BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Tô Tuấn Đạt
HOẠT ĐỘNG PHÒNG THỦ CỦA HỆ THỐNG ẤP CHIẾN LƯỢC Ở MIỀN NAM VIỆT NAM THỜI MỸ - DIỆM (1961 - 1965)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Tô Tuấn Đạt
HOẠT ĐỘNG PHÒNG THỦ CỦA HỆ THỐNG ẤP CHIẾN LƯỢC Ở MIỀN NAM VIỆT NAM THỜI MỸ - DIỆM (1961 - 1965)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số : 60220313
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ HUỲNH HOA
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi
đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và động viên rất quý báu của Thầy Cô, Gia đình,
Bạn bè và Anh chị em đồng nghiệp.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và tri ân sâu sắc đến TS. Lê Huỳnh
Hoa, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, dạy bảo và động viên tôi.
Tôi cũng gửi lời cám ơn sâu sắc đến Quý thầy cô đã tận tình dìu dắt, truyền dạy
kiến thức cho tôi trong thời gian qua.
Xin cám ơn Quý thầy cô ban giám hiệu, các phòng ban, các khoa – Trường Đại
học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi
học tập tại trường.
Trân trọng cám ơn Quý thầy cô phòng Sau đại học – Trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong công tác.
Sau cùng, xin cám ơn gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá
trình học tập và thực hiện luận văn.
Dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp,
song chắc chắn rằng luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận
được sự đóng góp của quý thầy cô, anh chị em đồng nghiệp và các bạn.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2013
1
Tác giả Tô Tuấn Đạt
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 1
MỤC LỤC .................................................................................................................... 2
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 4
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................. 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................. 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn .......................................................... 8
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................................. 8
5. Đóng góp của luận văn ................................................................................................... 9
6. Bố cục của luận văn ........................................................................................................ 9
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜIVÀ NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ QUỐC SÁCH ẤP CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ - DIỆM Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1961 - 1965) ............................................................................................................................ 10
1.1. Bối cảnh lịch sử ở miền Nam Việt Nam trước năm 1961 ....................................... 10
1.2. Nguồn gốc, lí do ra đời và mục đích lập ấp chiến lược của Mỹ - Diệm tại miền Nam Việt Nam ................................................................................................................... 16
1.2.1. Nguồn gốc ra đời ấp chiến lược và ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam ........... 16
1.2.2. Lí do và mục đích thành lập ấp chiến lược ........................................................... 20
1.3. Đặc tính của ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam và những công tác phải làm khi xây dựng ấp chiến lược .............................................................................................. 24
1.3.1. Đặc tính của ấp chiến lược .................................................................................... 24
1.3.2. Những công tác Mỹ - Diệm phải làm khi thực hiện ấp chiến lược ...................... 26
1.4. Những hiểu biết thêm về ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam ............................ 28
1.4.1. Khu vực ưu tiên lập ấp chiến lược ........................................................................ 28
1.4.2. Ấp chiến lược khác với khu trù mật, ấp chiến đấu ............................................... 29
1.4.3. Tầm quan trọng của quốc sách ấp chiến lược đối với Việt Nam Cộng Hòa ........ 30
1.4.4. Tại sao ấp chiến lược được coi là quốc sách hàng đầu ......................................... 31
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC, THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG PHÒNG THỦ CỦA HỆ THỐNG ẤP CHIẾN LƯỢC Ở MIỀN NAM VIỆT NAM THỜI MỸ - DIỆM (1961-1965) ........................................................................................... 33
2.1. Mục đích của hoạt động phòng thủ .......................................................................... 33
2.2. Tổ chức hoạt động phòng thủ ................................................................................... 34
2.2.1. Cơ cấu tổ chức nhân sự ......................................................................................... 34
2.2.2. Tổ chức địa thế trong hoạt động phòng thủ .......................................................... 38
2.2.3. Các biện pháp thực hiện hoạt động phòng thủ ..................................................... 43
2
2.2.4. Những cạm bẫy và phương tiện áp dụng trong hoạt động phòng thủ tại các ấp chiến lược ........................................................................................................................ 59
2.3. Tình hình thực hiện hoạt động phòng thủ ở các ấp chiến lược thời Mỹ - Diệm .. 62
CHƯƠNG 3: SỰ THẤT BẠI TRONG HOẠT ĐỘNG PHÒNG THỦ CỦA HỆ THỐNG ẤP CHIẾN LƯỢC Ở MIỀN NAM VIỆT NAM THỜI MỸ - DIỆM (1961-1965) ................................................................................................................. 75
3.1. Kết quả bước đầu trong hoạt động phòng thủ ấp chiến lược của Mỹ -Diệm ở miền Nam Việt Nam ......................................................................................................... 75
3.1.1. Thống kê kết quả bước đầu trong hoạt động phòng thủ ấp chiến lược của Mỹ - Diệm ở miền Nam Việt Nam .......................................................................................... 75
3.1.2. Tình hình an ninh trong các ấp chiến lược ........................................................... 80
3.2. Khả năng chống cộng của các ấp chiến lược ........................................................... 83
3.3. Nguyên nhân thất bại trong hoạt động phòng thủ ấp chiến lược của Mỹ - Diệm 1961 - 1965 ......................................................................................................................... 89
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 100
3
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 108
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sau Hiệp định Geneve 1954, đế quốc Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về nước làm
thủ tướng nhằm độc chiếm miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Âm
mưu xâm lược của Mỹ ở miền Nam là biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới và căn
cứ quân sự của Mỹ để tiến công miền Bắc và hệ thống xã hội chủ nghĩa, làm “con đê”
ngăn chặn chủ nghĩa xã hội, không cho phong trào cách mạng tràn xuống vùng Đông
Nam Á. Chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam nhận được viện trợ của Mỹ
nên yên ổn được trên năm năm. Đến năm 1960, Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt
Nam ra đời và không ngừng phát triển, Nam Việt Nam trở thành 1 trong 10 khu vực
thử thách và là khu vực thử thách đầu tiên của chiến lược toàn cầu mới của Mỹ.
Đế quốc Mỹ nhận thấyphải tăng cường chiến tranh để chống lại phong trào giải
phóng dân tộc đang bùng lên mạnh mẽ. Ngày 29/4/1961 Hội đồng an ninh quốc gia
Mỹ phê duyệt kế hoạch chống nổi dậy. Kế đến nhiều phái đoàn nghiên cứu của Mỹ
lần lượtsang Việt Nam: Phái đoàn của Phó tổng thống Mỹ Johnson (5/1961), phái
đoàn của Tiến sĩ Staley thuộc Viện nghiên cứu Stanford (6/1961), phái đoàn của
Taylor và Rosow trong Bộ Quốc phòng Mỹ (10/1961)... Sau đó kế hoạch Staley -
Taylor ra đời. Kế họach này có tham vọng giải quyết chiến tranh Việt Nam qua 3 giai
đọan:
Giai đoạn 1 thực hiện từ giữa năm 1961, nội dung chủ yếu là bình định miền
Nam bằng biện pháp ấp chiến lược.
Giai đoạn 2 thực hiện từ đầu năm 1963, khôi phục kinh tế, tăng cường lực
lượng quân đội, hoàn thành công cuộc bình định.
Giai đoạn 3 thực hiện đến cuối năm 1965, phát triển kinh tế, ổn định miền
Nam và kết thúc chiến tranh.
Kế hoạch mở đầu và có ý nghĩa quyết định ở giai đoạn 1 là thực hiện cho được
quốc sách ấp chiến lược. Đó vừa là mục tiêu cơ bản, là biện pháp chiến lược, vừa là
4
kế sách trước mắt và lâu dài để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Để thực hiện âm mưu đó, Mỹ tiến hành nhiều kế hoạch, chiến lược và biện
pháp chiến tranh nhằm chống phá cách mạng miền Nam. Ấp chiến lược được coi là
một trong những quốc sách quan trọng của Mỹ - Diệm, một giải pháp có ý nghĩa
chiến lược quyết định đến sự thành bại của các kế hoạch xâm lược của Mỹ. Mục đích
của việc gom dân lập ấp là để thực hiện “tát nước bắt cá” cô lập, tiêu diệt cách mạng
miền Nam.
Từ trước đến giờ các công trình nghiên cứu phần lớn tập trung vào các vấn đề:
quốc sách ấp chiến lược; phong trào đấu tranh chống, phá ấp chiến lược của Mỹ -
Diệm ở miền Nam Việt Nam.
Tuy nhiên trên thực tế quốc sách ấp chiến lược đã bị thất bại dù Mỹ - Diệm đã
thực hiện hoạt động phòng thủ cho cả hệ thống ấp chiến lược trên toàn miền Nam.
Chọn đề tài:Hoạt động phòng thủ của hệ thống ấp chiến lược ở miền Nam Việt
Nam thời Mỹ - Diệm (1961-1965) luận văn nhằm:
- Trình bày đầy đủ và có hệ thốnghoạt động phòng thủ ấp chiến lược của Mỹ -
Diệm giai đoạn (1961 – 1965). Làm cơ sở để tái hiện lại bức tranh toàn cảnh của quá
trình thực hiện hoạt động phòng thủ ấp chiến lược trong giai đoạn (1961-1965).
- Qua đó hiểu rõ những thủ đoạn và biện pháp của Mỹ - Diệm trong quá trình
thực hiện hoạt động phòng thủ ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam.
- Cuối cùng rút ra nguyên nhân vì sao một kế hoạch có ý nghĩa quan trọng
được Mỹ - Diệm chuẩn bị hết sức chu đáo lại bị thất bại.
Từ những hiểu biết về một góc nhìn khác, góc nhìn từ đối phương – một trong
những nhân tố của cuộc chiến ở Việt Nam (1961 - 1965) sẽ giúp những nhận định
đánh giá về cuộc đấu tranh của quân và dân ta trở nên bản chất hơn, khoa học hơn và
thuyết phục hơn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến đề tài có rất nhiều công trình trong và ngoài nước được công bố.
Ở Mỹ có nhiều sách của nhiều tác giả viết về cuộc chiến tranh Việt Nam như:
- Tác phẩm Giải phẩu một cuộc chiến tranh của Giáo sư sử học Gabriel Kolko
bắt đầu viết từ năm 1964 và xuất bản năm 1965 tại New York. Sách viết về diễn biến
5
quá trình xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, trong đó có nêu vấn đề về ấp chiến lược.
“Đối với nhóm cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) chương trình ấp chiến lược
nhấn mạnh nhiều hơn đến quân chính quy và hỏa lực, việc di dân cũng triệt để hơn.
Dân được đưa ra khỏi những “khu vực chết” mà về sau gọi là khu vực tự do bắn phá.
Cái chung của Diệm lẫn Mỹ là kiểm soát dân với hy vọng vô hiệu hóa ảnh hưởng của
Mặt trận dân tộc giải phóng, hoặc nếu không thì cũng làm cho Việt Nam Cộng Hòa
tiếp xúc với phần đông dân chúng, xóa bỏ cơ sở quần chúng của mặt trận” [53,tr.11-
12]. Tác phẩm có ảnh hưởng rộng rãi trên thế giới.
- Cuốn Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ của Giáo sư sử học
George C.Herring xuất bản tại Mỹ năm 1981, đã lên án giới cầm quyền Mỹ gây ra
cuộc chiến tranh xâm lược dài ngày nhất nước Mỹ. Trong chương 3: Hợp tác có mức
độ giữa Kenơdy và Diệm (1961-1963) sách viết: “Chương trình ấp chiến lược được
quảng cáo rùm beng cũng chỉ đem lại được kết quả chút ít. Về lý luận chương trình
này nhằm tránhviệc di dân ồ ạt khỏi nơi đất tổ thiêng liêng, một điểm yếu của chương
trình dinh điền lạc hậu trước đây” [35,tr.115].
- Cuốn: Defeating communist insurgency. The lessons of Malaysia and
Vietnam (Đánh bại sự nổi dậy của Cộng Sản. Bài học từ Malaysia và Việt Nam) của
Robert Thompson (chuyên gia có nhiều kinh nghiệm của chương trình bình định
chống nổi dậy được đánh giá là thành công ở Malaysia, được Mỹ - Diệm mời về miền
Nam Việt Nam làm chuyên gia cho quốc sách ấp chiến lược). Tháng 3 năm 1965, sau
thất bại ở Việt Nam. R.Thompson về nước và tháng 7 ông viết cuốn sách này. Ông đã
đi sâu trình bày mục đích, biện pháp và quá trình tiến hành chương trình lập ấp chiến
lược ở Malaysia và Việt Nam, rút ra những nguyên nhân thất bại của chương trình
này ở Việt Nam. Ông cho rằng “nguyên nhân dẫn đến thất bại của chương trình ấp
chiến lược ở Việt Nam chủ yếu là do vai trò của Ngô Đình Nhu - Người chịu trách
nhiệm chính thực hiện ấp chiến lược ở Việt Nam đã phạm phải những sai lầm nghiêm
trọng. Trong đó, sai lầm đầu tiên là do nôn nóng thúc ép thực hiện chương trình này,
Ngô Đình Nhu đã áp đặt kiểm soát chính trị từ trên xuống chứ không phải dành được
sự ủng hộ từ dân chúng; thứ hai là quá đề cao vai trò của thanh niên cộng hòa, gây
nên sự xung đột giữa hai thế hệ già trẻ trong cộng đồng; thứ ba là do không hiểu được
6
nguy cơ ngày càng tăng của Cộng sản” [53,tr.14].
Ở Việt Nam, có các tác phẩm Quốc sách ấp chiến lược của Mỹ - Diệm của Hồ
Quý Ba và Nam Hùng, xuất bản năm 1962. Tác phẩm đã lên án âm mưu thâm độc
gom dân lập ấp của Mỹ - ngụy.
- Tác phẩm Ấp chiến lược trại tập trung trá hình của Nguyễn Hà, xuất bản năm
1963. Tác phẩm đã lên án âm mưu thâm độc gom dân lập ấp của Mỹ - ngụy.
- Tác phẩm Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá quốc sách ấp chiến lược
của Mỹ - ngụy ở miền Nam Việt Nam (1961-1965) của tác giả Trần Thị Thu Hương,
xuất bản năm 2003.
- Tác phẩm Chiến tranh đặc biệt là sự phát triển của chủ nghĩa thực dân mới và
là giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam của Nguyễn
Văn Hiếu, xuất bản năm 1964, từ trang 18 đến 20 có nêu chính sách tập trung dân vào
ấp chiến lược là chính sách tàn bạo nhất của đế quốc Mỹ, tác động đến quyền lợi và
đời sống của toàn thể nhân dân Việt Nam.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về quốc sách ấp chiến lược nêu trên còn
có các bài viết trên các tạp chí như:
- Tạp chí Nghiên cứu lịch sử có các bài: Chính sách bình định của Mỹ Ngụy
trong giai đoạn chiến tranh đặc biệt đang diễn. Sự thất bại của nó (Trần Văn Giàu,
số 105 Tháng 12/1968). Bài Nhìn lại sự thất bại của chủ nghĩa thực dân mới ở miền
Nam Việt Nam của Bùi Đình Thanh, (số 171 Tháng 11 đến12/1976). Những bài viết
này giúp hiểu rõ âm mưu của Mỹ ngụy trong chính sách bình định, sự thất bại của
chính sách ấy trong phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam.
- Tạp chí Học tập có bài: Ấp chiến lược trại tập trung dân và cứ điểm quân sự
của Mỹ Diệm ở miền Nam Việt Nam của Duy Nghĩa (số 7 năm 1963).
Nhìn chung, việc nghiên cứu về cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ nói
chung và thời kỳ chiến tranh đặc biệt với quốc sách ấp chiến lược nói riêng được
nhiều tác giả nghiên cứu có nội dung khá phong phú.
Tuy nhiên đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu từng yếu tố trong
kế hoạch lập ấp chiến lược ở miền Nam đặc biệt về:Hoạt động phòng thủ của hệ
thống ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam thời Mỹ - Diệm (1961-1965). Vì vậy, Hoạt
7
động phòng thủ của hệ thống ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam thời Mỹ - Diệm
(1961-1965) là một chủ đề khoa học cần được đi sâu nghiên cứu một cách có hệ
thống, toàn diện, đóng góp chonhững hiểu biết phong phú về chiến tranh cách mạng ở
miền Nam Việt Nam và Việt Nam nói chung trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Như tên đề tài đã nêu, đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Hoạt động phòng
thủ của hệ thống ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam thời Mỹ - Diệm (1961-1965).
Không gian nghiên cứu của đề tài là miền Nam Việt Nam - nơi Mỹ - Diệm
thực hiện quốc sách ấp chiến lược của mình.
Thời gian nghiên cứu của đề tài giới hạn từ năm 1961-1965. Năm 1961 là mốc
Mỹ - Diệm chuyển từ chính sách tố cộng, diệt cộng sang chiến lược chiến tranh đặc
biệt, là giai đoạn triển khai quá trình thực hiện ấp chiến lược và hoạt động phòng thủ
ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam. Năm 1965 là mốc đánh dấu sự thất bại hoàn
toàn của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ - Diệm đồng thời đánh dấu sự thất
bại của quốc sách ấp chiến lược cũng như hoạt động phòng thủ ấp chiến lược ở miền
Nam Việt Nam.
Với phạm vi và thời gian đã xác định, đề tài tập trung giải quyết các vấn đề
sau: Hoàn cảnh ra đời quốc sách ấp chiến lược và hoạt động phòng thủ của hệ thống
ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam thời Mỹ - Diệm (1961-1965) được thực hiện
như thế nào, kết quả của hoạt động phòng thủ ấp chiến lược của Mỹ - Diệm ở miền
Nam Việt Nam ra sao.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu gồm
- Tài liệu Trung tâm Lưu trữ quốc gia II. Đây là nguồn tài liệu chính vì chưa có
công trình nào nghiên cứu và công bố nội dung,như đề tài mà luận văn đang nghiên
cứu.
- Các công trình khoa học, các sách viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước của Việt Nam đã được nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Viện sử học, và nhiều
8
nhà xuất bản khác trên cả nước phát hành.
- Ngoài ra còn có các bài viết trên các tạp chí: Nghiên cứu lịch sử, Lịch sử
Đảng, Học tập…
4.2. Về phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp lịch sử kết hợp với
phương pháp logic; đồng thời luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác đó là
phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp.
5. Đóng góp của luận văn
Trình bày một cách có hệ thống sự ra đời của quốc sách ấp chiến lược ở miền
Nam Việt Nam, quá trình thực hiện hoạt động phòng thủ ấp chiến lược, kết quả quá
trình thực hiện hoạt động phòng thủ ấp chiến lược của Mỹ - Diệm ở miền Nam Việt
Nam (1961-1965).
Cung cấp tài liệu và giới thiệu một số tư liệu lưu trữ, góp phần phục vụ công
tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập cho những ai quân tâm đến vấn đề ấp chiến lược
và hoạt động phòng thủ của hệ thống ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam thời Mỹ -
Diệm (1961-1965).
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. Luận văn có bố
cục ba chương như sau:
Chương 1: Hoàn cảnh ra đời và những hiểu biết về quốc sách ấp chiến lược của Mỹ -
Diệm ở Miền Nam Việt Nam (1961-1965).
Chương 2: Quá trình tổ chức, thực hiện hoạt động phòng thủ của hệ thống ấp chiến
lược ở miền Nam Việt Nam thời Mỹ - Diệm (1961-1965).
Chương 3: Sự thất bại trong hoạt động phòng thủ của hệ thống ấp chiến lược ở miền
9
Nam Việt Nam thời Mỹ - Diệm (1961-1965).
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜIVÀ NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ
QUỐC SÁCH ẤP CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ - DIỆM Ở MIỀN NAM
VIỆT NAM (1961 - 1965)
1.1. Bối cảnh lịch sử ở miền Nam Việt Nam trước năm 1961
Trong khoảng thời gian từ sau Hiệp định Giơnevơ (1954) đến những năm cuối
thập kỷ 50 của thế kỷ XX, cuộc chiến tranh lạnh giữa phe xã hội chủ nghĩa và phe đế
quốc chủ nghĩa diễn ra gay gắt trên toàn cầu.
Về phía Mỹ, trong đại chiến thế giới lần thứ hai, Mỹ không những ít bị thiệt
hại mà còn giàu thêm, kinh tế phát triển, sản lượng công nghiệp Mỹ chiếm 56% sản
lượng thế giới tư bản, sản lượng nông nghiệp gấp hai lần sản lượng của Anh - Pháp -
Tây Đức - Ý - Nhật cộng lại. Về quân sự, lục quân Mỹ từ hàng thứ 17 trước chiến
tranh đã vươn lên hàng đầu, hải quân và không quân cũng bỏ xa các nước tư bản
khác. Đặc biệt Mỹ độc quyền vũ khí hạt nhân cho đến 1949, khi Liên Xô thử thành
công vũ khí hạt nhân của mình.
Năm 1953, Eisenhower lên làm tổng thống nước Mỹ. Ngay khi lên cầm quyền,
ông đã khẳng định tham vọng làm bá chủ thế giới của Mỹ “Định mệnh đặt lên đất
nước chúng ta trách nhiệm lãnh đạo thế giới tự do”[39].
Đối với Việt Nam, từ đầu thế kỷ XX, Mỹ đã có ý đồ xâm lược. Từ sau năm
1953, tập đoàn Eisenhower - Nixon lên nắm quyền Nhà Trắng, đã chống lại xu hướng
của Pháp muốn giải quyết chiến tranh thông qua thương lượng với Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa. Vì vậy, trong cuộc họp Hội đồng an ninh quốc gia ngày 8 tháng 1
năm1954 Tổng thống Mỹ Eisenhower nhấn mạnh: “Mỹ không được quên những lợi
ích quan trọng của mình ở khu vực này (Đông Dương)...” “Đông dương như con đê
đang bị rò rỉ và giải pháp tốt nhất là mó tay vào hơn là cả con đê bị cuốn trôi”[35,
tr.31].
Sau khi thất bại trong việc ngăn chặn ký kết hiệp định Giơnevơ, Mỹ đã lên kế
hoạch sẽ thay Pháp đảm nhận trách nhiệm bảo vệ Lào, Campuchia và Nam Việt Nam.
Mỹ cho rằng việc chia cắt Việt Nam là cơ hội cho Mỹ xây dựng lực lượng phi Cộng
10
sản tại Nam Việt Nam. Với ý đồ trên, Mỹ muốn:
- Xây dựng Nam Việt Nam thành một thể chế quốc gia chống Cộng đối lập với
miền Bắc. Không có thỏa hiệp, hiệp thương tổng tuyển cử theo tinh thần hiệp định
Giơnevơ.
- Thiết lập một chính phủ chống Cộng mạnh mẽ, hoạt động có hiệu quả, có uy
tín trong và ngoài nước.
- Tập trung xây dựng một quân đội quốc gia với quy mô lớn đủ sức chống lại
sự phá hoại bằng quân sự đến từ miền Bắc, tiến lên khống chế toàn Đông Dương.
Làm cho xã hội miền Nam Việt Nam có bước chuyển động sâu sắc, có bước phân hóa
mới về chính trị, kinh tế, xã hội nhằm thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ [35,
tr.32].
Vì thế, Mỹ và chính quyền miền Nam bấy giờ đã tăng cường phá hoại Hiệp
định Giơnevơ, thi hành chính sách tố cộng diệt cộng. Từ tháng 3 năm 1953, Diệm
phát động chiến dịch tố cộng trên quy mô toàn miền Nam, lập Ủy ban chỉ đạo tố
Cộng ở bốn cấp: trung ương, tỉnh, huyện, xã. Phối hợp với các lực lượng công dân
vụ, cảnh sát, mật vụ với chính quyền, bảo an, dân vệ, trong đó có cả một số cán bộ
cách mạng đầu hàng, phản bội..., để phát hiện những đảng viên Cộng sản, những
người tham gia kháng chiến chống Pháp, đồng thời buộc người dân tố giác, kêu gọi
đảng viên, những người yêu nước ra đầu hàng, tự thú. Diệm bắt giam những người bị
phát hiện vào các trung tâm cải huấn, bắt họ tuyên bố ly khai với Cộng sản, tố cáo tội
ác của Cộng sản. Những người không khuất phục thì bị tra tấn, đày đi Côn Đảo hay
thủ tiêu.
Trong khi đó ở miền Nam, cùng với việc dẹp các giáo phái và các lực lượng
chống đối, Diệm quyết định tiêu diệt các lực lượng cách mạng ở miền Nam mà Diệm
cho là nguy hiểm nhất. Để tạo cơ sở pháp lý, Ngày 21 tháng 8 năm 1956, Diệm ký
Dụ số 47 trừng phạt những tội phạm chống lại nền an ninh quốc gia, theo đó “mọi
hành động được thực hiện cho bất cứ tổ chức Cộng sản nào đều có thể bị xử tử hình”
[83, tr.33]. Không những thế, Hiếp pháp Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1956) ở điều 7
ghi rõ: “Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay
gián tiếp chủ nghĩa Cộng sản dưới mọi hình thức đều trái với các nguyên tắc ghi
11
trong hiến pháp” [53, tr.33].
Từ giữa những năm 1956, Diệm khởi đầu giai đoạn 2 của chiến dịch tố cộng,
diệt cộng; một mặt Diệm tăng quy mô các chiến dịch càn quét của quân đội chính quy
vào các căn cứ cũ, mặt khác siết chặt các biện pháp kiềm kẹp ở cơ sở, phát hiện Cộng
sản nằm vùng, phối hợp toàn diện các mặt quân sự, hành chính, mật vụ cảnh sát,
nhằm mục đích diệt tận gốc lực lượng cách mạng, bình định nông thôn [35, tr.40].
Tuy nhiên, chúng càng đàn áp thì phong trào đấu tranh của nhân dân đòi thi
hành Hiệp định Giơnevơ, đòi các quyền dân sinh, dân chủ, chống cải cách điền địa
càng nổ ra sôi nỗi mạnh mẽ.Các cơ sở cách mạng đã vận động quần chúng nông thôn
kéo ra thành thị đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước kết hợp với yêu
sách đòi cải thiện dân sinh, dân chủ. Phong trào đấu tranh gắn với phát triển các
nghiệp đoàn, tăng cường đoàn kết các giới công nhân.
Để chống lại cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến của chính phủ Diệm và đòi Hiệp
thương tổng tuyển cử, toàn Nam Bộ phát động cuộc đấu tranh thống nhất từ ngày 20
tháng 10 năm 1955 đến 26 tháng 2 năm 1956. Cuộc đấu tranh diễn ra với nhiều hình
thức phong phú như biểu tình, bãi công, bãi thị.
Trước tình hình đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã tăng cường đàn áp, khủng
bố các cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân. Dân chúng bị đe dọa về tính mạng,
bị cướp đoạt ruộng đất và tài sản; cán bộ, đảng viên, du kích bị truy, lùng bắt giết và
phải điều lắng (chuyển sang vùng khác hoạt động), hoặc mất liên lạc hoạt động. Lực
lượng cách mạng và phong trào cách mạng đứng trước tình trạng bị tổn thất nghiêm
trọng và bị đẩy lùi xuống mức gần như thoái trào.
Không chịu nổi sự khủng bố đàn áp của kẻ thù, nhân dân tự đứng lên đấu tranh
vũ trang. Hầu hết các địa phương đều bí mật thành lập đội vũ trang tự vệ. Đến năm
1959, toàn miền Nam đã có 139 trung đội vũ trang tập trung và vũ trang tuyên truyền,
hàng trăm tổ chức tự vệ. Ngoài việc tự vệ và hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, các lực
lượng vũ trang quần chúng tiến lên diệt tề trừ gian, diệt ác phá kìm [53, tr.44].
Từ cuối năm 1959 đến 1960, Mỹ - Diệm đẫy mạnh đàn áp phong trào cách
mạng của quần chúng nhân dân, đặc biệt là ban hành Luật 10-1959 quy định việc tổ
chức các Tòa án quân sự đặc biệt với lý do xét xử các tội ác chiến tranh chống lại
12
Việt Nam Cộng Hòa, mục đích tiến hành thanh trừ những người Cộng sản ở miền
Nam Việt Nam. Theo luật 10-59, bị can có thể được đưa thẳng ra xét xử mà không
cần mở cuộc điều tra, án phạt chỉ có hai mức: tử hình hoặc tù khổ sai, xét xử kéo dài
3 ngày là tối đa, không có ân xá hoặc kháng án; dụng cụ tử hình có cả máy chém. Sau
khi Luật này ban hành, lực lượng cách mạng miền Nam bị chính quyền Diệm truy
quét, bắt bớ, khủng bố, đặc biệt là các đảng viên Đảng cộng sản nên lực lượng bị hao
hụt nặng nề, uy hiếp tinh thần của quần chúng; cán bộ, đảng viên, du kích bị truy lùng
bắt giết, hoặc mất liên lạc hoạt động [53, tr.45].
Giữa lúc đó, tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội
nghị lần thứ 15 đề ra đường lối cách mạng miền Nam, hội nghị xác định: “Nhiệm vụ
cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực
hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ,
nhân dân miền Nam xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất độc lập, dân
chủ và giàu mạnh.Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam lúc này là
dùng bạo lực, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp lực
lượng vũ trang đánh đổ chính quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng nên
chính quyền cách mạng của nhân dân” [105, tr.183]. Nghị quyết 15 là cột mốc lịch
sử quan trọng trong quá trình phát triển của cách mạng miền Nam, mở ra giai đoạn
mới, tạo cho nhân dân ta tiến bước vững vàng vào cuộc đấu tranh chính trị kết hợp
với đấu tranh vũ trang nhằm đánh bại âm mưu của Mỹ - Diệm.
Tháng 11 năm 1959, xứ Ủy Nam Bộ họp Hội nghị đề ra chủ trương thực hiện
tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, trong đó tập trung vào những công
việc khẩn cấp như:
- Đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng để đẩy Mỹ - Diệm
vào thế bị động và cô lập hơn nữa.
- Đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền, nhằm thiết thực hỗ trợ phong trào
đấu tranh chính trị của quần chúng.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục quần chúng để nâng cao ý thức
căm thù và quyết tâm cách mạng trong cuộc đấu tranh đánh đổ ách thống trị của Mỹ -
13
Diệm.
- Không ngừng củng cố, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất chống Mỹ -
Diệm.
- Xúc tiến việc đẩy mạnh công tác binh vận [105, tr.184].
Ngay sau khi có chủ trương của Xứ ủy, cuộc “Đồng Khởi” ở Bến Tre đã nổ ra.
Ngày 17 tháng 1 năm 1960, dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy Bến Tre, 3 xã Định Thủy,
Phước Hiệp và Bình Khánh của huyện Mỏ Cày đã tiến hành khởi nghĩa. Từ Mỏ Cày,
phong trào nhanh chóng lan ra toàn tỉnh. Đến cuối tháng 1 năm 1960, gần 59 xã của
Bến Tre được giải phóng. Từ Bến Tre phong trào như tức nước vỡ bờ lan rộng khắp
miền Nam. Tính đến cuối năm 1960, tại các tỉnh ở Nam Bộ có 600/1.298 xã được
giải phóng, ở các tỉnh ven biển miền Trung có 904 trong tổng số 3.829 thôn được giải
phóng, còn ở Tây Nguyên có tới 3.200 trong tổng số 5.721 thôn được giải phóng [53,
tr.44].
Thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” đã giáng một đòn nặng nề vào chính
quyền tay sai Ngô Đình Diệm, chứng tỏ chiến tranh đơn phương của Mỹ - Diệm hoàn
toàn thất bại. Mặt khác, đánh dấu một bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền
Nam từ thế giữ gìn sang thế tấn công, từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh kết hợp
giữa chính trị với vũ trang.
Ngày 20 tháng 12 năm 1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
ra đời, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân miền Nam, đáp ứng yêu cầu của lịch sử,
trở thành ngọn cờ hiệu, là trung tâm đoàn kết nhân dân miền Nam chống lại chính
quyền Mỹ - Diệm.
Trước tình hình đó, để chống lại phong trào cách mạng dân lên mạnh mẽ ở
miền Nam. Ngày 11 tháng 5 năm 1961, Tổng thống Mỹ Kennedy quyết định chuyển
từ chính sách tố cộng diệt cộng ở miền Nam Việt Nam sang chiến lược chiến tranh
đặc biệt. Đây là kiểu chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân mới, nhằm ngăn
chặn sự nổi dậy và đàn áp phong trào cách mạng. Chiến lược chiến tranh đặc biệt tiến
hành ở miền Nam Việt Nam được mở đầu bằng việc triển khai thực hiện kế hoạch
Staley - Taylor, nhằm bình định miền Nam trong 18 tháng (6/1961 đến cuối năm
14
1962), gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Là giai đoạn cơ bản nhất của kế hoạch, nhằm bình định miền
Nam Việt Nam trong vòng 18 tháng bằng nhiều biện pháp, chủ yếu nhất là biện pháp
gom dân lập ấp chiến lược hòng tát nước bắt cá, đánh phá cơ sở cách mạng ở nông
thôn. Tăng cường lực lượng ngụy quân và lực lượng yểm trợ của Mỹ để tiêu diệt lực
lượng vũ trang còn non trẻ của cách mạng miền Nam. Lập hệ thống cứ điểm dọc biên
giới, giới tuyến ngăn chặn sự xâm nhập từ bên ngoài vào. Tăng cường hoạt động tình
báo gián điệp.
Giai đoạn 2: Phục hồi kinh tế, tăng cường quân đội ngụy và tiếp tục phá hoại
miền Bắc
Giai đoạn 3: Phát triển kinh tế
Mục tiêu của chiến tranh đặc biệt là dùng quân sự kết hợp với chính trị tâm lý,
đàn áp kết hợp mị dân, nhằm:
- Tiêu diệt lực lượng vũ trang và cơ sở Đảng
- Tách lực lượng cách mạng ra khỏi nhân dân
- Dành lại vùng nông thôn đông dân, nhất là vùng Đồng Bằng sông Cửu Long
và các tỉnh vành đai Sài Gòn
- Ra sức ngăn chặn biên giới, phong tỏa vùng biển, cắt mọi chi viện từ Bắc vào
Nam, bóp chết phong trào quần chúng cách mạng dành thắng lợi trong thời gian ngắn
[53, tr.46].
Biện pháp chính của chiến tranh đặc biệt là hành quân càn quét của quân đội
kết hợp với bình định gom dân lập ấp chiến lược của lực lượng bảo an, dân vệ ở các
địa phương để làm nhiệm vụ bình định, khống chế ấp chiến lược.
Mỹ cho rằng, muốn thiết lập chủ nghĩa thực dân mới ở các nước nông nghiệp
thì trước hết phải tranh thủ được trái tim, khối óc của nông dân, tách nông dân ra khỏi
lực lượng cách mạng, giành quyền thống trị trên toàn bộ nhân dân (chủ yếu là nông
dân) và lãnh thổ nước đó (phần lớn là nông thôn). Như vậy, nông thôn là địa bàn Mỹ
- Diệm tập trung đánh phá dai dẳng nhất, ác liệt nhất, khó khăn và tốn kém nhất để
15
thực hiện cho kỳ được chương trình lập ấp chiến lược.
1.2. Nguồn gốc, lí do ra đời và mục đích lập ấp chiến lược của Mỹ - Diệm tại
miền Nam Việt Nam
1.2.1. Nguồn gốc ra đời ấp chiến lược và ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam
1.2.1.1. Nguồn gốc ra đời ấp chiến lược
Ấp chiến lược ra đời từ những năm 40 và 50 khi đế quốc Mỹ và Anh áp dụng
để chống quân nổi loạn ở Philipin và Malaysia.
