BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thanh Bình
BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TIỀN HỌC
ĐỌC TIỀN HỌC VIẾT CHO TRẺ MẪU GIÁO
5 – 6 TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON
HUYỆN BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thanh Bình
BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TIỀN
HỌC ĐỌC TIỀN HỌC VIẾT CHO TRẺ MẪU
GIÁO 5 – 6 TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM
NON HUYỆN BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. MAI THỊ NGUYỆT NGA
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của
TS. Mai Thị Nguyệt Nga. Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là
trung thực và chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Tp.HCM, tháng 09 năm 2014.
Học viên
Nguyễn Thị Thanh Bình
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong
chương trình Cao học Giáo dục học (Mầm non) K23 - những người đã truyền đạt cho
tôi những kiến thức hữu ích về Giáo dục học làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Mai Thị Nguyệt Nga đã tận tình hướng dẫn cho
tôi trong thời gian thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các cô đang là quản lý và giáo viên giảng
dạy tại các trường mầm non Sài Gòn, trường mẫu giáo thực hành, trường mầm non
19.5 Tp. Hồ Chí Minh, trường mầm non Hướng Dương, mầm non Họa Mi, mẫu giáo
Cây Trường, Tiểu học Cây Trường, Tiểu học Trừ Văn Thố… huyện Bến Cát, tỉnh
Bình Dương đã tận tình giúp đỡ trong việc tham gia trả lời phiếu thăm dò cũng như
góp ý về những thiếu sót trong phiếu thăm dò.
Tp.HCM, tháng 09 năm 2014.
Học viên
Nguyễn Thị Thanh Bình
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẰM
HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TIỀN HỌC ĐỌC HỌC VIẾT CHO
TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI ................................................................... 6
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi .............................................................................. 6
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài ........................................................ 6
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước ...................................................... 10
1.2. Cơ sở lý luận của việc hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi ............................................................................................... 14
1.2.1. Vấn đề chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi vào học ở trường phổ
thông ............................................................................................................. 14
1.2.2. Sự hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi vào học ở trường phổ thông .................................................................. 22
1.2.3. Sự cần thiết của việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi ....................................................................................... 32
1.2.4. Các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết tại trường
mầm non ....................................................................................................... 34
1.2.5 Một số đặc điểm tâm lý ảnh hưởng đến việc hình thành kỹ năng tiền
học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ............................................... 35
1.2.6. Đặc điểm hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5
– 6 tuổi tại trường mầm non ......................................................................... 39
1.2.7. Vai trò của người lớn trong việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết tại trường mầm non ............................................................................... 41
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................................ 44
Chương 2. THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TIỀN HỌC ĐỌC
HỌC VIẾT CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN BẾN CÁT, TỈNH BÌNH
DƯƠNG .................................................................................................... 46
2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non huyện Bến Cát, tỉnh
Bình Dương........................................................................................................... 46
2.1.1. Mục đích khảo sát thực trạng vấn đề ............................................................ 46
2.1.2. Nội dung khảo sát thực trạng vấn đề ............................................................ 46
2.1.3. Đối tượng và phạm vi khảo sát ..................................................................... 47
2.1.4. Phương pháp khảo sát ................................................................................... 48
2.2. Kết quả khảo sát: .................................................................................................... 48
2.2.1. Kết quả khảo sát những thông tin chung của giáo viên mầm non ................ 48
2.2.2. Thực trạng nhận thức của GVMN, GVTH về bản chất của việc chuẩn
bị cho trẻ học đọc, học viết. ......................................................................... 49
2.2.3. Các biện pháp đã được giáo viên sử dụng để hình thành các kỹ năng
tiền học đọc học viết cho trẻ 5 – 6 tuổi ........................................................ 54
2.2.4. Những khó khăn, thuận lợi của giáo viên trong công tác hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết cho trẻ 5 – 6 tuổi ............................................... 58
2.2.5. Thực trạng về biểu hiện kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ 5 - 6 tuổi
tại một số trường mầm non huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương .................... 60
Tiểu kết chương 2 ........................................................................................................ 67
Chương 3. ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH
THÀNH KỸ NĂNG TIỀN HỌC ĐỌC HỌC VIẾT CHO TRẺ
MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON
HUYỆN BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG ........................................... 68
3.1. Tổ chức nghiên cứu các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết
cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non ................................................... 68
3.1.1. Tổ chức nghiên cứu các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết cho trẻ 5 – 6 tuổi ................................................................................... 68
3.1.2. Xác định một số biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết
cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non. ......................................... 69
3.1.3. Một số nguyên tắc xây dựng các biện pháp hình thành kỹ năng tiền
tiền học đọc học viết cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non ....................... 70
3.2. Đề xuất một số biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ 5
– 6 tuổi tại trường mẫu giáo Cây Trường, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. ..... 73
3.2.1. Các nhiệm vụ hình thành các kĩ năng tiền học đọc học viết cho trẻ 5 –
6 tuổi tại trường mẫu giáo Cây Trường, huyện Bến Cát, tỉnh Bình
Dương ........................................................................................................... 73
3.2.2. Đề xuất một số biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho
trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mẫu giáo Cây Trường, huyện Bến Cát, tỉnh
Bình Dương .................................................................................................. 74
3.2.3. Khai thác hoạt động chung (hoạt động học tập) của trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi tại trường mầm non nhằm hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mẫu giáo Cây Trường. ............. 76
3.2.4. Khai thác hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường
mầm non như biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mẫu giáo Cây Trường. .......................... 79
3.3 Một số kế hoạch giờ học và các trò chơi trong hoạt động vui chơi hình thành
kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mẫu
giáo Cây Trường. .................................................................................................. 83
3.4 Thực nghiệm một số biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho
trẻ 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động tại trường mẫu giáo Cây Trường,
huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. ........................................................................ 83
3.4.1. Mục đích thực nghiệm. ................................................................................. 83
3.4.2. Đối tượng thực nghiệm. ................................................................................ 83
3.4.3. Thời gian thực nghiệm. ................................................................................. 83
3.4.4. Nội dung thực nghiệm. ................................................................................. 83
3.4.5. Tiến hành thực nghiệm. ................................................................................ 83
3.4.6. Cách đánh giá kết quả thực nghiệm. ............................................................. 95
3.4.7. Kết quả thử nghiệm và phân tích. ................................................................. 96
Tiểu kết chương 3 ...................................................................................................... 112
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................... 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 116
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Viết đầy đủ Chữ viết tắt
1 Đối chứng ĐC
2 Giáo viên mầm non GVMN
3 Giáo viên tiểu học GVTH
4 Thực nghiệm TN
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Trình độ chuyên môn, thâm niên công tác trong nghề và số năm
dạy lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi của giáo viên ............................................... 48
Bảng 2.2. Nhận thức của các giáo viên lớp một về bản chất của việc đọc,
việc viết và việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi học đọc, học
viết trước khi vào lớp một ....................................................................... 49
Bảng 2.3. Kết quả việc trưng cầu ý kiến của các giáo viên dạy lớp mẫu giáo
5 – 6 tuổi về bản chất của việc đọc, việc viết và việc chuẩn bị cho
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi học đọc, học viết trước khi vào lớp một ............. 50
Bảng 2.4. Kết quả trưng cầu ý kiến của giáo viên lớp một về sự cần thiết
hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo
trước khi bước vào lớp một ..................................................................... 51
Bảng 2.5. Kết quả trưng cầu ý kiến của giáo viên lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi về
sự cần thiết hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi .................................................................................. 52
Bảng 2.6. Kết quả khảo sát ý kiến giáo viên lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi về mức
độ cần thiết sử dụng các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học
đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi .................................................. 54
Bảng 2.7. Kết quả trưng cầu ý kiến giáo viên mầm non về mức độ sử dụng
các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi .................................................................................. 56
Bảng 2.8. Kết quả việc trưng cầu ý kiến của các giáo viên dạy lớp một về
những khó khăn, thuận lợi của giáo viên trong công tác hình thành
kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ 5 – 6 tuổi ...................................... 58
Bảng 2.9. Kết quả việc trưng cầu ý kiến của các giáo viên dạy lớp mẫu giáo
5 – 6 tuổi về những khó khăn, thuận lợi của giáo viên trong công
tác hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ 5 – 6 tuổi .............. 59
Bảng 2.10. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVMN về tỉ lệ hình thành kỹ năng
nghe của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi .............................................................. 61
Bảng 2.11. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVTH về tỉ lệ hình thành kỹ năng
nghe của trẻ vào đầu năm học lớp một .................................................... 61
Bảng 2.12. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVMN về tỉ lệ hình thành kỹ năng
đọc của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ................................................................ 62
Bảng 2.13. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVTH về tỉ lệ hình thành kỹ năng
đọc của trẻ vào đầu năm học lớp một ...................................................... 63
Bảng 2.14. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVMN về tỉ lệ hình thành kỹ năng
tiền học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi .................................................. 64
Bảng 2.15. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVTH về tỉ lệ hình thành kỹ năng
tiền học viết của trẻ vào đầu năm học lớp một ........................................ 64
Bảng 2.16. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVMN về tỉ lệ hình thành kỹ năng
học tập của trẻ 5 – 6 tuổi .......................................................................... 65
Bảng 2.17. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVTH về tỉ lệ hình thành kỹ năng
học tập của trẻ vào đầu năm học lớp một ................................................ 65
Bảng 3.1. Bảng tiêu chí đã được hoàn thiện với các chỉ số như sau ........................ 87
Bảng 3.2. Sắp xếp các bài tập đo nghiệm theo tiêu chí nghiên cứu ......................... 92
Bảng 3.3. Kết quả đo kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi tại lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trước khi thực nghiệm .......... 96
Bảng 3.4. Kết quả đo kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi tại lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau khi thực nghiệm. ............ 97
Bảng 3.5. Kết quả đo kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn
ngữ của trẻ ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ..................................... 98
Bảng 3.6. Kết quả đo kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa độc lập của
ngôn ngữ của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng .................................... 99
Bảng 3.7. Kết quả đo kỹ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. ................................................. 100
Bảng 3.8. Kết quả đo kỹ năng liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái của lớp
thực nghiệm và lớp đối chứng ............................................................... 101
Bảng 3.9. Kết quả đo kỹ năng ghép được một số chữ đơn giản (2 chữ viết)
và đọc được nó của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ......................... 103
Bảng 3.10. Kết quả đo kỹ năng "Đọc" được một số từ, câu đơn giản, quen
thuộc của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ........................................ 104
Bảng 3.11. Kết quả đo kỹ năng nhận biết một số cấu tạo của một quyển sách
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng .................................................. 105
Bảng 3.12. Kết quả đo kỹ năng thực hiện được một số quy tắc của việc đọc
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng .................................................. 106
Bảng 3.13. Kết quả đo kỹ năng ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách của
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ......................................................... 107
Bảng 3.14. Kết quả đo kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình của
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. ........................................................ 108
Bảng 3.15. Kết quả đo kỹ năng thực hiện các quy định trên giờ học của lớp
thực nghiệm và lớp đối chứng ............................................................... 109
Bảng 3.16. Kết quả các mức độ điểm đạt được trước thực nghiệm của trẻ
nhóm đối chứng và thực nghiệm ........................................................... 110
Bảng 3.17. Kết quả các mức độ điểm đạt được trước thực nghiệm của trẻ
nhóm đối chứng và thực nghiệm ........................................................... 111
Bảng 3.18. Tổng hợp kết quả các mức độ điểm đạt được trước thực nghiệm
và sau thực nghiệm của trẻ nhóm đối chứng và thực nghiệm ............... 112
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. So sánh kết quả kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng trước khi thực nghiệm. ................................. 96
Biểu đồ 3.2. So sánh kết quả kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng sau khi thực nghiệm. .................................... 97
Biểu đồ 3.3. So sánh kết quả kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của
ngôn ngữ của trẻ ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.......................... 98
Biểu đồ 3.4. So sánh kết quả đo kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa độc lập
của ngôn ngữ của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. .......................... 99
Biểu đồ 3.5. So sánh kết quả đo kỹ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn
giản của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. ....................................... 101
Biểu đồ 3.6. So sánh kết quả đo kỹ năng liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái của
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. ...................................................... 102
Biểu đồ 3.7. So sánh kết quả đo kỹ năng ghép được một số chữ đơn giản (2 chữ
cái) và đọc được nó của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. .............. 103
Biểu đồ 3.8. So sánh kết quả đo kỹ năng "Đọc" được một số từ, câu đơn giản,
quen thuộc của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. ............................ 104
Biểu đồ 3.9. So sánh kết quả đo kỹ năng nhận biết một số cấu tạo của một
quyển sách của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. ............................ 105
Biểu đồ 3.10. So sánh kết quả đo kỹ thực hiện được một số quy tắc của việc đọc
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. ............................................... 106
Biểu đồ 3.11. So sánh kết quả đo kỹ năng ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng
cách của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. ....................................... 107
Biểu đồ 3.12. So sánh kết quả đo kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. ............................................... 108
Biểu đồ 3.13. So sánh kết quả đo kỹ năng thực hiện các quy định trên giờ học
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. ............................................... 109
Biểu đồ 3.14. So sánh các mức độ điểm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
trước thực nghiệm................................................................................ 110
Biểu đồ 3.15. So sánh các mức độ điểm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
sau thực nghiệm. .................................................................................. 111
Biểu đồ 3.16. So sánh các mức độ điểm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
trước thực nghiệm và sau thực nghiệm. .............................................. 112
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn
2010–2015 thì phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi (PCGDMNTNT) là nhiệm
vụ ưu tiên hàng đầu trong giáo dục mầm non nhằm chuẩn bị tốt nhất cho trẻ vào lớp
Một đối với tất cả các vùng miền trong cả nước. Đề án chỉ rõ PCGDMNTNT nhằm
củng cố, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em 5 tuổi, chuẩn bị cho trẻ vào
lớp một. Đồng thời cũng đề cao vai trò và tầm quan trọng của công tác chuẩn bị cho
trẻ vào trường Phổ thông chính là chuẩn bị toàn diện để trẻ có thể thích ứng với môi
trường, cuộc sống và với hoạt động học tập tại trường Phổ thông.
Đối với trẻ mẫu giáo hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ. Ở trường
mầm non, trẻ chơi là chính, vừa học vừa chơi, học theo hứng thú, và có thể tự đề xuất
hoạt động của mình; trái lại, ở trường tiểu học, hoạt động vui chơi ấy không còn là
hoạt động chủ đạo của trẻ nữa mà thay vào đó là hoạt động học tập; ở đây, trẻ đóng vai
trò là một học sinh với nhiệm vụ chủ yếu là học tập, học tập thực thụ, nghiêm túc, có ý
nghĩa xã hội, và phải chấp hành nội quy cũng như nề nếp học tập của nhà trường, trẻ
phải chịu trách nhiệm về việc học của mình. Đây chính là bước ngoặt quan trọng trong
cuộc đời của mỗi đứa trẻ. Lớp mẫu giáo lớn là giai đoạn chuyển giao giữa hai bậc học
mầm non và tiểu học. Chuẩn bị cho trẻ vào trường Phổ thông là chuẩn bị cho sự
chuyển giao ấy được dễ dàng, tạo điều kiện cho trẻ vượt qua bước ngoặt 6 tuổi một
cách thuận lợi. Ngôn ngữ là một trong những lĩnh vực đã và đang được rất nhiều nhà
nghiên cứu, nhà giáo dục, nhà tâm lý và các bậc phụ huynh trong và ngoài nước quan
tâm. K. D. U-Sin-Xki – nhà giáo dục người Nga đã từng nói: “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở
quan trọng của mọi sự phát triển trí tuệ và là kho tàng của mọi tri thức”. Ngôn ngữ là
công cụ của tư duy, là chìa khóa để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng kiến
thức của dân tộc và của nhân loại. Chính vì vậy, việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ phải
tiến hành ngay từ khi trẻ mới ra đời. Đặc biệt với trẻ 5 - 6 tuổi chuẩn bị vào lớp Một
thì vấn đề phát triển ngôn ngữ cần hết sức quan tâm. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6
tuổi là tiền đề để trẻ học tốt, học giỏi ở trường Phổ thông. Điểm đáng chú ý nhất của
2
lĩnh vực phát triển này chính là kỹ năng đọc – viết của trẻ. Ở tuổi mẫu giáo, chúng ta
cần phải phát triển cho trẻ những kỹ năng tiền học đọc học viết, đó là sự chuẩn bị tốt
nhất để trẻ có thể học đọc, học viết tốt ở trường Phổ thông; cũng là phát triển một kỹ
năng quan trọng cho trẻ lĩnh hội các kiến thức trong môi trường học tập mới.
Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã đề cập đến các nội dung phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho trẻ 5
– 6 tuổi, đặc biệt là các kỹ năng tiền học đọc, học viết như sau: trẻ thể hiện hứng thú
với việc đọc, trẻ thể hiện một số hành vi ban đầu của việc đọc, trẻ thể hiện một số hiểu
biết ban đầu về việc viết... Hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi là một vấn đề cấp thiết, là một công tác chuyên biệt trong chuẩn bị cho trẻ
vào trường Phổ thông. Song tác động đến trẻ 5 – 6 tuổi là tác động đến một con người
nên cần phải hết sức thận trọng và mang tính khoa học. Phải tôn trọng những đặc điểm
phát triển của trẻ theo đúng quy luật, tạo tiền đề vững chắc cho các giai đoạn phát triển
tiếp theo.
Trên thực tế việc hình thành những kỹ năng này ở bậc học mầm non tồn tại với
nhiều quan điểm, cách thực hiện khác nhau.
Hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ không phải là dạy trẻ biết
đọc, biết viết mà cần phải quan tâm đến việc phát triển các kỹ năng nghe, nói, phát âm
và khả năng phối hợp vận động nhịp nhàng của tay, mắt vì đây là những kỹ năng
không thể thiếu để trẻ đọc tốt, viết tốt. Tại trường mầm non, giáo viên cần thường
xuyên tổ chức tốt công tác hình thành cho trẻ các kỹ năng tiền học đọc học viết thông
qua các hoạt động, qua trò chơi và qua việc cho trẻ tiếp xúc với môi trường chữ viết;
có kế hoạch tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh giúp phát triển cho trẻ các kỹ năng
nghe, nói, phối hợp vận động tay, mắt của trẻ. Bên cạnh đó, giáo viên cần lập kế hoạch
tổ chức các hoạt động học tập có chủ đích cũng như hoạt động vui chơi tại trường cho
trẻ một cách hợp lý, khoa học nhằm nâng cao các kỹ năng tiền học đọc, học viết và
nuôi dưỡng hứng thú học tập của trẻ 5 – 6 tuổi, đồng thời giúp trẻ làm quen với hoạt
động học tại trường Phổ thông. Ngược lại, việc hình thành cho trẻ các kỹ năng tiền học
đọc học viết không đúng có ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của trẻ tại trường Phổ
thông và sẽ gây khó khăn không nhỏ trong công tác giáo dục, cũng như uốn nắn của
3
giáo viên bậc học Tiểu học.
Từ những lý do trên, đề tài “Biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc tiền học
viết cho trẻ Mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non huyện Bến Cát Tỉnh Bình
Dương” được xác lập.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết cho trẻ Mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non huyện Bến Cát Tỉnh Bình
Dương, đề xuất một số biện pháp hình thành kỹ năng này ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại
trường mầm non.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết
cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non.
Khách thể nghiên cứu: Quá trình tổ chức các hoạt động nhằm hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non.
4. Giả thuyết khoa học
Trong các trường mầm non - huyện Bến Cát - tỉnh Bình Dương, kỹ năng tiền học
đọc học viết chưa được hình thành trẻ 5 – 6 tuổi.
Nếu giáo viên chú trọng phát huy tính tích cực của trẻ lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi
trong việc học các kỹ năng tiền học đọc, học viết, thì các kỹ năng này sẽ được hình
thành ở trẻ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết
cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non.
Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân của thực trạng hình thành các kỹ năng tiền
học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi của giáo viên lớp mẫu giáo lớn tại trường
mầm non.
Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường Mẫu giáo Cây Trường, huyện Bến Cát, tỉnh
Bình Dương.
4
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu một số biện pháp hình
thành một số kỹ năng làm cơ sở cho việc đọc, viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường
mầm non.
Giới hạn về khách thể và phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng
tại huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương với khách thể là giáo viên dạy lớp mẫu giáo lớn
và trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Thực nghiệm được tổ chức trên trẻ của hai lớp mẫu giáo 5 –
6 tuổi tại trường Mẫu giáo Cây Trường, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
• Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tham khảo các công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí chuyên ngành về các vấn
đề liên quan, từ đó hệ thống và khái quát hóa các khái niệm công cụ làm cơ sở lý luận
cho đề tài như khái niệm về kỹ năng, khái niệm nghe, đọc, viết, kỹ năng tiền học đọc
học viết... lý luận về phương pháp tổ chức hoạt động cho trẻ 5 – 6 tuổi làm quen chữ
viết tại trường mầm non.
• Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để tìm hiểu thực trạng nhận thức và các
biện pháp hình thành cho trẻ MG 5 – 6 tuổi các kỹ năng tiền học đọc học viết ở trường
MN.
- Phương pháp quan sát
Dự hoạt động hình thành cho trẻ 5 - 6 tuổi các kỹ năng tiền học đọc học viết tại
trường mầm non nhằm tìm hiểu thực trạng việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết cho trẻ của giáo viên mầm non hiện nay.
- Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến chuyên gia về các biện pháp và sự cần thiết của các biện pháp đó
trong hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các sản phẩm hoạt động của trẻ (các bài tập làm quen chữ cái, các
sản phẩm hoạt động ở các góc...), kế hoạch hoạt động của giáo viên lớp mẫu giáo lớn
5
nhằm tìm hiểu việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu 5 – 6 tuổi.
- Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại với giáo viên mầm non để có tư liệu bổ sung về quan điểm và các biện
pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ 5 – 6 tuổi.
- Phương pháp bài tập đo nghiệm
Sử dụng bài tập đo nghiệm để kiểm tra trình độ đầu vào và đầu ra về kỹ năng tiền
học đọc học viết của trẻ tại lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm một số biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
- Phương pháp thống kê toán học
Xử lý số liệu thu được bằng phần mềm SPSS for Windows 20.0
8. Những đóng góp của luận văn
8.1. Về lý luận
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận khoa học có liên quan đến đề tài. Giúp giáo
viên mầm non có thêm cơ sở khoa học về kỹ năng tiền học đọc, học viết của trẻ 5 - 6
tuổi và một số biện pháp để phát triển kỹ năng tiền học đọc, học viết cho trẻ ở lứa tuổi
này.
8.2. Về thực tiễn
Nghiên cứu thực trạng hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ 5 - 6 tuổi
tại một số trường mầm non huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Tìm hiểu và đề xuất một số biện pháp để hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết cho trẻ 5 - 6 tuổi.
6
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
NHẰM HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TIỀN HỌC ĐỌC HỌC VIẾT
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề hình thành kỹ năng tiền học đọc
học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Vấn đề chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi vào trường phổ thông, chuẩn bị cho
việc học đọc, học viết của trẻ ở trường tiểu học là một vấn đề quan trọng, đã được các
chuyên gia đề cập khá lâu. Đặc biệt, mấy năm gần đây cùng với sự phát triển của xã
hội công nghệ thông tin, nó được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục và cả các bậc
phụ huynh coi trọng. Tuy nhiên, có nhiều quan điểm cũng như ý kiến trái chiều về vấn
đề này. Có quan điểm phản đối việc cho trẻ học đọc, học viết trước khi vào lớp một.
Ngược lại, một số quan điểm lại đồng tình với việc trẻ phải biết đọc, biết viết trước khi
vào lớp một. Song, cũng có quan điểm cho rằng, trẻ cần có một số kỹ năng cần thiết
cho việc học đọc, học viết, trong đó trẻ cần có những kỹ năng phân tích âm thanh,
ngôn ngữ trước khi vào trường phổ thông.
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở các nước phương Tây: Vào những năm 80 của thế kỷ XX, D. Wiggin – nhà
giáo dục, soạn giả người Mỹ cho rằng trẻ em chỉ hứng thú với các đối tượng cụ thể
chứ chưa sẵn sàng để học đọc, học viết [36].
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, khi đi tìm nguyên nhân của sự sa sút trong
học tập của học sinh ở những lớp đầu cấp tiểu học, một số người cho rằng kết quả
chưa tốt đó là do trẻ không được chuẩn bị tốt ngay từ trường mầm non. Các nhà giáo
dục ở Anh, Úc và Mỹ thời kỳ này không phản đối việc cho trẻ mẫu giáo làm quen với
kỹ năng học tập trong đó có đọc, viết nhưng theo họ, vấn đề cần hơn là phải đưa ra
một chương trình chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết thích hợp, có hiệu quả, có ý nghĩa
và tạo cho trẻ hứng thú. Hầu hết các chương trình đọc viết được xây dựng trên cơ sở
của một trong hai quan điểm. Bao gồm quan điểm coi đọc được miêu tả như một hành
vi thị giác nhằm giải mã các ký hiệu và quan điểm coi đọc được hiểu như một hành vi
7
trí tuệ nhằm rút được nghĩa trong văn bản.
Chương trình được xây dựng dựa trên quan điểm cho rằng đọc là một hành vi thị
giác thường được bắt đầu bằng việc dạy trẻ đọc và viết bảng chữ cái. Trẻ được làm
quen với các luật về quan hệ chữ - âm - vần. Phương pháp này ít chú ý đến việc giúp
trẻ hiểu nghĩa khi đọc và do đó thường cho trẻ tập đọc cả những từ có nghĩa và vô
nghĩa. Mục đích của cách dạy này là yêu cầu phải nhận biết các âm vị và hình thái của
chữ và từ trước khi giúp trẻ hiểu được nghĩa của văn bản.
Chương trình này bị phê phán là hình thức và gây khó khăn cho việc đọc của trẻ
nhỏ. Một số nhà giáo dục học cho rằng nếu chỉ chú trọng đến các khía cạnh cấu trúc
của ngôn ngữ như âm học và học thuộc những chữ, những từ riêng lẻ sẽ hình thành ở
trẻ thái độ học tập không cần suy nghĩ, dần dần trẻ sẽ nghĩ rằng phát âm chính là đọc
và học đọc chính là học cách phát âm đúng. Việc học đọc của trẻ trở nên khô cứng, vô
nghĩa, trẻ sẽ không còn hứng thú học tập, trẻ chỉ đọc khi bắt buộc phải đọc.
Ngày nay hầu hết các nhà giáo dục Mỹ, Úc đều ủng hộ chương trình đọc, viết
được xây dựng trên quan điểm coi đọc là hành vi trí tuệ, là quá trình nắm bắt được
nghĩa của văn bản. Quá trình đọc hiểu và kỹ năng giải nghĩa của các ký hiệu viết trong
một ngữ cảnh nhất định được coi là yếu tố quan trọng của việc học đọc. Việc làm quen
với những kỹ năng đọc phải được bắt đầu bằng những ý tưởng và khái niệm gần gũi,
có ý nghĩa đối với trẻ, đồng thời phải có ngữ cảnh nhất định chứ không phải bằng tên
và âm của chữ hay từ riêng lẻ [11. tr.14].
Theo Johnson Debra, sự phát triển tiền học đọc học viết được bắt đầu từ rất sớm,
mặc dù các hành động của trẻ có thể không liên quan gì tới đọc và viết; Hành vi "đọc"
từ "hình ảnh" và viết mô phỏng nguệch ngoạc là biểu hiện của tiền học đọc học viết
cũng là một phần quan trọng cho sự phát triển đọc viết của trẻ. Theo các nghiên cứu
vào những năm 90 của thế kỉ XX, đã cho rằng sự phát triển tiền học đọc, học viết đã
bắt đầu từ rất lâu trước khi trẻ được học chính thức ở trường tiểu học (Allington &
Cunningham, 1996; Burns, Griffin, & Snow, 1999; Clay, 1991; Hall & Moats 1999;
Holdaway, 1979; Teale & Sulzby, 1986). Kỹ năng của trẻ trong việc đọc và viết phát
triển cùng thời điểm chứ không theo tuần tự (Teale & Sulzby, 1986). Họ cho rằng các
nhà giáo dục có thể thúc đẩy sự hiểu biết của trẻ về việc đọc và viết bằng các giúp trẻ
8
hình thành kiến thức và kỹ năng tiền học đọc, học viết thông qua việc sử dụng các hoạt
động gắn kết với học tập. Trong khi một số nhà giáo dục học mầm non cho rằng cần
phát triển nền tảng của việc đọc viết, thì một số khác lại cho rằng sự phát triển đọc viết
phù hợp chỉ thuộc về các chương trình dành cho học sinh lớp một (Slegers, 1996). Một
số quan điểm thời kì này cho rằng, trẻ 5 tuổi "đọc" sách khi chúng được nghe nhiều lần
và thông qua việc tiếp xúc với môi trường chữ viết (kỹ năng tiền học đọc như: phương
hướng, từ này đến từ khác, khái niệm về các ấn phẩm), hình ảnh và các kiến thức về
ngôn ngữ hỗ trợ cho việc đọc của trẻ; Viết các kế hoạch bằng văn bản (kí hiệu, hình
ảnh và các nét nguệch ngoạc giống chữ) rồi thảo luận lại với người khác. Thường
chúng "đọc" lại bằng trí nhớ hoặc hình ảnh thay vì sử dụng các dấu hiệu chữ viết [35].
Hiệp hội quốc gia vì giáo dục trẻ nhỏ của Hoa kỳ (NAEYC) (1998) cho rằng:
Mặc dù khả năng đọc và viết tiếp tục phát triển trong suốt đời sống, nhưng những năm
thời thơ ấu từ khi sinh ra đến tám tuổi là giai đoạn quan trọng nhất cho sự phát triển
đọc viết. Theo tổ chức này, việc không cung cấp cho trẻ em những kinh nghiệm đọc
viết cho đến khi trẻ đến tuổi đi học có thể hạn chế nghiêm trọng mức độ biết đọc và
viết cuối cùng đạt được của trẻ. Khả năng đọc và viết không phát triển một cách tự
nhiên mà không có kế hoạch và hướng dẫn cẩn thận. Trẻ em cần sự thường xuyên và
tích cực (chủ động) tương tác với các ấn phẩm. Khả năng cụ thể cần thiết để đọc và
viết đến từ kinh nghiệm trực tiếp với ngôn ngữ nói và viết. Từ những kinh nghiệm trẻ
em biết rằng đọc và viết là những công cụ có giá trị sẽ giúp chúng làm được nhiều điều
trong cuộc sống.
Trẻ thường xuyên đến trường hoặc thư viện công cộng sẽ hình thành thói quen
đọc sách, trẻ thường sẽ giả vờ đọc, sử dụng dấu hiệu trực quan để ghi nhớ những lời
của những câu chuyện yêu thích (Morrow & Weinstein 1986; Neuman & Roskos
1997); Trẻ em học được rất nhiều khi đọc từ môi trường đọc viết xung quanh (McGee,
Lomax, Head năm 1988; Neuman & Roskos 1993). Hiểu biết nền tảng cơ bản của việc
phát triển trong những năm đầu của trẻ em thông qua các hướng dẫn là nguyên tắc kí
hiệu chữ cái, trẻ hiểu rằng có một mối quan hệ giữa hệ thống các chữ cái và âm thanh
(Adams 1990). Giáo viên thường cùng trẻ so sánh hình dạng từ, giúp trẻ phân biệt một
số chữ trực quan. Nhận thức ngữ âm đề cập đến sự hiểu biết của một đứa trẻ và nhận
9
thức ý thức rằng lời nói bao gồm các đơn vị nhận biết, chẳng hạn như lời nói, âm tiết,
và âm thanh. Một số nghiên cứu trong giáo dục đã chứng minh rằng nhận thức âm vị
có thể được dạy cho trẻ em ở độ tuổi năm tuổi (Bradley Bryant 1983; Lundberg, Frost
& Petersen 1988; Cunning 1990; Bryne & Fielding - Barnsley 1991).
Trẻ em có được một kiến thức làm việc về hệ thống chữ cái không chỉ thông qua
việc đọc mà còn thông qua văn bản. Read (1971) phát hiện ra rằng ngay cả khi không
hướng dẫn chính tả chính thức, trẻ mẫu giáo cũng có thể sử dụng kiến thức ngầm của
chúng về mối quan hệ âm vị học để đánh vần các từ. Ở lớp mẫu giáo, nhiều trẻ em sẽ
bắt đầu đọc một số từ thông qua việc công nhận hoặc bằng cách xử lý các mối quan hệ
chữ - âm. Việc tạo nhiều cơ hội cho trẻ em được viết, tăng khả năng chúng sẽ tái tạo
cách viết chữ chúng đã thấy và đã nghe. Để tạo điều kiện cho trẻ thực hành nhiều hơn,
một số giáo viên cố gắng để tích hợp chữ trong các lĩnh vực khác của chương trình,
như trò chơi liên quan đến đọc viết (Neuman & Roskos 1992) và các hoạt động khác
của dự án (Katz & Chard 1989).
Hoạt động học chữ sớm, dạy cho các em rất nhiều về cách viết và đọc nhưng
thường theo những cách mà không trông giống như hướng dẫn học sinh tiểu học
truyền thống. Trẻ em cũng phải tìm hiểu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ nói và viết và
mối quan hệ giữa các chữ cái, âm thanh, và lời nói. Trong lớp học được xây dựng xung
quanh một loạt ấn phẩm, sau đó các hoạt động nói, đọc, viết, chơi, và lắng nghe nhau,
trẻ em sẽ muốn đọc, viết và cảm thấy rằng chúng có khả năng làm như vậy [37].
Ở Singapore trước năm 2008, cho trẻ được tiếp cận với chương trình nghệ thuật
ngôn ngữ với các hoạt động ngôn ngữ rất phong phú bao gồm các hoạt động có liên
quan tới nói và nghe, như: các bài thơ, bài hát. Chơi đóng vai, trò chơi để phát triển
khả năng làm chủ đọc viết và đánh vần sau này. Các giáo viên cần cung cấp cơ hội cho
trẻ ở các môi trường chính thức và không chính thức để trẻ có thể phát triển khả năng
nói và khuyến khích trẻ thụ đắc và sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ [26, tr.133 – 155].
Ở Nga, L.A Venghe (1992) cho rằng: Đến cuối lứa tuổi mẫu giáo, với những
điều kiện giáo dục nhất định, đứa trẻ bắt đầu không chỉ sử dụng ngôn ngữ, mà còn
thông hiểu cấu trúc của ngôn ngữ, điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc học
đọc, học viết sau này. Trẻ có thể nắm ngôn ngữ trong thực hành và sự thông hiểu ngôn
10
ngữ, phát triển tai âm vị [9, tr.142, 161].
Theo Đ.B.Enconhin, quá trình dạy trẻ đọc bao gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Hình thành kỹ năng tách tiếng và định hướng âm thanh ngôn ngữ.
Giai đoạn 2: Lĩnh hội hệ thống nguyên âm và chữ cái thể hiện nguyên âm. Hình
thành sự định hướng âm thanh ngôn ngữ.
Giai đoạn 3: Lĩnh hội hệ thống phụ âm, chữ cái thể hiện phụ âm và hình thành kỹ
năng đọc.
Đ.B.Enconhin gọi giai đoạn 1 là giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn này giữ vai trò rất
lớn trong việc học chữ của trẻ ở trường phổ thông sau này, và còn ảnh hưởng đến sự
phát triển trí tuệ của trẻ.
Đ.B.Enconhin có đóng góp rất lớn trong sử dụng chương trình dạy chữ cho trẻ
như là phương tiện để phát triển trí tuệ bằng phương pháp mô hình hóa cấu tạo âm
thanh của ngôn ngữ [12].
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Ở nước ta, việc dạy trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi học đọc, học viết một cách thực thụ
trước khi vào lớp một bị nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học, giáo dục học và cả các nhà
sư phạm phản đối như Lê Thị Ánh Tuyết, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Ánh Tuyết,
Nguyễn Thị Phương Nga, Trần Nga, Trần Mạnh Hưởng, Đinh Văn Vang, … Các
nghiên cứu của họ chỉ ra rằng việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi học đọc, học
viết khi vào lớp một là tạo cho trẻ những tiền đề cần thiết, những điều kiện, cơ sở ban
đầu nhằm giúp trẻ vào học đọc, học viết thực thụ ở trường tiểu học một các thuận lợi,
tự tin, hứng thú.
Có rất ít các đề tài trong nước nghiên cứu về biện pháp hình thành các kỹ năng
tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, phần lớn các nghiên cứu chỉ liên
quan ở một vài khía cạnh nhỏ của vấn đề. Chẳng hạn như các nghiên cứu về việc
chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông, trong đó việc hình thành kỹ năng tiền học đọc
học viết chỉ được nhắc đến một cách sơ lược, chủ yếu là các biểu hiện hoặc các kỹ
năng cần thiết cho kỹ năng này mà không có một hướng dẫn hay biện pháp cụ thể nào.
Các nghiên cứu về tâm lý hay giáo dục cho trẻ mẫu giáo thường nhắc đến các kỹ năng
cần thiết cho trẻ mẫu giáo chuẩn bị vào lớp một, trong đó có kỹ năng tiền học đọc học
11
viết thông qua việc chú trọng đến lĩnh vực phát triển ngôn ngữ hoặc một số bài báo,
tạp chí có liên quan đến vấn đề này.
Phần lớn các nghiên cứu trong hai mươi năm trở lại đây, chủ yếu đề cập đến vấn
đề chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông, chuẩn bị cho việc học đọc, học viết của trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong đó nêu lên một số quan điểm về việc chuẩn bị cho trẻ vào
lớp một. Điển hình như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong "Giáo dục
học" (1994); hay tác giả Đinh Văn Vang trong "Giáo trình Giáo dục học Mầm non"
(2008); đều cho rằng trên thực tế có những quan điểm trái chiều nhau trong việc chuẩn
bị cho trẻ vào trường phổ thông, bên cạnh đó, cả hai tác giả đều khẳng định việc phát
triển ngôn ngữ hay nắm vững tiếng mẹ đẻ là một yếu tố quan trọng trong công tác
chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông, chuẩn bị cho việc học đọc học viết của trẻ về
sau. Tác giả Lưu Thị Lan "Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 đến 6 tuổi"
(1996); Nguyễn Xuân Khoa "Phương Pháp Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Mẫu Giáo"
(1997) đã đề cập đến các sai lầm trong việc chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông
đồng thời nêu lên các đặc điểm về phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo, cùng các
phương pháp làm tăng vốn từ, phát triển lời nói mạch lạc, dạy trẻ đặt câu, phát triển từ
ngữ, dạy trẻ nghe và phát âm đúng, dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn chương.
