pháp luật

Việt Nam [37].

Cụ thể, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nghiêm cấm mọi

hình thức xâm hại trẻ em trong khi Bộ luật Lao động cấm sử dụng lao động

chƣa thành niên trong các công việc nguy hại đến sức khỏe, thể chất, tinh

thần. Đây có thể coi là những quy định nền tảng có tác dụng phòng ngừa

những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự

năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định những hình phạt với nhiều

hành vi có liên quan, cụ thể nhƣ sau:

Bảng 2.3: Bảng đối chiếu giữa những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất

theo Công ước số 182 và các tội có liên quan trong Bộ luật Hình sự Việt Nam

Những hình thức lao động trẻ em tồi

Các tội có liên quan trong BLHS

tệ nhất theo Công ƣớc số 182

Mọi hình thức nô lệ hay tƣơng tự nô lệ,

Tội hành hạ ngƣời khác (Điều 110); mua

nhƣ buôn bán trẻ em, gán nợ, lao động

bán phụ nữ (Điều 119); mua bán, đánh

khổ sai, lao động cƣỡng bức hoặc bắt

tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120).

buộc trẻ em để phục vụ trong các cuộc

xung đột vũ trang.

Sử dụng, dụ dỗ hoặc lôi kéo trẻ em làm

Tội mua bán phụ nữ (Điều 119); mua

mại dâm, tham gia sản xuất văn hóa

bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em

phẩm khiêu dâm hoặc biểu diễn khiêu

(Điều 120); dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa

chấp ngƣời chƣa thành niên phạm pháp

dâm.

(Điều 252); truyền bá văn hóa phẩm đồi

76

trụy (Điều 253); chứa mại dâm (Điều

254); môi giới mại dâm (Điều 255); mua

dâm ngƣời chƣa thành niên (Điều 256).

Sử dụng, dụ dỗ hoặc lôi kéo trẻ em

Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp ngƣời

tham gia các hoạt động bất hợp pháp,

chƣa thành niên phạm pháp (Điều 252);

đặc biệt là hoạt động sản xuất và buôn

tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm

bán các chất ma túy nhƣ đã đƣợc xác

đoạt chất ma túy (Điều 194) (sử dụng trẻ

định trong các điều ƣớc quốc tế liên

em vào việc phạm tội hoặc hoặc bán ma

quan.

túy cho trẻ em); tổ chức sử dụng chất ma

túy (Điều 197) (cho trẻ em); chứa chấp tổ

chức việc sử dụng trái phép chất ma túy

(Điều 198) (với trẻ em); cƣỡng bức, lôi

kéo ngƣời khác sử dụng trái phép chất ma

túy (Điều 198) (với trẻ em).

Sử dụng trẻ em trong những công việc

Tội sử dụng trẻ em làm những công việc

mà tính chất và hoàn cảnh làm việc có

nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với

thể xâm hại đến sức khỏe, sự an toàn và

chất độc hại theo danh mục mà Nhà nƣớc

đạo đức của trẻ em.

đã quy định (Điều 228), bao gồm:

- Các điều kiện lao động có hại và các

công việc cấm sử dụng lao động chƣa

thành niên

liệt kê

trong Thông

10/2013/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động

- Thƣơng binh và Xã hội.

- Các ngành nghề, công việc và điều kiện

làm việc đƣợc nhận trẻ em chƣa đủ 15

tuổi vào làm việc Thông tƣ 11/2013/TT-

BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thƣơng

binh và Xã hội.

Nguồn: Bộ tài liệu tập huấn về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

77

Cùng với việc thể chế hóa trong pháp luật, rất nhiều Chƣơng trình quốc

gia liên quan đến xóa bỏ lao động trẻ em - trong đó đặc biệt liên quan trực

tiếp đến việc xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất - đã và đang

đƣợc thực hiện nhƣ: Chƣơng trình hành động quốc gia vì trẻ em (2001-2010);

Chƣơng trình quốc gia ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang,

trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều

kiện độc hại nguy hiểm (2004-2010); Chƣơng trình hành động quốc gia chống

tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em (2004-2010) đã đƣợc tiến hành đem lại

kết quả tƣơng đối khả quan; Chƣơng trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn

2011-2015; Chƣơng trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020;

Chƣơng trình quốc gia về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất giai

đoạn 2016-2020 cũng đang đƣợc xây dựng.

Chƣơng trình hỗ trợ Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xóa bỏ các hình

thức lao động trẻ em tồi tệ nhất do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội

phối hợp với Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế ILO tại Việt Nam với các

mục tiêu: (a) Cải thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động trẻ em với số liệu

cụ thể về trẻ em trai và trẻ em gái; (b) Tạo môi trƣờng thuận lợi để xóa bỏ các

hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất ở cấp độ quốc gia; (c) Xây dựng và thực

hiện các mô hình can thiệp lồng ghép nhằm giảm thiểu các hình thức lao động

trẻ em tồi tệ nhất tại các tỉnh đƣợc chọn, và tổng hợp thành tài liệu để sẵn

sàng cho việc nhân rộng các mô hình; (d) Các hoạt động vận động chính sách,

nâng cao nhận thức và tăng cƣờng năng lực đƣợc lồng ghép và thực hiện

trong tất cả 3 mục tiêu nêu trên nhƣ là những vấn đề lồng ghép. Chƣơng trình

đƣợc tiến hành thí điểm tại 5 tỉnh, thành phố: Lào Cai, Ninh Bình, Quảng

Nam, Đồng Nai và Hà Nội.

78

2.3. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TƢƠNG THÍCH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT

NAM VỚI PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO

ĐỘNG TRẺ EM

Nhìn chung, các quy định của pháp luật Việt Nam tƣơng đối phù hợp với

các tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế về ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em.

Theo dõi Bảng 2.1 - Mức tuổi lao động tối thiểu xác lập theo Công ƣớc

số 138 của ILO và Bảng 2.2 - Độ tuổi lao động tối thiểu theo pháp luật Việt

Nam, có thể thấy quy định về mục này của chúng ta hoàn toàn phù hợp với

tiêu chuẩn quốc tế tại Công ƣớc số 138 và Khuyến nghị số 146 của ILO.

Chúng ta cũng đã xác định đƣợc danh mục công việc đƣợc sử dụng ngƣời

dƣới 13 tuổi và ngƣời từ 13 đến dƣới 15 tuổi làm việc.

Quy định tại Điều 165 Bộ luật Lao động và Thông tƣ số 10/2013/TT-

BLĐTBXH đã đƣa ra danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao

động là ngƣời chƣa thành niên. Đây là các công việc tƣơng ứng với các công

việc nguy hại tại Công ƣớc số 138, Công ƣớc số 182 và Khuyến nghị số 190

của ILO. Về cơ bản, danh mục này đã quy định khá chi tiết từ quy định về công

việc nguy hại của các văn kiện quốc tế nêu trên về công việc nguy hại.

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam mới chỉ đƣa ra đƣợc một số quy định cơ

bản, còn rất nhiều tiêu chuẩn quốc tế về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

chúng ta còn chƣa tiến hành “nội luật hóa” hoặc quy định chƣa phù hợp. Cụ thể:

Mặc dù đã phê chuẩn Công ƣớc số 182 nhƣng pháp luật Việt Nam vẫn

chƣa đƣa ra khái niệm “ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em”, “các hình thức

lao động trẻ em tồi tệ nhất” trong khi đây là nền tảng cho việc loại bỏ lao

động trẻ em và chúng ta cũng đã xác định mục tiêu ƣu tiên là xóa bỏ các hình

thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.

Việt Nam cũng chƣa có quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ

ngơi áp dụng riêng để phù hợp với lao động chƣa thành niên mà vẫn giống

nhƣ các đối tƣợng lao động khác.

79

Bên cạnh đó, một số yêu cầu về nghĩa vụ của quốc gia trong việc áp

dụng ngay những biện pháp khẩn cấp để đảm bảo nghiêm cấm và xóa bỏ các

hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất đƣợc xác định trong Công ƣớc số 182 và

Khuyến nghị số 190 mà Việt Nam vẫn chƣa luật hóa đƣợc, ví dụ: thiết lập

hoặc chỉ định cơ chế quốc gia giám sát việc thực hiện Công ƣớc; chỉ định một

cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc thực hiện Công ƣớc; xác

định ngƣời chịu trách nhiệm trong trƣờng hợp các quy định quốc gia về việc

cấm và loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất không đƣợc tuân

thủ; quy định một hệ thống giám sát đặc biệt đối với những doanh nghiệp đã

sử dụng những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất…

Tuy còn nhiều vấn đề tồn tại trong quá trình nội luật hóa các quy

định quốc tế về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, có thể thấy Việt Nam

đã rất cố gắng trong việc xây dựng pháp luật làm cơ sở điều chỉnh vấn đề

này. Chúng ta cần tiến hành nghiên cứu kỹ các tiêu chuẩn quốc tế, tiến

hành khảo sát điều tra để đƣa ra những quy định phù hợp với thực tiễn

nhằm đạt hiệu quả thực thi cao nhất.

Kết luận Chƣơng 2

Các quyền trẻ em đã đƣợc đề cập rất nhiều trong các văn kiện quốc tế.