Ở Malaysia, tháng 4 năm 1950 trung tướng người Anh là Harold Briggs được
cử làm Tổng tư lệnh phụ trách chiến dịch bài trừ Cộng sản. Kế hoạch Griggs gồm hai
nội dung chính, trong đó nội dung thứ nhất được coi là chính sách thiết lập những
khu làng mới nhằm cắt đứt mối quan hệ giữa nhân dân với Cộng sản. Theo kế hoạch
này, thực dân Anh đã thiết lập những khu làng mới, bao bọc bằng dây thép gai, do
những đội cảch sát đặc nhiệm bảo vệ ngày đêm. Nội dung thứ hai là thực hiện chế độ
kiểm soát gắt gao nguồn lương thực, nhằm cắt đứt nguồn cung cấp lương thực cho
những người Cộng sản.
Thực hiện kế hoạch trên, thực dân Anh đã tiến hành tập trung dân dưới hai
hình thức là làng Ma lay và làng mới. Làng Ma lay là làng của người Mã Lai. Hầu
như tất cả các làng này đều không phải gom dân, chỉ tập trung vào việc tổ chức các
đội dân vệ và có thêm sự hỗ trợ của cảnh sát ở những vùng trọng yếu. Còn Làng mới
là làng Thực dân Anh tập trung chủ yếu vào việc tái định cư của cộng đồng người
Hoa. Đây là lực lượng chủ yếu nổi dậy chống lại thực dân Anh (theo R Thomson hơn
90% nổi dậy là người Hoa). Tổ chức trong làng mới là một hội đồng làng nhằm dẹp
quân nổi dậy ngay tận gốc. Trong mỗi làng có một đồn cảnh sát do một sĩ quan cảnh
sát chỉ huy, với lực lượng dân vệ là 15 người.
Mỹ - Diệm đã học theo mô hình này và đưa vào miền Nam Việt Nam dưới
dạng chính sách bình định mới mang tên ấp chiến lược. Ở Việt Nam một ấp chiến
lược có rất nhiều đồn bốt và lực lượng dân vệ lên đến 30 người [38, tr.37-38].
Để thực thi chính sách ấp chiến lược ở miền Nam, ngày 17/9/1961, đế quốc
Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã mời phái đoàn cố vấn Anh để bàn về các vấn đề hành
16
chính và chính sách do R. Thompson – chuyên gia dày dặn kinh nghiệm chống chiến
tranh du kích của quân đội Anh làm cố vấn bình định. Ngoài ra chính quyền Diệm
còn cử nhiều phái đoàn và gửi nhiều cán bộ sang Malaysia, Philipin để tìm hiểu, học
hỏi kinh nghiệm chống du kích, dồn dân, lập các trại tập trung ở các nước này để về
áp dụng vào miền Nam nước ta.
Khi áp dụng vào Việt Nam, R. Thompson thừa nhận: “Khác với Việt Nam, ở
Malaysia sự nổi dậy chủ yếu của người Hoa với khoảng 600 làng, gồm hơn một nửa
triệu người... Còn ở Việt Nam thì phong trào nổi dậy đã lan rộng tất cả các vùng ở
nông thôn. Điều này có nghĩa là trong các ấp chiến lược, thậm chí những vùng được
gọi là “an toàn” cũng cần phải có sự tổ chức chặt chẽ hơn nữa để bảo vệ các ấp
chiến lược hơn là các làng mới của Malaysia” [38, tr.39].
Từ những kinh nghiệm đó, Mỹ - Diệm tiến hành xây dựng các ấp chiến lược ở
miền Nam Việt Nam. Ấp chiến lược cũng là những trại tập trung dân như làng mới
nhưng với một hệ thống quy mô hơn, kỹ thuật cấu trúc, tổ chức hoạt động phòng thủ,
bố phòng kiên cố, phức tạp và đa dạng hơn, bằng những thủ đoạn chính trị, tâm lý
tinh vi thâm độc với những phương tiện chiến tranh hiện đại.
1.2.1.2. Ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam
Từ cuối năm 1960, với sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam, cách mạng miền Nam đã có những bước chuyển mới. Chiến tranh du kích
xuất hiện ở nhiều địa phương với lực lượng đông đảo hàng vạn người đấu tranh
chống khủng bố, gom dân, dồn làng ngày càng tăng, đã làm tan rã và tê liệt chính
quyền Mỹ - Diệm trong một vùng rộng lớn nông thôn và rừng núi.
Trước thất bại liên tiếp của chính sách tố cộng, dinh điền, trù mật; để cứu vãn
tình thế, nhiều tướng tá và phái đoàn quân sự Mỹ, Anh, Mã Lai..., đã liên tục đến
miền Nam nghiên cứu tình hình và bàn kế hoạch đối phó. Theo cái gọi là Dự án tăng
cường quân sự của Mỹ, một chính sách mới được ra đời, chính sách ấp chiến lược
được chúng coi là quốc sách, một công cuộc đại quy mô quyết định sự tồn vong của
chúng.
Để thực hiện kế hoạch này, Mỹ đưa nhiều cố vấn, chuyên viên, phương tiện,
dụng cụ xây dựng ấp chiến lược đến miền Nam, cùng với Diệm vạch kế hoạch xây
17
dựng ấp chiến lược và huấn luyện cho quân đội Diệm về chiến tranh rừng núi, cách
đánh du kích. Theo sự chỉ đạo của Mỹ, Diệm đã thành lập một Ủy ban chính phủ đặc
trách ấp chiến lược gồm các bộ trưởng phụ tá quốc phòng, nội vụ, công dân vụ, cải
tiến nông thôn, giáo dục và cả tổng tham mưu trưởng, đứng đầu là Ngô Đình Nhu.
Bên cạnh đó có thêm một cơ quan đặc biệt phụ trách ấp chiến lược gọi là Ủy ban ấp
chiến lược của Mỹ, trực tiếp hoạt động tận cơ sở, đôn đốc và chỉ huy việc thực hiện
[73, tr.1].
Song song với việc thành lập 2 ủy ban này, Mỹ - Diệm đã tập trung mọi khả
năng tài chính, phương tiện vào công cuộc xây dựng ấp chiến lược. Quốc hội miền
Nam trong cuộc họp kì I năm 1962 đã quyết nghị “Triệt để tán trợ sự thành lập ấp
chiến lược như là điều kiện ưu tiên để đảm bảo cho sự thực hiện kế hoạch, yêu cầu
các phương tiện xây dựng kinh tế và trang bị xã hội nên vận dụng trước hết để hoàn
thành quốc sách này” [73, tr.1].
Theo yêu cầu của chính quyền Diệm, Mỹ đã hứa dồn tất cả các khoản viện trợ
sắp tới kể cả viện trợ kinh tế, cho kế hoạch quân sự, đặc biệt viện trợ thêm 40 triệu đô
la để lập ấp chiến lược. Mỹ - Diệm đã mở một cuộc vận động lớn tuyên truyền tập
trung, liên tục, dai dẳng về ấp chiến lược từ những tháng cuối năm 1961 bằng mọi
hình thức báo chí, đài phát thanh, hội nghị...
Để lừa bịp, chúng tuyên truyền: “xây dựng ấp chiến lược là giải phóng toàn
diện con người, là nhằm nâng cao đời sống nhân dân về mọi mặt. Chúng cho rằng ấp
chiến lược là kiểu mẫu của một nền văn minh mới nhằm cải tạo xã hội, đồng tiến
cộng đồng. Đồng thời, đe dọa không để lọt bất cứ kẻ nào chống lại ấp chiến lược
hoặc bất cứ ai chống lại quốc sách ấp chiến lược đều là Cộng sản, là tay sai của
Cộng sản là nối giáo cho giặc, bắt buộc mọi người phải tâm niệm rằng ấp chiến lược
là bí quyết để chiến thắng Cộng sản, quyết định sự tồn vong của quốc gia” [5, tr.5].
Để tỏ rõ quyết tâm đến cùng của chúng, Bùi Văn Lương – Tổng thư ký Ủy ban
Trung ương đặc trách ấp chiến lược của Mỹ - Diệm đã nhấn mạnh: “phải xây dựng
và củng cố cho được quốc sách ấp chiến lược bằng bất cứ giá nào”[5, tr.5].
Về thực chất, ấp chiến lược chính là kết quả thất bại của quá trình thực hiện lâu
dài cái gọi là tố cộng, dinh điền, khu trù mật. Ấp chiến lược chỉ là một điểm trong
18
chiến lược mà chúng gọi là điểm mới, một bộ phận trong cái gọi là chiến tranh đặc
biệt, chiến tranh không tuyên bố mà Mỹ đã định ra hàng loạt biện pháp, thủ đoạn
quân sự, chính trị, kinh tế, nhằm tiêu diệt chiến tranh du kích. Bằng cách tập trung
dân vào các ấp chiến lược, chúng muốn tách nhân dân ra khỏi lực lượng vũ trang
cách mạng để dễ dàng tranh thủ và bóc lột nhân dân, bắt lính, cô lập lực lượng vũ
trang cách mạng, phá sạch tất cả những nơi lực lượng vũ trang cách mạng có thể làm
chỗ dựa để hoạt động. Đồng thời, ngăn cách các vùng biên giới không cho lực lượng
vũ trang cách mạng có thể từ ngoài vào và từ trong ra để tiêu diệt.
Để thực hiện kế hoạch này, Mỹ - Diệm đã chủ trương dùng các chất độc hóa
học nhằm tạo thành một vùng đất hoang vắng, lập một vành đai trắng chạy dài từ giới
tuyến 17 dọc theo biên giới Việt - Lào, Việt - Campuchia. Bằng những cuộc hành
quân lớn chúng dự định lập 17.000 ấp chiến lược và chúng gọi đó là cái để “bổ sung
cho các khu trù mật, một yếu tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh du kích, vì có
quy dân lập ấp như vậy, chính quyền mới nắm được dân, không cho dân tiếp xúc với
Cộng sản” [5, tr.5].
Do quan niệm về ấp chiến lược như vậy, nên tính chất toàn diện của kế hoạch
này rất được Mỹ - Diệm đề cao. Chính Ngô Đình Nhu, người phụ trách kế hoạch ấp
chiến lược cũng đã xác nhận: ấp chiến lược có một giá trị rất lớn về cả ba mặt chính
trị, kinh tế, quân sự, nó là “một chiến trận ở nông thôn, ngoài chiến trận thuần tuý
của quân đội” [5, tr.5]. Như vậy rõ ràng ấp chiến lược là một công cụ nhằm đánh vào
nhân dân miền Nam, chủ yếu đánh vào nông dân miền Nam để dành lại khối nhân lực
và vật lực vô tận đã mất ở nông thôn, phục vụ cho mục đích xâm lược của chúng.
1.2.1.3. Nhận định về vai trò của ấp chiến lược
Mỹ - Diệm nhận định, “mục đích tối hậu của quốc gia Việt Nam là xây dựng
một mẫu người mới trong xã hội mới. Nói cách khác, cách mạng Việt Nam nhằm kiến
tạo một nền văn minh mới trên căn bản của quan niệm mới về giá trị con người. Vì
vậy, quá trình đấu tranh đã vượt qua giai đoạn thứ nhất mà thành quả là phá vỡ các
cơ cấu chế độ cũ, thiết lập một chế độ mới. Đó là giai đoạn cách mạng chính trị, kinh
tế để cải tạo khung cảnh của xã hội, của quốc gia. Khung cảnh của chế độ bao gồm
các cơ cấu hoạt động chính trị (hiến pháp, chính phủ, quốc hội, luật lệ...), cơ cấu
19
chính quyền địa phương và cơ cấu hoạt động kinh tế. Cách mạng xã hội nhằm cải tạo
từng nếp sống tinh thần, tình cảm, từng quan niệm, từng tập quán, phá vỡ cái ý thức
lỗi thời để tạo lập một nền văn minh mới. Cho nên cách mạng xã hội phải lấy đơn vị
nhỏ nhất của cộng đồng làm địa bàn hoạt động. Nó huy động những phương tiện
đúng với khả năng của mỗi người dân. Ở một xứ sở nông nghiệp như Việt Nam, đơn
vị xã hội là thôn xã, do đó cuộc cách mạng cần phải thực hiện ở thôn xã” [61, tr.6].
Theo tài liệu lưu trữ củaViệt Nam Cộng Hòa hiện lưu giữ ở Trung tâm Lưu trữ
quốc gia II có nhan đề Nhận định về ấp chiến lược mà luận văn tổng hợp được thì Mỹ
- Diệm truyên truyền rằng “ấp chiến lược không những chỉ nhằm mang lại tiện nghi
cho đời sống vật chất của dân chúng ở nông thôn mà còn đi xa hơn thế nữa, vì ấp
chiến lược nhằm cải tạo mọi nếp sống, tâm tư, tinh thần của người dân. Một khi thay
đổi quan niệm về giá trị, cuộc cách mạng sẽ thay đổi hẳn bản chất con người” [61,
tr.6]. Như vậy theo chúng ấp chiến lược không chỉ là một tổ chức chiến đấu chống
Cộng. Ngoài nhiệm vụ chống Cộng, người dân trong ấp chiến lược còn có nhiệm vụ
kiến thiết hương thôn, xây dựng xã hội mới, nên chúng nói rằng ấp chiến lược là một
đơn vị tổng hợp để hoàn thành cuộc cách mạng xã hội.
1.2.2. Lí do và mục đích thành lập ấp chiến lược
Theo Mỹ - Diệm, quốc sách ấp chiến lược là cả một chiến lược trường kì, trọng
đại nhằm thể hiện hai mục đích vãn hồi an ninh tại nông thôn, thực thi dân chủ tận xã
ấp để có thể tiếp tục các chương trình kiến quốc và cứu quốc một cách thuận lợi trong
toàn quốc. Tài liệu lưu trữ của Việt Nam Cộng Hòa cho thấy quốc sách này vừa bao
gồm ý nghĩa chiến lược về an ninh quân sự, vừa chính trị và kinh tế xã hội:
Với ý nghĩa chiến lược về an ninh quân sự thì “các ấp bình thường được tổ
chức thành các ấp chiến lược sẽ có khả năng tự túc về an ninh quân sự, giúp cho
quân đội cũng như bảo an không phải bận tâm canh gác, phòng vệ cho họ nữa. Trái
lại các ấp này sẽ là những điểm tựa giúp ích cho các cuộc hành quân lùng địch hoặc
lùa địch của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, bảo an cả về các mặt thông tin, liên lạc,
tiếp tế, ngụy trang... Các ấp này có thể ngăn cản địch áp dụng các chiến thuật phục
kích, tập kích theo lối tứ khoái nhất mạn (một chậm bốn nhanh) buộc địch phải lộ
20
diện ứng chiến trong những hoàn cảch bất lợi cho địch” [75, tr.4].
Với ý nghĩa chiến lược về chính trị, “chúng cho rằng từ trước đến nay đồng
bào xã, ấp chỉ biết chế độ dân chủ qua báo chí, qua đài phát thanh hoặc qua các hoạt
động của nghị trường. Bây giờ có ấp chiến lược, đồng bào xã, ấp sẽ được hưởng thụ
trực tiếp các biện pháp dân chủ, sẽ được quyền bầu cử đại diện để làm việc xã, việc
ấp hoặc tham gia ý kiến vào các chương trình, kế hoạch công tác hữu ích cho xã ấp”
[75, tr.4].
Với ý nghĩa chiến lược về kinh tế xã hội” chúng nêu cao các khẩu hiệu tôn
trọng nhân vị, cộng đồng, đồng tiến. Với tổ chức ấp chiến lược, đồng bào nông thôn
sẽ thấy rõ các khẩu hiệu đó được thể hiện ở các quy định bổn phận cũng như quyền
lợi của mọi người dân xã, ấp trong tinh thần công bình xã hội” [75, tr.4].
1.2.2.1. Lí do thành lập ấp chiến lược
Theo tài liệu lưu trữ củaViệt Nam Cộng Hòa hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu
trữ quốc gia II có nhan đề Kế hoạch xây dựng ấp chiến lược thì trong chương trình
cách mạng cứu quốc và kiến quốc, Mỹ - Diệm thấy Việt Nam phải đương đầu với
một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận: Mặt trận chống tình trạng chậm tiến và mặt
trận chống Cộng sản phá hoại.
Để thoát khỏi tình trạng chậm tiến, chính quyền Sài Gòn đã thực hiện nhiều
chương trình kế hoạch công tác lớn như mở mang dinh điền, cải cách điền địa, xây
dựng công - kỹ nghệ, chỉnh trang đô thị, lập khu trù mật, cải tiến hệ thống đường sá,
cầu cống... nhằm đem lại những lợi ích lớn lao cho cộng đồng. Tuy nhiên, trên mặt
trận chống Cộng sản phá hoại, Việt Nam Cộng Hòa gặp những khó khăn và những
vấn đề mới. Vì vậy chúng hy vọng với những thắng lợi của chúng về mọi mặt, Cộng
sản không còn hy vọng dùng kế hoạch quấy rối, phá hoại để ngăn cản sự trưởng
thành của chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Họ cũng cho rằng âm mưu của Cộng sản là nhằm đánh thẳng vào nông thôn,
dùng nông thôn làm địa bàn hoạt động chính, hy vọng thiêu hủy các thành quả kiến
thiết ở ngay hạ tầng cơ sở để chiếm nông thôn, tiến tới bao vây thành thị, lật đổ chế
độ Việt Nam Cộng Hòa. Vì vậy chúng đã nhấn mạnh: “kết hợp với giặc chậm tiến,
giặc Cộng sản hiện gây nên một tình trạng đặc biệt cho Việt Nam Cộng Hòa, nhất là
21
cho nông thôn, về cả hai phương diện an ninh chính trị và kinh tế xã hội”[50, tr.4].
Về an ninh chính trị,Việt Nam Cộng Hòa cho rằng“Cộng sản thực hiện âm
mưu triệt hạ cơ sở của chính quyền Sài Gòn, do đó đã ám sát, bắt cóc các chức việc
xã làm cho chính quyền ở nông thôn rơi vào tình trạng:
- Đa số mất tinh thần, lẫn tránh trách nhiệm, các chức việc bị khống khuyết.
- Phạm vi hoạt động bị thu hẹp về cả không gian lẫn thời gian.
Mặt khác, Cộng sản đã tăng gia phá hoại các đoàn thể quần chúng, khiến cho
phần lớn các đoàn thể ở tại nông thôn không hoạt động hoặc tự nhiên tan rã hoặc trở
thành những tổ chức biến tướng, bị lợi dụng và sai khiến” [50, tr.4].
Nhìn chung Việt Nam Cộng Hòa cho rằng “dù tađã dùng mọi thủ đoạn để lôi
kéo và kiểm soát nhân dân, một mặt đẩy mạnh tuyên truyền lừa bịp xuyên tạc chủ
trương chính sách của chính quyền Sài Gòn, mặt khác tăng cường khủng bố, đe dọa
khiến cho nhân dân:
- Một số ngã theo hoặc bị sử dụng để chứa chấp bọn cán bộ nằm vùng, tiếp tế
nuôi dưỡng, đưa tin, dẫn đường, bỏ nhà tham gia các tổ chức hoạt động của Cộng
sản.
- Đa số giữ thái độ lưng chừng, thụ động, vô trách nhiệm biểu hiện ở chỗ vừa
đóng thuế cho Việt Nam Cộng Hòa vừa đóng thuế cho Cộng sản. Số còn lại tuy vẫn
theo chính quyền Sài Gòn nhưng tinh thần hoang mang dao động, không dám tích
cực thi hành các công tác do chúng chủ trương, trừ một số ít vì hoàn cảnh đặc biệt
nên đã đặt vấn đề sinh tử với Cộng sản”[50, tr.5].
Về phương diện kinh tế xã hội, chúng đã nêu ra:
“- Có nhiều chương trình công tác sau khi hoàn thành, nhân dân chưa được
hưởng đã bị Cộng sản phá hoại.
- Nhân dân không phát huy được khả năng xây dựng xóm làng vì bị kiềm tỏa,
ngăn cản.
- Những phương tiện, quyền lợi do chính phủ đem đến cho nhân dân, bị Cộng
sản cướp đoạt, phá hoại như đốt máy cày, cướp tiền cho vay nông tín...
- Tài sản của nhân dân đã bị cướp đoạt một cách trắng trợn dưới nhiều hình
22
thức lạc quyên, thu thuế, mua chịu” [50, tr.6].
Theo chúng lí do thành lập ấp chiến lược là để chiến thắng cả hai mặt trận
chống Cộng sản phá hoại và chống tình trạng chậm tiến, Mỹ - Diệm chủ trương hoàn
thành cuộc cách mạng nhân vị đến tận xã, thôn trong khuôn khổ cộng đồng, đồng
tiến.
Muốn vậy, theo chúng phải “tổ chức thôn ấp thật chu đáo, kiến tạo cơ sở hành
chính tại nông thôn thật vững chắc, quyết tâm bảo vệ chế độ, sống chết với Cộng sản
và có đủ khả năng giáo dục tổ chức, lãnh đạo nhân dân tiêu diệt Cộng sản ở chính
địa phương mình” [50, tr.6].
Ngoài ra, Việt Nam Cộng Hòa cho rằng “tiến vào nông thôn còn để kiện toàn
hạ tầng cơ sở cách mạng, xây dựng chế độ từ đơn vị nhỏ nhất của quốc gia. Dùng
ngay những phương tiện kết hợp với khả năng của mỗi người dân để xây dựng bảo vệ
và phát triển những thắng lợi của cách mạng” [50, tr.6].
Từ đó, Mỹ - Diệm cho thực hiện các mục tiêu cách mạng ngay tại nơi mà
người dân cư ngụ và sinh hoạt thật sự. Tạo điều kiện cho nông dân phát huy các khả
năng tiềm tàng, tận dụng mọi sáng kiến của nhân dân trong công cuộc xây dựng một
xã hội mới, trong đó mọi người có cơ hội đồng đều để phát huy trong tự do, thịnh
vượng. Thực hiện phương châm làm thật nhiều, tiến thật nhanh, nhưng không gây
nhiều xáo trộn đến sinh hoạt cố hữu của gia đình và cá nhân. Phá tan những cảm nghĩ
lầm lạc của nhân dân về lợi ích của các đại chương trình.
Tóm lại, chủ trương trên được Mỹ - Diệm cho là một phương châm chiến lược
tổng hợp để hoàn thành cuộc cách mạng cứu quốc và kiến quốc ngay tại hạ tầng cơ sở
của xã hội. Vì ấp chiến lược chính là một đáp ứng của phương châm đó, ấp chiến
lược chẳng khác nào một cuộc cách mạng thu nhỏ, từ phạm vi rộng lớn của quốc gia
vào phạm vi nhỏ hẹp của một làng, ấp, làm cho người dân cảm thấy cần thiết để bảo
vệ những hiện thực mà họ trực tiếp thụ hưởng lợi ích. Một khi người dân đã tự
nguyện bảo vệ những công trình thực hiện ở chính thôn xã, tức là họ đã gián tiếp bảo
vệ quốc gia [50, tr.6].
Bởi thế, ấp chiến lược được chúng coi là một sách lược diệt Cộng hữu hiệu
23
trong giai đoạn mới, nhờ ấp chiến lược cuộc cách mạng toàn quốc, toàn diện sẽ đồng
nhất với cuộc cách mạng ở trong đơn vị xã hội, công cuộc bảo vệ từng đơn vị sẽ đồng
nhất với cuôc cuộc bảo vệ quốc gia.
1.2.2.2. Mục đích việc thành lập ấp chiến lược của Mỹ - Diệm
Theo tài liệu lưu trữ củaViệt Nam Cộng Hòa thuộc Trung tâm Lưu trữ quốc gia
II, phông Phủ tổng ủy dinh điền và nông vụ có nhan đề Kế hoạch xây dựng ấp chiến
lược mà luận văn tổng hợp được thì việc thành lập ấp chiến lược của Mỹ - Diệm
nhằm vào các mục đích sau đây:
- Đưa cuộc cách mạng tiến sâu vào nông thôn: “nhằm phát triển các thành
quả đã thâu lượm được trong cuộc cách mạng toàn quốc và toàn diện, đưa cuộc cách
mạng tới hạ tầng cơ sở của quốc gia, thực hiện mục tiêu của cách mạng ở ngay nơi
thành phần đa số trong nhân dân cư ngụ và sinh hoạt” [50, tr.6].
- Tiêu diệt kẻ thù tận gốc: “bằng cách chiến thắng Cộng sản ngay ở địa bàn
hoạt động chính là nông thôn, tiêu diệt được tình trạng lạc hậu về sinh hoạt tinh thần
và vật chất ở đơn vị căn bản của cộng đồng quốc gia, đánh tan những độc tố tai hại
do thực dân phong kiến và Cộng sản gieo rắc còn lại ở lớp người đông đảo và căn
bản của quốc gia” [50, tr.6].
- Hoàn thành cơ sở hạ tầng của chế độ:“thông qua việc phá vỡ các tập quán cũ,
phản tiến bộ, triển khai nề nếp sinh hoạt mới thích hợp với thời đại mới. Tập trung
đầy đủ các điều kiện vật chất tinh thần để tạo cho mọi người cơ hội đồng đều, phát
triển tài lực, tận dụng sáng kiến trong công cuộc xây dựng và bảo vệ thành quả
chung. Làm cho người dân nhìn thấy các việc thực hiện ở xã thôn, chính hình ảnh các
thực hiện vĩ đại trong phạm vi quốc gia rộng lớn, từ đó gây cho họ có ý thức trách
nhiệm trong việc bảo vệ và phát triển những thành quả đã thu lượm được” [50, tr.6].
1.3. Đặc tính của ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam và những công tác phải
làm khi xây dựng ấp chiến lược
1.3.1. Đặc tính của ấp chiến lược
Theo Mỹ - Diệm hệ thống ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam có những đặc
tính sau:
24
Ấp chiến lược được thực hiện để cải tạo toàn diện xã hội
“Ấp chiến lược không phải nhằm một mục tiêu thuần tuý quân sự (bảo vệ an
ninh), hay một mục tiêu thuần tuý về kinh tế (cải tiến dân sinh). Việc thành lập ấp
chiến lược có ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều. Đó là trọng tâm công tác trong giai đoạn
hiện thời, nhằm mục đích cải tạo toàn diện xã hội, từ một xã hội cũ bất công, các
thành kiến sai lầm, tiến lên kiến lập một xã hội mới, trong đó mỗi người sẽ có đủ cơ
hội, điều kiện đồng đều, phát huy khả năng để tự tạo một đời sống hạnh phúc và nhân
phẩm được tôn trọng. Nói cách khác, mỗi ấp chiến lược sẽ là một ấp kiểu mẫu của
nền văn minh mới, từ các ấp kiểu mẫu, cuộc cách mạng sẽ tiến sâu vào nông thôn để
đạt mục đích là giải phóng con người toàn diện” [50, tr.7].
Ấp chiến lược có tác dụng diệt giặc chậm tiến và giặc chia rẽ
“Ngoài mục tiêu về quân sự, việc thực hiện ấp chiến lược còn nhằm vào các
mục tiêu khác về chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa... Bởi vậy ấp chiến lược đồng thời
tiêu diệt 3 thứ giặc đó là giặc Cộng sản, giặc chậm tiến và giặc chia rẽ. Như vậy, việc
thực hiện ấp chiến lược được Mỹ - Diệm cho là công cuộc trường kỳ, chứ không phải
vài năm là xong. Nó đòi hỏi sự bền bỉ, nhẫn nại phi thường. Nó nhằm vào các đối
tượng tỉ mỉ, liên quan đến đời sống hằng ngày của dân chúng, từ việc phân phối
quyền lợi đến nếp sống sinh hoạt ở thôn ấp. Đối tượng tuy nhỏ, song mục đích lại
lớn. Vì cuộc chiến đấu thành hay bại chính là tùy thuộc vào kết quả của việc thực
hiện ấp chiến lược hiện nay” [50, tr.8].
Mỹ - Diệm cho rằng không phải vì có Cộng sản phá hoại mới thực hiện ấp
chiến lược
Theo tài liệu lưu trữ của Việt Nam Cộng Hòa, lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ
quốc gia II, có nhan đề kế hoạch xây dựng ấp chiến lược thì “việc thành lập ấp chiến
lược nằm trong khuôn khổ cuộc cách mạng chính trị, xã hội tiến hành từ 7 năm nay
trong toàn quốc. Dù có hay không có cuộc chiến tranh lũng đoạn do Cộng sản gây
ra, Việt Nam Cộng Hòa vẫn phải theo đuổi cuộc cách mạng đó. Tuy nhiên, vì có
nhiều Cộng sản phá hoại nên bất cứ một chương trình, kế hoạch nào cũng phải
hướng vào mục tiêu có lợi cho công cuộc chiến đấu chống Cộng và trước khi thi
hành một chương trình, một kế hoạch không thể quên việc dự trù các biện pháp ngăn
25
ngừa các hoạt động phá hoại của Cộng sản” [50, tr.10].
Do đó với Mỹ - Diệm, ấp chiến lược là một phương sách chống Cộng hữu hiệu
nhất trong giai đoạn này. Nhờ sự cải tạo nếp sống xã hội ở nông thôn, những phần tử
có công lao với tổ quốc sẽ được hưởng những ưu đãi hợp lý, xứng đáng. Sự thay đổi
quan niệm về giá trị ở thôn ấp sẽ đem lại cho nhân dân một nguồn hứng khởi mãnh
liệt, làm động lực phát động phong trào thi đua diệt Cộng để cứu quốc và kiến quốc.
Ấp chiến lược phải là công tác của nhân dân
Mỹ - Diện cho rằng “ấp chiến lược là do sự tự nguyện của dân chúng, sau khi
thấm nhuần đường lối chủ trương của chính phủ, hăng hái đứng ra thành lập để tự
cải tạo đời sống bằng chính khả năng của mình. Chính phủ có nhiệm vụ giúp đỡ về
cán bộ, phương tiện, kỹ thuật và cứu viện để bảo vệ an ninh khi cần thiết. Sự can
thiệp của chính phủ chỉ là để phát động phong trào và thúc đẩy công tác. Ngoài ra
sáng kiến và sự cố gắng của dân chúng là yếu tố chính để thành công” [50, tr.10-11].
1.3.2. Những công tác Mỹ - Diệm phải làm khi thực hiện ấp chiến lược
Với tinh thần tác chiến và thi đua tác chiến, những công tác được thực hiện ở
ấp chiến lược của Mỹ - Diệm bao gồm nhiều loại nhưng chúng quy thuộc hai lĩnh vực
chống tình trạng chậm tiến và chống Cộng sản phá hoại.
1.3.2.1. Chống tình trạng chậm tiến
Mỹ - Diệm quan niệm:
Về mặt hành chính và chính trị phải:“Tổ chức và củng cố về nhân sự, lề lối
làm việc của các nhân viên hành chính ấp. Xây dựng cho các cán bộ địa phương có
lập trường vững chắc, quyết tâm chống Cộng, bảo vệ chế độ, một lòng phục vụ nhân
dân. Tổ chức và củng cố đoàn thể (chú trọng đặc biệt thanh niên và liên gia trưởng).
Giáo dục phát huy tinh thần liên đới, tự nguyện tham gia xây dựng, bảo vệ các công
trình kiến thiết, đồng thời vận dụng trong công tác đấu tranh chính trị cũng như quân
sự chống Cộng. Giáo dục tư tưởng cho nhân dân để mỗi người dân ý thức rõ về việc
xây dựng một nền văn minh mới với một xã hội mới trong ấp chiến lượ”c [50, tr.12].
Về mặt xã hội, phải thực hiện: “Hướng dẫn cách ăn ở cho hợp vệ sinh, cải tiến
chỉnh trang nhà cửa, sửa sang giếng nước, đào giếng, hướng dẫn cách xây hố gác,
26
cầu tiêu tư gia, công cộng cho hợp vệ sinh, tổ chức thi đua nhà sạch vườn đẹp, hướng
dẫn làm chuồng phân kiểu mẫu, lập trạm y tế, tổ chức và huấn luyện ban cứu thương,
lập hương ước bảo vệ thuần phong mỹ tục, bài trừ tứ đổ tường, phát giác các tổ chức
cờ bạc, mại dâm, tổ chức vườn chơi công cộng cho trẻ em, củng cố các lớp bình dân,
chống nạn mù chữ, mở lớp bổ túc về văn hóa, thành lập ban phụ huynh, ban bảo trợ
bình dân, thành lập hội gia đình tiết nghĩa, gia đình nạn nhân Cộng sản” [50, tr.12].
Về mặt kinh tế phải quan tâm: “Hướng dẫn khuyến khích canh tác và chăn
nuôi, gây quỹ tiết kiệm, tổ chức hợp tác xã nông nghiệp, ngư nghiệp, công nghệ, tăng
gia công tác cải tiến điền dịa, nông tín, củng cố tổ chức hiệp hội nông dân” [50,
tr.13].
Về mặt kiến thiết: “Lập phòng đọc sách, xây trường học, chợ, nhà hộ sinh, tu
bổ đường xá, cầu cống, xây sân vận động, trạm y tế”[50, tr.13].
Tóm lại, chống tình trạng chậm tiến bao gồm việc tổ chức cơ cấu nhân sự trong
ấp chiến lược, giáo dục tinh thần đấu tranh, bảo vệ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.
Hướng dẫn người dân phương thức sống mới, thi đua sản xuất góp phần nâng cao đời
sống vật chất tinh thần cho nhân dân trong ấp chiến lược.
1.3.2.2. Chống Cộng sản phá hoại
Muốn chống Cộng sản phá hoại Mỹ - Diệm đã ra kế hoạch “Thành lập một lực
lượng vũ trang ấp (dân vệ, thanh niên bảo vệ hương thôn) kết hợp xây đồn bót, lập lô
cốt nhất là tại các vùng bất an ninh, lập điểm tựa quân sự, đồng thời tổ chức rào
làng, rào nhà, đào hào, lập trạm canh, báo tin tiếp cứu, luyện tập quân sự cho các
giới nhất là thanh niên cách chiến đấu chống Cộng sản tấn công hay đột nhập. Tổ
chức lưới tình báo nhân dân để kiểm soát người lạ mặt ra vào thôn ấp, thiết lập
phòng gian bảo mật, phát giác cơ sở của địch, thực tập đấu tranh, không tham gia
biểu tình, không đóng góp cho Cộng sản” [50, tr.14].
Đó là những việc Mỹ - Diệm yêu cầu phải làm khi lập ấp chiến lược, không
phải bắt buộc thực hiện toàn thể cùng một lúc mà tùy theo tình hình địa phương, sự
27
giác ngộ của dân chúng để định thứ tự ưu tiên thực hiện.
1.4. Những hiểu biết thêm về ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam
1.4.1. Khu vực ưu tiên lập ấp chiến lược
Theo tài liệu lưu trữ của Việt Nam Cộng Hòa hiện lưu giữ tại Trung tâm Lưu
trữ quốc gia II có nhan đềQuốc sách ấp chiến lược thì Mỹ - Diệm không chủ trương
áp dụng ngay quốc sách ấp chiến lược trên toàn quốc. Ấp chiến lược sẽ được xây
dựng tại khu vực có an ninh hoặc ở trong tình trạng giằng co giữa Chính quyền Sài
Gòn và Cộng sản. Đối với những khu vực tạm bị Cộng sản chiếm đóng làm mật khu
chúng áp dụng chiến thuật hành quân tìm diệt, quy dân, lập ấp chiến đấu. Sau khi tình
thế trở nên khả quan sẽ được cải biến dần dần thành ấp chiến lược.