Nguyễn Thị Oanh "Các biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6
tuổi)" (2000) đã xây dựng 4 tiêu chí đánh giá mức độ phát triển lời nói mạch lạc của
trẻ 5 – 6 tuổi, đề xuất 9 biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi. Nhìn chung các nghiên cứu trên đã đề cập đến các khía cạnh của kỹ năng tiền học
đọc học viết song còn chung chung và chưa mang tính chuyên biệt trong chuẩn bị kỹ
năng này.
Ngoài những nghiên cứu trên, có những nghiên cứu tập trung đi sâu vào việc
nghiên cứu nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua việc tìm hiểu đặc điểm và
biện pháp phát triển ngôn ngữ nói, chuẩn bị cho trẻ học ngôn ngữ viết khi vào trường
phổ thông. Cụ thể, đề tài cấp bộ của Nguyễn Thị Phương Nga "Chuẩn bị cho trẻ mẫu
giáo lớn học Tiếng Việt" (1996); Lê Quỳnh Thư "Những điều cần biết cho bé chuẩn bị
vào lớp 1" (2013); Hoàng Mai "Cho trẻ 5 tuổi làm quen với chữ viết theo hướng đổi
mới" (1999); Nguyễn Thị Phương Nga với loạt bài "Khi nào bắt đầu dạy chữ cho trẻ"
12
"Dạy trẻ cái gì?", "Chuẩn bị cho trẻ học chữ như thế nào?" (1999); Hoàng Thị Oanh
"Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi" (2001); đã nhấn mạnh độ tuổi
phù hợp để bắt đầu học chữ là trẻ 5 tuổi; những nghiên cứu này đã nêu ra những kỹ
năng và năng lực cần thiết để trẻ học đọc, học viết; cùng những biện pháp chuẩn bị cho
trẻ 5 tuổi học đọc, học viết khi vào lớp một. Hay Trương Thị Kim Oanh "Một số hình
thức chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi học đọc, học viết." (2000); "Một số biện pháp tổ chức chơi
giúp trẻ 5 tuổi dân tộc thiểu số học tiếng Việt" (2004): Đề xuất 6 biện pháp tổ chức
hoạt động chơi phù hợp với đặc điểm phát triển trẻ 5 tuổi dân tộc thiểu số, góp phần
chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước khi vào học lớp 1.
Trực tiếp đề cập đến vấn đề học chữ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, nghiên cứu của
tác giả Nguyễn Thị Phương Nga "Chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi học chữ" (2000) đã
nêu ra hai sai lầm cơ bản của trường mẫu giáo khi thực hiện việc chuẩn bị cho trẻ học
chữ và đưa ra quan điểm của mình về những kỹ năng cần dạy và những năng lực cần
phát triển ở trẻ để chuẩn bị cho trẻ ở lớp một. "Giáo trình phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mầm non" cũng của tác giả vào năm 2006, đã đưa ra các nội dung cần phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non như: dạy nghe và phát âm đúng, phát triển vốn từ, dạy
nói đúng ngữ pháp, dạy nói mạch lạc, chuẩn bị cho việc học ngôn ngữ viết của trẻ (đưa
ra các thuật ngữ sử dụng trong việc làm quen chữ viết của trẻ, cơ sở lý luận của việc tổ
chức cho trẻ làm quen chữ viết, việc tổ chức môi trường ngôn ngữ). Những nghiên cứu
này đã chú trọng hơn về công tác chuẩn bị cho trẻ học chữ ở trường mầm non.
Tuy nhiên, vấn đề học chữ hay kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5
– 6 tuổi trong các nghiên cứu trên vẫn chỉ được nhắc đến như một phần nhỏ trong công
tác phát triển ngôn ngữ nói chung dưới những thuật ngữ như "Chuẩn bị cho việc học
chữ, chuẩn bị cho việc trẻ học tiếng Việt ở trường phổ thông, hay làm quen chữ
cái…". Các biện pháp để hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5
– 6 tuổi tại trường mầm non được rất ít các công trình nghiên cứu trong nước trực tiếp
đề cập. Trong số ít những nghiên cứu đó có, nghiên cứu của tác giả Phan Thị Lan Anh;
tác giả đã đề cập tới việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 –
6 tuổi tại trường mầm non trong đề tài "Sử dụng trò chơi trong phát triển khả năng tiển
đọc, viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong trường mầm non" (2010); hay bài viết của
13
Vũ Thị Hương Giang "Sử dụng tranh truyện để pháp triển khả năng tiền học đọc học
viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi" (2012). Song các nghiên cứu này chỉ tập trung khai
thác hoặc là trò chơi, hoặc là tranh truyện như một phương tiện, công cụ chủ yếu để
thực hiện nhiệm vụ này.
Từ các tổng kết trên cho thấy, hầu hết các công trình nghiên cứu ở nước ta chủ
yếu tập trung vào vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ, việc nghiên cứu sâu về kỹ năng
tiền học đọc học viết còn hạn chế và các biện pháp hình thành kỹ năng này ở trẻ mẫu
giáo
5 – 6 tuổi còn ít được chú ý.
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề hình
thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non,
cho thấy, việc hình thành những kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi phải thông qua các hoạt động có ý nghĩa trong cuộc sống của trẻ, phải phù hợp với
đặc điểm phát triển của lứa tuổi cũng như phát huy được tính chủ động tích cực của
trẻ; đối với trẻ ở lứa tuổi này, hoạt động chơi đóng vai trò chủ đạo, nó phản ánh đời
sống xã hội một cách gần gũi, quen thuộc hấp dẫn, nó có khả năng chuyển tải rất nhiều
kiến thức và là phương tiện tốt nhất để hình thành các kỹ năng cho trẻ một cách phù
hợp và dễ dàng. Trò chơi mẫu giáo được sử dụng rất nhiều trong trường mầm non, nó
phát huy tốt tác dụng giáo dục của mình đối với trẻ nhỏ. Có nhiều nhà nghiên cứu đã
nghiên cứu về trò chơi mẫu giáo và tác dụng của nó đối với trẻ như tác giả Nguyễn
Ánh Tuyết với "Tổ chức hoạt động vui chơi trong trường mẫu giáo" (Giáo dục học –
1994), Đinh Văn Vang "Hoạt động vui chơi của trẻ em Mẫu giáo" (Giáo trình giáo dục
học mầm non – 2008)… Các nghiên cứu về trò chơi của trẻ phần lớn chỉ ra rằng trò
chơi có tác dụng phát triển một khía cạnh trong sự phát triển của trẻ như trí tuệ, vận
động, ngôn ngữ… Điển hình như nghiên cứu của Nguyễn Ánh Tuyết "Trò chơi của trẻ
em" (2000), Nguyễn Thị Thanh Hà "Tổ chức hoạt động vui chơi của trẻ ở trường mầm
non" (2002) đã đề cập đến vai trò của trò chơi đối với trẻ mầm non, các loại trò chơi ở
trường mầm non và cách thức tổ chức các loại trò chơi này. Tuy nhiên, kỹ năng tiền
học đọc học viết là một kỹ năng chuyên biệt, nên cũng cần có những giờ học chuyên
biệt để hình thành kỹ năng này ở trẻ mầm non, những giờ học chuyên biệt này ở
14
trường mầm non được tổ chức trong các hoạt động được gọi với cái tên là hoạt động
chung, hoạt động có chủ đích hay hoạt động học tập của trẻ ở trường mầm non. Hoạt
động học tập này ở trường mẫu giáo, đặc biệt đối với của trẻ mẫu giáo lớn được nhiều
nghiên cứu đề cập. Đa số những nghiên cứu này cho rằng, ở trẻ mẫu giáo, đối tượng
của hoạt động học tập của trẻ mẫu giáo là những tri thức tiền khoa học – đó là những
biểu tượng sơ đẳng về thế giới xung quanh, rất cần thiết để trẻ lĩnh hội tri thức khoa
học khi bước vào trường phổ thông. Hoạt động học tập của trẻ ở trường mầm non chỉ
có hơi hướng của học tập chính thức chứ chưa phải là hoạt động học tập chính thức và
chủ yếu cũng là trẻ học thông qua chơi.
Trên cơ sở tìm hiểu những nghiên cứu trong và ngoài nước trên, đề tài "Biện
pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại một số
trường mầm non huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương" nghiên cứu việc kết hợp giữa hoạt
động chơi và hoạt động học tập tại trường mầm non chú trọng hướng tới giúp trẻ thông
hiểu thành phần âm thanh ngôn ngữ từ đó trẻ hiểu và tự rút ra kinh nghiệm đọc viết
cho bản thân. Đây chính là tiền đề kỹ năng đọc viết thực thụ, nó được bắt nguồn từ
chính trẻ, xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng của trẻ, tạo chuyển biến nhẹ nhàng cho
trẻ khi chuyển từ hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi tại trường mầm non sang
hoạt động học tập ở trường tiểu học.
1.2. Cơ sở lý luận của việc hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết cho
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
1.2.1. Vấn đề chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi vào học ở trường phổ
thông
1.2.1.1. Tầm quan trọng của việc chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông
Trường mầm non có nhiệm vụ chuẩn bị cho trẻ vào lớp một. Trong những năm
tháng ở trường mầm non trẻ cần được giáo dục các phẩm chất của người học sinh
tương lai. Đó là những kỹ năng và kỹ xảo mang tính trí tuệ, phẩm chất ý chí, nếu thiếu
chúng trẻ không thực hiện được hoạt động học tập có hệ thống [7].
Chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo vào trường phổ thông là một quá trình lâu dài, ngay từ
tuổi vườn trẻ đến khi trẻ có đủ điều kiện vào lớp Một.
Chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi vào học ở trường phổ thông được sử dụng
15
với các thuật ngữ như: chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một hay chuẩn bị cho trẻ vào trường
phổ thông.
Việc chuẩn bị cho trẻ mg vào học trường phổ thông có ý nghĩa rất quan trọng.
Theo các nhà tâm lý học và giáo dục học (Liên Xô cũ) như G.B.Ananhép,
L.A.Venghe, P.IA.Ganperin, A.M.Lêôsina, A.P.Uxôva, V.V. Đavưđốp... đã khẳng
định rằng việc chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông không chỉ gói gọn trong việc tích
lũy một khối lượng kiến thức, biểu tượng mà quan trọng hơn là hình thành và phát
triển ở trẻ các thao tác trí tuệ khác nhau, phát triển ở trẻ các khả năng tư duy tích cực,
hình thành hệ thống những hành động tư duy, nhờ đó mà trẻ ngày càng có khả năng
chủ động trong việc tiếp thu tri thức mới, tức là tạo điều kiện để phát triển bản thân
quá trình nhận thức của trẻ [13, tr.34].
Việc chuẩn bị cho trẻ đi học ở trường phổ thông bao gồm hai nhiệm vụ cơ bản:
Giáo dục toàn diện cho trẻ: Trí dục, đức dục, thể dục, mĩ dục, lao động và chuẩn bị
một số điều kiện đặc biệt cho việc lĩnh hội các môn học mà trẻ phải học ở trường phổ
thông [22, tr.104 – 112].
Theo Nguyễn Thị Ánh Tuyết, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một không thể là việc làm
thay cho giáo viên ở bậc tiểu học, không nên dạy trước những gì mà sau này trẻ sẽ
phải học. Hoạt động học tập cũng cần có một thời gian nhất định mới được hình thành.
Chuẩn bị cho trẻ vào lớp một là trách nhiệm của ngành giáo dục mầm non, của
các gia đình và của cả ngành giáo dục tiểu học. Theo tác giả, ở nhiều nước trên thế
giới có nền giáo dục tiên tiến, trong việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp một có sự kết hợp
của ngành giáo dục tiểu học với ngành giáo dục tiền học đường rất chặt chẽ. Giáo dục
tiền học đường có nhiệm vụ nghiên cứu những yêu cầu giáo dục đối với học sinh lớp
một để chuẩn bị cho trẻ em thích ứng dần với cuộc sống và hoạt động ở trường tiểu
học. Ngược lại, giáo dục tiểu học cũng phải nghiên cứu việc chăm sóc và giáo dục trẻ
em ở các vườn trẻ (tức là trường mẫu giáo) để biết việc chăm sóc và giáo dục trẻ như
thế nào, kết quả ra sao để tiếp tục giáo dục sau này khi trẻ vào lớp một. Nhờ có mối
quan hệ mật thiết đó, trẻ em được giáo dục một cách liên tục, phát huy được các mặt
mạnh và khắc phục được các mặt còn non yếu trong nhân cách của mỗi học sinh đúng
theo con đường phát triển riêng của chính nó.
16
Tác giả cũng chỉ ra rằng, trên thực tế có hai quan niệm sai lầm trong chuẩn bị cho
trẻ vào trường phổ thông đó là quan niệm cho rằng không cần chuẩn bị hoặc ngược lại
cho rằng chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông là cho trẻ học trước chương trình lớp
một.
Quan điểm không cần chuẩn bị gì cho trẻ trước khi vào lớp một thì việc học tập
của trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn, trẻ ngỡ ngàng lúng túng và nhút nhát khi giao tiếp với
thầy cô giáo, với bạn bè, cuộc sống của trẻ trở nên nặng nề, căng thẳng, trong nhiều
trường hợp, trẻ rơi vào tình trạng khủng hoảng, sợ đi học, kết quả học tập rất hạn chế,
gây nên nhiều bất lợi cho những chặng đường phát triển tiếp theo. Quan điểm cho trẻ
học trước chương trình lớp một cũng gây ra những sai lầm nghiêm trọng khi việc làm
này là không phù hợp với những quy luật phát triển của trẻ dưới 6 tuổi; Những trẻ học
trước chương trình lớp một, những ngày đầu khi mới vào trường có thể hơn các bạn
khác một số chữ, một số con tính, nhưng chỉ vài tháng sau hầu hết trẻ em trong cả lớp
đều biết đọc, biết tính tương đương nhau. Một số trẻ đã học trước, nhưng do không
chuẩn bị đầy đủ về mặt thể chất và tâm lí nên càng học càng đuối, cái vốn có trước đã
không thể sinh sôi nảy nở mà còn bị giảm đi. Một số khác do được học trước sinh ra
chủ quan khi phải học lại từ đầu, do đó mà có thái độ chểnh mảng và tỏ ra chán học vì
không học được điều gì mới lạ so với cái mình đã biết. Nghiêm trọng hơn cả, đó là
việc học trước chương trình lớp một nếu phạm những sai lầm thì việc khắc phục, uốn
nắn sau này là cả một công việc rất khó khăn, để lại những thói quen xấu trong hoạt
động trí tuệ, cản trở bước đường tiến bộ của trẻ trong học tập [29].
Theo tác giả Đinh Văn Vang, trên thực tế hình thành ba quan niệm về việc chuẩn
bị cho trẻ vào trường mầm non là:
Quan niệm thứ nhất – theo nếp cũ. Khi nào lên 6 tuổi thì cho trẻ vào lớp Một. Từ
lâu, nhà trường truyền thống ít quan tâm đến việc kiểm tra, đánh giá đầu vào của trẻ
em đầu tuổi học. Thực ra không biết kiểm tra, đánh giá cái gì? Ngay cả trường mầm
non, trong tâm niệm của nhiều người đây chỉ là nơi “gửi trẻ”. Tất thảy trẻ em 6 tuổi
đều bình đẳng cắp sách tới trường, không cần biết tuổi khôn và sức khoẻ có học được
không. Theo lối suy nghĩ này, nhiều người, nhất là vùng nông thôn ít quan tâm đến
việc chuẩn bị về mặt trí tuệ và tinh thần cho trẻ vào lớp Một. Tuổi mầm non của trẻ em
17
chủ yếu sống trong gia đình, xóm giềng, không được giáo dục, rèn luyện một cách hệ
thống những điều cần thiết cho học tập sau này. Đầu vào của trẻ em đầu tuổi học thật
đa dạng phụ thuộc phần nhiều vào môi trường văn hoá – giáo dục của gia đình.
Quan niệm thứ hai – theo xu thời, áp đặt, nhồi nhét vào đầu trẻ vô vàn những
kiến thức mà lẽ ra vào trường phổ thông trẻ mới phải học. Những người theo hướng
này lầm tưởng rằng để cho trẻ học tập tốt ở trường phổ thông cần dạy trước cho trẻ
một số thứ như: tập viết, tập đọc tập làm toán, học ngoại ngữ… Rút cục là đứa trẻ
không đủ sức tiếp thu những tri thức trên.
Quan niệm thứ ba – ảnh hưởng của khoa học giáo dục mầm non, cho rằng khi
nào thể lực, trí tuệ nói riêng và tâm lí của trẻ phát triển đủ để học tập thì cho trẻ vào
lớp Một. Những người theo hướng này cho rằng, cần phải xác định chuẩn về thể lực và
tâm lí của trẻ em trước khi vào lớp Một. Để trẻ học tập có hiệu quả ở trường phổ
thông; trường mầm non, các bậc phụ huynh phải quan tâm đến việc chuẩn bị một cách
toàn diện thể lực và tinh thần cho trẻ em. Công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một trở
nên cấp thiết [33].
Từ những quan điểm và lập luận trên, chúng ta có thể thấy việc chuẩn bị cho trẻ
vào trường phổ thông cần quan tâm chuẩn bị toàn diện về thể lực và tinh thần cho trẻ
cũng như quan điểm chuẩn bị về mọi mặt để trẻ phát triển toàn diện, tự tin, hứng thú
khi vào trường mầm non. Cần có sự thống nhất về quan điểm cũng như nhận thức về
vấn đề này giữa trường mầm non, trường tiểu học và cả phụ huynh của trẻ để tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện công tác này được hiểu quả. Ở tuổi mẫu giáo,
nếu được chăm sóc giáo dục tốt, đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất, tâm lí, xã
hội thì sẽ giúp trẻ dễ dàng thích ứng với hoạt động học tập và cuộc sống ở trường phổ
thông.
1.2.1.2. Những biểu hiện trẻ sẵn sàng cho việc đi học ở trường phổ thông
Trẻ 5 - 6 tuổi đã biết sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, đã xác định ý thức bản ngã
và tính chủ định trong hoạt động tâm lý, trẻ chuẩn bị tiến vào bước ngoặt 6 tuổi. Bước
ngoặt 6 tuổi là một sự kiện quan trọng, khiến các nhà giáo dục cần phải quan tâm, một
mặt giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm lý trong suốt thời kỳ mẫu giáo,
mặt khác tích cực chuẩn bị cho trẻ có đủ điều kiện để làm quen dần với hoạt động học
18
tập và cuộc sống ở trường phổ thông. Vì vậy trong giai đoạn này phải có bước chuẩn
bị sẵn sàng về mặt tâm lý cho trẻ đến trường phổ thông.
Theo L.A Venghe trình độ sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc học tập ở trường phổ
thông của trẻ mẫu giáo chỉ là tiền đề của các nét đầy đủ để các em có thể thích nghi
với các điều kiện của nhà trường, bắt tay vào việc học tập một cách hệ thống. Trước
hết là lòng mong muốn trở thành một học sinh, muốn hoạt động nghiêm túc, muốn học
tập. Ở trình độ này trẻ ý thức được rằng vị trí của trẻ mẫu giáo không còn tương xứng
với khả năng đang tăng lên của mình nữa, trẻ bắt đầu không thỏa mãn với vai người
lớn mà trò chơi mang lại cho nó. Trở thành học sinh là một bước để các em vươn lên
trở thành người lớn. Học tập là một sự nghiệp trọng đại đối với chúng.
Đồng thời những mặt hấp dẫn bên ngoài của trường tiểu học, các hoạt động của
các anh chị trường tiểu học cũng rất hấp dẫn đối với trẻ.
Cũng như các nghiên cứu khác, ông cho rằng một mặt quan trọng của trình độ
chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc học tập là trình độ phát triển về mặt lý trí của
trẻ phải đủ cao. Sự hình thành hệ thống thứ bậc động cơ khiến đứa trẻ có thể điều
khiển được hành vi của mình, có thể tham gia vào các hoạt động chung, chấp hành các
nội quy của trường tiểu học, và của giáo viên đề ra. Bên cạnh đó trẻ vào lớp một phải
có đủ một số kiến thức về môi trường xung quanh, về các sự vật hiện tượng của giới
hữu sinh, vô sinh, về con người và về lao động của con người cùng các mặt của đời
sống xã hội, biết “tốt”, “xấu”… Điều quan trọng ở đây không phải là khối lượng tri
thức mà chính là chất lượng tri thức, là trình độ đúng đắn, rõ ràng, khái quát của các
biểu tượng hình thành ở trẻ mẫu giáo.
Trình độ phát triển hứng thú nhận thức và trình độ nhận thức, trình độ phát triển
ngôn ngữ cũng đóng vai trò quyết định trình độ sẵn sàng đi học của các em. Những
phẩm chất nhân cách đứa trẻ là trình độ cuối cùng của trình sẵn sàng về mặt tâm lý của
đứa trẻ. Giúp chúng có thể hòa nhập vào tập thể, tạo vị trí của mình trong tập thể, tham
gia vào hoạt động chung [9, tr. 263 – 280].
Thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi là một bước ngoặt quan trọng của trẻ em. Ở độ tuổi
mẫu giáo lớn là thời kỳ trẻ đang tiến vào bước ngoặt đó với sự biến đổi của hoạt động
chủ đạo. Hoạt động vui chơi vốn giữ vị trí chủ đạo trong trong suốt thời kỳ mẫu giáo,
19
nhưng vào cuối tuổi này không còn giữ nguyên dạng hoàn chỉnh đặc điểm của nó,
những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh.
Cuối giai đoạn mẫu giáo lớn, trẻ đã có những tiền đề cần thiết của sự chín muồi
đến trường về các mặt tâm sinh lý, nhận thức, trí tuệ ngôn ngữ và tâm thế để trẻ có thể
thích nghi bước đầu với điều kiện học tập ở lớp 1.
Việc chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 là chuẩn bị những tiền đề, những yếu tố của
hoạt động học tập để có thể thích ứng tốt nhất, nhanh nhất đối với việc học ở lớp 1. Có
thể có hai lĩnh vực cần chuẩn bị:
Chuẩn bị cho trẻ một cách đầy đủ bao gồm: Chuẩn bị về thể lực: bảo đảm cho
trẻ khoẻ về thể xác và tinh thần, dẻo dai và linh hoạt, năng lực phối hợp các vận
động cơ bản; Chuẩn bị về trí tuệ: óc tò mò ham hiểu biết, óc tưởng tượng, chú ý, trí
nhớ, tư duy...; Chuẩn bị về một số nét nhân cách: một số nét ý chí của nhân cách
(Tính chủ định, tự lập, kiên trì...), một số nét nhân cách biểu hiện thái độ đối với xã
hội và bản thân (lòng tự trọng, tự đánh giá, tinh thần hợp tác...)
Chuẩn bị chuyên biệt: là sự chuẩn bị những năng lực và phẩm chất chuyên
biệt, trực tiếp giúp trẻ dễ dàng và nhanh chóng thích ứng với việc tham gia vào các
tiết học, môn học ở lớp 1. Cụ thể là: Chuẩn bị cho trẻ dễ làm quen, thích ứng với
hình thức "tiết học" ở lớp 1 và cấp tiểu học sau này; Chuẩn bị về động cơ học tập;
Chuẩn bị về nhận thức nhiệm vụ học tập; Chuẩn bị về cách học.
Việc chuẩn bị tốt các nội dung trên sẽ giúp trẻ nhanh chóng thích nghi, thích ứng
trường học [31].
Sự sẵn sàng đi học của trẻ là trạng thái chủ quan của trẻ thể hiện sự sẵn sàng
tham gia hoạt động học tập. Sự sẵn sàng này được hình thành trong quá trình tích lũy
kiến thức ở lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi và sự chuẩn bị của gia đình trẻ. Sự sẵn sàng đi học
của trẻ là có điều kiện nên nó sẽ mất đi nếu không được củng cố và tích lũy [3].
Chính vì vậy, nhiệm vụ chuẩn bị cho trẻ vào học ở trường phổ thông trước hết
phải chuẩn bị cho trẻ một cơ thể phát triển khỏe mạnh, có đầy đủ sức khỏe để theo
đuổi việc học hành và học tập tốt. Bên cạnh đó trẻ cần được chuẩn bị về mặt tâm lý
cho việc học ở trường phổ thông như trình độ phát triển trí tuệ; có khả năng ban đầu để
lĩnh hội kiến thức; biết điều khiển hành vi của bản thân; biết giao tiếp tốt với mọi
20
người xung quanh cũng như có nguyện vọng trở thành học sinh và ham muốn đến
trường.
Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết và cộng sự, sẵn sàng đi học ở trường phổ thông
là khi trẻ có sự chín muồi về sự phát triển tâm lí – thể chất. Đó là thể lực các em đã
phát triển, các giác quan trở nên tinh nhạy, trình độ phát triển ý chí đã đủ sức để điều
khiển hành vi tuân theo nội quy của nhà trường, và thực hiện được các yêu cầu của
giáo viên, hay tập thể. Những thao tác trí tuệ như óc quan sát, trí nhớ, tư duy… đã đủ
sức để lĩnh hội các tri thức khoa học; vốn hiểu biết về thế giới xung quanh, vốn ngôn
ngữ… tương đối phong phú đủ sức để tiếp thu những tri thức khoa học một cách hệ
thống. Lòng mong mỏi được đi học, ham muốn được trở thành người học sinh là sản
phẩm của cả một quá trình giáo dục lâu dài ở trường mầm non. Thông qua các hoạt
động ở trường mầm non, giáo viên mầm non giúp trẻ được làm quen, tiếp xúc với các
hoạt động của trường phổ thông với các quan hệ xã hội, và nhiệm vụ của mỗi cá nhân
trong trường... dần dần hình thành ở các em tâm lí muốn được sống và học tập ở
trường phổ thông [29].
Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông
phải đảm bảo việc: Nuôi dưỡng hứng thú nhận thức lâu bền cho trẻ; Kích thích lòng
ham muốn đi học của trẻ [30].
Tất cả các yếu tố trên tạo nên tâm thế “Sẵn sàng đi học” ở trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi. Đó là trạng thái mà đứa trẻ được tích lũy đủ về lượng để có thể chuyển lên một
bước phát triển mới khác hoàn toàn về chất – trở thành một người học thực thụ.
Sẵn sàng đi học trường phổ thông của trẻ có những biểu hiện sau:
Sẵn sàng về tâm lý
Có kỹ năng học: hiểu nhiệm vụ học tập, biết tự kiểm tra – đánh giá, biết xử lý các
tình huống có vấn đề, có một số thói quen để thực hiện việc học tập. Có khả năng thực
hiện nhiệm vụ một cách độc lập, hoặc theo nhóm. Dễ thích nghi với môi trường.
Có khả năng ghi nhớ và tư duy có chủ định.
Có hứng thú vối việc học, mong muốn được trở thành người học sinh thực thụ
được vào trường tiểu học có bàn ghế, có trống trường, được đeo cặp sách trên vai, có
sách vở, có bút viết và được chấm điểm…
21
Sẵn sàng về sự phát triển ý chí
Hình thành các động cơ giúp trẻ có khả năng điều chỉnh hành vi.
Hình thành hoạt động nhận thức có chủ đích: khả năng chú ý có chủ định, tập
trung vào công việc mình đang làm và hướng dẫn của giáo viên.
Sự sẵn sàng về mặt trí tuệ
Nắm các kiến thức về môi trường xung quanh, toán học một cách chính xác.
Thích thú khi được khám phá những kiến thức, kỹ năng mới; có kỹ năng quan
sát, so sánh, phân tích các tính chất khác nhau của của các sự vật hiện tượng và các sự
kiện xã hội.
Sự sẵn sàng về mặt ngôn ngữ
Có trình độ phát triển ngôn ngữ tốt: khả năng hiểu lời nói, khả năng diễn đạt
mạch lạc, trôi chảy bằng tiếng Việt. Có thể diễn đạt chính xác mong muốn và suy nghĩ
của mình.
Nói tóm lại, có nhiều nghiên cứu về biển hiện sẵn sàng đi học của trẻ mẫu giáo,
tuy nhiên, các nghiên cứu này đều có một điểm chung là trẻ phải có sự phát triển đầy
đủ về thể lực và ý chí với những biểu hiện như: trẻ mong muốn đi học, mong muốn trở
thành một học sinh thực thụ, sẵn sàng tiếp nhận nhiệm vụ học tập và có khả năng hiểu
và thực hiện nhiệm vụ được giao, có khả năng tập trung chú ý, ghi nhớ có chủ định,
biết quan sát, so sánh và phân tích đối tượng.
Theo tác giả Mai Nguyệt Nga, biểu hiện chứng tỏ trẻ sẵn sàng về tâm lý cho việc
đi học ở trường phổ thông là: Trẻ mong muốn trở thành người học sinh, muốn được
học tập; Ý chí của trẻ được phát triển khá cao trẻ có thể điều khiển hành vi của mình
một cách có chủ định; Trí tuệ của trẻ cần đạt được một trình độ phát triển nhất định và
nhân cách của trẻ cũng được phát triển [18, tr. 274 – 277].
1.2.1.3. Các biện pháp chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi vào học ở trường
phổ thông
Thông qua các hoạt động như vui chơi, hoạt động có sản phẩm, có sự chỉ đạo
thường xuyên của người lớn, chiếm một vị trí cơ bản trong chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi vào học trường phổ thông. Các hoạt động này có tác dụng làm hình thành ở
trẻ động cơ xã hội của hành vi; giáo dục ý chí; hình thành và hoàn thiện các hành động
22
tri giác và tư duy của trẻ; hình thành ở trẻ kỹ năng thiết lập mối quan hệ với người
khác.
Bên cạnh đó, một số phẩm chất như hứng thú nhận thức, kỹ năng học tập và tính
chủ định của các quá trình nhận thức, chỉ được hình thành ở trẻ trong quá trình trẻ học
có hệ thống trên các giờ học. Quan tâm, giúp trẻ ý thức được sự khác biệt giữa mặt âm
thanh của ngôn ngữ và mặt nội dung của ngôn ngữ, cần làm phát triển khả năng nghe
âm vị, khả năng hiểu thành phần từ của câu và âm của từ. Cần giúp trẻ ý thức được sự
khác biệt giữa quan hệ số lượng của các vật và ý nghĩa đối tượng của chúng [18, tr.
274 – 277].
Chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi vào trường phổ thông thông qua việc làm
quen trẻ với biểu tượng toán, làm quen môi trường xung quanh, hình thành năng lực
nhận thức, khả năng tư duy, chú ý có chủ đích cho trẻ…, đặc biệt công tác chuyên biệt
là chú ý đến việc cho trẻ làm quen chữ cái. Việc chuẩn bị này được thực hiện thông
qua các hoạt động của trẻ ở trường mầm non như dưới hình thức trực quan, sinh động,
hấp dẫn và gây hứng thú cho trẻ. Giúp trẻ lĩnh hội các kiến thức, kỹ năng chuyên biệt
góp phần tạo điều kiện cho trẻ học tập tốt ở trường phổ thông.
1.2.2. Sự hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi vào học ở trường phổ thông
1.2.2.1. Các khái niệm cơ bản
Một vài nét về hệ thống âm và chữ cái tiếng việt có liên quan đến việc
chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết
Tiếng Việt của ta có một đặc điểm nổi bật là đơn âm và đa thanh. Về mặt ngữ
âm, mỗi tiếng là một âm tiết. Âm tiết tiếng Việt được cấu tạo bởi 5 yếu tố bao gồm:
âm đầu và vần trong đó vần lại được cấu thành từ âm đệm, âm chính, âm cuối, yếu tố
cuối cùng của thành phần âm tiết là thanh điệu. Âm tiết nào cũng có thanh điệu.
Nguyễn Thị Phương Nga đã đề cập đến định nghĩa âm vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ
nhất có chức năng phân biệt nghĩa. Tiếng Việt có hai loại âm vị là nguyên âm và phụ
âm. Tiếng Việt có 29 chữ ghi âm đơn (chữ cái) [12].
Hệ thống âm và chữ cái tiếng Việt khá phức tạp, gồm nhiều yếu tố, tuy nhiên để
chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết cần chú ý đến các khái niệm âm vị, âm tiết (tiếng),
23
từ, câu, thanh điệu, chữ và chữ cái.
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (1998), các có các khái niệm sau đây:
Âm vị: (hay còn gọi ngắn gọn là âm) Âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất. Có tác
dụng khu biệt vỏ âm thanh của từ hoặc hình vị. Có hai loại âm vị là phụ âm và nguyên
âm.
Tiếng hay còn gọi là âm tiết: Là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong ngôn
ngữ.
Khái niệm từ: Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn
định. Dùng để đặt câu.
Khái niệm câu: Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, do từ tạo thành. Có một ngữ
điệu nhất định, diễn đạt một ý trọn vẹn. Câu thường có 2 thành phần là chủ ngữ và vị
ngữ.
Khái niệm chữ cái: Chữ cái là kí hiệu để ghi âm vị, trong chữ viết ghi âm.
Khái niệm chữ: Chữ là hệ thống kí hiệu bằng đường nét, đặt ra để ghi lời nói.
Hệ thống thanh tiếng Việt: Thanh hay còn gọi là thanh điệu. Tiếng Việt có thanh
điệu bao gồm: thanh ngang, thanh huyền, thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng, thanh sắc
[23].
Theo Võ Xuân Hào: "Chuỗi lời nói con người ta dùng để giao tiếp có thể chia
tách thành những khúc đoạn từ lớn đến nhỏ, khúc đoạn nhỏ nhất cuối cùng không còn
có thể phân chia được nữa ta gọi là âm tiết." Đơn vị nhỏ hơn nằm trong lòng âm tiết và
dùng để cấu tạo nên âm tiết được gọi là các âm tố. Âm tố là đơn vị phát âm tự nhiên
nhỏ nhất của lời nói, bao gồm 2 loại là phụ âm và nguyên âm. "Âm vị là đơn vị nhỏ
nhất của ngôn ngữ dùng để cấu tạo hình vị và phân biệt nghĩa các hình vị. Âm vị là
đơn vị đoạn tính nhỏ nhất có chức năng khu biệt nghĩa." Âm vị và âm tố có mối quan
hệ mật thiết với nhau, trong đó "Âm tố là sự thể hiện của các âm vị trong lời nói".
Võ Xuân Hào đề cập đến khái niệm thanh điệu "thanh điệu là khái niệm dùng để
chỉ cao độ của một âm tiết"; Và khái niệm: Chữ viết là một hệ thống kí hiệu thị giác
dùng để ghi lại âm thanh của ngôn ngữ. Giữa ngữ âm - âm thanh ngôn ngữ và chữ viết
cũng có một khoảng cách bởi chữ viết không phải là ngữ âm mà nó chỉ là một hệ
thống tín hiệu nhân tạo được dùng để biểu thị ngữ âm. Chữ viết ghi âm, chữ viết chỉ
24
đại diện cho ngữ âm chứ không đại diện cho ý nghĩa, mỗi âm vị được ghi bằng một
con chữ.
Chữ viết là hình thức vật chất hoá âm thanh ngôn ngữ dưới hình thức kí tự. Nói
cách khác, chữ viết là một hệ thống tín hiệu nhân tạo, một hệ thống kí hiệu thị giác
dùng để ghi lại âm thanh ngôn ngữ [4, tr.11, tr.103].
Hệ thống chữ viết tiếng Việt là chữ viết ghi âm vị gọi tắt là chữ ghi âm. Mỗi âm vị có một hình thức biểu hiện tương ứng trong chữ viết. Mối quan hệ giữa chúng là
đồng đều theo nguyên tắc 1- 1. Nghĩa là mỗi âm vị được ghi bằng một con chữ [4,
tr.104].
Như vậy, khi dạy học đọc, học viết tiếng Việt, cần sử dụng phương pháp phân
tích tổng hợp âm thanh của tiếng nói và ngôn ngữ.
Hiểu các nội dung và khái niệm về hệ thống âm và chữ cái Tiếng Việt, giúp giáo
viên có biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi,
thông qua giúp trẻ hiểu và phân tích thành phần âm thanh ngôn ngữ một cách chính
xác, phù hợp với khả năng của trẻ.
1.2.2.2. Khái niệm về đọc, viết
Khái niệm về đọc:
Đọc là phương tiện để con người học tập kinh nghiệm của các thế hệ truyền lại
thông qua chữ viết. Biết đọc, con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần.
Có nhiều quan điểm khác nhau về việc đọc:
Đọc là một hành vi thị giác nhằm giải mã những ký hiệu, nhận biết và nói âm các
chữ cái và tạo từ từ các chữ cái đó, thể hiện các từ này bằng âm thanh (đọc lên).
Đọc là hành vi trí tuệ nhằm hiểu, nắm bắt, rút được nghĩa trong văn bản. Người
đọc sử dụng kiến thức đã có của mình để đọc văn bản.
Đọc là một quá trình nhận thức để giải mã kí hiệu chữ viết nhằm hiểu được nghĩa
và nắm được nội dung.
Theo Hoàng Phê, đọc là phát thành lời những điều được viết ra, theo đúng trình
tự. Đọc là tiếp nhận nội dung của một tập hợp kí hiệu bằng cách nhìn vào các kí hiệu
[23].
Theo tác giả Bùi Thị Nga, đọc là một hoạt động sáng tạo của con người. Đọc
25
không chỉ là một hành động nhận thức nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là hoạt
động trực quan mang tính cảm xúc, có tính trực giác và khái quát trong nếm trải của
con người. Đọc còn là hành động mang tính chất tâm lí, một hoạt động tinh thần của
độc giả, bộc lộ rõ năng lực văn hoá của mỗi người. Đọc là quá trình chuyển hoá nội
dung ý nghĩa từ văn bản sang âm thanh lời nói và âm vang trong óc [11].