Trong đó, các tiêu chuẩn về lao động trẻ em cũng đã đƣợc xây dựng rõ ràng

và cụ thể, chủ yếu là trong các điều ƣớc quốc tế do ILO ban hành. Việt Nam

cũng rất tích cực trong việc tham gia các điều ƣớc quốc tế về quyền trẻ em nói

chung và lao động trẻ em nói riêng. Nhìn chung, các quy định của pháp luật

Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em khá phù hợp với các tiêu

chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, các quy định này còn khá chung chung và khái

quát, vẫn cần đƣợc bổ sung và hoàn thiện thêm nhằm thực hiện mục tiêu lâu

dài về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

80

Chương 3

THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT VÀ PHƢƠNG HƢỚNG,

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM Ở VIỆT NAM

3.1. THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ

NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM

3.1.1. Khái quát thực trạng, nguyên nhân và tác động tiêu cực của

lao động trẻ em ở Việt Nam

* Khái quát thực trạng lao động trẻ em ở Việt Nam

Báo cáo “Điều tra quốc gia về Lao động trẻ em 2012 - Các kết quả

chính” do Tổ chức Lao động quốc tế, Chƣơng trình quốc tế về xóa bỏ lao

động trẻ em của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO-IPEC), Bộ Lao động -

Thƣơng binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê Việt Nam - Hà Nội thực hiện.

Đây là cuộc điều tra chính thức đầu tiên trên phạm vi quốc gia về lao động trẻ

em tại Việt Nam.

Theo ƣớc tính của cuộc điều tra, năm 2012, trong tổng số trên 18,3 triệu

trẻ em Việt Nam, có khoảng 1/6 trong số này (2,83 triệu em) đang tham gia

hoạt động kinh tế, trong đó 42,6% là trẻ em gái. Gần 86% trẻ em hoạt động

kinh tế sinh sống ở nông thôn và gần 2/3 trong số này thuộc nhóm 15-17 tuổi.

Có 1,75 triệu trẻ em thuộc nhóm lao động trẻ em, chiếm 9,6% dân số

trẻ em và khoảng 62% tổng số trẻ em hoạt động kinh tế, trong đó 40,2% là trẻ

em gái. Gần 85% số lao động trẻ em sinh sống ở khu vực nông thôn và 60%

trong nhóm từ 15-17 tuổi. Tuổi bắt đầu làm việc của trẻ em khá sớm, phổ biến

ở độ tuổi từ 12 tuổi trở lên. Khoảng 67% làm việc trong nông nghiệp, 15,7%

trẻ em trong khu vực công nghiệp - xây dựng và 16,7% trẻ em làm việc trong

khu vực dịch vụ; một bộ phận đáng kể trẻ em làm việc trong điều kiện lao

81

động ngoài trời, đi lại nhiều dễ bị tai nạn, nguy hiểm, điều kiện lao động quá

nóng, lạnh, môi trƣờng có hóa chất gây hại, dễ bị tai nạn, thƣơng tích, và các

tổn thƣơng khác đến sự phát triển thể chất của trẻ em.

Trẻ em lao động làm 97 công việc cụ thể, trong đó có 17 công việc

(gồm 11 thuộc khu vực nông nghiệp; 3 thuộc khu vực công nghiệp - xây dựng

và 3 thuộc khu vực dịch vụ) tập trung trên 80% trẻ em tham gia làm việc. Địa

điểm làm việc phổ biến là cánh đồng, nông trại hoặc vƣờn cây, tại nhà và địa

điểm làm việc không cố định. Một bộ phận lớn trẻ em lao động tham gia vào

làm công việc nói trên chịu ảnh hƣởng tiêu cực của công việc đến sức khỏe và

sự phát triển thể chất của trẻ em.

Trong tổng số 1,75 triệu lao động trẻ em, có khoảng 1,315 triệu em,

chiếm gần 75% tổng số trẻ em hoạt động kinh tế và chiếm gần 7,2% trẻ em từ

5-17 tuổi có nguy cơ làm trong các nghề thuộc nhóm nghề bị cấm sử dụng lao

động chƣa thành niên hoặc điều kiện lao động có hại theo quy định của Thông

tƣ số 10/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội.

* Nguyên nhân của lao động trẻ em ở Việt Nam

Xét tổng quát, tình trạng lao động trẻ em ở Việt Nam cũng bắt nguồn

hoặc bị chi phối bởi những nguyên nhân phổ biến đƣợc nêu tại Chƣơng I. Ví

dụ, theo kết quả khảo sát về lao động trẻ em ở tám tỉnh do Bộ Lao động -

Thƣơng binh và Xã hội và ILO tiến hành năm 2009, 35% trong tổng số trẻ em

nghỉ học sớm với lý do để tham gia lao động giúp đỡ gia đình, và hơn 4% là

do gia đình bắt buộc thôi học để làm việc. Dƣới đây là một số tác nhân chính

của tình trạng lao động trẻ em ở Việt Nam:

- Tỷ lệ nghèo đói vẫn còn cao, đặc biệt ở các vùng nông

thôn, miền núi.

- Về nhận thức, vẫn còn tồn tại khá phổ biến quan niệm cho

rằng trẻ em cần phải làm việc sớm để rèn luyện các kỹ năng cần

thiết cho tƣơng lai và đóng góp vào kinh tế gia đình.

82

- Về văn hóa, thái độ phân biệt đối với phụ nữ và trẻ em gái

còn nặng nề ở nhiều khu vực, đặc biệt trong vấn đề học tập.

- Các giá trị gia đình giảm sút, khủng hoảng gia đình và tỷ lệ

ly hôn tăng.

- Xuất phát từ kinh tế: tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm,

thu nhập thấp, thiếu cơ hội nghề nghiệp còn khá phổ biến ở nhiều

vùng cũng là nguyên nhân dẫn tới lao động trẻ em.

- Chất lƣợng giáo dục nhìn chung còn thấp; cơ sở hạ tầng

giáo dục ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa còn hạn chế; một số nội

dung giáo dục chƣa thực sự phù hợp; chi phí đi học cao ngoài mức

chi trả của nhiều gia đình.

- Tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh đi liền với làn

sóng di cƣ tự do từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị.

- Thiên tai, dịch bệnh và đại dịch HIV/AIDS dẫn đến nhiều

trẻ em mồ côi hoặc phải sống trong các gia đình có hoàn cảnh đặc

biệt khó khăn, buộc các em phải lao động trợ giúp gia đình, nuôi

sống bản thân.

- Hệ thống pháp luật và chính sách về ngăn ngừa và xóa bỏ

lao động trẻ em còn nhiều điểm chƣa phù hợp, tổ chức thực thi còn

thiếu hiệu quả [37].

* Tác động tiêu cực của lao động trẻ em tại Việt Nam

Giống nhƣ ở các quốc gia khác, lao động trẻ em ở Việt Nam đã và đang

dẫn đến nhiều hậu quả, cả trƣớc mắt và lâu dài, không chỉ đối với chính các

em mà còn với gia đình, cộng đồng và xã hội.

Theo Báo cáo điều tra quốc gia về lao động trẻ em 2012, trong tổng số

1,75 triệu trẻ em lao động thì 45,2% hiện vẫn còn tiếp tục đi học, 52% hiện đã

thôi học và 2,8% chƣa bao giờ đi học. Thậm chí tại Đông Nam Bộ, chỉ có 17%

83

trẻ em lao động còn tiếp tục đi học, gần 5% chƣa bao giờ đi học. Số liệu này

cho thấy tác động tiêu cực của lao động trẻ em đối với việc học tập của trẻ.

Trong quá trình làm việc, lao động trẻ em phải đối mặt với các vấn đề

sức khỏe và an toàn lao động. Mỗi trẻ em có thể gặp một hoặc nhiều nguy

cơ. Theo Báo cáo Điều tra lao động trẻ em năm 2012, trong tổng số trẻ em

lao động đã từng bị tai nạn trong quá trình làm việc có 27,5% trẻ em bị côn

trùng đốt hoặc cắn, gần 19% bị các vết thƣơng bề mặt, trên 13% bị mệt mỏi,

trên 4% bị sai khớp hoặc gãy xƣơng và khoảng 2% gặp phải các vấn đề liên

quan đến hô hấp. Trong quá trình lao động còn có nhiều nguy cơ gây tổn

thƣơng khác đến sự phát triển thể chất của trẻ em, trong đó có 38% trẻ em

phải chịu ảnh hƣởng của khói, bụi và rác; trên 29% phải làm việc với các

công cụ, dụng cụ có khả năng gây nguy hiểm cho trẻ em; gần 21% làm việc

trong môi trƣờng quá nóng hoặc quá lạnh; gần 10% làm việc trong môi

trƣờng có hóa chất gây hại. Môi trƣờng làm việc nhƣ vậy có thể làm cho trẻ

em kém phát triển hoặc không thể phát triển bình thƣờng về thể chất. Ngoài

ra, trong một số nghiên cứu khác, sự phát triển về tinh thần, đạo đức và xã

hội của trẻ em cũng bị ảnh hƣởng do phải chứng kiến những tiêu cực của xã

hội từ khi còn chƣa trƣởng thành.

Nhìn chung, lao động trẻ em tại Việt Nam có tác động xấu với bản

thân trẻ và cả sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nƣớc. Do đó, ngăn ngừa và

xóa bỏ lao động trẻ em là thực sự cấp thiết, đặc biệt khi nƣớc ta đƣợc đánh

giá là tuy có một nguồn lực lao động đông đảo nhƣng còn thiếu kĩ năng và

yếu về chất lƣợng, điều mà đang đặt Việt Nam vào vị trí kém cạnh tranh hơn

so với nhiều nƣớc đang phát triển khác.

3.1.2. Thực trạng thực thi pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao

động trẻ em ở Việt Nam

3.1.2.1. Về độ tuổi lao động và học nghề

Quy định 15 tuổi là độ tuổi tối thiểu đƣợc nhận vào làm việc xuất phát

84

từ thực tế ở Việt Nam, đây là độ tuổi trẻ em kết thúc việc học tại trƣờng trung

học cơ sở. Một số loại nghề nghiệp, công việc đƣợc nhận trẻ em dƣới 15 tuổi

học nghề và làm việc cũng đƣợc quy định rất cụ thể và chặt chẽ. Tuy nhiên,

thực tế các cuộc điều tra khảo sát đã cho thấy rằng, có nhiều hiện tƣợng sử

dụng trẻ em trong các công việc, ngành nghề không đƣợc pháp luật cho phép.

Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2012 cho thấy, trẻ em bắt đầu

đi làm thuê rất sớm. Trong số trẻ em lao động ở Việt Nam, có 39,1% trẻ em

bắt đầu làm việc ở độ tuổi thuộc nhóm 14-17 tuổi; 25,1% thuộc nhóm 12-13

tuổi; thậm chí có tới 11% bắt đầu làm việc trƣớc 10 tuổi.

Tình trạng vi phạm độ tuổi trẻ em tham gia lao động, học nghề, tập

nghề xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trƣớc tiên, do sự thiếu hiểu

biết các quy định pháp luật ở cả phía ngƣời lao động và phía ngƣời sử dụng

lao động. Đối với phía ngƣời sử dụng lao động không loại trừ hiện tƣợng lạm

dụng, bóc lột sức lao động của trẻ em, ngƣời chƣa thành niên. Ranh giới thực

tế giữa học nghề và lao động là rất khó phân biệt. Hơn nữa giữa bên dạy nghề

và ngƣời học nghề thƣờng không ký hợp đồng nên càng khó phân biệt. Do đó,

khi có đoàn kiểm tra đến, các cơ sở sản xuất, gia công có thể nói là các em

học nghề theo hợp đồng miệng, trong khi thực ra lại là lao động sản xuất.

Ngoài ra, do quản lý còn lỏng lẻo, có nhiều trƣờng hợp các em khai tuổi tăng

lên so với tuổi thực để đƣợc nhận vào làm việc.

Nhƣ vậy, mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng về độ tuổi tối thiểu trẻ

em có thể tham gia lao động, học nghề nhƣng do nhiều nguyên nhân từ phía

ngƣời sử dụng lao động, ngƣời lao động và cả cơ chế quản lý của cơ quan nhà

nƣớc mà vẫn có nhiều trƣờng hợp vi phạm các quy định này. Những vi phạm

này diễn ra chủ yếu ở các cơ sở sản xuất tƣ nhân, hộ kinh doanh gia đình vì

vậy rất khó để quản lý, kiểm soát.

3.1.2.2. Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Bộ luật Lao động 2012 quy định với ngƣời lao động chƣa thành niên

85

thời gian làm việc tối đa là 8 giờ một ngày hoặc 40 giờ một tuần. Tuy

nhiên, theo Báo cáo Điều tra về lao động trẻ em năm 2012, có tới 32,4%

(hay 569 nghìn em) có thời gian làm việc nhiều hơn 42 giờ một tuần. Số

lƣợng này chủ yếu tập trung ở nhóm 15-17 tuổi, cứ hai lao động trẻ em

thuộc nhóm tuổi này thì có một em làm nhiều hơn 42 giờ một tuần. Vẫn

còn 5000 em ở độ tuổi 5-11 và 51.162 em thuộc độ tuổi 12-14 có thời gian

làm việc quá dài, trên 42 giờ một tuần. Đây là nhóm cần đặc biệt chú ý vì

thời gian làm việc dài sẽ vắt kiệt sức lực, ảnh hƣởng đến sự phát triển thể

chất, tầm vóc và tâm lý của trẻ sau này.

Nhìn chung, thời giờ làm việc của các em hoàn toàn phụ thuộc vào

yêu cầu của chủ sử dụng lao động. Nhiều em làm thêm hoặc làm những công

việc vào buổi tối để có thêm thu nhập. Nhiều nghiên cứu cho thấy trẻ em

phải làm việc quá số giờ quy định rất nhiều thậm chí là trong môi trƣờng,

điều kiện khắc nghiệt.

Có thể thấy việc vi phạm các quy định về thời gian làm việc và thời gian

nghỉ ngơi đối với lao động chƣa thành niên là rất phổ biến. Để có thu nhập, các

em chấp nhận làm việc nhiều giờ, làm thêm giờ. Điều này ảnh hƣởng rất lớn tới

sự phát triển của trẻ và việc đảm bảo các quyền cơ bản của trẻ.

3.1.2.3. Về điều kiện làm việc

* Về điều kiện sử dụng lao động chưa thành niên

Mặc dù Bộ luật Lao động đã có quy định nhƣng trong thực tế, chủ sử

dụng lao động thƣờng không đăng ký với Sở Lao động - Thƣơng binh và Xã

hội địa phƣơng về việc sử dụng lao động trẻ em dƣới 15 tuổi theo quy định tại

Thông tƣ số 11/2013/TT-BLĐTBXH.

Theo Điều 164 Bộ luật Lao động, điều kiện bắt buộc đối với ngƣời sử

dụng lao động trong trƣờng hợp nhận trẻ em chƣa đủ 15 tuổi vào làm việc là

phải có sự đồng ý và theo dõi của cha mẹ hoặc ngƣời đỡ đầu, và sự đồng ý

86

này phải bằng văn bản mới có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, tình trạng phổ biến

hiện nay là việc nhận và sử dụng lao động chƣa thành niên hầu nhƣ không ký

kết hợp đồng và không có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc ngƣời đỡ

đầu. Hầu hết các trƣờng hợp này đều chỉ dƣới hình thức thỏa thuận miệng với

gia đình hoặc với chính ngƣời lao động.

Một cuộc điều tra về trẻ em làm thuê do Viện Khoa học và Lao động -

Xã hội tiến hành với sự giúp đỡ của UNICEF Việt Nam xem xét tình hình lao

động của 265 em độ tuổi từ 6-17 đang làm thuê trong các nghề nặng nhọc,

độc hại ở 153 hộ, cơ sở, doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc

doanh trên địa bàn 78 xã, phƣờng của 13 tỉnh, thành phố thuộc 8 vùng, lãnh

thổ cho thấy: 153 chủ sử dụng lao động có sử dụng trẻ em dƣới 18 tuổi làm

việc, thì có 102 ngƣời ký hợp đồng lao động khi thuê trẻ em làm việc

(66,7%); 51 ngƣời (33,3%) không ký hợp đồng [38].

Nhƣ vậy, nhìn chung, rất ít khi các em có hợp đồng chính thức, hầu hết

đều là thỏa thuận miệng với ngƣời sử dụng lao động. Những thỏa thuận này

không rõ ràng do đó các em rất dễ bị lạm dụng bóc lột. Đối với một số ít

trƣờng hợp có ký hợp đồng lao động thì nội dung cũng hết sức sơ sài, trong

hợp đồng không mô tả công việc cụ thể của ngƣời lao động, nghĩa vụ của chủ

sử dụng lao động không đƣợc đề cập rõ ràng. Trong khi đó, với pháp luật lao

động, hợp đồng lao động là chế định cơ bản và quan trọng nhất, vì hợp đồng

lao động là cơ sở pháp lý từ đó làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động.

Thêm nữa, nội dung của hợp đồng lao động, theo quy định tại điều 29 Bộ luật

lao động, có liên quan đến hầu hết các chế định khác của Luật lao động nhƣ

tiền lƣơng, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động…

Hợp đồng cũng là cơ sở để giám sát, kiểm tra sự tuân thủ pháp luật về độ tuổi

lao động. Sự vi phạm quy định pháp luật về giao kết hợp đồng trong thực tế

ảnh hƣởng rất lớn tới quyền lợi của lao động chƣa thành niên.

87

* Về danh mục công việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên

Thông tƣ số 10/2013/TT-BLĐTBXH đã có nhiều điểm bổ sung mới:

tăng lên nhiều công việc, nhóm công việc, điều kiện lao động so với Thông tƣ

số 09/TT-LB về cả nội dung lẫn tính chất công việc. Thông tƣ số 10 đã tập

trung nêu lên những danh mục công việc cấm sử dụng lao động chƣa thành

niên vào những ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp hoá

chất và một số công việc thuộc ngành nông nghiệp, ngƣ nghiệp, làng nghề

truyền thống, sản xuất kinh doanh nhỏ, cá thể, hộ gia đình thuộc khu vực phi

chính thức nơi mà tình trạng lao động trẻ em diễn ra phổ biến.

Tuy nhiên, một số ngành nghề nông nghiệp và ngƣ nghiệp cũng đƣợc

cho là những ngành nguy hiểm do việc sử dụng máy móc thiếu những quy

trình, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, có yếu tố nặng

nhọc, độc hại và nguy hiểm còn chƣa đƣợc xem xét bổ sung nhƣ nghề đánh

bắt và chế biến thuỷ sản hoặc các nghề nông nghiệp khác nhƣ cày, bừa…

Một số nghề, công việc khác thuộc khu vực phi chính thức, còn diễn ra

phổ biến tại những cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ, hộ gia đình nhƣ nghề may

gia công, khâu giầy dép, bóc tách hạt điều... là những nghề đã chỉ ra là có sử

dụng lao động trẻ em và có yếu tố độc hại, nặng nhọc nhƣng chƣa đƣợc

nghiên cứu đƣa vào danh mục nghề cấm sử dụng đối với nhóm đối tƣợng này.

3.1.2.4. Về thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực lao động chưa thành niên

Hiện tại, trong hệ thống ngành lao động - thƣơng binh và xã hội chƣa

có riêng thanh tra chuyên ngành về lao động chƣa thành niên. Vì vậy, cũng

chƣa có quy định riêng về công tác thanh tra, kiểm tra đối với lao động chƣa

thành niên trong các doanh nghiệp. Việc thanh tra, kiểm tra đối với lao động

chƣa thành niên chủ yếu đƣợc thực hiện chung với các nội dung thanh tra lao

động khác trong doanh nghiệp. Trong khi theo báo cáo kết quả khảo sát về

tình hình lao động trẻ em năm 2012 cho thấy lao động trẻ em thƣờng diễn ra

88

phổ biến ở các ngành nông nghiệp, ngƣ nghiệp và khu vực sản xuất, kinh

doanh nhỏ, nơi mà thanh tra lao động chƣa với tới đƣợc.

