intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Phát triển và bảo đảm hệ thống giao thông vận tải

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:68

0
70
lượt xem
14
download

LUẬN VĂN: Phát triển và bảo đảm hệ thống giao thông vận tải

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng Sản Việt Nam đánh giá: Thế kỷ XX là “thế kỷ của những chiến công và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại”. Trong những thắng lợi đó có sự góp sức quan trọng của hoạt động giao thông, không chỉ phục vụ tích cực trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm mà còn có vai trò to lớn trong hoà bình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội . Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Phát triển và bảo đảm hệ thống giao thông vận tải

  1. LUẬN VĂN: Phát triển và bảo đảm hệ thống giao thông vận tải với tư
  2. Phần 1: Mở đầu 1.Tính cấp thiết của đề tài. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng Sản Việt Nam đánh giá: Thế kỷ XX là “thế kỷ của những chiến công và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại”. Trong những thắng lợi đó có sự góp sức quan trọng của hoạt động giao thông, không chỉ phục vụ tích cực trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm mà còn có vai trò to lớn trong hoà bình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội . Trong s ự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, việc phát triển và bảo đảm hệ thống giao thông vận tải với tư cách là huyết mạch của nền kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội. Đưa đất nước ta từng bước hội nhập khu vực và quốc tế, góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hiện nay, toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực,vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế.Quan hệ song phương, đa phương giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế, văn hoá và bảo vệ môi trường, phòng chống tội phạm, thiên tai và các đại dịch… Do vậy, hoạt động giao thông của nước ta cũng phát triển trong bối cảnh chung đó.Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã đưa ra mục tiêu tổng quát của chiến lược 10 năm 2001 – 2010 là: “Đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị tr ường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”. Mục tiêu cụ thể của chiến lược được xác định: Kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát
  3. triển kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh, hệ thống giao thông bảo đảm lưu thông an toàn, thông suốt và hiện đại hoá một b ước. Như vậy muốn thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược phát triển 10 năm 2001 -2010 thì phải quan tâm chú ý đến hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Trong đời sống của xã hội, mỗi con người hàng ngày đều gắn bó mật thiết với hoạt động giao thông và trật tự an toàn xã hội cũng như đời sống kinh tế – xã hội.Trật tự an toàn giao thông là hạnh phúc của mọi nhà.Trật tự an toàn giao thông là vấn đề quan tâm của toàn xã hội.Trong những năm qua, do xác định được tầm quan trọng của hoạt động giao thông, Đảng và Nhà nước ta đã đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, đổi mới phương tiện, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và đổi mới tổ chức chỉ huy giao thông nhằm hạn chế tai nạn, chống ùn tắc giao thông.Tuy nhiên nền kinh tế nước ta còn nghèo nên đầu tư cho giao thông còn hạn chế. Phương tiện giao thông tăng nhanh, nhất là xe máy, xe ô tô đã cũ nát còn lưu hành khá nhiều cùng với ý thức chấp hành luật lệ giao thông của người tham gia giao thông chưa cao, chưa tự giác đã dẫn đến tình trạng tai nạn giao thông diễn ra khá phổ biến, gây thiệt hại không nhỏ về người và của.Tình hình tai nạn giao thông diễn ra còn khá phổ biến, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông. Qua bảng số liệu dưới đây cho thấy : Bảng 1.1.Tình hình tai nạn giao thông đường bộ 1995 – 2004 ở Việt Nam Năm Tai nạn giao thông đường bộ Số vụ So sánh Số người So sánh Số người So sánh với năm chết với năm bị thương với năm trước (%) trước (%) trước (%) 1995 15.376 17.2 5.430 19.8 16.920 29.6 1996 19.075 24.1 5.581 2.8 21.556 27.4 1997 19.159 0.4 5.680 1.8 21.905 1.6