Về phương diện xây dựng ấp chiến lược, những xã lý tưởng là những xã tuyệt
đối có 3 điều kiện dưới đây:
“- Nằm ở vị trí đảm bảo một trục giao thông quan trọng chặn cửa ngõ xâm
nhập của Cộng sản vào quận.
- Có dân cư đông đúc với tinh thần quốc gia khá cao.
- Có mức sản xuất kinh tế dồi dào để cung ứng cho công tác xây dựng cần
thiết.
Những xã này sẽ được ưu tiên trong công tác xây dựng ấp chiến lược, rồi đến
những xã chỉ có ba điều kiện nói trên một cách tương đối. Những xã nào không có
đầy đủ ba điều kiện nói trên là những xã ít có giá trị chiến lược và sẽ được xây dựng
ấp chiến lược sau cùng”[75, tr.4].
Mỹ - Diệm còn yêu cầu phải tổ chức các ấp chiến lược theo thế chân vạc, thế
liên hoàn để các ấp chiến lược có thể liên hoàn ứng cứu yểm trợ lẫn nhau. Thế chân
vạc nghĩa là ba ấp chiến lược ở gần nhau như ba góc của hình tam giác. Thế liên hoàn
nghĩa là chúng sẽ đẩy mạnh công tác xây dựng ấp chiến lược mỗi ngày lan rộng khắp
toàn xã để giúp tất cả các ấp chiến lược có đủ điều kiện tất yếu khả dĩ nương tựa lẫn
nhau phòng thủ hoặc phối hợp tấn công tiêu diệt ta một cách hữu hiệu.
Ngoài ra chúng còn tổ chức các ấp chiến lược theo phương pháp chấp đôi,
nghĩa là mỗi ấp chiến lược trong khu vực thiếu an ninh sẽ được một ấp trong khu vực
có an ninh bảo trợ. Lúc bình, ấp bảo trợ có nhiệm vụ giúp đỡ ấp chiến lược, liên hệ
28
cán bộ tổ chức, hoặc phương tiện phòng thủ và phát triển. Lúc biến, ấp chiến lược
liên hệ bị ta uy hiếp, tàn phá thì ấp bảo trợ có nhiệm vụ đón tiếp và chu cấp cho các
cán bộ hoặc đồng bào phải tạm lánh mặt tại ấp chiến lược bị nạn trong khi chờ đợi
chính quyền tổ chức kiến thiết lại ấp chiến lược bị nạn.
Khi bắt tay vào công tác xây dựng ấp chiến lược, Mỹ - Diệm điều động đoàn
công tác ấp chiến lược đến đóng từng xã theo thứ tự ưu tiên đã chọn để xây dựng ấp
chiến lược trong khuôn khổ hệ thống xã. Những xã nào có các ấp được cải biến thành
ấp chiến lược là những xã có khả năng tự túc về an ninh, chính trị, kinh tế và xã hội.
Chúng gọi các xã có khả năng như vậy là xã tự vệ [75, tr.4-6].
1.4.2. Ấp chiến lược khác với khu trù mật, ấp chiến đấu
Cũng theo tài liệu Quốc sách ấp chiến lược, Mỹ - Diệm đã phân biệt rất rõ ấp
chiến lược, khu trù mật và ấp chiến đấu như sau:
- Khu trù mật là nơi quy tụ đồng bào nông thôn sống rải rác, lẽ loi, xa cách
nhau ở nhiều nơi hoặc sống quá chen chúc, nghèo nàn tại những nơi bùn lầy nước
đọng, chật hẹp, thiếu không khí. Chúng quy tụ số đông đồng bào này vào khu trù mật
để giúp họ có các tiện nghi tối thiểu, có các điều kiện phát triển đời sống về vật chất
cũng như về tinh thần. Khu trù mật có tác dụng phối hợp chặt chẽ các hoạt động kinh
tế nông thôn thành một hệ thống nông nghiệp, tiểu công nghiệp vững vàng và nâng
đỡ các hoạt động kinh tế đó tiến bộ mạnh mẽ. Địa điểm chúng tổ chức khu trù mật là
nơi đất đai phì nhiêu sẵn có, có hệ thống giao thông hoặc sẽ được xây dựng hệ thống
giao thông.
- Ấp chiến đấu là ấp được chúng tổ chức trong khu vực đã bị tatạm chiếm
thành mật khu hoặc làm ấp chiến đấu (chiến khu D, Đồng Tháp, Cà Mau...). Theo
kinh nghiệm của Mã Lai, Mỹ - Diệm đã chủ trương tiếp tục tổ chức hành quân tàn
phá ta tại các khu vực này để quy dân lập ấp chiến đấu trong một thời gian cần thiết
rồi mới cải biến thành ấp chiến lược. Tại các khu vực này, lực lượng cách mạng cũng
như Mỹ - Diệm đều lập ấp chiến đấu để chống chọi với nhau. Khi nói đến quy dân
lập ấp chiến đấu tại các khu vực này phải nghĩ đến các biện pháp cưỡng bách, cứng
rắn hoàn toàn theo lề lối quân sự.
- Ấp chiến lược là ấp mà dân ở đâu làm ngay đó theo sự tổ chức hướng dẫn của
29
chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Tránh di chuyển và tập trung dân theo kiểu lập khu
trù mật hoặc lập ấp chiến đấu. Trừ trường hợp vài nhà ở giữa đồng mênh mông thì có
thể yêu cầu họ về ở trong ấp trong xã họ. Hoặc các nhà ở rời rạc xa cách nhau thì có
thể tập trung các nhà đó lại một địa điểm thuận tiện nhất miễn là trong phạm vi xã
của họ.
Mỹ - Diệm cũng nhấn mạnh, ấp chiến lược được chúng tổ chức theo đường lối
nhân dân chủ động phát triển cộng đồng để tự túc tự cường. Việt Nam Cộng Hòa chỉ
giúp đỡ một phần nào về nhân sự, phương tiện, kỹ thuật và cứu viện trong những thời
gian cần thiết. Chúng yêu cầu làm sao phải khích động được đồng bào trong ấp tự
giác tự nguyện xây dựng, phòng thủ và chiến đấu.Địa điểm xây dựng ấp chiến lược là
các xã có giá trị chiến lược trong các khu vực tương đối mất an ninh. Có thể nói ấp
chiến lược là hình thức cao của khu trù mật và ấp chiến đấu [75, tr.7-8].
Tóm lại, chính sự khẳng định trên của Mỹ -Diệm đã nói lên tầm quan trọng của
ấp chiến lược.
1.4.3. Tầm quan trọng của quốc sách ấp chiến lược đối với Việt Nam Cộng Hòa
Mỹ - Diệm cho rằng, “nước Việt Nam là sự kết hợp các thôn, trong cuộc chiến
tranh lý tưởng bên nào nắm được làng ấy bên ấy sẽ thắng, chính lí do này khiến
Cộng sản chủ trương lấy thôn quê bao vây thành thị” [63, tr.1]. Vì vậy, Mỹ - Diệm
quan niệmgiành được xã thôn tức là lập ra khắp nơi những chiến tuyến được chuẩn bị
để nhử và diệt đối phương. Mặt khác, ấp chiến lược còn có những ý nghĩa sau:
“- Với hệ thống ấp chiến lược, cuộc chiến đấu đã chuyển từ giai đoạn không
trận tuyến đến giai đoạn có trận tuyến, từ du kích chiến đến địa chiến.
- Ấp chiến lược còn là một cuộc cách mạng xã hội mang theo những ảnh
hưởng chính trị, kinh tế, hành chính sâu rộng, tạo một bầu không khí và hoàn cảnh
thuận lợi cho mọi cuộc cải cách làm phát triển dân chủ và kinh tế ở miền Nam Việt
Nam.
- Ấp chiến lược là một cải tổ cơ cấu mang lại nhiều triển vọng thành công. Vì
lẽ đó, nó không phải là một sáng kiến cá nhân mà được rút ra ở lịch sử một bài học
30
kinh nghiệm quý giá [63, tr.1].
1.4.4. Tại sao ấp chiến lược được coi là quốc sách hàng đầu
Mỹ - Diệm đã trả lời cho câu hỏi này ngay chính trong tài liệu lưu trữ của Việt
Nam Cộng Hòa có tựa đềQuốc sách ấp chiến lược. Theo đó, sở dĩ ấp chiến lược được
coi là quốc sách ưu tiên vì Mỹ - Diệm cho rằng những thủ đoạn bạo hành của ta đã
gây nên tình trạng thiếu an ninh ở nông thôn ngày càng trầm trọng. Biểu hiện ở chỗ:
“- Một số cơ sở hạ tầng chính quyền bị tê liệt.
- Các kế hoạch có tính chất nâng cao mức sống của nhân dân, nhất là giới cần
lao ở các làng mạc, bị đình trệ.
- Một số đồng bào ở xã ấp lâm vào tình cảnh một cổ đôi ba tròng, làm ăn
không được, ngày đêm lo âu cho tính mạng lẫn tài sản.
- Sự lưu thông hàng hóa thực phẩm, nông phẩm giữa thành thị và nông thôn
cũng gặp nhiều trở ngại” [76, tr.6].
Vì vậy nếu không giải quyết được tình trạng thiếu an ninh tại nông thôn sẽ
không thể đẩy mạnh các chương trình nâng cao dân sinh và thực thi dân chủ để thoát
khỏi vòng chậm tiến, chấm dứt nạn chia rẽ và chiến thắng giặc đối phương. Mỹ -
Diệm từng quan niệm như vậy. Vì vậy chúng thấy phải “nỗ lực áp dụng quốc sách ấp
chiến lược để vãn hồi an ninh tại nông thôn, thực thi dân chủ tận xã ấp sớm chừng
nào hay chừng ấy” [76, tr.6].
Có được hai mục đích căn bản này, chúng mới có thể tiếp tục “tiến hành các
chương trình công tác kiến quốc và cứu quốc một cách thuận lợi trong toàn quốc”
[75, tr.6]. Chính vì thế chúng coi quốc sách ấp chiến lược là quốc sách ưu tiên lúc bấy
giờ.
Như vậy, sau khi phong trào Đồng khởi ở miền Nam Việt Nam dành được
thắng lợi, làm cho chiến tranh đơn phương của Mỹ - Diệm hoàn toàn thất bại. Mỹ đã
tích cực chuyển sang chiến lược chiến tranh đặc biệt để chống lại phong trào cách
mạng ở miền Nam và tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược.Mục tiêu chủ yếu, quyết
định của chiến lược này là gom dân lập ấp chiến lược hòng tát nước bắt cá, đánh phá
cơ sở cách mạng ở nông thôn.
Để thực hiện kế hoạch trên, Mỹ - Diệm đã áp dụng chương trình bình định
chống quân nổi loạn ở Philipin và Malaysia vào miền Nam Việt Nam, chính sách
31
bình định mới đó mang tên ấp chiến lược.
Muốn thực hiện được chính sách trên, Mỹ - Diệm đã ra sức tuyên truyền cho
nhân dân hiểu lí do thành lập ấp chiến lược là “nhằm vãn hồi an ninh tại nông thôn,
thực thi dân chủ đến tận xã ấp, đưa cuộc cách mạng tiến sâu vào nông thôn, tiêu diệt
tận gốc Cộng sản tiến tới cải tạo toàn diện xã hội, nhiệm vụ trước tiên là phải chống
tình trạng chậm tiến và chống sự phá hoại của Cộng sản” [75, tr.7]. Vì thế, để hoàn
thành mục tiêu lập ấp chiến lược của mình, song song với quá trình lập ấp chiến lược,
Mỹ - Diệm đã thiết lập một hệ thống phòng thủ kiên cố ở các ấp chiến lược, tạo ra hệ
thống liên hoàn trong hoạt động phòng thủ nhằm ngăn chặn sự phá hoại của ta, tách
Cộng sản ra khỏi dân chúng để dễ dàng tiêu diệt. Tổ chức và hoạt động phòng thủ
32
này sẽ được tìm hiểu ở chương 2 tiếp sau đây.
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC, THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG
PHÒNG THỦ CỦA HỆ THỐNG ẤP CHIẾN LƯỢC Ở MIỀN NAM
VIỆT NAM THỜI MỸ - DIỆM (1961-1965)
2.1. Mục đích của hoạt động phòng thủ
Mỹ - Diệm cho rằng xây dựng ấp chiến lược là hết sức quan trọng, nhưng giữ
được ấp chiến lược càng quan trọng hơn vì nó có ý nghĩa quyết định trong việc tiêu
diệt đối phương, kiến thiết “đất nước”. Cộng sản thấy được ý nghĩa này đã tìm mọi
cách chống, phá ấp chiến lược. Vì vậy, song song với quá trình xây dựng ấp chiến
lược, Mỹ - Diệm đã thiết lập hệ thống phòng thủ ấp chiến lược với mục đích bảo vệ
người dân khỏi sự tấn công của Cộng sản, đồng thời giúp họ tự bảo vệ chính mình,
làmcho dân chúng tin tưởng vào chính sách ấp chiến lược,từ đó sẽ mật báo tin tức về
đối phương cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.
Mặt khác, Mỹ - Diệm cho rằng thực hiện hệ thống phòng thủ sẽ kiểm soát
được sự di chuyển của dân chúng và việc vận chuyển đồ tiếp tế. Để kiểm soát chúng
tiến hành cấp thẻ căn cước và ban hành lệnh giới nghiêm. Với cách làm này Mỹ -
Diệm thấy có thể “dễ dàng tìm ra những ổ Cộng sản kiên trung, ẩn nấp trong một
làng chỉ có chừng vài trăm dân cư và tiêu diệt chúng. Vòng dây kẽm gai và lệnh giới
nghiêm đã khiến quân du kích không còn dám đến các thôn ấp. Nếu cần dùng gạo,
chúng phải tấn công vào một làng có phòng thủ. Như thế, toàn thể chiến cuộc đã đổi
chiều. Thay vì binh lực chính phủ phải đi ra ngoài truy kích bọn Cộng phỉ và lọt vào
ổ phục kính của chúng, Cộng phỉ lại phải tấn công các thôn ấp và như thế chính
chúng rơi vào ổ phục kích” [33,tr.7].
Nhằm đạt tới mục tiêu tối hậu của cuộc chiến tranh quân sự dành phần thắng
về chúng, Mỹ - Diệm xem việc thành lập và phòng thủ ấp chiến lược là một yếu tố
quyết định đến thắng lợi trong vấn đề thanh toán đối phương.
Từ nhận thức trên, Mỹ - Diệm đã thi hành nhiều hình thức, biện pháp nhằm
bảo vệ các ấp chiến lược, đảm bảo sự an toàn trong quá trình xây dựng, phát triển
rộng lớn, xây dựng hệ thống dây chuyền ấp chiến lược ngày càng lớn mạnh, tạo cơ sở
33
vững chắc cho việc phòng thủ và phản công để tiêu diệt Cộng sản.
Trong chương này, luận văn chủ yếu dựng lại tổ chức hoạt động phòng thủ và
quá trình thực hiện hoạt động phòng thủ trong hệ thống ấp chiến lược ở miền Nam
Việt Nam thời Mỹ - Diệm. Hai nội dung này luận văn hoàn toàn không kế thừa, tham
khảo được gì từ những công trình khoa học, ngoài việc sử dụng tài liêu lưu trữ được
lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thuộc các phông Phủ Thủ Tưởng chính phủ,
Phủ Tổng Thống, Phủ Tổng ủy dinh điền và nông vụ của Việt Nam Cộng Hòa. Vì
đây là nổ lực cao nhất mà tác giả luận văn có thể đảm bảo làm sáng rõ yêu cầu khoa
học chính của luận văn.
2.2. Tổ chức hoạt động phòng thủ
Tổ chức hoạt động phòng thủ của hệ thống ấp chiến lược thời Mỹ – Diệm bao
gồm nhiều khâu như: tổ chức nhân sự, tổ chức địa thế, các biện pháp và các phương
tiện thực hiện hoạt động phòng thủ.
2.2.1. Cơ cấu tổ chức nhân sự
Một trong những việc phải làm trước tiên trong công tác phòng thủ ấp chiến
lược của Mỹ - Diệm là tổ chức nhân sự trong các ấp chiến lược bao gồm các Ban trị
sự địa điểm và Ban chỉ huy chiến đấu địa điểm. Dựa vào tài liệu lưu trữ của chính
quyền Việt Nam Cộng Hòa hiện lưu trữ ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia II có tựa đề
Thực hiện quốc sách ấp chiến lược, luận văn trình bày chi tiết về cơ cấu nhân sự này
như sau
2.2.1.1. Ban trị sự địa điểm
Ban trị sự địa điểm gồm một địa điểm trưởng hay đại diện xã, một phụ tá an
ninh và thanh niên, một phụ tá chính trị, một phụ tá kinh tế xã hội.
- Địa điểm trưởng hay đại diện xã là người chịu trách nhiệm trước quận về tất
cả mọi công việc chính quyền khi được ủy nhiệm cho. Thi hành tất cả mọi chỉ thị
công tác về hành chính, an ninh, kinh tế, xã hội, văn hóa. Ngoài ra còn làm nhiệm vụ
lãnh đạo và điều hòa công tác của các phụ tá trong ban trị sự địa điểm. Mỗi khi làm
việc gì địa điểm trưởng hoặc đại diện xã cần họp Ban trị sự để thảo luận lấy ý kiến
chung trước khi thi hành, ngoại trừ những việc đặc biệt mà địa điểm trưởng được chỉ
34
thị riêng [91, tr.1].
- Phụ tá an ninh trật tự và thanh niênlà ngườiphối hợp chặt chẽ và giúp đỡ
đoàn thể Thanh niên Cộng hòa tổ chức chu đáo hàng ngũ thanh niên thành từng toán,
liên toán rõ rệt, lập danh bộ từng liên toán và vị trí của nó (sổ sách ghi gõ họ tên từng
người, số giấy căn cước, số nhà, liên lạc, chính trị, xu hướng tinh thần của mỗi thanh
niên) [91, tr.1].
- Phụ tá chính trịlà người thường xuyên và liên tục tổ chức học tập chính trị
cho Ban trị sự địa điểm và thanh niên. Công việc cụ thể của phụ tá chính trị là:
+ Tổ chức học tập chính trị để giáo dục đồng bào trong địa điểm hiểu rõ quan
niệm chủ trương chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của chính phủ đề ra.
+ Khai thác và giải đáp thắc mắc của nhân dân.
+ Luôn nghe ngóng dư luận của nhân dân để kịp thời giải thích, chặn đứng
những luận điệu xuyên tạc của đối phương.
+ Luôn luôn theo dõi tình hình chính trị, chủ trương chính trị của đối phương
để kịp thời trình báo lên xã hoặc địa điểm để có biện pháp đối phó kịp thời.
+ Phối hợp chặt chẽ với các phụ tá an ninh thanh niên và kinh tế xã hội để thực
hiện các công tác do ban trị sự địa điểm đề ra (đặc biệt công tác đầu tiên là an ninh,
thanh niên và dân số).
+ Giúp đỡ ý kiến cho các ngành đoàn thể chính trị và xã hội những phong trào
cách mạng quốc gia, phong trào liên đới phụ nữ, để các đoàn thể này mỗi ngày được
phát triển và hoạt động có hiệu quả [91, tr.1-2].
- Phụ tá kinh tế xã hộilà người nắm vững tình hình kinh tế tại địa điểm để biết
có bao nhiêu diện tích, tình hình canh tác, việc chăn nuôi..., cổ vũ nhân dân phát triển
mạnh kinh tế và văn hóa (hướng dẫn nhân dân tăng gia trồng trọt, chăn nuôi, học
tập...) [91, tr.2].
Nhìn chung Ban trị sự địa điểm làm nhiệm vụthi hành các công tácvề hành
chính, an ninh, kinh tế, xã hội, văn hóa trong ấp chiến lược. Đồng thời, có vai trò lãnh
35
đạo điều hòa các hoạt động làm cho ấp chiến lược ngày càng ổn định và phát triển.
2.2.1.2. Ban chỉ huy chiến đấu địa điểm
Ban chỉ huy chiến đấu địa điểm được thành lậpgồm Trưởng ban,Phó trưởng
ban quân sự,Phó trưởng ban chính trịđể phụ giúp Ban trị sự về mặt bố phòng trong ấp
chiến lược.
- Trưởng ban là người trực tiếp thảo luận với Ban trị sự để thực thi kế hoạch tổ
chức huấn luyện, phòng thủ, kiểm tra, đôn đốc, động viên tinh thần, quản trị nhân số
và vũ khí lực lượng chiến đấu. Ngoài ra trưởng ban còn:
+ Lãnh đạo và điều hòa công tác của mỗi phụ tá trong Ban chỉ huy.
+ Trực tiếp chịu trách nhiệm với Ban trị sự về mọi việc trong việc thi hành các
chỉ thị và kế hoạch liện quan đến công việc phòng thủ và chiến đấu do thượng cấp
ban hành.
+ Cùng ban trị sự chịu trách nhiệm trực tiếp với thượng cấp về mọi hoạt động
sai lầm không đúng với chủ trương đường lối của chính phủ đề ra [91, tr.3].
- Phó trưởng ban quân sự là người phụ trách mọi mặt kỹ thuật về chuyên môn
quân sự giúp Trưởng ban phối hợp với ban trị sự thực thi kế hoạch. Công việc cụ thể
của phó ban quân sự là:
+ Tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân, phòng thủ chiến đấu.
+ Tổ chức, điều hành việc huấn luyện quân sự cơ bản cho các đơn vị vũ trang
của địa điểm.
+ Tổ chức và điều hành các buổi thực tập về kĩ thuật và chiến thuật bố phòng
cho các đơn vị vũ trang.
+ Tổ chức kiểm tra và đôn đốc hoạt động của các đơn vị vũ trang.
+ Tổ chức và đặt kế hoạch hoạt động phòng ngự liên hoàn với các đơn vị vũ
trang phụ cận.
+ Tổ chức kiểm tra công tác thi đua xây dựng và tu bổ công sự phòng ngự.
+ Quản trị nhân số và vũ khí của các đơn vị kể cả bàn chông, cạm bẫy, tên...
+ Trực tiếp chịu trách nhiệm với trưởng ban về mọi việc trong chuyên môn của
36
mình.
+ Cùng với trưởng ban chịu trách nhiệm trực tiếp với các cấp hữu quyền liên
hệ, về mọi hoạt động quân sự phạm pháp gây bất lợi cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa
[91, tr.3-4].
- Phó trưởng ban chính trị là người phụ trách về lãnh đạo chính trị, tác động
tinh thần giúp trưởng ban phối hợp với ban trị sự thực hiện mọi chỉ thị và kế hoạch do
cấp trên đưa xuống liên quan đến công tác. Đây là người:
+ Tổ chức huấn luyện chính trị và tác động tinh thần cho lực lượng chiến đấu
địa điểm.
+ Trực tiếp chịu trách nhiệm với trưởng ban về phần việc của mình.
+ Cùng trưởng ban chịu trách nhiệm với thượng cấp về mọi hoạt động chính trị
sai lầm với chủ trương đường lối của chính phủ.
Ngoài ra, còn có Ban tình báo giao liên và Tiểu ban cứu thương để hỗ trợ cho
Ban chỉ huy chiến đấu địa điểm trong lúc chiến tranh [91, tr.4].
- Ban tình báo giao liênlà mộttổ chức hệ thống tình báo giao liên chìm hoạt
động trong phạm vi địa điểm và các làng phụ cận. Mục đích khai thác tình hình, tổ
chức an ninh cho lực lượng phòng thủ (khám phá nội tuyến), khám phá cơ sở chính
trị kinh tế, quân sự, ngăn chặn các hệ thống tình báo giao liên của đối phương, mật
kiểm soát hoạt động thường xuyên của các đài quan sát và các trạm gác ngày đêm,
kiểm soát các hệ thống báo động và báo mật ám hiệu. Đề cao cảnh giác tinh thần tích
cực phòng gian bảo mật của toàn thể cán bộ chỉ huy và chiến đấu viên, theo dõi và cô
lập hóa các gia đình có con em tập kết. Tổ chức thi đua vạch mặt bọn cán bộ nằm
vùng và các gia đình tiếp tế cho địch, trực tiếp chịu trách nhiệm với trưởng ban về
nhiệm vụ của mình.
Cùng với Trưởng ban chỉ huy thống nhất, chịu trách nhiệm trực tiếp với
thượng cấp tất cả những vi phạm phòng gian bảo mật.
- Tiểu ban cứu thương làm nhiệm vụ cứu thương, kịp thời săn sóc và vận
chuyển thương binh đến bệnh viện cấp cứu khi có chiến tranh xảy ra [91, tr.5-6].
Lề lối hoạt động của ban chỉ huy chiến đấu địa điểm
Luôn luôn phải họp toàn ban chỉ huy để thảo luận trao đổi ý kiến, phân công
37
nhiệm vụ rõ ràng trước khi thi hành một chỉ thị hay áp dụng một kế hoạch nào liên
quan đến công cuộc chiến đấu của địa điểm do cấp trên đưa xuống, rồi cùng nhau
chịu trách nhiệm.
Ban chỉ huy họp và túc trực thường xuyên về tình hình an ninh, có thể tùy sáng
kiến địa phương linh động tổ chức mọi hoạt động liên quan đến công cuộc bố phòng,
phòng thủ an ninh địa điểm được trôi chảy, liên tục và hữu hiệu không gây trở ngại.
Ngoài ra công tác tổ chức chiến đấu và liên đới chiến đấu cần được tiến hành chu đáo
[91,tr.6].
Bên cạnh việc kiện toàn cơ cấu nhân sự, là việc tiến hành tổ chức địa thế trong
hoạt động phòng thủ tại các ấp chiến lược của Mỹ - Diệm.
2.2.2. Tổ chức địa thế trong hoạt động phòng thủ
Để hoạt động phòng thủ được chặt chẽ và đạt hiệu quả cao, Mỹ - Diệm dựa vào
địa hình cụ thể từng vùng, để tiến hành bố trận, tổ chức địa thế nhằm tạo sự vững
chắc trong phòng thủ để dễ dàng tiêu diệt “Cộng sản”.
Từ tài liệu lưu trữ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa được bảo quản
tạiTrung tâm Lưu trữ quốc gia II có tựa đề Ấp chiến lược - Phòng thủ - Tổ chức địa
thế, luận văn đã phục dựng lại nội dung tổ chức địa thế sẽ được trình bày dưới đây:
Trước hết kế hoạch tổ chức địa thế của Mỹ - Diệm chia làm 3 giai đoạn
Giai đoạn 1, quan sát địa thế, đặt kế hoạch tổ chức địa thế, tổ chức nhân dân
thi hành kế hoạch (thời gian 1 tuần).
Giai đoạn 2, xây dựng các công sự theo kế hoạch đã được nghiên cứu (thời
gian 2 tuần).
Giai đoạn 3, củng cố và hoàn bị công tác (thời gian thường xuyên sau giai
đoạn 1 và 2 tùy theo lúc rảnh của nhân dân)[2, tr.2].
Mỹ - Diệm còn nhấn mạnh: “Việc tổ chức địa thế có thể thay đổi tùy theo tình
hình ở mỗi ấp chiến lược. Ở những vùng bất an ninh hoặc trong vùng xôi đậu, phải
xây dựng đầy đủ hệ thống công sự phòng thủ. Trong vùng an ninh, chỉ cần một hàng
rào chiến lược và một vài công sự cần thiết để điều động tổ chức nhân dân vũ trang
khi hữu sự” [2, tr.2].
Tổ chức địa thế trong hoạt động phòng thủ của hệ thống ấp chiến lược bao gồm
38
nhiều khâu như lập rào chiến lược, tổ chức canh phòng, hệ thống công sự tác chiến,
lập hào giao thông lộ thiên và tổ chức địa thế bí mật. Dưới đây là nội dung chi tiết
của từng khâu:
2.2.2.1. Lập rào chiến lược
Rào chiến lược theo kỹ thuật quân đội là dùng dây kẽm gai, nhưng cần rất
nhiều vật liệu, đồng thời phải có một hệ thống kiểm soát và phòng thủ hàng rào kẽm
gai với những phương tiện chính quy (đại bác, súng cối, mìn). Vì vậy, Mỹ - Diệmcho
xây dựng một rào chiến lược hợp với những phương tiện hiện có ở địa phương và
chiến thuật du kích do nhân dân vũ trang thô sơ đảm đương.
Một hàng rào chiến lược đầy đủ gồm các bộ phận sau:
- Hàng rào chính được làm bằng một đường rào kẽm gai hoặc tre hay cây tươi;
phía trước có gai chông hoặc gai xương rồng, trên hàng rào có những cây gai tươi,
gai xương rồng, gai chông hoặc những loại cây leo có bông lá ngứa. Nên dùng cây
hoặc tre làm hàng rào, trong vùng an ninh chỉ cần một hàng rào dầy, trong vùng bất
an ninh thì cần thêm một đường rào dầy thứ nhì và giữa hai đường rào phải có gai
hoặc chông, khoảng cách ở giữa phải trên 1,5m để đối phương khó bắt cầu từ rào
trước đến rào sau.Khi làm rào xong phải trồng dài theo và dựa vào hàng rào chính
những cây tre hoặc cây tươi để khi hàng rào chính bị khô, hư, mục thì có hàng rào
tươi thay thế (xin xem thêm phụ lục 1.2 trang 128).
- Hố: Trong những vùng mất an ninh hoặc xôi đậu, cần có một hố rộng và sâu,
dài theo hàng rào chính, dưới hố đặt chông hoặc gai xương rồng. Nếu ở ấp có mìn thì
tùy theo tin tức mà đặt bãi mìn dưới hố, ở nơi lừa cho đối phương đi qua. Kích thước
của hố phải không để bắt một cái cầu nhỏ qua được.
- Bãi chông sẽ được đặt ở giai đoạn 3.
Song song với lập rào chiến lược, Mỹ - Diệm thiết lập một hệ thống cổng hết
sức tinh vi nhằm kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động ra vào ấp, tạo điều kiện tốt trong
việc phòng thủ, tấn công tiêu diệt đối phương.
Trong rào chiến lược cần có vài cổng ra vào để ban ngày nhân dân đi canh tác,
sản xuất, buôn bán hoặc liên lạc với các vùng lân cận. Ban đêm, hoặc khi báo động
39
các cổng này phải được khóa và canh phòng kỹ lưỡng, kinh nghiệmcủathấy, đối
phươngâm mưu xâm nhập vào ấp thường phá cổng ra vào hơn là phá rào, nhất là
những rào kiên cố.
Cũng trong vòng hàng rào, có một hai cổng bẫy dự bị sẵn những bẫy để tiêu
diệt đối phương (xin xem thêm phụ lục 1.3 trang 129).
Trong kế hoạch lánh cư nhân dân, khi sắp có một áp lực mạnh của đối phương
nhắm vào ấp, phải tổ chức sẵn các cổng gọi là cổng lánh cư, ít nhất một xóm một
cổng. Cổng này thường ngày được khóa, chỉ mở ra khi có lệnh của Ban trị sự ấp mà
thôi. Khi đoàn lánh cư qua xong, cổng này được khóa lại như các cổng khác.Mỗi
cổng chính phải có hai hàng rào cửa, lúc khóa cổng, sau khi đóng hai hàng rào cửa
phải đặt thêm nhiều chướng ngại vật để củng cố thêm việc đóng khóa này[2,tr.9-12].
2.2.2.2. Tổ chức canh phòng
Hoạt động canh phòng được tổ chức 24/24 giờ bao gồm:
- Canh phòng ban ngày: Ngoài các tiểu tổ trinh sát bí mật thường xuyên mà bộ
chỉ huy quân sự ấp đặt trong các vùng lân cận xung quanh ấp, việc canh phòng trong
ấp chiến lược là rất quan trọng phải được tổ chức chu đáo với vọng đài cảnh giới và
những hiệu lệnh báo động rõ ràng.
Vọng cảnh giới được đặt vào giao điểm của các đường từ những vùng tình nghi
hay từ các thôn xã khác dẫn đến; các tháp canh xây dựng đơn sơ ở những địa điểm
cao, trống trải có thể kiểm soát một khu vực rộng.
Số lượng tháp canh cảnh giới không quá nhiều vì phải huy động số lượng lớn
nhân viên để canh gác, do đó nơi đặt tháp canh phải được khảo sát kĩ trên những
nguyên tắc vừa kể trên.
Vọng đài trung ương phải đặt ở một nơi nhìn thấy các vọng đài khác, đồng thời
để cho đồng bào các nơi trong ấp nhìn thấy. Nếu vọng đài ngoài quá xa vọng đài
trung ương, có thể đặt thêm vọng đài phụ với nhiệm vụ truyền tin. Vọng đài trung
ương và vọng đài phụ không cần nhiều người gác vì ở vào trung tâm ấp, an ninh có
phần đảm bảo.
- Canh phòng ban đêm: Ban đêm trong khuôn khổ một ấp chiến lược, không có
40
đèn pha hoặc những phương tiện văn minh khác để nới rộng tầm quan sát, việc canh
phòng sẽ bám vào xung quanh kế cận rào chiến lược, do đó có thể dùng thang, hoặc
làm những tháp canh sát rào, khuôn tre, nóc lá.
- Nơi nghỉ ngơi: Ngày và đêm, những nhân viên của tiểu tổ canh phòng ngoài
giờ canh gác, phải có trạm để nghỉ ngơi khi hết giờ làm nhiệm vụ để lấy lại sức tiếp
tục canh gác.
Các trạm canh hoặc chòi canh phải được tổ chức gần các tháp canh [2,tr.20].
2.2.2.3. Hệ thống công sự tác chiến
Hệ thống này gồm:
- Hố là công sự tác chiến dùng cho một cá nhân.
- Hầm là công sự tác chiến dùng cho một tiểu đơn vị (tiểu tổ đến tiểu đội) có
hình vuông hoặc hình tròn.
- Hàolà công sự tác chiến dành cho một tiểu đội trở lên, có hình dài và răng
cưa hoặc uốn quanh.
Hố, hào và hầm tác chiến là những công sự lộ thiên để tổ chức nhân dân vũ
trang sử dụng trong công cuộc phòng thủ mặt nổi của ấp chiến lược giúp ẩn núp, tác
chiến, trợ chiến, nghỉ ngơi, chỉ huy, liên lạc...
Trong giai đoạn 2 xây dưng ấp chiến lược, chỉ cần tổ chức công sự đơn sơ, bề
sâu chỉ cần một thước mà thôi.
Trong giai đoạn 3 các công sự phải được đào sâu thêm để đủ bề cao một người
đứng, các hầm phải có nóc bằng những vật liệu thông thường (lá, tôn) để che trở khi
mưa nắng (xin xem thêm phụ lục 1.4 trang 132).
Mỹ - Diệm nhấn mạnh, nếu tình trạng chiến tranh ở nông thôn thay đổi nặng
thêm (đối phương sử dụng vũ khí nặng và đơn vị lớn, từ liên trung đội trở lên) thì
những ấp chiến lược đó cần có những công sự cố thủ chắc chắn hơn.Trong phạm vi
của một rào chiến lược, nếu có ruộng vườn, mía, bắp... có thể sử dụng làm kiểu hầm
tác chiến.