Vì vậy, cần nghiên cứu các tiêu chuẩn và hƣớng dẫn của ILO để hình

thành và xây dựng thanh tra lao động chƣa thành niên đáp ứng những yêu cầu

về thực thi pháp luật lao động trẻ em.

3.1.2.5. Về xử lý vi phạm pháp luật lao động chưa thành niên

Mặc dù pháp luật đã đƣa ra những hình thức và mức xử phạt với các

hành vi vi phạm lao động chƣa thành niên nhƣng trong thực tế, rất ít trƣờng

hợp vi phạm bị đƣa ra xử lý. Nguyên nhân là do công tác kiểm tra, giám sát

sai phạm pháp luật lao động chƣa thành niên còn rất yếu. Điều này làm giảm

tính răn đe của việc xử lý vi phạm pháp luật và hành vi vi phạm pháp luật lao

động chƣa thành niên vẫn tiếp tục gia tăng.

Bộ luật Hình sự đã có quy định các tội liên quan tới các hình thức lao

động trẻ em tồi tệ nhất. Tuy nhiên, thực tế áp dụng luật lại gặp nhiều khó

khăn và không hiệu quả. Ví dụ, với hành vi sử dụng trẻ em đi ăn xin xảy ra rất

nhiều trong thời gian vừa qua, có thể xử lý hình sự về tội hành hạ ngƣời khác

theo Điều 110 Bộ luật Hình sự nếu xác định đƣợc đối tƣợng chăn dắt đối xử

tàn ác với ngƣời lệ thuộc, mức phạt cho hành vi này là phạt tù từ 3 tháng đến

3 năm. Nếu hành vi đối xử tàn ác này gây thƣơng tích thì ngƣời phạm tội phải

chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe của ngƣời khác (Điều 104 BLHS). Cũng có thể xem xét về tội vi phạm

quy định về sử dụng lao động trẻ em theo Điều 228. Tuy nhiên, thực tế thì các

hành vi này thƣờng chỉ bị phạt hành chính, vì việc xác định loại tội này là rất

khó. Để chứng minh đƣợc hành vi này đã cấu thành tội hành hạ ngƣời khác

thì phải chứng minh những kẻ chăn dắt này có hành vi đối xử tàn ác nhƣ gây

đau đớn về thể xác, đè nén, áp bức về tinh thần của ngƣời bị lệ thuộc, đồng

thời phải chứng minh ngƣời già, ngƣời khuyết tật hay trẻ em phải là ngƣời lệ

89

thuộc (có thể lệ thuộc về quan hệ gia đình nhƣ con cái, cha mẹ hay lệ thuộc về

kinh tế…) với những kẻ chăn dắt; còn đối với Điều 228 Bộ luật Hình sự thì rõ

ràng để xác định sử dụng trẻ em đi xin ăn, bán vé số… có phải là làm những

công việc nặng nhọc, nguy hiểm hay không là rất khó khăn. Do đó, cần bổ

sung thêm cơ sở xác định hành vi liên quan tới lao động trẻ em áp dụng luật

hình sự và nghiên cứu tăng mức xử phạt vi phạm hành chính với loại tội này

nhằm nâng cao tính răn đe, tăng hiệu quả trong việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao

động trẻ em.

3.1.2.6. Về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất

Nhƣ đã phân tích tại Chƣơng II, pháp luật Việt Nam chƣa có định nghĩa

nào về “những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất” tuy nhiên tất cả các hình

thức lao động trẻ em tồi tệ nhất nêu ở Điều 3 Công ƣớc 182 đều bị cấm và xử

lý theo pháp luật Việt Nam. Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc ngăn chặn sử

dụng lao động trẻ em trong những công việc nguy hiểm, độc hại, khai thác

tình dục trẻ em, buôn bán trẻ em và mọi hình thức nô lệ khác. Mặc dù vậy, do

những hạn chế trong khuôn khổ pháp luật, hoạt động thanh tra giám sát và

nhiều nguyên nhân về xã hội khác mà việc thực thi pháp luật trong hoạt động

xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất vẫn chƣa thực sự hiệu quả.

Theo Báo cáo Điều tra kết quả lao động trẻ em năm 2012, có 1315

nghìn trẻ em, chiếm 75% tổng số lao động trẻ em đang làm các công việc mà

công việc này có những công đoạn điều kiện làm việc thuộc danh mục cấm sử

dụng lao động trẻ em hoặc môi trƣờng làm việc có ảnh hƣởng xấu đến sự phát

triển của trẻ. Trong đó, có 61% thuộc nhóm tuổi 15-17, 29,3% thuộc nhóm

12-14 tuổi và 9,7% thuộc nhóm 5-11 tuổi. Tỷ lệ này còn quá cao đặc biệt với

nhóm tuổi 5-11, là độ tuổi trẻ dễ bị tổn thƣơng về tâm lý, sức khỏe và dễ bị

lạm dụng nhất.

Theo điều tra thông tin ban đầu tại 5 tỉnh, thành phố tham gia Chƣơng

90

trình Quốc tế về xóa bỏ Lao động trẻ em do Bộ Lao động - Thƣơng binh và

Xã hội phối hợp với Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế ILO tại Việt Nam

cho thấy: Trẻ em làm những công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm tại

các làng nghề thủ công (làm mộc, điêu khắc đá, dệt chiếu, chế biến thực

phẩm), bị ảnh hƣởng bởi môi trƣờng làm việc độc hại, bởi công việc nặng

nhọc và nguy hiểm. Bên cạnh đó, cũng có trẻ em làm những công việc có

nguy cơ bị xâm hại tình dục, bị buôn bán hoặc bóc lột sức lao động nhƣ trong

lĩnh vực hƣớng dẫn du lịch, chèo đò, bán hàng rong, phục vụ nhà hàng, khách

sạn và trẻ em làm những công việc về bản chất có mang tính bóc lột sức lao

động nhƣ đào vàng, thu nhặt lâm sản, đánh cá… [52].

Qua khảo sát cho thấy trẻ em lao động ở thành phố Hồ Chí Minh phải

làm các công việc trong ngành dệt may, giày da, chế biến thực phẩm hay khai

thác khoáng sản, làm gạch ngói... Các em phải làm việc trong điều kiện gò bó,

chật chội, thiếu ánh sáng, tiếng ồn, ô nhiễm không khí, hoá chất. Nhiều em

phải đƣơng đầu với tai nạn lao động và các bệnh nghề nghiệp ảnh hƣởng đến

sự phát triển thể chất, trí tuệ và tinh thần của các em.

Mặc dù Khoản 2 Điều 165 Bộ luật Lao động và Thông tƣ số 10/2013/TT-

BLĐTBXH đã đƣa ra danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao

động chƣa thành niên, Bộ luật Hình sự cũng đã đƣa ra hình phạt với loại tội phạm

sử dụng trẻ em trong các công việc này tuy nhiên tình hình vẫn rất phức tạp.

Những tồn tại trên có một phần lớn nguyên nhân là do Chính phủ Việt

Nam chƣa tuân thủ đầy đủ những tiêu chuẩn tối thiểu và việc thực thi pháp

luật chƣa thực sự hiệu quả. Cụ thể, về tội danh mua bán, đánh tráo và chiếm

đoạt trẻ em, mặc dù đã có quy định khung hình phạt tại Bộ luật Hình sự, Luật

phòng chống nạn mua bán ngƣời năm 2012, nhƣng từ đó đến nay chƣa có vụ

án nào đƣợc khởi tố theo luật năm 2012. Nhiều cán bộ nhà nƣớc còn chƣa

hiểu rõ thế nào là buôn ngƣời, đặc biệt là buôn bán lao động cƣỡng ép, do đó

91

họ không nhận diện đƣợc các nạn nhân hoặc không thực hiện điều tra hình sự

một cách hiệu quả trong các vụ đã khởi tố.

Nhìn chung, việc thực hiện các quy định về ngăn ngừa và xóa bỏ lao

động trẻ em còn chƣa nghiêm và thiếu đồng bộ. Nguyên nhân chủ yếu là do

công tác quản lý của Nhà nƣớc bị buông lỏng, công tác thanh tra, giám sát chƣa

đƣợc quan tâm và thực hiện hiệu quả, khi có sai phạm xảy ra thì biện pháp xử

phạt chƣa nghiêm khắc đến mức cần thiết, thậm chí còn chƣa đƣợc xử lý kịp

thời. Pháp luật cũng chƣa có những quy định cụ thể về cách thức thanh tra,

kiểm tra tình trạng lao động trẻ em tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh.

3.2. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VIỆT NAM VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM

3.2.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam

về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

Tuy Việt Nam mới chỉ phê chuẩn một số trong rất nhiều công ƣớc của

Tổ chức Lao động quốc tế ILO nhƣng đó đều là những công ƣớc quan trọng,

nhất là Công ƣớc số 138 về tuổi lao động tối thiểu và Công ƣớc số 182 về

cấm và hành động ngay để xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ

nhất. Hệ thống pháp luật lao động chƣa thành niên, lao động trẻ em, ngăn

ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em đã đƣợc hình thành tƣơng đối phù hợp với các

tiêu chuẩn theo các công ƣớc quốc tế nhƣng vẫn chƣa đầy đủ và đồng bộ, thể

hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, chúng ta vẫn chƣa thống nhất đƣợc các khái niệm “lao động

trẻ em” và “lao động chƣa thành niên”, cũng nhƣ chƣa xác định rõ các khái

niệm “lạm dụng sức lao động”, “lao động cƣỡng bức”… Điều này gây

không ít khó khăn cho việc soạn thảo văn bản pháp lý cũng nhƣ áp dụng văn

bản, ngay cả trong việc nghiên cứu và tuyên truyền về ngăn ngừa và xóa bỏ

lao động trẻ em.