  4. 1998 19.975 4.3 6.067 6.8 22.723 3.7 1999 20.733 3.8 6.670 9.9 23.911 5.2 2000 22.486 8.5 7.500 12.4 25.400 6.2 2001 25.040 11.4 10.477 39.7 29.188 14.9 2002 27.134 8.3 12.800 22.1 30.999 5.3 2003 19.852 -28.2 11.319 -9.45 20.400 -35.2 2004 16.911 -14.8 11.733 3.7 15.142 -25.7 (Nguồn :Uỷ ban an toàn giao thông quốc gia ) Qua bảng thống kê tai nạn giao thông đường bộ 1995 -2004 của Uỷ ban an toàn giao thông Quốc gia cho thấy đến năm 2004 số vụ, số người chết, người bị thương đều giảm.Cụ thể số vụ tai nạn giao thông giảm 3,2 lần; số người chết giảm 1,7 lần, số người bị thương giảm 4 lần. Điều đó chứng tỏ tình hình trật tự giao thông cũng có những chuyển biến tích cực sau 10 năm triển khai thực hiện nghị định 36/CP của Chính phủ. Do vị trí quan trọng đặc biệt của hoạt động giao thông với sự phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng; do tính chất bức xúc hiện nay của tai nạn giao thông.Đòi hỏi cần tăng cường quản lý Nhà nước và toàn xã hội, các cấp các ngành, các tổ chức xã hội phải tích cực tham gia hơn nữa vào các hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài và yêu cầu cần phải có sự đánh giá đúng đắn thực trạng hoạt động bảo đảm an toàn giao thông ở một số địa bàn lớn. Tôi quyết định chọn đề tài: “Thực trạng hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông ở Tỉnh Thanh Hoá hiện nay” (Qua nghiên cứu xã hội học tại Sở giao thông vận tải Thanh Hoá vào tháng 4/2005) 2. ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đ ề tài. 2.1. ý nghĩa lý luận Với cách tiếp cận vấn đề xã hội dưới góc độ xã hội học ,đề tài không hướng vào việc nghiên cứu lý thuyết mà chủ yếu vận dụng một số lý thuyết cơ bản và các khái niệm của xã hội học để tìm hiểu thực trạng hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông
  5. trên địa bàn Thanh Hoá hiện nay. Qua đó góp phần bổ sung các khái niệm, lý thuyết xã hội học. 2.2. ý nghĩa thực tiễn. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng vào công tác quản lý của ngành và công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông . Qua đó tăng cường hiệu lực quản lý của ngành, đề cao ý thức trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm đảm bảo giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, thuận lợi, phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đồng thời giúp cho các nhà hoạch định chính sách , các nhà quản lý có giải pháp tốt cho công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước. 3.mục đích và mục tiêu nghiên cứu 3.1.Mục đích nghiên cứu Qua nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông ở tỉnh Thanh Hoá hiện nay .Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp , khuyến nghị giúp các chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông có tính khả thi và đạt hiệu quả trong thực tế triển khai. 3.2.Mục tiêu nghiên cứu: - Mô tả thực trạng trật tự an toàn giao thông ở tỉnh Thanh Hoá hiện nay - Chỉ ra các hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông - Chỉ ra những hạn chế và bài học kinh nghiệm - Đưa ra một số khuyến nghị khả thi giúp cho các nhà hoạch định chính sách , các nhà quản lý có cơ chế thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông. 4.Đối tượng , khách thể và địa bàn nghiên cứu 4.1.Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là hoạt động đảm bảo trật tự an toàn giao thông ở tỉnh Thanh Hoá
  6. 4.2.Khách thể nghiên cứu Khách thể nghiên cứu là cộng đồng dân cư tỉnh Thanh Hoá 4.3.Địa bàn nghiên cứu Địa bàn nghiên cứu là tỉnh Thanh Hoá 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1.Phương pháp luận Để có phương pháp nghiên cứu , trong quá trình thực hiện đề tài tôi dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, cụ thể là dựa vào quan điểm xem xét sự vật một cách toàn diện ,lịch sử , cụ thể và phát triển.Trong phép biện chứng duy vật yêu cầu nhìn các hiện tượng xã hội trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau , ảnh hưởng lẫn nhau , do đó nghiên cứu các hiện t ượng xã hội , vấn đề xã hội cần đặt nó trong môi trường xác định , trong sự tương tác giữa các hiện tượng .Phép duy vật lịch sử yêu cầu nhìn hiện tượng kinh tế xã hội trong một quá trình : mọi hiện tượng xã hội không tồn tại một cách bất biến mà luôn luôn vận động có sự hình thành , phát triển và diệt vong .Do đó khi nghiên cứu hiện tượng , vấn đề xã hội nào cần đặt nó trong một qúa trình , một giai đoạn lịch sử cụ thể ( không gian và thời gian) Trong khi nghiên cứu đề tài thực hiện khoá luận này, tôi dựa trên những nguyên lý cơ bản sau: 5.1.1.Nguyên lý về sự phát triển Nguyên lý này chỉ rõ sự phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao , từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.Theo quan điểm này , sự phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung .Nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động – xu hướng vận động đi lên của sự vật , sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ .Sự phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt của sự vận động. Trong quá trình phát triển của mình ,trong sự vật sẽ hình thành dần dần những quy định mới cao hơn về chất , sẽ làm thay đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại và vận động, chức năng vốn có theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Trong lĩnh vực xã hội, nguyên lý này khẳng định sự biến đổi và phát triển của xã hội có nguyên nhân sâu xa là sự phát triển quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng
  7. sản xuất .Nghĩa là lực l ượng sản xuất phát triển đến một giai đoạn nhất định đòi hỏi quan hệ sản xuất cũ , lỗi thời , lạc hậu phải thay đổi để thiết lập nên một quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất mới, đó là quá trình tiến hoá phù hợp với quy luật khách quan.Do vậy mà nguyên lý này đã chỉ rõ bản chất sự tồn tại và phát triển của xã hội. 5.1.2.Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Nguyên lý nàychỉ ra rằng tất cả các sự vật hiện tượng trong tự nhiên , xã hội và tư duy con người luôn có mối liên hệ tác động qua lại , chuyển hoá lẫn nhau theo những quan hệ xác định. Không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ. Mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể tuỳ theo điều kiện nhất định. Song dù dưới hình thức nào , chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất , chung nhất. Vận dụng các nguyên lý trên để nghiên cứu thực trạng hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông ở tỉnh Thanh hoá hiện nay tức là phải xem xét hoạt động này trong mối liên hệ chỉnh thể , theo từng giai đoạn lịch sử và phát triển cụ thể , phù hợp với quy luật khách quan .Hoạt động này bị chi phối bởi các điều kiện kinh tế , chính trị xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay , khi mà đất nước ta đang đẩy mạnh sự n ghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá thì công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông cần được đẩy mạnh và có những bước phát triển mới cho phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của tình hình thực tiễn đất nước giai đoạn hiện nay. Như vậy ph ương pháp luận chung cho phép chung ta có một quan điểm toàn diện, lịch sử và cụ thể , đúng đắn để nhìn nhận , đánh gía vấn đề trong quá trình nghiên cứu đề tài. Ngoài ra , khoá luận còn dựa vào quan điểm và tư tưởng Hồ Chí Minh là đặt con người ở vị trí trung tâm - là giá trị trung tâm nhất. 5.2.Phương pháp nghiên cứu cụ thể Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này , tôi sử dụng những phương pháp xã hội học sau :
  8. 5.2.1.Phương pháp quan sát được sử dụng nhằm phát hiện vấn đề , nhận biết vấn đề nghiên cứu qua đó thấy rõ thực trạng trong hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông ở Thanh Hoá. Ngoài ra việc quan sát c ơ sở hạ tầng của ngành giao thông vận tải giúp cho phần thu thập thông tin và giải thích tình trạng an toàn giao thông được thấu đáo và chặt chẽ. 5.2.2.Phương pháp phỏng vấn sâu: Tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu 15 cán bộ của ngành giao thông vận tải tỉnh Thanh Hoá đang trực tiếp triển khai công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh để thu thập thông tin về tình hình triển khai các hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông , từ đó bổ sung cho những thông tin qua điều tra bảng hỏi . 5.2.3.Phương pháp phân tích tài liệu : Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để thu thập thông tin .Nghiên cứu hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông ở tỉnh Thanh Hoá hiện nay là một đề tài tương đối mới , chưa có nhiều công trình nghiên cứu .Tuy nhiên tôi cố gắng vận dụng các kết qủa báo cáo công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông của Ban an toàn giao thông tỉnh Thanh Hoá .Ngoài ra tôi sử dụng một số tài liệu như : Luật giao thông đ ường bộ ; cuốn sách “Một số vấn đề về công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ”; một số tác phẩm chuyên ngành xã hội học, một số tạp chí như Tạp chí “Con đường xanh”, tạp chí “Bạn đường”, các dự án về bảo đảm trật tự an toàn giao thông như các đề án : “ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền , vận động , hướng dẫn quần chúng nhân dân chấp hành pháp luật về an toàn giao thông” và đề án : “Ngăn chặn đẩy lùi tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá” của Ban an toàn giao thông tỉnh … 6.Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 6.1.Giả thuyết nghiên cứu : Từ mục tiêu nghiên cứu , tôi đưa ra một số giả thuyết sau : - Giả thuyết 1, Hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông ở tỉnh Thanh Hoá chưa được tốt nên tình hình mất trật tự an toàn giao thông có chiều hướng gia tăng