- Vị trí chỉ huy, được sử dụng một trong những hầm, hào chiến đấu vừa kể trên
41
để tổ chức một vị trí chỉ huy tác chiến của nhiều liên gia hoặc ấp chiến lược[2,tr.27].
2.2.2.4. Hào giao thông lộ thiên
Hào giao thông lộ thiên là một tổ chức để huy động tác chiến (tấn công, du
kích, tải đạn, tải thương, liên lạc, truyền lệnh). Quan trọng nhất trong ấp chiến lược là
lưới hào giao thông chằn chịt trong ấp nối liền với nhau kết hợp với công sự phòng
ngự như hầm chông, mìn, lựu đạn tự động, hàng rào chông, để cho du kích ấp hoạt
động chớp nhoáng, xuất ẩn không ngừng khắp cùng ấp, đẩy đối phương vào thế lúng
túng, tiến thoái lưỡng nan, tạo điều kiện cho các đơn vị bạn hợp đồng tác chiến ở
ngoài phạm vi ấp để tiêu hao, tiêu diệt Cộng sản.
Ngoài ra, phải tổ chức hào giao thông gọi là hào lánh cưđể cho kế hoạch lánh
cư nhân dân và súc vật được thi hành có hiệu quả và nhanh chóng, không gây trở ngại
cho cuộc tác chiến.
Các bẫy (chông, mìn, lựu đạn) trong một hào giao thông chỉ đơn vị tác chiến có
phép sử dụng hào đó biết mà thôi.
Lúc đầu hào chỉ được đào khoảng một thước bề sâu. Đến giai đoạn 3 nên đào
hào sâu và các chổ quanh co phải đào rộng để dễ tải thương hoặc tải đạn [2,tr.37].
2.2.2.5. Tổ chức địa thế bí mật
Địa thế bí mật bao gồm:
- Hệ thống chìmlà những công sự hầm giao thông phục vụ cho du kích chìm (bí
mật) của ấp sử dụng để:
+ Bám sát tình hình nhất là khi đối phương đã vào đến trung tâm ấp, để tiếp tục
lấy tin tức, liên lạc với các tổ chức du kích bí mật của các ấp xã lân cận để cho kế
hoạch phối hợp tác chiến được thi hành có kết quả.
+ Khủng bố tinh thần (sử dụng lựu đạn, vũ khí, mìn, pháo...) làm cho đối
phươngsợ sệt, mệt mõi, mất tinh thần, tạo điều kiện cho các đơn vị bạn đủ thì giờ tập
trung và tiếp viện có hiệu quả.
+ Dù đối phương đã vào tới trung tâm ấp, hay đang chiếm đóng trong ấp (trên
mặt), nhờ hoạt động du kích bí mật chúng vẫn làm chủ tình hình trong ấp.
- Ngoài hệ thống chìm vừa kể trên, tổ chức địa thế bí mật còn có những hầm
42
giao thông và hầm trú ẩn để cho lực lượng du kích nổi (cán bộ hành chính, thanh niên
vũ trang...) sử dụng nhằm bảo tồn lực lượng, hoặc trốn ra khỏi ấp, hoặc liên lạc với
các tổ chức phòng thủ xã, quận, trong khuôn khổ liên kết phòng thủ chung.
Trong những vùng bị áp lực của Cộng sản nặng nề, nếu lánh cư nhân dân ra
khỏi ấp không được, thì mỗi liên gia phải có đường hầm bí mật đặt ở những nơi chỉ
có dân chúng ở mỗi liên gia biết mà thôi để trốn tránh khi có lệnh.
Trong mỗi nóc nhà, phải có các ổ bí mật để chôn dấu nữ trang, tiền bạc, quần
áo, thức ăn để tránh khỏi sự cướp bóc nếu đối phương vào được trong ấp.
Cũng như hệ thống giao thông lộ thiên, lưới giao thông bí mật chằn chịt dưới
đất, nối liền với nhau kết hợp với những công sự phòng ngự và phòng thủ.Các lỗ ra
vào hầm phải giữ bí mật có dấu hiệu riêng.Các hầm du kích cá nhân phải được đặt sát
mặt đất để dễ quan sát tình hình. Nắp hầm luôn luôn được ngụy trang.
Hầm giao thông được đào dưới mặt đất, sâu hay cạn tùy theo loại đất.Trong
hầm giao thông, có những nơi nghỉ chân cho du kích lúc mệt mỏi, bệnh hoạn, bị
thương có thể nghỉ dưỡng sức một thời gian ngắn. Có những nơi để hai toán lên
xuống gặp nhau, tránh nhau.
Hầm bẫy, hầm đi lạc
Trong hệ thống hầm bí mật, có những góc chúng đặt sẵn bẫy để tiểu trừ nếu
đối phương vào hầm bí mật, có những góc khác để cho đối phương đi lạc cho lực
lượng phòng thủ có đủ thời giờ đón giết. Chúng lưu ý “không dùng mìn hoặc các
chất nổ để giết địch trong hầm, vì phải sửa chữa tốn nhiều công và thì giờ, chỉ dùng
những chất nổ khi có nguy biến phá hủy một góc nào, ngăn cản việc lưu thông của
Cộng sản khi đã tràn vào hệ thống”[2,tr.40].
2.2.3. Các biện pháp thực hiện hoạt động phòng thủ
Nội dung này được thiết kế chủ yếu từ tập tài liệu Nguyên tắc và chương trình
xây dựng ấp chiến lược của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đang bảo quản tại
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II;theo Mỹ – Diệm một trong những biện pháp hữu hiệu
để thực hiện việc phòng thủ là phải tranh thủ được nhân dân, cùng nhân dân thực hiện
43
kế hoạch phòng thủ. Vì vậy, Mỹ phải:
2.2.3.1. Tạo ra những tiêu chuẩn hợp lý cho nhân dân
Những tiêu chuẩn hợp lý đó bao gồm:
- Thứ nhất là: tạo ra một tiêu chuẩn an ninh hợp lý,đây là yếu tố đầu tiên quan
trọng nhất, thúc đẩy người nông dân tham gia chương trình ấp chiến lược.
Để gây ảnh hưởng tâm lý đối với đối phương và tạo được hiệu lực tối đa trong
việc làm trì chậm các cuộc tấn công, ngăn cản đột nhập và ứng dụng như những vị trí
phòng thủ; các hệ thống phòng vệ vật chất phải có một vài đặc điểm như: các tường
hoặc rào càng gần nhà càng tốt, như vậy khi hữu sự, tiếp viện phòng thủ có thể tới
nơi nhanh chóng, lính canh ban đêm không bị quá lộ liễu trước sự tấn công ngầm của
đối phương. Tường hoặc rào không được cản trở tầm nhìn hoặc hỏa lực của lực lượng
phòng thủ và không có đường nào có chỗ ẩn núp giúp đối phương tiếp cận các công
trình phòng vệ.
Phải dựa vào lực lượng an ninh được huấn luyện và vũ trang để thực hiện phòng
thủ - tức là dân quân ấp. Phương pháp phòng thủ hữu hiệu nhất là công tác tuần tiểu
liên tục, được thi hành một cách bất định, hầu như hoàn toàn ngẫu nhiên. Lối tuần
tiểu như vậy là phương pháp căn bản của phòng thủ ấp, đồng thời cũng là dấu hiệu rõ
rệt nhất chứng tỏ sự quyết tâm thủ thắng của ấp.
Những toán tuần tiểu không cần phải đi khỏi ấp quá xa, có thể trong phạm vi 2
cây số là tối đa. Mỗi lần đi tuần tiểu cũng không cần điều động tới trên một phần ba
lực lượng ra khỏi ấp. Mục đích của những cuộc tuần tiểu đó không phải để tiêu diệt
đối phương mà để gây lo ngại cho đối phương và phe ủng hộ đối phương nhiều
hơn[60,tr.31].
Mỹ - Diệm lưu ý còn nhiều biện pháp canh phòng khác không được lãng quên.
Lính canh phòng cần phải được đặt ở tất cả ngã ra vào khu vực ấp chiến lược. Một
chương trình phòng thủ và tản cư được nghiên cứu, tập diễn kỹ càng và những tín
hiệu riêng được sáng tác tùy lúc, cũng rất cần thiết. Tuy nhiên, sự thành công trong
kế hoạch phòng thủ ngoài việc huấn luyện chu đáo, trang bị vũ khí thì tâm lý chiến
đấu của nhân dân là hết sức quan trọng, phải làm cho nhân dân tin tưởng vào việc
44
phòng thủ thì mới thành công [60, tr.32].
- Thứ hai là:tạo một sinh kế hợp lý. Đây là điều mà tất nhiên ấp chiến lược
muốn tồn tại, phải đảm bảo cho dân chúng sinh sống trong đó. Hơn thế nữa, phải
cung cấp được những tiện nghi tương đương mà người nông dân được hưởng tại chỗ
ở cũ của họ. Do đó, ấp không được đặt quá xa ruộng nương của nông dân, để họ có
thể canh tác được ngay, hoặc phải cung cấp cho họ những thửa ruộng mới, đồng diện
tích và năng xuất và theo những điều kiện ít nhất cũng hấp dẫn bằng các điều kiện mà
họ được hưởng đối với đất đai cũ của họ.Điều này sẽ tạo nên trạng thái tinh thần
trong ấp chiến lược[60,tr.34].
- Thứ ba là: tạo một tiêu chuẩn công lý sơ đẳng hợp lý.Công lý căn bản mà
người nông dân mong mỏi nhất chắc chắn là việc được dành cho đầy đủ thì giờ hoặc
kết quả cần lao của họ, để họ có cơm ăn áo mặc, có chỗ ở cho bản thân, gia đình.
Người nông dân mong ước nhiều hơn là được dành cho đầy đủ thì giờ lao động
hoặc lợi tức để có thể sinh sống. Họ ước muốncó công lý chính trị, ước muốn một lối
xử thế công bằng, chính trực. Nếu họ phải đóng góp theo khả năng của họ, thì những
người khác cũng phải làm như vậy. Nếu họ phải giúp đỡ qua thuế hoặc qua những
đóng góp tình nguyện để ủng hộ cán bộ chính quyền hoặc dân quân xã, thì họ muốn
những người này cũng phải thực hiện sự đóng góp hữu ích, phải thi hành các công
việc được giao phó [60,tr.35].
- Thứ tư là: tạo một cơ hội hợp lý cho con em họ,Vì người nông dân có những
ước vọng con cái của họ sẽ được hưởng thụ nhiều hơn họ. Họ tin tưởng rằng với
những tài nguyên sẵn có, có thể dùng để cải thiện đời sống của họ,dùng để tạo cơ hội
cho con em họ qua việc xây dựng và hoạt động của các trường học. Việc cung cấp
trường học và giáo viên là việc làm hữu hiệu hơn bất cứ một hành động nào khác, để
gây được lòng trung thành của dân chúng đối với chính quyền đã cho con em họ được
hưởng thụ cơ hội đó. Họ sẽ chịu đựng nhiều hơn cho cơ hội này và họ sẽ chiến đấu để
bảo vệ nó [60,tr.36].
- Thứ năm là: tạo một tiêu chuẩn cơ hội hợp lý. Để họ có thể cải thiện cuộc
sống, có những nhu cầu một cách thuận tiện. Mỹ - Diệm cũng nhận thức được“Ngày
45
nay, một hệ thống mà không tạo cho người nông dân một cơ hội để tiến tới cái mà họ
có thể coi như là một lối sống tốt đẹp hơn, chắc chắn phải bị sụp đổ trước sự tấn
công của Cộng sản” [60,tr.38].
Mặt khác, “Một tiêu chuẩn cơ hội hợp lý, cũng như ấp chiến lược là một trạng
thái tinh thần, mối tương quan giữa hai điều này càng in đậm vào trí óc nông dân
chừng nào, thì sự thành công của quốc gia này trong cố gắng của mình để tạo nên
một nhà nước cung cấp được cả an ninh lẫn cơ hội cho các công dân của mình sẽ
càng lớn lao bấy nhiêu” [60, tr.38].
Khi tạo được những tiêu chuẩn hợp lý trên, nhân dân sẽ dần tin tưởng vào
chương trình ấp chiến lược, Mỹ - Diệm sẽ dể dàng lôi kéo nhân dân tham gia thực
hiện các chiến thuật phòng thủ ấp chiến lược trong đó có chiến thuật du kích chiến
được trình bày tiếp theo đây.
2.2.3.2. Áp dụng chiến thuật du kích chiến trong hoạt động phòng thủ
Mỹ - Diệm thấytrong những năm ấy, chúng mong muốn tiêu diệt du kích của ta
nhưng chưa đạt kết quả. Vì chưa áp dụng được một chiến thuật đối phó thích hợp với
loại hình chiến tranh du kích của ta, nhất là chưa vận dụng được những khả năng và
phương tiên thích hợp của một quốc gia chậm tiến. Vì vậy lối đánh du kích của ta
được chúng nghiên cứu kĩ như sau: “Trong khi Cộng sản áp dụng một thế chiến
giằng co hổn độn, không mặt trận, không hậu phương mà quân đội tối tân với các
phương tiện hiện đại không thể hoặc ít khi sử dụng được. Về chiến thuật chúng chủ
trương tránh né về thế thủ và tứ khoái nhất mạng về thế công. Khi ta tiến đánh địch
thì chúng phân tán lẫn vào trong dân chúng và trong rừng rồi tổ chức phục kích lẻ tẻ
tiêu hao lực lượng ta, đợi lúc ta rút chúng lại trở về. Khi chúng đánh ta thì chúng
điều nghiên cẩn thận, chuẩn bị chu đáo. Sau đó, chúng sẽ tập trung rất mau, khi giáp
chiến chúng thanh toán chiến trường rất mau, thu dọn chiến trường rất mau và rút
lui rất mau” [33,tr.12]. Mỹ - Diệm cũng nhận định “trước chiến thuật của Cộng sản
như vậy, nên quân đội hành quân khó đánh được. Tình trạng đó làm binh sĩ hành
quân mệt nhọc, không đạt kết quả xứng đáng, mất tinh thần, sinh ra bất mãn. Nhân
dân không dám tin tưởng vào sự bảo vệ của quân đội, không dám cung cấp tin tức
46
cho quân đội. Ngược lại quân đội không có tin tức nên không biết rõ ai là dân ai là
Cộng sản, nên lầm lẫn bạn với thù khiến cho quân đội xa rời dân chúng và dân chúng
bất mãn với quân đội” [33, tr.13].
Từ sự rút kinh nghiệm trên Mỹ - Diệm chủ trương áp dụng chiến thuật “du kích
chiến” để chống lại đối phương. Mỹ - Diệm cũng nhấn mạnh du kích chiến dựa vào
vai trò của ấp chiến lược và lực lượng biệt cách
- Dựa vào ấp chiến lược: Chúng cho rằng, từ trước đến nay, do ảnh hưởng của
chính quy chiến nên quân đội đã hoạt động xa cách nhân dân. Cho tới thời gian gần
đây, tuy đã chuyển dần qua thế phản du kích chiến, nhưng chúng chỉ mới khai thác
được một phần khả năng của nhân dân mà thôi. Vì thế, đối phương vẫn thao túng,
nắm được ưu thế trong việc khai thác và sử dụng tiềm lực nhân dân, nhất là tại nông
thôn.
Ngày nay chúng chủ trương chuyển qua du kích chiến, và điều kiện tiên quyết
là tạo lập một hạ tầng cơ sở du kích. Từ điều kiện tiên quyết ấy, chúng sẽ vận dụng
mọi khả năng của nhân dân vào công cuộc chiến đấu, một yếu tố bắt buộc phải có và
quyết định thành bại của du kích chiến [33, tr 10].
Mỹ - Diệm xác định “lực lượng căn bản của du kích chiến là lực lượng nhân
dân vũ trang tại địa phương, lực lượng này không thể thành tựu nếu kho nhân lực
của nhân dân không được huy động, trong những lúc xây dựng, tăng cường hay bổ
sung nhân số.Chính nhờ biết dựa vào dân, tạo nên tình quân dân như cá với nước,
nên nhân dân mới tiếp tế cho du kích, báo tin cho du kích đánh cũng như lánh Cộng
sản, bảo vệ cho du kích trong những lúc khó khăn nguy khốn.Hơn thế nữa, các lực
lượng này sẽ hỗ trợ đắc lực cho các lực lượng chủ lực hoạt động hữu hiệu khi chuyển
xuống hoạt động du kích chiến. Hai lực lượng này sẽ liên quan mật thiết, hoạt động
khắng khít với nhau tạo nên thế liên hoàn du kích rất mạnh mẽ, có thể đánh Cộng sản
trong mọi trường hợp và bất cứ tại đâu. Lực lượng nhân dân vũ trang sẽ nhờ các lực
lượng chủ lực mà tạo nên các điều kiện thuận lợi để phát triển.Ngược lại, các lực
lượng nhân dân vũ trang cung cấp tin về Cộng sản, cho biết tình hình địa phương, sự
tổn thất, sẽ gây cho Cộng sản sự bất an thường trực mà các lực lượng chủ lực dễ
dàng tiến đánh tiêu diệt. Vì vậy, ấp chiến lược là cơ sở chủ yếu và quyết định của du
47
kích chiến” [33, tr 11].
- Dựa vào lực lượng biệt cách: Trong chiến thuật du kích chiến, biệt cách được
coi là lực lượng tiền phong của Mỹ - Diệm. Tài liệu của phíaViệt Nam Cộng Hòa có
tựa đề Định rõ vị trí chính sách của ấp chiến lược cho biết: “Biệt cách có thể tổ chức
từng tổ hoặc liên tổ, được huấn luyện kỹ thuật đặc biệt để chiến đấu ngay trong lòng
địch, hoạt động riêng lẻ, đơn độc, ở lâu, đi sâu vào hậu cứ Cộng sản, không ỷ lại vào
sự tiếp tế. Có ba loại tổ chức biệt cách:
- Biệt cách địa phương là tổ chức hoạt động trong tỉnh hay trong các Mật khu
Cộng sản.
- Biệt cách chiến thuật, tổ chức này có thể hoạt động luân chuyển từ vùng nọ
sang vùng kia.
- Biệt cách chiến lược, tham gia hoạt động trong vùng đất đai của Cộng sản đã
kiểm soát hoàn toàn” [33, tr 11-12].
Mỹ - Diệm đã từng hy vọng với chiến thuật du kích chiến chúng sẽ:
- Trục xuất ta ra khỏi địa bàn du kích, bằng cách lập ấp chiến lược với 3 cuộc
cách mạng về chính trị, xã hội, quân sự.
- Dành lấy địa bàn đó để chúng thực hiện đánh du kích vì khi đó chúng đã có
đủ các điều kiện phải có của một cuộc chiến tranh du kích.
- Buộc ta phải đánh bằng lối phản du kích và lối chính quy chiến. Như vậy,
theo chúng, ta phải chịu những điều kiện bất lợi và những phương tiện mà ta không
thể có được.
Bên cạnh việc áp dụng chiến thuật du kích chiến, Mỹ - Diệm cũng rất coi trọng
công tác bố phòng trong từng ấp chiến lược.
2.2.3.3. Thực hiện bố phòng
Từ tập Tài liệu nghiên cứu về ấp chiến lược thuộc phông Phủ tổng ủy dinh điền
và nông vụ lưu trữ tại trung tâm lưu trữ quốc gia II chúng tôi thấy công tác bố phòng
này gồm bốn công đoạn:
- Công đoạn thứ nhất làthực hiện rào từng ấp chiến lược
Việc đầu tiên trong công tác bố phòng của Mỹ - Diệm là thực hiện rào từng ấp,
tiến lên rào từng liên xã, hoặc từng vùng có địa dư liên kết với nhau không có đồng
48
ruộng rộng, sông ngòi hay đường cái cắt xa nhau và tiến hành rào dân, trước hết là
những vùng đang bị ta uy hiếp hay những nơi thuận lợi cho ta đột nhập vào thôn
xóm. Mỹ - Diệm cho rằng “việc đầu tiên phải rào ấp lại, ngăn cản lực lượng ít ỏi
trên xâm nhập vào ấp, tạo điều kiện hợp đồng tác chiến tiêu diệt hoặc đẩy lui nó từ
ngoại vi của ấp” [102,tr.1-2].
Mặt khác, Mỹ - Diệm cũng “căn cứ vào địa hình, địa vật sẵn có chung quanh
từng ấp và khắc phục thêm để hình thành một bờ rào gai dày đặc chạy bao quanh ấp,
tùy vào điều kiện sẵn có của dân tiến hành rào từng khu vườn của từng gia đình hoặc
chung một liên gia có địa dư kế cận thích hợp với nhau. Những ngõ ra vào làng trong
ấp giữa các gia đình - liên gia với nhau bí mật có cửa rào lại, ngoài những ngõ tổ
chức cho dân chúng trong ấp đi lại làm ăn bình thường hoặc để cho lực lượng vũ
trang vận động bí mật lúc chiến đấu, cần bỏ ngõ vài cổng vào làng có bố trí trước
mìn tự động dụ Cộng sản vào ấp để tiêu diệt.
Những cửa ngõ vào ấp và giữa các gia đình ban đêm phải rào kĩ lại, căn cứ
vào địa hình của ấp, sự thuận tiện đi lại làm ăn của dân mà có thể tổ chức nhiều ngõ
ra vào ấp, không nên dồn lại một cổng ra vào có thể gây trở ngại cho nhân dân lúc
thường ngày ra khỏi ấp đểlàm ăn, đồng thời có thể gây trở ngại cho lực lượng vũ
trang vận động lúc chiến đấu với Cộng sản. Khi rào xong từng ấp thì nghiên cứu địa
hình thích hợp tiến lên rào nối liền với các liên ấp kế cận” [102,tr.1-2].
- Công đoạn hai làthiết lập công sự phòng thủ
Cũng theo “Tài liệu nghiên cứu về ấp chiến lược”, “công sự phòng thủ được
Mỹ - Diệm thiết lập gồm những bộ phận sau:
- Có đường hầm chạy quanh bờ rào phía trong ấp để tuần tiểu ban đêm và
chiến đấu khi Cộng sản còn ở ngoại vi ấp.
- Có đường hầm lộ thiên hoặc bí mật, tùy theo địa hình cần thiết, chạy dọc
ngang ấp để đảm bảo cho lực lượng vũ trang vận động tác chiến khi Cộng sản đã đột
nhập được vào trong ấp.
- Có hầm bí mật để tạm thời ẩn nấp che dấu bảo toàn lực lượng vũ trang lúc bị
Cộng sản đột nhập, tạo điều kiện điều tra lực lượng đã đột nhập, tổ chức phản kích
49
đánh úp ngay ở trung tâm, đẩy lui ra khỏi ấp hoặc bao vây tiêu diệt.
- Có đường hầm bí mật ăn thông ra ngoại vi ấp để tấn công truy kích Cộng sản
lúc có điều kiện, hay để rút lui bảo toàn lực lượng, dùng nó trong quá trình đấu tranh
để liên lạc với các đơn vị bạn tác chiến phối hợp.
Ở những hướng của ấp mà địa hình dễ tiếp cận ở ngoại vi, phải tăng thêm
công sự phòng thủ như hàng rào, ụ súng, hoặc lô cốt nếu hỏa lực của lực lượng vũ
trang trong ấp được trang bị mạnh.
Ngoài những công sự phòng ngự phục vụ chiến đấu, tùy sự cần thiết của từng gia
đình mà đào những hầm tránh đạn cho người và súc vật để phòng lúc xảy ra tác
chiến trong ấp, hay đào hầm để cất giấu tài sản. Mỗi ấp thiết lập một đài quan sát để
sử dụng lúc có báo động ban ngày hoặc ban đêm” (xem phụ lục 3.5 tr.171) [102,tr.2-
3]. Những nội dung trên cho thấy Mỹ - Diệm rất chặt chẽ và chi tiết trong kế hoạch
thiết lập công sự phòng thủ.
- Công đoạn thứ ba là tổ chức các lực lượng chống Cộng trong ấp chiến lược
Để làm điều này Mỹ - Diệm cho thành lập “Ban chỉ huy thống nhất chống Cộng”
ở đơn vị ấp, vùng, liên xã, huyện.
Ban chỉ huy thống nhất chống Cộng ở ấp chiến lược gồm trưởng và phó ấp, tổ
trưởng phong trào cách mạng quốc gia, các liên toán trưởng, các toán trưởng thanh
niên, thanh nữ cộng hòa hay thanh niên bảo vệ hương thôn; hiệp hội nông dân, liên
đới phụ nữ xã, cán bộ thông tin - y tế trong ấp.
Lực lượng chống cộng trong ấp chiến lược gồm có: lực lượng của các toán thanh
niên, thanh nữ cộng hòa hay thanh niên bảo vệ hương thôn, biến họ thành lực lượng
vũ trang, tổ chức họ thành từng tiểu đội, trung đội, hay đại đội theo số lượng có thể
có, lập thành đơn vị chiến đấu trong ấp chiến lược, ngoài lực lượng dân vệ tập trung
của liên xã có thể tăng cường thêm ở những ấp quan hệ hoặc lúc tác chiến. Ngoài ra
chúng còn tổ chức đội trinh sát giao liên nhân dân, lập trạm y tế và cứu thương, Ban
thông tin và tác động tinh thần, Ban tiếp tế cho đội chiến đấu lúc tập trung.
Các cán bộ chỉ huy luôn có mật hiệu để giữ liên lạc thường xuyên với các đội
viên, theo dõi tình hình sẵn sàng chiến đấu.
Những lực lượng tham gia chiến đấu trong ấp chiến lược đều là lực lượng bán vũ
50
trang, lúc thường tham gia sản xuất phát triển kinh tế sinh hoạt với gia đình, khi có
báo động tập trung chiến đấu theo sự phân công sẵn, thường xuyên luân phiên nhau
tổ chức canh gác và báo động [102, tr.1].
Về nhiệm vụ của ban chỉ huy thống nhất chống Cộng trong ấp chiến lược được
chúng quy định chặt chẽ lúc bình thường và lúc chiến đấu:
Lúc bình thường:
+Có kế hoạch cụ thể thích hợp với sự sinh sống bình thường của nhân dân ở
nông thôn vừa đảm bảo cho việc sắp xếp tổ chức huấn luyện đội vũ trang tự vệ vừa
không làm ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất của nhân dân, thường xuyên nâng cao
đời sống của họ đồng thời có vật phẩm dồi dào cung cấp cho thị trường nhà nước làm
cho toàn dân ngày càng giàu có thêm, chống lại đói nghèo là mầm tốt cho hoạt động
của đối phương.
+Có kế hoạch thường xuyên tăng cường, chỉnh đốn công sự phòng ngự, kiểm tra
sự bố phòng trong ấp, thường xuyên có dự án tấn công mỗi khi đối phương đến ấp.
+Dựa vào nếp làm ăn hàng ngày của nhân dân ở ngoài đồng ruộng xa ấp, hay làm
nghề rừng của họ, hoặc các thanh niên chăn sút vật ở ngoại vi ấp mà tổ chức lưới
trinh sát nhân dân bám và phát hiện đối phương đến ấp từ sáng đến tối, kết hợp với
hoạt động của chòi quan sát cao ở trong ấp vào ban ngày.
+Ban đêm bố trí những trạm gác lưu động ở những hướng màdddoois phương có
thể đột nhập vào ấp, kết hợp với lực lượng dân vệ của xã tuần tiểu, trường hợp có
động thì trở ngay về ấp báo cáo hoặc dùng các tính hiệu báo động cho ấp biết để
chuẩn bị chiến đấu.
+Có kế hoạch quy định ám hiệu, tín hiệu báo động, thu hồi báo động bắt đầu từ
lúc phát hiện được đối phương, để báo động tổ chức chiến đấu trong ấp và liên hệ
thông tin cho các liên ấp hoặc vùng, liên xã, huyện biết để có kế hoạch chuẩn bị tác
chiến phối hợp.
+Có kế hoạch bảo vệ tài sản sinh mạng cho nhân dân lúc bình thường đề phòng
lúc có đối phương đột nhập.
+Có kế hoạch bảo quản vũ khí, lương thực cho lực lượng vũ trang trong ấp lúc
51
bình thường và có đủ sử dụng lúc tập trung chiến đấu.
Thường xuyên tổ chức giáo dục về đường lối chính sách của chính phủ Việt Nam
Cộng Hoà nhằm nâng cao sự giác ngộ, quyết tâm bảo vệ chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Lúc chiến đấu: Nhiệm vụ của ban chấp hành chống Cộng là
+ Lúc phát hiện được đối phương lập tức báo động cho nhân dân trong ấp và các
liên ấp chiến lược, báo truyền tin với nhau trong khắp các vùng.
+ Tập trung lực lượng vũ trang, bố trí theo kế hoạch đã định, giữ vững liên hệ với
các đơn vị bạn và cấp trên, đồng thời có kiểm tra nhân dân cất giấu, bảo vệ tài sản,
sút vật, đảm bảo khỏi bị thiệt hại lúc xảy ra chiến đấu.
+ Trực tiếp chỉ huy chiến đấu lúc Cộng sản đến và xử trí vận dụng lực lượng linh
hoạt trong quá trình chiến đấu.
+ Nhanh chóng ổn định lại sinh hoạt bình thường của nhân dân, sắp xếp lại đội
ngũ vũ trang, sửa sang lại công sự phòng ngự bị hư hỏng và tiếp tục chuẩn bị thường
xuyên kế hoạch tấn công Cộng sản [102, tr.2-4].
Tổ chức trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân chống Cộng
Là một lực lượng bán vũ trang chiến đấu tự vệ trong ấp có sự phối hợp với lực
lượng vũ trang tập trung dân vệ, bảo an, lực lượng cơ động của quân đội Cộng hòa.
Nên không trang bị nặng mà trong điều kiện vũ khí dồi dào có thể cấp.Chủ yếu là
mìn, lựu đạn, dao găm, bàn chông đủ cho mọi đội viên chiến đấu và đủ bố phòng
trong ấp theo địa thế cần thiết.Một số súng trường, tiểu liên tùy theo sự quan hệ vị trí
chiến lược của ấp, khả năng của Ban chỉ huy chiến đấu chống Cộng có thể bảo quản
sử dụng được nó.Giây, gậy, đuốc, mỏ, chông cho mỗi người, từng gia đình [102,
tr.4].
Tổ chức các bộ phận phục vụ cho chiến đấu như: thông tin, y tế cứu thương, phụ
cấp áo quần lương thực
Tổ chức chòi, loa thông tin trong từng ấp, đảm bảo việc phát hành báo chí, bài
thông tin đến tận ấp, lập trạm đọc sách báo, tổ chức tuyên dương, khen thưởng, kỉ
luật. Động viên nhân dân thi đua chiến đấu, sản xuất, lập trạm y tế cho thuốc, có kế
hoạch vệ sinh phòng bệnh cho nhân dân, giữ gìn thôn xóm sạch sẽ, có nhân viên cấp
cứu lúc bình thường và lúc chiến đấu, tổ chức đội tải thương, chú ý đến việc phòng
52
bệnh cho súc vật để đảm bảo sản xuất và lương thực.Tổ chức đội nấu ăn luân phiên,
dựa vào hội liên hiệp xã, phục vụ cho lực lượng vũ trang trong những lúc tập trung
làm nhiệm vụ [102, tr.5].
Tổ chức chỉ huy chiến đấu trong ấp chiến lược trong cả quá trình chiến đấu với
Cộng sản đột nhập
+ Chuẩn bị chiến đấu:Căn cứ vào tin tức lưới trinh sát nhân dân, hoặc tổ trinh sát
đặc biệt, đài quan sát trong ấp ban ngày, hoặc tin tức của các trạm canh lưu động tiên
tiến của ấp ban đêm, tin tức của các ấp liên hệ mà có kế hoạch báo động từng đợt cho
các đội vũ trang tập trung, phân tán bố trí ở vị trí chuẩn bị chiến đấu của mình theo kế
hoạch đã định. Đồng thời, thúc đẩy kiểm tra nhân dân cất giấu giữ gìn tài sản, súc vật.
Tổ chức theo dõi bám sát sự xuất hiện và đột nhập của đối phương để có kế hoạch
chuẩn bị đối phó, tác chiến đồng thời thường xuyên gửi liên lạc báo cáo tình hình với
cấp trên. Giữ liên lạc chặt chẽ với các liên ấp chiến lược, các đơn vị chủ lực tập trung
lưu động trong vùng để có kế hoạch phối hợp tác chiến trong các trường hợp đối
phương đột nhập bằng ít lực lượng cán bộ chính trị hoặc lực lượng vũ trang lớn [102,
tr.5].
+ Trong chiến đấu:“Căn cứ vào lực lượng Cộng sản tấn công đột nhập thôn
nhiều hay ít và hướng tiến công mà tập trung binh hỏa lực dồn vào hướng đó để
chiến đấu ngăn cản, tiêu diệt. Nếu có điều kiện cho lực lượng vũ trang theo các
đường hầm bí mật xuất kích ra khỏi làng để truy kích tiêu diệt lực lượng của Cộng
sản.
Căn cứ vào lực lượng mạnh yếu của Cộng sản và địa hình có lợi với lực lượng vũ
trang mạnh của ấp mà Ban chỉ huy thống nhất chống Cộng có kế hoạch dụ vào thôn
rồi bất ngờ tổ chức bao vây đánh úp.
“Trong trường hợp lực lượng vũ trang Cộng sản đột nhập đông, một mặt lực
lượng vũ trang dựa vào công sự phòng ngự của ấp chiến lược mà chiến đấu tiêu hao
cầm cự ở ngoại vi ấp giữ chân Cộng sản lại, bám sát để biết lực lượng vũ trang,
hướng tấn công của Cộng sản mà liên lạc báo với cấp trên có kế hoạch hợp đồng tác
chiến. Mặt khác, đợi viện binh của đơn vị bạn tiếp tục chiến đấu ở trung tâm ấp, tạo
53
điều kiện cho các đơn vị chủ lực vận động tiêu diệt Cộng sản ở ngoại vi.
Trong trường hợp lực lượng vũ trang Cộng sản lớn mạnh đột nhập vào ấp mà lực
lượng vũ trang bản thân của ấp chiến lược yếu thế chiến đấu, tấn công, phải tổ chức
bám Cộng sản tìm hiểu lực lượng của chúng, vừa tổ chức rút lui bảo toàn lực lượng
của mình theo đường hầm bí mật bố trí rút ra khỏi ấp theo hợp đồng tác chiến với
liên ấp bạn, hoặc rút vào hầm bí mật trú ẩn ngay trong ấp dấu lực lượng của mình,
đợi có lực lượng viện binh thì cùng hợp đồng tác chiến để nhanh chống làm tan rã và
tiêu diệt Cộng sản”[102, tr.6-7].
“Trong quá trình chiến đấu yêu cầu Ban chỉ huy thống nhất phải nắm vững lực
lượng của mình để tập trung hay phân tán sử dụng, chỉ huy cho thật linh hoạt. Đồng
thời, thường xuyên có kế hoạch tiếp tế cho lực lượng vũ trang và vận động nhân dân
động viên con em hăng hái chiến đấu chống Cộng để giữ gìn an ninh [102, tr.7].
+ Sau trận chiến đấu:“Khẩn trương củng cố lại đội ngũ của mình, tiến hành sửa
sang công sự phòng ngự đề phòng bị tấn công lại.