Theo Lê Phương Nga, đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển
dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với các hình thức
đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị
nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm). Đọc được xem như là một hoạt động có
hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện.
Một mặt, đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một
cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh. Thứ hai, đó là sự vận
động của tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ - nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các
con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được nội
dung những gì được đọc. Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt, hoạt
động của các cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì đọc
được.
Thuật ngữ “đọc” được sử dụng trong nhiều nghĩa: Theo nghĩa hẹp, việc hình
thành kỹ năng đọc trùng với nắm kĩ thuật đọc (tức là việc chuyển dạng thức chữ viết
của từ thành âm thanh). Theo nghĩa rộng, đọc được hiểu là kĩ thuật đọc cộng với sự
thông hiểu điều được đọc (không chỉ hiểu nghĩa của những từ riêng lẻ mà cả câu, cả
bài). Kỹ năng đọc là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài.
Các tác giả đã chia việc hình thành kỹ năng này ra làm ba giai đoạn: phân tích, tổng
hợp (còn gọi là giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động)
và giai đoạn tự động hóa.
Tóm lại, việc đọc được xem như là một hoạt động lời nói trong đó có các thành
tố: Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ; Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh,
nghĩa là phát âm các từ theo từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc trơn từng tiếng, từng
từ, cụm từ, câu tùy thuộc vào trình độ nắm kĩ thuật đọc; Thông hiểu những gì được
đọc (từ, cụm từ, câu, đoạn, bài) [17].
26
Khái niệm về việc viết:
Việc viết là một hoạt động hoặc kỹ năng kí hiệu ngôn ngữ nói thành mã chữ viết.
Viết là chuyển mã ngôn ngữ nói thành ngôn ngữ viết.
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: Viết là vạch ra những đường nét tạo
thành chữ (tập viết, viết lên bảng…) [23].
Về cơ chế của việc viết, ban đầu hình ảnh của chữ viết sẽ được trẻ tiếp thu qua
mắt nhìn, từ đó chuyển lên trung khu viết ở võ não. Khi truyền lên, mắt sơ bộ phân
tích hình ảnh về chữ viết to, nhỏ, màu sắc, hướng viết nét chữ. Ở vỏ não sẽ diễn ra sự
phối hợp chặt chẽ giữa hai trung khu nói và viết, phát lệnh cho các cơ và xương tay thi
hành. Biết viết là một quá trình rèn luyện lâu dài. Để viết được cần có sự phối hợp vận
động một cách đồng bộ của nhiều cơ quan, bộ phận của cơ thể [1].
Tóm lại, viết là một quá trình sử dụng thao tác của con người để tạo thành chữ
thông qua việc sử dụng công cụ viết cùng với sự hiểu biết về hình dạng, đặc điểm và
cách viết các chữ cái nhằm truyền đạt một nội dung thông qua văn bản. Viết là một
quá trình tập luyện lâu dài để tạo thành kỹ năng.
Cơ chế của việc đọc viết:
Đọc và viết là các dạng của hoạt động ngôn ngữ, mà cơ sở của chúng là ngôn
ngữ nói. Đây là một loạt phức tạp các liên tưởng mới được đặt trên cơ sở của hệ thống
tín hiệu thứ hai, được liên kết và làm phát triển hệ thống tín hiệu thứ hai này
(B.G.Ananhiev).
Đ.B. Enconhin đã chỉ ra rằng cơ chế của việc đọc được qui định bởi hệ thống chữ
viết của tiếng nói này hay tiếng nói khác[40]. Chẳng hạn, trong chữ viết tượng hình,
các đơn vị nghĩa (từ, khái niệm) được mã hóa nhờ các kí hiệu đặc biệt – các tượng
hình. Có bao nhiêu từ mang nghĩa trong tiếng nói thì có bấy nhiêu các kí hiệu tượng
hình. Với hệ thống chữ viết này, việc dạy học đọc được qui về việc ghi nhớ nghĩa các
kí hiệu tượng hình khác nhau.
Viết là cách thức con người lưu truyền các kinh nghiệm lịch sử - xã hội, loài
người. Muốn chiếm lĩnh kho tàng tri thức này, con người cần phải biết đọc.
Các cơ chế của việc đọc và việc viết trong tâm lí học hiện đại được xem xét như
là các quá trình mã hóa và giải mã ngôn ngữ nói. Việc chuyển từ mã này sang mã khác
27
được gọi là chuyển mã. Việc đọc là chuyển từ mã chữ cái thành các từ được nói lên,
còn việc viết thì ngược lại, là việc chuyển mã của ngôn ngữ nói. Hai quá trình này tỉ lệ
thuận với nhau một cách chặt chẽ, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
1.2.2.3. Khái niệm về biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc, tiền học
viết.
o Khái niệm về kỹ năng Có nhiều khái niệm về kỹ năng. Có tác giả cho rằng: Kỹ năng như là kỹ thuật
thao tác. Theo Trần Trọng Thủy: Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động [28, tr.49].
o Từ điển tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa: “Kỹ năng là giai đoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa trên một quy tắc
(tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri
thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo.” [20].
o Còn theo N.D.Levitov xem xét kỹ năng gắn liền với kết quả hành động. o Theo Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Thị Tuyết Minh... coi kỹ
năng là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả.
Một khái niệm tương tự, kỹ năng - khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách
thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới [6].
Kỹ năng là khả năng thực hiện một cái gì đó, kỹ năng chỉ biểu hiện thông qua
một nội dung. Kỹ năng được hình thành dần dần trong suốt cả cuộc đời [5].
Nói tóm lại, thì tất cả các khái niệm trên đều có cùng một điểm chung khi đều coi
kỹ năng là hành động để giải quyết một sự việc, song cách nói của tác giả Phạm Thành
Nghị coi “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ cụ
thể.” [19, tr.78] là đầy đủ, ngắn gọn và súc tích hơn cả.
o Khái niệm về tiền học đọc học viết: Tiền học đọc học viết là một giai đoạn, ở đó trẻ được tiếp xúc với việc học đọc
học viết để trở nên biết đọc, biết viết thực thụ. Đây có thể xem như một giai đoạn
chuyển tiếp từ trình độ chưa biết đọc, biết viết trở thành biết đọc, biết viết của trẻ. Ở
giai đoạn này trẻ được hình thành các kỹ năng phục vụ cho việc học đọc học viết trước
khi vào trường phổ thông.
Tiền học đọc học viết hay còn được gọi là “đọc viết ban đầu” cũng là giai đoạn
28
trước khi trẻ bắt đầu học đọc, học viết; ở đây hoạt động chủ đạo của trẻ vẫn là hoạt
động vui chơi; tuy nhiên trẻ được khuyến khích cần tiếp xúc với việc học đọc học viết
dưới dạng đơn giản, tiền đọc, tiền viết, làm quen với các hình thức của việc đọc, việc
viết; thông qua các hoạt động hằng ngày ở mọi lúc mọi nơi, hoạt động vui chơi và hoạt
động chuyên biệt là hoạt động học tập tại trường mầm non; để trẻ có thể học đọc học
viết tốt ở trường phổ thông, các nhà giáo dục học và tâm lý học cũng như các nhà
nghiên cứu khuyến khích việc hình thành cho trẻ các kỹ năng chuyên biệt như kỹ năng
tiền đọc, tiền viết, các kỹ năng học tập và kỹ năng tự kiểm tra đánh giá hành động,
việc làm của bản thân.
Giai đoạn tiền học đọc học viết được coi là một giai đoạn quan trọng, có ý nghĩa
rất lớn đối với việc học đọc học viết một cách chính quy của trẻ khi vào lớp một. Giai
đoạn này là giai đoạn trẻ được hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết.
o Khái niệm về kỹ năng tiền học đọc học viết: Kỹ năng tiền học đọc học viết là một trong những cơ sở của hoạt động trí tuệ nói
chung và hoạt động học tập nói riêng; Kỹ năng tiền học đọc học viết còn là sự phản
ánh trình độ phát triển của trẻ trên các lĩnh vực nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, quan hệ
xã hội [2].
Từ năm 1966, Marie Clay – nhà nghiên cứu người New Zealand đã sử dụng thuật
ngữ "tiền đọc viết" (emergent literacy) để mô tả các hành vi của trẻ khi chúng sử dụng
sách và các tài liệu viết để bắt chước các hành động đọc viết của người lớn mặc dù
chúng không thể đọc, viết đúng nghĩa (Ramsburg, 1998) [35].
Tiền học đọc và học viết không phải là các kỹ năng bị cô lập, mà là một tập hợp
các kỹ năng của quy trình phát triển mà trẻ coi đó như một phương tiện để đạt được
mục tiêu đọc - viết [2].
Có nghiên cứu cho rằng "Kỹ năng tiền học đọc học viết là việc đọc, viết được
xuất hiện ban đầu ở trẻ, được phát triển trong sự phát triển ngôn ngữ nói, qua giao tiếp
và trò chuyện".
Hay kỹ năng tiền học đọc học viết là khả năng đọc, viết đang ló ra, nó được đề
cập tới như một giai đoạn sớm nhất của sự phát triển kỹ năng đọc, viết, đó là thời kỳ
giữa giai đoạn sơ sinh cho đến khi trẻ biết đọc biết viết theo cách thông thường [25].
29
Kỹ năng tiền học đọc học viết liên quan đến nhận thức về chữ ghi âm, âm tiết và
vần điệu, kiến thức về bảng chữ cái, quan tâm và hiểu biết về cuốn sách và ấn phẩm,
kỹ năng tiền văn bản, giải mã (ví dụ, chữ cái và các mối quan hệ âm thanh), và nhận
biết từ [38].
Như vậy, kỹ năng tiền học đọc học viết là khả năng của con người vận dụng các
kiến thức, hiểu biết về việc đọc và viết để tiếp cận với việc học đọc học viết.
Kỹ năng tiền học đọc học viết là những kỹ năng bắt đầu phát triển từ những năm
mầm non, như: kiến thức về chữ cái, hiểu biết ngữ âm, kiến thức về chữ viết, chữ in,
ngôn ngữ nói.
Kỹ năng tiền học đọc học viết là sự cố gắng của trẻ thực hiện những hành vi đọc,
viết không đúng quy ước ở trẻ được xem như là sự bắt đầu của việc đọc, viết thực thụ
theo cách thông thường.
Kỹ năng tiền học đọc học viết của con người được bộc lộ từ rất sớm ở trẻ; nó là
tập hợp các kỹ năng được coi là nền tảng cho việc học đọc, học viết khi trẻ vào lớp
một.
Kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Kỹ năng tiền học đọc học viết là một trong những cơ sở của hoạt động trí tuệ nói
chung và hoạt động học tập nói riêng; kỹ năng tiền học đọc học viết còn là sự phản
ánh trình độ phát triển của trẻ trên các lĩnh vực nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, quan hệ
xã hội [1].
Kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ là sự thể hiện của trẻ trong việc tạo ra và sử
dụng chữ viết theo chiều hướng có ý nghĩa, như: viết nguệch ngoạc, vẽ tranh, tô màu
chữ cái, bắt chước hành động đọc – viết, bắt chước viết tên của mình...
Theo Mary Ruth Coleman, biểu hiện kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ bao
gồm: hứng thú với những hoạt động đọc, thích viết tên của mình, nhận biết từ, nhớ tên
gọi của chữ cái, học nghe chữ cái, xác định hai chữ cái hoặc từ nghe đều giống nhau,
vỗ tay đúng số lượng âm trong một từ, trình bày hiểu biết về âm điệu, kiến thức về các
phần của một quyển sách; "đọc" từ trái qua phải, từ trên xuống dưới [38].
Theo tác giả Nguyễn Thị Phương Nga, để chuẩn bị cho trẻ học Tiếng Việt tốt ở
trường phổ thông thì cần hình thành ở trẻ các kỹ năng phân tích hoạt động ngôn ngữ
30
như: Phân tích câu thành tiếng, phân tích tiếng đơn giản thành âm vị, xác định thứ tự
tiếng trong câu, thứ tự âm trong những tiếng đơn giản một cách trực quan. Cũng theo
tác giả cần phát triển ở trẻ kỹ năng nghe bao gồm việc nghe và phân biệt đúng các
tiếng đơn giản, thanh và âm vị. Nhận ra các thanh, âm vị trong tiếng, tìm tiếng có âm,
có thanh cho trước [12].
Theo quan điểm trên; việc phát triển kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ 5 – 6
tuổi bao gồm một số kiến thức và kỹ năng ban đầu làm cơ sở cho việc học đọc, học
viết như:
- Kỹ năng nghe của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi: Nghe và phân biệt đúng các tiếng
(đơn giản) thanh và âm vị
- Kỹ năng nói của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi: Nói to, rõ cả câu hoàn chỉnh, mạnh
dạn, tự tin.
- Kỹ năng đọc của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi: Đọc chữ to, rõ, các tiếng có thanh,
các âm vị. Bước đầu làm quen với việc đọc bập bẹ, đọc một tiếng (đơn giản).
- Kỹ năng viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi: Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng
cách, biết tô màu và tạo các con chữ.
- Kỹ năng tự kiểm tra đánh giá: tự thực hiện kiểm tra đánh giá của bản thân theo
bài mẫu của cô, hoặc tự kiểm tra đánh giá theo lời hướng dẫn của cô.
Hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ không phải là huấn luyện hay
dạy trẻ học đọc, học viết một cách chính quy mà là nuôi dưỡng ham muốn biết đọc,
biết viết, thích tương tác với môi trường đọc, viết xung quanh, khuyến khích phát triển
những kỹ năng cần thiết cho việc học đọc, học viết khi vào lớp một thông qua việc
thường xuyên cho trẻ tiếp xúc với môi trường đọc, viết phong phú, thân thiện và hữu
ích, tạo nhiều cơ hội cho trẻ được đọc, viết theo cách riêng của mình. Nếu trẻ không
được hình thành những kỹ năng tiền học đọc học viết trước khi vào trường phổ thông
thì trẻ sẽ rất khó khăn trong sự hình thành kỹ năng đọc, viết thực thụ.
Từ những phân tích trên, cho thấy kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ 5 – 6 tuổi
bao gồm những năng lực cần thiết như nghe, nói, kỹ năng phối hợp nhịp nhàng của tay
và mắt; các kiến thức, thái độ và những yếu tố cá nhân trẻ được phát triển để chuẩn bị
cho việc học đọc, học viết một cách nghiêm túc ở trường phổ thông. Trong đề tài
31
chúng tôi tập trung khai thác và hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ dựa
trên quan điểm của Nguyễn Thị Phương Nga qua việc hình thành các kỹ năng nghe,
đọc, viết, kỹ năng học tập, kỹ năng tự kiểm tra đánh giá cho trẻ..
Khái niệm biện pháp
“Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể [23].
Biện pháp là một phạm trù mang tính biện chứng, nó luôn thay đổi theo sự thay
đổi của thực tiễn để đáp ứng với các nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn [22, tr.18].
Biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi.
Biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
cũng là một biện pháp nên nó được hiểu là cách làm, cách thức thực hiện một trong
những nội dung hình thành kỹ năng tiền học đường cho trẻ, đó là kỹ năng tiền học đọc
học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nhằm giúp trẻ có khả năng học đọc, học viết nói
riêng, kỹ năng học tập nói chung khi vào trường phổ thông. Biện pháp hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết cho trẻ phải có sự thay đổi cho phù hợp với từng giai đoạn
và trình độ phát triển của trẻ sao cho gây được hứng thú ở trẻ và mang lại hiệu quả cao
trong công tác hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ.
Từ những lập luận trên, chúng tôi cho rằng cần hình thành cho trẻ một số kiến
thức, kỹ năng tiền học đọc học viết có liên quan đến hoạt động đọc, viết của trẻ như
sau:
Kiến thức tiền học đọc học viết: Nhận ra những biểu tượng, kí hiệu, chữ cái;
Hiểu được chức năng của ngôn ngữ viết; Nhận ra mối liên hệ chữ cái – âm thanh; Hiểu
được truyện có cấu trúc các phần, hiểu được nội dung của từng phần và toàn bộ câu
chuyện; Hiểu câu chuyện, bài thơ, bài hát có nhiều câu, câu được tạo thành từ các từ,
từ gồm có các tiếng, tiếng được tạo ra từ các âm.
Kỹ năng tiền học đọc học viết: Phân tích văn bản ra câu, câu ra từ, từ ra tiếng, nói
được một số âm có trong tiếng; Biết kể chuyện theo tranh hoặc nghe kể chuyện hiểu và
phân tích thành phần câu chuyện, nêu ý nghĩa của câu trong truyện; Phát âm được chữ
ghi âm; Ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách;…
Nếu không được hình thành các kiến thức và kỹ năng tiền học đọc học viết này,
32
trẻ sẽ rất khó khăn khi vào lớp một. Những kỹ năng này được hình thành ngay từ lớp
mẫu giáo bé và phát triển dần cho đến cuối lớp mẫu giáo lớn. Đây là nhiệm vụ của cả
phụ huynh, giáo viên và cả xã hội.
1.2.3. Sự cần thiết của việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Phát triển tốt kỹ năng tiền học đọc học viết sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ mẫu
giáo 5 – 6 tuổi khi bước vào học tập ở lớp Một. Thế nhưng, việc hình thành kỹ năng
này không đúng cách sẽ tạo tác dụng ngược, và có hậu quả nghiêm trọng đối với việc
học của trẻ sau này. Việc hiểu được tầm quan trọng và vai trò của kỹ năng tiền học đọc
học viết đối với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi sẽ giúp cho những người làm công tác giáo dục
mầm non và phụ huynh của các em có khuynh hướng giáo dục tốt nhằm đạt mục đích
hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ, giúp trẻ có tâm thế sẵn sàng vào học
ở trường phổ thông.
Theo L.A. Venghe “Một điều có ý nghĩa rất đặc biệt trong việc chuẩn bị về mặt
tâm lý cho trẻ em đối với việc học là các em đã nắm được một số tri thức và kỹ năng
riêng mà trước đây người ta cho là những cái thuộc về cấp một: học đọc, học viết, học
tính và giải những bài toán số học.” Chương trình phổ thông, cụ thể là chương trình
lớp một dành cho tất cả các trẻ chưa biết về đọc, viết; Tuy nhiên, không phải vì thế mà
cấp học mầm non không chuẩn bị gì cho trẻ trong lĩnh vực này. Việc có các kỹ năng
ban đầu về việc học đọc, học viết sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của trẻ ở
trường phổ thông. Theo L.A. Venghe “Việc hình thành ở trẻ những biểu tượng chung
về mặt âm thanh với mặt nội dung của ngôn ngữ, về các mối quan hệ của các vật và sự
khác biệt giữa các quan hệ đó với ý nghĩa đối tượng của các vật đó là điều có ý nghĩa
tích cực [9, tr.273].
Theo PGS Trần Trọng Thủy: Việc lĩnh hội cách đọc sách ở những giai đoạn đầu
tiên là có ý nghĩa khá quan trọng. Nếu trẻ chưa được chuẩn bị cho việc đọc phù hợp thì
chúng có thể vấp phải nhiều vấn đề. Nếu công việc này được thực hiện một cách cẩn
thận thì trẻ sẽ thấy được ý nghĩa và mục đích của việc học tập và sẽ thoát khỏi những
rắc rối khi trẻ cố nắm vững một hoạt động mà chúng chưa hiểu được bản chất. Trần
Trọng Thủy cho rằng, đọc viết có ý nghĩa thực tế vô giá đối với cuộc sống xã hội con
33
người. Quá trình học đọc, học viết có thể ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển trí
tuệ. Quá trình này có thể làm cho những hình thức quan trọng là tự ý thức và tự điều
chỉnh trí tuệ được hình thành [27, Trang 11].
D.B.Enconhin, nhà tâm lí học nổi tiếng của Liên Xô đánh giá rất cao vai trò của
giai đoạn này trong việc chuẩn bị cho trẻ học chữ. Ông cho rằng giai đoạn này không
chỉ ảnh hưởng đến việc học chữ ở trường phổ thông mà còn có tác động đến sự phát
triển trí tuệ của trẻ.
Hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là hình
thành ở trẻ những kỹ năng cần thiết cho việc học đọc học viết sau này; nhằm nuôi
dưỡng ở trẻ lòng mong muốn biết đọc, biết viết; biến việc học chữ trở thành nhu cầu
của trẻ, trẻ mong muốn khám phá thế giới chữ viết chứ không phải bắt ép trẻ phải biết
đọc, biết viết ngay từ lứa tuổi mẫu giáo. Hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là thông qua các hoạt động ở trường mầm non, thông qua việc
tổ chức môi trường hoạt động cho trẻ.
Các chuyên gia cho rằng, kỹ năng tiền học đọc học viết xuất hiện rất sớm ở trẻ và
phát triển cho tới khi trẻ vào học lớp một. Kỹ năng này đặc biệt phát triển mạnh ở trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Sự thành công của trẻ trong lĩnh vực đọc, viết ở tiểu học sau này
không hoàn toàn phụ thuộc vào vai trò của giáo viên tiểu học mà còn phụ thuộc rất lớn
vào tiền đề của trẻ ở trường mẫu giáo về các kỹ năng tiền học đọc học viết. Chẳng hạn
như những hiểu biết về đọc viết; những kỹ năng phục vụ cho việc học của trẻ (kỹ năng
hiểu lời nói, phân tích được âm thanh, ngôn ngữ; sử dụng các vật liệu tạo chữ viết; sử
dụng các công cụ chữ viết…). Tất cả là tiền đề quan trọng, là nền móng, là nấc thang
đầu tiên của việc học đọc, học viết ở bậc tiểu học của trẻ.
Kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong chương trình giáo
dục mầm non dành cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi được nhắc đến với thuật ngữ "Làm
quen với đọc, viết" với các nội dung sau: Làm quen với một số kí hiệu thông thường
trong cuộc sống (nhà vệ sinh, lối ra, nơi nguy hiểm, biển báo giao thông: đường cho
người đi bộ, …); Nhận dạng các chữ cái; Tập tô, tập đồ các nét chữ; Sao chép một số
kí hiệu, chữ cái, tên của mình; Xem và nghe đọc các loại sách khác nhau; Làm quen
với cách đọc và viết tiếng Việt; Hướng đọc, viết từ trái sang phải, từ dòng trên xuống
34
dòng dưới; Hướng viết của các nét chữ, đọc ngắt nghỉ sau các dấu; Phân biệt phần mở
đầu, kết thúc của sách; “Đọc” truyện qua các tranh vẽ; Giữ gìn, bảo vệ sách.
1.2.4. Các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết tại trường
mầm non
Đọc và viết là các dạng của hoạt động ngôn ngữ, mà cơ sở của chúng là ngôn
ngữ nói. Chính vì vậy, có thể nói, cơ sở của việc dạy học đọc và viết là sự phát triển
ngôn ngữ nói chung của trẻ. Để chuẩn bị cho việc học đọc, học viết cần phát triển
nhiều mặt ngôn ngữ cho trẻ như phát triển ngôn ngữ mạch lạc, vốn từ, ngữ pháp, dạy
phát âm đúng. Đây là nguyên nhân dẫn đến các biện pháp chuẩn bị cho trẻ học đọc,
học viết hay biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ cũng bao gồm
trong biện pháp phát triển ngôn ngữ.
Trong các trường mầm non, có rất nhiều biện pháp hình thành kỹ năng tiền học
đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, tồn tại trong các nhóm phương pháp như:
nhóm phương pháp dùng lời, nhóm phương pháp trực quan và nhóm phương pháp
thực hành. Trong mỗi nhóm phương pháp lại có những biện pháp khác nhau nhằm
thúc đẩy và hình thành ở trẻ những kỹ năng tiền học đọc học viết cụ thể như sau:
Nhóm phương pháp dùng lời có các biện pháp mà đặc trưng của nó là sử dụng lời
nói bao gồm: đọc thơ, kể hoặc đọc truyện; trẻ tự kể lại truyện; đàm thoại; nói mẫu;
giảng giải; đặt câu hỏi…
Nhóm phương pháp thực hành: biện pháp sử dụng trò chơi, thông qua các hoạt
động, qua giao tiếp và qua lao động.
Nhóm phương pháp trực quan: thông qua môi trường chữ, sử dụng tranh
truyện…
Các phương pháp, biện pháp trên được thực hiện với nhiều hình thức khác nhau,
bao gồm: hình thức tổ chức qua giờ học (hoạt động chung), hình thức tổ chức thông
qua hoạt động vui chơi, hình thức tổ chức thông qua hoạt động ngoài trời và một số
hoạt động khác.
Các biện pháp của đề tài hướng tới là tập trung khai thác các biện pháp hình
thành cho trẻ những kỹ năng cần thiết cho việc học đọc, học viết đặc biệt chú ý tới
việc giúp trẻ thông hiểu thành phần ngôn ngữ của lời nói. Như tác giả Nguyễn Thị
35
Phương Nga đã đề cập "Theo quy luật tự nhiên lời nói là cái có trước, chữ viết là các
có sau, nên đối tượng mà trẻ cần lĩnh hội là hệ thống ngữ âm tiếng Việt chứ không
phải chỉ đơn thuần là hệ thống chữ cái. Quy trình dạy trẻ bắt đầu từ âm rồi mới đến
chữ ghi âm" [12].
1.2.5 Một số đặc điểm tâm lý ảnh hưởng đến việc hình thành kỹ năng tiền
học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Sự phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ảnh hưởng rất lớn đến sự hình
thành kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ ở lứa tuổi này:
Nhà tâm lý học V.X. Mukhina đã có những nghiên cứu về tâm lý học trẻ em và
đã đưa ra kết luận: Độ tuổi mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở
lứa tuổi “mầm non”. Ở giai đoạn này, những cấu tạo đặc trưng của con người đã được
hình thành trước đây, với sự tác động giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lý
đó sẽ được hoàn thành về mọi phương diện hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm, ý
chí) để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách của con người.
Trong quá trình đề xuất và thực hành các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học
đọc học viết cho trẻ cần đặc biệt chú ý đến đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi, sao cho các biện pháp đề xuất phù hợp với tâm tư nguyện vọng cũng như trình độ
phát triển của trẻ nhằm tạo điều kiện cho quá trình hình thành kỹ năng này ở trẻ đạt
hiệu quả tốt nhất. Có nhiều tác giả, nhà tâm lý học và các nhà nghiên cứu khác về trẻ
em đều đề cập đến sự phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi như Nguyễn Ánh
Tuyết và các cộng sự (2002): "Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non từ lọt lòng đến 6
tuổi"; Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội (2003) "Giáo trình tâm lí học trẻ em lứa tuổi
mầm non"; Mai Thị Nguyệt Nga (2007) "Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non"; Đinh
Thị Tứ (2008) "Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non (Tập 1)"… đã đề cập chi tiết và cụ
thể về các đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Bao gồm các lĩnh
vực cụ thể như sau:
1.2.5.1. Đặc điểm phát triển về hoạt động học tập của trẻ
Học tập ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi vẫn là hoạt động “học mà chơi, chơi mà học”.
Chính vì vậy việc thiết kế hoạt động học cho trẻ phải đảm bảo mang nội dung nhẹ
nhàng, hấp dẫn trẻ, đối tượng “giờ học” là những kiến thức cụ thể, rõ ràng, trực quan,
36
sinh động.
Các giờ học nói chung đều phải khơi gợi hứng thú học tập thật sự đối với trẻ.
Các hình thức học tập ở trường mẫu giáo chỉ mang tính chất làm quen với hoạt
động học tập ở trường tiểu học, tuy nhiên đây cũng là một tiền đề rất quan trọng để trẻ
bước vào hoạt động học tập ở lớp một một cách thuận lợi. Trẻ dần nhận thức rõ tầm
quan trọng của việc học, ý thức được nhiệm vụ học tập, bổn phận, trách nhiệm của
người học sinh. Mà mục đích chính của trẻ lứa tuổi này là được cô giáo, bố mẹ khen,
bạn bè yêu quý.
Dựa vào đặc điểm phát triển về hoạt động học tập, giáo viên lựa chọn biện pháp
phù hợp để hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ. Đặc biệt biện pháp hình
thành kỹ năng tiền học đọc học viết thông qua hoạt động học tập dưới hình thức giờ
học phải đáp ứng những yêu cầu của giờ học tại trường mẫu giáo đã nêu trên để việc
dạy học mang lại hiệu quả cao.
1.2.5.2. Đặc điểm phát triển về chú ý của trẻ
Khả năng chú ý của trẻ ngày một phát triển, trẻ hướng chú ý của mình vào nhiều
đối tượng khác nhau đáp ứng nhu cầu vui chơi, học tập hay lao động tự phục vụ của
trẻ.
Trẻ có khả năng tập trung chú ý có chủ định từ 37 – 51 phút, đối tượng chú ý của
trẻ là những đối tượng hấp dẫn, nhiều thay đổi, kích thích được tính tò mò, ham hiểu
biết của trẻ, tuy nhiên khả năng phân phối chú ý của trẻ chưa bền vững và dễ dao động
trẻ chỉ tập trung chú ý được trong một thời gian ngắn.
Trẻ dễ bị phân tán sự chú ý của mình vào các hoạt động hấp dẫn khác, trẻ không
tự chủ được do xung lực bản năng chi phối. Do vậy, cần thay đổi đồ chơi, trò chơi hấp
dẫn hơn.
Ở giai đoạn này, trẻ dễ tập trung chú ý vào ý nghĩa của âm thanh. Từ âm thanh
bên ngoài, trẻ biết chú ý tập trung vào sự suy nghĩ, cảm xúc bên trong đầu trẻ. Đây là
đặc điểm quan trọng cần chú ý khi hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ;
Việc giúp trẻ thông hiểu thành phần âm thanh ngôn ngữ là yếu tố trọng tâm của công
tác hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết mà đề tài quan tâm.
1.2.5.3. Đặc điểm phát triển về ngôn ngữ của trẻ
37
Đặc điểm phát triển ngôn ngữ có liên quan mật thiết đến việc hình thành kỹ năng
tiền học đọc học viết của trẻ 5 – 6 tuổi.
Sự phát triển ngôn ngữ diễn ra theo nhiều hướng: hoàn thiện việc sử dụng ngôn
ngữ trong thực tiễn giao lưu với người khác, đồng thời ngôn ngữ trở thành công cụ tư
duy.
Trẻ thành thạo tiếng mẹ đẻ theo các hướng: Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi
sử dụng tiếng mẹ đẻ: Trẻ có thể đọc diễn cảm, biết dùng điệu bộ bổ sung cho ngôn ngữ
nói; Vốn từ và cơ cấu ngữ pháp phát triển.
Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi cho thấy trẻ đã có các
yếu tố cần thiết hình thành các yếu tố tiền đề của việc học đọc học viết.
Đặc biệt, ở trẻ 5 – 6 tuổi xuất hiện sự nhạy cảm đặc biệt với hệ thống âm thanh
ngôn ngữ. Trẻ bắt đầu hứng thú với âm thanh của ngôn ngữ ngay từ tuổi mẫu giáo nhỡ
(4 – 5 tuổi).
1.2.5.4. Đặc điểm phát triển về các quá trình nhận thức của trẻ
Các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng về cơ bản là sự kế thừa
sự phát triển của các giai đoạn trước đó, nhưng chất lượng mới hơn. Thể hiện ở:
Mức độ phong phú hơn của các kiểu loại
Mức độ chủ định của quá trình tâm lý rõ ràng hơn, có ý thức hơn.
Tính mục đích hình thành và phát triển ở mức độ cao hơn.
Độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn.
Khả năng kiềm chế các phản ứng tâm lý được phát triển.
Đó làm tiền đề của hoạt động học tập có chủ định của trẻ.
Đặc tính chung của sự phát triển tư duy có liên quan đặc biệt tới sự hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết đó là: Trẻ biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở đồ
vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ.
Trẻ dần có thể tham gia vào hoạt động học tập thực sự khi tư duy của trẻ dần dần
mất đi tính duy kỷ, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn. Đã có tư duy trừu tượng
với các con số, không gian, thời gian, quan hệ xã hội…Ý thức rõ về những ý nghĩ, tình
cảm của mình, trách nhiệm đối với hành vi và các phẩm chất của tư duy đã bộc lộ đủ
về cấu tạo và chức năng hoạt động của nó như tính mục đích, độc lập sáng tạo, tính
38
linh hoạt, độ mềm dẻo… Ở trẻ 5 – 6 tuổi phát triển cả 3 loại tư duy, tư duy trực quan
hành động vẫn chiếm ưu thế. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, tư duy của trẻ trở nên
khái quát hơn và trừu tượng hơn.
1.2.5.5. Đặc điểm phát triển về sự phát triển xúc cảm, tình cảm, ý chí của trẻ
Sự phát triển xúc cảm và tình cảm
Ở lứa tuổi này trẻ xuất hiện tình cảm bạn bè, trẻ dần chuyển lên mức cao hơn và
trong tình cảm, sự xuất hiện tình cảm bạn bè sẽ giúp trẻ dễ hòa nhập hơn khi bước vào
môi trường học tập ở trường phổ thông, trong mối quan hệ chủ yếu với thầy cô và bạn
bè là mối quan hệ xã hội rộng hơn, không gói gọn như mối quan hệ ở trường mầm
non, mối quan hệ giữa cô và trẻ như một mối quan hệ trong gia đình.
Tình cảm trí tuệ: tình cảm trí tuệ của trẻ phát triển, mỗi nhận thức mới đều kích
thích niềm vui, hứng thú, sự say mê thích thú của trẻ; tính tò mò ham hiểu biết, làm
nảy sinh nhiều xúc cảm tích cực; trong vui chơi, học tập, lao động tự phục vụ nhiều
thành công thất bại củng cố sự phát triển tình cảm trí tuệ ở trẻ. Chính vì những đặc
điểm này dẫn trẻ đến niềm vui khám phá chữ viết như một điều hoàn toàn mới mẻ đối
với trẻ. Cũng dựa trên đặc điểm này, giáo viên cần tổ chức hoạt động để chữ viết trở
thành mục tiêu cho trẻ khám phá.
Sự phát triển ý chí
Do có khả năng làm chủ được nhiều hành vi, người lớn giao cho nhiều việc
nhỏ… Trẻ dần đã xác định rõ mục đích của hành động. Trẻ dần tách động cơ ra khỏi
mục đích với sự cố gắng hoàn thiện nhiệm vụ.
Tính mục đích càng ngày càng được phát triển, trẻ ý thức và cố gắng hoàn thành
công việc; Tính kế hoạch xuất hiện, trẻ biết sắp xếp “công việc” vui chơi và các công
việc khác; Tinh thần trách nhiệm bản thân được hình thành ở trẻ; Sự phát triển ý chí
mạnh hay yếu tùy thuộc phần lớn vào sự giáo dục, các biện pháp giáo dục của cha mẹ,
cô giáo và những người lớn xung quanh.
Ý chí phát triển cùng với các đặc tính của nó, giúp trẻ ngày càng có khả năng học
tập và theo đuổi nhiệm vụ học tập tới cùng đi cùng với nó là kỹ năng thực hiện quy
định trên giờ học của trẻ càng được hình thành – một trong những nội dung cần đạt để
hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ.
39
Đặc điểm phát triển về sự xác định ý thức bản ngã
Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tự tách mình ra khỏi người khác đã được hình
thành từ cuối tuổi ấu nhi. Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ mới hiểu được mình như thế nào,
có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao
mình có hành động này hay hành động khác... ý thức bản ngã được thể hiện rõ nhất
trong sự tự đánh giá về thành công và thất bại của mình, về những ưu điểm và khuyết
điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa.
Cuối tuổi mẫu giáo lớn, trẻ nắm được kỹ năng so sánh mình với người khác, điều
này là cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để noi gương
những người tốt, việc tốt. Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và
điều chỉnh hành vi của mình dần dần phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã
hội, từ đó hành vi của trẻ mang tính xã hội.
Những đặc điểm nêu trên ảnh hưởng tới việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết ở sự hình thành kỹ năng tự kiểm tra đánh giá bài làm của trẻ cùng với việc trẻ thực
hiện các hành động có chủ tâm hơn chính là yếu tố của hành động học có chủ đích.
[15], [18], [24], [31], [34].
1.2.6. Đặc điểm hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi tại trường mầm non
Theo tác giả Phan Thị Lan Anh, quá trình phát triển trở thành người biết đọc, biết
viết diễn ra theo 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Hình thành cơ sở ban đầu cho việc đọc viết.
Giai đoạn 2: Học về chữ và hiểu ngôn ngữ viết.
Trẻ biết đọc, biết viết.
Giai đoạn 3: Trẻ đọc và viết thành thạo.
Trong ba giai đoạn trên, giai đoạn 1 là giai đoạn đặc trưng nằm trong độ tuổi mẫu
giáo, đó là những kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Giai đoạn
này, trẻ tiếp thu các thông tin về các quá trình nói, đọc, viết qua các hoạt động. Trong
các hoạt động này trẻ trải nghiệm và thể hiện bản thân qua các kỹ năng tiền học đọc
học viết. Thông qua sử dụng ngôn ngữ nói và các cơ hội trải nghiệm kỹ năng tiền học
40
đọc học viết, trẻ tiếp nhận nhiều đặc điểm của ngôn ngữ theo tốc độ riêng. Khoảng 5
tuổi trẻ có tiến bộ đáng kể trong việc tiếp thu kỹ năng tiền học đọc học viết.
Kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ phát triển thông qua những trải nghiệm của
trẻ với ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
Việc trải nghiệm này được phát triển qua các thời kỳ của lứa tuổi mầm non. Từ
khi còn ở nhà trẻ, việc trải nghiệm thông qua các câu chuyện được người lớn đọc cho
trẻ nghe, qua việc sử dụng các vật liệu viết (giấy, bút). Ngày nay, với sự phát triển của
khoa học tiên tiến, các nhà khoa học chứng mình được rằng, trẻ ngay từ khi là bào thai
cũng có thể cảm nhận được những điều xảy ra ở môi trường bên ngoài nên việc mẹ
mang thai tiếp xúc với các loại ấn phẩm, đọc truyện cho trẻ nghe cũng là một những
trải nghiệm đầu tiên của trẻ với việc đọc, viết.
Ở độ tuổi mẫu giáo, trải nghiệm của trẻ được mở rộng do trẻ có điều kiện tiếp
xúc nhiều với môi trường xung quanh, phạm vi của trẻ không còn là ở gia đình nữa mà
đã mở rộng đến trường học, chính vì vậy kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ ngày
càng được hình thành ở mức cao hơn.