92

Thứ hai, hệ thống pháp luật Việt Nam còn chƣa có một văn bản có hiệu

lực pháp lý cao dành để điều chỉnh riêng vấn đề lao động trẻ em. Hiện nay

mới chỉ có 5 điều nằm trong Bộ luật Lao động quy định về lao động chƣa

thành niên. Các quy định này còn khá chung chung, chủ yếu là đặt ra các

nguyên tắc, mang tính quy ƣớc chứ chƣa thể hiện rõ tính bắt buộc phải tuân

thủ. Còn lại một số quy định nằm rải rác ở Nghị định hƣớng dẫn và một số

Thông tƣ. Luật pháp cũng mới chỉ quy định trong phạm vi trẻ em tham gia

quan hệ lao động trên cơ sở giao kết hợp đồng. Trong khi đó, trƣờng hợp trẻ

em lao động không có giao kết hợp đồng lại là chủ yếu và khó kiểm soát, đây

cũng chính là đối tƣợng dễ bị lạm dụng, bóc lột nhất. Chính vì thế, cần có một

văn bản tập hợp và quy định chặt chẽ, rõ ràng về lao động trẻ em, ngăn ngừa

và xóa bỏ lao động trẻ em. Đây phải là một văn bản có giá trị pháp lý cao, là

cơ sở để điều chỉnh hiệu quả vấn đề này.

Thứ ba, pháp luật Việt Nam thiếu các quy định cụ thể về cơ chế thanh

tra, kiểm tra, giám sát, xử lý những hành vi vi phạm trong lĩnh vực lao động

chƣa thành niên, lao động trẻ em. Chƣa có một văn bản cụ thể quy định chi

tiết về thanh tra đối với lao động đặc thù này. Việc xử lý vi phạm cũng chƣa

kịp thời hoặc quá nhẹ nhàng. “Rất ít các vụ được đưa ra xét xử về “tội vi

phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em”. Phần lớn các vụ vi phạm, thậm

chí hậu quả nghiêm trọng tới mức chết người, tàn tật… nhưng chỉ dừng lại ở

mức phạt hành chính hoặc hòa giải dân sự” [37]. Nguyên nhân của việc này

là do trẻ em là đối tƣợng dễ sai bảo, yếu ớt, không dám đứng lên bảo vệ

quyền lợi của mình, không có tổ chức công đoàn và không dám khiếu nại.

Thêm nữa, trẻ em tham gia lao động thƣờng do hoàn cảnh bắt buộc do đó các

em rơi vào vị trí bất lợi hơn hẳn so với các đối tƣợng lao động khác.

Thứ tư, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật lao động trẻ

em, ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, kể

93

cả với ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động. Vì vậy, cần có cơ chế tạo

điều kiện cho công tác này đƣợc đẩy mạnh và mở rộng phạm vi.

Thứ năm, do nhu cầu hội nhập quốc tế, Việt Nam sẽ tiếp tục nghiên cứu

và phê chuẩn những công ƣớc khác phù hợp với điều kiện và trình độ của

nƣớc ta. Điều này khiến chúng ta phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật lao động

nói chung và pháp luật dành cho lao động chƣa thành niên, lao động trẻ em,

ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em phù hợp với các công ƣớc mà chúng ta

đã ký kết, gia nhập và tạo điều kiện để tiếp tục ký kết các công ƣớc khác.

Nƣớc ta là một nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu do

con ngƣời, vì con ngƣời, vì vậy việc hoàn thiện pháp luật về lao động chƣa

thành niên, lao động trẻ em và ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em là rất cần

thiết để bảo vệ quyền lợi cơ bản và sự phát triển toàn diện thế hệ tƣơng lai của

đất nƣớc.

3.2.2. Quan điểm về hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về

ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

* Bổ sung, cụ thể hóa các quy định pháp luật lao động nói chung và

ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em nói riêng

Hiện nay, pháp luật về lao động trẻ em nói chung và ngăn ngừa, xóa bỏ

lao động trẻ em nói riêng vẫn còn chƣa đủ, một số quy định chƣa hợp lý và

chƣa đƣợc cụ thể hóa hoặc chƣa đƣợc tuân thủ trên thực tế. Vấn đề ngăn ngừa

và xóa bỏ lao động trẻ em chƣa thực sự nhận đƣợc sự quan tâm từ xã hội. Quá

trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này hầu nhƣ chƣa có sự

khảo sát, đánh giá thực tế, nhiều quy định chỉ mang tính phù hợp với các

nguyên tắc của pháp luật lao động quốc tế chứ chƣa có sự khảo sát, đánh giá

thực tế nhằm phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Các quy định còn quá ít và

chung chung, nằm rải rác ở luật và cả một số văn bản dƣới luật do đó tính

thực thi chƣa đƣợc đảm bảo. Do vậy, trƣớc tiên chúng ta cần hoàn thiện, bổ

94

sung các quy định pháp luật ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, tập hợp

trong một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhằm nâng cao

hiệu quả trong việc áp dụng và thực thi pháp luật về vấn đề này.

* Bảo đảm phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam

Cần phải xác định đƣợc rằng, với điều kiện kinh tế, xã hội nhƣ Việt

Nam hiện nay, việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em ngay lập tức là điều

không thể. Vấn đề này còn liên quan tới rất nhiều yếu tố khác: tình trạng đói

nghèo, giáo dục, văn hóa, nhận thức… Đây là những yếu tố không thể cải

thiện trong một sớm một chiều. Vì vậy, chúng ta cần xác định những ƣu tiên

trong quá trình xây dựng luật pháp tiến tới ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ

em, đó là loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và các biện pháp

ngăn ngừa và bảo vệ trẻ em lao động. Bên cạnh đó, do điều kiện kinh tế và

nhu cầu của xã hội, chƣa thể loại bỏ những công việc nhẹ nhàng, phù hợp với

lao động trẻ em, tuy nhiên cần quy định chặt chẽ và rõ ràng về các công việc

này, các điều kiện đƣợc sử dụng lao động trẻ em, các điều kiện đảm bảo an

toàn lao động, vệ sinh lao động…

* Bảo đảm phù hợp với các tiêu chuẩn của pháp luật lao động quốc tế

Trong quá trình hoàn thiện pháp luật về ngăn ngừa, xóa bỏ lao động

trẻ em cần coi trọng yêu cầu bảo đảm phù hợp với các tiêu chuẩn lao động

quốc tế về lao động trẻ em, đặc biệt là Công ƣớc số 138 và Công ƣớc số

182 là hai Công ƣớc cơ bản về lao động trẻ em mà Việt Nam đã phê chuẩn.

Bên cạnh đó, pháp luật cũng cần hƣớng tới việc tiếp cận các tiêu chuẩn,

quy định cụ thể phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam

đƣợc thể hiện trong các công ƣớc mà Việt Nam chƣa phê chuẩn nhƣng có

liên quan đến ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em. Ngoài ra, chúng ta

cũng nên tham khảo những quy định tiến bộ về ngăn ngừa và xóa bỏ lao

động trẻ em của các quốc gia khác.

95

3.2.3. Những giải pháp cụ thể về hoàn thiện khuôn khổ pháp luật

Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

Thứ nhất, cần thống nhất cách dùng các thuật ngữ “trẻ em”, “ngƣời

chƣa thành niên”, “lao động trẻ em”, “lao động chƣa thành niên” và quy định

rõ khái niệm “ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em”.

Pháp luật Việt Nam vẫn sử dụng đồng thời cả hai thuật ngữ “trẻ em” và

“lao động chƣa thành niên” mà không hề có phân biệt, quy ƣớc rõ ràng dẫn tới

việc gây khó khăn, nhầm lẫn cho việc áp dụng và nghiên cứu pháp luật về lĩnh

vực này. Pháp luật cũng chƣa có định nghĩa nào về lao động trẻ em, mặc dù

thuật ngữ này đã đƣợc đề cập đến trong một số văn bản pháp luật, ví dụ: Khoản

7 điều 7 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 quy định các điều

nghiêm cấm, trong đó có hành vi lạm dụng lao động trẻ em, trong khi đó, Bộ

luật Lao động lại mới chỉ đề cập tới khái niệm “lao động chƣa thành niên”. Các

khái niệm này cũng chƣa hoàn toàn phù hợp với các khái niệm trong pháp luật

quốc tế về lao động trẻ em. Do đó, việc thống nhất các khái niệm này là vô

cùng quan trọng vì đây là nền tảng trong lĩnh vực lao động trẻ em.

Bên cạnh đó, từ thực tế trên thế giới và cả Việt Nam cho thấy tính cấp

thiết của ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, Việt Nam đã và đang xây

dựng, thực hiện các Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về vấn đề này nhƣng hệ

thống pháp luật Việt Nam lại chƣa hề đề cập đến khái niệm “ngăn ngừa và

xóa bỏ lao động trẻ em”. Việc quy định khái niệm này trong văn bản pháp

luật là điều đầu tiên chúng ta cần phải làm nhằm đạt đƣợc cam kết theo đuổi

một chính sách quốc gia bảo đảm việc xóa bỏ một cách hiệu quả tình trạng lao

động trẻ em nhƣ yêu cầu tại Điều 1 Công ƣớc số 138 của ILO.

Thứ hai, cần bổ sung thêm điều kiện khi sử dụng lao động chƣa thành niên.

Bộ luật Lao động mới chỉ có quy định ngƣời sử dụng lao động nếu sử

dụng lao động từ đủ 13 tuổi đến dƣới 15 tuổi phải ký kết hợp đồng lao động

96

bằng văn bản với ngƣời đại diện theo pháp luật và phải đƣợc sự đồng ý của

ngƣời lao động. Tuy nhiên, pháp luật nên bổ sung thêm quy định về ngƣời đại

diện tham gia ký kết hợp đồng lao động trong trƣờng hợp ngƣời lao động ở độ

tuổi 15 đến 18 tuổi. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của ngƣời lao động

chƣa thành niên, giảm nguy cơ đối tƣợng này bị bóc lột, lạm dụng bởi ngƣời

sử dụng lao động.