  9. - Giả thuyết 2, Thực hiện tốt công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông đã tạo sự chuyển biến mới về tình hình trật tự an toàn giao thông. 6.2.Khung lý thuyết:
  10. Tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Thanh Hoá Hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông của tỉnh Thanh Hoá Công Quản Quản Công Công Tuần tác lý lý tác tác tra TTPB ngườ phươ bảo giải kiểm GDPL i ng đảm phóng soát tiện điều giao mặt xử khiể bằng lý n và bảo vi phươ vệ Kết luận , khuyến nghị Phần 2 .Nội dung chính
  11. Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Các mục tiêu phát triển đất nước bao gồm : Tăng trưởng kinh tế , công nghiệp hoá và hiện đại hoá , xoá đói giảm nghèo , tính công bằng và tài chính ổn định.Mục tiêu phát triển của ngành giao thông vận tải là góp phần nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển quốc gia vì tăng trưởng kinh tế , xoá đói giảm nghèo , tăng cường an toàn , bảo vệ môi trường và phát triển nguồn nhân lực.Có thể nói giao thông là huyết mạch của nền kinh tế , tạo điều kiện để phát triển xã hội.Trong sự vận động và phát triển xã hội , hoạt động giao thông giữ vai trò then chốt.Có hoạt động giao thông thì tất yếu có công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông .Hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thôn g có ý nghĩa cùng với hoạt động giao thông và ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu bảo đảm trật tự an toàn giao thông . Trong đề án “Tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông” ( giai đoạn 1999 – 2005 ) của Bộ Giao thông vận tải; trong báo cáo của chính phủ tại kỳ họp thứ 9 quốc hội khoá 10 do Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày đã nêu rõ chỉ đạo của Chính phủ về công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông trong đó nhấn mạnh : “trong nhiều việc phải làm để củng cố trật tự , kỷ cương xã hội , tạo nếp sống và làm việc theo pháp luật, Chính phủ yêu cầu đặc biệt coi trọng việc chấp hành luật lệ giao thông , công việc này không chỉ nhằm khắc phục sự ách tắc giao thông và tai nạn giao thông đang diễn ra nghiêm trọng gây tổn thất nặng nề về người và của mà còn đóng một yêu cầu sơ đẳng về xây dựng nếp sống văn hoá , kỷ cương trong xã hội”. Cuốn sách “ Một số vấn đề về công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ” của Tiến sỹ Trần Văn Luyên , kỹ sư Trần Sơn , Cử nhân Nguyễn Văn Chính biên soạn , cuốn sách đề cập nhiều vấn đề thời sự trong lĩnh vực an toàn giao thông đ ường bộ , phân tích đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp hoàn thiện nhằm mục đích nâng cao chất lượng công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ .Trên cơ sở phân tích thực trạng về giao thông đường bộ và đưa ra các giải pháp và dự báo xu thế .
  12. Đối với khoa học xã hội nói chung đây là một lĩnh vực tương đối mới mẻ chưa được nghiên cứu nhiều nhưng đang thu hút được sự quan tâm của mọi người .Việc nghiên cứu thực trạng hoạt động trong bảo đảm trật tự an toàn giao thông dưới góc độ xã hội học nhằm góp phần tạo sự chuyển biến mới là cần thiết. 2.Các lý thuyết 2.1.Lý thuyết cơ cấu chức năng Các tác giả của trường phái cấu trúc chức năng như : Spencer , E.Durkheim, T.Parsons đều khẳng định : “ xã hội là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận khác nhau , mỗi bộ phận giữ một vai trò bình thường nào trong xã hội và vận hành một cách bình thường để thực hiện một số yêu cầu nào đó thoả mãn những nhu cầu bình thường nào đ ó của xã hội” Các nhà xã hội học thuộc trường phái này đã chỉ ra 2 loại chức năng đó là : + Chức năng công khai + Chức năng ẩn ngầm Theo quan niệm của nhà xã hội học Robert Merton “chức năng xã hội liên quan tới các hệ quả quan sát được , chứ không phải các tâm trạng chủ quan ( mục tiêu, lý do , ý nghĩa )”. “Chức năng là một tập quán xã hội nhất định , là đóng góp của nó vào toàn bộ đời sống xã hội …” Đồng thời các nhà xã hội học thuộc trường phái này luôn coi xã hội tồn tại trong trạng thái cân bằng có trật tự , hài hoà , thống nhất và tự điều chỉnh.Có như vậy mới đảm bảo chức năng xã hội thực hiện cũng như nhờ chức năng hoạt động mà xã hội luôn trong trạng thái cân bằng . Trật tự an toàn giao thông với tư cách là một thiết chế xã hội là một bộ phận quan trọng trong hệ thống các bộ phận hợp thành xã hội .Hoạt động này được đảm bảo sẽ góp phần đảm bảo an toàn cho người và tài sản khi tham gia giao thông , góp phần phát triển kinh tế xã hội.Sự tồn tại của thiết chế này đã thực hiện một chức năng xã hội đó là đảm