Trẻ 3 - 4 tuổi đã có thể đọc theo cách của mình các quyển truyện, sách, tranh
quen thuộc dựa vào trí nhớ và sự gợi ý của người lớn; trẻ sử dụng ngôn ngữ gần giống
như ngôn ngữ đọc.
Ở trẻ 5 tuổi, kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ phát triển nhanh do trẻ có điều
kiện tiếp xúc với môi trường đọc viết một cách thường xuyên và được sự hướng dẫn
của giáo viên cùng phụ huynh. Trẻ ở độ tuổi này có khả năng sử dụng vật liệu đọc viết
như người lớn. Tuy nhiên, phần lớn chỉ là hành động bắt chước, sao chép, đọc vẹt dựa
vào trí nhớ và các loại đồ dùng trực quan chứ chưa phải là kỹ năng thực thụ [1].
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, ban đầu trẻ có thể sử dụng hình ảnh, kí hiệu để
thể hiện những gì mình muốn viết ra và có thể đọc lại được suy nghĩ của mình thông
qua những kí hiệu đó. Dần dần những kí hiệu đó được thay bằng các kí hiệu chữ cái
hoặc thậm chí là từ đơn giản nào đó. Việc hình thành kỹ năng này ở trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi cần thông qua các hoạt động có ý nghĩa đối với trẻ.
Đặc điểm phát triển kỹ năng đọc
41
Theo Brian Cutting (trong Getting started in Whole language) hầu hết trẻ khi học
đọc đều trải qua ba giai đoạn: giai đoạn đọc mò, giai đoạn mới tập đọc, giai đoạn đọc
trôi chảy.
Trong đó, giai đoạn đọc mò và giai đoạn mới tập đọc là giai đoạn được hình
thành ở trường mầm non [15].
Trẻ sẽ hứng thú hơn khi mỗi ngày trẻ đọc một câu chuyện và hiểu được nội dung
của nó. Việc đọc sẽ lôi cuốn trẻ dựa trên ham muốn của trẻ là hiểu được những gì
mình đọc. Dựa vào những đặc điểm trên giáo viên lựa chọn biện pháp phù hợp để hình
thành kỹ năng tiền học đọc cho trẻ.
Đặc điểm phát triển kỹ năng viết
Việc học viết của trẻ có thể chia làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thể hiện sự quan tâm đến hoạt động viết. Xuất hiện nhu cầu viết
trong sinh hoạt (thích xem người lớn viết, hỏi xem viết gì, thích giải bộ viết khi
chơi…).
Giai đoạn 2: Hình thành và xây dựng biểu tượng về chữ cái, chữ viết. Giai đoạn
này trẻ phải nắm được hình dạng và kích thước của chữ viết (nhận biết và phân biệt
được các chữ cái, nhận biết một số chữ quen thuộc…)
Giai đoạn 3: Giai đoạn tập viết các con chữ.
Giai đoạn 4: Trẻ có thể viết thành thạo chữ viết [15].
Từ những đặc điểm trên, cho thấy kỹ năng tiền học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi chỉ ở mức độ đơn giản như: chú ý đến chữ viết, biết ý nghĩa của chữ viết, thích
học chữ, có nhu cầu sử dụng chữ viết…
Tuy nhiên trẻ đọc từ nhận thức về âm thanh, biết phân biệt thành phân âm thanh
của lời nói tù đó dần chuyển sang sự hứng thú với việc viết và tìm hiểu cách viết các
chữ là mục tiêu quan trọng mà đề tài hướng tới chứ không phải xuất phát từ hành động
đọc mò hay đọc giả bộ mà các nhà nghiên cứu đã đề cập trước đó.
1.2.7. Vai trò của người lớn trong việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết tại trường mầm non
Gia đình và xã hội có trách nhiệm hình thành những kỹ năng tiền học đọc học
viết cho trẻ. Trẻ mầm non là lứa tuổi còn rất nhỏ, kinh nghiệm sống còn nghèo nàn,
42
gia đình và trường mầm non là môi trường hoạt động chủ yếu của trẻ, trong đó trẻ
được giao lưu, tiếp xúc và học hỏi. Chính vì vậy, mà phụ huynh và giáo viên mầm non
là hai thành phần chủ chốt trong công tác hình thành kỹ năng cho trẻ.
1.2.7.1. Vai trò của giáo viên
Giáo viên mầm non là người thầy đầu tiên, đặt nền móng trong việc giáo dục trẻ
em thành con người mới cho xã hội tương lai.
Trong trường mầm non, giáo viên mầm non giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ
chức các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ. Người giáo viên mầm non phát hiện
năng khiếu ban đầu, định hướng cho sự phát triển nhân cách của trẻ, uốn nắn, vun đắp
tâm hồn trẻ em phát triển lành mạnh.
Không có một cấp học nào mà giữa người dạy và người học lại có mối quan hệ
chặt chẽ, gắn bó mật thiết như cấp học mầm non. Quan hệ giữa giáo viên và trẻ em
vừa là quan hệ thầy trò, vừa là quan hệ bạn bè, vừa là quan hệ “mẹ con” trong gia
đình. Thông qua những mối quan hệ tâm lí giữa giáo viên và trẻ, nhân cách của trẻ
được hình thành và phát triển.
Trong hoạt động hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi, giáo viên là người giữ vai trò dẫn dắt, tạo điều kiện:
Lập kế hoạch hoạt động thích hợp, tổ chức, hướng dẫn trẻ tham gia vào các hoạt
động hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết. Dự kiến được những việc cần làm,
những sự kiện, tình huống có thể xảy ra và biết lựa chọn phương pháp, biện pháp giáo
dục trẻ, không chỉ nói trẻ nghe mà cần biết nghe trẻ nói, biết kiên trì chờ đợi và dịu
dàng đối với trẻ. Phải xây dựng được những mối quan hệ thân thiết với trẻ, biết làm
bạn với trẻ.
- Động viên, khuyến khích trẻ hoạt động.
- Tạo hứng thú để thu hút trẻ vào các hoạt động.
- Định hướng cho trẻ thông qua các kinh nghiệm và hoạt động học tập.
- Hướng dẫn trẻ sử dụng học liệu.
- Lựa chọn, thiết kế và cung cấp nguồn học liệu cũng như công cụ cho trẻ.
- Quan sát, giám sát sự phát triển của trẻ.
- Tổ chức kiểm tra đánh giá trẻ và tổ chức cho trẻ tự kiểm tra đánh giá bản thân.
43
- Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh.
- Giáo viên tự đánh giá hiệu quả công tác giáo dục trẻ, đánh giá kỹ năng đã
được hình thành và chưa hình thành trên trẻ từ đó rút ra kinh nghiệm và đề ra biện
pháp giáo dục thích hợp.
- Giáo viên là tấm gương cho trẻ noi theo: trẻ bắt chước lời nói, cử chỉ, hành
động của cô…
1.2.7.2. Vai trò của phụ huynh
Phụ huynh cũng đóng vai trò không kém quan trọng trong hoạt động hình thành
kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ. Giai đoạn này kỹ năng của trẻ rất khó hình thành
nhưng lại dễ mất đi, chính vì vậy mà sự phối hợp chặt chẽ của giáo viên và phụ huynh
cũng như luyện tập thường xuyên cho trẻ ở nhà là biện pháp tốt để trẻ có thói quen và
kỹ năng cần thiết cho việc học đọc, học viết ở trường phổ thông.
Ngoài giáo viên mầm non, phụ huynh cũng người phát triển thể chất, ngôn ngữ
và trí tuệ cho trẻ. Phụ huynh phải thường xuyên nhắc nhở, khuyến khích, rèn luyện để
trẻ hình thành thói quen học tập cho trẻ. Bên cạnh đó, phụ huynh còn là người đóng
vai trò:
- Phát triển ngôn ngữ cho trẻ
- Hướng chú ý của trẻ vào môi trường xung quanh
- Tạo điều kiện cho trẻ thể hiện ý tưởng, suy nghĩ của mình.
- Đọc cho trẻ nghe, và nghe trẻ đọc.
- Khuyến khích trẻ tiếp xúc với ấn phẩm, sử dụng bút để viết.
- Hỗ trợ trẻ
- Cung cấp học liệu cho trẻ ở nhà và cung cấp nguyên liệu cho trẻ hoạt động ở
trường.
Phối hợp với giáo viên, thống nhất biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc
học viết cho trẻ [14], [32], [39, tr.vi – vii.].
44
Tiểu kết chương 1
Kỹ năng tiền học đọc học viết ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là những dấu hiệu ban
đầu, là nền tảng của việc học đọc, học viết thực thụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Nó
xuất hiện rất sớm (ngay từ tuổi sơ sinh), được hình thành và phát triển trong suốt cuộc
đời để trở thành kỹ năng đọc viết thực thụ, thông qua sự tiếp xúc với môi trường xung
quanh, với thế giới đọc, viết và qua tác động có mục đích của nhà giáo dục, phụ huynh
và xã hội.
Kỹ năng tiền học đọc học viết ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là tập hợp các kiến thức,
kỹ năng về đọc, viết và hoạt động học tập của trẻ nhằm đạt được mục tiêu biết đọc,
biết viết trong tương lai, bao gồm: Kỹ năng nghe ( Kỹ năng tách từ như là đơn vị ý
nghĩa độc lập của ngôn ngữ; Kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn
ngữ; Kỹ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản; Liên hệ đúng đắn âm vị và
chữ cái.); Kỹ năng đọc (Trẻ ghép được một số chữ đơn giản (2 chữ cái) và đọc được
nó; "Đọc" được một số từ, câu đơn giản, quen thuộc; Nhận biết một số cấu tạo của một
quyển sách; Thực hiện được một số quy tắc của việc đọc.); Kỹ năng viết (Ngồi học
đúng tư thế, cầm viết đúng cách), Kỹ năng học tập ở trẻ mẫu giáo (Kỹ năng tự kiểm
tra, đánh giá bài làm của mình; Kỹ năng thực hiện các quy định trên giờ học). Với mục
tiêu hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi một các tự
nhiên, thích hợp, đề tài kết luận việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
tốt nhất là giúp trẻ thông hiểu thành phần âm thanh ngôn ngữ. Nếu trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi được hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết trước khi vào lớp một thì trẻ sẽ tự
tin, hứng thú, và có sự chuyển giao giữa hoạt động chủ đạo là vui chơi ở trường mẫu
giáo lên hoạt động học tập ở trường một cách thuận lợi, góp phần giúp trẻ vượt qua
bước ngoặt 6 tuổi một cách nhẹ nhàng. Nếu kỹ năng tiền học đọc học viết không được
hình thành ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thì sẽ gây rất nhiều khó khăn cho trẻ khi vào học ở
trường tiểu học.
Việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ là hết sức cần thiết, là trách
nhiệm của bậc học mầm non và tiểu học, của gia đình và xã hội. Hình thành kỹ năng
tiền học đọc học viết cho trẻ không phải là hình thành kỹ năng đọc, viết thực thụ ở trẻ
45
mẫu giáo 5 – 6 tuổi, không bắt buộc trẻ phải biết đọc, biết viết ngay từ trường mầm
non; mà là bồi dưỡng ở trẻ hứng thú, nhu cầu đối với việc học đọc, học viết, có những
kỹ năng làm tiền đề cho việc học đọc, học viết thực thụ.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết ở
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi: trình độ phát triển ngôn ngữ; đặc điểm phát triển tâm sinh lý;
giao tiếp với mọi người; việc tiếp xúc với môi trường đọc, viết cùng những trải
nghiệm, khám phá một cách chủ động của trẻ với hoạt động đọc, viết.
Từ những nghiên cứu về sự hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cũng như
đặc trưng của hoạt động hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ; song song
với việc tìm hiểu đặc điểm phát triển tâm sinh lý, hoạt động chủ đạo của lứa tuổi và
những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển, sự lĩnh hội tri thức – kỹ năng của trẻ mẫu
giáo 5 – 6 tuổi cho thấy, các biện pháp tác động đến trẻ thông qua hoạt động học tập
và hoạt động vui chơi là mang lại hiệu quả cao nhất trong hình thành kỹ năng này ở trẻ
ở độ tuổi này.
Trong quá trình hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi, cần sự hỗ trợ của người lớn (chủ yếu là giáo viên mầm non và phụ huynh) với vai
trò là người hướng dẫn, dẫn dắt, điều chỉnh, gợi mở, khuyến khích trẻ trong các hoạt
động; đảm bảo mang lại hiệu quả cao trong hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết
cho trẻ.
Những căn cứ lý luận đã được nghiên cứu làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực
tiễn và đề xuất biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết ở trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi.
46
Chương 2. THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TIỀN
HỌC ĐỌC HỌC VIẾT CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI Ở
MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN BẾN CÁT, TỈNH
BÌNH DƯƠNG
2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non huyện Bến Cát,
tỉnh Bình Dương
2.1.1. Mục đích khảo sát thực trạng vấn đề
Tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết
cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở một số trường mầm non huyện Bến Cát, tỉnh Bình
Dương. Qua đó xác định:
- Những biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Hiệu quả cũng như hạn chế của các hoạt động hình thành kỹ năng tiền học đọc
học viết đó, nguyên nhân của những mặt còn hạn chế.
- Đề ra biện pháp khắc phục.
2.1.2. Nội dung khảo sát thực trạng vấn đề
Nội dung nghiên cứu thực trạng sử dụng biện pháp hình thành kỹ năng tiền học
đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Điều kiện, cũng như hiệu quả của hoạt động
này tại một số trường mầm non huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Thông qua các hoạt động cụ thể như sau:
Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về bản chất của việc chuẩn bị cho trẻ học
đọc, học viết.
Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về sự cần thiết hình thành kỹ năng tiền học
đọc học viết và nhận thức của họ về mức độ cần thiết hình thành các kỹ năng đó cho
trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
Tìm hiểu thực trạng lập kế hoạch giáo dục, cách thức tổ chức và thực hiện các
biện pháp hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở
47
một số trường mầm non huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương cùng các khó khăn và thuận
lợi.
Tìm hiểu sự hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết ở trẻ mẫu giáo 5 - 6
tuổi ở một số trường mầm non huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Nhận xét, đánh giá kết quả nghiên cứu và lập kế hoạch chương trình thực
nghiệm nhằm giải quyết vấn đề nghiên cứu.
Nội dung khảo sát chủ yếu thông qua bảng câu hỏi khảo sát: 6 câu 81 mục
đối với GVMN, 4 câu 41 mục đối với GVTH nhằm mục đích tìm hiểu về:
- Nhận thức của GVMN, GVTH về bản chất của việc chuẩn bị cho trẻ học đọc,
học viết (Từ câu 1.1 đến câu 1.6).
- Nhận thức của GVMN và GVTH về sự cần thiết hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi (trẻ mẫu giáo trước khi vào lớp một) (câu 2.1 đến câu 2.14).
- Nhận thức của GVMN về mức độ cần thiết sử dụng các biện pháp hình thành
các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi (câu 3.1 đến câu 3.16) và
mức độ sử dụng các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu
giáo 5 – 6 tuổi (câu 4.1 đến câu 4.16).
- Đánh giá của GVMN về những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hình
thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi (câu 5a.1 đến câu 5a.6
và câu 5b.1 đến câu 5b.9); Đánh giá của GVTH về những thuận lợi và khó khăn trong
quá trình dạy đọc, viết Tiếng Việt cho trẻ đầu lớp một (câu 3a.1, câu 3a.2 và câu 3b.1
đến câu 3b.5).
- Đánh giá của GVMN về tỷ lệ hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ
trong lớp mình (câu 6.1 đến câu 6.14); Đánh giá của GVTH về tỷ lệ hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết của trẻ đầu vào lớp một trong lớp mình chủ nhiệm (câu 4.1
đến câu 4.14).
2.1.3. Đối tượng và phạm vi khảo sát
60 trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mẫu giáo Cây Trường, huyện Bến Cát, tỉnh
Bình Dương (30 trẻ lớp đối chứng và 30 trẻ lớp thực nghiệm).
34 giáo viên dạy khối lá một số trường mầm non tại huyện Bến Cát, tỉnh Bình
Dương và 60 phụ huynh có con em đang học lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại đây.
48
9 giáo viên lớp một tại một số trường tiểu học trong khu vực.
2.1.4. Phương pháp khảo sát
Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó phương pháp điều tra
bằng bảng hỏi và phương pháp bài tập đo nghiệm là chủ đạo, còn các phương pháp
khác là phương pháp hỗ trợ.
o Điều tra bằng bảng hỏi để tìm hiểu nhận thức của giáo viên (cả giáo viên mầm non và tiểu học) và tìm hiểu thực trạng, thuận lợi, khó khăn trong tổ chức hoạt động
hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở một số trường
mầm non huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
o Phương pháp quan sát: Dự giờ một số hoạt động hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ 5 – 6 tuổi của giáo viên trường mẫu giáo Cây Trường. Quan sát
môi trường đọc, viết tại các trường mầm non.
o Nghiên cứu sản phẩm hoạt động: nghiên cứu giáo án, kế hoạch hoạt động của giáo viên để tìm hiểu cách thức tổ chức, biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc
học viết cho trẻ của GVMN.
o Phiếu khảo sát được phát cho 34 GVMN, 9 GVTH và 60 phụ huynh của trẻ
MG 5 – 6 tuổi. Thu lại phiếu, thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0.
2.2. Kết quả khảo sát
2.2.1. Kết quả khảo sát những thông tin chung của giáo viên mầm non
Bảng 2.1. Trình độ chuyên môn, thâm niên công tác trong nghề và số năm dạy
1. Trình độ chuyên môn
Chưa qua đào tạo Sơ cấp Trung cấp Cao đẳng Đại học Sau đại học
2. Thâm niên công tác
Dưới 5 năm 5 – 10 năm Trên 10 năm
3. Số năm dạy lớp 5 – 6 tuổi
Số lượng GV (n=34) 0 0 12 14 8 0 15 12 7 22 7 5
Tỉ lệ % 0 0 35.3% 41.2% 23.5% 0 44.1% 35.3% 20.6% 64.7% 20.6% 14.7%
Dưới 5 năm 5 – 10 năm Trên 10 năm
lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi của giáo viên
(n=34 là tổng số giáo viên mầm non được khảo sát).
49
Số liệu ở bảng trên cho thấy 100% giáo viên dạy lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở các
trường được khảo sát đều đã qua đạo tạo từ trung cấp sư phạm giáo dục mầm non trở
lên, trong đó giáo viên có trình độ cao đẳng chiếm tỉ lệ nhiều nhất (41.2%), tiếp đến là
trình độ trung cấp (chiếm 35.3%) và sau cùng là trình độ đại học (chiếm 23.5%). Hầu
hết là giáo viên có tay nghề còn rất trẻ, đa phần có thâm niên công tác dưới 5 năm
(44.1%), tỉ lệ thuận với nó là thực trạng số giáo viên dạy lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi có
kinh nghiệm dưới 5 năm cũng rất cao (64.7%).
2.2.2. Thực trạng nhận thức của GVMN, GVTH về bản chất của việc chuẩn
bị cho trẻ học đọc, học viết.
Bảng 2.2. Nhận thức của các giáo viên lớp một về bản chất của việc đọc, việc viết
và việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi học đọc, học viết trước khi vào lớp
một
Mức độ
STT Bản chấtcủa việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết Đồng ý Rất đồng ý Không đồng ý
1 22.2% 77.8% 0
2 33.3% 66.7% 0
3 44.4% 55.6% 0
4 22.2% 77.8% 0
5 33.3% 66.7% 0
6 55.6% 44.4% 0 Đọc và viết là các dạng của hoạt động ngôn ngữ, mà cơ sở của chúng là ngôn ngữ nói Khi chuẩn bị cho việc đọc, viết cần có cả quá trình phát triển ngôn ngữ trẻ ở trong trường mầm non (nói mạch lạc; phát âm đúng) Sự phát triển tính có chủ định và sự phản tỉnh (sự nhận thức) về ngôn ngữ nói của bản thân trẻ là cơ sở cho việc nắm vững ngôn ngữ viết sau này Việc đọc là chuyển mã từ chữ cái thành các từ được nói lên Việc viết là sự chuyển ngôn ngữ nói thành mã chữ cái Để chuẩn bị cho việc học đọc, học viết, cần hình thành, phát triển ở trẻ tri giác nghe âm vị và các kỹ năng phân tích và tổng hợp âm thanh ngôn ngữ
Số liệu khảo sát ở bảng 2.2 cho thấy, đa số GVTH đều có nhận thức đúng về bản
chất của việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi học đọc học viết trước khi vào lớp
một. 100% giáo viên đồng ý hoặc rất đồng ý với các bản chất mà chúng tôi đưa ra.
50
Bảng 2.3. Kết quả việc trưng cầu ý kiến của các giáo viên dạy lớp mẫu giáo
5 – 6 tuổi về bản chất của việc đọc, việc viết và việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi học đọc, học viết trước khi vào lớp một
Mức độ
STT
Rất đồng ý Đồng ý Không đồng ý
1 55.9% 44.1% 0
2 61.8% 38.2% 0
3 50% 50% 0
4 44.1% 55.9% 0
5 47.1% 50% 2.9%
6 47.1% 47.1% 5.9%
Bản chất của việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết Đọc và viết là các dạng của hoạt động ngôn ngữ, mà cơ sở của chúng là ngôn ngữ nói Khi chuẩn bị cho việc đọc, học viết cần có cả quá trình phát triển ngôn ngữ trẻ ở trong trường mầm non (nói mạch lạc; phát âm đúng). Sự phát triển tính có chủ định và sự phản tỉnh (nhận thức rõ ràng) về ngôn ngữ nói của bản thân trẻ là cơ sở cho việc nắm vững ngôn ngữ viết sau này Việc đọc là chuyển mã từ chữ cái thành các từ được nói lên Việc viết là sự chuyển ngôn ngữ nói thành mã chữ cái Để chuẩn bị cho việc học đọc, học viết, cần hình thành, phát triển ở trẻ khả năng nghe âm vị và các kỹ năng phân tích và tổng hợp âm thanh ngôn ngữ
Kết quả khảo sát ở bảng 2.3 cho thấy, phần lớn giáo viên đều hiểu đúng bản chất
của việc đọc, việc viết và việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi học đọc, học viết
trước khi vào lớp một. Tuy nhiên có một số ít giáo viên hiểu sai về bản chất của việc
viết, thể hiện ở chỗ giáo viên không đồng tình với khái niệm: "Việc viết là sự chuyển
mã ngôn ngữ nói thành mã chữ cái" (Chiếm tỉ lệ 2.9%); và việc chuẩn bị cho trẻ học
đọc, học viết với quan điểm: "Để chuẩn bị cho việc học đọc, học viết, cần hình thành,
phát triển ở trẻ khả năng nghe âm vị và các kỹ năng phân tích và tổng hợp âm thanh
ngôn ngữ" (Chiếm tỉ lệ 5.9%).
Việc hiểu bản chất của việc đọc, việc viết và việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi học đọc, học viết trước khi vào lớp một, giúp giáo viên mẫu giáo thực hiện
tốt công tác chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi các kỹ năng tiền học đọc học viết. Nó
quyết định hiệu quả của hoạt động hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
51
mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non cùng với chất lượng kỹ năng tiền học đọc
học viết của trẻ; mà không ai hết giáo viên mầm non là đội ngũ quan trọng, đóng vai
trò quyết định hiệu quả của công tác chuẩn bị này. Hiểu sai bản chất của việc đọc, việc
viết và việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi học đọc, học viết trước khi vào lớp
một, khiến cho quá trình chuẩn bị và hình thành kỹ năng tiền học, đọc học viết cho trẻ
không đúng bản chất của nó, gây khó khăn cho trẻ và giáo viên lớp một của trẻ trong
việc điều chỉnh các kỹ năng học đọc, học viết khi trẻ vào lớp một.
Bảng 2.4. Kết quả trưng cầu ý kiến của giáo viên lớp một về sự cần thiết hình
thành các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo trước khi bước vào lớp
STT
Các kỹ năng tiền học đọc học viết
Mức độ
Ít cần thiết
Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
1
44.4%
33.3%
11.1%
11.1%
2
22.2%
44.4%
22.2%
11.1%
3
22.2%
44.4%
22.2%
11.1%
4
33.3%
55.6%
0
11.1%
Kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ Kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa của ngôn ngữ Kỹ năng chia câu ra các từ và tạo lập câu từ 2 – 4 từ đơn giản Kỹ năng phân tích các âm thanh (các âm vị) của một tiếng đơn giản Phân biệt nguyên âm và phụ âm Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái
5 6 7 Nhận biết các chữ cái
22.2% 33.3% 55.6%
44.4% 66.7% 44.4%
22.2% 0 0
11.1% 0 0
8
44.4%
22.2%
11.1%
22.2%
9
55.6%
22.2%
11.1%
11.1%
Trẻ biết cách ghép chữ thành từ đơn giản Kỹ năng đọc các từ, câu đơn giản, quen thuộc
10 Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng cách
66.7%
33.3%
0
0
11 Kỹ năng viết các chữ cái 12 Kỹ năng sao chép con chữ 13 Kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá
44.4% 22.2% 22.2%
55.6% 55.6% 55.6%
0 22.2% 11.1%
0 0 11.1%
14
33.3%
55.6%
11.1%
0
Kỹ năng thực hiện các qui định trên giờ học
một
Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.4, ta thấy đa phần giáo viên lớp một đều mong
muốn trẻ hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết trước khi vào lớp một. Một bộ phận
lớn giáo viên đều cho rằng trẻ cần thiết có các kỹ năng cơ bản của học đọc, học viết
52
tiếng Việt, đặc biệt là: Kỹ năng phân tích các âm thanh (các âm vị) của một tiếng đơn
giản; Kỹ năng đọc các từ, câu đơn giản, quen thuộc; Kỹ năng sao chép con chữ; Kỹ
năng tự kiểm tra, tự đánh giá; Kỹ năng thực hiện các qui định trên giờ học (55.6%);
Bên cạnh đó sự "Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái" của trẻ có tới tỉ lệ 66.7% giáo
viên cho là cần thiết; và kỹ năng "Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng cách" được phần
lớn giáo viên cho là rất cần thiết phải hình thành ở trẻ đầu lớp một (chiếm tỉ lệ 66.7%).
Điều đó cho thấy rằng, các kỹ năng mà giáo viên lớp một mong muốn đều phù
hợp với trẻ lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi, và phù hợp với yêu cầu kỹ năng tiền học đọc học
viết cần hình thành ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Song, ngoài những kỹ năng cơ bản, phù
hợp với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thì có tới tỉ lệ 55.6% giáo viên tiểu học cho rằng: Kỹ
năng viết các chữ cái là cần thiết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trước khi vào lớp một.
Bảng 2.5. Kết quả trưng cầu ý kiến của giáo viên lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi về sự
Mức độ
STT
Các kỹ năng tiền học đọc học viết
Cần thiết
Rất cần thiết
Ít cần thiết
Không cần thiết
1
55.9%
29.4%
11.8%
2.9%
2
47.1%
23.5%
23.5%
5.9%
3
11.8%
44.1%
11.8%
32.4%
4
29.4%
35.3%
2.9%
32.4%
Kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ Kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa của ngôn ngữ Kỹ năng chia câu ra các từ và tạo lập câu từ 2 – 4 từ đơn giản Kỹ năng phân tích các âm thanh (các âm vị) của một tiếng đơn giản Phân biệt nguyên âm và phụ âm Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái
5 6 7 Nhận biết các chữ cái
47.1% 52.9% 85.3%
29.4% 17.6% 11.8%
17.6% 20.6% 0
5.9% 8.8% 2.9%
8
64.7%
14.7%
20.6%
0
9
70.6%
14.7%
14.7%
0
Trẻ biết cách ghép chữ thành từ đơn giản Kỹ năng đọc các từ, câu đơn giản, quen thuộc
10 Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng cách 11 Kỹ năng viết các chữ cái 12 Kỹ năng sao chép con chữ 13 Kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá
91.2% 82.4% 76.5% 55.9%
8.8% 11.8% 17.6% 35.3%
0 2.9% 5.9% 2.9%
0 2.9% 0 5.9%
14
70.6%
29.4%
0
0
Kỹ năng thực hiện các qui định trên giờ học
cần thiết hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Cũng như các giáo viên tiểu học, giáo viên mầm non cũng cho rằng các kỹ năng
53
như kỹ năng đọc các từ, câu đơn giản, quen thuộc; Kỹ năng sao chép con chữ; Kỹ
năng tự kiểm tra, tự đánh giá; Kỹ năng thực hiện các qui định trên giờ học là cần thiết
hoặc rất cần thiết đối với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi; một tỉ lệ lớn giáo viên mầm non cho
rằng rất cần thiết hình thành ở trẻ các kỹ năng tiền học đọc học viết sau đây: Ngồi
đúng tư thế, cầm viết đúng cách (có tới 91.2% giáo viên); Nhận biết các chữ cái (tỉ lệ
85.3% giáo viên); Kỹ năng sao chép con chữ (76.5% giáo viên); Kỹ năng thực hiện
các qui định trên giờ học (70.6% giáo viên); 55.9% giáo viên cho rằng: Kỹ năng tự
kiểm tra, tự đánh giá rất cần cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Điều đó cho thấy rằng, phần
lớn giáo viên đã nhận thức đúng về sự cần thiết hình thành các kỹ năng tiền học đọc
học viết cho trẻ.
Tuy nhiên, các kỹ năng quan trọng như: Kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa
của ngôn ngữ; Kỹ năng chia câu ra các từ và tạo lập câu từ 2 – 4 từ đơn giản; Kỹ năng
phân tích các âm thanh (các âm vị) của một tiếng đơn giản; Phân biệt nguyên âm và
phụ âm lại bị số đông giáo viên cho rằng ít cần thiết và thậm chí là không cần thiết đối
với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Trong khi đó, đây là những kỹ năng giúp trẻ hiểu sâu hơn
về ý nghĩa của việc đọc, viết; Nó giúp trẻ biết cách tạo dựng câu đơn giản từ vốn
nguyên liệu ban đầu là các từ, trẻ hiểu được mối liên hệ giữa câu và từ, hay đoạn văn
bản: nhiều từ tạo thành câu, nhiều câu tạo thành đoạn văn bản, câu chuyện. Từ việc tạo
câu từ 2 – 4 từ đơn giản trẻ biết thêm thắt các thành phần khác để câu dài hơn, hay hơn
và phức tạp hơn, chẳng hạn trẻ có thể thêm thành phần trạng ngữ chỉ thời gian, không
gian, nơi chốn…; tính từ chỉ màu sắc, trạng thái… Đồng thời, các kỹ năng này giúp trẻ
chú ý nhiều hơn đến các câu chữ của mình; hình thành ý thức về ngôn ngữ nói và viết.
Sự rèn luyện một cách thường xuyên các kỹ năng này, sẽ tạo cho trẻ hứng thú với các
hoạt động ngôn ngữ, trẻ thích phân tích lời nói của bản thân và người khác, trẻ nhạy
bén hơn khi nghe các âm thanh và nhận ra các tiếng chứa âm một cách dễ dàng. Đây là
tiền đề quan trọng cho việc dạy trẻ đọc, viết ở lớp một. Thay vì cho trẻ nhận biết các
âm riêng biệt, không có ý nghĩa với trẻ thì những công việc trên giúp trẻ nhận biết và
ghi nhớ các âm trong cái tổng thể, có ý nghĩa.
Một sai lầm quan trọng nữa, đó là việc GVMN cho rằng giúp trẻ biết viết các chữ
cái là công việc của mình, thể hiện ở chỗ có tới 82.4% giáo viên cho rằng: Kỹ năng
54
viết các chữ cái là rất cần thiết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Chính vì vậy mà giáo viên
thường xuyên bắt trẻ tập viết chữ, đồ chữ… mặc cho trẻ chẳng hiểu những chữ cái đó
để làm gì, viết chữ để làm gì, điều này hoàn toàn là do áp đặt của người lớn. Qua thăm
dò ý kiến của GVMN thì đa số giáo viên cho rằng: Nhiệm vụ của công tác chuẩn bị
cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi vào trường phổ thông của các trường mầm non là cho trẻ
nhận biết 29 chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt và biết cách viết các con chữ này,
cũng như yêu cầu trẻ phải hoàn thành một số lượng không nhỏ các bài tập trong
chương trình cho trẻ làm quen chữ cái, phát triển ngôn ngữ như: Tập Bé làm quen với
chữ cái, Bé tập tô… Chính nguyên nhân này khiến cho trẻ trở nên sợ học chữ, đối với
trẻ việc học chữ hay làm quen với đọc viết là một áp lực, một nhiệm vụ bắt buộc mà
trẻ không hề có hứng thú, việc cho trẻ viết chữ một cách áp đặt không mang lại hiệu
quả hay tác dụng gì cho trẻ trong hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết, mà
ngược lại còn gây tác dụng không mong muốn như: Trẻ chán học chữ; Trẻ không hiểu
ý nghĩa của việc đọc, viết; Trẻ sợ đến lớp; Trẻ viết không đúng cách, viết qua loa; Cô
không quan sát quá trình trẻ viết một cách cụ thể chỉ xem kết quả của việc viết thì rất
có thể nhiều trẻ viết ngược, viết không đúng nét, không đúng hướng… Hệ quả của
việc này là khi trẻ bước vào lớp một, sẽ rất khó thay đổi do đã trở thành thói quen và
rất khó cho giáo viên tiểu học trong công tác uốn nắn trẻ.
2.2.3. Các biện pháp đã được giáo viên sử dụng để hình thành các kỹ năng
tiền học đọc học viết cho trẻ 5 – 6 tuổi
Bảng 2.6. Kết quả khảo sát ý kiến giáo viên lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi về mức độ
cần thiết sử dụng các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
Mức độ
STT
Các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết
Rất cần thiết
Cần thiết
Ít cần thiết
Không cần thiết
1
70.6%
32.4%
0
0
2
41.2%
55.9%
2.9%
0
3
47.1%
47.1%
2.9%
2.9%
Hướng dẫn trẻ dùng các từ để gọi tên đối tượng và đồ chơi, các thuộc tính và các phẩm chất của chúng Hướng dẫn trẻ tự đặt các câu về đồ chơi, về các bức tranh và kể truyện Hướng dẫn trẻ tự nghĩ ra những mẩu truyện ngắn Dạy trẻ chú ý nghe các bài thơ giúp trẻ
4
52.9%
41.2%
5.9%
0
mẫu giáo 5 – 6 tuổi
5
20.6%
32.4%
26.5%
20.6%
6
29.4%
41.2%
26.5%
2.9%
7
26.5%
41.2%
26.5%
5.9%
8
35.3%
29.4%
32.4%
2.9%
9
8.8%
14.7%
35.3%
41.2%
10
5.9%
23.5%
26.5%
44.1%
phát hiện ra từ, các âm thanh được lặp lại Dạy trẻ đọc kéo dài một âm vị nào đó có trong một tiếng Làm quen trẻ với tên gọi của âm vị Dạy trẻ xác định vị trí của âm vị nào đó ở trong tiếng (là âm đầu hay âm cuối) Dạy trẻ gọi tên các tiếng đơn giản có chứa một âm vị nào đó Sử dụng mô hình để diễn tả cấu trúc của một tiếng đơn giản và xác định vị trí của âm vị nào đó ở trong tiếng Dạy trẻ đọc một tiếng theo mô hình của tiếng đó
11 Hướng dẫn trẻ đọc các âm tiết 12 Dạy trẻ định hướng đúng trên trang vở
50% 76.5%
32.4% 27.6%
8.8% 0
8.8% 5.9%
13
88.2%
8.8%
2.9%
0
14
82.4%
11.8%
2.9%
2.9%
Giúp trẻ làm quen với các qui tắc viết (từ trái qua phải…) Luyện viết các yếu tố của chữ cái (nét tròn, nét thẳng đứng, nét móc xuôi, nét móc ngược)
15 Xây dựng môi trường viết, đọc 16 Dạy trẻ sao chép từ, chữ cái
76.5% 73.5%
20.6% 23.5%
2.9% 2.9%
0 0
55
Bảng 2.6 trên, cho thấy giáo viên mầm non đề cao các biện pháp hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết cho trẻ như: Hướng dẫn trẻ dùng các từ để gọi tên đối tượng
và đồ chơi, các thuộc tính và các phẩm chất của chúng (chiếm tỉ lệ 70.6%); Hướng dẫn
trẻ đọc các âm tiết (chiếm tỉ lệ 50%); Dạy trẻ định hướng đúng trên trang vở (76.5%);
Xây dựng môi trường viết, đọc (chiếm tỉ lệ 76.5%); Dạy trẻ sao chép từ, chữ cái
(73.5%). Trong đó, các biện pháp có tỉ lệ chọn cao nhất là biện pháp: Giúp trẻ làm quen
với các qui tắc viết (từ trái qua phải…) (chiếm tỉ lệ 88.2%) và luyện viết các yếu tố của
chữ cái (nét tròn, nét thẳng đứng, nét móc xuôi, nét móc ngược) (chiếm tỉ lệ 82.4%).
Mặt khác, các biện pháp như: Dạy trẻ đọc kéo dài một âm vị nào đó có trong một
tiếng; Làm quen trẻ với tên gọi của âm vị; Dạy trẻ xác định vị trí của âm vị nào đó ở
trong tiếng (là âm đầu hay âm cuối); Dạy trẻ gọi tên các tiếng đơn giản có chứa một
âm vị nào đó; Biện pháp sử dụng mô hình mô hình để diễn tả cấu trúc của một tiếng
đơn giản và xác định vị trí của âm vị nào đó ở trong tiếng; Biện pháp dạy trẻ đọc một
tiếng theo mô hình của tiếng đó chỉ ở mức cho là cần thiết, ít cần thiết hoặc thậm chí
không cần thiết như biện pháp sử dụng mô hình mô hình để diễn tả cấu trúc của một
tiếng đơn giản và xác định vị trí của âm vị nào đó ở trong tiếng lại có tỉ lệ lựa chọn rất
thấp. Mặc dù đây là 2 biện pháp quan trọng và dễ thực hiện, nó đem lại hiệu quả cao
56
trong việc giúp trẻ hình dung ra cái mối liên hệ có vẻ trừu tượng giữa âm, tiếng một
cách dễ dàng.