Giải quyết ngay việc cấp cứu cho thương binh và chôn cất tử sĩ nếu có.
Ổn định ngay tình hình sinh hoạt bình thường của nhân dân, đảm bảo việc tập
trung sản xuất, làm ăn của dân, tránh tình trạng hoang mang trong dân.
Tổ chức lại việc canh gác bố phòng trong ấp, chỉnh đốn xây dựng lại lực lượng vũ
trang, chính trị của mình như lúc bình” [102,tr.7].
- Công đoạn thứ tư là tổ chức hợp đồng bố phòng và tác chiến giữa liên ấp
chiến lược cùng các lực lượng vũ trang tập trung chủ lực cơ động trong từng
vùng.
+Lúc thường: “Ban chỉ huy thống nhất chống Cộng từng vùng có kế hoạch theo
dõi phát hiện Cộng sản, bám sát thông báo tình hình, báo động cho nhau để chuẩn bị
chiến đấu.
Chuẩn bị nhiều phương án tác chiến hợp đồng giữa các liên ấp chiến lược, các
đơn vị cơ động dân vệ, bảo an, quân đội Cộng hòa trong mọi tình huống Cộng sản có
thể xuất hiện tấn công vào thôn xóm.
Có kế hoạch phân chia phạm vi tuần tiểu bình định, phối hợp bổ trợ nhau trong
việc xây dựng lực lượng bán vũ trang ở nông thôn, xây dựng lực lượng chính trị, phát
54
triển sản xuất, chuẩn bị lực lượng cho lúc chiến đấu[102, tr.8].
+Trong chiến đấu
“Phải dưới sự chỉ huy của một Ban chỉ huy thống nhất từng vùng do chỉ huy một
đơn vị tập trung, chủ lực đứng đầu để chỉ huy, sử dụng điều động các thành phần lực
lượng trong vùng hợp đồng tác chiến với nhau theo các phương án đã định qua các
tình huống diễn tiến.
Tổ chức bám lực lượng Cộng sản, giữ vững liên lạc báo cáo tình hình với cấp trên
với đơn vị bạn để có kế hoạch cho trên chỉ huy hợp đồng tác chiến.
Trong trường hợp lực lượng Cộng sản tấn công lớn, Ban chỉ huy thống nhất từng
vùng phải yêu cầu chi viện của pháo binh hoặc phi cơ của cấp trên để hợp đồng tấn
công đẩy lui, tiêu diệt Cộng sản [102,tr.9].
- Cảnh giác an ninh tại các ấp chiến lược
Tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II chúng tôi tìm thấy tài liệuCảnh giác an ninh tại
các ấp chiến lược.Theo đó,Mỹ - Diệm rất lo lắng tình trạng dân chúng nhiều nơi tỏ ra
lơ là thiếu cảnh giác trong công tác bố phòng.Nhất là sau các vụ mùa, họ được rảnh
rang nên cờ bạc, rượu chè và nhiều tệ đoan khác.Bên cạnh đó, phần lớn là dân vệ, hội
đồng xã và một số quận trưởng cũng công khai làm gương xấu cho dân chúng, dẫn
đến“ở Đông Nam Phần, đã xảy ra vụ Cộng sản vào hạ sát một nhân viên hội đồng xã
và một sĩ quan cùng hai dân vệ bị mìn của Cộng sản cũng chính tại ấp chiến lược”
[24, tr.1].
Từ sự kiện trên, chúng cho rằng điều này sẽ rất tai hại, sẽ làm nhân dân mất sự tin
tưởng đối với chính sách ấp chiến lược. Nhất là khi Cộng sản đang nỗ lực phá ấp
chiến lược. Theo tài liệu của chúng báo cáo:“Cộng sản đã tổ chức Ủy ban ấp chiến
lược để nghiên cứu, phá ấp chiến lược rất tỉ mỉ về ba phương diện quân sự, binh vận,
tuyên truyền và tổ chức.
+Quân sự: Dùng lực lượng quân sự đánh ấp chiến lược.
+Binh vận: Nhắm vào các lực lượng vũ trang của ấp và các lực lượng tại địa
phương có nhiệm vụ tiếp viện ấp chiến lược.
+Tuyên truyền và tổ chức: Chỗ nào đã có cơ sở của Cộng sản, thì tăng cường
55
thêm, chỗ nào chưa có hoặc bị thanh lọc thì tìm cách cấy cán bộ vào đó” [24, tr.1-2].
Mỹ - Diệm còn nhận định “hình thức giải trí bằng bài bạc có lợi cho Cộng sản,
lợi dụng máu mê thua được của hội đồng xã, dân vệ, ban trị sự ấp, Cộng sản tổ chức
đưa cán bộ vào trong ấp chiến lược để tuyên truyền, tổ chức, làm binh vận, đặt cơ sở
nội tuyến cho các cuộc tấn công sau này” [102, tr.2].
Mỹ - Diệm nhấn mạnh:“Đối với cán bộ, việc đánh bạc còn tai hại hơn, vì nếu bị
thua, cán bộ dễ sinh ra tham lam, thối nát, làm phương hại cho quốc sách ấp chiến
lược, nhiều khi lại dễ bị Cộng sản mua chuộc” [24,tr.2].
Vì thế, chúng yêu cầu chấm dứt ngay tệ đoan trên, các quận trưởng phải luôn kiểm
tra các ấp chiến lược, kiểm soát mức độ cảnh giác nhất là trong những ngày chủ nhật
và ngày nghỉ lễ.Đồng thời, bài trừ tận gốc tứ đổ tường, còn có thể gây thêm quỹ cộng
đồng cho ấp chiến lược, cần tổ chức giải trí lành mạnh, chiếu phim, trình diễn văn
nghệ, thể dục thể thao, đua xe đạp, đua ghe..., treo thưởng khuyến khích tinh thần thi
đua, óc sáng tạo của dân chúng tham gia.Trong thời gian giải trí cũng phải luôn cảnh
giác, phân chia trách nhiệm an ninh rõ rệt tại ấp chiến lược để ta không lợi dụng đột
nhập vào ấp [24,tr.3].
Tóm lại, song song với hoạt động bố phòng, Mỹ - Diệm đã tiến hành áp dụng các
biện pháp chống Cộng trong ấp chiến lược.
2.2.3.4. Những biện phápchống Cộng trong ấp chiến lược
Biện pháp đầu tiên Mỹ - Diệm áp dụng để chống Cộng là:
- Du kích hóa nhân dân: Chúng tận dụng lực lượng nhân dân tại ấp chiến lược để
tham gia chống Cộng. Đầu tiên chúng phân loại nhân dân trong ấp thành các thành
phần thanh niên, tráng nữ, phụ nữ, bô lão, thiếu nhi, một cách cụ thể rõ ràng. Biến họ
thành lực lượng chống lại đột nhập của Cộng sản, trên cơ sở đó đưa ra những hình
thức hoạt động tình báo chìm, bảo trợ, tiếp tế, cứu thương. Cho nhân dân thảo luận,
quyết nghị cùng nhau thực hiện.
Nhiệm vụ chủ yếu của nhân dân là cảnh giới, thông tin, báo động, chiến đấu, cứu
thương, thảo luận về kinh nghiệm chiến đấu, rút ra những ưu khuyết điểm sau mỗi
lần hoạt động để góp phần hoàn thiện tổ chức [3,tr.4].
56
- Hướng dẫn nhân dân chiến đấu thụ động
Chúng ra sức tuyên truyền để nhân dân tin tưởng sẽ chặt đứt đường xâm nhập và
diệt được ta,tuyên truyền bịa đặt những việc làm xấu của ta để nhân dân có thái độ
căm phẫn vàtin tưởng vào biện pháp chống Cộng chúng đưa ra, tin tưởng tác chiến sẽ
thắng lợi.Chúng hướng dẫn nhân dân cách chiến đấu thụ động như: ngụy trang hầm
bẫy, tổ chức lánh cư,kiểm soát khả nghi, giữ gìn trật tự.Cho nhân dân thực hiện hầm
bẫy và hoàn bị, tin tưởng việc đào hầm bẫy mục đích là để ngăn chặn ta phá rối.Cho
nhân dân nghiên cứu hầm bẫy và đưa ra những quy định cụ thể, nếu bẫy càng sắc bén
càng nói rõ lòng căm phẫn đối với Cộng sản, bẫy kém không những dân sẽ mất tài
sản, mà còn mắc tội tiếp tay cho Cộng sản.
Khi có báo động gài bẫy, mọi người gỡ hầm trước khi đi, không bịn rịn vì của cải,
nhà cửa, thi hành các chỉ thị của ấp, kiểm điểm, chôn dấu lương thực ngụy trang
lương thực, trợ giúp thanh niên có phận sự tác chiến.
Cuối cùng chúng khai thác thắng lợi bằng việc rút kinh nghiệm hầm bẫy để tinh vi
hóa, gây dư luận sôi nổi, gây phấn khởi, bịa đặt và khôi hài Cộng sản, đồng thời
tương trợ bù đắp thiệt hại, thăm viếng ủy lạc cho những gia đình bị thiệt hại[3,tr.5].
- Thanh niên chống du kích
Chúng lựa chọn những người xuất phát từ nhân dân trong ấp, hiểu rõ địa thế và
công sự ấp, hiểu rõ hoạt động của mọi người. Kêu gọi thanh niên tham gia vào hoạt
động chống du kích vì chống du kích, chống đối phương phá hoại chính là tự đảm
bảo quyền lợi thiết thực của nhân dân.
“Nhiệm vụ chung của thanh niên chống du kích là khi có giặc thì trở thành người
lính, lúc bình thường thành dân, không thoát ly gia đình.
Hình thức chiến đấu vô hình, ẩn hiện, tuyệt đối không lệ thuộc vào nguyên tắc
quân sự, với khẩu hiệu bắn sau lưng địch, giết địch khi chắc thắng, quấy rối và nghi
binh, gây hoang mang trong hàng ngũ địch, vũ khí bất ly thân, bảo tồn lực lượng” [3,
tr.7].
Chúng yêu cầu thanh niên chiến đấu phải có ý thức kỷ luật cao, phải biết tự giác
để tiến, thực hiện đoàn kết với nhau, tổ chức chiến đấu hữu hiệu tránh hình thức.
57
- Tổ chức tình báo và phản tình báo tại các ấp chiến lược
+Vấn đề tình báo: “Chúng cho rằng hiện nay Cộng sản đang tổ chức các cơ sở và
các cuộc tấn công nhằm tiêu diệt ấp chiến lược. Do đó, cần tìm biện pháp thích ứng
để chặn đứng âm mưu của đối phương. Tình báo là một trong những công tác quan
trọng hữu hiệu để tiêu diệt Cộng sản. Nó sẽ cung cấp thông tin, kịp thời chuẩn bị ứng
xử trước những tình huống sắp xảy ra” [106, tr.1].
+Vấn đề phản tình báo“được xem là vấn đề quan trọng như mọi vấn đề khác
trong công tác xây dựng ấp chiến lược, nhằm thực hiện phòng gian bảo mật, ngăn
chặn hoạt động tình báo, phá hoại và nội tuyến của Cộng sản.Với mục đích trên, vấn
đề phản tình báo được quan niệm là trách nhiệm của cấp bộ chỉ huy, cũng là công
tác của mọi người; đặc biệt là cấp bộ thi hành.Nhân dân đóng vai trò quan trọng
trong công tác phản tình báo dưới hai hình thức chủ động và thụ động [106, tr.1].
Chúng cho rằng công tác phản tình báo phải được kết hợp với chiến tranh tâm lý
và xã hội. Vì vậy chúng thiết lập sẵn kế hoạch tung tin nhảm, làm rối loạn hàng ngũ
của ta, đưa những đường lối phản tình báo có thể dùng cho các cơ quan phụ trách
thông tin để giáo dục nhân dân thi hành kế hoạch tung tin, khuếch trương chiến quả
hành quân trên phương diện phản tình báo.
Ngoài ra chúng còn tìm cách phát hiện “đường lối tuyên truyền dĩ tai của Cộng
sản trên mọi khía cạnh để phục vụ cho kế hoạch tung tin sau này, sưu tầm tin tức, quy
luật hoạt động của Cộng sản để kiện toàn sự hiểu biết về Cộng sản, phát động quần
chúng đề cao cảnh giác, đề cao vai trò của nhân dân mỗi khi phát giác Cộng sản
nằm vùng”[106, tr.4].
- Tổ chức phục kích ngoài ấp chiến lược
Ngoài việc tổ chức phòng thủ trong ấp chiến lược Mỹ - Diệm còn lưu ý, “trong
các khu vực đã lập được thế liên hoàn, các lực lượng vũ trang không những chú
trọng tới việc bảo vệ ấp, mà còn phải bảo vệ vùng lân cận. Theo đúng tinh thần của
sự chuyển hướng này, các ấp cần phải tổ chức phục kích ở ngoại vi, tỉa đánh Cộng
sản trước khi tấn công, chứ không chỉ tuần tiểu canh phòng trong nội vi ấp, chờ đối
phương tới mới đối phó. Đây là quan niệm phòng thủ chủ động” [103,tr.1].
Ngoài những biện pháp áp dụng trong hoạt động phòng thủ nêu trên, Mỹ - Diệm
58
còn đặt những cạm bẫy và phương tiện để phòng thủ tại các ấp chiến lược.
2.2.4. Những cạm bẫy và phương tiện áp dụng trong hoạt động phòng thủ tại các
ấp chiến lược
2.2.4.1. Những cạm bẫy sử dụng trong hoạt động phòng thủ tại các ấp chiến lược
Từ tập tài liệu Cạm bẫy có thể áp dụng tại các ấp chiến lược được lưu giữ tại
Trung tâm lưu trữ quốc gia II, chúng tôi thống kê có các bẫy, hầm sau đây được sử
dụng trong hoạt động phòng thủ ở các ấp chiến lược:
- Bẫy thò heolà bẫy có cần thò làm bằng một cây tre hay cây gỗ dài từ 4 đến 5
thước, gốc cần đường kính từ 6cm đến 8cm và ngọn cần từ 4cm đến 6cm. Đầu cần
thò được đục lỗ để đặt 5 hoặc 6 mũi tên đầu bọc sắc nhọn. Cần thò được uống cong,
gài vào một dàn cọc cố định độ cao 8cm, theo lối gài bẫy chim.
Một sợi dây bẫy được mắc gần sát mặt đất qua lối đi. Một đầu buộc vào vòng
sắt của then gài cần thò, một đầu được cột vào gốc cây hay cái cọc bên kia đường.
Khi binh sĩ đi qua không thấy, giẫm lên trên hoặc đá phải sợi dây. Sợi dây kéo
vòng sắt của then gài. Then gài không có gì giữ liền bật lên và thả cần thò ra. Cần thò
bắn những tên được đặt ở đầu đi xa chừng 10 đến 15m.
- Bẫy thò voi là bẫy được làm bằng một bàn chông bằng sắt, bên trên để đá treo
lên cành cây kín. Sợi dây được dòng xuống gốc cây gài vào một hệ thống gài theo lối
bẫy chim. Sợi dây bẫy được mắc một đầu vào hệ thống gài, một đầu cột vào gốc cây
hay cọc sát mặt đất. Khi giẫm phải, then gài của bẫy bật ra và bàn chông từ trên cây
rớt xuống.
- Bẫy kẹp là bẫy dùng để đặt lên miệng hầm chông.Bẫy kẹp được cấu tạo bằng
hai dàn chông chạy trên một khung bẫy. Hai đầu dàn chông được cột bằng hai sợi dây
cao su hay lò so. Bẫy được dương ra bằng một cây chống ngang ở giữa. Khi đi qua
không thấy, đạp lên cây chống ngang, cây tụt xuống, hầm chông sẽ co lại đâm vào
gây thương tích.
- Bẫy đạp là bẫy đặt trên hầm chông. Thành phần của bẫy gồm có bàn đạp,
trục, cần, bàn chông. Khi đi qua giẫm lên bàn đạp trục bàn chông quay, bàn chông
đập vào mặt hoặc vào cổ, ngực người đạp.
- Hầm chông cá nhân là một hầm hình chữ nhật, bề cao 0m60 bề dài 0m80 và
59
bề sâu 0m70, dưới có đặt bàn chông, thường được gài mìn ở dưới bàn chông, mục
đích khi một người bị đạp thì đồng đội đến kéo lên như vậy mìn sẽ nổ và làm thiệt hại
rất nhiều.
- Hầm chông quayđược thiết kế sâu hai mét, rộng 1,5 mét và dài 2 mét, cũng
đặt chông ở dưới như hầm cá nhân. Hầm này có đặc tính bẫy được nhiều người, ở
miệng hầm có nắp bằng ván quay chung quanh một trục nằm giữa thân nắp, khi có
người giẫm lên nắp được quay ngược và đậy hầm lại như cũ khi người rớt xuống đáy
hầm.
- Hầm đạnlà hầm được thiết kế giống như hầm cá nhân nhưng đáy hầm có một
tấm ván những ống sắt đựng các thứ đạn nằm trên đầu đinh. Ở miệng hầm cũng có
một tấm ván khi rớt xuống theo sức nặng người giẫm lên trên và đè ngay vào đầu các
viên đạn. Sức nặng của người đẩy mạnh hột nổ của đạn vào các đầu đinh làm đạn nổ.
- Tên thuốc độc được bắn bằng ná (nỏ), mũi tên được bao bọc một lớp độc
dược rất đặc biệt lấy từ nhựa cây rừng.
Khi mũi tên xuyên qua làn da khiến máu chảy, chất độc ở đầu mũi tên ngấm
vào máu, có thể làm chết người sau 15 phút [25,tr.1-2].
2.2.4.2. Những phương tiện sử dụng trong hoạt động phòng thủ ấp chiến lược
Cũng theo tài liệu Cạm bẫy có thể áp dụng tại các ấp chiến lược của Việt Nam
Cộng Hòa hiện bảo quản tại trung tâm Lưu trữ quốc gia II, luận văn tổng hợp có
những phương tiện dưới đây được sử dụng trong hoạt động phòng thủ ấp chiến lược
của Mỹ - Diệm:
- Mìn xăng đặc gồm loại để soi sáng, loại để gây thương tích do mảnh mìn hay
sự phỏng cháy. Hiệu quả của loại này được tập trung về một hướng nhất định.
- Đối vớimìn soi sáng chỉ cần làm cho mìn vỡ ra và cháy tại chỗ. Mìn được sử
dụng từ trong ấp, không dùng để gài bẫy.Một đầu dây truyền nổ với ngòi nổ được
quấn ở phần trên của vỏ mìn, đầu còn lại ở trong ấp. Khi muốn làm nổ mìn, gắng đầu
này vào một cục pin tương ứng với đầu nổ.Mìn soi sáng cháy với ngọn lửa đỏ, có
nhiều khói và rất lâu. Một trái cở 20 lít có thể cháy gần một giờ và soi sáng xung
quanh khoảng đất đặt mìn.
Mìn gây thương tích được làm bằng cách dùng mồi nổ hay chất nổ TNT(có tên
60
là trinitrotoluen, công thức hóa học CH3C6H2(NO2)3.Thuốc nổ ở dạng hóa hợp, tinh
thể cứng màu vàng nhạt, tiếp xúc với ánh sáng ngả màu nâu, vị đắng, khó tan trong
nước, tan trong dung môi hữu cơ (cồn, ête, benzen, aceton), khói độc... Được dùng
rộng rãi trong phá các vật thể (đất, đá, gỗ...) làm thuốc nổ chính trong bom, mìn, đạn
pháo,...Trộn với thuốc nổ khác làm dây nổ). Nếu dùng TNT phải cho vào hộp kín để
xăng không thấm vào. Thuốc nổ để ở dưới đáy mìn và ở chính giữa, được gắn một
ngòi để điện (điều khiển từ trong ấp) hay một ngòi châm hỏa có gài bẫy.
Khi nổ, trong vòng 5 thước, thiệt hại hoàn toàn vì sức cháy và hơi thổi, chưa kể
các thiệt hại do các mảnh gây ra; trong vòng 10 thước hiệu quả 70% vì sức cháy và
các mảnh; trong vòng 30 thước xăng đặc và mảnh vẫn còn đủ sức để gây thương tích.
- Mìn định hướng được làm tương tự như mìn gây thương tích, nhưng vỏ mìn
dài, có đường kính nhỏ hơn. Để làm nổ loại mìn này, một bánh thuốc nổ TNT cở ½
cân Anh (1pound = 0,45kg) được cột với một trái lựu đạn thế công. Thuốc nổ và lựu
đạn được gắn vào sát đáy và ở bên ngoài vỏmìn bằng sợi dây truyền nổ quấn suốt
thân mìn. Hiệu quả của mìn sẽ tập trung về phía miệng mìn. Dùng ngòi nổ điều khiển
nhưng không gài bẫy, mìn định hướng được chôn dưới đất nghiêng khoảng 15 độ.
Hiệu quả sẽ được tập trung về một phía, nếu đối phương tiến theo hướng này
và trong phạm vi 50 thước sẽ bị thiệt hại.
Cách sắp đặc các loại mìn trong việc phòng thủ ấp
Các loại mìn phải được đặt trong vòng chướng ngại vật chung quanh ấp để
tăng hiệu quả của các chướng ngại vật khác như hầm chông...
Tầm hiệu quả của mìn là 30 thước, vậy mỗi trái phải đặt cách nhau 60 thước.
Mìn soi sáng chỉ được đặt ở các yếu điểm gần bờ thành ấp.
Mìn định hướng nên đặt ở trên các đường mà đối phương thường qua lại, cũng
có thể đặt ngay cổng ấp.
- Lựu đạn dạ quanglà loại lựu đạn không gây thương tích chỉ tung ra chất dạ
quang.Lựu đạn này có thể ném tay (loại tròn) hay bắn bằng súng với đạn mã tử (loại
dài có đuôi). Chất dạ quang khi dính vào người trong đêm tối sẽ giúp thấy các cử
61
động của người đó nhưng không soi sáng ở xung quanh.
Như thế, công dụng chung của loại lựu đạn này là đánh dấu những cử động để
giúp xạ thủ nhắm dễ dàng. Chất dạ quang cũng có thể được bôi lên đỉnh đầu ruồi và
lỗ chiếu môn của vũ khí để việc tác xạ được chính xác như ban ngày [25,tr.3-6].
Tóm lại cùng với việc hành thành tổ chức hoạt động phòng thủ, Mỹ - Diệm đã
cho tiến hành thực hiện phòng thủ ở các ấp chiến lược. Nội dung lớn thứ 3 của
chương 2 sẽ điểm qua tình hình thực hiện đó.
2.3. Tình hình thực hiện hoạt động phòng thủ ở các ấp chiến lược thời Mỹ -
Diệm
Từ tháng 7/1961 Mỹ - Diệm gấp rút tăng cường lực lượng vũ trang, tổ chức,
kiện toàn bộ máy bình định từ trung ương xuống địa phương, liên tiếp mở các cuộc
hành quân càng quét, triển khai thí điểm dồn dân lập ấp chiến lược ở các địa phương
thuộc Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Quảng Ngãi..., sau đó áp dụng rộng rãi ở
đồng bằng sông Cửu Long.Để đạt hiệu quả Mỹ - Diệm chia miền Nam Việt Nam
thành 3 vùng bình định khác nhau để tập trung nỗ lực vào từng vùng, đặc biệt là vùng
ưu tiên quốc gia.
- Từ vĩ tuyến 17 đến Khánh Hòa mà trọng điểm là Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Bình
Định, Phú Yên, Khánh Hòa.
- Miền Đông Nam Bộ bao gồm Gia Định, Long An, Thủ Dầu Một, Biên Hòa
trọng điểm là Thủ Dầu Một.
- Miền Tây Nam Bộ bao gồm Tiền Giang, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long,
Vĩnh Bình trọng điểm là Vĩnh Bình.
Sau nửa năm tiến hành thí điểm lập ấp chiến lược ở một số địa phương, trước
sự chống đối của nhân dân, Mỹ - Diệm đã phải rút số ấp dự định thành lập từ 16.000
ấp xuống 10.000 ấp. Ngày 2/2/1962 trong phiên họp tại dinh Gia Long “cố vấn chính
trị” Ngô Đình Nhu đã tuyên bố“Trong toàn Việt Nam tự do có 16.232 ấp. Nếu lập độ
10.000 ấp nghĩa là 2/3 thì tốt rồi, phần còn lại sẽ tự động lập theo” [38,tr.61].
Để tiến hành lập ấp chiến lược trên toàn miền, ngày 3/2/1962 “Ủy ban đặc
trách ấp chiến lược” được thành lập và cũng là ngày Mỹ và chính quyền Sài Gòn
62
quyết định lập ấp chiến lược trên toàn miền Nam.
Ngày 17/4/1962, Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa đã long trọng nâng chính sách
ấp chiến lược lên hàng quốc sách. Với tầm quan trọng chiến lược, một năm sau (cuối
tháng 3/1963) trong phiên họp của Ủy ban đặc trách ấp chiến lược do Ngô Đình Nhu
chủ tọa, đã quyết định lấy ngày 17/4 làm ngày Kỷ niệm đệ nhất chu niên quốc sách
ấp chiến lược [38,tr.62].
Theo quyết định của Ủy ban đặc trách ấp chiến lược, kế hoạch thực hiện ấp
chiến lược trên toàn miền Nam được tiến hành như sau:
- Giai đoạn chiến lược hóa và kiện toàn ấp chiến lược
+ Đợt 1là giai đoạn chiến lược hóa, nhằm 2 mục tiêu chính trị và quân sự.Khởi
đầu từ tháng 3/1962 đến cuối tháng 3/1963 với số ấp hoàn thành là 7.000 ấp. Trong
thời gian đầu, các tỉnh xây dựng ấp chiến lược bằng phương tiện tự túc, với sự giúp
đỡ của ngân khoản trung ương trong 3 đợt, sau đó kể từ ngày 1/10/1962 trung ương
đã chuẩn cấp ngân khoản, vật liệu đầy đủ cho các tỉnh để thực hiện một phần kế
hoạch ấp chiến lược.
Từ ngày1/4/1963 đến 30/6/1963 các tỉnh tiếp tục hoàn tất kế hoạch xây dựng
ấp chiến lược. Số ấp chiến lược được thực hiện trong giai đoạn này là 4.287 ấp. Song
song với công tác thiết lập 4.287 ấp trên các tỉnh còn xúc tiến kiện toàn số 7.000 ấp
đã hoàn thành trong năm 1962.
Trong giai đoạn chiến lược hóa Ban thường vụ thỏa thuận với Mỹcấp cho mỗi
ấp chiến lược khoảng 20.000 đôla.
+ Đợt 2là giai đoạn kiện toàn ấp chiến lược được khởi đầu từ 1/7/1963 và kết
thúc 30/9/1963. Trong đợt này, các tỉnh sẽ hoàn tất việc kiện toàn 4.287 ấp. Mỹ -
Diệm sẽ đặt trọng tâmcủng cố toàn thể các ấp trong toàn quốc, căn cứ theo các hồ sơ
riêng cho từng ấp chiến lược. Các hồ sơ này do quận thiết lập, tỉnh kiến nghị gửi về
Ban thường vụ cuối tháng 6/1963.
- Giai đoạn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Giai đoạn này nhằm thực hiện mục tiêu “Cách mạng văn hóa toàn bộ nền kinh
tế nông thôn để nâng cao lợi tức quốc gia, đạt tới một nền kinh tế tự túc. Đây là giai
đoạn thực hiện kế hoạch dài hạn về kinh tế, văn hóa và xã hội do Ủy ban kinh tế và
63
các bộ liên hệ phụ trách nghiên cứu, soạn thảo” [26, tr.4-5]”.
Giai đoạn này sẽ chính thức bắt đầu từ tháng 10/1963 với ngân khoản của các
bộ và ngân khoản viện trợ.
Kế hoạch ấp chiến lược được Mỹ - Diệm triển khai trên toàn miền Nam từ
tháng 3/1962, được tiến hành với những mức độ và cách làm khác nhau cụ thể là“Ấp
chiến lược phải được lập theo nguyên tắc lập ở vùng an ninh, tiếp đến là những vùng
bán an ninh, còn lại là những vùng bất an ninh chưa làm. Theo nguyên tắc này,
chúng phân chia các địa phương ra làm ba loại A, B, C (A: an ninh, B: bán an ninh,
C: bất an ninh)”(xem phụ lục 3.1 trang 167). [26,tr.5].
Đối với vùng an ninh là vùng Mỹ - Diệm kiểm soát, dùng sức mạnh của bộ
máy chính quyền, lực lượng quân sự tại chỗ cưỡng bức rào làng, khoanh dân tại chỗ,
kết hợp với chiến tranh tâm lý, dụ dỗ mua chuộc, lôi kéo nông dân vào các tổ chức
chống Cộng như Thanh niên chiến đấu, Phụ nữ chiến đấu, dân vệ, bảo an để đánh bật
cơ sở cách mạng ra khỏi thôn ấp.
Những vùng bán an ninh, là vùng tranh chấp, sử dụng lực lượng vũ trang kể cả
chủ lực, bảo an, dân vệ càn quét đánh phá, chà xác ác liệt, dồn dân đến đâu lập ấp đến
đó, sau đó tổ chức lực lượng chiếm giữ, kìm kẹp.
Ở vùng bất an ninh, là vùng giải phóng hoặc vùng Mỹ - Diệm không kiểm soát
được, huy động lực lượng chính quy và không quân, pháo binh, xe tăng càn quét
đánh phá đẩy nông dân phải tị nạn vào vùng kiểm soát.
Ở vùng căn cứ rừng núi, mở chiến dịch để đàn áp, khủng bố, đốt phá đi đôi với
mua chuộc, chia rẽ để gom dân lập ấp chiến lược, tạo nên những hành lang trắng. Để
bảo vệ ấp chiến lược, mở rộng thế an toàn và đối phó với lực lượng cách mạng, ở
những ấp chiến lược ngoại vi Mỹ - Diệm tổ chức thành lập ấp chiến đấu, có công sự
kiên cố, chọn thanh niên tổ chức thành lực lượng vũ trang tại chỗ.
Phương châm chính là càn quét để lập ấp chiến lược, dùng ấp chiến lược làm
bàn đạp để càn quét đã thành quy luật chủ yếu trong chiến tranh đặc biệt.
Chỉ tính riêng 1962, Mỹ - Diệm đã tiến hành 2.577 cuộc hành quân càn quét,
tăng gấp 2 lần so với năm 1961, đốt phá 24.188 nhà dân, tàn phá 30.000 mẫu hoa
màu, cướp đi 2.953 trâu bò..., liên tiếp mở hàng loạt cuộc hành quân càn quét và hành
64
quân bình định lớn [38,tr.66].
Song song với cuộc hành quân bình định dài ngày, Mỹ - Diệm còn tiến hành
các cuộc hành quân chớp nhoáng đánh vào vùng căn cứ U Minh, Cà Mau, Bạc Liêu,
Sóc Trăng, Long An, Tây Ninh. Trong các cuộc hành quân đó, chúng dùng bom đạn
phá nát ruộng vườn nhà cửa, bắt dân tập trung vào các ấp chiến lược đã xây dựng.
Cùng với việc hành quân càn quét trên diện rộng, Mỹ - Diệm còn tiến hành rải
chất độc hóa học, ném bom phát quang vào vùng căn cứ, các đường hành lang dọc
Trường Sơn, khu giới tuyến quân sự tạm thời bờ Nam sông Bến Hải, hòng lập một
vành đai trắng chạy dọc biên giới Việt - Lào, Việt Nam - Campuchia để thực hiện cho
được quốc sách ấp chiến lược. Ngô đình Nhu đã khẳng định“Tư tưởng của chúng ta
là tư tưởng quyết chiến, quyết thắng. Tư tưởng đó bắt nguồn từ lòng tin vững chắc
vào đường lối cách mạng của dân tộc..., và sự cương quyết công tác thành lập ấp
chiến lược sẽ thắng lợi, từ đó chúng ta sẽ xây dựng được xã chiến lược, khu chiến
lược và cuộc cách mạng tất nhiên sẽ thành công” [38, tr.67].
Quá trình lập ấp chiến lược cho đến tháng 8/1963 đã được Thompson thống kê
như sau:
Bảng 2.1: Thống kê quá trình lập ấp chiến lược của Thompson
Số ACL đã hoàn thành Số ấp tăng mỗi tháng Tháng
7-1962 2.559 -
8-1962 2.661 102
9-1962 3.089 428
10-1962 3.225 136
11-1962 3.550 325
12-1962 4.080 530
1-1963 4.441 361
2-1963 5.049 608
3-1963 5.332 283
4-1963 5.787 455
5-1963 6.222 439
6-1963 6.872 646
65
7-1963 7.222 348
8-1963 8.095 875
(Theo Thompson: Defeating communist insurgency. The lesson of Malaya and
Vietnam, Frederick A. Praeger, Publishers N.Y Washington,1966, p.138) [38,tr.67].
Quốc sách ấp chiến lược là một chính sách bình định điển hình của chủ nghĩa
thực dân mới chống lại phong trào cách mạng Việt Nam, nhằm thực hiện chiến lược
toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ. Nó được tiến hành dưới sự chỉ đạo trực
tiếp của các cố vấn Mỹ, những chuyên gia hàng đầu nổi tiếng về chống nổi loạn của
các đế quốc trên thế giới và cả một hệ thống tổ chức có quy mô từ trung ương đến tận
thôn xã của chính quyền Sài Gòn. Ngô Đình Nhu - người đứng đầu Ủy ban liên bộ
đặc trách ấp chiến lược đã từng tuyên bố: “Dù muốn hay không, thành hay bại, tự do
hay nô lệ của Việt Nam cũng tùy vào nơi chính sách đã thu hút đại đa số tài nguyên
(nhânvậtlực) của đất nước” [38,tr.68].
Với tầm quan trọng của nó, từ giữa những năm 1961 đến năm 1965 Mỹ - Diệm
đã tập trung tiền của, lực lượng và mọi khả năng (chủ yếu là lực lượng quân sự), tiến
hành lập một hệ thống ấp chiến lược có quy mô ở khắp các vùng, với biện pháp, hình
thức, mức độ khác nhau trong một chương trình, kế hoạch thống nhất, toàn diện, có
trọng điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, vừa bổ sung điều chỉnh kế hoạch để đối
phó lại phong trào chống phá của lực lượng cách mạng.
Với phương châm đạp lên mọi oán hờn, không từ một thủ đoạn nào, Mỹ -
Diệm đã kiên trì tiến hành dồn dân, rào làng lập ấp chiến lược trên toàn miền Nam.
Đến giữa năm 1963 Mỹ - Diệm đã lập được 7.200 ấp chiến lược (theo con số của
Trung ương cục trong báo cáo tình hình miền Nam cuối năm 1961 đến đầu năm
1964), theo Thompson con số đó là 8.095 ấp chiến lược (tháng 8/1963) [38, tr.69].
Thống kê tình hình tiến triển ấp chiến lược đến tháng 8/1963 cho thấy Mỹ -
Diệm đã bước đầu thành công trong công tác ấp chiến lược, chứng tỏ hệ thống phòng
thủ ở các ấp chiến lược đã thực hiện rào chiến lược, hệ thống giao thông hào, công sự
phòng ngự, trang bị các phương tiên chiến tranh cũng như thiết lập cơ cấu tổ chức chỉ
huy (ban trị sự và các đoàn thể) đã hoàn thành hoạt động có hiệu quả.