  13. bảo an toàn cho người và tài sản khi tham gia giao thông đồng thời mang lại lợi ích kinh tế . 2.2.Lý thuyết hành động Theo Parsons , mỗi hành động đều có thể được miêu tả bằng ba giá trị cơ bản : Thứ nhất, thực tế của tình huống ; thứ hai là những nhu cầu của chủ thể hành động và thứ ba , sự đánh giá tình huống của chủ thể hành động luôn có xu hướng cân bằng những nhu cầu cá nhân của mình với những đòi hỏi của xã hội. Mặc dù Parsons nhận thấy rằng có thể có xung đột giữa những nhu cầu của chủ thể hành động và những khuôn mẫu cần thiết cho sự định hướng nhằm duy trì hệ thống song lại cho rằng các chủ thể hành động luôn sẵn sàng tìm cách dung hoà để luôn giữ được hệ thống trong thế cân bằng .Sở dĩ con người sẵn lòng đáp ứng những đòi hỏi của hệ thống Trước những nhu cầu cá nhân của mình , theo Parsons là do bản năng của họ luôn tránh đau đớn về thể xác cũng như những hình phạt của xã hội . Cho rằng sự cần thiết phải cân bằng giữa những nhu cầu cá nhân và quyền lợi xã hội là thuộc về bản chất tự nhiên của con n gười , Parsons đã xây dựng một luận chứng cần thiết cho quan điểm của mình là hành động xã hội là một hành động được dẫn dắt từ bên ngoài .Vận dụng lý thuyết hành động của Parsons vào đề tài để phân tích và giải thích hoạt động của người tham gia giao thông. 2.3.Lý thuyết kinh tế Marx được xem như một nhà kinh tế quyết định luận .Nghĩa là , dường như ông xem hệ thống kinh tế có tầm quan trọng tối cao và lập luận rằng nó quyết định tất cả các bộ phận khác cuả đời sống xã hội , các hệ thống chính trị , tôn giáo , các hệ tư tưởng… Marx xem bộ phận kinh tế là cái hàng đầu , ít nhất trong xã hội tư bản .Với tư cách là một nhà biện chứng nên đã nhận thức rằng có một vận động xoáy trôn ốc tiếp diễn và một sự tương tác qua lại giữa các bộ phận khác nhau của xã hội .Các nền chính trị , tôn giáo …không thể bị giảm tới mức thấp nhất thành các hiện tượng bị quyết định bởi kinh tế , bởi vì chúng cũng ảnh hưởng tới kinh tế như nó đã ảnh hưởng tới chúng. Như vậy hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông cũng bị chi phối bởi điều kiện kinh tế xã hội và sự tácđộng trở lại đến kinh tế xã hội .Nếu trật tự an toàn giao
  14. thông được đảm bảo thì nền kinh tế sẽ có điều kiện để phát triển . bảo đảm trật tự an toàn giao thông tạo tiền đề cơ bản cho tăng trưởng kinh tế xã hội .Khi nền kinh tế pháp triển là điều kiện tạo tiền đề vật chất làm tốt công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông .Giữa vấn đề kinh tế và vấn đề bảo đảm trật tự an toàn giao thông có mối quan hệ biện chứng .Phải nắm bắt được vấn đề này trên cơ sở lý thuyết kinh tế để có đ ược hiệu quả cao nhất. 3.Hệ khái niệm nghiên cứu 3.1.Khái niệm “hoạt động” Xã hội luôn vận động và phát triển không ngừng trong đó không thể thiếu trạng thái hoạt động của con người .Vậy khái niệm “hoạt động” được hiểu như thế nào ? Theo Từ điển Tiếng Việt thì “hoạt động” với từ loại là danh từ chỉ toàn thể những việc làm của một tổ chức , một cá nhân có liên quan với nhau để quy vào một mục đích chung , thường trong một lĩnh vực xã hội. Với từ loại là tính từ thì “hoạt động” có nghĩa là có ý thức dùng sức lực và khả năng của mình vào những việc thuộc nhiệm vụ vì cá nhân hoặc lợi ích chung. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Hoạt động là một phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thế giới xung chung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộc sống cho mình .Trong mối quan hệ ấy , chủ thể của hoạt động là con người , khách thể của hoạt động là tất cả những gì mà hoạt động tác động vào. Qua đó tạo ra được sản phẩm thoả mãn nhu cầu của chủ thể .Mục đích trên đây thể hiện trên nhiều lĩnh vực và trên nhiều dạng :hoạt động kinh tế , chính trị ,xã hội ,quân sự , tư tưởng , lý luận , văn hoá, tâm lý …..nhưng hình thức cơ bản có ý nghĩa quyết định là thực tiễn xã hội . Hoạt động thường được chia thành 2 loại :hoạt động hướng ngoại nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội , hoạt động hướng nội nhằm cải tạo bản thân con người .Hai loại hoạt động ây gắn liền mật thiết với nhau vì con người .Chỉ có thể cải tạo mình trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội .Hoạt động bao giờ cũng mang tính lịch sử qua các thời đại khác nhau”.Khái niệm “hoạt động” ở đây được hiểu là hoạt động xã hội của các chủ thể xã hội : cá nhân , nhóm , cộng đồng.