Bảng 2.7. Kết quả trưng cầu ý kiến giáo viên mầm non về mức độ sử dụng các
Mức độ
STT
Các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết
Rất thường xuyên
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
1
91.2%
0
5.9%
2.9%
2
82.4%
8.8%
5.9%
2.9%
Hướng dẫn trẻ dùng các từ để gọi tên đối tượng và đồ chơi, các thuộc tính và các phẩm chất của chúng Hướng dẫn trẻ tự đặt các câu về đồ chơi, về các bức tranh và kể truyện
3
Hướng dẫn trẻ tự nghĩ ra những mẩu truyện ngắn
55.9%
20.6%
20.6%
2.9%
4
85.3%
5.9%
5.9%
2.9%
5
41.2%
20.6%
20.6%
17.6%
6
55.9%
11.8%
20.6%
11.8%
7
61.8%
23.5%
5.9%
8.8%
8
55.9%
23.5%
8.8%
11.8%
9
17.6%
23.5%
17.6%
41.2%
Dạy trẻ chú ý nghe các bài thơ giúp trẻ phát hiện ra từ, các âm thanh được lặp lại Dạy trẻ đọc kéo dài một âm vị nào đó có trong một tiếng Làm quen trẻ với tên gọi của âm vị Dạy trẻ xác định vị trí của âm vị nào đó ở trong tiếng (là âm đầu hay âm cuối) Dạy trẻ gọi tên các tiếng đơn giản có chứa một âm vị nào đó Sử dụng mô hình để diễn tả cấu trúc của một tiếng đơn giản và xác định vị trí của âm vị nào đó ở trong tiếng
17.6%
10 Dạy trẻ đọc một tiếng theo mô hình của tiếng đó
20.6%
20.6%
41.2%
11 Hướng dẫn trẻ đọc các âm tiết 12 Dạy trẻ định hướng đúng trên trang vở
70.6% 91.2%
17.6% 2.9%
8.8% 2.9%
2.9% 2.9%
13
94.1%
5.9%
0
0
14
97.1%
0
2.9%
0
Giúp trẻ làm quen với các qui tắc viết (từ trái qua phải…) Luyện viết các yếu tố của chữ cái (nét tròn, nét thẳng đứng, nét móc xuôi, nét móc ngược)
15 Xây dựng môi trường viết, đọc
91.2%
5.9%
2.9%
0
16 Dạy trẻ sao chép từ, chữ cái
88.2%
0
11.8%
0
biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Theo kết quả khảo sát ở bảng 2.7, các biện pháp mà giáo viên thường sử dụng
trong hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ có tỉ lệ thuận với các biện pháp
mà giáo viên cho là cần thiết, rất cần thiết trong bảng 2.6 khảo sát về mức độ cần thiết
của các biện pháp như: Dạy trẻ định hướng đúng trên trang vở; Giúp trẻ làm quen với
các qui tắc viết (từ trái qua phải…); Luyện viết các yếu tố của chữ cái (nét tròn, nét
thẳng đứng, nét móc xuôi, nét móc ngược); Xây dựng môi trường viết, đọc; Dạy trẻ
sao chép từ, chữ cái; Hướng dẫn trẻ dùng các từ để gọi tên đối tượng và đồ chơi, các
thuộc tính và các phẩm chất của chúng; Hướng dẫn trẻ tự đặt các câu về đồ chơi, về
57
các bức tranh và kể truyện (Hầu hết chiếm tỉ lệ trên 80% giáo viên sử dụng một cách
rất thường xuyên). Phần lớn các ý kiến của giáo viên được khảo sát cho rằng rất
thường xuyên sử dụng các biện pháp mà đề tài đề cập để hình thành kỹ năng tiền học
đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi; Tuy nhiên, qua quan sát và dự giờ, cho thấy
giáo viên có sử dụng biện pháp "Xây dựng môi trường viết, đọc" nhưng hiệu quả biện
pháp này không cao, do nhiều nguyên nhân:
Nguyên nhân thứ nhất, dễ gặp phải đó là xây dựng môi trường theo chỉ đạo và
khuyến khích của cấp trên song không sử dụng triệt để hiệu quả của nó. Thường thì chỉ
để đối phó với các kì thanh tra, kiểm tra. Môi trường chữ viết hay môi trường đọc, viết
thường được hiểu là mọi nơi đều có chữ, mọi đồ vật đều có chữ… nhưng chẳng bao
giờ yêu cầu trẻ đọc những chữ, từ đó cả. Chính vì vậy, môi trường đọc, viết ở đây bị
bỏ phí, chỉ còn tính chất trang trí, trưng bày.
Nguyên nhân thứ hai, là do giáo viên chưa thực sự lôi cuốn trẻ vào việc khai thác
công dụng của môi trường đọc, viết, hoặc không hướng dẫn trẻ sử dụng đúng mục
đích, cách thức của môi trường. Phần lớn trẻ không có biểu hiện ham thích hay hứng
thú đọc chữ, không tò mò với các chữ viết mà cô tạo ra trong môi trường được gọi là
môi trường đọc, viết đó. Các ấn phẩm: truyện, sách, báo, tạp chí… trong môi trường
đọc, viết đó. Do không được giáo viên hướng dẫn sử dụng nên trẻ chỉ chủ yếu xem
tranh ảnh trong các ấn phẩm: truyện, sách, báo, tạp chí… chứ không đọc to lên và
thường không biết bảo quản, xem xong không biết cất gọn lên kệ hoặc giành giật gây
rách, nhàu nát sách. Chính vì vậy, giáo viên rất ngại cho trẻ tiếp xúc với những ấn
phẩm này.
Có sự tỉ lệ nghịch giữa biện pháp được giáo viên cho là có mức độ cần thiết thấp
nhưng lại có mức độ sử dụng khá thường xuyên như biện pháp: Dạy trẻ đọc kéo dài
một âm vị nào đó có trong một tiếng; Làm quen trẻ với tên gọi của âm vị; Dạy trẻ xác
định vị trí của âm vị nào đó ở trong tiếng (là âm đầu hay âm cuối); Dạy trẻ gọi tên các
tiếng đơn giản có chứa một âm vị nào đó.
Nhìn chung biện pháp sử dụng mô hình để giúp trẻ hình thành biểu tượng về từ
âm, tiếng và câu không được giáo viên đề cao và rất hiếm khi sử dụng. Thực tế, biện
pháp dạy trẻ đọc kéo dài một âm vị nào đó có trong một tiếng cũng hiếm khi được giáo
viên sử dụng. Qua thăm dò, thì phần lớn giáo viên tỏ ra lạ lẫm với những biện pháp này.
Qua nghiên cứu giáo án, kế hoạch hoạt động và dự giờ một số hoạt động hình
58
thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ của giáo viên mầm non, nhận thấy, các
biện pháp giáo viên sử dụng khá ít, thường lặp đi lặp lại theo các bước có sẵn như một
khuôn khổ (trình chiếu slide cho trẻ xem hình rồi đàm thoại với trẻ về hình ảnh đó, cho
trẻ đọc từ dưới hình, tìm chữ cái đã học có trong từ, sau đó giới thiệu chữ cái mới, dạy
trẻ phát âm chữ cái theo nhóm, cá nhân, cả lớp, giới thiệu những chữ cái khác có trong
nhóm chữ trẻ đang học…; cho trẻ chơi các trò chơi với chữ cái đã học như: Phát cho
mỗi trẻ một thẻ chữ cái, sau đó, cả lớp đi theo vòng tròn, vừa đi vừa hát, khi cả lớp hát
dứt một bài hát nào đó, cô giơ thẻ chữ, trẻ có thẻ chữ giống cô thì nhảy vào vòng tròn
và đọc to tên thẻ chữ của mình; Cho trẻ thi đua tìm khoanh tròn hoặc nối các chữ cái
đã học trong bài thơ, bài hát… được in sẵn hoặc tìm chữ cái được yêu cầu như thẻ chữ
của cô trong rổ nhiều thẻ chữ cái…); Giáo viên ít chú trọng luyện kỹ năng nghe cho trẻ
cho trẻ nghe và phát hiện âm vừa nghe, chỉ chú trọng cho trẻ nhìn và đọc âm, hay tìm
các âm trong từ…
2.2.4. Những khó khăn, thuận lợi của giáo viên trong công tác hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết cho trẻ 5 – 6 tuổi
Bảng 2.8. Kết quả việc trưng cầu ý kiến của các giáo viên dạy lớp một về những
khó khăn, thuận lợi của giáo viên trong công tác hình thành kỹ năng tiền học đọc
Mức độ
học viết cho trẻ 5 – 6 tuổi
Thuận lợi, khó khăn
STT
Rất đồng ý Đồng ý
Không đồng ý
1
22.2%
55.6%
22.2%
2
Thuận lợi Trẻ được làm quen với tiền học đọc học viết theo chương trình giáo dục mầm non có nội dung chi tiết phù hợp với chương trình lớp một. Trẻ hứng thú học tập
22.2%
77.8%
0
Khó khăn
1
22.2%
44.4%
33.3%
Trẻ đã được dạy trước chương trình tiểu học từ lớp mẫu giáo nhưng không đúng phương pháp. Chữ của trẻ xấu, không đúng quy định. Trình độ của các trẻ không đồng đều
2 3 4 Một số phụ huynh cho con đi học thêm ngoài giờ học
66.7% 44.4% 0
0 44.4% 100%
33.3% 11.1% 0
5
44.4%
33.3%
22.2%
Trẻ học trước chương trình nên không hứng thú trong giờ học
Bảng 2.8 cho thấy, phần lớn giáo viên tiểu học cho rằng: Trẻ được làm quen với
tiền học đọc học viết theo chương trình giáo dục mầm non có nội dung chi tiết phù hợp
với chương trình lớp một, và đánh giá cao hứng thú học tập của trẻ tạo điều kiện thuận
59
lợi cho công tác dạy học đọc, viết ở lớp một. Tuy nhiên, đa số giáo viên lớp một cho
rằng về mặt kỹ năng đã được hình thành ở trẻ còn rất yếu; chữ viết trẻ xấu, không
đúng quy định cũng như trình độ của trẻ không đồng đều gây khó khăn rất lớn cho
giáo viên trong việc uốn nắn ban đầu. Nếu việc hình thành kỹ năng học đọc, học viết ở
trẻ tốt và đúng quy định thì công tác dạy học của giáo viên tiểu học thuận lợi hơn rất
nhiều. 100% giáo viên cho rằng, phụ huynh đều cho trẻ học thêm ngoài giờ học, là khó
khăn đối với công tác giảng dạy của giáo viên đồng thời giảm hứng thú trong giờ học
tại trường của trẻ.
Bảng 2.9. Kết quả việc trưng cầu ý kiến của các giáo viên dạy lớp mẫu giáo 5 – 6
tuổi về những khó khăn, thuận lợi của giáo viên trong công tác hình thành kỹ
Mức độ
năng tiền học đọc học viết cho trẻ 5 – 6 tuổi
Thuận lợi, khó khăn
Đồng ý
STT
Không đồng ý
Rất đồng ý
88.2%
8.8%
2.9%
1
0
85.3%
14.7%
2
Thuận lợi Có chủ trương phổ cập lớp mẫu giáo 5 tuổi và có yêu cầu cụ thể với giáo viên dạy lớp lá. Chương trình giáo dục mầm non đã đề ra các nội dung chi tiết làm quen trẻ với đọc và viết
0 0
91.2% 91.2%
8.8% 8.8%
3 4
0
82.4%
17.6%
5
82.4%
14.7%
2.9%
6
Có đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học tối thiểu Trẻ hứng thú học tập GV nhiệt tình với việc hình thành kỹ năng tiền học đọc, học viết cho trẻ Phụ huynh quan tâm đến việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết
Khó khăn
61.8%
14.7%
23.5%
1
Chỉ đạo việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ chưa rõ ràng
64.7%
14.7%
20.6%
2
50%
8.8%
41.2%
3
50%
14.7%
35.3%
4
52.9%
11.8%
35.3%
5
47.1%
23.5%
29.4%
6
52.9%
20.6%
26.5%
7
Cơ sở vật chất, giáo cụ hỗ trợ chưa phong phú Giáo viên mầm non chưa hiểu rõ bản chất của đọc và viết Giáo viên mầm non chưa hiểu rõ bản chất của việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết Cô giáo MN dạy trước chương trình nhưng không nắm được phương pháp dạy Tiếng Việt ở trường tiểu học (lớp một) Chữ giáo viên xấu, không đúng quy định các kiểu chữ Chưa thật sự gắn liền việc học đọc – viết với nhu cầu cuộc sống của trẻ và ngôn ngữ nói mạch lạc Trình độ của các trẻ không đồng đều
58.8%
38.2%
2.9%
8
61.8%
35.3%
2.9%
9
Một số phụ huynh chưa hiểu đúng về bản chất của việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết
60
Bảng 2.9 cho thấy, phần lớn GVMN và GVTH đều cho rằng, phụ huynh rất
quan tâm đến việc cho trẻ làm quen với việc đọc, viết, song chưa có biện pháp hợp lý
nên dễ làm cho trẻ chán học hoặc việc làm quen sai phương pháp khiến giáo viên rất
khó điều chỉnh. Đa số phụ huynh lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi đều không cho trẻ đi học
thêm giáo viên lớp một, chỉ cho trẻ đi học vào 3 tháng hè sau khi kết thúc chương trình
mẫu giáo. Một số phụ huynh có con lớn hơn, đang học cấp một thì cho anh chị của các
em dạy đánh vần, học chữ một cách tùy tiện, mặc cho các cháu không có phương pháp
sư phạm. Việc làm này không làm mất đi hứng thú học tập của các em, ngược lại các
em còn hứng thú hơn với việc học chữ. Tuy nhiên, chính bản thân các trẻ là anh chị
của các bé còn có rất nhiều hạn chế trong học đọc, học viết, điều này đồng nghĩa với
việc các bé mẫu giáo 5 – 6 tuổi này cũng vướng phải những sai lầm như các anh chị
mình, làm trẻ mất phương hướng khi đi học chính thức ở trường tiểu học, đây lại là
một khó khăn không nhỏ cho công tác dạy học của lớp một.
Trong thời gian học hè, trẻ sẽ được giáo viên cấp một dạy kèm về toán và luyện
chữ. Phụ huynh cho rằng, như vậy sẽ an tâm hơn khi trẻ vào lớp một; Phần lớn phụ
huynh không hiểu lợi hại của việc cho trẻ đi học thêm vào ngày hè, cho con đi học
theo phong trào vì sợ con không theo kịp bạn bè. Chính vì sự ép buộc này, khiến trẻ
không có hứng thú đi học, trẻ xem học chữ như là tra tấn và dù giáo viên dạy hè của
trẻ có chuyên môn hay không thì việc dạy, học hè cũng chỉ có mục đích chủ yếu chỉ để
trẻ biết viết, biết làm toán trước khi vào lớp một. Việc dạy trước, học trước này khiến
trẻ mất đi hứng thú, cũng như ham muốn học tập khi vào lớp một, gây tâm lý chủ quan
cho của trẻ, ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành kỹ năng đọc viết thực thụ của trẻ
sau này.
2.2.5. Thực trạng về biểu hiện kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ 5 - 6 tuổi
tại một số trường mầm non huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Thực trạng về biểu hiện kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ 5 - 6 tuổi tại một số
trường mầm non huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, được khảo sát thông qua việc thăm
dò ý kiến của GVMN và GVTH, đồng thời khảo sát thực trạng tại hình thành kỹ năng
tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường thực nghiệm. Qua khảo sát
thu được các kết quả sau:
61
2.2.5.1. Kỹ năng nghe của trẻ: Nghe và phân biệt đúng các tiếng (đơn giản)
thanh và âm vị
Bảng 2.10. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVMN về tỉ lệ hình thành kỹ năng nghe
Tỉ lệ
STT
Các kỹ năng tiền học đọc học viết
≤ 20%
Không ý kiến
81% đến 100%
61% đến 80%
41% đến 60%
21% đến 40%
1
0
11.8%
52.9%
17.6%
11.8%
5.9%
2
0
2.9%
55.9%
20.6%
14.7%
5.9%
lập
câu
3
0
11.8%
50%
17.6%
14.7%
5.9%
4
8.8%
14.7%
50%
5.9%
14.7%
5.9%
5
0
8.8%
50%
8.8%
26.5%
5.9%
6
5.9%
35.3%
32.8%
11.8%
8.8%
5.9%
Kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ Kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa của ngôn ngữ Kỹ năng chia câu ra các từ và tạo từ 2 – 4 từ đơn giản Kỹ năng phân tích các âm thanh (các âm vị) của một tiếng đơn giản Phân biệt nguyên âm và phụ âm Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái
của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Bảng 2.11. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVTH về tỉ lệ hình thành kỹ năng nghe
Tỉ lệ
STT
Các kỹ năng tiền học đọc học viết
≤20%
81% đến 100%
Không ý kiến
61% đến 80%
41% đến 60%
21% đến 40%
1
0
11.1%
22.2%
22.2%
44.4%
0
Kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ
2
0
11.1%
44.4%
44.4%
0
0
3
0
11.1%
22.2%
44.4%
0
0
4
0
22.2%
11.1%
33.3%
33.3%
0
5
22.2%
22.2%
0
55.6%
0
0
6
0
44.4%
22.2%
33.3%
0
0
Kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa của ngôn ngữ Kỹ năng chia câu ra các từ và tạo lập câu từ 2 – 4 từ đơn giản Kỹ năng phân tích các âm thanh (các âm vị) của một tiếng đơn giản Phân biệt nguyên âm và phụ âm Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái
của trẻ vào đầu năm học lớp một
Dựa vào kết quả ở bảng 2.10 và bảng 2.11, ta nhận thấy: Có sự khác biệt giữa
62
nhận xét của GVMN và GVTH về tỉ lệ hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết ở
trẻ. Trong khi GVMN cho rằng các kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 –
6 tuổi đã được hình thành và đạt được mức độ trung bình hoặc khá cao thì GVTH lại
cho rằng tỉ lệ kỹ năng này ở trẻ đầu vào lớp một lại chỉ ở mức thấp hoặc rất thấp. Điều
này chứng tỏ việc hiểu bản chất cũng như đánh giá việc hình thành các kỹ năng tiền
học đọc học viết ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi có sự khác biệt giữa GVMN và GVTH. Có
thể giả thuyết rằng, yêu cầu về các kỹ năng tiền học đọc học viết của hai cấp học có sự
không tương đồng, dẫn đến tình trạng trên..
Kỹ năng tách câu, từ dường như chưa được hình thành ở trẻ, hầu hết trẻ lẫn lộn
câu hay tiếng khi được hỏi hoặc không phân biệt được câu hay tiếng. Hoặc cũng rất ít
trẻ nhận biết được trong một tiếng đơn giản có âm nào. Phần lớn GVMN cho trẻ làm
quen với từng chữ cái riêng biệt, không gắn chữ với các từ có nghĩa, mặc dù ban đầu
các chữ cái được giới thiệu từ một từ có nghĩa nhưng sau đó, hầu hết giáo viên, tách
rời chúng ra khỏi từ, khỏi ngữ cảnh có nghĩa và yêu cầu trẻ học chủ yếu bằng cách ghi
nhớ từng chữ cái riêng biệt đó. Điều này khiến cho việc ghi nhớ của trẻ trở nên không
chủ định, do trẻ không có nhu cầu, hứng thú, nên trẻ mau quên và mỗi ngày trôi qua,
học thêm nhiều chữ cái mới trẻ lại dễ dàng quên đi những chữ cái cũ, thậm chí cả
những chữ đơn giản, quen thuộc như "o, a" trẻ cũng không phân biệt được, hoặc không
liên hệ được khi nghe giáo viên hỏi.
2.2.5.2. Kỹ năng đọc của trẻ: Đọc chữ to, rõ, các tiếng có thanh, các âm vị.
Bước đầu làm quen với việc đọc bập bẹ, đọc một tiếng (đơn giản)
Bảng 2.12. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVMN về tỉ lệ hình thành kỹ năng đọc
Tỉ lệ
STT
≤20%
Các kỹ năng tiền học đọc học viết
Không ý kiến
7
81% đến 100% 67.6%
61% đến 80% 23.5%
41% đến 60% 2.9%
21% đến 40% 2.9%
2.9%
0
8
44.1%
14.7%
8.8%
17.6%
8.8%
5.9%
9
50%
14.7%
20.6%
5.9%
5.9%
2.9%
Nhận biết các chữ cái Trẻ biết cách ghép chữ thành từ đơn giản Kỹ năng đọc các từ, câu đơn giản, quen thuộc
của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
63
Bảng 2.13. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVTH về tỉ lệ hình thành kỹ năng đọc
của trẻ vào đầu năm học lớp một
Tỉ lệ
STT Các kỹ năng tiền học đọc học viết ≤20% Không ý kiến 61% đến 80% 41% đến 60% 21% đến 40%
0 Nhận biết các chữ cái 11.1% 0 0 44.4% 7
11.1% 22.2% 11.1% 44.4% 0 8 81% đến 100% 44.4 % 11.1 %
22.2% 11.1% 0 55.6% 0 9 11.1 % Trẻ biết cách ghép chữ thành từ đơn giản Kỹ năng đọc các từ, câu đơn giản, quen thuộc
Ở kỹ năng tiền học đọc của trẻ, vẫn có sự chênh lệch rất lớn trong đánh giá của
GVMN và GVTH. Tỉ lệ đánh giá của GVMN về kỹ năng này ở trẻ tập trung chủ yếu ở
mức độ 81% đến 100%, trong khi GVTH lại tập trung đánh giá kỹ năng của trẻ ở mức
rất thấp (dưới 20%). Trong kỹ năng đọc, yêu cầu của giáo viên thường là trẻ đọc
thuộc, nhớ chữ cái, phát âm đúng… vì vậy, GVMN thường viết chữ cái đã học lên
bảng, hoặc phát thẻ chữ rồi chỉ hoặc cho trẻ khác chỉ cho tất cả lớp cùng đọc một cách
khô khan, vô nghĩa, chính vì thế mà nhiều trẻ không thể đọc được dù một chữ cái đơn
giản, những trẻ này có khuynh hướng bắt chước trẻ khác để đọc theo khiến giáo viên
tưởng rằng trẻ đã đọc được. Chỉ cần 1 trẻ đọc đúng là tất cả trẻ còn lại cũng đọc đúng
nhưng lại quên ngay sau đó, trẻ biết thì vẫn biết, mà trẻ chưa biết vẫn hoàn toàn không
biết. Bên cạnh đó, hầu hết GVMN không hướng trẻ vào việc đọc và tự đọc theo cách
của trẻ nên trẻ không ham thích đọc sách, không hướng sự chú ý của mình vào môi
trường chữ mà giáo viên đã tạo. Chính vì nguyên nhân này mà cho đến cuối năm mẫu
giáo 5 – 6 tuổi khi được hỏi, phần lớn các trẻ hầu như quên hết những gì cô đã dạy. Đó
là nguyên nhân dẫn đến sự đánh giá khác nhau khá lớn giữa GVMN và GVTH về tỉ lệ
các kỹ năng đã được hình thành ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi và trẻ đầu vào lớp một.
2.2.5.3. Kỹ năng viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi: Ngồi đúng tư thế, cầm bút
đúng cách, biết tô màu và tạo các con chữ
64
Bảng 2.14. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVMN về tỉ lệ hình thành kỹ năng tiền
học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Tỉ lệ
STT Các kỹ năng tiền học đọc học viết ≤20 % Không ý kiến 81% đến 100% 61% đến 80% 41% đến 60% 21% đến 40%
0 10 79.4% 14.7% 2.9% 2.9% 0 Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng cách
0 11 Kỹ năng viết các chữ cái 64.7% 26.5% 5.9% 2.9% 0
12 61.8% 23.5% 8.8% 2.9% 2.9% 0 Kỹ năng sao chép con chữ
Bảng 2.15. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVTH về tỉ lệ hình thành kỹ năng tiền
học viết của trẻ vào đầu năm học lớp một
Tỉ lệ
STT Các kỹ năng tiền học đọc học viết ≤20% Không ý kiến 61% đến 80% 41% đến 60% 21% đến 40%
0 10 22.2% 0 22.2% 44.4%
0 11 22.2% 11.1% 0 44.4%
0 12 0 11.1% 33.3% 11.1% Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng cách Kỹ năng viết các chữ cái Kỹ năng sao chép con chữ 81% đến 100% 11.1 % 22.2 % 44.4 %
Tương tự với các kỹ năng trên, kỹ năng tiền học viết của trẻ cũng nhận được sự
đánh giá không tương đồng giữa giáo viên của 2 cấp học. Kỹ năng tiền học viết của trẻ
vẫn được GVMN đánh giá rất cao ở mức độ 81% đến 100% trong khi GVTH lại đánh
giá rất thấp chỉ đạt mức dưới 20%. Chỉ có kỹ năng sao chép con chữ của trẻ được
GVTH đánh giá ở mức cao. Nguyên nhân là do trẻ đã có đủ các yếu tố về thể chất để
có thể học đọc học viết khi vào lớp một, cơ tay, vận động tinh của các ngón đã phát
triển, trẻ có thể cầm, điều khiển bút theo mong muốn của mình để sao chép con chữ.
Tuy nhiên, do GVMN chưa chú trọng rèn trẻ các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
nên vào lớp một kỹ năng này của trẻ hầu như chưa được hình thành và khi vào lớp một
GVTH hầu như phải được rèn lại từ đầu cho trẻ.
2.2.5.4. Kỹ năng học tập của trẻ 5 – 6 tuổi: Tuân thủ các quy định trong giờ
học, biết giơ tay khi muốn phát biểu, biết tự kiểm tra đánh giá
65
Bảng 2.16. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVMN về tỉ lệ hình thành kỹ năng học
Tỷ lệ
≤20%
STT
Không ý kiến
21% đến 40%
Các kỹ năng tiền học đọc học viết
81% đến 100%
61% đến 80%
41% đến 60%
13
8.8%
52.9%
11.8%
17.6%
0
8.8%
14
58.8%
17.6%
11.8%
2.9%
0
8.8%
Kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá Kỹ năng thực hiện các qui định trên giờ học
tập của trẻ 5 – 6 tuổi
Bảng 2.17. Kết quả việc trưng cầu ý kiến GVTH về tỉ lệ hình thành kỹ năng học
Tỷ lệ
STT
≤20%
Các kỹ năng tiền học đọc học viết
Không ý kiến
81% đến 100%
61% đến 80%
41% đến 60%
21% đến 40%
13
0
33.3%
11.1%
33.3%
22.2%
0
14
11.1%
33.3%
11.1%
11.1%
33.3%
0
Kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá Kỹ năng thực hiện các qui định trên giờ học
tập của trẻ vào đầu năm học lớp một
Kỹ năng học tập của trẻ đã được GVTH đánh giá tốt hơn so với các kỹ năng khác
và có sự phù hợp với sự đánh giá của GVMN. Có thể nói, do GVMN đã rất chú trọng
trong chuẩn bị tâm lý cho trẻ vào lớp một nên kỹ năng này của trẻ phần nào đã được
hình thành. Nếu trường mầm non phối hợp tốt với trường tiểu học, thường xuyên cho trẻ
tham quan trường tiểu học để được làm quen với môi trường này, cũng như công dụng
chức năng của các đồ dùng, bàn ghế trong lớp một, được trò chuyện với các anh chị học
sinh tiểu học về những việc cần làm khi vào lớp một kết hợp với việc thường xuyên tổ
chức các giờ học, các hoạt động ở trường mầm non cho giống với trường tiểu học thì kỹ
năng này của trẻ sẽ được đánh giá cao hơn.
Qua quan sát, dự giờ kết hợp với nghiên cứu sản phẩm hoạt động của trẻ, nhận
thấy, thực tế kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ còn rất yếu và hầu như chưa được
hình thành. Nguyên nhân là do giáo viên chỉ chú trọng cho tập trung rèn trẻ vào giờ hoạt
động chung, chủ yếu cho trẻ hoàn thành các bài tập làm quen chữ cái, có tổ chức cho trẻ
chơi với chữ cái trong giờ hoạt động chung, giờ chơi, tạo môi trường chữ… Song không
hấp dẫn, không gây được hứng thú đối với trẻ, không chú trọng lôi cuốn trẻ vào hoạt
66
động với môi trường đọc viết, tương tác với ấn phẩm. Trẻ nhỏ vốn thích chơi những trò
vui nhộn, thích chú ý vào những gì mới lạ, nên một khi môi trường được tạo ra từ đầu
năm học, sẽ dần trở nên quen thuộc, tồn tại một cách hiển nhiên trong mắt trẻ, không
phát huy được mặt tích cực của mình mà chỉ mang tính chất trang trí.
67
Tiểu kết chương 2
Qua kết quả nghiên cứu thực trạng tổ chức hoạt động hình thành kỹ năng tiền học
đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở một số trường mầm non huyện Bến Cát, tỉnh
Bình Dương, cho thấy:
Giáo viên lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi và phụ huynh có con em theo học lớp mẫu giáo
5 – 6 tuổi đều rất quan tâm đến việc học của trẻ, song phần lớn chưa nhận thức đầy đủ
về bản chất của việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi học đọc, học viết khi vào lớp
một. GVMN còn coi việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết (kỹ năng tiền học đọc học
viết) là biết viết chữ cái, học thuộc 29 chữ cái. Phụ huynh coi chuẩn bị cho trẻ vào lớp
một là cho trẻ biết viết, biết làm toán trước khi vào lớp một.
Biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
của giáo viên còn chưa phát triển đồng đều các kỹ năng cho trẻ. Chỉ chú trọng nhiều
vào cho trẻ phát âm các chữ cái và viết chữ cái riêng biệt, và thường tập trung vào giờ
hoạt động chung, ít khi tổ chức ngoài giờ học và các hoạt động khác. Giáo viên thường
giữ vai trò chủ đạo, các hoạt động thường xuất phát từ giáo viên thay vì xuất phát từ
nhu cầu của trẻ; còn mang tính áp đặt đối với trẻ. Giáo viên ít sáng tạo, chưa sử dụng
nhiều biện pháp thích hợp thu hút chú ý và lòng mong muốn học chữ của trẻ. Chưa
hình thành được kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ.
Kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi còn hạn chế như kỹ
năng nghe, đọc, viết, kỹ năng tự đánh giá, kỹ năng học tập.
Qua nghiên cứu thực trạng tổ chức hoạt động hình thành kỹ năng tiền học đọc
học viết cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở một số trường mầm non huyện Bến Cát, tỉnh
Bình Dương và nhận thấy nhiều yếu kém trong công tác này cho thấy giáo viên cần
chú trọng tổ chức các hoạt động phù hợp với lứa tuổi, hấp dẫn, lôi cuốn trẻ, biến việc
học đọc, viết trở thành nhu cầu, hứng thú của trẻ thì kỹ năng tiền học đọc học viết sẽ
được hình thành ở trẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ học đọc, viết tốt khi vào lớp một.
68
Chương 3. ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN
PHÁP HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TIỀN HỌC ĐỌC HỌC VIẾT
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG
MẦM NON HUYỆN BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Dựa trên cơ sở lý luận (Chương 1) và thực trạng (Chương 2) sử dụng biện pháp
hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại một số trường
mầm non, chúng tôi tiến hành đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mẫu giáo Cây Trường
huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
3.1. Tổ chức nghiên cứu các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non
3.1.1. Tổ chức nghiên cứu các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc
học viết cho trẻ 5 – 6 tuổi
Việc đề xuất biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi tại trường mầm non được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực
tiễn. Cơ sở thực tiễn bao gồm tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lý và
giáo viên một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh, ý kiến của GVMN và
GVTH tại các trường thuộc huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương về thực trạng tổ chức các
hoạt động hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Đề tài
tôi tập trung khai thác các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi, như kỹ năng: nghe, đọc, viết, các kỹ năng học tập, kỹ năng tự
kiểm tra, đánh giá.
Để hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi cần
tổ chức tốt các hoạt động tại trường, đồng thời phối hợp chặt chẽ với phụ huynh và
trường tiểu học để có sự thống nhất quan điểm cũng như nội dung trong công tác này.
Các biện pháp cần phù hợp với độ tuổi, phong phú, hấp dẫn trẻ, phải khuyến khích,
khơi gợi ở trẻ lòng ham muốn, thích thú với việc học đọc học viết, biến các tiết học
chữ thành niềm vui khám phá, thành nhu cầu của trẻ. Có như vậy, trẻ cũng có thể tự
69
mình đi sâu vào thế giới của sách vở và của những con chữ, để chữ viết gần gũi hơn
đối với trẻ, trẻ không còn bỡ ngỡ, hay có cảm giác hụt hẫng, lo sợ khi vào lớp một với
một môi trường hoàn toàn mới lạ, với những nhiệm vụ mới và địa vị xã hội cũng
mới…
3.1.2. Xác định một số biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết
cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non
Tại trường mầm non, có nhiều các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ, nhưng
các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo thì chưa được
đề cập nhiều. Có thể chia biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi như sau:
Biện pháp sử dụng lời nói: Giáo viên sử dụng biện pháp dùng lời nhằm hình
thành kỹ năng nghe, phân biệt âm thanh cho trẻ; hình thành kỹ năng học tập (nghe và
tiếp nhận nhiệm vụ học tập bằng lời)…
Biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan: Sử dụng khi cho trẻ quan sát khẩu hình
miệng khi giáo viên phát âm; Quan sát các giáo cụ trực quan; Quan sát thao tác, cách
thức giáo viên tạo thành chữ viết, cách sử dụng công cụ viết; Quan sát cách giáo viên
thao tác với sách trong việc đọc…
Ngôn ngữ viết là hình thức ngôn ngữ có tính chủ định và tính có ý thức. Sự phát
triển tính có chủ định của ngôn ngữ nói là cơ sở cho việc nắm vững ngôn ngữ viết sau
này. Sự hình thành ý thức đơn giản về ngôn ngữ của bản thân (về hành vi ngôn ngữ,
các hành động ngôn ngữ), tính có chủ định của ngôn ngữ là khía cạnh quan trọng nhất
của việc chuẩn bị cho trẻ học ngôn ngữ viết. Phẩm chất này là thành phần của sự sẵn
sàng tâm lí nói chung với việc học.
Có thể nói, con đường dạy học đọc, học viết cần được bắt đầu từ việc nghiên cứu
các ý nghĩa âm thanh của các chữ cái và cần phân tích và tổng hợp mặt âm thanh của
ngôn ngữ. Lời nói là cái có trước chữ viết, vì vậy đề tài chú trọng hình thành cho trẻ
khả năng phân tích thành phần âm thanh của ngôn ngữ.
Như vậy, khi dạy học đọc, học viết tiếng Việt, cần sử dụng phương pháp phân
tích tổng hợp âm thanh của tiếng nói và ngôn ngữ.
Các nghiên cứu cho thấy, các hành động phân tích âm thanh không xuất hiện một
70
cách tự phát mà được hình thành trong quá trình dạy học đặc biệt.
Hình thức hoạt động vui chơi tại trường mầm non và vai trò của nó trong
hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ: Trong trường mầm non, để vừa
phù hợp với sự đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, vừa phù hợp với nhu cầu và sở thích của
trẻ lại vừa giúp trẻ hình thành các kỹ năng học tập một các dễ dàng, trò chơi học tập là
biện pháp được coi là hữu dụng nhất và được sử dụng nhiều nhất. Trong hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi không thể không kể đến vai trò
của trò chơi học tập. Sử dụng trò chơi học tập nhằm giúp trẻ hình thành các khái niệm
ban đầu về chữ viết, âm, từ, tiếng trong tiếng Việt; Rèn luyện các kỹ năng sử dụng chữ
viết, rèn kỹ năng đọc từ, tiếng; Rèn các thao tác hoạt động với môi trường đọc, viết và
các kỹ năng trong kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ. Thông qua trò chơi, giáo viên
có thể hình thành hầu hết các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ.
Hình thức hoạt động giờ học tại trường mầm non và vai trò của nó trong
hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ: Hoạt động hình thành kỹ năng
tiền học đọc học viết cho trẻ ở trường mầm non cần đa dạng và thực hiện thông qua
hầu hết các hoạt động ở trường như hoạt động vui chơi, hoạt động ngoài trời, hoạt
động mọi lúc mọi nơi. Tuy nhiên, để cho trẻ dễ dàng thích nghi với hoạt động học tập
tại trường tiểu học, trường mầm non cần có những giờ học chuyên biệt được tổ chức
gần giống với các giờ học ở lớp một để cho trẻ làm quen. Những giờ học này với nội
dung chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông, cụ thể là chuẩn bị cho trẻ những kỹ năng
đọc, viết; nó còn được gọi là giờ học làm quen chữ cái ở trường mầm non. Trong
những giờ học này, yêu cầu trẻ phải thực hiện các quy định trong giờ học (ngồi học
ngay ngắn, biết giơ tay khi muốn phát biểu ý kiến, chú ý nghe và thực hiện đúng yêu
cầu của giáo viên…), phải hoàn thành nhiệm vụ được giao, các nhiệm vụ này phải
được thực hiện trong một thời gian nhất định... Song, các giờ học này vẫn chỉ mang
tính làm quen nên các hoạt động cần đơn giản, nhẹ nhàng, tổ chức dưới dạng nhiều trò
chơi, thi đua hấp dẫn trẻ, trong đó trẻ được khuyến khích, cổ vũ tham gia, không gò
bó, ép buộc.
3.1.3. Một số nguyên tắc xây dựng các biện pháp hình thành kỹ năng tiền
tiền học đọc học viết cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non
71
Việc xây dựng biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu
giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non, phải được dựa trên các nguyên tắc tổ chức hoạt
động sau:
Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích
Các biện pháp mà đề tài đưa ra phải đảm bảo hướng tới mục đích hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
Để đảm bảo nguyên tắc này, giáo viên phải vạch ra kế hoạch, đề ra những nhiệm
vụ giáo dục cần giải quyết.
Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và phát triển
Hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ trên cơ sở kế thừa những giai
đoạn phát triển trước đó và đưa trẻ vào vùng phát triển gần; Các kỹ năng được đưa vào
đề hình thành cho trẻ phải luôn được tổ chức, sắp xếp theo logic phát triển dần về cả
hình thức và nội dung: đi từ dễ tới khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu
tượng… Trẻ thực hiện nhiệm vụ học tập với sự hỗ trợ của người lớn.