Theo tài liệu lưu trữ của Việt Nam Cộng Hòa hiện lưu trữ tại Trung tâm Lưu
66
trữ quốc gia II có tựa đề Chỉ thị của ông cố vấn về ấp chiến lược, Mỹ - Diệm chia
miền Nam Việt Nam thành 3 khu vực ưu tiên khác nhau để lập ấp chiến lược và thực
hiện hoạt động phòng thủ. Theo đó, khu vực ưu tiên loại A được Mỹ - Diệm quan
tâm, đầu tư nhiều nhất. Nhưng chúng tôi chọn dẫn chứng việc thực hiện hoạt động
phòng thủ ở Pleiku – nơi chỉ là khu vực ưu tiên loại C, tuy nhiên các ấp chiến lược ở
đây vẫn thực hiện khá tốt hoạt động phòng thủ. Điều này thể hiện Mỹ - Diệm vẫn
quan tâm đến những khu vực loại C và quyết tâm thủ thắng ở tất cả các ấp chiến lược.
Quátrình thực hiện hoạt động phòng thủ các ấp chiến lược ở Pleiku tính đến
5/3/1963 đã được thống kê sau đây cho thấy:
Bảng 2.2: Thống kê công tác rào ở Pleiku
Stt
Tên ấp
Vòng đai
Vòng đai
Hàng rào
Chông (cây)
chung
khu gia cư
cây sắn và
quanh
bờ thành
1
Sùng thiện 1, 2
5.050m
5.050m
4.500m
7.055.550
2
Sanh Đức 1, 2
8.770m
8.770m
5.147m
5.000.000
3
Sùng Lê 1, 2
12.000m
4.464m
8.000m
4.500.000
13.000m
500.000
4
Quy Lê
7.000m
5.000m
Đức Khánh 1, 2
11.500m
14.500m
11.500m
5
1.450.000
6
Lệ Kim 1, 2
4.800m
7.790m
3.740.000
7
Đức Hưng 1,2
7.306m
7.306m
2.197m
3.112.502
8
Đức Nghiệp
4.518m
4.518m
33.600m
3.000.000
9
Lê Phong 1, 2
5.200m
5.200m
1.230.000
10
Thăng Đức 1, 2
4.559m
4.559m
4.000m
2.455.900
11
Giáo Trạch 1,2,3
5.800m
4.610m
3.670m
2.300.000
12
Đức Vinh 1, 2
7.000m
7.000m
7.000.
5.301.000
13
Thanh Giáo 1, 2
4.470m
9.780m
7.600m
3.450.000
Bảng 2.3: Thống kê về công sự bố phòng ở Pleiku
Stt Đài
Ph
Vọn
Hầm
Hố
Ụ
Hầm
Cạm
Hào
Bàn
Giao
quan
áo
g
Bí
c/đấu
c/đ
chông
Bẫy
Cấm
chông
Thông
đài
gác
sát
mật
cá
Chông
Hào
(mét)
(m)
nhân
1
7
6
3
270
16
44.890
50
3632
325
2570
70
2
4
10
19
638
6
15.380
490
4747
498
700
160
67
120
160
6.500
18
2192
160
1023
1
5
7
3
1
1
3.000
200
8
4
3
12
310
67
6
25
62
10587
11
5
2
1050
1
4
137
60
18
12
3
7790
21
6
3
2318
30
13
276
349
17
12.800
7306
250
7
1
8395
4
18
270
290
12
16.100
4318
274
8
7
300
5
5
290
80
2
480
5000
400
9
1
200
2
15
268
20
27
4559
270
10
7
559
3
5
234
3
234
12
4510
234
11
1
130
3
36
11
7
15.040
20
6566
390
12
4
250
4
3
284
120
6
365
4300
218
13
5
550
Bảng 2.4: Thống kê về lực lượng an ninh truyền tin ở Pleiku
Stt
Bảo an
Dân
Thanh Niên
Cán
Đài truyền
Sân
Tỉnh
Vệ xã
chống du kích
Bộ chìm
tin
bay
21 2 trung đội 1 11 1 8 1
2 11 1 40 2 1
3 11 12 2 1
4 11 20 1 1
5 11 16 2 1
6 10 10 2 1
7 11 32 2 1
8 11 16 2 1
9 11 4 2 1
10 11 1 3 2 1
11 11 16 2 1
12 30 11 20 2 1
13 11 2 1
Bảng 2.5: Thống kê về vũ khí ở Pleiku
Stt Tiểu liên Calib 12 Súng trường Lựu đạn Dao găm
68
1 2 6 27 62 25
2 3 6 54 20 27
3 1 1 30 40 21
4 30 20 11
5 2 5 34 9 27
6 2 4 96 32 17
7 2 5 60 50 21
8 2 1 70 40 21
9 2 5 47 40 16
10 2 4 30 30 17
11 2 6 57 40 27
12 2 4 51 18 28
13 1 1 28 16 21
Bảng 2.6: Thống kê về ban trị sự và đoàn thể ở Pleiku
Stt Ban
Hội
Thanh
Thanh
Lão
Lão
Thanh
Thanh
Thiếu
Thiếu
trị
đồng
Niên
Nữ
ông
bà
tráng
tráng
nhi
nhi
tự
ấp
Cộng
Cộng
nam
nữ
nam
nữ
hòa
hòa
2liên toán
1
2ban
16ng
2LT
1LT
2LT
2LT
2 LT
2LT
2LT
2
2
2
16
2
2
2
2
2
2
2
4
2
3
16
1
2
2
1
1
1
1
1
1
4
8
1
1
1
1
1
1
2
2
2
5
18
2
2
2
2
2
2
1
2
2
6
16
1
2
2
2
1
1
2
5
2
7
16
1
2
1
3
2
1
1
3
1
8
8
1
1
1
1
1
1
1
3
2
9
16
1
2
2
1
1
1
1
3
2
10
16
4
2
2
1
1
1
1
3
3
11
24
1
2
2
2
2
1
1
4
2
12
16
4
2
2
4
4
1
3
3
2
13
16
3
2
2
3
3
1
2
69
(Theo: Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện công tác ấp chiến lược Pleiku, tính
đến 5/3/1963)[101].
Qua thống kê tình hình thực hiện chiến lược phòng thủ ở Pleiku cho thấy công
tác xây dựng về tổ chức, lực lượng, bố phòng và phương tiện chiến đấu được Mỹ -
Diệm tiến hành nhanh chóng và rộng khắp ở các ấp chiến lược với quyết tâm thực
hiện cho được chương trình ấp chiến lược như chúng mong muốn.
Tuy nhiên, cao trào đấu tranh chống phá ấp chiến lược ở nông thôn ngày càng
diễn ra mạnh mẽ. Đặc biệt trong thời gian từ tháng 7 năm 1963 trở đi, phong trào đấu
tranh khủng bố của tín đồ đạo Phật, phong trào học sinh sinh viên bùng lên mạnh mẽ.
Tình hình đó đã tác động lớn làm bộ máy chính quyền Sài Gòn thêm khủng hoảng
sâu sắc. Để cứu vãn tình thế, thông qua nhóm tướng lĩnh tay sai do Dương Văn Minh
cầm đầu, Mỹ tiến hành đảo chính ở Sài Gòn lật đổ chính quyền độc tài gia đình trị
Ngô Đình Diệm với hy vọng sẽ“rút ngắn cuộc chiến tranh và tinh thần quân đội Sài
Gòn được cải thiện” [38,tr.163].
Nhưng trước phong trào ngày càng phát triển của quân và dân miền Nam, mâu
thuẫn nội bộ của chúng ngày càng gay gắt, chính quyền Sài Gòn - công cụ chủ yếu
của đế quốc Mỹ thực hiện chiến tranh đặc biệt, lâm vào khủng hoảng triền miên và
các cuộc đảo chính liên tiếp như “cuộc khiêu vũ của các viên tướng”[64,tr.77]. Trong
bối cảnh rối ren đó, Kennedy bị ám sát, Johnson lên làm tổng thống, tuyên bố tiếp tục
cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam với một kế hoạch mới, với quy mô lớn hơn, ác
liệt hơn.
Để tiếp tục mưu đồ xâm lược của mình, Mỹ và chính quyền Sài Gòn điều
chỉnh hình thức bình định từ Ấp chiến lược sang Ấp tân sinh. Dù đến lúc này chúng
đã không đạt được mục tiêu đề ra cho quốc sách ấp chiến lược, nhưng một trong 5 nội
dung quan trọng của kế hoạch chiến tranh đó là vẫn tiếp tục đẩy mạnh việc dồn dân,
lập ấp chiến lược để bình định miền Nam, dưới hình thức mới với biện pháp quân sự
và chiến tranh tâm lý được đẩy mạnh hơn, tinh vi hơn. Đồng thời đặt trọng điểm bình
định ở các vùng có vị trí quan trọng, nhất là 8 tỉnh xung quanh Sài Gòn - Chợ lớn.
Được đế quốc Mỹ trợ giúp tích cực, chỉ sau hơn 10 ngày lên nắm chính quyền,
70
chính phủ mới đã triệu tập một phiên họp về ấp chiến lược tại phòng họp Tổng tham
mưu quân đội chính quyền Sài Gòn, do trung tướng Dương Văn Minh - chủ tịch Hội
đồng quân nhân cách mạng làm chủ tọa với đầy đủ các thành phần lãnh đạo chính
phủ tham gia. Trong cuộc họp đó, Hội đồng quân nhân cách mạng đã rút ra hai
nguyên nhân dẫn đến sự thất bại trong quốc sách ấp chiến lược. Một là khuyết điểm
làm mau và cưỡng bức dồn dân làm dân oán ghét. Hai là dân phải đóng góp nhiều
cho chương trình xây dựng ấp chiến lược [8,tr.3]. Vì vậy, dân bất mãn không ủng hộ.
Từ sự phân tích đó, ngày 23 tháng 11 năm 1963 Hội đồng quân nhân cách mạng
quyết nghị:
Chương trình ấp chiến lược sẽ được tiếp tục,
Sẽ chấm dứt sự cưỡng bách định cư những gia đình trong thành thị,
Chấm dứt sự cưỡng bách lao động liên quan đến ấp chiến lược.
Để vạch ra một đường lối mới cho chương trình ấp chiến lược, Thủ tướng
chính phủ Sài Gòn Nguyễn Ngọc Thơ đã chỉ thị cho các tướng lĩnh phải đến viếng
thăm, kiểm tra tình hình các ấp chiến lược ở 12 tỉnh miền Tây từ ngày 20 đến
28/11/1963. Sau khi kiểm tra số ấp chiến lược trong các tỉnh trên, các tỉnh trưởng đã
trình lên chính phủ: “Tỉ lệ số ấp chiến lược có giá trị rất kém nhất là tại Kiên Giang
(chỉ còn 37/197 ấp chiến lược) nhưng trước kia không dám trình sự thật. Nay cần cho
thời gian để củng cố các ấp còn yếu, bỏ số không thể tiếp tục nuôi dưỡng được để có
đủ phương tiện giữ an ninh” [69].
Sau khi các tướng lĩnh đi gặp gỡ, trao đổi với các cán bộ ấp và nhân dân các
tỉnh, tìm hiểu thực chất của quá trình thực hiện ấp chiến lược, chính quyền Sài Gòn
nhận thấy danh từ cũ ấp chiến lược đã hoàn thành và sáu tiêu chuẩn đang được coi là
cứng rắn không phù hợp với cục diện xã hội đang tiến triển[68,tr.1].Đây chính là sự
thích nghi để tồn tại mà chúng đã nhận ra và tìm cách sửa chữa.
Đến lúc này, trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân, Mỹ - Diệm
không phân loại ấp chiến lược theo 3 loại như trước đây mà theo sự chia vùng an
ninh. Chúng“căn cứ trên sự hoàn bị hiện tại của các công sự phòng thủ, thái độ hiện
hữu cũng như sự hưởng ứng của nhân dân và đời sống xã hội kinh tế tốt đẹp hiện tại
của họ. Vì tất cả các điểm ấy đều là những yếu tố thiết yếu trong cuộc chiến tranh
71
chống phiến loạn này. Ấp chiến lược nào có đủ mấy tiêu chuẩn tối thiểu nhằm vào 3
mục tiêu trên cần được xếp vào các ấp chiến lược thuộc vùng A. Những ấp không
phòng thủ được, nhân dân có xu hướng theo Việt cộng cho xếp vào vùng C, còn kỳ dư
thì cho vào vùng B. Vùng D dành cho các vùng có căn cứ Việt cộng và cho dân chúng
bị lệ thuộc vào Việt cộng hoàn toàn” [68,tr.1].
Đến đầu năm 1964, khi Nguyễn Khánh lên nắm chính quyền, dù có nhiều cố
gắng trong việc lấy lòng dân bằng những buổi trò chuyện bên bếp lửa nhưng chương
trình ấp chiến lược vẫn hoàn toàn bế tắc.
Để tiếp tục thực hiện bình định dành dân, củng cố lại lực lượng, ngày 5/3/1964
Ủy ban bình định trung ương của chính quyền Sài Gòn đã gửi công điện cho các địa
phương yêu cầu xúc tiến mạnh mẽ chương trình ấp tân sinh với phương châm“duy trì
những ưu điểm của chương trình ấp chiến lược cũ với những sửa đổi cần thiết”
[66,tr.1].
Để phù hợp với chương trình bình định mới, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã
thay đổi cả hệ thống ấp chiến lược cũ. Ngày 9/3/1964 Nguyễn Khánh ký sắc lệnh giải
tán Ủy ban liên bộ đặc trách ấp chiến lược và Ủy ban đặc trách ấp chiến lược, khu
chiến thuật, thay tên gọi ấp chiến lược thành ấp tân sinh, lập Tổng nha Tân sinh nông
thôn làm công việc của Ban thường vụ ấp chiến lược cũ.
Để thực hiện kế hoạch trên, Mỹ tăng cường lực lượng cố vấn, yểm trợ từ
22.400 người (1963) lên 26.200 người (1964), trong đó có 10.400 cố vấn Mỹ, ngụy
quân tăng từ 417.000 người 1963 (với 206.000 chủ lực và 211.000 quân địa phương),
lên 561.000 người 1964 (với 267.000 chủ lực và 294.000 quân địa phương). Cùng với
việc tăng nhanh về quân số, trang bị kỹ thuật cũng được tăng cường cả về số lượng và
chất lượng: máy bay năm 1963 có 267 chiếc, sang năm 1964 tăng lên 989 chiếc, xe
cơ giới tăng từ 528 chiếc năm 1963 lên 732 chiếc năm 1964, pháo từ 248 khẩu (1963)
lên 415 khẩu (1964), pháo các loại từ 348 khẩu năm 1963 lên 700 khẩu năm 1964
[53,tr.130].
Như vậy, thực chất ấp tân sinh cũng chính là ấp chiến lược trước đây, nhưng
trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quân và dân ta, Mỹ và chính quyền Sài Gòn
đã phải hạ thấp những tiêu chuẩn, biện pháp và hình thức gom dân, chủ trương đóng
72
góp cũng như những thủ đoạn kiềm kẹp nhân dân. Hình thức ấp tân sinh là sự điều
chỉnh chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn nhằm thực hiện mục đích tiếp tục
theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược. Theo quan điểm của Hoa Kỳ (12/1963) đó
là“sự khác biệt giữa chế độ cũ và mới là sự hành động để diễn tả ý chí của chính phủ
trong việc thi hành chính sách ấp chiến lược có hiệu quả hơn trước. Dù muốn hay
không, thành hay bại, tự do hay nô lệ của Việt Nam cũng tùy thuộc nơi chính sách đã
thu hút đại đa số tài nguyên (nhânvậtlực) của đất nước” [12,tr.3].
Từ chỗ thực hiện bằng bất cứ giá nào để gom dân lập ấp chiến lược, đến chỗ
chú ý đến yếu tố đắc nhân tâm, hạn chế tối thiểu gom dân, từ chỗ tiến hành ào ạt càn
quét để lập ấp chiến lược, đến chỗ phải tiến hành dần dần theo vết dầu loang, từ tiêu
chuẩn đầu tiên của một ấp chiến lược là thanh toán Cộng sản nằm vùng đến tiêu
chuẩn đầu tiên của một ấp tân sinh chỉ là khám phá và thanh toán hạ tầng cơ sở của
Cộng sản, đã chứng tỏ rằng Mỹ và chính quyền sài Gòn đã thừa nhận sự thất bại,
chấp nhận một bước lùi chiến lược trong chính sách bình định.
***
Tóm lại, trong giai đoạn 1961 đến 1965, để hoàn thành kế hoạch bình định của
mình, Mỹ - Diệm đã tiến hành thiết lập hoạt động phòng thủ ở tất cả các ấp chiến
lược, quyết lập cho được 16.000 ấp chiến lược trên tổng số 17.000 ấp ở miền Nam,
gom đại bộ phận dân chúng vào ấp chiến lược.
Thực hiện mục tiêu trên, chúng thiết lập cơ cấu tổ chức nhân sự điều hành ấp
chiến lược, phân công phân nhiệm rõ ràng. Bên cạnh đó, còn tạo ra những tiêu chuẩn
chúng cho hợp lý, giúp dân chúng tin tưởng, qua đó phối hợp cùng thực hiện chống
lại đối phương.
Thông qua địa hình cụ thể từng vùng, chúng tổ chức địa thế phòng thủ bằng
cách lập rào chiến lược, tổ chức canh phòng, tạo những công sự tác chiến tinh vi
nhằm thu hút Cộng sản vào tiêu diệt.
Chiến thuật chúng dùng để phòng thủ đối phó với ta là du kích chiến, xem đây
là phương sách hữu hiệu để tiêu diệt đối phương. Bên cạnh đó, tranh thủ các lực
lượng thanh niên, thanh nữ, lão ông, lão bà tham gia vào hoạt động phòng thủ.
Tổ chức cho nhân dân hợp tác liên gia tương trợ trong công tác bố phòng và
73
tác chiến. Ra sức cảnh giác an ninh tại các ấp chiến lược đang xây dựng và đã hoàn
thành. Tranh thủ tối đa mạng lưới tình báo và phản tình báo để luôn luôn ở thế chủ
động đối với Cộng sản.
Ngoài ra, chúng còn thực hiện biện pháp phòng thủ chủ động bằng cách phục
kích đối phương ở ngoài ấp chiến lược, cùng với những phương tiện, những cạm bẫy
vô cùng nguy hiểm.
Với quyết tâm tiêu diệt bằng được Cộng sản, Mỹ đã tăng cường viện trợ về
nhân lực, vật lực, cùng với nhân dân, chúng đã xây dựng một hoạt động phòng thủ
mà chúng cho là vững chắc, hoàn mỹ trong mục tiêu chống Cộng của mình.
Bước đầu Mỹ - Diệm đã đạt được những kết quả tích cực, làm cho ta bị tiêu
hao một lực lượng lớn và lâm vào tình thế hết sức khó khăn. Tuy nhiên, càng về sau
hiệu quả của hoạt động phòng thủ càng giảm dần.
Trước tình hình đó Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã tiến hành đảo chính lật đổ
chế độ Ngô Đình Diệm hòng thay đổi tình hình; đồng thời đã tiến hành kiểm tra, cải
tổ, sửa chữa để tiếp tục mục tiêu chiến lược, nhưng cuối cùng thì đến năm 1965 bằng
sự thất bại của chiến lược chiến tranh đặc biệt biểu hiện ở việc các ấp chiến lược bị ta
phá gần hết, chứng tỏ rằng đến thời điểm này hoạt động phòng thủ không còn hiệu
74
quả - đã thất bại hoàn toàn.
CHƯƠNG 3: SỰ THẤT BẠI TRONG HOẠT ĐỘNG PHÒNG THỦ
CỦA HỆ THỐNG ẤP CHIẾN LƯỢC Ở MIỀN NAM VIỆT NAM
THỜI MỸ - DIỆM (1961-1965)
Trong chương này luận văn chủ yếu tập trung vào sự thất bại trong hoạt động
phòng thủ ấp chiến lược gắn liền với sự thất bại của hệ thống ấp chiến lược ở miền
Nam Việt Nam nói chung.
3.1. Kết quả bước đầu trong hoạt động phòng thủ ấp chiến lược của Mỹ -Diệm ở
miền Nam Việt Nam
3.1.1. Thống kê kết quả bước đầu trong hoạt động phòng thủ ấp chiến lược của
Mỹ -Diệm ở miền Nam Việt Nam
Theo báo cáo thống kê từ phía Việt Nam Cộng Hòa, thời gian đầu lập ấp chiến
lược và thực hiện phòng thủ, chúng đã thu được những kết quả tích cực, mà lực lượng
làm nên thành quả ấy chính là nhân dân trong ấp chiến lược: “Trong một tuần đầu
của tháng tám vừa qua, hơn 600 Việt cộng đã bị giết, còn phe chính phủ tổn thất
không tới 100 người. Trong số 600 Việt cộng bị giết ấy, hai phần ba không phải là do
quân đội chính quy hạ sát mà bị giết bởi chính những dân quê được vũ trang theo
chương tình lập ấp chiến lược” [33, tr.13].
Ngày 19 tháng 8 năm 1962, Nguyễn Khánh - thiếu tướng quân ngụy nói qua
đài Sài Gòn: “Quốc sách ấp chiến lược là một cuộc cách mạng quân sự giúp ta nắm
yếu tố nhân dân, buộc địch không thu lợi được trong một cuộc chiến tranh không có
trận tuyến mà phải chấp nhận thế chiến của ta”[53, tr.58].
Báo Dân Việt của Việt Nam Cộng Hòa (1/10/1962) nêu “Từ trước đến nay, vì
ảnh hưởng của chính quy chiến, nên quân đội hoạt động cách xa nhân dân, cho tới
thời gian gần đây, tuy đã chuyển dần qua phần du kích, nhưng ta chỉ mới khai thác
một phần khả năng của nhân dân mà thôi... Ngày nay, trong chủ nghĩa chiến tranh
mới, ta chủ trương chuyển qua du kích chiến và điều kiện tiên quyết là tạo lập một hạ
75
tầng cơ sở du kích, trục xuất địch ra khỏi nhân dân” [53, tr.58].
Trong thông điệp ngày 1 tháng 10 năm 1962, Diệm một lần nữa nhấn mạnh giá
trị quân sự của ấp chiến lược: “Tổ chức mới của ấp chiến lược buộc Cộng sản phải
nhìn nhận chiến tranh trong chiến tuyến đó là các phần tử địa phương đã chuẩn bị và
điều khiển cuộc phản công một cách thuận lợi và hữu hiệu. Các phần tử địa phương
trước kia là phần phụ, nay đóng vai trò chính và các đơn vị chính quy trước kia phải
trực tiếp bảo vệ làng mạc, nay chỉ phụ trách tiếp viện, rảnh tay để tấn công chủ lực
Cộng sản. Như thế, bị kìm kẹp giữa sự phản công mạnh mẽ của quân đội và hoạt
động du kích của ấp chiến lược, Cộng phỉ bị dồn vào thế phản du kích mà chúng
không tiên liệu”, “Lùa Cộng sản vào rừng sống cô độc, thiếu thốn và đói khác sẽ bị
diệt trừ” [53, tr.58].
Ngô Đình Nhu - chủ tịch Ủy ban bình định trung ương ngụy quyền tuyên bố
“đã lập được 7.205 ấp chiến lược với 7 triệu dân, đẩy Việt cộng vào tình trạng như
cá đã tách khỏi nước [53, tr.106].
Khi Mỹ - Diệm tiến hành lập ấp chiến lược và thực hiện hoạt động phòng thủ
đã chia Miền Nam Việt Nam thành 3 khu vực ưu tiên A, B, C. Theo đó, Mỹ - Diệm
ưu tiên khu vực A lập ấp chiến lược và thực hiện hoạt động phòng thủ trước, biểu
hiện ở việc xây dựng được nhiều ấp chiến lược kiểu mẫu. Nhưng chúng tôi chọn dẫn
chứng ấp chiến lược Bu-sre ở Đắk Lắk – nơi thuộc loại ưu tiên loại C, cũng không
phải là ấp chiến lược kiểu mẫu nhằm giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể về hoạt động
phòng thủ của Mỹ - Diệm ở tất cả các ấp chiến lược chứ không phải chỉ từ những ấp
chiến lược kiểu mẫu.
Thống kê sau đây về ấp chiến lược Bu - Sre tính đến ngày 30/5/1963 cho thấy
tính quy củ, chặt chẽ của hoạt động phòng thủ ở ấp chiến lược của Mỹ - Diệm
Bảng 3.1: Thống kê về công tác phòng thủ tác chiến ở Bu - sre
STT Liệt kê công tác Thực hiện
1 Rào vòng đai 2.600m
2 Rào gia đình 3.000m
3 Chông tre 18.000
4 Hầm cất giấu tài sản 21
76
5 Hầm trú ẩn gia đình 21
6 Hầm bí mật cán bộ 18
7 Hầm bí mật ban trị sự 3
8 Hầm chông chìm 200
9 Đường giao liên 2
10 Trạm gác 2
11 Cổng kiểm soát ra vào 2
12 Đường rào dây kẽm 2.600m
Bảng 3.2: Thống kê về kế hoạch báo động và giao liên ở Bu - Sre
Stt Kế hoạch báo động và giao liên
1 Còi hiệu 4
2 Trống 1
3 Hỏa châu 10
4 Trống mỏ 21
5 Máy truyền tin 1
6 Đuốc 20
7 Liên lạc viên 6
8 Đường liên lạc bí mật 2
Bảng 3.3: Thống kê lực lượng phòng thủ và trang bị ở Bu – Sre
Stt Lực lượng phòng thủ và trang bị
1 Thanh niên chiến đấu 30
2 Nhân dân vũ trang 30
3 Tổ đặc công 3 tổ
4 Biệt kích 2 tiểu đội
(Theo Việt Nam Cộng Hòa: Báo cáo tổng kết hoạt động phòng thủ của ấp
chiến lược Bu – Sre tính đến ngày 30/5/1963) [100, tr.4].
Qua bảng thống kê trên cho thấy công tác phòng thủ ấp chiến lược được chúng
tiến hành khá hoàn thiện, xây dựng được hệ thống nổi và hệ thống chìm trong ấp
77
chiến lược, có hệ thống tình báo, giao liên và cả lực lượng phòng thủ chiến đấu. Vì
thế, trong giai đoạn đầu lập ấp chiến lược Mỹ - Diệm đã thu được những thắng lợi
nhất định.
Luận án tiến sĩ Phong trào đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở miền Đông
Nam Bộ (1961-1965) của tác giả Huỳnh Thị Liêm đã viết: “Trong thời gian đầu Mỹ -
Diệm triển khai chương trình lập ấp chiến lược, lực lượng cách mạng miền Nam
chưa nhận thức đúng mức độ nguy hiểm của chính sách càn quét gom dân, lập ấp
chiến lược, nên chưa tích cực chống phá. Đến khi thấy rõ hậu quả của ấp chiến lược,
chưa tìm ra được biện pháp đúng để đánh trả. Lực lượng vũ trang không đủ sức đánh
bại các chiến thuật mới của chúng. Ở những vùng Mỹ - Diệm lập được ấp chiến lược,
cán bộ, bộ đội và du kích của ta gặp khó khăn vì thiếu nguồn tiếp tế lương thực, thiếu
sự che chở và cơ sở liên lạc của nhân dân. Nhiều ấp chiến lược lấn sâu vào căn cứ.
Thu mua và tiếp tế lương thực gặp khó khăn khiến Khu ủy và Bộ Tư Lệnh Khu 7 lâm
vào cảnh thiếu đói gay gắt. Nhiều căn cứ và lõm du kích bị cô lập, hành lang liên lạc
huyện, liên xã bị cắt, lực lượng cách mạng hoạt động trong điều kiện hết sức khó
khăn”[53, tr.63].
Theo TS. Trần Thị Thu Hương - trong cuốn Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh
chống phá quốc sách ấp chiến lược của Mỹ - ngụy ở miền Nam Việt Nam 1961 –
1965 viết: “Trong nửa năm đầu 1962, hơn 36.200 người hy sinh, bị thương và bị bắt,
nhiều ấp chiến lược Cộng sản đã lập cơ sở cách mạng đều bị Mỹ - Diệm đánh bật ra,
số ấp giải phóng bị thu hẹp lại” [38, tr.9].
Luận án tiến sĩ Phong trào đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở miền Đông
Nam Bộ (1961-1965) của tác giả Huỳnh Thị Liêm đã viết: “Tháng 5 năm 1963, hàng
loạt ấp chiến lược được xây dựng ở miền Đông Nam Bộ như các trại tập trung khổng
lồ có đê cao, hào sâu cắm chông, có cổng ra vào để gai, gài mìn, lựu đạn, có tháp
canh, đồn bót kiên cố, có cổng ra vào kiểm soát giờ giất, giấy tờ và mọi hoạt động
của người dân”[53, tr.106]. Tuy nhiên càng về sau khả năng phong thủ ở ấp chiến
lược càng giảm dần.
Theo Bộ quốc phòng, Viện lịch sử quân sự Việt Nam trong cuốn Lịch sử kháng
chiến chống Mỹ, Cứu nước 1954 - 1975 thống kê: số ấp chiến lược gom được lúc cao
78
nhất trong tháng 6 năm 1963 là 7.512 ấp, cuối năm 1963 tụt xuống 4.672 ấp, cuối
năm 1964 chỉ còn 3.300 ấp, tháng 6 năm 1965 chỉ còn 2.200 ấp. Phần lớn số ấp
không đủ tiêu chuẩn đề ra (chỉ có độ 5% đạt tiêu chuẩn). Số đồn bót cũng thu hẹp lại
từ 4.000 cuối năm 1963, còn 3.000 cuối năm 1964 và chỉ còn 2.900 đồn vào tháng 6
năm 1965. Theo tài liệu Việt Nam Cộng Hòa xác nhận, 67% đất đã chịu ảnh hưởng
của cách mạng, 22 tỉnh trên 43 tỉnh do cách mạng kiểm soát từ 50% trở lên. Số dân
do chúng kiểm soát trong tháng 8 năm 1963 là chín triệu, nhưng đến tháng 6 năm
1965 chỉ còn lại 5,3 triệu [18, tr.89].
Theo báo cáo tình hình miền Nam từ cuối 1961 đến đầu năm 1964 của Trung
ương cục miền Nam nêu “Tính chung trong 2 năm 1962, 1963 binh sĩ chính quyền
Sài Gòn đã rã ngũ đến 99.200 tên, mang nộp 1.643 súng các loại, năm 1962 rã ngũ
nhiều hơn 1961 là 10.000 tên, năm 1963 nhiều hơn 1962 là 45.000 tên, số súng Cộng
sản lấy được do binh biến, nội ứng là 4.147 khẩu, riêng năm 1963 là 3.047 khẩu”
[86, tr.23].
Ngoài ra, một số nhà báo nước ngoài đã thống kê như sau:
Phóng viên Lambert của báo Thông tin diễn đàn New York ngày 14 tháng 8
năm 1962, viết: “Hàng ngàn ấp chiến lược đang được thành lập khắp nơi trên lãnh
thổ Việt Nam Cộng Hòa, đẩy bọn khủng bố Việt cộng vào tình trạng thiếu lương thực,
thiếu binh lực, thiếu tình báo - nói tóm lại, thiếu hậu thuẫn của nhân dân và dần dần
bắt buộc chúng phải đổi chiến thuật vũ trang” [53, tr.58].
Nhưng đến năm 1965, theo Bernard Fall - nhà báo Mỹ có mặt ở Việt Nam từ
năm 1953 đến 1967 trong cuốn Việt Nam - những suy nghĩ cuối cùng về một cuộc
chiến tranhthừa nhận:“đến năm 1965 chương trình lập ấp chiến lược đã hoàn toàn bị
thất bại, ông cho rằng trong 8.500 ấp chiến lược Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã lập
được, thì đã bị phá chỉ còn 1.400 ấp chiến lược”[38, tr.193].
Như vậy, Mỹ - Diệm không đạt được kết quả như mục tiêu đã đề ra. Từ cuối
năm 1962 kế hoạch của Mỹ - Diệm là phải lập cho được 7.000 ấp chiến lược, nhưng
chỉ lập được 4.080 ấp chiến lược với 3 triệu dân.
Dự định đến tháng 9 năm 1963 là hoàn thành giai đoạn chiến lược hóa và kiện
toàn ấp chiến lược, mục tiêu cụ thể là phải kiện toàn 11.287 ấp chiến lược trên toàn
79
miền Nam để chuyển sang giai đoạn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhưng trên
thực tế số ấp chiến lược được lập cao nhất (theoThompson là 8.095, tháng 8 - 1963,
theo Trung ương cục Miền Nam là 7.515 ấp chiến lược).
Quá trình tiến triển công tác xây dựng ấp chiến lược đến trước ngày
31/10/1963 được phía Việt Nam Cộng Hòa thống kê như sau:
Bảng 3.4: Thống kê về tình hình tiến triển xây dựng ấp chiến lược
Số ấp chiến lược
Số dân
Dự
Được
Hoàn
Đang
Sẽ làm Tổng cộng
Đã vào
Trong
Trong
trù
chấp
thành
làm
ACL hoàn
ACL đang
vùng
thuận
thành
làm
địch
k/soát
11.864
11.055
8.873
1.362
1.364
14.237.293
10.639.212
1.612.116
1.028.251
(Theo Việt Nam Cộng Hòa: Báo cáo tình hình tiến triển công tác ấp chiến lược
đến trước tháng 31/10/1963) [70, tr.1].
Tuy nhiên, chúng nhận định “Phần lớn số ấp chiến lược đã hoàn thành chỉ có
hình thức, thiếu nội dung. Mặc khác, trước tháng 8/1962, dân chúng đóng góp của
công quá mức nên khả năng phòng thủ của nhiều ấp chiến lược chưa cao” [70, tr.1].
3.1.2. Tình hình an ninh trong các ấp chiến lược
Tình hình an ninh ấp chiến lược từ tháng 9/1962 đến 31/10/1963 hpía Việt
Nam Cộng Hòa thống kê như sau:
Bảng 3.5: Thống kê về tình hình hoạt động ở các ấp chiến lược
Stt
Hoạt động của Việt Nam Cộng Hòa Hoạt động của Việt Cộng phá ấp chiến
lược
1
- Truy kích địch
2.118 lần
- Tấn cộng ACL
1.110 lần.
2
- Phục kích ngoài ACL
6.503 lần
- Đột nhập ACL
1.141 lần.
3
- Quấy phá ACL
1.407 lần.
Thiệt hại
Thiệt hại
4
- Chết
724 người
- Chết
6.701 người
5
- Bị thương
2.852 người
- Bị thương
2.659 người
6
- Bị bắt
1.887 người
- Bị bắt
1.143 người
7
- Đào ngũ
17 người
80
Bảng 3.6: Thống kê về số lượng vũ khí được trang bị
Stt
Vũ Khí
Việt Nam Cộng Hòa
Việt Cộng
1
Đại liên
5
4
2
Trung liên
49
70
3
Tiểu liên
268
130
4
Súng cối
4
5
Súng trường
2.063
1.046
6
Carbine
411
103
7
Súng lục
99
138
8
Lựu đạn
1.077
2.205
9
Truyền tin
12
2
Tổng cộng
3.984
3.702
(Theo Việt Nam Cộng Hòa: Báo cáo tình hình an ninh tại các ấp chiến lược từ
tháng 9/1962 đến 31/10/1963) [8, tr.3].