  15. 3.2.Khái niệm “bảo đảm trật tự an toàn giao thông ” - “Bảo đảm là nhận trách nhiệm về điều mình hẹn , hứa , khẳng định” ( Từ điển bách khoa Việt Nam) - Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “trật tự an toàn giao thông” . Có ý kiến cho rằng : “ Trật tự an toàn giao thông là sự đảm bảo cho mọi hoạt động giao thông đ ược trật tự , an toàn , nhanh chóng , tiện lợi , thông suốt và mỹ quan môi trường , hạn chế thấp nhất các vi phạm luật giao thông và các quy phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông , hạn chế ùn tắc giao thông , kiềm chế tai nạn giao thông , ngăn ngừa thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra .” Có ý kiến cho rằng : “ Trật tự an toàn giao thông là việc chấp hành triệt để những yêu cầu kỹ thuật quản lý đối với các công trình giao thông và phương tiện giao thông , quy định đối với người tham gia đối với người tham gia giao thông làm cho giao thông được trật tự , an toàn , thông suốt , thuận tiện” Như vậy trật tự an toàn giao thông được hiều là : + Hoạt động giao thông được điều chỉnh bằng một hệ thống các quy phạm pháp luật , bắt buộc mọi chủ thể tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân theo + Hạn chế thấp nhất tai nạn giao thông xảy ra , đảm bảo an toàn cho người và tài sản khi tham gia giao thông + Hạn chế ùn tắc giao thông , đảm bảo giao thông được tiện lợi , có hiệu quả , tiết kiện được cước phí ,thời gian trên đường . + Bảo đảm được yêu cầu mỹ quan giao thông đô thị , chống ô nhiễm môi trường . Bảo đảm còn được hiểu là khẳng định bằng văn bản, cam kết rằng mình giữ gìn , tôn trọng . Như vậy bảo đảm trong hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông là các ban ngành chuyên môn , các cơ quan chức trách có trách nhiệm chỉ đạo triển khai các biện pháp , các văn bản pháp luật để giữ gìn trật tự an toàn giao thông
  16. 3.3.Người tham gia giao thông là người điều khiển và sử dụng các loại phương tiện giao thông , người dẫn , dắt , cưỡi súc vật ; người đi bộ ; người làm các công việc trên đường bộ , đường đô thị . 3.4.Phương tiện tham gia giao thông là các loại xe cơ giới , thô sơ và các thiết bị chuyên dùng lưu thông trên đường bộ , đường đô thị .Chịu trách nhiệm trước pháp luật về phương tiện tham gia giao thông là người điều khiển phương tiện và chủ sở hữu phương tiện. 3.5.Tổ chức giao thông và điều khiển giao thông theo nghĩa rộng là tập hợp các biện pháp nhằm cưỡng chế , tác động , điều chỉnh vào các hoạt động của giao thông , nhằm tổ chức , điều chỉnh các hoạt động giao thông , đảm bảo cho sự đi lại của người và phương tiện được an toàn , nhanh chóng , thông suốt. Tổ chức giao thông và điều khiển giao thông theo nghĩa hẹp là điều khiển sự đi lại của người và phương tiện trên đường giao thông được an toàn, nhanh chóng , thông suốt . Mục đích của tổ chức giao thông chính là sự điều tiết các hoạt động giao thông trên đường được an toàn ( không để xảy ra tai nạn giao thông , đay là yêu cầu lớn nhất của hoạt động giao thông), nhanh chóng , thuận tiện ( đáp ứng được yêu cầu kinh tế – xã hội , nhu cầu đi lại , vận chuyển ),đảm bảo mỹ quan môi trường . 3.6.Người điều khiển giao thông là c ảnh sát giao thông hoặc là người được giao nhiệm vụ hướng dẩn giao thông tại nơi thi công , nơi ùn tắc giao thông ,ở bến phà , tại cầu , đường ộ đi chung với đường sắt ( khoản 20 điều 3 luật giao thông đường bộ ) 3.7.Quản lý nhà nước về giao thông là hoạt động mang tính chất quyền lực của cơ quan hành chính nhà nước nhằm tạo ra các điều kiện để xác lập , duy trì và ổn định các quan hệ về giao thông theo quy định của pháp luật giao thông .Đây là một hoạt động có vai trò , vị trí rất quan trọng trong lĩnh vực an ninh trật tự.Bởi vì , tai nạn giao thông hàng ngày vẫn là một hiểm hoạ đối với tính mạng và tài sản của con người . Quản lý nhà nước về giao thông là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước , các tổ chức xã hội được nhà nước uỷ quyền , được tiến hành trên cơ s ở pháp luật , nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông .Quản lý nhà nước về trật tự an toàn