Nguyên tắc này đòi hỏi, khi giáo viên đưa ra tổ chức hoạt động cho trẻ không
những phải chỉ ra cho trẻ những nhiệm vụ dễ dàng, quen thuộc, mà còn phải đưa ra
những nhiệm vụ đòi hỏi sự nỗ lực hoạt động trí tuệ của trẻ.
Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
Kỹ năng tiền học đọc học viết là một kỹ năng quan trọng cho trẻ học tập ở trường
tiểu học, trong đó đòi hỏi trẻ phải đạt được một mức độ biết đọc, biết viết nhất định;
việc học đọc, học viết nói chung và việc đọc, viết của trẻ lớp một nói riêng đều có
những quy tắc nhất định nên nó có những yêu cầu khá khắt khe đối với trẻ. Các khái
niệm, quy tắc trong kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ phải đảm bảo tính chính xác
về nội dung khoa học.
Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức, đa dạng, hấp dẫn
Biện pháp phải phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lý, với nhu cầu và trình
độ phát triển kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ. Đa dạng, hấp dẫn lôi cuốn trẻ, và
tránh gây nhàm chán cho trẻ. Nội dung giáo dục đi từ những điều gần gũi rồi mở rộng
dần ra; tri thức đi từ các sự vật hiện tượng cụ thể đến mối liên hệ đơn giản giữa chúng
và nguyên nhân của chúng (từ dễ đến khó). Khi lĩnh hội tri thức phải dựa trên những
72
cái trẻ quan sát, đã biết, đã có kinh nghiệm của chúng.
Nguyên tắc đảm bảo tính cụ thể, linh hoạt, mềm dẻo
Các kỹ năng được hình thành phải cụ thể để trẻ dễ nắm vững, trẻ có thể nhớ, vận
dụng được một các linh hoạt, sáng tạo trong các tình huống nhận thức hay hoạt động
khác nhau. Bên cạnh đó rèn luyện ở học sinh tính mềm dẻo của tư duy để có thể vận
dụng điều đã học vào tình huống quen thuộc và vào tình huống mới.
Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan
Do trẻ mẫu giáo còn tư duy mang tính trực quan hình tượng nên khi tổ chức hoạt
động hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ phải xuất phát từ việc tri giác sự
vật, hiện tượng cụ thể cảm tính (thông qua đồ dùng trực quan hoặc hành động trực tiếp
với đối tượng), ở đây chính là: Tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc và hoạt động nhiều
với môi trường đọc viết, với vật liệu học đọc và viết (các ấn phẩm, chữ viết, được quan
sát cô đọc, hoặc viết lên bảng…). Hay từ những biểu tượng đã có về ngôn ngữ viết để
trẻ nhận thức cái trừu tượng, khái quát về dạng ngôn ngữ này.
Nguyên tắc đảm bảo tính tích hợp
Nguyên tắc này đòi hỏi việc sắp xếp nội dung hình thành kỹ năng tiền học đọc
học viết theo chủ đề mang tính tích hợp. Mỗi chủ đề được tích hợp nội dung của hoạt
động hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết với các hoạt động khác nằm trong các
lĩnh vực như: khám phá khoa học, phát triển kỹ năng xã hội, hoạt động âm nhạc, …
phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi.
Nguyên tắc phát huy tính tích cực, tự giác của trẻ
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình tổ chức hoạt động hình thành kỹ năng tiền
học đọc học viết cho trẻ cần phải làm cho trẻ hứng thú, ham thích, hăng say với nội
dung các hoạt động; làm cho trẻ tự mình ra sức hoàn thành các nhiệm vụ hoạt động, tự
mình khắc phục khó khăn để hình thành tri thức, kỹ năng tiền học đọc học viết.
Nguyên tắc đối xử cá biệt
Nguyên tắc đối xử cá biệt trong quá trình tổ chức hoạt động hình thành kỹ năng
tiền học đọc học viết cho trẻ đòi hỏi bên cạnh việc chú ý đến khả năng chung của
nhóm, lớp phải chú ý đến đặc điểm cá nhân của mỗi trẻ. Trong quá trình nhận thức, trẻ
em bộc lộ sự khác biệt về nhiều mặt. Trẻ khác nhau về mức độ linh hoạt của tư duy.
73
Một số em tìm ra lời giải đáp nhanh, số khác lại suy nghĩ cẩn thận đi đến kết luận đúng
đắn.
Trẻ cũng khác nhau ở tốc độ tiếp thu tri thức. Có em hiểu và nhớ nhanh, có em
lại phải mất nhiều thời gian ôn tập để lĩnh hội tài liệu mới. Các kỹ năng cũng như vậy,
sự hình thành ở các em khác nhau về thời gian. Số lần lặp lại các thao tác để thành kỹ
năng là khác nhau. Bởi vậy, trong quá trình tổ chức các hoạt động cho trẻ, giáo viên
phải có phương pháp, biện pháp đối xử cá biệt linh hoạt, ví dụ, với các em khá có thể
giao nhiệm vụ phức tạp hơn. Có như vậy, mới duy trì hứng thú và thúc đẩy tính tích
cực nhận thức của mỗi trẻ. Với các em học yếu, chúng tôi quan tâm giúp đỡ nhiều và
kịp thời hơn, đưa các câu hỏi vừa sức, các nhiệm vụ vừa sức để cho các em thấy được
mình cũng có thể tiếp thu bài, từng bước nâng dần kỹ năng của trẻ.
3.2. Đề xuất một số biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho
trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mẫu giáo Cây Trường, huyện Bến Cát, tỉnh Bình
Dương
3.2.1. Các nhiệm vụ hình thành các kĩ năng tiền học đọc học viết cho trẻ 5 –
6 tuổi tại trường mẫu giáo Cây Trường, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Đề tài xác định nhiệm vụ cần hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết ở trẻ lớp
thực nghiệm bao gồm các kỹ năng sau:
Kỹ năng nghe:
Kĩ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ.
Kĩ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ
Kĩ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản.
Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái.
Kỹ năng tiền học đọc
Trẻ ghép được một số chữ đơn giản (2 chữ cái) và đọc được nó
"Đọc" được một số từ, câu đơn giản, quen thuộc
Nhận biết một số cấu tạo của một quyển sách
Thực hiện được một số quy tắc của việc đọc
Kỹ năng tiền học viết
Ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách.
74
Kỹ năng học tập
Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình.
Kỹ năng thực hiện các quy định trên giờ học.
3.2.2. Đề xuất một số biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho
trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mẫu giáo Cây Trường, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Ở trường mầm non có nhiều các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ, tuy nhiên,
các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo chưa được đề
cập nhiều. Việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
không tách rời sự phát triển ngôn ngữ nói chung:
Dựa vào điều kiện lớp, chủ đề đang thực hiện (chủ đề "thế giới động vật"), nhóm
chữ cái cần cho trẻ làm quen (nhóm chữ v, r), chúng tôi lập kế hoạch tổ chức các hoạt
động hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ tại thời điểm thực nghiệm.
Xác định mục đích hình thành ở trẻ kỹ năng tiền học đọc học viết cụ thể như:
Tập trung chú ý vào nhiệm vụ bằng lời nói (bằng miệng); phân tích và tự phát hiện
thành phần âm thanh của lời nói, đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ bằng lời nói; hình
thành ở trẻ ý thức đơn giản về ngôn ngữ của bản thân. Việc hình thành kỹ năng tiền
học đọc học viết cho trẻ mà chúng tôi thực hiện nhằm vào đối tượng là lời nói hoàn
chỉnh có nghĩa, rồi tập dần cho trẻ phân tích các thành phần của lời nói đó, từ lời nói
rồi mới tới chữ viết chứ không tập trung cho trẻ làm quen với chữ cái một cách khô
khan, cứng nhắc như các trường mầm non vẫn làm.
Hình thành mong muốn hiểu lời nói, và ý nghĩa của chữ viết, mong muốn hiểu
những gì chữ viết truyền đạt xuất phát từ chính bản thân trẻ sẽ là động lực mạnh mẽ
thôi thúc trẻ học chữ.
Với các nhiệm vụ hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết đã xác định chúng tôi
lựa chọn các hình thức giờ hoạt động chung (hoạt động học tập) và giờ hoạt động vui
chơi với biện pháp cụ thể sau:
Hình thành kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa đọc lập của ngôn ngữ: thông
qua việc liên hệ từ gọi đối tượng với các đối tượng bằng cách cho trẻ gọi tên đối tượng
lặp lại từ để gọi dối tượng đó, rồi phân tích từ vừa gọi: từ vừa gọi đối tượng là từ gì?
Từ đó có bao nhiêu tiếng? Gồm có những tiếng nào? Tiếng nào đứng trước, tiếng nào
75
đứng sau? Và khi hỏi ngược lại, từ đó chỉ đồ vật hay đối tượng cụ thể nào trẻ có thể trả
lời được bằng cách chỉ vào đối tượng mà từ gọi tên.
Hình thành kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ bằng
cách cho trẻ làm quen với một đoạn văn, câu chuyện ngắn có ý nghĩa trọn vẹn, có số
lượng câu từ 3 đến 4 câu; giúp trẻ nhận biết đoạn văn, câu chuyện ngắn đó có bao
nhiêu câu (đọc từng câu, có ngắt nghỉ và nhấn mạnh để trẻ nêu được từng câu riêng
biệt). Nêu được ý nghĩa một câu đơn giản qua diễn đạt bằng lời nói và trẻ có thể nói
được câu đơn giản có bao nhiêu tiếng. Đồng thời giáo viên còn giúp trẻ tách câu
chuyện được nghe thành các phần chính và nêu nội dung từng phần theo thứ tự đơn
giản như: phần đầu câu chuyện nói đến điều gì (mở đầu- phần đầu), tiếp theo là
chuyện gì xảy ra (để có sự nhận thức về phần nội dung câu chuyện hay đoạn giữa), câu
chuyện kết thúc như thế nào? (kết chuyện); qua các bước như vậy dần trẻ hiểu được
một câu chuyện thông thường có ba phần chính là mở đầu, phần giữa và phần cuối…
Hình thành kỹ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản: bằng biện pháp
đọc kéo dài âm để phát hiện âm trong từ; Mô hình hóa âm thanh để biết vị trí của âm
trong từ, vị trí từ chứa âm; Khoanh hình các đối tượng mà tên gọi có âm nào đó như
yêu cầu; Nối âm yêu cầu khi đọc tên đối tượng rồi nối âm đó với ô trong mô hình tiếng
đã được vẽ đúng vị trí phát hiện của âm đó (ví dụ: khi nhìn thấy hình cái va li trẻ sẽ
đọc "va li" và bằng cách chỉ ngón tay vào mô hình tiếng va li, xác định và nối chữ ghi
âm "v" với ô đã xác định là các ô đã được đánh số 1, 2, 3, 4 theo thứ tự tương ứng).
Biện pháp trò chơi với các trò chơi học tập nhằm luyện tập thường xuyên các kỹ năng
với chữ cái, từ, câu;…
Hình thành kỹ năng liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái: bằng cách nghe âm thanh
và chỉ được chữ cái, chỉ chữ cái và đọc được âm của nó; nghe và chọn đúng thẻ chữ
ghi âm của âm được nghe; tìm được chữ ghi âm được nghe trong môi trường chữ xung
quanh trẻ;… tạo hình chữ cái từ nhiều vật liệu khác nhau như hột hạt, đất sét, giấy, mô
phỏng bằng cử chỉ, hình dáng….
Hình thành kỹ năng ghép được một số chữ đơn giản (2 chữ cái) và đọc được nó,
kỹ năng "Đọc" được một số từ, câu đơn giản, quen thuộc: bằng các trò chơi như vòng
tròn xoay xoay, ngôi nhà âm r (v, n…): giúp trẻ phản xạ đọc khi nhìn thấy chữ đơn
76
giản được ghép từ hai chữ cái đứng cạnh nhau đúng vị trí phụ âm đầu nguyên âm cuối,
giúp trẻ dần biết tạo chữ từ việc ghép 2 hai chữ cái với nhau đúng vị trí, đọc khi nhìn
thấy các chữ đơn giản, quen thuộc.
Giúp hình thành kỹ năng nhận biết một số cấu tạo của một quyển sách; Thực hiện
được một số quy tắc của việc đọc qua biện pháp cho trẻ tiếp xúc thường xuyên với các
ấn phẩm, bắt chước hành động đọc của cô, hỏi trẻ về tên sách và vị trí của nó; hỏi xem
trang trẻ đang đọc là trang mấy, quyển truyện tranh ngắn nào đó có mấy trang…;
Hướng dẫn trẻ cách đọc bằng cách chỉ từng từ khi đọc, đọc từ trái sang phải, từ trên
xuống dưới…
Hình thành kỹ năng tiền học viết: (ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách) qua
cho trẻ thực hành viết theo ý thích, thường xuyên sử dụng bút viết, vẽ, bắt chước
người ngồi viết, hướng dẫn trẻ cách ngồi, cách cầm viết một cách khoa học…
Hình thành kỹ năng học tập: (Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình. Kỹ
năng thực hiện các quy định trên giờ học): bằng cách thường xuyên giao nhiệm vụ cho
trẻ, yêu cầu trẻ nhận xét sản phẩm của bạn và tự nhận xét bản thân, khi trẻ thực hiện
các yêu cầu được giao là các bài tập hay các trò chơi thì cô tổ chức cho trẻ nhận xét
việc hoàn thành các yêu câu đó (nhận xét từ nhóm, bạn và cá nhân trẻ)… ban đầu là
nhận xét bằng lời nói, sau đó sẽ nhận xét bằng vật thật theo màu ở hai mức độ đúng
hoặc sai (chẳng hạn đúng thì dán hoa màu đỏ, sai dán màu vàng…) dần tăng lên 3, 4
mức độ tùy theo khả năng của trẻ
Trong quá trình thực hiện các biện pháp trên, giáo viên quan sát, nhận định tình
hình và khả năng của trẻ, tách riêng và hướng dẫn thêm cho trẻ yếu vào các giờ hoạt
động khác (quan tâm đến từng trẻ để giúp cân bằng mức độ kỹ năng giữa các trẻ được
đồng đều). Chia nhóm nhỏ hoặc cá nhân để giúp trẻ luyện tập thường xuyên các kỹ
năng một cách thuần thục. Khuyến khích trẻ tạo môi trường học tập và làm các đồ
dùng đồ chơi học tập cùng với cô, giúp trẻ hứng thú và tích cực hoạt động với các vật
liệu viết và vật liệu tạo thành chữ viết.
3.2.3. Khai thác hoạt động chung (hoạt động học tập) của trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi tại trường mầm non nhằm hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mẫu giáo Cây Trường
77
Nghiên cứu cách thức tổ chức hoạt động học tập của trẻ dưới dạng giờ học
Đặc trưng hoạt động học tập của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi vẫn là "học mà chơi".
Chính vì vậy khi khai thác hoạt động học tập của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi với mục tiêu
hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ, đề tài xây dựng các giờ học ở lớp
mẫu giáo 5 – 6 tuổi dưới dạng "vừa học vừa chơi" nhằm hấp dẫn, lôi cuốn trẻ tham gia
hoạt động, có hứng thú nhận thức, thỏa mãn tính tò mò, ham học hỏi của trẻ.
Hoạt động học tập hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 –
6 tuổi được tổ chức dưới dạng các giờ học giống như các giờ học khác ở trường mầm
non. Mỗi giờ học 10 – 35 phút với cấu trúc ba phần như sau: Phần mở đầu (Bao gồm
những việc tổ chức tập thể trẻ: Thu hút sự chú ý của trẻ lên hoạt động sắp diễn ra, kích
thích hứng thú của trẻ vào đối tượng hoạt động, tạo tâm trạng xúc cảm tích cực, hướng
dẫn rõ ràng và chính xác cho trẻ về hoạt động sắp diễn ra); Phần trọng tâm – tiến trình
giờ học (Hoạt động trí não và hoạt động thực hành độc lập của trẻ, thực hiện các
nhiệm vụ đề ra; Trong phần trọng tâm của giờ học việc cá thể hóa quá trình dạy học
phải diễn ra (Trợ giúp tối thiểu, cung cấp lời khuyên, nhắc nhở, câu hỏi gợi ý, làm
mẫu, giải thích thêm); Giáo viên cần xây dựng điều kiện để mỗi trẻ đều đạt được kết
quả mong đợi theo cách riêng của nó); Phần kết thúc giờ học (Tổng hợp và đánh giá
kết quả hoạt động của trẻ; Ở lớp mẫu giáo bé chỉ nên đánh giá sự chăm chỉ, chú ý và
nổ lực hoạt động của trẻ nhằm tạo xúc cảm tích cực cho trẻ sau mỗi giờ học; Ở lớp
mẫu giáo nhỡ nên có sự đánh giá mang tính phân hóa đối với từng cá nhân trẻ; Ở mẫu
giáo lớn nên kích thích trẻ tự đánh giá). Đề tài còn dựa trên cấu trúc riêng của một giờ
học tích hợp để hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ. Cấu trúc giờ học tích
hợp bao gồm các bước sau: Phần ổn định tổ chức (Nêu tình huống có vấn đề nhằm
kích thích tính tích cực của trẻ trong tìm kiếm các phương án giải quyết vấn đề); Phần
trọng tâm (Cung cấp những kiến thức mới nhằm giải quyết vấn đề trên cơ sở nội dung
của lĩnh vực "làm quen chữ cái – hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết" dựa vào
phương tiện trực quan; Chú trọng làm giàu vốn từ, tích cực hóa vốn từ và phát triển
ngôn ngữ mạch lạc); Phần kết thúc (Gợi ý thực hiện bất kỳ một hoạt động thực hành
nào nhằm củng cố kiến thức, kỹ năng mới nhận được và kích hoạt toàn bộ kinh
nghiệm). (Trương Thị Xuân Huệ 2014 – Lý luận dạy học hiện đại dạy học tích cực,
78
NXB Lao Động).
Các bước tiến hành thiết kế, khai thác hoạt động học tập theo giờ học để hình
thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
- Bước 1: Xác định chủ đề/ đề tài hiện tại của trường, lớp: Từ chủ để của lớp
hoặc đề tài chung của trường tại thời điểm thực nghiệm, đưa ra đề tài, đặt tên đề tài.
(Thời điểm thực nghiệm của đề tài trường đang thực hiện chủ đề "Thế giới động vật").
- Bước 2: Xác định nhiệm vụ hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết của hoạt
động học tập: Hình thành kỹ năng nghe, đọc, viết, hay kỹ năng học tập của trẻ. Hay
các kỹ năng sẽ được phối hợp trong hoạt động.
- Bước 3: Xác định lĩnh vực tích hợp: Môi trường xung quanh, nhạc, thơ,
truyện, câu đố, toán…
- Bước 4: Xác định các dạng hoạt động của trẻ: Nhận thức, vui chơi, đọc thơ, kể
chuyện, …
- Bước 5: Xác định nhiệm vụ: củng cố kiến thức, luyện kỹ năng: phân tích âm
thanh/ từ/ tiếng/ câu, tổng hợp từ, ghép chữ cái, nhận biết âm và chữ ghi âm, phát hiện
âm và vị trí âm có trong từ/ tiếng, phát hiện từ có chứa âm, cách ngồi học, cách cầm
viết, …
- Bước 6: Xác định các phương tiện trực quan hỗ trợ: Tranh, thẻ chữ, bảng,
giấy, bút, máy vi tính, máy nghe nhạc, hay sách truyện…
Cách tiến hành hoạt động học tập theo giờ học hình thành kỹ năng tiền học
đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
- Tùy theo hình thức muốn tổ chức giờ học hình thành kỹ năng mà chia trẻ theo
đội/ nhóm/ cả lớp.
- Phần mở đầu/ Ổn định tổ chức: Giới thiệu đề tài, hoặc nêu tình huống có vấn
đề. Nêu nhiệm vụ và yêu cầu trẻ cần đạt được hoặc sẽ đạt được sau giờ học.
- Phần trọng tâm: Cung cấp kiến thức; trẻ tiếp nhận nhiệm vụ học tập, ôn kiến
thức kỹ năng cũ, hình thành kỹ năng mới dưới sự hỗ trợ của phương tiện trực quan.
- Phần kết thúc giờ học: Trẻ giải quyết nhiệm vụ học tập theo nhóm/ cá nhân/ cả
lớp bằng cách cho trẻ thi đua trong trò chơi học tập; thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ
được giao; thực hành các kỹ năng đã học;…
79
3.2.4. Khai thác hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường
mầm non như biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu
giáo 5 – 6 tuổi tại trường mẫu giáo Cây Trường
3.2.4.1. Nghiên cứu cách thức tổ chức hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo tại
trường nhằm hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Hoạt động vui chơi của trẻ tại trường mầm non được tổ chức theo các góc chơi
và mỗi góc chơi có các loại trò chơi đặc trưng của nó như: Góc nghệ thuật (chơi tạo
hình: vẽ, nặn, cắt, xé, dán), góc âm nhạc (biểu diễn âm nhạc), góc học tập (trò chơi học
tập - các trò chơi chứa đựng nhiệm vụ học tập, giúp trẻ giải quyết nhiệm vụ học tập
một cách nhẹ nhàng, thoải mái, giúp trẻ dễ vượt qua khó khăn trở ngại trong hoạt động
học tập như trò chơi làm quen với chữ cái (làm quen đọc, viết), trò chơi làm quen với
toán…, góc thư viện (chơi với sách và các ấn phẩm nhằm nắm chức năng ngôn ngữ
viết, cấu tạo của quyển sách, cách đọc sách), góc phân vai (trò chơi đóng vai theo chủ
đề: nhằm phát triển ngôn ngữ giao tiếp, hành vi xã hội, mối quan hệ trong xã hội), góc
xây dựng (trò chơi xây dựng phát huy tính sáng tạo của trẻ). Trong các góc chơi được
lồng ghép tạo môi trường chữ viết và giáo viên hướng dẫn, khơi gợi và lôi cuốn trẻ chú
ý vào các biểu tượng chữ khi tham gia chơi, đọc các chữ, từ có trong góc chơi, chủ
động, tích cực tạo ra các từ, chữ mới theo cách của trẻ…).
Trong các góc chơi ở trường với đặc trưng riêng và tác dụng của từng loại trò
chơi, góc chơi mang lại thì góc học tập, góc thư viện với các loại trò chơi mà nó mang
lại là các góc có tác dụng trực tiếp và có khả năng giải quyết nhiệm vụ hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi một cách tốt nhất. Ngoài ra, các
góc còn lại cũng có tác dụng khá tích cực trong hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết tùy theo mục
đích sử dụng và chủ đề đang thực hiện của mình, giáo viên đưa vào sử dụng góc nào
làm phương tiện chính.
Đề tài tập trung khai thác các trò chơi trong góc học tập với trò chơi học tập và
góc thư viện với các trò chơi với sách, báo, tạp chí, truyện tranh, giấy của hoạt động
vui chơi nhằm hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ.
80
3.2.4.2 Các bước tiến hành thiết kế, khai thác hoạt động vui chơi của trẻ mẫu
giáo và đưa vào sử dụng với mục đích hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
• Khai thác, thiết kế các hoạt động góc học tập hình thành kỹ năng tiền học đọc
học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi: Trò chơi học tập.
Yêu cầu khi khai thác, thiết kế hoạt động góc học tập với trò chơi học tập trong
hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
- Nhiệm vụ chơi vừa sức, đáp ứng mục tiêu và nội dung hình thành kỹ năng tiền
học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
- Hình thức chơi đa dạng, phong phú, giúp trẻ thay đổi hoạt động và phối hợp
thao tác trí tuệ nhằm tránh nhàm chán.
- Luật chơi đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện.
- Vật liệu chơi đơn giản, dễ tìm, dễ làm, dễ sử dụng.
- Thời gian chơi được tổ chức hợp lý; không gian thoải mái, yên tĩnh giúp trẻ
tập trung, hứng thú vào nội dung chơi và giải quyết nhiệm vụ chơi hiệu quả.
Các bước tiến hành khai thác, thiết kế hoạt động góc học tập với trò chơi học
tập trong hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
Bước 1: Xác định nhiệm vụ học tập (nội dung chơi) của trò chơi: trò chơi nhằm
hình thành nội dung nào của hoạt động hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi (hình thành kỹ năng nghe và phân tích âm thanh, liên hệ đúng
đắn giữa âm vị và chữ cái hay kỹ năng đọc, viết…)
Bước 2: Xác định hình thức chơi: hình thức chơi vận động hay trí tuệ, chơi
nhóm, hay cá nhân.
Bước 3: Xác định vật liệu, công cụ chơi: Vật liệu chơi là gì, số lượng bao nhiêu
phụ thuộc vào nhiệm vụ hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết nào cho trẻ.
Bước 4: Xác định hành động chơi: Các thao tác của trẻ khi chơi, có thể là thao
tác trí tuệ như so sánh, phân tích, tổng hợp, ghi nhớ, quan sát, chú ý, ...; Hành động
chơi có thể là các thao tác bằng tay khi chơi như lắp ghép đồ vật, mô hình, xếp tương
ứng…; Hành động chơi có thể là lời nói của trẻ khi chơi như đố, hỏi, trả lời…; Hành
động chơi có thể là sự kết hợp thao tác trí tuệ và thao tác vận động (nhận biết và làm
81
đúng yêu cầu).
Bước 5: Xác định luật chơi: là những quy định bắt buộc người chơi phải tuân thủ
khi chơi. Luật chơi được coi là yếu tố cơ bản của trò chơi học tập, đảm bảo cho nội
dung giáo dục. Nếu không tuân thủ luật chơi coi như không hoàn thành nội dung chơi,
không thực hiện được nội dung giáo dục. Luật chơi là căn cứ đánh giá người chơi đúng
hay sai, được quyền chơi tiếp/ dừng lại hay làm lại.
Bước 6: Đặt tên trò chơi: Tạo sự hấp dẫn, tò mò, kích thích tính hiếu kì của trẻ
khi tham gia trò chơi.
Hướng dẫn sử dụng hoạt động góc học tập với trò chơi học tập trong hình
thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
- Giới thiệu trò chơi: Giáo viên giới thiệu tên trò chơi, cách chơi, luật chơi. Luật
chơi, cách chơi phải được giảng giải một cách ngắn gọn, rõ ràng để trẻ nắm; đối với
trò chơi mới, phải kết hợp đặt câu hỏi để trẻ tư duy và hiểu luật chơi, cách chơi, giáo
viên có thể chơi cùng trẻ để trẻ nắm luật chơi, hành động chơi.
- Hướng dẫn và tổ chức chơi: Giáo viên cho trẻ chơi nhiều lần để hình thành các
kỹ năng tiền học đọc học viết mà trò chơi mang lại cho trẻ, giúp trẻ vận dụng các kỹ
năng tiền học đọc học viết khác vào các tình huống chơi khác. Không ép buộc trẻ chơi,
không áp đặt cách chơi đối với trẻ để không làm mất hứng thú của trẻ với trò chơi, để
trẻ thấy thoải mái khi chơi. Nên phối hợp biện pháp trực quan, thực hành và dùng lời
để hướng dẫn trẻ chơi, giúp trẻ có cơ hội phối hợp vận động tay, mắt; sử dụng ngôn
ngữ, của mình để giải thích, trình bày, mô tả để nhận thức và tái thiết lập các biểu
tượng liên quan đến kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Tổ chức
cho trẻ được tự chơi trò chơi với bạn hoặc cá nhân.
- Kết thúc trò chơi: Trẻ thấy hài lòng, vui vẻ và thoải mái sau khi chơi. Khuyến
khích trẻ tự nhận xét kết quả chơi của mình và của bạn. Đánh giá xem ai là người
thắng cuộc trong trò chơi.
Khai thác, thiết kế các hoạt động tại góc thư viện: Chơi với sách truyện và các
ấn phẩm trong hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Yêu cầu khi khai thác, thiết kế hoạt động góc thư viện trong hình thành kỹ năng
tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi:
82
- Các ấn phẩm đa dạng, phong phú, nội dung và hình thức phù hợp với lứa tuổi:
Truyện tranh chữ to (một số truyện có hình cho trẻ tô màu), một số sách có nội dung
gần gũi hoặc có nhiều chi tiết lặp đi lặp lại để trẻ dễ nhớ, dễ thuộc và kể lại; tập làm
quen chữ cái, giấy A4, bút chì, màu sáp các loại, thẻ chữ cái, tranh, logo, album tự tạo,
…Thường xuyên thay đổi chủ đề và các ấn phẩm để tránh không nhàm chán, đồng
thời tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn, kích thích sự tò mò của trẻ với nội dung ấn phẩm đó.
- Vị trí: Góc thư viện phải yên tĩnh (tránh xa góc như góc xây dựng, góc phân
vai, góc nghệ thuật), được sắp xếp thuận tiện để trẻ vui vẻ, thích thú khi hoạt động, đủ
ánh sáng; cách bố trí gọn gàng, đơn giản, dễ sử dụng và có khu vực riêng cho từng loại
ấn phẩm, dụng cụ đọc/ viết; Có bàn ghế được sắp xếp phù hợp để trẻ ngồi viết, đọc
theo ý thích, cũng có thể có những chiếc gối để trẻ ôm/ dựa khi đọc sách nhằm tạo sự
thoải mái cho trẻ khi tham gia.
Các bước tiến hành khai thác, thiết kế và hướng dẫn hoạt động góc thư viện hình
thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi:
Bước 1: Lựa chọn địa điểm phù hợp, thuận tiện, đủ ánh sáng, tránh nơi ồn ào.
Bước 2: Sắp xếp các thể loại ấn phẩm theo nội dung vào từng khu vực (ngăn, kệ)
riêng, vừa tầm với và hấp dẫn trẻ. Thiết kế hoạt động cho trẻ.
Bước 3: Khuyến khích, khơi gợi trẻ tham gia vào hoạt động ở góc thư viện: Cô
tham gia cùng trẻ, đọc sách cho trẻ nghe và hướng dẫn trẻ đọc sách. Giới thiệu các
quyển sách mới nhằm khơi gợi sự tò mò ở trẻ; khuyến khích trẻ tự khám phá, tìm hiểu
những sách, truyện đó.
Bước 4: Cho trẻ hoạt động với góc thư viện. Khuyến khích trẻ tự đọc sách và đọc
cho các bạn nghe. Khuyến khích trẻ tham gia tạo chữ cái, làm album, sử dụng vật liệu
tạo chữ viết như giấy, bút chì, sáp màu; Giáo dục trẻ bảo vệ sách; Quan sát trẻ, sửa tư
thế ngồi, cách cầm bút cho trẻ; Dạy trẻ quy tắc đọc, cách đọc, …
Bước 5: Nhận xét hoạt động của trẻ. Cho trẻ nhận xét lẫn nhau, khuyến khích trẻ
kể lại một câu chuyện nào đó mình vừa đọc hoặc được nghe bạn/ cô đọc.
83
3.3 Một số kế hoạch giờ học và các trò chơi trong hoạt động vui chơi hình
thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường
mẫu giáo Cây Trường
(Xem phụ lục 1 và 2)
3.4 Thực nghiệm một số biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc – học
viết cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động tại trường mẫu giáo Cây
Trường, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương
3.4.1. Mục đích thực nghiệm
- Đánh giá tính khả thi của các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết đã được đề xuất.
- Đánh giá hiệu quả thực tế của việc sử dụng các biện pháp hình thành kỹ năng
tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
3.4.2. Đối tượng thực nghiệm
60 trẻ lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mẫu giáo Cây Trường, trong đó có: 30
trẻ ở lớp thực nghiệm (lá 1), 30 trẻ ở lớp đối chứng (lá 2).
3.4.3. Thời gian thực nghiệm
Chương trình thực nghiệm được tiến hành từ tháng 3 năm 2014 đến hết tháng 5
năm 2014.
3.4.4. Nội dung thực nghiệm
- Thực nghiệm các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động học tập (giờ học) và hoạt động vui chơi thông
qua tổ chức giờ học theo 2 kế hoạch giờ học chữ cái "v, r" và 21 trò chơi học tập ở
phần phụ lục (phụ lục 1 và 2).
3.4.5. Tiến hành thực nghiệm
Các bước tiến hành
Bước 1: Chọn địa điểm thực nghiệm và đối chứng
- Trường mẫu giáo Cây Trường – Bến Cát – Bình Dương.
Bước 2: Chọn mẫu thực nghiệm và đối chứng
- Lớp thực nghiệm: 30 trẻ lớp Lớp lá 1 trường mẫu giáo Cây Trường – Bến Cát
84
– Bình Dương.
- Lớp đối chứng: 30 trẻ lớp Lá 2 trường mẫu giáo Cây Trường – Bến Cát – Bình
Dương.
- Để đảm bảo tính khách quan của kết quả thực nghiệm, tôi chọn lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng có sự tương đương về trình độ phát triển của trẻ, về trình độ
giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất, cụ thể:
o Trẻ của hai lớp có sự phát triển hài hòa, khỏe mạnh, cân đối, sử dụng ngôn ngữ giao tiếp tốt, tự tin, dễ hòa nhập. Theo sự nhận xét của giáo viên và theo hồ sơ
theo dõi sự phát triển của trẻ thì trẻ của hai lớp đều phát triển bình thường về tâm sinh
lý, độ tuổi tương đương nhau…
o Giáo viên của cả hai lớp đều tốt nghiệp Trung cấp sư phạm Mầm non, có thâm
niên công tác và kinh nghiệm dạy lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi đều trên 5 năm.
o Mỗi lớp đều có hai giáo viên. o Cơ sở vật chất đồ dùng, đồ chơi tương đối đầy đủ theo quy định của Bộ Giáo
dục và Đào tạo.
Bước 3: Đo đầu vào của 2 lớp thực nghiệm và đối chứng
Để làm cơ sở định tính về sự khả thi của việc sử dụng các biện pháp thực nghiệm
đã được đề xuất trong hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi, chúng tôi đã tiến hành đo nghiệm kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ cả lớp đối
chứng và lớp thực nghiệm:
o Người thực hiện đo nghiệm là giáo viên của 2 lớp đối chứng và thực nghiệm
cùng với hiệu phó chuyên môn của trường.
o Việc đo nghiệm được tiến hành với từng trẻ, sử dụng 6 bài tập đo nghiệm đã được xây dựng với các tiêu chí và chỉ số đánh giá kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Cụ thể như sau:
o Các tiêu chí đánh giá thực trạng kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ 5 - 6 tuổi Các tiêu chí đánh giá thực trạng kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5
– 6 tuổi được xây dựng dựa trên các căn cứ sau đây:
- Cơ sở lý luận của việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu
giáo 5 – 6 tuổi (Đã được trình bày ở chương I).
85
- Đặc điểm phát triển kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
(Đã được trình bày ở chương I).
- Mục tiêu chương trình giáo dục mầm non về lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo:
o Có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp hằng ngày. o Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (lời nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…) o Diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hóa trong cuộc sống hằng ngày. o Có khả năng nghe và kể lại sự việc, kể lại truyện. o Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhịp điệu của bài thơ, ca dao, đồng dao, phù
hợp với độ tuổi.
o Có một số kỹ năng ban đầu về việc đọc và viết [8]. Căn cứ vào nội dung, yêu cầu của chương trình Tiếng Việt 1 trong chương trình giáo
dục tiểu học hiện nay có liên quan tới kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi.
o Chương trình tiếng Việt 1, tập trung vào các kỹ năng và kiến thức, trong đó kỹ năng bao gồm: Kỹ năng nghe, nói, đọc, viết; được chú trọng nhiều nhất là kỹ năng
đọc, viết của học sinh. Về mặt kiến thức có: Kiến thức về ngữ âm và chữ viết, từ vựng,
ngữ pháp trong đó chỉ trình bày các kiến thức học sinh cần làm quen và nhận biết
chúng thông qua các bài thực hành kỹ năng.
Cụ thể về mức độ yêu cầu cần đạt của các kỹ năng được yêu cầu trong chương
trình Tiếng Việt 1 là:
- Kỹ năng nghe: Nghe trong hội thoại (Nhận biết sự khác nhau của các âm, các
thanh và các kết hợp của chúng; nhận biết sự thay đổi về độ cao, ngắt, nghỉ hơi; Nghe
hiểu câu kể, câu hỏi đơn giản; Nghe hiểu lời hướng dẫn hoặc yêu cầu). Nghe hiểu văn
bản (Nghe hiểu một câu chuyện ngắn có nội dung thích hợp với học sinh lớp một)
- Kỹ năng nói: Nói trong hội thoại (Nói đủ to, rõ ràng, thành câu; Biết đặt và
trả lời câu hỏi lựa chọn về đối tượng; Biết chào hỏi, chia tay trong gia đình, trường
học). Nói thành bài (Kể lại một câu chuyện đơn giản đã được nghe)
- Kỹ năng đọc: Đọc thành tiếng (Biết cầm sách đọc đúng tư thế; Đọc đúng và trơn
tiếng: đọc liền từ, đọc cụm từ và câu, tập ngắt, nghỉ (hơi) đúng chỗ). Đọc hiểu (hiểu đúng
các từ thông thường, hiểu ý được diễn đạt trong câu đã đọc (độ dài câu khoảng 10 tiếng).
Học thuộc lòng một số bài văn vần (thơ, ca dao...) trong sách giáo khoa.
86
- Kỹ năng viết: Viết chữ (Tập viết đúng tư thế, hợp vệ sinh; viết các chữ cái cỡ
vừa và nhỏ, tập ghi dấu thanh đúng vị trí; làm quen với chữ hoa cỡ lớn và cỡ vừa theo
mẫu chữ quy định; tập viết các số đã học). Viết chính tả (Hình thức chính tả: tập chép,
bước đầu tập nghe đọc để viết chính tả; Luyện viết các vần khó, các chữ mở đầu bằng:
g/gh, ng/ngh, c/k/q...; Tập ghi các dấu câu (dấu chấm, chấm hỏi); Tập trình bày một
bài chính tả ngắn) [10].
Đề tài đi sâu xác định nội dung và xây dựng các tiêu chí đánh giá kỹ năng tiền
học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nhằm đánh giá kỹ năng tiền học đọc học
viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi của một số trường mầm non huyện Bến Cát, tỉnh Bình
Dương.
o Nội dung hình thành các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5
– 6 tuổi:
- Kỹ năng nghe: Nghe và phân biệt đúng các tiếng (đơn giản) thanh và âm vị.