Như vậy, qua báo cáo thống kê tình hình an ninh các ấp chiến lược từ tháng
9/1962 đến 31/10/1963 của Việt Nam Cộng Hòa cho thấy số lượng người bị thương
và bị bắt phía Việt Nam Cộng Hòa nhiều hơn so với của ta. Số lần tấn công, quấy
phá, đột nhập của ta vào ấp chiến lược ngày càng tăng lên mạnh mẽ, số lượng vũ khí
trang bị phía Việt Nam Cộng Hòa có nhiều phương tiện ít hơn so với ta và đến lúc
này phía Việt nam Cộng Hòa có lực lượng đào ngũ, điều này chứng tỏ nhân dân ngày
càng mất lòng tin vào ấp chiến lược. Hoạt động phòng thủ ấp chiến lược của Mỹ -
Diệm không còn đủ mạnh để chống lại ta. Đồng thời chứng minh lực lượng cách
mạng miền Nam đã thích nghi, đã lớn mạnh có khả năng đánh bại hoàn toàn kế hoạch
phòng thủ ấp chiến lược của Mỹ - Diệm.
Cuối năm 1964, Mc Namara - Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã phải thừa nhận:
“Trong số đất đai của 22 tỉnh trong số 43 tỉnh, Việt cộng kiểm soát tới hơn 50% hoặc
nhiều hơn thế, bao gồm 80% ở Phước Tuy, 90% ở Bình Dương, 75% ở Hậu Nghĩa,
90% ở Kiến Tường, 90% ở Định tường, 90% ở Kiến Hòa và 85% ở An Xuyên” [82,
tr.253].
Tình hình an ninh tại các ấp tân sinh từ 1/1/1964 đến 10/1/1964 được phía Việt
81
Nam Cộng Hòa thống kê như sau:
Bảng 3.7: Thống kê tình hình an ninh tại các ấp tân sinh
Stt Hoạt động của Việt Nam Cộng Hòa Hoạt động của Việt Cộng phá Ấp tân
sinh
1
Phục kích địch
6 lần
Tấn cộng ATS
14 lần
2
Truy kích địch
17 lần
Đột nhập ATS
64 lần
3
Tuần tiểu
13 lần
Quấy phá ATS
16 lần
4
Phục kích ATS
7 lần
Thiệt hại
Thiệt hại
5
Chết
51 người
Chết
41 người
6
Bị thương
63 người
Bị thương
13 người
7
Bị bắt
117 người
Bị bắt
2 người
8
Đào ngũ
30 người
Đào ngũ
0 người
9
15
Vũ khí (súng)
148
Vũ khí (súng)
( Theo Việt Nam Cộng Hòa: Báo cáo tổng kết tình hình an ninh tại các ấp tân
sinh từ 1/1/1964 đến 10/1/1964) [84, tr.4-5].
Riêng tại tỉnh Ba Xuyên trong thời gian này đã xảy ra 8 vụ tấn công, 9 vụ đột
nhập, 2 vụ Cộng sản quấy phá ấp tân sinh. Thái độ của dân chúng muốn ra khỏi ấp có
2,5%, tiêu cực cầu an lên đến 50,77%, tích cực chống Cộng chỉ còn lại 49,23% [65,
tr.2].
Qua tổng kết tình hình an ninh những tháng đầu năm 1964 cho thấy: số lầnViệt
Nam Cộng Hòa bị ta tấn công, đột nhập, quấy phá, phục kích vào ấp tân sinh ngày
càng nhiều, còn phía Việt Nam Cộng Hòa số lần tuần tiểu, phục kích và truy kích ta
giảm rất nhiều so với trước đây. Tỉ lệ người bị thương, bị bắt và đào ngũ phía Việt
Nam Cộng Hoà ngày càng tăng so với trước.
Chỉ tính riêng ở tỉnh Ba Xuyên đã xảy ra nhiều vụ tấn công đột nhập quấy phá
của ta vào ấp tân sinh, làm dân chúng hoang mang muốn rời ấp về nơi cũ, số người
cầu an lên đến hơn một nữa (50,77%), số người tích cực chống Cộng ngày càng ít đi.
Những biểu hiện trên cho thấy, dù Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã tiến hành cải tổ,
sửa chữa, thay đổi ấp chiến lược thành ấp tân sinh hòng thay đổi tình hình để tiếp tục
mục tiêu chiến lược nhưng không mạng lại hiệu quả mà còn bị tổn thất nặng nề và rơi
82
vào bế tắc.
3.2. Khả năng chống cộng của các ấp chiến lược
Từ tập tài liệuKhả năng và tiêu chuẩn chống Cộng của các ấp chiến lược của
Việt Nam Cộng Hòa được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II chúng tôi
thấy,trước tình hình hoạt động phòng thủ tại các ấp chiến lược ngày càng giảm, khả
năng chống Cộng của ấp chiến lược càng đi xuống. Mỹ và chính quyền Sài Gòn đãcó
những thống kê, nhận định về vấn đề này cho từng nơi như sau:
Ở Cao Nguyên, Mỹ và chính quyền Sài Gòn cho rằngsố “lượng ấp chiến lược
được báo cáo hoàn thành đạt 60% cả về quânsựvụ (công sự phòng thủ, lực lượng
thanh niên chiến đấu...). Trên thực tế, ngoài một số ấp chiến lược được xây cất vững
chắc và đồng bào Thượng có tinh thần chống Cộng, phần lớn các ấp chỉ có hình
thức, chỉ có một vòng rào kiên cố với một số hầm hố tác chiến, chưa tổ chức nhân
dân, chưa vũ trang đầy đủ cho thanh niên chiến đấu.
Cao Nguyên đất rộng, địa thế hiểm trở, đồng bào Thượng thưa thớt, sống du
mục nên cần gom dân, vì vậy vấn đề canh tác và yểm trợ an ninh cho các ấp chiến
lược là vấn đề chính yếu khó khăn nhất trong công tác lập ấp. Kết quả về phương
diện này chưa được khả quan vì thiếu cán bộ Thượng vận.
Tại Komtum tinh thần chống Cộng của đồng bào Thượng Sédang rất cao,
nhưng về phía Pleiku, Đarlac tinh thần đồng bào Thượng thuộc các bộ lạc khác có vẻ
lưng chừng.
Một số ấp chiến lược nằm rải rác tại những địa điểm hẻo lánh, không có
đường giao thông, không có phương tiện truyền tin đã trở thành mục tiêu tốt cho
Cộng sản tấn công, lực lượng tiếp viện không thể kịp thời can thiệp.
Trở ngại lớn nhất là vấn đề thiếu cán bộ biết tiếng Thượng, công tác vận dụng
quần chúng, tổ chức đội ngũ nhân dân chưa đạt được kết quả đáng kể. Do đó, Cộng
sản đã cho cán bộ móc nối với thanh niên chiến đấu Thượng để tổ chức đào ngũ và
cướp súng.
Một số ấp chiến lược được lực lượng đặc biệt của Hoa Kỳ vũ trang súng quá
nhiều tạo thành mục tiêu cho Cộng sản tấn công, gây tổn thất quá nhiều về vũ khí.
Công tác phát triển kinh tế chưa được tiến hành quy mô, đồng bào Thượng vẫn
83
cần được sự trợ giúp dụng cụ và thực phẩm” [48, tr.1-2].
Ở Duyên Hải, số lượng ấp chiến lược “báo cáo thực hiện xong với tỉ lệ 75% về
quânsựvụ và dânsựvụ. Ở đây, số ấp chiến lược thực hiện quá gấp rút, chỉ chú trọng
đến việc thiết lập các công sự phòng thủ nên đòi hỏi nhân dân đóng góp quá nhiều về
nhân vật lực, gây than oán mất tác dụng tâm lý, nhất là những nơi dân chúng nghèo.
Có nơi lập những hàng rào bằng tre, cây dài 40, 50 cây số chạy dọc theo đường, bao
hết cả địa phận của một quận.
Việc kiểm tra thanh lọc thi hành chậm chạp, tuy nhiên tại nhiều tỉnh tinh thần
chống Cộng của dân chúng khá cao (Quảng Ngãi, Khánh hòa...). Việc tổ chức đoàn
ngũ nhân dân tại các khu vực Duyên Hải tương đối khả quan, riêng tại khu vực cận
sơn áp lực của Cộng sản có phần nặng nề, tinh thần dân chúng còn thiên Cộng nên
nội dung các ấp chiến lược tại đây chưa được vững chắc.
Mặt khác, thanh niên chiến đấu không được huấn luyện vũ trang kịp đà tiến
triển của các ấp chiến lược, nên việc bảo vệ ấp chiến lược gặp nhiều trở ngại. Tại
nhiều ấp chiến lược, thanh niên chiến đấu tuy được huấn luyện và vũ trang nhưng
thường chưa đủ khả năng chiến đấu, chưa biết đánh du kích. Hệ thống hầm bí mật,
địa đạo để tránh né, đánh du kích và cất giấu vũ khí chưa thực hiện được nên khó
bảo toàn lực lượng trước những cuộc tấn công của Cộng sản. Nội tuyến vẫn còn rải
rác trong hàng ngũ thanh niên chiến đấu.
Vấn đề dời nhà thực hiện máy móc, dời nhà hàng loạt quá xa những điểm canh
tác. Mặc khác, kế hoạch giúp đỡ đồng bào phát triển kinh tế để nâng cao mức sống
tuy đã dự trù tại cấp trung ương cũng như tại địa phương nhưng vẫn chưa áp dụng
kịp đà tiến triển của các ấp chiến lược, khiến dân chúng hao công tốn của khi làm ấp
chiến lược, sống gò bó, tuy có an ninh hơn, nhưng quá nghèo túng, sinh bất mãn, dễ
nghe Cộng sản tuyên truyền. Sau ngày 1/11/1963 dân chúng tại một số ấp tại Quảng
Ngãi đã tự động bỏ các ấp chiến lược để đi nơi khác” [48, tr.2-3].
Một điểm cần lưu ý nữa là nạn cường hào ác bá, thối nát trong hàng ngũ cán bộ
và ban trị sự ấp, đó là lí do thất nhân tâm trong công tác lập ấp chiến lược.
Nói chung, tại Duyên Hải chương trình ấp chiến lược được tiến triển mau nhờ
những chiến dịch dài hạn, sự đóng góp của dân chúng nhưng chưa đạt đến mức yếu tố
84
nhân tâm cần thiết cho sự thành công của chính sách ấp chiến lược.
Còn ởMiền Đông Nam Phần,“số ấp chiến lược tại đây theo báo cáo, đã đạt
được 50% tỉ lệ về dânsựvụ và quânsựvụ.
Ngoài những ấp chiến lược thiết lập tương đối dễ dàng tại vùng A (quanh tỉnh
lỵ, quận và dọc theo các trục giao thông lớn), phần lớn số ấp chiến lược tại ven vùng
A, vùng B, vùng C đều khó xây dựng về phần nội dung vì dân chúng đã sống quá lâu
dưới sự tuyên truyền và cưỡng bách của Cộng sản (Bình Dương, Phước Thành...) có
những ấp chưa thể tin tưởng ở thanh niên chiến đấu, chỉ trông chờ vào dân vệ được
tuyển từ nơi khác đến để bảo vệ an ninh. Những toán dân vụ này tinh thần cũng bị
dao động, co rút vì thiếu sự ủng hộ của dân chúng (rất nhiều là thân nhân của những
phần tử thoát ly hoặc tập kết theo Cộng sản). Do đó, vấn đề giám hộ quân sự trở nên
nặng nề, các lực lượng dân vệ, bảo an, quân đội chính quy bị cầm chân quá lâu tại
ấp chiến lược. Sự tổ chức thanh niên chiến đấu tại vài nơi vì lý do trên mà tiến triển
rất chậm, hay xảy ra nội tuyến”[48, tr.4].
“Để ngăn chặn hữu hiệu sự tiếp tế về nhânvậtlực của Cộng sản từ ngoài vào
các chiến khu D và Dương Minh Châu, giải pháp gom dân lập ấp tại vùng B, C là rất
cần thiết và có hiệu nghiệm, tuy nhiên nhiều nơi đòi hỏi những phương tiện của khu
chiến thuật, sự tăng cường cán bộ từ trung ương mà nhân số về lượng không đủ để
đáp ứng yêu cầu. Khả năng ngăn chặn tiếp tế của Cộng sản tại các ấp chiến lược
hiện chưa đạt được những kết quả khả quan” [48, tr.4].
Đặc biệt,“tại những nơi đồn điền cao su thu hút nhiều nhân công, việc lập ấp
chiến lược không gặp khó khăn vì dân chúng đã sống tập trung thành làng trong
phạm vi đồn điền, nhưng vấn đề thanh lọc và tổ chức đoàn ngũ nhân dân vẫn gặp
những trở ngại lớn lao vì phần nhiều các đồn điền kể trên công nhân đã bị Cộng sản
móc nối từ lâu hoặc có liên hệ với gia đình Cộng sản” [48, tr.5].
“Một số ấp chiến lược trước đây được thiết lập tại các khu vực liên tỉnh Bình
Dương - Tây Ninh, Biên Hòa - Bình Dương - Phước Thành, trong khuôn khổ chiến
dịch quy mô của khu chiến thuật, đã tạo nên thế vạc chân, chia cắt và cô lập các mật
khu của Cộng sản, tuy nhiên về nội dung những ấp chiến lược cần được củng cố vững
chắc hơn về phương diện thanh lọc, tổ chức đoàn ngũ nhân dân cũng như về lực
85
lượng thanh niên chiến đấu” [48, tr.5].
Ở giữa Miền Đông và Miền Tây Nam Phần (Hậu Nghĩa, Long An, Kiến
Tường, Kiến Phong, Định Tường, bắc An Giang), chính quyền Mỹ - Diệm tổng kết:
“Chương trình ấp chiến lược tại đây đạt 50% về dân sự vụ và quân sự vụ. Việc
lập ấp được tiến hành chậm, chưa đạt được kết quả như mong muốn, thiếu sự phối
hợp giữa kế hoạch quân sự và kế hoạch ấp chiến lược.
Cán bộ cấp tỉnh và quận chưa thông hiểu chính sách ấp chiến lược, thi hành
mệnh lệnh một cách máy móc, làm thất nhân tâm trong vấn đề dời nhà, lập công sự
phòng thủ trên đất ruộng tư không bồi hoàn xứng đáng, hoặc cưỡng bách công tác
trong lúc dân đang làm mùa.
Nội dung các ấp chiến lược hãy còn lỏng lẻo, chưa tổ chức được đoàn
ngũ nhân dân, chưa thanh lọc, huấn luyện vũ trang đúng mức cho thanh niên chiến
đấu.Riêng công sự phòng thủ ở phần lớn ấp chiến lược trở thành vô hiệu, bị hư hại
trong những nơi ngập nước. Cần nghiên cứu lại vấn đề phòng thủ tại các ấp chiến
lược cho phù hợp với địa thế nơi này,[48, tr.5-6].
Ở Tây Nam Phần, tài liệu lưu trữ của Việt Nam Cộng Hòa cho thấy:
“Chương trình ấp chiến lược kém so với miền Cao Nguyên và Trung Nguyên.
Kết quả chung về quân sự vụ và dân sự vụ được báo cáo trên dưới 10% (Chương
Thiện, An Xuyên) và 60% (An Giang, Vĩnh Bình...). Trên thực tế, tỉ lệ này còn bị giảm
bớt nhiều xuyên qua các cuộc tấn công ấp chiến lược mỗi ngày mỗi gia tăng tại đây,
giá trị thực sự các ấp chiến lược (trừ một số ít ấp chiến lược tương đối tốt tại vài tỉnh
như Ba Xuyên, An Giang...), có thể ước lượng không trên 10% về phần quân sự vụ và
dân sự vụ. Riêng tại 2 tỉnh Chương Thiện và An Xuyên chương trình ấp chiến lược
thường xuyên không thể tiến triển được vì áp lực của Cộng sản gia tăng quá mạnh,
dân chúng có tinh thần cầu an, lưng chừng hoặc thiên Cộng.Thanh niên chiến đấu
chưa được huấn luyện, vũ trang đúng mức.[48, tr.7].
Tóm lại, khả năng chống Cộng của các ấp chiến lược thay đổi tùy theo giá trị
hiện thực với tỉ lệ đánh giá về phần nội dung ước lượng như sau:
Ở Cao Nguyên: 30% (thay vì 60%)
Ở Duyên Hải: 60% (thay vì 75%)
86
Ở Đông Nam Phần: 40% (thay vì 50%)
Ở Khu vực giữa Miền Đông và Miền Tây: 10% (thay vì 50%)
Ở Tây Nam phần: 10% (thay vì 60%)
Trong thời gian này, Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng thừa nhận“Việt cộng đã
gia tăng đánh phá ấp chiến lược nhất là ở tây nam phần, tinh thần cán bộ tại địa
phương và dân chúng trong ấp chiến lược cũng như hàng ngũ thanh niên chiến đấu
bị giao động nên việc bố phòng và cung cấp ấp chiến lược tại nhiều nơi bị bê trễ, tại
một vài nơi dân chúng đòi ra khỏi ấp chiến lược (Long An, Định Tường, Bình Dương,
Quảng Ngãi...) về sinh sống tại các địa điểm cũ. Một phần công sự phòng thủ tại các
ấp chiến lược bị dân chúng phá hủy” [48, tr.8].
Từ nhận thức trên, sau ngày 1/11/1963 chúng duyệt lại toàn bộ lề lối thi hành
công tác ấp chiến lược để phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân và theo
đúng chủ trương mới. Chúng cho rằng vấn đề then chốt vẫn là vấn đề cán bộ vì nếu
chính sách hay nhưng cán bộ thi hành lệch lạc thì sự thành công không được hoàn
toàn bảo đảm.
Ngoài ra, chúng cũng quan niệm một tổ chức phối hợp từ cấp cao nhất, từ
trung ương xuống tới địa phương để thống nhất sự thi hành công tác trong mọi phạm
vi mới bảo đảm cho sự thành công.
Từ những nhận xét đánh giá trên chúng đề ra tiêu chuẩn chống Cộng của ấp
chiến lược trong giai đoạn mới. Dưới đây là tài liệu lưu trữ của chính quyền Việt
Nam Cộng Hòa phản ánh nội dung hoạt động phòng thủ giai đoạn mới:
Trên thực tế, một ấp chiến lược không thể coi là đã hoàn thành khi an ninh
chưa được củng cố bồi dưỡng thường xuyên và vấn đề phát triển kinh tế xã hội, văn
hóa chưa được chú trọng.Cần mở rộng dần dần theo đà tiến của ấp chiến lược trong
mọi phạm vi.
“Cần ấn định những tiêu chuẩn để đánh giá khả năng chống Cộng của các ấp
chiến lược tùy theo từng giai đoạn lập ấp chiến lược như sau:
- Giai đoạn 1 tiến hành lập ấp chiến lược
+Tiêu chuẩn 1 là tiêu chuẩn về An ninh được Mỹ và chính quyền Sài Gòn đặc
87
biệt chú trọng, trong đó việc xây dựng hệ thống phòng thủ là hết sức cần thiết.
Việc thực hiện tiêu chuẩn 1 được tiến hành bằng cáchphân loại, thanh lọc và
tổ chức đoàn ngũ nhân dân, phân công trong việc bố phòng, truyền tin, tổ chức tình
báo, tổ chức thanh niên chiến đấu (chọn lựa, huấn luyện, vũ trang).
+Tiêu chuẩn 2 đây là tiêu chuẩn về Dân sự vụ. Với những công việc phải làm
là bầu ban trị sự, thiết lập các tiện nghi chống Cộng.
- Giai đoạn 2 là giai đoạn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội...
+Tiêu chuẩn 3 tập trung vàoSản xuất
Mỹ và chính quyền Sài Gòn yêu cầu phải kiểm tra tài nguyên, đặt kế hoạch
tăng năng xuất, phát triển canh tác, ngư nghiệp, chăn nuôi, tiểu công nghệ..., để nâng
cao mức sống của dân trong ấp chiến lược.
Lập kế hoạch công tác giúp khuếch trương sản xuất (đường, cầu, kênh, đập
cống, giếng nước...).
Tạo điều kiện thuận tiện mua bán (hiệp hội nông dân, hợp tác xã) máy cày,
máy bom nước, máy làm gạch, máy ép dầu, máy làm bột sắn.
Kiến thiết ấp (làm nhà đẹp...).
Trong giai đoạn mới cần đặt nặng trọng tâm vào việc thực hiện đúng mức
những tiêu chuẩn một và hai kể trên. Cán bộ địa phương cần thông suốt đường lối để
tạo cho các ấp có những tiêu chuẩn có giá trị thực sự. Có kế hoạch đào tạo cán bộ và
một tổ chức thanh tra hữu hiệu để đảm bảo cho sự thành công của chương trình mới
về ấp chiến lược” [48, tr.7-9].
Tuy nhiên, dù đã hết sức cố gắng nhưng toàn bộ kế hoạch của Mỹ - Diệm dày
công chuẩn bị và xây dựng hết sức chu đáo ngay từ đầu để tiêu diệt Cộng sản, đến
năm 1965 hoàn toàn bị thất bại.
Năm 1963 chính tướng lĩnh Sài Gòn đã phải thừa nhận: “...nói thanh toán
Cộng sản chắc chắn không có” [8].
Theo Bernard Fall - nhà báo Mỹ có mặt tại Việt Nam từ 1953-1967 trong cuốn
Việt Nam - những suy nghĩ cuối cùng về cuộc chiến tranh thừa nhận đến năm 1965,
chương trình ấp chiến lược đã hoàn toàn thất bại, ông cho rằng trong 8.500 ấp chiến
lược mà Mỹ - ngụy đã lập được, thì đã bị phá sản chỉ còn 1.400 ấp chiến lược mà thôi
88
[64,tr.30].
3.3. Nguyên nhân thất bại trong hoạt động phòng thủ ấp chiến lược của Mỹ -
Diệm 1961 - 1965
Qua nghiên cứu, bước đầu luận văn rút ra được những nguyên nhân sau đây
dẫn đến sự thất bại trong hoạt động phòng thủ ấp chiến lược của Mỹ - Diệm ở miền
Nam Việt Nam 1961 - 1965
- Nguyên nhân thứ nhất là: Các địa phương khi thực hiện phòng thủ ấp chiến
lược nặng về nguyên tắc trung ương mà thiếu linh động, gập khuôn, máy móc, chưa
xem xét kĩ tình hình thực tế của địa phương. Đồng thời, công tác thi hành hoạt động
phòng thủ ấp chiến lược đã phạm những sai lầm căn bản:
+ Cán bộ thừa hành thiếu khả năng và thiện chí. Phần lớn cán bộ thực thi quốc
sách không được chọn lọc kĩ càng trong lúc cần thiết phải có cán bộ ưu tú, có khả
năng, đức độ để tranh thủ quần chúng nông thôn.
+ Chính quyền địa phương không được hướng dẫn phương thức thực hiện để
chấp hành chủ trương xây dựng ấp chiến lược đồng loạt và toàn diện, nên đã gây
nhiều bất mãn đối với dân chúng.
+ Khi chấp hành chính sách, địa phương không dựa theo một kế hoạch ưu tiên
hợp lý nên không bám sát tình hình mỗi nơi. Không được hướng dẫn về chiến lược
nên không đặt định kế hoạch cục bộ phù hợp với kế hoạch toàn bộ, do đó việc thi
hành bị vá víu không mang lại kết quả thực tiễn.
+ Việc gom dân, quy dân lập ấp đã được thi hành một cách máy móc, bất chấp
quyền lợi của dân chúng, đã gây nhiều trở ngại cho họ trong việc sinh kế hằng ngày.
Bắt dân đóng góp quá mức khả năng của họ, gây cơ hội thối nát cho cán bộ, làm dân
oán ghét chính quyền.
+ Việc thực thi dân chủ chỉ có hình thức, giả tạo, dân trong ấp không được
tham gia thật sự chọn người đại diện ấp, không được trực tiếp thảo luận về mọi công
ích trong ấp vốn liên hệ tới họ [84, tr.43].
- Nguyên nhân thứ 2 là: Quá trình thực hiện chưa đúng với chủ trương kế
hoạch đề ra, khi thi hành lại thi hành vội vả. Chủ trương kế hoạch dù rõ ràng, tuy
nhiên người chỉ đạo thực hiện và người thực hiện chưa làm đúng với chủ trương kế
89
hoạch, dẫn đến sai lệch về mục tiêu lập ấp chiến lược, từ đó xảy ra tình trạng dân
không ủng hộ, ngược lại còn oán giận, tạo điều kiện cho ta tuyên truyền lôi kéo nhân
dân theo cách mạng.
Cụ thể: “Ở Duyên Hải, số số ấp chiến lược thực hiện quá gấp rút, chỉ chú
trọng đến việc thiết lập các công sự phòng thủ nên đòi hỏi nhân dân đóng góp quá
nhiều về nhân vật lực, gây than oán mất tác dụng tâm lý, nhất là những nơi dân
chúng nghèo. Có nơi lập những hàng rào bằng tre, cây dài 40, 50 cây số chạy dọc
theo đường, bao hết cả địa phận của một quận” [48, tr.3].
Kế hoạch lập ấp chiến lược đề ra trong thời gian quá ngắn, số lượng lại nhiều,
nên nặng về hình thức. Các địa phương chỉ chú trọng về con số ấp chiến lược thực
hiện hơn mục tiêu của chính sách là tranh thủ “nhân dân”. Thiếu kế hoạch củng cố,
nuôi dưỡng các ấp đã hoàn thành. Nên các ấp chiến lược chưa hoàn thành đúng theo
tiêu chuẩn, mặt khác vì nhiều ấp chiến lược nên lực lượng phòng thủ quá mỏng, dàn
trải dễ bị ta tấn công.
Trong hoạt động lập ấp chiến lược buộc đồng bào phải dời nhà vào ấp, sống xa
nơi canh tác của họ. Lúc đầu họ đóng góp quá nhiều, nhất là các công sự phòng thủ
ấp. Trong khi chính quyền địa phương không quan tâm tới sự cưỡng bách lao động,
đất đai bị chiếm làm công sự phòng thủ, việc dời nhà không được bồi hoàn hợp lí.
Cưỡng bách dân đi ra các trục giao thông, nhân dân sẽ xa dần chính phủ vì họ
bỏ hết ruộng nương để tới lập nghiệp ở một nơi thiếu nguồn sinh sống, tạo điều kiện
cho ta dùng những ruộng trên để sản xuất tự túc.
Chính từ việc bỏ những vùng hiểm yếu cho ta đã tạo cơ sở để ta sử dụng làm
căn cứ xuất phát. Cácthiếu sót về tiêu chuẩn sản xuất khiến đồng bào dời cư bị thiệt
hại nhiều, lại còn phải tốn rất nhiều công sức khai thác đất đai tại vùng đất mới lạ.
Người Việt ở Nam bộ Việt Nam bao đời sống gắn liền với quê cha đất tổ, gắn
mối quan hệ láng giềng, tình chòm xóm, đã ăn sâu vào trái tim, khối óc của mỗi
người, buộc họ rời bỏ làng quê, mảnh đất “chôn nhau cắt rốn” là điều không thể.Vì lẽ
đó, ý thức bảo vệ ấp chiến lược của người dân không cao đừng nói gì đến việc họ là
người giữ vai trò phòng thủ, họ luôn mong đợi được trở về khi điều kiện có thể.
- Nguyên nhân thứ ba là: Sự huấn luyện thanh niên chiến đấu quá gấp rút.
90
Thanh niên cầm súng chiến đấu giết giặc mà không được miễn quân dịch, còn phải
sinh hoạt tự túc, trợ cấp tiền bạc không có. Mặt khác, thanh niên chiến đấu đi hành
quân mệt nhọc, mất thời gian, bỏ công ăn việc làm, thậm chí phải rời bỏ thôn xóm
của họ. Một lực lượng như vậy lấy tinh thần đâu mà tổ chức phòng thủ.
- Nguyên nhân tư là: Tình hình chính trị nội bộ sau 1/11/1963 gây bất lợi cho
Mỹ và chính quyền Sài Gòn, làm tâm lý quần chúng hoang man, mất tín nhiệm với
chính quyền Sài Gòn và ngày càng xa rời chính quyền. Chính vì vậy không tạo được
thế chiến nhân dân mạnh mẽ để đương đầu với lực lượng cách mạng.
- Nguyên nhân thứ năm là: Báo cáo công tác thực hiện ấp chiến lược cũng như
hoạt động phòng thủ chưa trung thực so với thực tế. Vì thế Mỹ - Diệm không thấy
được những sai lầm trong quá trình thực hiện, nên không kịp thời sửa chữa, dẫn đến
tình trạng càng lún sâu không còn khả năng cải thiện. Cụ thể là theo Việt Nam Cộng
Hòa - phiếu trình Thủ tướng chính phủ năm 1963, sau khi Thủ tướng chính phủ Sài
Gòn – Nguyễn Ngọc Thơ chỉ thị cho các tướng lĩnh đi kiểm tra các ấp chiến lược các
tỉnh trưởng đã trình lên chính phủ “Tỉ lệ số ấp chiến lược có giá trị rất kém nhất là
tại Kiên Giang chỉ còn 37/197 ấp chiến lược, nhưng trước kia không dám trình báo
sự thật” [69].
- Nguyên nhân thứ sáu là: Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh chính trị, đấu
tranh vũ trang, công tác binh vận. Cộng sản đã tấn công, quấy phá liên tục, dai dẳng
góp phần làm cho binh lính chính quyền Sài Gòn hoang mang, bạc nhược, rã ngũ. Mc
Namara đã cho rằng đây là một trong những nguyên nhân làm thất bại kế hoạch lập
ấp chiến lược vì “Quân đội chính quyền Nam Việt Nam thì mệt mỏi, thụ động, có xu
hướng thỏa hiệp và chậm chạp trong việc thực hiện kế hoạch bình định” [76, tr.266].
Qua hơn bốn năm thực hiện kế hoạch (1961-1965) đế quốc Mỹ và tay sai đã
tiến hành cuộc chiến tranh đặc biệt, với những cuộc phản kích ác liệt, với những biện
pháp tàn bạo, để chống lại cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân miền Nam. Trong
đó, quốc sách ấp chiến lược được Mỹ và chính quyền Sài Gòn coi là một bộ phận
quan trọng, quyết định sự thành bại của chiến lược chiến tranh đó.
Tuy nhiên, khi thực hiện, hiệu quả càng lúc càng đi xuống, ngược lại với mọng
đợi của chúng. Đặc biệt, là sau cuộc đảo chính (1/11/1963) phong trào chống phá ấp
91
chiến lược càng sôi nỗi mạnh mẽ, nhiều nơi quần chúng còn tự nổi dậy phá ấp chiến
lược với nhiều hình thức công khai hợp pháp. Sang năm 1964, dù có thay đổi với tên
gọi mới, với biện pháp thủ đoạn mới để thực hiện quốc sách bình định nhưng cuối
cùng vẫn chịu thất bại. Chính Thompson - tác giả của quốc sách này đã phải thừa
nhận: “cuối cùng, năm 1964 đã mất đi một số lượng dân chúng nông thôn vào tay
Việt cộng và cuối năm 1964 các làng xã đã bắt đầu bao quanh thành thị” [38,tr.196].
Cuối cùng chính phía Mỹ cũng phải thừa nhận: “Chương trình này là một
nghiên cứu về phép loại suy không đúng chỗ. Việc cấp 7 triệu thẻ căn cước đã tỏ ra
là một biện pháp chưa đủ để chống thâm nhập, chương trình ấp chiến lược không
hoàn thành mục tiêu chiến thắng cuộc chiến tranh ngay tại vùng nông thôn. Bởi
không những không biến Việt cộng thành những băng cướp đói rách ngoài vòng pháp
luật, ngược lại vùng giải phóng được mở rộng thêm, hậu phương của chính quyền Sài
Gòn bị thu hẹp và Việt cộng chiếm được quá nhiều đến nỗi một lần nữa chúng ta lại
đứng trước nguy cơ nước này bị cắt làm đôi bởi một mũi dùi của Việt cộng thọc sâu
ra đến tận biển” [83,tr.157].
Kết cục người Mỹ đã thừa nhận một thực tế: “Việt Nam là một di sản bi thảm
nhất của chiến lược toàn cầu trong kỷ nguyên của Kennedy” [35,tr.97]. Nhận xét về
cuộc chiến tranh Việt Nam trong thời kì này, tiến sĩ Colin Gray - người phụ trách ban
nghiên cứu chiến lược thuộc viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Canada đã viết:
“Cuộc chiến tranh Việt Nam là một thí nghiệm thất bại của chiến lược “phản ứng
linh hoạt” [22,tr.130].
Chính sách ấp chiến lược là sự thử nghiệm cuộc chiến tranh Chống nổi dậy của
đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam, là sản phẩm trí tuệ của nhiều chuyên gia hàng
đầu của thế lực phản cách mạng trên thế giới và khi áp dụng vào Việt Nam được
chính quyền Sài Gòn nâng lên thành quốc sách. Vì vậy, khi các kế hoạch lập ấp chiến
lược lần lược thất bại, dẫn đến sự phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt, người Mỹ
phải tìm nguyên nhânlàm sao những vị đầu hói ấy, những trí tuệ thiên tài ấy của ê kíp
Kennedy, Mc Geoge Bundy, Mc Namara..., lại có thể mắc sai lầm? [64,tr.40]. Không
chỉ có người Mỹ mà ngay cả trung tướng Trần Thiện Khiêm - ủy viên quân sự Hội
92
đồng quân nhân cách mạng của chính quyền Sài Gòn thời kỳ đó cũng tự hỏi: “Tại
sao khi làm ấp chiến lược, mình tung tiền giúp đỡ dân chúng nhiều mà họ không theo
mình” [87,tr.4].
Chính Robert Thompson –“kiến trúc sư” của chương trình ấp chiến lược ở Việt
Nam - đã rút ra nguyên nhân thất bại, ngoài việc cho rằng chính quyền Sài Gòn đã
nóng vội trong việc lập ấp chiến lược, cũng đã phải thừa nhận một nguyên nhân quan
trọng là“Sự phản ứng của Việt cộng ngày càng tích cực đối với chương trình này.
Ngay trong năm đầu Việt cộng đã tiến hành các việc sau:
- Một là tuyên truyền việc chống ấp chiến lược gọi là khu tập trung
- Hai là cho nhân dân thâm nhập vào ấp chiến lược
- Ba là duy trì những ổ, những hầm bí mật
- Bốn là bảo tồn lực lượng chính quy, rất ít có hoạt động quân sự quan trọng,
nhưng từ tháng 7/1963 Việt cộng bắt đầu đánh vào ấp chiến lược” [38,tr.218].
- Nguyên nhân thứ bảy là: Chính quyền Sài Gòn thực hiện công tác tuyên
truyền rất dữ dội nhung không có cơ sở đạo lý thuyết phục. Theo Gigon - một học giả
phương Tây, năm 1965 đã viết“..., trong những điều kiện đó, người nông dân được
tuyên truyền giác ngộ về học thuyết, được rèn luyện và ném vào cuộc chiến đấu với tư
cách là một người chiến sĩ cách mạng”, đó chính là “Việt cộng đã tranh thủ được
mặt tâm hồn” còn với các binh sĩ Sài Gòn do “thiếu niềm tin vào một sự nghiệp cao
cả nên không thể chống lại được Việt cộng” [64,tr.115].
