
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
------------
NGUYỄN HOÀI ANH
BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Mã số : 60.22.85
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS VŨ TRỌNG DUNG
HÀ NỘI - 2010
LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ GIỚI, BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA
ĐÌNH VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1. Lý luận về gia đình, phụ nữ và bình đẳng nam nữ trong
gia đình
1.2. Các khái niệm cơ bản
Chương 2: TÁC ĐỘNG CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẾN BÌNH
ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH VÀ THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Tác động của sự nghiệp đổi mới đất nƣớc đến bình đẳng
giới trong gia đình
2.2. Thực trạng bình đẳng giới trong gia đình ở Việt Nam
Chương 3: NHỮNG PHƢƠNG HƢỚNG CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU NHẰM THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH Ở
VIỆT NAM
3.1. Một số phƣơng hƣớng cơ bản
3.2. Các giải pháp chủ yếu để thực hiện bình đẳng giới trong
gia đình ở nƣớc ta
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang
1
7
7
24
37
37
41
75
75
83
104
106

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ GIỚI, BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA
ĐÌNH VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1. Lý luận về gia đình, phụ nữ và bình đẳng nam nữ trong
gia đình
1.2. Các khái niệm cơ bản
Chương 2: TÁC ĐỘNG CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẾN BÌNH
ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH VÀ THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Tác động của sự nghiệp đổi mới đất nƣớc đến bình đẳng
giới trong gia đình
2.2. Thực trạng bình đẳng giới trong gia đình ở Việt Nam
Chương 3: NHỮNG PHƢƠNG HƢỚNG CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU NHẰM THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH Ở
VIỆT NAM
3.1. Một số phƣơng hƣớng cơ bản
3.2. Các giải pháp chủ yếu để thực hiện bình đẳng giới trong
gia đình ở nƣớc ta
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang
1
7
7
24
37
37
41
75
75
83
104
106

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XXI với những tiến bộ vượt bậc về khoa học, kỹ thuật và công
nghệ mà đặc điểm nổi bật là tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và
sự toàn cầu hóa về kinh tế, đang kéo theo nhiều biến đổi quan trọng trọng đời
sống xã hội, sinh hoạt văn hóa và tinh thần. Con người được giải phóng và vai
trò cá thể được đề cao. Tuy nhiên, vấn đề bình đẳng nam nữ một cách toàn
diện, đầy đủ vẫn là lý tưởng mà nhân loại đã, đang và sẽ theo đuổi.
Dù thế giới đã có nhiều biến đổi to lớn; song, vấn đề bình đẳng giới vẫn
chưa thực sự diễn ra như mong muốn của chúng ta. Ngay ở những nước phát
triển dù đời sống cao, trình độ học vấn cao, nhận thức vấn đề nhạy bén, tư duy
thoáng đạt nhưng sự bất bình đẳng giữa nam và nữ vẫn còn tồn tại. Ở những
nước chậm, kém phát triển do điều kiện kinh tế khó khăn; trình độ học vấn
thấp; tư duy cổ hủ, trì trệ; phong tục tập quán, thói quen lạc hậu còn tồn tại
nhiều, cho nên tình trạng bất bình đẳng giới diễn ra khá phổ biến, thường
xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi, mọi thành phần trong xã hội. Sự bất bình
đẳng nam nữ đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của kinh tế thế giới
nói chung, đặc biệt là sự phát triển của các nước chậm, kém phát triển nói
riêng, như nền kinh tế càng ngày càng tụt hậu xa hơn so với các nước khác,
chất lượng cuộc sống thấp, đời sống người dân khổ cực, bệnh tật, đói
nghèo gia tăng; phụ nữ, trẻ em không được quan tâm đúng mức nên tỷ lệ tử
vong cao... Do đó, đấu tranh vì bình đẳng giới đã và đang trở thành một
phong trào rộng khắp trên phạm vi thế giới cả về phương diện lý thuyết và
phương diện thực tiễn.
Việt Nam vốn đi lên từ một nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nhỏ lẻ, manh
mún đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập với nền
kinh tế thế giới. Để hội nhập kinh tế đòi hỏi phải phát huy mọi nguồn lực
trong xã hội, đặc biệt là người phụ nữ - nguồn lực vốn chưa được chú ý nhiều

2
từ trước tới nay. Ở Việt Nam phụ nữ chiếm hơn nửa dân số cả nước cho nên
nguồn lực này tương đối dồi dào; nếu được sử dụng đúng mục đích, đúng khả
năng nguồn nhân lực này thì sẽ tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ cho đất
nước. Người phụ nữ Việt Nam trong gia đình luôn là người vợ đảm đang,
người mẹ hiền tảo tần, hết lòng chăm sóc, lo lắng cho chồng con, gia đình của
mình. Ngoài xã hội họ lại là những người lao động hăng say, tạo ra nhiều của
cải vật chất và tinh thần hữu ích.
Trước đây, những cống hiến lớn lao của phụ nữ chưa được xã hội, gia
đình thừa nhận một cách thỏa đáng. Họ chịu nhiều thiệt thòi, bị đối xử bất
công. Hiện nay, do điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, nhận thức của con
người đã cao hơn, tư duy đã đổi mới, cho nên việc công nhận, tạo điều kiện
cho khả năng, trình độ của người phụ nữ Việt Nam có cơ hội phát huy vai trò
của mình đã tiến bộ đáng kể. Ngày nay có nhiều phụ nữ hạnh phúc trong cuộc
sống gia đình và thành đạt trong sự nghiệp. Họ giữ cương vị cao trong các cơ
quan, bộ máy nhà nước từ trung ương tới địa phương, trong các doanh nghiệp
lớn, nhỏ khắp cả nước. Mặc dù vậy, trong thực tế sự bất bình đẳng giới giữa
nam và nữ vẫn đang diễn ra trong xã hội Việt Nam và có xu hướng gia tăng.
Nhiều người phụ nữ còn phải chịu thiệt thòi ngay chính trong gia đình của
mình. Sự thiệt thòi ấy thể hiện rõ trong lĩnh vực kinh tế, phân công lao động,
giáo dục và đào tạo, việc chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là ở vấn đề bạo lực gia
đình. Chính vì vậy, cần phải thúc đẩy quá trình bình đẳng giữa nam và nữ
trong gia đình để nâng cao vị thế, vai trò của người phụ nữ trong gia đình nói
riêng và ngoài xã hội nói chung. Thực hiện bình đẳng nam nữ (hay còn gọi là
bình đẳng giới) là vấn đề mang tính cấp bách và lâu dài. Việc làm này sẽ góp
phần tạo ra sự phát triển toàn diện cho đất nước về mọi mặt như kinh tế, văn
hóa, chính trị, xã hội... góp phần giải phóng và phát triển người phụ nữ, để
phụ nữ làm tốt hơn vai trò người vợ, người mẹ, người công dân. Với lý do đó,
chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: “Bình đẳng giới trong gia đình ở Việt
Nam” cho luận văn thạc sĩ triết học của mình.