Thêm nữa, cần quy định cụ thể về tiêu chuẩn sức khỏe ngƣời lao động

chƣa thành niên. Luật mới chỉ quy định rất chung chung:

Ngƣời sử dụng lao động chỉ đƣợc sử dụng ngƣời lao động chƣa

thành niên vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự

phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm

sóc ngƣời lao động chƣa thành niên về các mặt lao động, tiền lƣơng,

sức khoẻ, học tập trong quá trình lao động [29, Điều 162].

Lao động chƣa thành niên vẫn còn ở độ tuổi đang phát triển về tâm lý,

sức khỏe, đạo đức và sự phát triển này là không đồng đều ở tất cả các em. Vì

vậy, tiêu chuẩn sức khỏe cần là một căn cứ để giao kết hợp đồng với lao động

chƣa thành niên, đảm bảo công việc là phù hợp với bản thân các em. Đây

cũng là một biện pháp ngăn ngừa trẻ em phải lao động sớm, phải làm những

công việc ảnh hƣởng đến sự phát triển của trẻ.

Bên cạnh đó, luật cần bổ sung căn cứ để xác định độ tuổi của ngƣời lao

động chƣa thành niên với các quy định chặt chẽ về thời điểm xác định tuổi,

giấy tờ chứng minh kèm theo trong hợp đồng lao động...

Thứ ba, cần có quy định riêng áp dụng cho đối tƣợng lao động chƣa

thành niên về an toàn và vệ sinh lao động để đảm bảo lao động chƣa thành

niên đƣợc bảo vệ và hỗ trợ trong làm việc ở những nơi có yếu tố nặng nhọc,

độc hại và nguy hiểm.

Thứ tư, cần rà soát, bổ sung danh mục các ngành nghề, công việc cấm

sử dụng lao động trẻ em.

97

Công ƣớc số 182 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ các hình

thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và Công ƣớc số 138 về độ tuổi lao động tối

thiểu của ILO đã đƣa ra các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Bộ luật Lao

động và Thông tƣ số 10/2013/TT-BLĐTBXH quy định và ban hành danh mục

các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động chƣa thành niên cũng

phù hợp với nội dung các công ƣớc trên. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần tiếp tục

rà soát, nghiên cứu để bổ sung danh mục này vì nhƣ đã phân tích ở trên, một

số nghề, công việc có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trong lĩnh vực

nông nghiệp hoặc những nghề, công việc khác thuộc khu vực phi chính thức

còn diễn ra phổ biến nhƣng chƣa đƣợc nghiên cứu đƣa vào danh mục nghề

cấm sử dụng đối với nhóm đối tƣợng này.

Bên cạnh đó, thực tế là vẫn còn nhiều công việc mang tính chất nguy

hại và do sự vận động phức tạp của xã hội, những công việc này rất khó nhận

diện trong khi chúng để lại những hậu quả nặng nề cho sự phát triển của

ngƣời chƣa thành niên. Ví dụ, cần bổ sung thêm vào danh mục này các nơi

làm việc diễn ra các hoạt động biểu diễn khiêu dâm cũng nhƣ sử dụng các em

trong hoạt động biểu diễn khiêu dâm. Đây là những nơi rất khó để phát hiện

vi phạm, cần có sự theo dõi sát sao, thanh kiểm tra thƣờng xuyên nhằm ngăn

ngừa và loại bỏ kịp thời vi phạm pháp luật về sử dụng lao động trẻ em.

Thứ năm, cần có quy định về chính sách chăm sóc sức khoẻ riêng cho

ngƣời lao động chƣa thành niên, đồng thời có quy định cụ thể, chi tiết và chặt

chẽ riêng về thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động chƣa thành niên. Nhƣ phân

tích ở trên, Bộ luật Lao động mới chỉ có các quy định chính sách chăm sóc sức

khỏe và thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi chung cho lao động mọi lứa tuổi.

Độ tuổi học nghề bắt đầu từ 14 là hợp lý. Tuy nhiên cũng cần có những

quy định cụ thể về thời gian học nghề đối với độ tuổi này, đảm bảo phù hợp

với sự phát triển về thể chất.

98

Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội cần thúc đẩy việc ban hành danh

mục những nghề, công việc cho phép lao động chƣa thành niên đƣợc làm

thêm giờ, làm việc vào ban đêm (theo quy định của Bộ luật Lao động).

Thứ sáu, cần tăng cƣờng thanh tra, kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp

luật về lao động trẻ em.

Do lao động trẻ em là vấn đề phức tạp và thƣờng diễn ra ở những khu

vực, phạm vi khó kiểm soát, công tác thanh tra, kiểm tra cần phải đƣợc tiến

hành thƣờng xuyên, liên tục nhằm phát hiện vi phạm kịp thời. Trƣớc tiên, cần

ban hành quy trình thanh tra, kiểm tra riêng về vấn đề lao động trẻ em. Bên

cạnh đó, phải thƣờng xuyên cập nhật, nâng cao nghiệp vụ cho thanh tra, có

quy định về cơ chế phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan, nhất là cơ

quan công an trong việc nắm bắt thông tin, phát hiện và tiến hành điều tra, đặc

biệt là tại các địa điểm nhƣ nhà hàng, vũ trƣờng, phòng hát karaoke, cơ sở sản

xuất tƣ nhân…

Bên cạnh công tác thanh tra, kiểm tra tình trạng lao động trẻ em, cần

tăng cƣờng giám sát sự tuân thủ pháp luật về lao động trẻ em.

“Giám sát sự tuân thủ pháp luật về lao động trẻ em phải được tiến

hành thường xuyên và toàn diện với các doanh nghiệp và các gia đình” [37].

Việc này thể hiện ở những hành động nhƣ xác định trẻ em tại nơi làm việc,

ghi nhận điều kiện làm việc và những nguy cơ mà các em phải đối mặt… Vì

vậy, khái niệm này rộng hơn khái niệm thanh tra lao động, ở góc độ nhất

định, thanh tra lao động có thể coi là một trong những cách thức giám sát lao

động trẻ em. Vì lao động trẻ em thƣờng xảy ra ở khu vực kinh tế phi chính

thức nơi mà thanh tra lao động thƣờng thiếu khả năng kiểm soát nên cần có

thêm những chủ thể khác có điều kiện tiếp cận khu vực này để kịp thời phát

hiện trẻ em lao động và trẻ em có nguy cơ bị bóc lột.

99

“Giám sát việc sử dụng lao động trẻ em cần do nhiều chủ thể tiến hành

và phải có sự kết hợp giữa các chủ thể đó” [37]. Ví dụ, trong khi các tổ chức

phi chính phủ có thể giám sát việc sử dụng trẻ em ở các xƣởng sản xuất nhỏ ở

khu vực kinh tế phi chính thức thì các cơ quan tƣ pháp có thể tập trung vào

việc kiểm soát việc đƣa trẻ em qua biên giới hoặc sử dụng trẻ em trong các

hoạt động tội phạm. Các cán bộ khuyến nông có thể kết hợp giám sát việc sử

dụng trẻ em trong các nông trại, còn các giáo viên và nhân viên y tế thì có thể

giám sát qua việc quan sát và thông tin về tình hình đến trƣờng của trẻ, hoặc

tình trạng mệt mỏi của những học sinh vừa phải học vừa phải làm việc…

Để hoạt động giám sát việc sử dụng lao động trẻ em thành công, cần

vận động để nhà nƣớc ban hành một khuôn khổ pháp luật phù hợp, cho phép

nhiều chủ thể thực hiện các hoạt động giám sát về lao động trẻ em một cách

thực chất và hiệu quả.

Thứ bảy, cần bổ sung các mức xử lý vi phạm pháp luật và tăng mức

hình phạt đối với việc vi phạm pháp luật về lao động trẻ em.

Khi đã có khung pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em thì

việc quan trọng tiếp theo là tổ chức thực thi có hiệu quả các quy định của nó.

Thực thi pháp luật về cơ bản bao gồm việc giám sát và xử lý những vi phạm.

Về nguyên tắc, xử lý vi phạm pháp luật nói chung, vi phạm

pháp luật về lao động trẻ em nói riêng phải kịp thời, khách quan và

nghiêm minh. Điều này sẽ giúp xóa bỏ đƣợc tình trạng lao động trẻ

em trong hiện tại, đồng thời ngăn chặn những vi phạm xảy ra trong

tƣơng lai [37].

Trong việc xử lý vi phạm, ngoài các yếu tố kịp thời và khách quan, tính

nghiêm minh của chế tài pháp lý rất cần đƣợc coi trọng. Những kẻ vi phạm có

thể sẽ lại tiếp tục việc bóc lột sức lao động trẻ em nếu hình phạt áp dụng với

chúng là không đáng kể, trong khi lợi nhuận mà chúng thu đƣợc từ việc này

thƣờng rất lớn. Vì vậy, ngoài việc trừng phạt, cần thiết phải có những chế tài

100

bổ sung nhƣ tịch thu tài sản, bồi thƣờng cho các nạn nhân trẻ em và gia đình

các em, rút giấy phép kinh doanh… để tăng cƣờng tính răn đe của pháp luật.

Xử lý vi phạm pháp luật về lao động trẻ em liên quan đến các ngành

luật hành chính, lao động, hình sự và dân sự. Bên cạnh đó, cần khuyến

khích áp dụng chế tài kỷ luật (của các cơ quan, tổ chức…) để tăng cƣờng

tính răn đe.

Hệ thống các cơ quan tƣ pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc

phát hiện và trừng phạt những vi phạm lao động trẻ em. Bởi vậy, các thẩm

phán, công tố viên, cán bộ điều tra, và rộng hơn là cả các luật sƣ cần đƣợc tập

huấn hoặc tuyên truyền, phổ biến những quy định pháp luật quốc tế và quốc

gia về vấn đề này để áp dụng trong hoạt động chuyên môn.