- Kỹ năng đọc: Đọc to, rõ, các tiếng có thanh, các âm vị. Bước đầu làm quen
với việc đọc bập bẹ, đọc một tiếng (đơn giản).
- Kỹ năng viết: Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng cách, biết tô màu và tạo các con chữ.
- Kỹ năng học tập: Tuân thủ các quy định trong giờ học, biết giơ tay khi muốn
phát biểu, biết tự kiểm tra đánh giá.
o Xây dựng một số tiêu chí đánh giá kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ: 1) Kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ.
2) Kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ.
3) Kỹ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản.
4) Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái.
5) Trẻ ghép được một số tiếng đơn giản (2 âm vị) và đọc được nó.
6) "Đọc" được một số từ, câu đơn giản, quen thuộc.
7) Nhận biết một số cấu tạo của một quyển sách.
8) Thực hiện được một số quy tắc của việc đọc.
9) Ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách.
10) Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình.
11) Kỹ năng thực hiện các quy định trên giờ học.
87
Bảng 3.1. Bảng tiêu chí đã được hoàn thiện với các chỉ số như sau
Kỹ năng nghe
Chỉ số
Tiêu chí 1) Kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ.
2) Kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ.
3) Kỹ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản.
4) Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái.
- Nói được tên đối tượng vừa được gọi bằng từ gì. - Lặp lại từ vừa được nghe. - Lặp lại từ chỉ tên đối tượng mà mình vừa nói. - Trả lời được câu hỏi về từ chỉ tên đối tượng vừa gọi. - Kể được chuyện. - Nêu được nội dung từng phần của câu chuyện. - Nói được câu chuyện có bao nhiêu câu? - Nói được ý nghĩa của một câu đơn giản. - Nêu được số tiếng có trong một câu đơn giản. - Chỉ hoặc khoanh tròn đối tượng mà trong tên gọi có âm được yêu cầu. - Xác định tiếng nào trong một từ (đơn giản) có âm được hỏi. - Nghe đọc một tiếng có 2 âm đơn giản, nói được âm đầu, âm cuối trong tiếng đó. - Tách được âm trong từ đơn giản. - Chỉ hoặc đọc đúng chữ ghi âm bất kì được yêu cầu. (29 chữ ghi âm/ chữ cái tiếng Việt)
Kỹ năng đọc 5) Trẻ ghép được một số chữ đơn giản (2 chữ cái) và đọc được nó.
6) "Đọc" được một số từ, câu đơn giản, quen thuộc. 7) Nhận biết một số cấu tạo của một quyển sách.
8) Thực hiện được một số quy tắc của việc đọc.
- Dùng thẻ chữ cái ghép thành tên của mình. - Ghép được một phụ âm cho sẵn với các nguyên âm khác đúng vị trí âm đầu âm cuối. - Đọc được từ vừa ghép. - Đọc một số từ trong môi trường lớp. - Đọc từ đơn giản được yêu cầu. - Nhận ra bìa của sách. - Nhận ra trang, số chỉ trang sách. - Nhận ra vị trí tên sách. - Cầm sách đúng chiều khi đọc. - Lật từng trang sách khi đọc. - Đọc từng từ (chỉ vào từng từ khi đọc), đọc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới.
- Ngồi đúng tư thế - Cầm viết đúng cách
Kỹ năng viết 9) Ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách. Kỹ năng học tập 10) Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình.
11) Kỹ năng thực hiện các quy định trên giờ học.
- Tự kiểm tra từng phần riêng lẻ bằng kí hiệu được quy định. - Tự kiểm tra cả bài làm bằng kí hiệu được quy định. - Ngồi học ngay ngắn. - Giơ tay, xin phép khi muốn phát biểu ý kiến. - Thực hiện đúng yêu cầu của giáo viên.
88
• Xây dựng bài tập đo nghiệm đánh giá khả năng tiền học đọc học viết của trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi
BÀI TẬP ĐO NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG TIỀN HỌC ĐỌC HỌC
VIẾT CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
Mỗi bài tập có các yêu cầu, đạt được mỗi yêu cầu trẻ được 1 điểm.
Bài tập 1: Liên hệ giữa từ chỉ tên gọi với đối tượng thật
Chuẩn bị: Tranh vẽ (hoặc đồ dùng, đồ chơi).
Tiến hành: Cô hỏi trẻ về tên của hình vẽ (hoặc đồ dùng, đồ chơi) đó có tên gọi là
gì?; Đồ chơi này được gọi bằng từ gì?
Yêu cầu trẻ nhắm mắt, cô gọi tên đối tượng, ví dụ "Cái ca", trẻ mở mắt và chỉ đối
tượng cô vừa gọi tên. Cô nói "Con đã nghe từ "Cái ca" và chỉ đồ chơi có tên gọi đó.
Cô nhắm mắt cho trẻ gọi tên đồ chơi. Cô nói: "Con đã gọi tên đồ chơi nào? Đã
nói từ gì?"
Đánh giá:
1. Nói được tên đối tượng vừa được gọi bằng từ gì. = 1 điểm
2. Lặp lại từ vừa được nghe. = 1 điểm
3. Lặp lại từ chỉ tên đối tượng mà mình vừa nói. = 1 điểm
4. Trả lời được câu hỏi về từ chỉ tên đối tượng vừa gọi. = 1 điểm
Bài tập 2: Kể chuyện theo tranh
Chuẩn bị: Tranh truyện
Tiến hành: Yêu cầu trẻ kể câu chuyện theo tranh. (Nếu trẻ không kể được thì cô
sẽ kể).
Hỏi trẻ:
- Phần đầu, giữa hoặc cuối nói về nội dung gì?
- Câu chuyện có bao nhiêu câu?
- Câu "…" nói lên điều gì?
- Câu "…" có bao nhiêu tiếng?
Đánh giá:
= 1 điểm 5. Kể được chuyện.
= 1 điểm 6. Nêu được nội dung từng phần của câu chuyện.
89
= 1 điểm 7. Nói được câu chuyện có bao nhiêu câu?
= 1 điểm 8. Nói được ý nghĩa của một câu đơn giản.
= 1 điểm 9. Nêu được số tiếng có trong một câu đơn giản.
Bài tập 3: Tìm đối tượng mà tên gọi có chữ cái đang học, đánh giá bài tập cá
nhân
Chuẩn bị: Đồ chơi, bài tập trên giấy (In một số hình vẽ và chữ cái trọng tâm mà
giáo viên muốn tùy theo điều kiện lớp học thời gian, chủ đề đang học).
Tiến hành: Yêu cầu trẻ khoanh hoặc chỉ đối tượng mà trong từ chỉ tên gọi của nó
có âm được yêu cầu.
Tự đánh giá theo hướng dẫn bằng lời của cô hoặc theo đáp án mẫu bằng cách:
Đánh giá một hình: (Đúng tô màu xanh, sai tô màu đỏ vào ô vuông bên dưới.)
Đánh giá cả bài: (Đúng hết tô màu xanh, đúng nhiều tô màu vàng, đúng ít tô màu
đỏ, đúng và sai bằng nhau tô màu nâu vào mặt trời ở góc phải tờ giấy).
Trẻ đọc tiếng trong từ chỉ tên đối tượng mà trẻ khẳng định có âm được yêu cầu.
Hỏi trẻ xem âm đó đứng ở vị trí nào trong từ? (Đứng trước hay đứng sau). Yêu
cầu trẻ xác định âm đứng trước, đứng sau trong từ trẻ vừa đọc.
Yêu cầu trẻ chỉ chữ cái ghi âm của các âm trong từ vừa tách.
Đánh giá:
= 1 điểm 10. Chỉ hoặc khoanh tròn đối tượng mà trong tên gọi có
âm được yêu cầu.
= 1 điểm 11. Xác định tiếng nào trong một từ (đơn giản) có âm
= 1 điểm được hỏi.
12. Nghe đọc một tiếng có 2 âm đơn giản, nói được âm
đầu, âm cuối trong tiếng đó.
= 1 điểm 13. Tách được âm trong từ đơn giản.
= 1 điểm 14. Chỉ hoặc đọc đúng chữ ghi âm bất kì được yêu cầu.
(29 chữ ghi âm/ chữ cái tiếng Việt).
= 1 điểm 15. Tự kiểm tra và đánh giá đúng từng phần riêng lẻ bằng
kí hiệu được quy định.
= 1 điểm 16. Tự kiểm tra và đánh giá đúng cả bài làm bằng kí hiệu
90
được quy định.
Bài tập 4: Ghép các từ đơn giản
Chuẩn bị: Thẻ chữ cái rời.
Tiến hành: Cho trẻ một bộ thẻ chữ cái.
Yêu cầu trẻ chọn thẻ chữ và ghép được tên của mình.
Yêu cầu trẻ đọc một vài từ, tiếng trong môi trường lớp.
Yêu cầu trẻ lựa một phụ âm trong số các phụ âm cô nêu ra hoặc cô chỉ định cho
trẻ 1 thẻ chữ cái đã được làm quen.
Cô cho trẻ thẻ các nguyên âm khác; yêu cầu trẻ ghép phụ âm đó với các nguyên
âm khác và đọc được tiếng vừa ghép.
Cô ghép một tiếng đơn giản, yêu cầu trẻ đọc tiếng đó.
Đánh giá:
= 1 điểm 17. Dùng thẻ chữ cái ghép thành tên của mình.
= 1 điểm 18. Ghép được một phụ âm cho sẵn với các
nguyên âm khác đúng vị trí âm đầu âm cuối.
= 1 điểm 19. Đọc được từ vừa ghép.
= 1 điểm 20. Đọc một số từ trong môi trường lớp.
= 1 điểm 21. Đọc từ đơn giản được yêu cầu.
Bài tập 5: Cách đọc và sử dụng sách
Chuẩn bị: Một số sách truyện trẻ yêu thích.
Tiến hành: Cô cho trẻ lựa chọn một quyển sách mà trẻ thích rồi yêu cầu trẻ "đọc"
cho cô nghe.
Cô quan sát kỹ năng của trẻ:
- Cầm sách đúng chiều khi đọc (không cầm ngược); Lật từng trang sách khi "đọc".
"Đọc" từng từ (chỉ vào từng từ khi "đọc"), "đọc" từ trái sang phải, từ trên xuống dưới.
Cô hỏi trẻ:
- Đâu là bìa sách?
- Quyển sách có tên là gì? Tên sách ở đâu?
- Đâu là trang "5…", sao con biết?
Đánh giá:
91
= 1 điểm
= 1 điểm
= 1 điểm
= 1 điểm
= 1 điểm 22. Nhận ra bìa của sách. 23. Nhận ra trang, số chỉ trang sách. 24. Nhận ra vị trí tên sách. 25. Cầm sách đúng chiều khi đọc. 26. Lật từng trang sách khi đọc. 27. Đọc từng từ (chỉ vào từng từ khi đọc), từ trái
= 1 điểm sang phải, từ trên xuống dưới.
Bài tập 6: Cách viết
Chuẩn bị: Giấy trắng, bút chì đen.
Tiến hành: Phát cho mỗi trẻ một tờ giấy trắng và cây viết chì như đã chuẩn bị.
Yêu cầu trẻ "viết" lại các từ chỉ tên mình hoặc sao chép các từ trẻ thích trong môi
trường lớp học, sách, báo... Không chỉ trẻ cách viết.
Quan sát trẻ: Quan sát cách ngồi viết. Cách cầm viết của trẻ.
Đánh giá:
Tư thế ngồi viết: Ngồi thẳng lưng, một tay cầm viết, một tay giữ giấy, đầu hơi
cúi, chân thoải mái vuông góc với sàn nhà.
Cầm viết đúng cách: Tay phải cầm chắc bút bằng 3 ngón tay (cái, trỏ, giữa); Lúc
viết, điều khiển cây bút bằng các cơ cổ tay và các ngón tay; Mép bàn tay là điểm tựa
của cánh tay phải khi đặt bút xuống bàn viết; Cầm bút xuôi theo chiều ngồi (Góc độ bút đặt so với mặt giấy khoảng 45o. Tuyệt đối không cầm bút dựng đứng 90o).
= 1 điểm 28. Ngồi đúng tư thế
= 1 điểm 29. Cầm viết đúng cách
Các kỹ năng học tập được theo dõi trong quá trình trẻ thực hiện bài tập đo
nghiệm: Nếu trẻ đạt được mỗi chỉ số sẽ được 1 điểm
= 1 điểm 30. Ngồi học ngay ngắn.
= 1 điểm 31. Giơ tay, xin phép khi muốn phát biểu ý kiến.
= 1 điểm 32. Thực hiện đúng yêu cầu của giáo viên.
Các chỉ số được đánh giá qua các bài tập trên và được sắp xếp như sau.
92
Bảng 3.2. Sắp xếp các bài tập đo nghiệm theo tiêu chí nghiên cứu
Tiêu chí Bài tập đo STT Kỹ năng nghe Bài tập 1: 1, 2, 3, 4. 1
Bài tập 2: 5, 6, 7, 8, 9 2
Bài tập 3: 10, 11, 12 3
Bài tập 3: 13, 14
4
Bài tập 4: 17, 18, 19 5
Bài tập 4: 20, 21 6
Bài tập 5: 22, 23, 24 7
Bài tập 5: 25, 26, 27 8
9
Bài tập 2: 15, 16 10
Kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ. Kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ. Kỹ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản. Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái. Kỹ năng đọc Trẻ ghép được một số chữ đơn giản (2 chữ cái) và đọc được nó. "Đọc" được một số từ, câu đơn giản, quen thuộc. Nhận biết một số cấu tạo của một quyển sách. Thực hiện được một số quy tắc của việc đọc. Kỹ năng viết Ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách. Bài tập 6: 28, 29 Kỹ năng học tập Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình. Kỹ năng thực hiện các quy định trên giờ học. 11 Quan sát trong quá trình, mỗi chỉ số (30, 31, 32) đạt = 1 điểm.
Tổng số 32 chỉ số = 32 điểm
Với 11 tiêu chí 32 điểm, đề tài xếp điểm số theo 4 mức độ như sau:
Mức 1: < 16 điểm
Mức 2: 16 – 21 điểm
Mức 3: 22 – 28 điểm
Mức 4: 29 – 32 điểm
Bước 4: Chuẩn bị các điều kiện thực nghiệm
- Trao đổi với ban giám hiệu nhà trường cùng giáo viên lớp thực nghiệm về địa
điểm, mục đích và nội dung, thời gian thực nghiệm sử dụng các biện pháp hình thành
các kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ.
- Phối hợp với giáo viên xây dựng kế hoạch thực nghiệm: Lồng ghép nội dung
93
chương trình thực nghiệm vào chủ đề đang thực hiện tại trường, đảm bảo giờ giấc và
chương trình của lớp. Sắp xếp thứ tự trước sau của các biện pháp thực nghiệm, thời
gian, địa điểm thực nghiệm.
- Phân bổ nội dung thực nghiệm. Chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi và các điều kiện
cần thiết.
- Thực hiện các biện pháp hình thành kỹ năng trên giờ hoạt động chung: hình
thành nghe, đọc, viết; kỹ năng học tập; kỹ năng tự nhận xét, đánh giá kết quả cho trẻ.
- Thực hiện trong giờ hoạt động vui chơi: Ôn tập, rèn luyện các kỹ năng đã
được hình thành trên giờ hoạt động chung thông qua các trò chơi học tập tại góc học
tập và các hoạt động với các ấn phẩm tại góc thư viện.
Bước 5: Tiến hành tổ chức thực nghiệm các biện pháp
Giáo viên tổ chức các thực hiện các biện pháp qua giờ học và hướng dẫn trẻ chơi các
trò chơi hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết đã được đề xuất trong hoạt động chung và
hoạt động vui chơi; Người thực nghiệm quan sát, đưa ra góp ý, hỗ trợ giáo viên trong các
hoạt động để giáo viên điều chỉnh cho phù hợp với mục đích thực nghiệm.
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ
thông qua ôn tập với nhóm các chữ cái đã học và làm quen trẻ với chữ cái mới "v, r"
theo trình tự như sau:
Giai đoạn 1: Giúp trẻ làm quen và phát hiện âm v, r qua âm thanh của chúng
bằng cách đọc kéo dài các tiếng, từ có âm v, r (ví dụ: va li trẻ đọc kéo dài âm vvv…va
lll…li), quá trình này được tổ chức trong các giờ chơi luyện tập trước giờ học chính
thức về âm v, r. Qua đó, trẻ được nghe các từ đơn giản (mỗi tiếng trong từ chỉ có 2 âm
đơn giản) sau đó trẻ sử dụng biện pháp đã được học đọc kéo dài các từ được nghe và
phát hiện trong từ có âm gì, đồng thời học xác định vị trí của âm trong từ được đọc
bằng cách vẽ mô hình tiếng bằng các ô vuông, dùng que chỉ chỉ vào từng ô vuông mô
hình và đọc kéo dài tiếng đó, qua chỉ lần lượt đi từ âm đầu tới âm cuối, khi dứt phần
âm đã đọc thì lập tức chỉ que chỉ qua ô trong mô hình của âm còn lại (ví dụ: với tiếng
"va" trong "và li" thì cô vẽ mô hình gồm 2 ô vuông, khi đọc "vvv…va" thì trong lúc
đang mím miệng đọc "vvv…" cô chỉ ô thứ nhất, tới "va" cô chỉ âm thứ hai. Quá trình
đọc kéo dài âm diễn ra rất nhanh, ngay sau khi nhấn mạnh âm đầu thì đọc qua tiếng
94
trọn vẹn ngay để đảm bảo không phá vỡ cấu trúc của tiếng đó. (như rrr…rổ)). Đối với
âm cuối cũng sử dụng biện pháp tương tự.
Giai đoạn 2: Tổ chức giờ học một cách bài bản, trong giờ học khi trẻ đã được
hình thành các biểu tượng âm thanh về âm v, r trước đó, giáo viên tiến hành giờ học
như kế hoạch đã soạn ở phần phụ lục 1. Trong các giờ học, giáo viên lựa chọn thêm
các trò chơi trong 21 trò chơi đã soạn phù hợp nhằm đạt mục đích đã đề ra.
Giai đoạn 3: Sau các giờ học trẻ và biểu tượng âm thanh, chữ cái đã được hình
thành trong trò chơi làm quen trước giờ học và trên giờ học, giáo viên tổ chức các giờ
chơi cho trẻ luyện tập nhiều với các trò chơi trong các góc chơi (phụ lục 2); trẻ làm
quen và ghi nhớ, hiểu chữ cái mới đồng thời giúp trẻ ôn luyện các chữ cái đã học và
tạo mối liên hệ giữa các chữ cái bằng cách ghép chữ để tạo thành từ mới, phân tích các
từ để hiểu thành phần từ và nhớ sâu sắc các chữ đã học.
Chúng tôi nhận thấy phần lớn trẻ hào hứng tham gia tích cực vào các hoạt động,
phát huy tối đa khả năng hiểu và hoạt động với ngôn ngữ của mình trong các trò chơi
học tập được lồng vào các giờ học. Trẻ không tỏ thái độ mệt mỏi, chán nản với các
hoạt động mà cô tổ chức. Đa số trẻ có hứng thú trọn vẹn đến hết thời gian học, và
hứng thú kéo dài qua các hoạt động sau đó.
Không những trẻ ghi nhớ các chữ cái một các nhanh chóng mà còn nhớ lâu, nhớ
và hiểu hầu hết các chữ cái trong bảng chữ cái cả những chữ mới học và các chữ đã
học từ đầu năm học tới thời điểm hiện tại; trẻ biết cách ghép cũng như đọc tiếng/ từ
được tạo thành từ 2 âm đơn giản; không nhớ một cách thụ động; trẻ nhanh chóng học
được cách ghép từ, phân tích âm thanh của từ, đặt câu dài có nhiều thành phần với một
từ được cho; mặc dù trước đó trẻ chưa từng được làm quen với các dạng bài tập này.
Thích thể hiện hiểu biết ngôn ngữ của mình, bên cạnh đó trẻ luôn thi đua với bạn để
bộc lộ kỹ năng, hiểu biết về chữ viết của mình trong mọi tình huống, mọi lúc mọi nơi.
Biểu hiện cụ thể như sau: trong các trò chơi hay bất kì hoạt động nào, khi được ra một
bài tập trẻ thường có xu hướng suy nghĩ kỹ lưỡng, thể hiện ánh qua ánh mắt và cử chỉ
lẩm nhẩm bằng miệng, chống cằm…; câu trả lời của trẻ thường dứt khoát và có độ
chính xác cao, không đoán mò.
Đối với các trò chơi vẽ mô hình của tiếng và từ, mặc dù còn mới lạ đối với trẻ
95
những trẻ rất tập trung, và chỉ chơi một, hai lần là trẻ đã có thể chỉ đúng vị trí âm và
thứ tự của các âm, rồi sau đó thay vào đó là các chữ cái.
Trẻ ham thích và hướng chú ý của mình vào ngôn ngữ, thể hiện ở chỗ trẻ luôn
muốn phân tích thành phần câu nói, hiểu nghĩa của câu, tò mò và thường đặt câu hỏi
với giáo viên về các chữ các từ.
Qua thăm dò ý kiến phụ huynh lớp thực nghiệm, phần lớn có phản hồi rất tốt về
kỹ năng của trẻ. Phụ huynh có nhận xét rằng trẻ tiến bộ hơn trước rất nhiều, đồng thời
về nhà trẻ cũng rất hay hỏi về các từ các chữ viết, thích đặt câu hỏi chất vấn người lớn,
các câu hỏi ngày một phong phú về nội dung. Đặc biệt trẻ nhớ và gọi đúng tên các chữ
cái một cách tự tin khi được người lớn hỏi.
Tuy nhiên, đó chỉ là những nhận định chủ quan của người lớn; để đánh giá chính
xác hiệu quả của các biện pháp đề ra, chúng tôi sử dụng các bài tập đo nghiệm như đo
đầu vào cả hai lớp đối chứng và thực nghiệm nhằm so sánh kết quả trước và sau thực
nghiệm của lớp thực nghiệm và đối chiếu kết quả kỹ năng đạt được giữa lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng thông qua chấm điểm các kỹ năng tiền học đọc học viết của
trẻ. Cụ thể như sau:
3.4.6. Cách đánh giá kết quả thực nghiệm.
Các tiêu chí đánh giá (được trình bày ở trên).
Cách thu thập số liệu thực nghiệm
- Các tiêu chí, chỉ số đánh giá như 6 bài tập đo nghiệm.
- Các bài tập đo nghiệm được tiến hành với mỗi cá nhân trẻ, tùy đặc trưng của
từng bài mà tổ chức theo nhóm nhỏ hoặc lớn hay sắp xếp vị trí ngồi của trẻ, tránh tình
trạng trẻ nhìn bài, bắt chước bạn, để kết quả đo được khách quan hơn. Kết quả được
ghi lại vào phiếu kỹ năng của cá nhân từng trẻ (mẫu phiếu được in ở phần phụ lục 3).
Bài tập đo cùng một hình thức cho cả đo kỹ năng của trẻ trước thực nghiệm cũng
như sau thực nghiệm. Tuy nhiên để đảm bảo tính khách quan, sự mới mẻ và đòi hỏi trẻ
thực hiện các kỹ năng dựa vào kỹ năng thực sự của bản thân và hiểu biết thành phần
âm thanh ngôn ngữ của trẻ không chỉ dựa vào trí nhớ, nội dung của các bài tập được
thay đổi ở hai lần đo.
Cách xử lý số liệu thực nghiệm
96
- Kết quả đánh giá sau khi tổng hợp được sắp xếp theo từng tiêu chí. Tổng điểm
của 11 tiêu chí là 32 điểm.
- Sử dụng phần mềm thống kê toán học SPSS 20.0 để xử lý số liệu thu thập
+ Tính điểm trung bình, tỷ lệ %.
+ Xem xét tính hiệu quả của biện pháp hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết
cho trẻ đã được đề xuất bằng cách so sánh kết quả của lớp thực nghiệm với lớp đối
chứng với kiểm định Sig 2-tailed.
3.4.7. Kết quả thử nghiệm và phân tích.
Kết quả thực nghiệm được phân tích như sau
Bảng 3.3. Kết quả đo kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trước khi thực nghiệm
Sig
Lớp
Số lượng (N)
Điểm thấp nhất (Min)
Điểm cao nhất (Max)
Điểm trung bình (Mean)
Độ lệch chuẩn (SD)
30
4
21
13.77
3.88
30
3
22
13.27
4.67
Sig=0.65 Khác biệt không có ý nghĩa
Đối chứng Thực nghiệm
20
13,77 13,27 15
10
5
0
Lớp đối chứng Lớp thực nghiệm
Biểu đồ 3.1. So sánh kết quả kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ lớp thực nghiệm
và lớp đối chứng trước khi thực nghiệm.
Kết quả đo kỹ năng tiền học đọc học viết của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm
trước khi thực nghiệm được thể hiện ở bảng 3.3 và biểu đồ 3.1 cho thấy điểm trung
bình của 11 tiêu chí ở lớp đối chứng là 13.77, trong đó điểm thấp nhất là 4 và cao nhất
là 21 còn ở lớp thực nghiệm điểm trung bình là 13.27 với điểm thấp nhất là 3 và điểm
cao nhất là 22. So sánh độ khác biệt của 2 lớp là không có ý nghĩa (Sig=0.65). Như
97
vậy, có thể kết luận rằng trước khi thực nghiệm kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ ở
cả hai nhóm lớp là tương đương.
Bảng 3.4. Kết quả đo kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau khi thực nghiệm.
Lớp
Sig (2 - tailed)
Số lượng (N)
Điểm thấp nhất (Min)
Điểm cao nhất (Max)
Điểm trung bình (Mean)
Độ lệch chuẩn (SD)
30
4
25
15.30
5.05
30
18
32
28.47
3.72
Sig=0 Khác biệt có ý nghĩa (t<0.05)
Đối chứng Thực nghiệm
28,47 30
25
20 15,3 15
10
5
0
Lớp đối chứng Lớp thực nghiệm
Biểu đồ 3.2. So sánh kết quả kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ lớp thực nghiệm
và lớp đối chứng sau khi thực nghiệm
Qua kết quả ở bảng 3.4 và biểu đồ 3.2, cho thấy, kỹ năng tiền học đọc học viết
sau khi thực nghiệm của trẻ ở hai lớp đã có sự khác biệt. Cụ thể là, sau khi thực
nghiệm điểm trung bình 11 tiêu chí của trẻ lớp đối chứng là 15.3, trong đó điểm thấp
nhất là 4, cao nhất là 25, còn ở điểm trung bình lớp thực nghiệm là 28.47, điểm thấp
nhất là 18, cao nhất là 32. So sánh độ khác biệt kết quả của hai lớp là có ý nghĩa
(Sig=0). Như vậy, có thể khẳng định rằng các biện pháp hình thành kỹ năng tiền học
đọc học viết cho trẻ được đề tài đưa vào thực nghiệm thực sự có hiệu quả và đã tác
động tích cực đến việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết ở trẻ.
Để làm rõ hiệu quả tác động của các biện pháp hình thành các kĩ năng tiền học đọc
học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mẫu giáo Cây Trường – Bến Cát – Bình
98
Dương, dưới đây sẽ là những phân tích các kết quả cụ thể theo từng tiêu chí như sau
Bảng 3.5. Kết quả đo kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ
của trẻ ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Trước thực nghiệm
Lớp
Sig (2 - tailed)
Sig (2 – tailed)
Điểm trung bình (Mean)
Độ lệch chuẩn (SD)
Điểm trung bình (Mean)
Sau thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD)
1.56
3.33
1.34
Đối chứng
3.03
1.42
4.00
0.00
Thực nghiệm
3.10
Sig=0.01 Khác biệt có ý nghĩa
Sig=0.86 Khác biệt không có ý nghĩa
4 4 3,33 3,1 3,03 3
Lớp đối chứng 2 Lớp thực nghiệm
1
0
Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.3. So sánh kết quả kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ của trẻ ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Qua số liệu ở bảng 3.5, cho thấy kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập
của ngôn ngữ của trẻ ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trước thực nghiệm không có
sự khác biệt (Sig=0.86), nhưng sau thực nghiệm, điểm trung bình của lớp thực nghiệm
cao hơn hẳn so với điểm trung bình lớp đối chứng (MeanTN=4>MeanĐC=3.33) và sự khác biệt là có ý nghĩa là (Sig=0.01).
Sau thực nghiệm: khi đo nghiệm tiêu chí này, giáo viên yêu cầu trẻ gọi tên và
nghe gọi tên đối tượng bằng một từ rồi trả lời các câu hỏi của người đo. Trẻ được yêu
cầu trả lời xem tên đối tượng được gọi với từ gì để biết trẻ có thể tách từ như là đơn vị
ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ không, trẻ biết từ vừa nghe/nói có bao nhiêu tiếng (Ví
dụ: Trẻ được yêu cầu gọi tên đối tượng là con búp bê với đồ vật cụ thể là con búp bê
và từ "búp bê" là 1 từ có 2 tiếng chứ không phải là 2 từ cũng như 2 tiếng "búp" và "bê"
hoặc ngược lại 1 từ cũng như một tiếng "búp bê", thường trẻ có xu hướng coi số từ và
99
tiếng đều như nhau và trẻ đồng nhất từ là tiếng, có nghĩa là trong trường hợp này trẻ sẽ
theo khuynh hướng thứ nhất, cho rằng từ để gọi con búp bê = 2 từ = 2 tiếng = "búp" và
"bê"). Biện pháp thực nghiệm giải quyết vần đề này giúp trẻ không bị nhầm lẫn giữa từ
và tiếng, đối tượng và từ chỉ đối tượng, hiểu rằng mỗi đối tượng đều có từ để gọi nó…
Ở lớp thực nghiệm trẻ đã hoàn toàn thực hiện được các yêu cầu của bài tập, có khả
năng phân tích câu hỏi và trả lời đúng câu hỏi trong bài tập đo. Đối với trẻ lớp đối
chứng, phần lớn trẻ vẫn mắc phải sai lầm như trên, trẻ vẫn có xu hướng đồng nhất từ
và tiếng, đối tượng và từ để gọi đối tượng.
Biện pháp này giúp trẻ học được mối liên hệ đối tượng – từ chỉ đối tượng; Dần
hướng trẻ chú ý vào lời nói, trẻ hứng thú phân tích lời nói, ngôn ngữ của bản thân và
người khác. Tăng sự chú ý có mục đích vào ngôn ngữ, hiểu rằng mỗi đối tượng (sự vật
hiện tượng) đều được gọi tên bằng một từ cụ thể.
Bảng 3.6. Kết quả đo kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn
ngữ của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Trước thực nghiệm
Lớp
Sig (2 - tailed)
Sig (2 - tailed)
Đối chứng
Điểm trung bình (Mean) 0.87
Độ lệch chuẩn (SD) 0.81
Điểm trung bình (Mean) 1.13
Sau thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD) 0.94
1.03
0.81
4.00
1.20
Sig=0.00 Khác biệt có ý nghĩa
Thực nghiệm
Sig=0.43 Khác biệt không có ý nghĩa
4 4
3
Lớp đối chứng 2 Lớp thực nghiệm 1,13 1,03 0,87 1
0
Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.4. So sánh kết quả đo kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn
ngữ của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
100
Qua số liệu của bảng 3.6 cho thấy, về kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa độc lập
của ngôn ngữ, trước thực nghiệm điểm trung bình của lớp đối chứng 0.87, lớp thực
nghiệm là 1.03 với Sig=0.43 là không có sự khác biệt, tức kỹ năng này ở trẻ của hai nhóm
lớp là tương đương nhau. Sau khi thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm
lớp, đặc biệt kỹ năng này đã tăng vọt ở trẻ lớp thực nghiệm và trẻ đạt được kỹ năng với
mức cao, còn kỹ năng của trẻ lớp đối chứng vẫn ở mức thấp; cụ thể điểm trung bình của
trẻ lớp đối chứng là 1.13, trong khi lớp thực nghiệm là 4, độ khác biệt là có ý nghĩa
(Sig=0). Với kết quả đã đạt được có thể nói ở trẻ 5 – 6 tuổi đã có những điều kiện chín
muồi để hình thành kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ, tuy
nhiên, giáo viên đã chưa chú ý tác động và thúc đẩy, khơi gợi để hình thành cho trẻ. Trong
quá trình đo nghiệm, nhận thấy phần lớn trẻ của cả hai lớp đều không biết tự kể câu
chuyện theo tranh hoàn chỉnh, trẻ cũng chưa có kỹ năng phân tích câu chuyện thành câu,
chưa nói được ý nghĩa từng phần của câu chuyện hay ý nghĩa của một câu đơn giản…, tuy
nhiên sau quá trình thực nghiệm, trẻ lớp thực nghiệm đã có thể nói được ý nghĩa từng
phần câu chuyện khi nghe cô kể chuyện. Một số trẻ có thể kể một câu chuyện hoàn chỉnh
theo tranh; biết phân tích câu chuyện thành từng phần (phần đầu, phần giữa, phần cuối) và
nói được ý nghĩa từng phần đó; đồng thời trẻ có thể đếm được chuyện có bao nhiêu câu,
và một câu cụ thể nào đó có bao nhiêu tiếng.
Kỹ năng này được hình thành, góp phần rất lớn vào việc giúp trẻ hiểu và phân
tích ý nghĩa của ngôn ngữ nói, trẻ hình dung được mối liên hệ chặt chẽ của văn bản –
câu – tiếng cũng như ý nghĩa của câu, của văn bản. Khi trẻ vào lớp một, kỹ năng này
giúp trẻ nhanh nhạy hơn trong việc học tiếng Việt, nhanh chóng dễ dàng làm quen với
môn tập làm văn trong chương trình tiểu học.
Bảng 3.7. Kết quả đo kỹ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản của lớp
thực nghiệm và lớp đối chứng.
Trước thực nghiệm
Lớp
Sig (2 – tailed)
Sig (2 - tailed)
Đối chứng
Điểm trung bình (Mean) 0.00
Độ lệch chuẩn (SD) 0.00
Điểm trung bình (Mean) 0.10
Sau thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD) 0.31
Thực nghiệm
0.03
0.18
2.60
0.77
Sig=0.0 Khác biệt có ý nghĩa
Sig=0.32 Khác biệt không có ý nghĩa
101
3 2.6
2
Lớp đối chứng
Lớp thực nghiệm 1
0,1 0,03 0 0
Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.5. So sánh kết quả đo kỹ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Dựa vào bảng 3.7 và biểu đồ 3.5 cho thấy, kỹ năng phân tích âm thanh của tiếng
tại trường mẫu giáo Cây Trường trước thực nghiệm hầu như chưa được hình thành. Cụ
thể, điểm trung bình của lớp đối chứng là 0 và điểm trung bình của lớp thực nghiệm là
0.03 với Sig=0.32, mức khác biệt là không có ý nghĩa. Sau khi thực nghiệm, kỹ năng
này ở trẻ đã có sự khác biệt rất lớn, đối với trẻ lớp đối chứng điểm trung bình là rất
thấp (MeanĐC=0.1), còn với lớp thực nghiệm điểm trung bình đã tăng lên rất đáng kể
(MeanTN=2.6), sự khác biệt giữa hai lớp là Sig=0 là có ý nghĩa.
Điều này chứng tỏ biện pháp hình thành kỹ năng phân tích âm thanh của một
tiếng là đạt hiệu quả cao. Việc dạy trẻ đọc kéo dài âm vị trong tiếng phù hợp với trẻ và
hiệu quả, để dễ dàng biết được âm nào có mặt và vị trí của nó trong tiếng đơn giản vừa
đọc. Trẻ hứng thú với việc học chữ và giúp trẻ nhớ chữ ghi âm một cách có chủ định.
Bảng 3.8. Kết quả đo kỹ năng liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái của lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng
Lớp
Sig (2 - tailed)
Sig (2 – tailed)
Trước thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD) 0.43
Điểm trung bình (Mean) 0.77
Điểm trung bình (Mean) 0.70
Sau thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD) 0.46
Đối chứng
0.73
0.45
1.90
0.30
Sig=0.00 Khác biệt có ý nghĩa
Sig=0.77 Khác biệt không có ý nghĩa
Thực nghiệm
102
1,9 2
Lớp đối chứng 1 0,77 0,73 0,7 Lớp thực nghiệm
0
Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.6. So sánh kết quả đo kỹ năng liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái của lớp
thực nghiệm và lớp đối chứng
Theo kết quả bảng 3.8 cho thấy, sự khác biệt ban đầu về kỹ năng liên hệ đúng
đắn âm vị và chữ cái của hai lớp trước khi thực nghiệm là không có ý nghĩa (Sig=1.0);
Song sau thực nghiệm, sự khác biệt đã có ý nghĩa (Sig=0). Đặc biệt điểm trung bình
của lớp thực nghiệm đã tăng lên rõ rệt, trẻ phần lớp liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái.
Còn đối với trẻ lớp đối chứng thì kỹ năng này thậm chí không tăng mà dường như còn
giảm xuống, cụ thể điểm trung bình của trẻ lớp đối chứng trước thực nghiệm là 0.77,
sau thực nghiệm là 0.7, qua điều tra, thì phần lớn trẻ học chữ cái một cách bị động,
mục tiêu của giáo viên là cho trẻ học thuộc bảng chữ cái nên khi trẻ học mà không
hiểu, học mà không biết mục đích học chữ cái là gì dẫn đến trẻ dễ chán nản và học
trước quên sau. Chính vì vậy, kỹ năng này của trẻ đầu năm so với cuối năm có xu
hướng giảm xuống. Đối với lớp thực nghiệm, sau khi được sử dụng các biện pháp hình
thành kỹ năng này một cách kỹ lưỡng, giúp việc học của trẻ trở nên có ý nghĩa, trẻ học
chữ cái gắn trong từ có ý nghĩa chứ không như học thuộc lòng vô nghĩa từng chữ cái
riêng biệt, việc học của trẻ trở nên đầy ý nghĩa. Trẻ nhớ chữ ghi âm một cách có chủ
định, có mục đích; chính vì vậy mà sau thực nghiệm kỹ năng liên hệ đúng đắn âm vị
và chữ cái của trẻ tăng rõ rệt và bền vững hơn.