  17. giao thông là tiến hành trên các lĩnh vực : ban hành các quy phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ ; tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ ; quản lý quy tắc giao thông đường bộ ; quản lý hạ tầng giao thông đường bộ ; quản lý phương tiện tham gia giao thông ; quản lý người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ; quản lý vận tải đường bộ ; tuần tra kiểm soát giao thông ; chỉ huy điều khiển giao thông ; điều tra xử lý tai nạn giao thông . 3.8.Khái niệm “tai nạn giao thông” Tai nạn giao thông là một hiện tượng xã hội xuất hiện trong quá trình hoạt động giao thông của con người .Cùng với sự ra đời và phát triển của các loại phương tiện giao thông , tai nạn giao thông bắt đầu xuất hiện và gia tăng .Thuật ngữ tai nạn giao thông dần dần được sử dụng trên oàn thế giới .Tuy nhiên do mang đặc tính xã hội sâu sắc , tai nạn giao thông ở mỗi nước có những biểu hiện khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế , văn hóa , xã hội và trình độ quản lý của mỗi nước cũng như ý thức chủ quan của mỗi nước trong việc xây dựng các tiêu chuẩn pháp lý để nhận diện tai nạn giao thông . Có ý kiến cho rằng : tai nạn giao thông là sự kiện bất ngờ , nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người . Nó xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng , đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng nhưng do chủ quan , vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hoặc do gặp phải các tình huống , sự cố đột xuất không kịp phòng tránh đã gây ra các thiệt hại nhất định cho tính mạng , sức khoẻ con người hoặc tài sản của nhà nước và nhân dân. Theo Từ điển bách khoa công an nhân dân Việt Nam thì “tai nạn giao thông là việc rủi ro , bất ngờ xảy ra khi phương tiện giao thông đang di chuyển trên các đường b ộ , đường thuỷ , đường sắt , đường hàng không , gây thiệt hại đến tính mạng , sức khoẻ của con người , đến tài sản và phương tiện. 4.Một số kết quả hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông ở nước ta hiên nay . Giao thông vận tải là một ngành kinh tế dịch vụ quan trọng trong nền kinh tế quốc dân , nó là “mạch máu trong một cơ thể sống”, là một bộ phận cấu thành tư liệu chung cho các hoạt động kinh tế , văn hoá….của xã hội.Có hoạt động giao thông thì tất
  18. yếu cần có hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông . Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động đảm bảo trật tự an toàn giao thông , Đảng và nhà n ước ta đã quan tâm xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông.Một số văn bản chỉ đạo và hướng dẫn mới nhất như : 1.Luật giao thông đường bộ số 26/2001/QH10 ngày 29/06/2001 là bước phát triển quan trọng của quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về giao thông vận tải của nước ta ; 2.Quyết định số 197/2001/QĐ -TTg ngày 27/12/2001 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chính sách quốc gia phòng chống tai nạn thương tích giai đoạn 2002 - 2010 . 3.Nghị quyết liên tịch của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và Uỷ ban an toàn giao thông quốc gia số 01/2003/NQLT/TLĐLĐ-UBATGTQG về việc tổ chức vận động CNVC-LĐ cả nước tham gia giữ gìn trật tự an toàn giao thông. 4.Nghị định số 13/2003/NĐ-CP ngày 19/02/2003 của chính phủ về việc quy định danh mục hàng nguy hiểm , vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường bộ . 5.Thông tư của Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải số 01/2003/TT -BGTVT ngày 08/01/2003 hướng dẫn đội mũ bảo hiểm khi đi xe môtô ,xe gắn máy. 6.Bộ giao thông vận tải đã ra 4 quyết định ban hành quy định trách nhiệm , hình thức xử lý các vi phạm đối với tổ chức , cá nhân khi vi phạm quản lý bảo đảm chất lượng các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông ; vi phạm quản lý , kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông đường bộ ; vi phạm trong công tác quản lý đào tạo , sát hạch , cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ …… Tất cả những văn bản pháp luật mới nhất mang tính chất chỉ đạo hướng dẫn hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông đã được tổ chức triển khai ở các cấp , các ngành , các địa phương đã mang lại những kết quả khả quan như sau : Đầu tư nâng cấp các tuyến đường và hệ thống biển báo tăng cường an toàn giao thông ngành giao thông vận tải cũng đã chú ý xây dựng các đường lánh nạn ở đèo dốc , những đoạn đường có độ nguy hiểm cao.Thực tế các đường lánh nạn ở khu vực Nam