Bên cạnh đó, còn có hạn chế nữa là ngành lao động - thƣơng binh và xã

hội đƣợc Nhà nƣớc giao trách nhiệm quản lý, chăm sóc, bảo vệ trẻ em nhƣng

chỉ có chức năng xác minh, kiến nghị xử lý và báo cáo, chứ không có thẩm

quyền xử lý khẩn cấp. Một số nƣớc trên thế giới, cơ quan quản lý có thẩm

quyền đầy đủ để có thể xử lý nhanh những trƣờng hợp khẩn cấp nhƣ trẻ lao

động sớm bị bạo hành, ngƣợc đãi. Đây là quy định tăng hiệu quả xử lý vi

phạm lao động trẻ em mà pháp luật Việt Nam nên tham khảo và áp dụng.

Thứ tám, tăng cƣờng bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân trẻ em sau khi trẻ đƣợc

giải thoát khỏi tình trạng bị bóc lột sức lao động.

Để tránh làm cho trẻ tiếp tục bị tổn thƣơng, luật pháp, quy trình, thủ tục

về bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân trẻ em cần đƣợc xây dựng dựa trên nguyên tắc nền

tảng là “trẻ em lao động là nạn nhân chứ không phải là những kẻ tội phạm

hay những đối tượng hư hỏng” [37], và cần xác định những hình thức bảo vệ,

hỗ trợ phù hợp với nhu cầu của các em.

Theo ILO-IPEC, để tránh tiếp tục làm tổn thƣơng nạn nhân trẻ em, việc

bảo vệ và hỗ trợ các em cần tuân thủ những yêu cầu cơ bản đó là: (a) Luôn

101

ghi nhớ nguyên tắc bao quát là lợi ích tốt nhất giành cho trẻ em; (b) Đƣa ra

cách tiếp cận cụ thể trên cơ sở nhu cầu riêng của trẻ thông qua tìm hiểu tâm

lý, quan điểm của trẻ; (c) Bảo đảm an toàn và bảo vệ trẻ em bất cứ lúc nào;

(d) Không bao giờ đặt trẻ em lao động trẻ em vào tình trạng bị giam cầm,

thậm chí chỉ trong một thời gian ngắn (vì các em không phải là tội phạm); (e)

Bằng mọi giá phải tránh lặp lại sự đối xử tàn nhẫn với trẻ - không để trẻ bị đối

xử thô bạo thêm một lần nào nữa; (g) Cung cấp nơi ở tạm thời hoặc lâu dài

cho trẻ khi cần thiết; (h) Dành thời gian và nỗ lực xây dựng lại niềm tin của

trẻ để giúp trẻ vƣợt qua sự khủng hoảng tâm lý; (i) Tôn trọng quyền riêng tƣ

và bí mật của trẻ; (k) Giúp trẻ em, tại thời điểm thích hợp, tiếp cận với giáo

dục kỹ năng sống và giáo dục hoặc đào tạo nghề, tùy theo nhu cầu cá nhân

của trẻ; (l) Thúc đẩy quá trình tái hòa nhập cộng đồng của trẻ bằng cách làm

việc với trẻ em và cộng đồng nơi trẻ sẽ sống; (m) Bảo đảm chắc chắn những

ngƣời chăm sóc trẻ là những ngƣời đƣợc đào tạo, có kinh nghiệm và các kỹ

năng, hiểu biết của họ đƣợc cập nhật thƣờng xuyên.

3.2.4. Một số biện pháp hỗ trợ khác

Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp luật về ngăn ngừa và

xóa bỏ lao động trẻ em, cần tiến hành đồng thời các biện pháp hỗ trợ khác

nhằm nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật. Một số biện pháp hữu hiệu

có thể kể đến nhƣ sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao

nhận thức về quyền trẻ em, lao động chƣa thành niên, lao động trẻ em và

ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em. Đặc biệt cần chú trọng tới ngăn ngừa

và xóa bỏ lao động trẻ em vì đây là lĩnh vực khá mới. Công tác này cần

hƣớng tới các đối tƣợng:

- Trƣớc hết là trẻ em, những đối tƣợng đƣợc pháp luật bảo vệ. Ngoài

việc cung cấp cho các em nội dung về các quyền trẻ em, cần chú ý đến các

102

quy định về độ tuổi lao động tối thiểu, các hình thức lao động trẻ em tồi tệ

nhất, các điều kiện và nội dung của hợp đồng lao động, các cơ quan có thể đại

diện bảo vệ quyền lợi của các em… Đây là cơ sở để các em tự bảo vệ mình

hoặc nhờ tới sự giúp đỡ từ các cơ quan có thẩm quyền.

- Cho ngƣời sử dụng lao động, là các tổ chức và cá nhân trong mọi loại

hình kinh tế, mọi khu vực với quy mô, ngành nghề đa dạng. Ngoài các nội

dung nêu trên nhƣ đối với các em, cần tuyên truyền, phổ biến về điều kiện sử

dụng lao động trẻ em, đặc biệt là các quy định về lập sổ, đăng ký, khai báo…;

các quy định về an toàn và vệ sinh lao động; các quy định về xử phạt vi phạm

hành chính, xử lý hình sự trong vấn đề lao động trẻ em..

- Cho các cơ quan, tổ chức, đoàn thể và các tổ chức phi chính phủ, tổ

chức xã hội khác và cả gia đình. Do sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức này

là rất cần thiết cho công cuộc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, gia đình

là chỗ dựa và bảo trợ của trẻ em lao động cả về vật chất lẫn tinh thần.

Thứ hai, “tăng cường phối hợp trong hành động về lao động trẻ em” [37].

Lao động trẻ em là vấn đề rộng lớn, phức tạp, có liên quan đến nhiều

lĩnh vực khác nhau của đời sống và nhiều chủ thể khác nhau. Do đó, nhiệm vụ

này phải do nhiều chủ thể cùng phối hợp tiến hành, trong đó nòng cốt là các

chính phủ, các tổ chức của ngƣời sử dụng lao động và các tổ chức chính trị,

xã hội... Mỗi chủ thể đều có những thế mạnh và hạn chế nhất định nên việc

phối hợp hành động là rất cần thiết để phát huy tối đa sức mạnh và các nguồn

lực, đồng thời để hạn chế sự trùng lặp, chồng chéo trong các hoạt động.

Thứ ba, thúc đẩy giáo dục cho trẻ em.

ILO coi ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em và giáo dục cho tất cả trẻ

em là hai vấn đề có liên quan mật thiết với nhau. Cả hai Công ƣớc số 138 và

182 đều quy định các hoạt động, đặc biệt là các chƣơng trình hành động quốc

gia về xóa bỏ lao động trẻ em cần quan tâm đến tầm quan trọng của giáo dục,

và dữ liệu quốc gia về lao động trẻ em cần bao gồm những thông tin về tình

103

hình học tập của trẻ em. Các công ƣớc này cũng nhấn mạnh đến quyền của trẻ

em đƣợc tiếp cận giáo dục cơ bản miễn phí và đào tạo nghề.

Để giáo dục phát huy tác dụng ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em,

cấp giáo dục tiểu học (giáo dục cơ bản) phải thật sự miễn phí. Các chính phủ

có trách nhiệm xác định rõ và có biện pháp giảm thiểu, xóa bỏ những chi phí

phụ trong giáo dục. Thêm vào đó, cần quan tâm đặc biệt đến giáo dục cho trẻ

em gái, trẻ em bỏ học và trẻ em lao động để giúp các em có thể trở lại trƣờng

hoặc theo học các chƣơng trình giáo dục thay thế. Ở những nơi hệ thống

trƣờng học chính quy không đáp ứng đƣợc nhu cầu học tập, cần tổ chức

những chƣơng trình giáo dục không chính quy và dạy nghề cho trẻ em.

Thứ tư, cần nghiên cứu, hình thành và cập nhật một hệ thống cơ sở

dữ liệu liên quan đến lao động trẻ em, làm cơ sở để xây dựng những chính

sách, chƣơng trình hiệu quả nhằm xóa bỏ lao động trẻ em và thiết lập

những quy định để xử lý những vi phạm liên quan đến việc sử dụng lao

động trẻ em trái pháp luật.

Kết luận Chƣơng 3

Thực trạng ở Việt Nam cho thấy lao động trẻ em vẫn gia tăng. Pháp

luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em về cơ bản đã phù hợp

với tiêu chuẩn quốc tế tuy nhiên vẫn chƣa đƣợc hệ thống và vẫn còn khá

chung chung. Nhiều quy định cần đƣợc bổ sung nhƣ điều kiện việc làm, thanh

tra, xử lý vi phạm lao động trẻ em… Thực tế cũng cho thấy việc thực thi pháp

luật trong lĩnh vực lao động trẻ em còn yếu. Chúng ta cần phải hoàn thiện

khuôn khổ pháp luật Việt Nam về vấn đề lao động trẻ em nói chung và ngăn

ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em nói riêng cũng nhƣ tiến hành đảm bảo thực thi

pháp luật một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, cần xây dựng và thực hiện tốt các

chính sách quốc gia về thúc đẩy giáo dục cho trẻ em, bảo vệ, chăm sóc trẻ em

và cả các biện pháp xóa đói giảm nghèo. Đây là những biện pháp hỗ trợ nhằm

ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

104

KẾT LUẬN

1. Lao động trẻ em hiện nay là vấn đề toàn cầu, không chỉ của riêng

một quốc gia hay cộng đồng. Tại Việt Nam, tình trạng lao động trẻ em ngày

càng gia tăng, kéo theo là những tác động tiêu cực không chỉ tới sự phát triển

toàn diện của trẻ, mà còn tới cả cộng đồng, xã hội và quốc gia. Do đó, ngăn

ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là một hành động cần thiết. Tuy nhiên, cần

nhận thức một cách rõ ràng rằng, xóa bỏ lao động trẻ em không thể tiến hành

ngay lập tức, vì đây là vấn đề phức tạp, bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân về

kinh tế, xã hội, văn hóa… Vì vậy, cần xác định những ƣu tiên hành động

trong quá trình tiến tới ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, đó là loại bỏ

những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, phòng ngừa trẻ em lao động sớm

và tiến hành các biện pháp bảo vệ trẻ em lao động.