- Nguyên nhân thứ tám là: Mỹ - Diệm chưa đáp ứng đúng đắn, kịp thời và phù
hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Chính tờ báo Diễn đàn Anh6/3/1964 đã
bình luận“Việt cộng đã thắng lợi vì họ mang lại cho nông dân những cái mà họ mọng
muốn, nhất là ruộng đất...Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã có
chương trình rõ ràng để giải quyết vấn đề ruộng đất ở miền Nam, đã và đang thực
hiện chương trình đó bằng cách đem hàng triệu hécta ruộng đất chia cho nông dân ở
các vùng giải phóng” [38,tr.245-246].
- Nguyên nhân thứ chín là: Áp dụng máy móc gập khuôn Chương trình bình
định ở Malaysia vào Việt Nam.
Điều đó đã góp phần lý giải vì sao chương trình bình định của đế quốc Mỹ
thành công ở Malaysia, Philipin nhưng bị thất bại ở Việt Nam. “Hoàn toàn khác với
93
Việt Nam, ở Malaysia, người Anh có ưu thế hai mươi trên một về quân đội và cảnh
sát so với quân du kích mà quân số chưa bao giờ vượt quá 10.000 người, kể cả những
cán bộ dân sự, chỉ chiếm phần nhỏ so với lực lượng vũ trang và dân vệ của Việt
cộng. Người Anh còn có một thuận lợi nữa là mâu thuẫn chủng tộc của đa số người
Mã Lai đối với người Trung Hoa” [57,tr.336]. Đây là nhận xét của trung tướng
Robert York - người đã từng được chỉ định làm quan sát viên của quân đội Hoa Kỳ
theo dõi chiến dịch của thực dân Anh đàn áp cuộc nổi loạn của du kích thiểu số người
Hoa ở Malaysia. Năm 1963, Ông sang Việt Nam lãnh đạo nhóm Chuyên môn thí
nghiệm vũ khí và chiến thuật của Bộ Quốc phòng Mỹ đặt tại miền Nam Việt Nam.
Còn ở Việt Nam tuy là một quốc gia đa dân tộc, nhưng luôn có truyền thống đoàn
kết, yêu nước bất khuất. Vì thế việc áp dụng một cách máy móc mô hình này dẫn đến
thất bại là một vấn đề không thể tránh khỏi.
***
Tóm lại, hoạt động phòng thủ mà Mỹ - Diệm cất công xây dựng từ những năm
1961 đến năm 1965 ở miền Nam Việt Nam, trong giai đoạn đầu đã có những kết quả
tích cực, làm cho ta bị tiêu hao một lực lượng lớn và lâm vào tình thế hết sức khó
khăn.
Nhưng từ ngày 1 tháng 11 năm 1963 trở về sau hiệu quả của hoạt động phòng
thủ giảm dần. Theo Bernard Fall - nhà báo Mỹ có mặt ở Việt Nam từ năm 1953 đến
1967 trong cuốn Việt Nam - những suy nghĩ cuối cùng về một cuộc chiến tranh
đãthừa nhận: “đến năm 1965 chương trình lập ấp chiến lược đã hoàn toàn bị thất
bại, ông cho rằng trong 8.500 ấp chiến lược Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã lập được,
thì đã bị phá chỉ còn 1.400 ấp chiến lược” [38,tr.193].
Nhìn lại chặn đường đã đi qua, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã có nhiều nhận
định về khả năng chống Cộng sản trong kế hoạch phòng thủ của mình ở tất cả các
vùng lập ấp chiến lược.
Chúng thấy rằng nhiều ấp chiến lược đã không hoàn thành như kế hoạch đã
nêu, nhưng không báo cáo sự thật. Một số cán bộ thối nát, thực hiện không đúng làm
nhân dân bất mãn, số khác khi hoàn thành công tác phòng thủ lại lơ là khiến ta có
điều kiện tấn công..., từ đó chúng đề ra tiêu chuẩn chống Cộng trong giai đoạn mới,
thi hành nhiều biện pháp nhằm cứu vãn tình hình. Tuy nhiên, hoạt động phòng thủ
94
càng về sau càng đi xuống đến mức không thể cứu vãn được.
Có rất nhiều nhận định từ những người trong cuộc, từ các giới chính trị quân sự
về nguyên nhân thất bại này, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là do Mỹ và
chính quyền Sài Gòn không được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:Dân giúp ít thì thắng lợi ít, giúp nhiều thì thắng lợi
nhiều, giúp hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn, và “trong trận chiến này Việt cộng đã
tranh thủ được mặt tâm hồncòn với các binh sĩ Sài Gòn do thiếu niềm tin vào một sự
nghiệp cao cả nên không thể chống lại được Việt cộng dù chúng có hẳn một kế hoạch
95
hoạt động phòng thủ ở ấp chiến lược”[64, tr.115].
KẾT LUẬN
1. Chiến lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam là muốn biến nơi đây thành thuộc
địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ để tiến công miền Bắc và hệ thống xã hội chủ
nghĩa, làm “con đê” ngăn chặn chủ nghĩa xã hội, không cho phong trào cách mạng
tràng xuống vùng Đông Nam Á.
Miền Nam Việt Nam là nơi có phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ, nhất
là năm 1960, khi Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và không
ngừng phát triển. Trước tình hình đó, Mỹ đã đề ra chiến lược chiến tranh đặc biệt
chống lại phong trào cách mạng ở miền Nam Việt Nam.
Trong chiến lược này, giải pháp Mỹ - Diệm đặt ra là thực hiện cho được quốc
sách ấp chiến lược, coi đó là quốc sách hàng đầu. Đó vừa là mục tiêu cơ bản, là biện
pháp chiến lược, vừa là kế sách trước mắt và lâu dài để giành thắng lợi trong chiến
tranh ở Việt Nam.
Để tiến hành lập ấp chiến lược, chúng tuyên truyền xây dựng ấp chiến lược là
giải phóng toàn diện con người, là nhằm nâng cao đời sống nhân dân về mọi mặt,
chúng cho rằng ấp chiến lược là kiểu mẫu của một nền văn minh mới nhằm cải tạo xã
hội, đồng tiến cộng đồng.
Ấp chiến lược ra đời từ những năm 40 và 50 khi đế quốc Mỹ và Anh đã áp
dụng chống quân nổi loạn ở Philipin và Malaysia.
Ở Malaysia, tháng 4 năm 1950 trung tướng người Anh là Harold Briggs được
cử làm tổng tư lệnh phụ trách chiến dịch bài trừ Cộng sản. Kế hoạch Griggs gồm hai
nội dung chính, trong đó nội dung thứ nhất được coi là chính sách thiết lập những
khu làng mới nhằm cắt đứt mối quan hệ giữa nhân dân với Cộng sản. Theo kế hoạch
này, thực dân Anh thiết lập những khu làng mới, bao bọc bằng dây thép gai, do
những đội cảch sát đặc nhiệm bảo vệ ngày đêm. Nội dung thứ hai là thực hiện chế độ
kiểm soát gắt gao nguồn lương thực, nhằm cắt đứt nguồn cung cấp lương thực cho
những người Cộng sản.
Mỹ - Diệm đã kế thừa chính sách này và đưa vào miền Nam Việt Nam dưới
96
dạng chính sách bình định mới mang tên ấp chiến lược.
2. Miền Nam Việt Nam là nơi lực lượng cách mạng hoạt động mạnh mẽ, nên
trong tiến trình lập ấp chiến lược, Mỹ - Diệm đã rất chú trọng đến hoạt động phòng
thủ của hệ thống ấp chiến lược. Xem đây là ý nghĩa quyết định trong kế hoạch diệt
trừ Cộng sản ở miền Nam Việt Nam.
Nhận thức được vai trò quan trọng đó, ngay từ khi lập ấp chiến lược, Mỹ -
Diệm đã thiết lập cơ cấu tổ chức ấp chiến lược, tổ chức và sử dụng các lực lượng
chống Cộng ngay trong ấp chiến lược, thành lập Ban chỉ huy chiến đấu. Các tổ chức
này được sắp xếp và huấn luyện kĩ càng.
Dựa vào địa hình cụ thể của từng ấp, chúng đã tổ chức những hệ thống phòng
thủ tinh vi trên mặt đất, dưới mặt đất cùng với những cạm bẫy vô cùng nguy hiểm
nhằm tiêu diệt cho được lực lượng cách mạng ở miền Nam.
Trong kế hoạch phòng thủ của mình, chúng thi hành nhiều biện pháp khác
nhau như tuyên truyền dụ dỗ, mua chuộc để thu phục lòng tin từ nhân dân bằng cách
tạo ra những tiêu chuẩn an ninh mà chúng cho là hợp lí. Đồng thời, tiến hành rào từng
ấp chiến lược, tạo những công sự bố phòng trong ấp chiến lược, tổ chức các lực
lượng thanh niên, thanh nữ tham gia chống Cộng. Cho nhân dân tổ chức liên gia để
thuận tiện trong việc bố phòng, tác chiến khi có hữu sự xảy ra.
Mỹ - Diệm đã thiết lập công sự phòng thủ ở tất cả các ấp chiến lược, tổ chức
tập dợt các biện pháp tiêu diệt Cộng sản, bố trí một số lượng lớn quân, các đơn vị
thiện chiến, cùng các binh chủng hiện đại, tăng cường viện trợ giúp chính quyền Sài
Gòn có đầy đủ nhân, vật lực.
Từ năm 1961 đến năm 1965, Mỹ - Diệm đã tiến hành gom dân lập ấp chiến
lược, tích cực tận dụng mọi khả năng để tổ chức hoạt động phòng thủ tại các ấp chiến
lược, nhằm bảo vệ ấp chiến lược đã được xây dựng và mở rộng quy mô, tạo điều kiện
để tấn công tiêu diệt Cộng sản.
Thời gian đầu Mỹ - Diệm tiến hành lập ấp chiến lược, bố trí công sự phòng thủ
chặt chẽ, làm cho lực lượng cách mạng miền Nam bị tổn thất nghiêm trọng. Tuy
nhiên, càng về sau, do sự chủ quan lơ là đặt biệt là sự tha hóa của các cán bộ thừa
97
hành làm cho hoạt động phòng thủ không còn như trước nữa, nhân dân mất lòng tin
vào quốc sách ấp chiến lược do đó ta đã có điều kiện để thực hiện kế hoạch chống,
phá ấp chiến lược một cách hiệu quả.
Đặt biệt, sau ngày 1/11/1963 dù Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã cố gắng thay
đổi, cải tổ, nhằm khắc phục khó khăn, tiếp tục sự nghiệp tiêu diệt Cộng sản, nhưng
cuối cùng đến năm 1965 chương trình lập ấp chiến lược đã bị thất bại hoàn toàn.
3. Từ thực tiễn hoạt động phòng thủ của hệ thống ấp chiến lược ở miền Nam
Việt Nam thời Mỹ - Diệm trong những năm 1961-1965, có thể rút ra những bài học
kinh nghiệm trên quan điểm phương pháp luận sử học Mác xít đó là nghiên cứu lịch
sử cuối cùng nhằm để rút ra bài học kinh nghiệm và bài học lịch sử. Mặt khác, ở một
góc độ nào đó sự thất bại của địch chính là thể hiện lập trường nhất định thắng lợi của
ta. Nghiên cứu các hoạt động phong thủ của đối phương là cách nhìn đa chiều giúp
cho sự thật lịch sử trở nên khách quan và trung thực hơn.
Bước đầu có thể rút ra những bài học kinh nghiệm sau:
Một là: Trước mọi việc cần theo dõi thật chặt chẽ, nắm bắt thật kĩ tình hình để
có bước đi và cách làm thích hợp.
Trong hoạt động phòng thủ này Mỹ - Diệm tin tưởng tuyệt đối vào cấp dưới,
chưa theo dõi chặt chẽ tiến trình thực hiện hoạt động phòng thủ ở tất cả các ấp chiến
lược, nên nắm bắt chưa kịp thời sự thay đổi từng ngày tình hình tiến triển, khi tình
hình đã thay đổi quá lớn không có khả năng ứng phó. Trong khi đó,ngay từ đầu ta đã
có sự theo dõi tình hình, tìm cách khắc phục dần dần và thích nghi với sự thay đổi đó.
Hai là: Đối với từng địa phương cần có biện pháp cụ thể, thích hợp, mới đạt
được kết quả thiết thực.
Kế hoạch thực hiện hoạt động phòng thủ của Mỹ - Diệm được các địa phương
tiến hành rập khuôn ở tất cả các nơi, đều theo cùng tiêu chuẩn quy định, trong khi đó
địa thế vùng núi, đồng bằng và vùng ngập nước ở miền Tây Nam Bộ là rất khác nhau.
Đặc biệt, trong vấn đề xây dựng hố, hầm và hào tác chiến.
Thêm vào đó Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc đều có những
phong tục, tập quán, nếp sống riêng. Vì thế, cần phải chọn cán bộ thừa hành ở từng
nơi cho thích hợp.
98
Ba là: Biết dự đoán trước, dự đoán đúng tình hình để có sự chuẩn bị.
Trong hoạt động này, ta đã dự đoán được trước tình hình nên đã có sự chuẩn bị
chặt chẽ, nên dù thời gian đầu gặp rất nhiều khó khăn, cuối cùng ta vẫn dành được
thắng lợi.
Bốn là: Phải tranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân, gắn bó chặt chẽ với quần
chúng nhân dân.
Đây là bài học quan trọng nhất, cần thiết nhất và có giá trị trong mọi thời đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Dân giúp ít thì thắng lợi ít, giúp nhiều thì thắng lợi
nhiều, giúp hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn. Thật vậy, trong mọi thời đại nếu được
sự đồng thuận, ủng hộ của toàn thể nhân dân trên tinh thần đoàn kết một lòng thì khó
vạn lần dân liệu cũng xong. Trong trận chiến này, chính vì Cộng sản đã tranh thủ
được nhân dân, được sự đồng thuận ủng hộ của nhân dân, cùng nhân dân thực hiện
nên dành thắng lợi vẻ vang, chính quyền Sài Gòn chưa làm được đều đó.
Năm là: Chống tư tưởng chủ quan, nóng vội
Mỹ - Diệm đã chủ quan nhận định sai lầm khi cho rằng có thể áp dụng kế
hoạch chống nổi dậy ở Malaysia vào Việt Nam, nôn nóng trong việc đề ra kế hoạch
lập cho được 16.000 ấp chiến lược, khẳng định với kế hoạch phòng thủ mà chúng cho
là vững chắc có thể nhanh chống tiêu diệt được Cộng sản.
Trong khi Cộng sản nhận thấy mình đang đứng trước những khó khăn thách
99
thức lớn đã tìm cách khắc phục dầndần và thích nghi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Áp dụng thế kiềm kẹp trong việc phát triển ấp chiến lược, Việt Nam Cộng
Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6324].
2. Ấp chiến lược-Phòng thủ-Tổ chức địa thế, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung
tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6326].
3. Ấp chiến lược phòng thủ - Bài 1: Vị trí vai trò ấp chiến lược trong vấn đề
thanh toán giặc Cộng sản, Việt Nam Cộng Hòa (1962), Trung tâm Lưu trữ
quốc gia II[KHTL 6131].
4. Ấp chiến đấu,Việt Nam Cộng Hòa (1961),Trung tâm Lưu trữ quốc gia
II[KHTL 5963].
Hồ Quý Ba - Nam Hùng (1962),Quốc sách ấp chiến lược của Mỹ - Diệm, 5.
Nxb Quân đội nhân dân.
6. Bản tóm lược tài liệu căn bản về chương trình ấp tân sinh, Việt Nam Cộng
Hòa (1964), Trung tâm lưu trữ quốc gia II[KHTL 130].
7. Biện pháp đối phó với các gia đình có con em theo Việt cộng, Việt Nam Cộng
Hòa (1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6324].
8. Biên bản phiên họp ấp chiến lược tại phòng họp Tổng bộ tham mưu quân đội
Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia
II[KHTL 63].
9. Báo cáo kết quả công tác xây dựng ấp tân sinh, Việt Nam Cộng Hòa (1964),
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 130].
10. Bản đối chiếu về đường lối xây dựng ấp tân sinh, Việt Nam Cộng Hòa (1964),
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 130].
11. Ban chỉ đạo nghiên cứu biên soạn lịch sử biên niên Trung ươngcục miền Nam
(1999), dự thảo biên niên Xứ ủy Nam Bộ Trung ương cục miền Nam, Tập 1
(1954-1964), Hà Nội.
12. Bản tóm lược quan điểm của Hoa Kỳ và phái bộ Briam về chính sách ấp
chiến lược. Việt Nam Cộng Hòa (1963),Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
[KHTL 64].
13. Bảo vệ vùng lân cận ấp chiến lược, ngày 16/1/1963, Việt Nam Cộng Hòa
100
(1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6326].
14. Biên bản về phiên họp Ủy ban liên bộ đặc trách ấp chiến lược tại dinh Gia
Long, ngày 4/1/1963, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc
gia II[KHTL 63].
15. Báo cáo tình hình tổng kết công tác ấp chiến lược tại các địa điểm đến
31/7/1963, Việt Nam Cộng Hòa (1963),Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL
6319].
16. Bài thuyết trình về ấp chiến lược trong buổi họp với ông Tổng Trưởng Bộ
quốc phòng Mc. Namara, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung Tâm Lưu trữ
quốc gia II[KHTL 63].
17. Biên bản số 19 Ủy ban liên bộ đặc trách ấp chiến lược tại dinh Gia Long,
ngày 31/8/1962, Việt Nam Cộng Hòa (1962), Lưu trữ quốc gia II[KHTL
6131].
18. Bộ Quốc Phòng, Viện lịch sử quân sự ViệtNam (1997),Lịch sử kháng chiến
chống Mỹ, Cứu nước (1954-1975), Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Căn cứ Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền trong chiến tranh chống Mỹ (1954-
1975), (1996), Quân đội nhân dân-Sở văn hóa thông tin Sông Bé.
20. Cuộc cách mạng nhân vị tại xã thôn của chính thể Việt Nam Cộng Hòa-Ấp
chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1962),Trung tâm Lưu trữ quốc gia
II[KHTL 6131].
21. Chấn chỉnh tổ chức phòng thủ ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1963),
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6326].
Chiến thắng Điện Biên Phủ-sức mạnh dân tộc và tầm vóc của thời đại 22.
(1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
23. Cuộc nói chuyện thân mật với cán bộ ấp chiến lược của ông cố vấn chính trị
Ngô Đình Nhu, ngày 17/4/1963, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu
trữ quốc gia II[KHTL 6324].
24. Cảnh giác an ninh tại các ấp chiến lược, 28/3/1963, Việt Nam Cộng Hòa
(1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6326].
25. Cạm bẫy có thể áp dụng tại các ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1963),
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6326].
26. Chỉ thị của ông cố vấn về ấp chiến lược 19/3/1962, Việt Nam Cộng Hòa
101
(1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.
Các phương tiện sử dụng trong hoạt động phòng thủ ấp chiến lược, Việt 27.
Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6326].
28. Công văn của Bộ trưởng Bộ nội vụ về việc kỉ niệm ngày đầy năm quốc sách
ấp chiến lược, ngày 9/4/1963, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu
trữ quốc gia II[KHTL 6339].
29. Cuộc cách mạng toàn diện của quốc sách ấp chiến lược (GS. Vũ Quốc Thúc)
và cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng y tế, cơ sở giáo dục ở ấp chiến lược, Việt
Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6339].
30. Công điện của phủ Thủ tướng Chính phủ Sài Gòn, ngày 11/11/1963, Việt
Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 63].
31. Du kích, phản du kích và ấp chiến lược tại Việt Nam, Việt Nam Cộng Hòa
(1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6131].
32. Đường lối mới về ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm
Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6324].
33. Định rõ vị trí chính sách của ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1963),
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6340].
Phạm Văn Đồng (1986), Vì sao Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh xâm 34.
lược Việt Nam, Sự thật, Hà Nội.
G C Herring (1998), Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, (Lê 35.
Phương Thuý dịch), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Nguyễn Hà (1963), Ấp chiến lược trại tập trung trá hình của Mỹ - Diệm, 36.
Nxb Phổ Thông.
37. Hình tầm ảnh hưởng của mìn gây thương tích, Việt Nam Cộng Hòa (1963),
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6326].
38. TS. Trần Thị Thu Hương (2003), Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá
“Quốc sách” ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy ở miền Nam Việt Nam (1961-
1965), Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2002), Lịch sử 39.
biên niên Nam Bộ trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, (1954-
102
1975), Tập 1 (1954-1964), Thành phố Hồ Chí Minh.
40. Hiệu triệu của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa nhân ngày 17/4 kỉ niệm Đệ
nhất chu niên quốc sách ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung
tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6324].
41. Hào tác chiến, ngày 17/11/1963, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm
Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6326].
42. Huấn thị về việc tổ chức và điều hành các cơ quan chấp hành quốc sách ấp
chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia
II[KHTL 2969].
43. Yếu tố chỉ huy trong sự thành bại của quốc sách ấp chiến lược, ngày
10/7/1962, Việt Nam Cộng Hòa (1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia
II[KHTL 6340].
44. Ý kiến của đại diện MAAG và USOM về chương trình ấp chiến lược, ngày
18/12/1963, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia
II[KHTL 63].
45. Kế hoạch bình định miền Tây Nam Việt, số 165, Việt Nam Cộng Hòa (1965),
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 226].
46. Kế hoạch phát huy tinh thần liên đới ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa
(1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6128].
47. Kế hoạch và âm mưu của Việt cộng phá hoại ấp chiến lược, ngày 11/9/1962,
Việt Nam Cộng Hòa (1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6326].
48. Khả năng và tiêu chuẩn chống cộng của các ấp chiến lược, ngày
17/12/1963, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia
II[KHTL 6340].
49. Kiện toàn tổ chức thanh niên chiến đấu các ấp chiến lược, ngày 5/12/1963,
Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 63].
50. Kế hoạch xây dựng ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm
Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6324].
Nguyễn Kim Lân (1996),Học thuyết và chiến lược quân sự của Mỹ 50 năm 51.
qua (1946-1996),Tạp chí Cộng Sản số 19.
52. Quang Lợi (1963),cuộc “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam
103
Việt Nam, Tạp chí Học Tập.
53. Huỳnh Thị Liêm (2006), Phong trào đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở
miền Đông Nam Bộ (1961-1965), Luận án tiến sĩ lịch sử, Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn.
54. Lãnh đạo quần chúng trong công tác xây dựng ấp chiến lược (1963), Việt
Nam Cộng Hòa,Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6324].
55. Lí luận căn bản về ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1962), Trung tâm
Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6131].
Duy Nghĩa (1962), Ấp chiến lược, trại tập trung dân và cứ điểm quân sự 56.
của Mỹ-Diệm ở miền Nam Việt Nam, Tạp chí Học Tập số 1.
N Sheehan (1990), Sự lừa dối hào nhoáng, tập 1, Thành Phố Hồ Chí Minh. 57.
N Sheehan(1990), Sự lừa dối hào nhoáng, tập 2, Thành Phố Hồ Chí Minh. 58.
59. Nguyên tắc thiết lập hệ thống dây truyền ấp chiến lược, ngày 23/8/1962,
Việt Nam Cộng Hòa (1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6129].
60. Nguyên tắc và chương trình ấp chiến lược trong tương lai, tháng 12/1963,
Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 63].
61. Nhận định về ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ
quốc gia II[KHTL 65].
62. Nguyên tắc và chương trình ấp chiến lược trong tương lai, Việt Nam Cộng
Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6324].
63. Nhận xét tổng quát về quốc sách ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1963),
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 64].
Phương Tây viết về cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, (1997), 64.
Phòng thông tin-tư liệu Viện khoa học quân sự, số 1.
65. Phiếu trình về tình hình xây dựng ấp tân sinh Tỉnh Ba Xuyên, Việt Nam
Cộng Hòa (1964), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 131].
66. Phụ bản 3: Bản tóm lược quan điểm của Hoa Kỳ (USOM và MAAG) và phái
bộ BRIAM về chính sách ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung
tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 64].
67. Phiếu trình Thủ Tướng Chánh phủ: Tóm lược dẫn giải về chương trình xây
104
dựng ấp tân sinh, Việt Nam Cộng Hòa(1964),Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.
68. Phiếu trình Thủ tướng Chánh phủ: ý kiến của đại diện MAAG và USOM về
chương trình ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ
quốc gia II.
Phiếu trình Thủ tướng Chánh phủ,Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm 69.
Lưu trữ quốc gia II.
70. Phiếu trình về chính sách ấp chiến lược, ngày 15/11/1963, Việt Nam Cộng
Hòa, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 63].
71. Phổ biến kinh nghiệm công tác bảo vệ ấp chiến lược và ấp chiến đấu, ngày
4/2/1963, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL
6326].
72. Phiếu trình Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa về ấp chiến lược, Việt
Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 65].
73. Quyết nghị tán trợ quốc sách ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1962),
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 2951].
74. Quan niệm, nguyên tắc và chương trình ấp tân sinh, ngày 23/1/1964, Việt
Nam Cộng Hòa (1964), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 130].
75. Quốc sách ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1962), Trung tâm Lưu trữ
quốc gia II[KHTL 6131].
RS Mc Namara (1995), Nhìn lại quá khứ, Tấn thảm kịch và những bài học 76.
kinh nghiệm từ Việt Nam, Chính trị quốc gia, Hà Nội.
77. Sơ đồ hỏa lực phòng thủ đồn, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu
trữ quốc gia II[KHTL 6326].
78. Sơ đồ tổ chức các cơ quan chấp hành quốc sách ấp chiến lược, Việt Nam
Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 63].
79. Sắc lệnh của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, ngày 3/2/1962, Việt Nam
Cộng Hòa (1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 2967].
80. Sử dụng thanh niên chiến đấu tại các ấp chiến lược, ngày 18/2/1963, Việt
Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6327].
Bùi Đình Thanh (1976), nhìn lại quá trình thất bại của chủ nghĩa thực dân 81.
105
mới ở Việt Nam, Nghiên cứu lịch sử số 6-7.
Phạm Quang Toàn (1976), Hậu quả 20 năm “bình Định” tàn bạo và thâm 82.
độc của Mỹ-Ngụy đối với nông thôn miền Nam Việt Nam, Tạp chí nghiên
cứu lịch sử số 6-7.
Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam 83.
(1971), Việt Nam thông tấn xã, Tập 1, Hà Nội.
Tổng tham mưu quân đội Việt Nam Cộng Hòa, ngày 16/11/1963, Việt Nam 84.
Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.
85. Tờ trình về: Kết quả công tác xây dựng ấp tân sinh từ 1/1/1964 đến
10/1/1964, Việt Nam Cộng Hòa (1964), Trung tâm Lưu trữ quốc gia
II[KHTL 130].
86. Trung ương cục miền Nam: Báo cáo tình hình miền Nam từ cuối năm 1961
đến đầu năm 1964, tháng 3/1964, Lưu trữ văn phòng Trung ương Đảng.
87. Tóm lược bài nói chuyện về chính sách ấp chiến lược của ông cố vấn chính
trị tại Hội đồng kinh tế quốc gia, ngày 27/3/1962, Việt Nam Cộng Hòa
(1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6131].
88. Từ ấp chiến lược đến xã tự vệ, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu
trữ quốc gia II[KHTL 6326].
89. Tuyên cáo của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa ban hành chính sách chiêu
hồi, Việt Nam Cộng Hòa (1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL
6324].
90. Tổ chức thanh niên bảo vệ hương thôn và thanh niên chiến đấu tại các ấp
chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia
II[KHTL 6327].
91. Thực hiện quốc sách ấp chiến lược, ngày 20/3/1962, Việt Nam Cộng Hòa
(1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6327].
92. Thực hiện hệ thống dây truyền ấp chiến lược, ngày 7/1/1963, Việt Nam
Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6326].
93. Tổ chức bốn bí mật tại các ấp chiến lược, ngày 18/10/1962, Việt Nam Cộng
Hòa (1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6129].
94. Thiết lập kế hoạch xây dựng ấp chiến lược và khóm, phường chiến lược,
ngày 5/9/1962, Việt Nam Cộng Hòa (1962), Trung tâm Lưu trữ quốc gia
106
II[KHTL 6128].
95. Tờ trình về “Kết quả công tác xây dựng ấp tân sinh từ ngày 1/1/1964 đến
10/1/1964”, Việt Nam Cộng Hòa (1964), Trung tâm Lưu trữ quốc gia
II[KHTL 130].
96. Tài liệu dẫn giải về ấp tân sinh, Việt Nam Cộng Hòa (1964), Trung tâm Lưu
trữ quốc gia II[KHTL 130].
97. Thuyết trình-Chương trình ấp chiến lược và tiêu chuẩn chống cộng của ấp
chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1964), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
[KHTL 6340].
98. Từ ấp chiến lược đến xã tự vệ, Việt Nam Cộng Hòa (1963),Trung tâm Lưu
trữ quốc gia II[KHTL 6131].
99. Tổng kết công tác thực hiện ấp chiến lược tại các địa điểm thuộc khu dinh
điền Komtum, Việt Nam Cộng Hòa (1963),Trung tâm Lưu trữ quốc gia
II[KHTL 6319].
100. Tài liệu thuyết trình về ấp chiến lược Bu-Sre, Việt Nam Cộng Hòa (1963),
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6324].
101. Tổng kết tình hình thực hiện công tác ấp chiến lược PLEIKU, tính đến
5/3/1963, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.
102. Tài liệu để nghiên cứu về ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa, Trung tâm
Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6131].
103. Tổ chức phục kích ngoài ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa (1963), Trung
tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6326].
104. Viện lịch sử quân sự Việt Nam (1990), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu
nước (1954-1975), Tập 1, Nbx Sự thật, Hà Nội.
105. Văn kiện Đảng toàn tập (2002), Tập 17, Chính trị quốc gia, Hà Nội.
106. Vấn đề tình báo trong công tác xây dựng ấp chiến lược, Việt Nam Cộng Hòa
(1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6131].
107. Xây cất công sự phòng thủ tại các ấp chiến lược, ngày 16/4/1963, Việt Nam
Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II[KHTL 6326].
108. Xúc tiến việc huấn luyện và võ trang thanh niên chiến đấu, 15/3/1963, Việt
107
Nam Cộng Hòa (1963), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6327].
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Gồm một số hình ảnh thực hiện hoạt động phòng thủ ấp chiến
lược của Mỹ - Diệm.
Phụ lục 1.1. Vài kiểu hầm bí mật Mỹ - Diệm áp dụng trong việc phòng thủ ấp chiến
lược.
Phụ lục 1.2. Các bộ phận của rào chiến lược.
Phụ lục 1.3. Sơ đồ cổng bẫy.
Phụ lục 1.4. Các hố và hầm và hào tác chiến.
108
Phụ lục 1.5. Vài kiểu bẫy.
Phụ lục 1.1: VÀI KIỂU HẦM BÍ MẬT
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6326].
109
Phụ lục 1.2: CÁC BỘ PHẬN CỦA MỘT RÀO CHIẾN LƯỢC
Nguồn:
110
Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6326].
Phụ lục 1.3: CỔNG BẪY
111
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6326].
112
Phụ lục 1.4: HỐ TÁC CHIẾN, HẦM, HÀO TÁC CHIẾN
113
114
115
116
117
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6326].
118
Phụ lục 1.5: VÀI KIỂU BẪY
119
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6326].
Phụ lục 2: Gồm 9 bản sao chép nói về ấp chiến lược.
Phụ lục 2.1: Tuyên cáo của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa ban hành chính sách
chiêu hồi.
Phụ lục 2.2: Hiệu triệu của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa nhân ngày 17/4 kỷ niệm
đệ nhất chu niên quốc sách ấp chiến lược.
Phụ lục 2.3: Ý kiến của đại diện MAAG và USOM về chương trình ấp chiến lược.
Phụ lục 2.4: Công điện của Ủy ban bình định trung ương ngày 5/3/1964.
Phụ lục 2.5: Bản dịch về văn kiện ấp chiến lược theo quan điểm củaThompson.
Phụ lục 2.6: Biện pháp đối với những gia đình có con em thoát ly theo Việt Cộng.
Phụ lục 2.7: Lãnh đạo quần chúng trong công tác xây dựng ấp chiến lược.
Phụ lục 2.8: Sắc lệnh của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.
Phụ lục 2.9: Quốc nghị tán trợ quốc sách ấp chiến lược của Quốc hội Việt Nam Cộng
120
Hòa.
Phụ lục 2.1: Tuyên cáo của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa ban hành chính sách
chiêu hồi.
121
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6324].
Phụ lục 2.2: Hiệu triệu của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa nhân ngày 17/4 kỷ niệm
đệ nhất chu niên quốc sách ấp chiến lược.
122
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6324].
123
Phụ lục 2.3: Ý kiến của đại diện MAAG và USOM về chương trình ấp chiến lược.
124
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 63].
Phụ lục 2.4: Công điện của Ủy ban bình định trung ương về chương trình xây dựng
125
ấp tân sinh ngày 5/3/1964.
126
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL130].
127
Phụ lục 2.5: Bản dịch về văn kiện ấp chiến lược theo quan điểm của Thompson.
128
129
130
131
132
133
134
135
136
137
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6324].
138
Phụ lục 2.6: Biện pháp đối với những gia đình có con em thoát ly theo Việt Cộng.
139
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6324].
140
Phụ lục 2.7: Lãnh đạo quần chúng trong công tác xây dựng ấp chiến lược.
141
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6324].
142
Phụ lục 2.8: Sắc lệnh của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.
143
144
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 2967].
145
146
Phụ lục 2.9: Quyết nghị tán trợ quốc sách ấp chiến lược
147
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 2951].
Phụ lục 3: Gồm những sơ đồ về tổ chức, thực hiện và phòng thủ ấp chiến lược.
Phụ lục 3.1: Khu vực ưu tiên lập ấp chiến lược theo quan điểm của Hoa Kỳ.
Phụ lục 3.2: Biểu đồ thực hiện chương trình ấp chiến lược qua các năm.
Phụ lục 3.3: Sơ đồ tổ chức thanh niên chống du kích.
Phụ lục 3.4: Sơ đồ liên thôn trang, hợp đồng tác chiến.
Phụ lục 3.5: Sơ đồ hệ thống giao thông hào và hầm chiến đấu.
Phụ lục 3.6: Sơ đồ phòng thủ hệ thống nổi.
Phụ lục 3.7: Sơ đồ phòng thủ hệ thống chìm.
148
Phụ lục 3.8: Sơ đồ hỏa lực phòng thủ đồn.
Phụ lục 3.1: Khu vực ưu tiên lập ấp chiến lược theo quan điểm của Hoa Kỳ.
149
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 64].
Phụ lục 3.2: Biểu đồ thực hiện chương trình ấp chiến lược qua các năm.
150
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 63].
Phụ lục 3.3: Sơ đồ tổ chức thanh niên chống du kích.
151
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6131].
Phụ lục 3.4: Liên thôn trang, hợp đồng tác chiến
152
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6129].
Phụ lục 3.5: Sơ đồ hệ thống giao thông hào và hầm chiến đấu.
153
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [ KHTL 6326].
154
Phụ lục 3.6: Sơ đồ phòng thủ hệ thống nổi.
155
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6326].
156
Phụ lục 3.7: Sơ đồ phòng thủ hệ thống chìm.
157
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6326].
Phụ lục3.8: Sơ đồ hỏa lực phòng thủ đồn.
158
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II [KHTL 6326].