  19. Trung Bộ và Tây Nguyên đã cứu đ ược nhiều xe và người thoát hiểm trong những năm qua .Từ năm 1992 đến 2000 đã có 13 đường lánh nạn (đường cứu nạn ôtô) đ ược xây dựng trên các đèo dốc thuộc quốc lộ 1 và quốc lộ 19 thuộc khu vực Nam Trung Bộ và khu vực Tây Nguyên .Chỉ tính những trường hợp đặc biệt đã cứu được 38 lượt xe và 936 người thoát hiểm( không tính những tr ường hợp xe vào đó rồi sửa chữa xong lại đi ngay không thống kê được . Hiện nay cả nước đã đăng kí , quản lý 7.706.000 phương tiện cơ giới đường bộ , trong đó có 506.000 xe ôtô , 7.200.000 môtô xe máy ,tính đến tháng 6 /2004, nhưng số người điều khiển phương tiện vận tải , cơ giới đường bộ đã được học tập luật lệ giao thông và được sát hạch , cấp giấy phép lái xe còn rất hạn chế . Theo báo cáo của 4 đ oàn kiểm tra liên ngành Giao thông vận tải – Bộ công an – Bộ Lao động Thương binh Xã hội về việc kiểm tra cơ sở vật chất , điều kiện của 152 c ơ sở đào tạo lái xe đã kết luận 14 cơ sở không đủ tiêu chuẩn đào tạo lái xe theo quy định , bị thu hồi giấy phép , 45 cơ sở bị đình chỉ có thời hạn để khắc phục thiếu sót , hạ bậc đào tạo của 3 cơ sở … Những năm qua , đặc biệt là từ năm 1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 36/CP về bảo đảm trật tự an toàn giao thôngđường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị , các ngành hữu quan , cácđịa phương và các thành viên của Mặt trận tổ quốc việt nam đã tăng cường công tác tuyên truyền về trật tự an toàn giao thông , ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân đã được nâng lên đáng kể , song nhìn chung trình độ dân trí chưa cao , ý thức chấp hành pháp luật về trật tự an toàn giao thông vẫn còn hạn chế chưa tự giác , tình trạng vi phạm trật tự an toàn giao thông còn phổ biến thường xuyên . Một số người vi phạm do không hiểu biết về pháp luật , nhưng không ít người có hiểu biết nhưng chấp hành kém , cố tình vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông . Phân tích lỗi vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2004 cho thấy , chỉ tính riêng số vi phạm mà lực lượng cảnh sát giao thông phát hiện được đã tới 579.830 trường hợp, phạt tiền 158,8 tỷ đồng , đình chỉ lưu hành 30.000 lượt ph ương tiện có
  20. những lỗi vi phạm nghiêm trọng đe doạ đến an toàn giao thông tước 3245 giấy phép lái xe . Về tổ chức giao thông : để chủ động khắc phục , giải quyết nạn ùn tắc giao thông , cục cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt đã tổ chức hội thảo và xây dựng phương án xử lý ùn tắc giao thông tại các tuyến quốc lộ ra vào Hà Nội , tham mưu cho Tổng cục cảnh sát chủ trì hội thảo với các ngành bàn biện pháp xử lý ùn tắc giao thông tại các cầu trên quốc lộ 1 vào thành phố Hồ Chí Minh.Sau hội thảo , Hà Nội và các địa phương giáp ranh ,thành phố Hồ Chí Minh , Đồng Nai, Vĩnh Long , Tiền Giang đã lập phương án x ử lý ùn tắc tại các địa phương trình Uỷ ban nhân dân tỉnh , thành phố phê duyệt.Lực lượng cảnh sát giao thông phối hợp với ngành giao thông vận tải nghiên cứu khảo sát tổ chức giao thông trên các tuyến quốc lộ trọng điểm như quốc lộ 1 , quốc lộ 5 , quốc lộ 51, quốc lộ 10 , quốc lộ 18…đồng thời phối hợp tổ chức phân luồng , phân tuyến hợp lý cá c khu đầu mối giao thông và các đô thị.Lực lượng cảnh sát giao thông bố trí đủ cán bộ chiến sĩ tổ chức chỉ huy giao thông ở những nút giao thông phức tạp , những tuyến đường hay xảy ra ùn tắc giao thông hoặc nếu ùn tắc xảy ra thì không để kéo dài. Bộ công an đã ban hành quyết định số 259/2001/QĐ-BCA ngày 05/04/2001 ban hành quy trình chỉ huy điều khiển giao thông tại các đô thị , góp phần quan trọng trong việc giải quyết nạn ùn tắc giao thông , giảm thiểu tai nạn giao thông xảy ra . Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông những năm qua đã thể hiện sự năng động và đạt nhiều kết quả. Uỷ ban an toàn giao thông quốc gia đã chỉ đạo nhiều địa phương tổ chức các cuộc triển lãm tranh ảnh về đề tài trật tự an toàn giao thông ; định kỳ 2 năm 1 lần tổ chức hội thi “Liên hoan băng hình toàn quốc về trật tự an toàn giao thông” sau đó tổ chức tiếp cuộc thi “Toàn dân xem phim an toàn giao thông , thực hành luật lệ giao thông” thu hút hàng triệu lượt người tham gia ; tổ chức thành công hội thi “Lái xe an toàn” ở các ngành ,các địa phương và toàn quốc nhằm nâng cao tay nghề , đạo đức của đội ngũ lái xe trong việc chấp hành luật lệ giao thông và đảm bảo an toàn cho tài sản nhà nước và tính mạng sức khoẻ cho nhân dân. Về công tác tuần tra kiểm soát x ử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông .Trong thời gian qua lực lượng cảnh sát giao thông đã tổ chức có hiệu quả công tác tuần tra
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2