2. Để ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, cần thực hiện các chính

sách về giáo dục, chính sách giảm nghèo và việc làm… và quan trọng nhất là

phải xây dựng đƣợc một khuôn khổ pháp luật lao động trẻ em và ngăn ngừa,

xóa bỏ lao động trẻ em hoàn thiện và đầy đủ, là cơ sở để thực hiện các

chƣơng trình và chính sách về vấn đề này.

3. Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc tiến tới ngăn ngừa và xóa bỏ lao

động trẻ em, thể hiện ở việc tích cực tham gia ký kết các điều ƣớc quốc tế,

đặc biệt là hai điều ƣớc quan trọng của Tổ chức Lao động quốc tế ILO về

vấn đề lao động trẻ em: Công ƣớc số 138 về độ tuổi lao động tối thiểu và

Công ƣớc số 182 về cấm và hành động ngay lập tức nhằm xóa bỏ những

hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Pháp luật Việt Nam về lao động trẻ em

cũng đã xây dựng đƣợc những quy định là nền tảng cho việc bảo vệ lao động

trẻ em, ngăn ngừa trẻ em lao động sớm. Nhìn chung, các quy định này đều

phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế tại các điều ƣớc mà Việt Nam đã tham

gia ký kết. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về lao động trẻ em và ngăn ngừa

105

và xóa bỏ lao động trẻ em vẫn còn chƣa hoàn chỉnh, nhiều quy định cần

đƣợc sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn và điều chỉnh một cách đầy

đủ, toàn diện hơn. Tính thực thi pháp luật cũng chƣa cao, việc thanh tra,

kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật lao động trẻ em còn kém hiệu quả. Vì

vậy, hoàn thiện pháp luật về vấn đề này là nhu cầu cấp thiết và phải đảm bảo

các yêu cầu: phù hợp với thực tiễn Việt Nam và phù hợp với các tiêu chuẩn

lao động quốc tế. Bên cạnh đó, cũng cần phải hoàn thiện cơ chế áp dụng hữu

hiệu pháp luật trong thực tiễn.

4. Lao động trẻ em là vấn đề rộng lớn, phức tạp, có liên quan đến nhiều

lĩnh vực của đời sống và nhiều chủ thể khác nhau. Do đó, nhiệm vụ này phải

do nhiều chủ thể cùng phối hợp tiến hành, trong đó nòng cốt là các chính phủ,

các tổ chức của ngƣời sử dụng lao động và các tổ chức chính trị, xã hội... Mỗi

chủ thể đều có những thế mạnh và hạn chế nhất định nên việc phối hợp hành

động là rất cần thiết để phát huy tối đa sức mạnh và các nguồn lực, đồng thời

để hạn chế sự trùng lặp, chồng chéo trong các hoạt động.

5. Việt Nam là một nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, với mục

tiêu xây dựng xã hội giàu mạnh, đảm bảo quyền con ngƣời, trong đó có trẻ em

- thế hệ chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc. Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ

em là một nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo điều kiện cho thế hệ tƣơng lai này

đƣợc phát triển một cách toàn diện. Cùng với việc hoàn thiện khuôn khổ pháp

luật về lao động trẻ em và các chính sách về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ

em, hy vọng rằng loại bỏ lao động trẻ em sẽ không còn là mục tiêu quá xa vời

với Việt Nam.

106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

TIẾNG VIỆT

1. Vũ Ngọc Bình (2000), Vấn đề lao động trẻ em, NXB Chính trị quốc gia,

Hà Nội.

2. Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội (2013), Thông tư số 10/2013/TT-

BLĐTBXH ngày 10-6-2013 ban hành danh mục các công việc và nơi làm

việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên, Hà Nội.

3. Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội (2013), Thông tư số 11/2013/TT-

BLĐTBXH ngày 11-6-2013 ban hành danh mục công việc nhẹ được sử

dụng người dưới 15 tuổi làm việc, Hà Nội.

4. Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội (2014), Điều tra quốc gia về Lao động

trẻ em 2012 - Các kết quả chính, Tổng cục thống kê Việt Nam, Hà Nội.

5. Nguyễn Bao Cƣờng (2010), Quản lý và ngăn ngừa lao động trẻ em ở

Việt Nam hiện nay, Viện Khoa học và Lao động xã hội.

6. Chính phủ (2011), Nghị định 71/2011/NĐ-CP ngày 22-8-2011 quy định

chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và

giáo dục trẻ em, Hà Nội.

7. Chính phủ (2013), Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22-8-2011 quy

định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã

hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp

đồng, Hà Nội.

8. Chính phủ (2013), Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ngày 29-10-2013 quy

định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ,

chăm sóc trẻ em, Hà Nội.

9. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2009), Giáo trình lý

luận và pháp luật về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

107

10. Ngô Quỳnh Hoa, Đinh Hồng Nga (2004), Tìm hiểu Luật bảo vệ, chăm

sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, NXB Lao động, Hà Nội.

11. Lan Hƣơng (2013), “Xóa bỏ lao động trẻ em - một việc làm cấp bách”,

Tạp chí Cộng sản, (844).

12. Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội (2011), Giới thiệu các văn kiện quốc

tế về quyền con người, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội.

13. Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội (2011), Luật quốc tế về quyền của

các nhóm người dễ bị tổn thương, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội.

14. Liên hợp quốc (1945), Hiến chương Liên hợp quốc, Newyork.

15. Liên hợp quốc (1948), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, Newyork.

16. Liên hợp quốc (1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và

văn hóa, Newyork.

17. Liên hợp quốc (1966), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,

Newyork.

18. Liên hợp quốc (1989), Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Newyork.

19. Anh Nguyễn (2010), “Giúp trẻ thoát khỏi các hình thức lao động tồi tệ:

cần sự chung tay của toàn xã hội”, Báo Giáo dục và Thời đại, (22).

20. Quách Thị Quế (2013), “Giải quyết vấn đề lao động trẻ em và trẻ em

lang thang trong Chiến lƣợc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”, Tạp

chí Cộng sản, (846).

21. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội.

22. Quốc hội (1994), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.

23. Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự, Hà Nội.

24. Quốc hội (2001), Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992), Hà Nội.

25. Quốc hội (2004), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Hà Nội.

26. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự (sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự năm

1994), Hà Nội.

108

27. Quốc hội (2006), Luật Dạy nghề, Hà Nội.

28. Quốc hội (2009), Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm

1999), Hà Nội.

29. Quốc hội (2012), Bộ luật Lao động, Hà Nội.

30. Quốc hội (2013), Hiến pháp (sửa đổi Hiến pháp 1992), Hà Nội.

31. Tổ chức Lao động quốc tế (1973), Công ước số 138 về tuổi lao động tối

thiểu, Geneva.

32. Tổ chức Lao động quốc tế (1973), Khuyến nghị số 146 về tuổi lao động

tối thiểu, Geneva.

33. Tổ chức Lao động quốc tế (1999), Công ước số 182 về cấm và hành

động ngay lập tức các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, Geneva.

34. Tổ chức Lao động quốc tế (1999), Khuyến nghị số 190 về cấm và hành

động ngay lập tức các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, Geneva.

35. Thủ tƣớng Chính phủ (2011), Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22 tháng

02 năm 2011 về việc phê duyệt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai

đoạn 2011 - 2015, Hà Nội.

36. Thủ tƣớng Chính phủ (2012), Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 17-10-

2012 về việc phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai

đoạn 2012 - 2020, Hà Nội.

37. Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế Hà Nội (2009), Bộ tài liệu tập

huấn về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, Hà Nội.

38. Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế Hà Nội, Viện Khoa học và Lao

động xã hội (2009), Báo cáo tình hình lao động trẻ em ở 8 tỉnh, thành

phố Việt Nam, Hà Nội.

39. Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội (2008), Báo

cáo quốc gia lần thứ ba và lần thứ tư Việt Nam thực hiện Công ước quốc

tế quyền trẻ em giai đoạn 2002 - 2007, Hà Nội.

109

TIẾNG ANH

40. Franziska Humbert (2009), The Challenge of Child labour in

International law, Cambriged University Press, Cambriged.

41. ILO (2002), Every child counts: new global estimates on child labour, Geneva.

42. ILO (2004), Child labour - A textbook for university students, Geneva.

43. ILO (2006), A Tool Kit for Labour Inspectors, Geneva.

44. ILO (2009), Training Manual to Fight Trafficking in Children for

Labour, Sexual and Other Forms of Exploitation, Textbook 2: Action

against child trafficking at policy and outreach levels, Geneva.

45. ILO (2013), Marking progress against child labour, Geneva.

46. ILO (2013), Global child labour trends 2008 to 2012, Geneva.

47. Lana Osment (2014), Child labour; the effect on child, cause and

remedies to the revolving menace, University of Lund, Sweden.

TRANG WEB

48. http://www.ilo.org/ipec/facts/lang--en/index.html (truy cập

ngày 20-6-2014)

49. http://www.unicef.org/protection/57929_58009.html (truy cập ngày

20-6-2014)

50. http://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/---asia/---ro-bangkok/---ilo-

hanoi/documents/publication/wcms_237841.pdf (truy cập ngày 25-7-2014)

51. http://www.ilo.org/hanoi/Whatwedo/Projects/WCMS_205829/lang--

en/index.html (truy cập ngày 28-7-2014)

52. http://www.molisa.gov.vn/vi/pages/chitiettin.aspx?IDNews=21335

truy cập ngày 15-8-2014).

110