103
Bảng 3.9. Kết quả đo kỹ năng ghép được một số chữ đơn giản (2 chữ viết) và đọc
được nó của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Trước thực nghiệm
Lớp
Sig (2 - tailed)
Sig (2 – tailed)
Điểm trung bình (Mean)
Độ lệch chuẩn (SD)
Điểm trung bình (Mean)
Sau thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD)
Đối chứng
0.33
0.71
0.70
1.06
0.17
0.59
2.47
0.68
Sig=0.00 Khác biệt có ý nghĩa
Thực nghiệm
Sig=0.33 Khác biệt không có ý nghĩa
3
2,47
2
Lớp đối chứng
1 Lớp thực nghiệm 0,7
0,33 0,17
0
Sau thực nghiệm Trước thực nghiệm
Biểu đồ 3.7. So sánh kết quả đo kỹ năng ghép được một số chữ đơn giản (2 chữ cái) và đọc
được nó của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Kết quả bảng 3.9 cho thấy, trước thực nghiệm kỹ năng ghép một số từ đơn giản ở
trẻ hai lớp là tương đương nhau (sự khác biệt Sig=0.33 là không có ý nghĩa), cụ thể
điểm trung bình của lớp đối chứng là 0.33, lớp thực nghiệm là 0.17. Sau thực nghiệm,
đã có sự khác biệt, điểm trung bình kỹ năng này ở trẻ lớp đối chứng là 0.7 còn lớp thực
nghiệm là 2.47, và sự khác biệt Sig=0.0 là có ý nghĩa. Quá trình đo nghiệm chỉ ra rằng,
trước thực nghiệm, phần lớn trẻ còn lúng túng trong việc ghép từ, một số trẻ khi ghép
được tên của mình (có trường hợp tự tìm ra các âm để ghép tên mình, có trường hợp
trẻ ghép từ hoàn chỉnh đúng vị trí các âm cô cho thành tên của mình, có trường hợp trẻ
biết tên của mình dưới dạng chữ in hoa thì chỉ nhận ra và ghép tên của mình từ các chữ
cái in hoa), nhưng chỉ là số ít trẻ đạt được kỹ năng này. Đối với việc đọc được các từ
đã ghép, ngay cả tên mình trẻ cũng hầu như không đọc được, mặc dù trẻ đã ghép thành
từ (Chẳng hạn: trẻ tên Nguyễn Đình Đô, sau khi ghép tên của mình "Đô" và được cô
104
hỏi "Con vừa ghép từ gì?" trẻ trả lời là "Nguyễn Đình Đô"). Sau thực nghiệm, trẻ lớp
thực nghiệm hiểu được việc ghép từ từ các chữ cái riêng lẻ, biết đọc các từ vừa ghép,
đặc biệt khi cho trẻ một phụ âm và các nguyên âm trẻ có thể ghép đúng vị trí âm đầu,
âm cuối và đọc chính xác từ/ tiếng vừa ghép được.
Hình thành kỹ năng này, giúp trẻ hiểu dễ dàng nhận ra đâu là âm đầu, đâu là âm
cuối trong tiếng đơn giản.
Bảng 3.10. Kết quả đo kỹ năng "Đọc" được một số từ, câu đơn giản, quen thuộc
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Lớp
Sig (2 - tailed)
Sig (2 – tailed)
Trước thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD) Điểm trung bình (Mean) Sau thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD) Điểm trung bình (Mean)
0.63 0.81 0.27 0.52 Đối chứng
Sig=0.00 Khác biệt có ý nghĩa Sig=0.17 Khác biệt không có ý nghĩa 0.10 0.40 1.83 0.53
Thực nghiệm
2 1,83
Lớp đối chứng 1
Lớp thực nghiệm 0,63
0,27 0,1
0
Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.8. So sánh kết quả đo kỹ năng "Đọc" được một số từ, câu đơn giản, quen
thuộc của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Dựa trên kết quả bảng 3.10 ta nhận thấy rằng, trước thực nghiệm kỹ năng "đọc"
được một số từ, câu đơn giản quen thuộc của trẻ lớp đối chứng và lớp thực nghiệm có
105
sự khác biệt không ý nghĩa (Sig=0.17), cụ thể điểm trung bình lớp thực nghiệm 0.1,
điểm trung bình lớp đối chứng 0.27; Sau thực nghiệm sự khác biệt là có ý nghĩa
(Sig=0), điểm trung bình của lớp đối chứng là 0.63, trong khi điểm trung bình lớp thực
nghiệm tăng lên tới 1.83. Chứng tỏ rằng, biện pháp đề tài đưa ra có hiệu quả, phù hợp
với độ tuổi trình độ phát triển hiện thời của trẻ.
Bảng 3.11. Kết quả đo kỹ năng nhận biết một số cấu tạo của một quyển sách của
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Lớp
Sig (2 - tailed)
Sig (2 – tailed)
Trước thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD) Điểm trung bình (Mean) Sau thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD) Điểm trung bình (Mean)
2.17 0.83 1.63 0.85 Đối chứng
Sig=0.00 Khác biệt có ý nghĩa Sig=0.58 Khác biệt không có ý nghĩa 1.50 1.01 3.00 0.00
Thực nghiệm
3 3
2,17
2 1,63 Lớp đối chứng 1,5
Lớp thực nghiệm 1
0
Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.9. So sánh kết quả đo kỹ năng nhận biết một số cấu tạo của một quyển
sách của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Đối với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, kỹ năng nhận biết cấu tạo của quyển sách là yêu
cầu khá đơn giản, song quá trình đo nghiệm trước thực nghiệm, trẻ cả hai lớp đều chưa
nhận thức được một số đặc điểm cơ bản về cấu tạo của quyển sách như bìa sách, trang
và số chỉ trang sách, tên sách, cụ thể điểm trung bình của hai lớp chỉ đạt mức thấp
(Thông qua kết quả bảng 3.11, điểm trung bình lớp thực nghiệm là 1.5, lớp đối chứng
106
là 1.63); Sau thực nghiệm, kỹ năng này ở trẻ lớp thực nghiệm tăng rất cao (điểm trung
bình 3), còn lớp đối chứng điểm trung bình chỉ là 2.17. Sự khác biệt giữa hai nhóm lớp
trước thực nghiệm Sig=0.58 là không ý nghĩa, sau thực nghiệm Sig=0 là khác biệt đã
có ý nghĩa.
Bảng 3.12. Kết quả đo kỹ năng thực hiện được một số quy tắc của việc đọc của
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Lớp
Sig (2 – tailed)
Sig (2 - tailed)
Trước thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD)
Điểm trung bình (Mean)
Điểm trung bình (Mean)
Sau thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD)
2.00
0.00
2.00
0.00
Đối chứng
Sig=0.00 Khác biệt có ý nghĩa
2.00
0.37
2.80
0.41
Sig=1.00 Khác biệt không có ý nghĩa
Thực nghiệm
2,8 3
2 2 2 2
Lớp đối chứng
Lớp thực nghiệm 1
0
Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.10. So sánh kết quả đo kỹ thực hiện được một số quy tắc của việc đọc của
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Các biện pháp giúp trẻ có kỹ năng thực hiện một số quy tắc của việc đọc mà đề
tài đưa ra đã có hiệu quả, cụ thể trước thực nghiệm, điểm trung bình của lớp đối chứng
và lớp thực nghiệm đều là 2, sự khác biệt Sig=1 là không có ý nghĩa, nhưng sau thực
nghiệm sự khác biệt là có ý nghĩa (Sig=0) khi điểm trung bình của lớp đối chứng là 2,
còn lớp thực nghiệm là 2.8. Chính việc thường xuyên đọc sách cho trẻ nghe, hướng
dẫn trẻ đọc sách và khuyến khích trẻ đọc sách cho bạn nghe, cùng với kỹ năng tách từ,
câu như một đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ khiến trẻ dễ dàng tiếp nhận việc đọc
khi vào lớp một. Đặc biệt trẻ có thể chỉ từng từ khi đọc, đọc từ trái sang phải, từ trên
107
xuống dưới đúng quy định của việc đọc tiếng Việt.
Bảng 3.13. Kết quả đo kỹ năng ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách của lớp
thực nghiệm và lớp đối chứng
Trước thực nghiệm
Sau thực nghiệm
Điểm trung
Độ lệch
Điểm trung
Độ lệch
Lớp
bình
chuẩn
bình
chuẩn
Sig (2 - tailed)
Sig (2 – tailed)
(Mean)
(SD)
(Mean)
(SD)
Sig=1.00
1.53
0.63
Đối chứng
1.53
0.63
Sig=0.02
Khác biệt
Khác biệt
Thực
không có ý
1.53
0.73
1.87
0.43
có ý nghĩa
nghiệm
nghĩa
1,87 2
1,53 1,53 1,53
Lớp đối chứng 1
Lớp thực nghiệm
0
Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.11. So sánh kết quả đo kỹ năng ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Qua bảng 3.13, cho thấy kỹ năng ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách của
trẻ ở hai lớp trước thực nghiệm là tương đương nhau. Sự khác biệt giữa hai lớp Sig=1,
là có ý nghĩa. Sau thực nghiệm, so với lớp đối chứng kỹ năng của trẻ lớp thực nghiệm
tăng lên đáng kể với điểm trung bình là 1.87, lớn hơn điểm trung bình lớp đối chứng
(MeanĐC=1.53), sự khác biệt Sig=0.02 là có ý nghĩa. Kết quả thực nghiệm chứng tỏ trẻ
đã có các kỹ năng cơ bản để học viết khi vào trường phổ thông, các cơ tay và vận động
tinh đã phát triển ở trẻ giúp trẻ điều khiển bản thân trong quá trình cầm viết và tham
gia vào hoạt động viết.
108
Bảng 3.14. Kết quả đo kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình của lớp
thực nghiệm và lớp đối chứng.
Trước thực nghiệm
Lớp
Sig (2 - tailed)
Sig (2 – tailed)
Điểm trung bình (Mean)
Độ lệch chuẩn (SD)
Điểm trung bình (Mean)
Sau thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD)
0.9
0.85
Đối chứng
0.63
0.72
Sig=0.00 Khác biệt có ý nghĩa
Sig=0.62 Khác biệt không có ý nghĩa
0.73
0.83
1.57
0.68
Thực nghiệm
2
1,57
0,9 Lớp đối chứng 1 0,73 0,63 Lớp thực nghiệm
0
Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.12. So sánh kết quả đo kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình là một kỹ năng quan trọng cho
trẻ để có thể học tốt ở trường phổ thông. Hoạt động học tập ở trường phổ thông là bắt
buộc và trẻ phải tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập, đòi hỏi trẻ phải có kỹ năng tự
kiểm tra đánh giá bài làm của mình theo hướng dẫn hoặc theo đáp án cô cho. Ở trường
mầm non giáo viên thường tổ chức cho trẻ kiểm tra đánh giá bài làm của bạn và của
mình nhưng thường sử dụng hình thức trình bày miệng, hình thức này không phát huy
được tác dụng của việc tự kiểm tra đánh giá, do nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân chủ
yếu là việc kiểm tra đánh giá bằng trình bày miệng không thể cùng lúc thực hiện trên
nhiều trẻ, bên cạnh đó trẻ thường có xu hướng bắt chước bạn nên những đánh giá nhận
xét của trẻ dễ giống nhau không bắt nguồn từ chính trẻ; Mặt khác, kiểm tra, đánh giá
bài làm của mình ở đây phải mang tính khách quan, có công cụ đánh giá hay đáp án cụ
109
thể chứ không phải áp đặt ý muốn, mong muốn chủ quan của mình vào đó, điều này
hầu như chưa có giáo viên nào ở trường thực nghiệm chú trọng hình thành cho trẻ.
Trong quá trình đo nghiệm kỹ năng này, đề tài sử dụng bài tập đo cho mỗi trẻ,
sắp xếp chỗ ngồi để trẻ không thể nhìn, bắt chước bài bạn nhằm đem lại sự khách quan
trong đánh giá kỹ năng của trẻ.
Trên kết quả ở bảng 3.12 cho thấy, kỹ năng tự kiểm tra đánh giá bài làm của
mình ở hai lớp trước thực nghiệm là tương đương nhau, điểm trung bình của trẻ lớp
thực nghiệm là 0.73, lớp đối chứng là 0.63 với mức khác biệt Sig=0.62 là không ý
nghĩa. Sau thực nghiệm điểm trung bình của trẻ lớp đối chứng chỉ đạt 0.9, con lớp thực
nghiệm đạt 1.57, mức khác biệt sau thực nghiệm Sig=0 là có ý nghĩa.
Bảng 3.15. Kết quả đo kỹ năng thực hiện các quy định trên giờ học của lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng
Trước thực nghiệm
Lớp
Sig (2 - tailed)
Sig (2 – tailed)
Điểm trung bình (Mean)
Độ lệch chuẩn (SD)
Điểm trung bình (Mean)
Sau thực nghiệm Độ lệch chuẩn (SD)
1.87
1.01
Đối chứng
1.93
1.11
Sig=0.01 Khác biệt có ý nghĩa
2.30
0.92
2.60
0.68
Sig=0.09 Khác biệt không có ý nghĩa
Thực nghiệm
3 2,6
2,3
1,93 1,87 2
Lớp đối chứng
Lớp thực nghiệm 1
0
Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.13. So sánh kết quả đo kỹ năng thực hiện các quy định trên giờ học của
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
Qua kết quả bảng 3.15 có thể thấy, trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở cả hai lớp trước
110
thực nghiệm đã có thể thực hiện tốt các quy định trên giờ học, cụ thể điểm trung bình
lớp đối chứng là 1.87, lớp thực nghiệm là 2.3, và khác biệt giữa hai lớp là không có ý
nghĩa (Sig=0.09). Chứng tỏ sự chú ý có chủ định đã phát triển mạnh ở trẻ, trẻ có thể
thực hiện các chỉ dẫn của người lớn (cụ thể là giáo viên); trẻ có khả năng điều khiển
hoạt động của bản thân, có khả năng tham gia vào hoạt động học tập một cách có mục
đích. Sau thực nghiệm kỹ năng của trẻ lớp thực nghiệm tăng và đạt mức điểm trung
bình là 2.6, trong khi lớp điểm trung bình lớp đối chứng là 1.93, sự khác biệt có ý
nghĩa (Sig=0.01).
Bảng 3.16. Kết quả các mức độ điểm đạt được trước thực nghiệm của trẻ nhóm
đối chứng và thực nghiệm
Lớp đối chứng Lớp thực nghiệm TT Mức điểm
4 3 2 1 29 – 32 điểm 22 – 28 điểm 16 – 21 điểm < 16 điểm Số trẻ đạt 0 0 9 21 Tỉ lệ % 0 0 30 70 Số trẻ đạt 0 0 12 18 Tỉ lệ % 0 0 40 60
80
70
60
50
Lớp đối chứng 40
Lớp thực nghiệm 30
20
10
0
Mức 1 Mức 2 mức 3 Mức 4
Biểu đồ 3.14. So sánh các mức độ điểm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trước
thực nghiệm.
Kết quả các mức điểm đạt được trước thực nghiệm của lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng ở bảng 3.16 cho thấy, cả hai lớp trẻ chỉ đạt điểm ở mức độ 1 (dưới 16 điểm)
111
và mức 2 (16 – 21 điểm), không có trẻ đạt điểm ở mức 3 và mức 4. Chứng tỏ kỹ năng
tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trước thực nghiệm hầu như chưa được
hình thành.
Bảng 3.17. Kết quả các mức độ điểm đạt được trước thực nghiệm của trẻ nhóm
đối chứng và thực nghiệm
Lớp đối chứng Lớp thực nghiệm TT Mức điểm
29 – 32 điểm 22 – 28 điểm 16 – 21 điểm < 16 điểm 4 3 2 1 Số trẻ đạt 0 6 5 19 Tỉ lệ % 0 20 16.67 63.33 Số trẻ đạt 17 11 2 0 Tỉ lệ % 56.67 36.67 6.67 0
70
60
50
40 Lớp đối chứng
30 Lớp thực nghiệm
20
10
0
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4
Biểu đồ 3.15. So sánh các mức độ điểm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau
thực nghiệm.
Từ kết quả các mức điểm đạt được của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau
thực nghiệm ở bảng 3.17, cho thấy lớp thực nghiệm có tỉ lệ mức điểm đạt ở mức 4 từ
29 - 32 điểm là chủ yếu (56.67%), mức 3 từ 22 -28 điểm lớp chiếm tới 36.67%, trong
khi đó lớp đối chứng mức độ điểm đạt được của trẻ vẫn chủ yếu nằm ở mức 1 (<16
điểm chiếm tới 63.33%) và mức 2 từ 16 -21 điểm (chiếm 16.67%).
112
Bảng 3.18. Tổng hợp kết quả các mức độ điểm đạt được trước thực nghiệm và
sau thực nghiệm của trẻ nhóm đối chứng và thực nghiệm
Lớp đối chứng Lớp thực nghiệm
Sau TN Sau TN TT Mức điểm Trước TN Số trẻ Tỉ lệ
4 3 2 1 29 – 32 điểm 22 – 28 điểm 16 – 21 điểm < 16 điểm 0 0 9 21 % 0 0 30 70 Tỉ lệ % 0 20 16.67 63.33 Trước TN Tỉ lệ Số % trẻ 0 0 0 0 40 12 60 18 Số trẻ 17 11 2 0 Tỉ lệ % 56.67 36.67 6.67 0
Số trẻ 0 6 5 19
80
70
60
50 Lớp ĐC trước TN
Lớp TN trước TN 40
Lớp ĐC sau TN 30 Lớp TN sau TN 20
10
0
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4
Biểu đồ 3.16. So sánh các mức độ điểm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trước
thực nghiệm và sau thực nghiệm.
Kết quả bảng 3.16 cho thấy, sau thực nghiệm, lớp thực nghiệm đã có sự hình
thành kỹ năng tiền học đọc học viết khá rõ ràng. Nếu trước thực nghiệm, không có trẻ
nào đạt kết quả ở mức 3 và 4 thì sau thực nghiệm phần lớn trẻ đạt được và đặc biệt
không có trẻ nào đạt điểm ở mức 1 và mức 2. Còn đối với lớp đối chứng cũng có sự
phát triển như giảm số lượng trẻ đạt điểm ở mức 1, song vẫn chưa có trẻ nào đạt điểm
ở mức 3 và 4. Chứng tỏ các biện pháp đề tài đưa ra là rất có tác dụng trong hình thành
kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
Tiểu kết chương 3
113
Công tác hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là
rất cần thiết. Thông qua các hoạt động ở trường, giáo viên có thể tổ chức hoạt động
nhằm hình thành kỹ năng này cho trẻ đặc biệt qua hoạt động học tập và hoạt động vui
chơi của trẻ ở trường mầm non. Từ các biện pháp cụ thể giáo viên chú trọng hình
thành cho trẻ kỹ năng nghe hiểu và phân tích lời nói, đặc biệt giúp hình thành cho trẻ
kỹ năng đọc, viết ở dạng tiền học đọc học viết như: kỹ năng tách từ như là đơn vị ý
nghĩa độc lập của ngôn ngữ; Kỹ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn
ngữ; Kỹ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản.Liên hệ đúng đắn âm vị và
chữ cái. Thông qua việc lập kế hoạch giờ học, giờ chơi; và thực hiện kế hoạch một
cách tự nhiên gây hứng thú cho trẻ. Giúp trẻ hiểu vai trò của chữ viết. Biến việc học
chữ trở thành nhu cầu của trẻ để trẻ tự khám phá, tìm hiểu. Giúp chữ viết đến với trẻ
một cách tự nhiên nhất.
Qua kết quả thực nghiệm cho thấy trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đã có đầy đủ các yếu tố
để hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cũng như có khả năng lĩnh hội các kiến
thức, kỹ năng đọc viết, giáo viên có thể dựa vào những đặc điểm tâm sinh lý của trẻ để
hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ. Biện pháp hình thành kỹ năng tiền
học đọc học viết phải dựa trên nhu cầu, hứng thú của trẻ thì mới đạt hiệu quả cao. Kỹ
năng tiền học đọc học viết hoàn toàn có thể hình thành ở mẫu giáo 5 – 6 tuổi, đây là
yếu tố quan trọng và là tiền đề cho việc học tập của trẻ khi vào trường phổ thông.
Kết quả nghiên cứu và thực nghiệm cho thấy, các biện pháp đề tài đưa ra là rất
khả thi. Việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ thông qua hoạt động học
tập và hoạt động vui chơi là hoàn toàn hợp lý. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh
được giả thuyết khoa học mà đề tài đưa ra là đúng đắn.
114
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là một
nhiệm vụ quan trọng của trường mầm non trong công tác chuẩn bị cho trẻ vào trường
phổ thông. Đọc viết là một hoạt động quan trọng, giúp con người học hỏi kinh nghiệm
lịch sử, xã hội loài người, là cơ sở của việc lĩnh hội các tri thức khoa học, của sự phát
triển trí tuệ cũng như là cơ sở của mọi hoạt động học tập khác. Kỹ năng tiền học đọc
học viết được hình thành ngay từ khi trẻ còn học trường mẫu giáo và được xuất hiện từ
rất sớm ngay từ khi trẻ mới sinh ra. Nếu được tác động một cách hợp lý từ các hoạt
động giáo dục thì kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi sẽ hình
thành và phát triển tốt, tạo điều kiện cho trẻ bước vào hoạt động học tập ở trường tiểu
học một cách thuận lợi, tự tin.
1.2. Qua nghiên cứu, cho thấy thực trạng hình thành kỹ năng tiền học đọc học
viết của trẻ còn hạn chế, chỉ chú trọng vào cho trẻ học thuộc bảng chữ cái một cách thụ
động, ép buộc mà không có biện pháp giúp trẻ hiểu, nắm vững bảng chữ cái một cách
chủ động.
Các trường mầm non, giáo viên mầm non đều chú trọng hình thành kỹ năng tiền học
đọc học viết cho trẻ song còn nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện, chưa khai thác hiệu
quả các hoạt động của trẻ tại trường nhằm nâng cao hiệu quả cho công tác này.
Nhận thức về bản chất việc học đọc, học viết của trẻ mầm non chưa đầy đủ,
khiến giáo viên khá cứng nhắc trong việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho
trẻ; phụ huynh chưa chú trọng vào công tác này, phần lớn phụ huynh chạy theo phong
trào cho trẻ học thêm vào ba tháng hè để trẻ biết đọc, biết viết trước khi vào lớp một,
mà không chú ý đến đặc điểm phát triển, cũng như nhu cầu, nguyện vọng của trẻ. Điều
này ảnh hưởng không tốt đến việc học tập của trẻ sau này ở trường phổ thông.
1.3. Việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
phải thực hiện thường xuyên, liên tục; biến việc học thành nhu cầu của trẻ, phải phù
hợp với đặc điểm tâm sinh lý, nguyện vọng của trẻ. Giúp trẻ vừa học vừa chơi, học tập
một cách thoải mái, nhẹ nhàng, không gây áp lực cho trẻ, lôi cuốn trẻ hướng chú ý vào
việc học.
115
1.4. Qua thực nghiệm cho thấy, việc thiết kế các hoạt động học tập và vui chơi
nhằm mục đích hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mà đề tài đưa ra là
phù hợp và mang lại hiệu quả cao, biện pháp hấp dẫn, phong phú, đa dạng, linh hoạt
và dễ thực hiện. Được trẻ thích thú đón nhận và thực hiện một cách hào hứng.
1.5. Sau thực nghiệm, kết quả kỹ năng tiền học đọc học viết của trẻ lớp thực
nghiệm cao hơn hẳn lớp đối chứng. Điều này chứng tỏ tính đúng đắn của giả thuyết
khoa học mà đề tài đưa ra: Nếu giáo viên chú trọng phát huy tính tích cực của trẻ lớp
mẫu giáo 5 – 6 tuổi, thì kỹ năng này ở trẻ của lớp đó sẽ được hình thành.
2. Kiến nghị
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau
2.1. Đối với các đề tài nghiên cứu sau: Tiếp tục nghiên cứu các biện pháp hình
thành và phát triển kỹ năng tiền học đọc học viết phù hợp với đặc điểm phát triển tâm
sinh lý của trẻ, và phải bắt đầu ngay từ tuổi nhà trẻ chứ không phải đến khi trẻ vào lớp
mẫu giáo 5 – 6 tuổi mới bắt đầu hình thành kỹ năng này.
2.2. Đối với các cấp quản lý: Thống nhất quan điểm; định hướng rõ ràng giúp
giáo viên có cơ sở thực hiện công tác hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ;
chỉ đạo giáo viên tăng cường công tác hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho
trẻ. Không áp đặt giáo viên vào khuôn mẫu chung nhất định nào để biện pháp của giáo
viên có thể chủ động, thoải mái lựa chọn đa dạng và phong phú hơn các biện pháp
hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết; không rập khuôn theo một mô hình chung
cho tất cả các trường. Thường xuyên tổ chức tập huấn chuyên đề hình thành kỹ năng
này thông qua các hoạt động tại trường mầm non cho giáo viên mầm non.
2.3. Nâng cao hiểu biết của phụ huynh về việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi vào trường phổ thông, chú trọng hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết
thông qua các hoạt động.
2.4. Đối với các nhà giáo dục: Sưu tầm, tuyển chọn nhiều biện pháp đa dạng,
phong phú nhằm hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
nói riêng trẻ mầm non nói chung. Xây dựng môi trường đọc viết tạo sự hấp dẫn, lôi
cuốn trẻ và phù hợp với mục tiêu của giáo dục mầm non và hướng chú ý của trẻ vào
môi trường đọc viết một cách tự nhiên, hào hứng.
116
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Phan Thị Lan Anh (2010), Sử dụng trò chơi trong phát triển khả năng tiền đọc
viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong các trường mầm non, Hà Nội.
2. Vũ Thị Hương Giang (2012), "Sử dụng truyện tranh để phát triển khả năng tiền
đọc – viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi". Tạp chí GDMN, số 267 (kì 1 - 8/2011).
3. Vũ Ngọc Hà (2008), "Tương quan giữa tâm thế sẵn sàng đi học với khó khăn tâm
lý của học sinh đầu lớp 1", Tạp chí Tâm lý học, số 10 – 2008
4. Võ Xuân Hào (2009), Giáo trình tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Giáo
dục.
5. Nguyễn Thị Hoa (2010), Giáo trình giáo dục tích hợp ở bậc học mầm non, Nxb
Đại học Sư phạm.
6. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2008), Tâm lý học lứa tuổi và
tâm lý học sư phạm, Nxb Thế Giới.
7. Trương Thị Xuân Huệ (2014), Lý luận dạy học hiện đại dạy học tích cực, Nxb
Lao Động.
8. Lê Thu Hương, Lê Thị Ánh Tuyết (2005), Hướng dẫn thực hiện chương trình
chăm sóc giáo dục Mầm non mẫu giáo Lớn 5 – 6 tuổi. Hà Nội.
8. L.A. Venghe (1980), Tâm lý học Mẫu giáo – tập 2, Thế Trường dịch, Nxb Giáo
dục.
10. Đặng Thị Lanh, Hoàng Cao Cương, Lê Thị Tuyết Mai, Trần Thị Minh Phương
(2001), Sách giáo viên tiếng việt 1 tập 1, Nxb Giáo dục.
11. Bùi Thị Nga (2008), Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản đọc thêm theo đặc
trưng loại thể trong sách giáo khoa ngữ văn 10 trung học phổ thông, Thái
Nguyên.
12. Trần Nga (1997), "Trẻ nhỏ tiếp cận đối với việc học đọc và học viết như thế nào"
Tạp chí Giáo dục Mầm non, số 2/1997, tr.14
13. Nguyễn Thị Phương Nga (1996), Chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo lớn học tiếng Việt,
Đề tài cấp Bộ, Tp. Hồ Chí Minh.
117
14. Nguyễn Thị Phương Nga (1999), "Dạy trẻ cái gì?", Thông tin khoa học GDMN,
số 3. 11/1999, tr.34.
15. Nguyễn Thị Phương Nga (2003), "Môi trường tốt để chuẩn bị cho trẻ học chữ
viết", Thông tin khoa học Giáo dục mầm non, trường CĐSPMG TW3, số 9 -
2003.
16. Nguyễn Thị Phương Nga (2006), Giáo trình Phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mầm non, Nxb Đại học Sư phạm Tp. HCM.
17. Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga (2013), Phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu
học (Tài liệu đào tạo giáo viên tiểu học trình độ Cao đẳng và Đại học Sư
phạm), Nxb Giáo dục – 2013
18. Mai Nguyệt Nga (2007), Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Giáo dục.
19. Phạm Thành Nghị (2011), Giáo trình tâm lý học giáo dục, Nxb ĐHQG Hà Nội
20. Phan Trọng Ngọ (2003), Các lí thuyết phát triển tâm lý người, Nxb Đại học Sư
phạm
21. Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức (2001), Phương pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
22. Nguyễn Thị Oanh (2000), Các biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu
giáo lớn (5 – 6 tuổi) – Nxb Hà Nội
23. Hoàng Phê (1988), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội.
24. Đinh Thị Tứ, Phan Trọng Ngọ (2008), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non – tập
1, Nxb Giáo dục.
25. Đinh Hồng Thái (2014), Giáo trình phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non, Nxb Đại
học Sư phạm.
26. Trần Thu Thủy (2008), Chương trình giáo dục mầm non của Singapore – Tài
liệu dịch, Trường CĐ Sư phạm TW3.
27. Trần Trọng Thủy (1997), “Ý nghĩa của việc chuẩn bị cho trẻ tập đọc” , Tạp chí
GDMN, số 3-1997.
28. Trần Trọng Thủy (1998), Tâm Lý Học lao động, Nxb ĐHQG Hà Nội.
29. Nguyễn Ánh Tuyết, Đào Thanh Âm, Đinh Văn Vang (1994), Giáo dục học (Giáo
trình đào tạo giáo viên trung học sư phạm mầm non hệ 12 + 2), Nxb Giáo dục.
118
30. Nguyễn Ánh Tuyết, Lương Kim Nga, Trương Kim Oanh (1998), Chuẩn bị cho
trẻ tuổi vào trường phổ thông, Nxb Giáo dục.
31. Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai, Đinh Thị Kim Thoa (2002), Tâm lý
học trẻ em lứa tuổi mầm non từ lọt lòng đến 6 tuổi, Nxb Đại học Sư phạm.
32. Lê Thị Ánh Tuyết (2003), "Cho trẻ mầm non làm quen với chữ viết – Quan niệm
và thực tiễn, Tạp chí Giáo dục Mầm non số 1 – 2003.
33. Đinh Văn Vang (2008), Giáo trình giáo dục học mầm non (Dành cho hệ Cao
đẳng Sư phạm Mầm non), Nxb Giáo dục.
34. Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội (2003), Giáo trình tâm lí học trẻ em lứa tuổi
mầm Non, Nxb Hà Nội.
Tiếng Anh
35. Johnson, D. (1999), "Critical Issue: Addressing the Literacy Needs of Emergent
and Early Readers", October 18, 2005, http://www.ncrel.org/
36. Wiggin K. D. Children's Right, http://www.readbookonline.net/
37. Glenda, M., Terri Jo Swim, Denise Cross, Penny Sholl, Ingrid Laidroo (2005),
Early childhood and elementary literacy 05/06, Dushkin Publishing in United
States of American.
38. Coleman M.R. , Ph.D., Tracey West, Ph.D., & Margaret Gillis, Ph.D –
Definitions of Domains - http://www.getreadytoread.org
39. Elizabeth C.S. 2000. Let’s Read!, Jossey - Bass
Tiếng Nga
40. Алексеева М.М., Яшина Б.И. Методика развития речи и обучения родному
языку дошкольников: Учеб. пособие для студ. высш. и сред, пед. учеб.
заведений. - 3-е изд., стереотип. - М.: Издательский центр «Академия»,
2000. - 400
PHỤ LỤC
Phụ lục 1
KẾ HOẠCH GIỜ HỌC
Kế hoạch giờ học 1: Hình thành biểu tượng ban đầu về âm "v", âm "r".
Chủ đề: Thế giới động vật
Đề tài: Con vật và những cái tên.
Tích hợp: Tìm hiểu môi trường xung quanh, làm quen với đọc, viết.
Hoạt động của trẻ: Nhận thức, vui chơi, đọc thơ, câu đố…
Mục đích yêu cầu: Ôn chữ cái đã học, làm quen chữ cái mới "v, r", tìm từ chứa
chữ cái "v, r" đang học; ghép chữ cái, xác định tiếng có chứa âm "v, r" trong từ, vị trí
âm v, r trong tiếng; tìm hiểu đặc điểm một số con vật. Hình thành kỹ năng phân tích
âm thanh, từ ngữ; phát triển tư duy, trí nhớ, chú ý.
Chuẩn bị: Máy vi tính, ti vi, loa, thẻ chữ cái, bảng, phấn, hình con vật.
Hình thức hoạt động: Nhóm, cả lớp, cá nhân.
Tiến trình giờ học
Ổn định: Bắt bài hát cho trẻ cùng tập trung lại phía trước cô.
Phần trọng tâm: Cô đọc câu đố:
"Mắt lồi, cánh lại mỏng tang
Hè về ca hát râm ran trên cành."
Là con gì?
"Con gì có cánh mà chẳng biết bay,
Ngày xuống ao chơi, đêm về đẻ trứng"
Là con gì?
Mở loa cho trẻ nghe âm thanh các con vật (ve, vịt), cho hình ảnh con vịt và con
ve xuất hiện trên ti vi. Cô hỏi để trẻ nêu đặc điểm của 2 loài vật trên (Đặc điểm bên
ngoài, nơi sống, thức ăn, tiếng kêu, tên gọi…)
Cô hỏi: "Vịt và ve là hai loài vật khác nhau, nhưng nó cũng có điểm chung, đố
các con tìm ra điểm chung của hai loài vật này?".
Cho trẻ thời gian để suy nghĩ về điểm chung của hai loài vật trên. Báo hiệu hết
giờ và yêu cầu trẻ trả lời.
Trẻ nói lên ý kiến của mình (nhắc trẻ biết giơ tay khi muốn phát biểu ý kiến). Cô
nhận xét ý kiến của trẻ.
Điểm chung: - Đều có cánh.
Cô gợi ý về điểm chung trong tên gọi của hai loài vật trên. Cho trẻ đoán.
Cô nói: "Hai loài vật khác nhau nhưng chúng đều có cánh và đặc biệt là trong tên
gọi của chúng đều có âm "v".
Cô viết tên của "con vịt" và "con ve" lên bảng phía dưới hình mỗi con vật đó.
Hỏi trẻ về các chữ cái đã học có trong tên của con vịt và ve. (Lần lượt hỏi từng
tên cho trẻ phân tích, không hỏi gộp cả hai vào một câu hỏi).
Trẻ chỉ và đọc chữ cái đã học "i, t, e"
Sau khi trẻ đọc được các chữ cái đã học, cô hỏi "Các con đã chỉ và đọc được các
chữ cái đã học trong từ "con vịt" và "con ve". Vậy chữ cái nào các con chưa được
học". (Trẻ chỉ.)
Cô phát âm "v" cho trẻ nghe và phát âm theo, phát âm rõ ràng và quay về phía trẻ
để trẻ quan sát khẩu hình miệng của cô khi phát âm.
Cho trẻ đọc đồng thanh, nhóm, cá nhân.
Phân tích nét viết chữ "v" (gồm một nét xiên trái và một nét xiên phải).
Tương tự với âm "r" cô cho trẻ xem hình con rùa và con rồng.
Dạy trẻ các đọc tách âm để phát hiện âm "v, r" trong các tiếng.
Yêu cầu trẻ thành 2 chia đội, thi đua:
- Tìm tiếng có âm "v", "r" có trong môi trường lớp, đọc từ vừa tìm được.
- Cùng suy nghĩ và tìm ra các từ chỉ tên gọi (tên bạn trong lớp, tên con vật, đồ
vật) có âm "v" hoặc "r" và đọc lên.
- Xác định tiếng nào trong các từ vừa tìm được có chứa âm "v, r"?
- Đọc tách âm để biết vị trí âm "v, r" trong tiếng đó.
Tổng kết lại: trong tất cả các tiếng có chứa âm "v, r" thì âm "v, r" đều đứng đầu
nên nó được gọi là âm đầu.
(Đội nào tìm được nhiều thì thắng cuộc.)
Cả lớp đọc bài "Con vỏi con voi" để tập phát âm âm "v", bài "Rì rà, rì rầm" để
luyện âm "r".
Cô giới thiệu các trò chơi mới với chữ "v, r" trong các góc cho trẻ chơi nhằm ôn
và thực hành với chữ "v, r".
Kế hoạch giờ học 2: Luyện tập với âm "v", âm "r".
Đề tài: Chữ v, r đáng yêu.
Tích hợp: Tìm hiểu môi trường xung quanh, làm quen với đọc, viết.
Hoạt động của trẻ: Nhận thức, vui chơi, thực hành…
Mục đích yêu cầu: Luyện tập và thực hành các bài tập về âm "v, r", rèn cách tạo
chữ "v, r". Rèn kỹ năng thực hiện các quy định trong giờ học, hiểu và làm theo chỉ
dẫn.
Chuẩn bị: Bài tập giấy để trẻ khoanh hình, bút chì, sáp màu, .
Hình thức hoạt động: Nhóm, cả lớp, cá nhân.
Tiến trình giờ học
Ổn định tổ chức: Cùng chơi với trẻ một trò chơi "Phát hiện âm thanh". Cô đọc
một loạt các từ/ tiếng có chứa âm "v" hoặc "r" và hỏi trẻ xem điểm chung của các từ/
tiếng cô vừa đọc có chứa chung một âm là âm nào đã được học. Để trẻ trả lời. Hỏi trẻ
tại sao trẻ biết để trẻ trình bày lại cách phân tích từ để phát hiện âm chứa trong các từ/
tiếng đó.
Phần trọng tâm: Yêu cầu trẻ tạo hình chữ cái "v", "r" bằng cách tạo dáng âm
"v", "r" theo cách riêng của mình; viết/vẽ âm "v", "r" trong không khí, cá nhân trẻ tạo
hình âm "v" "r" bằng các vật liệu như ghép hột hạt, nặn đất sét, vê giấy... (Giới thiệu
thêm âm "v", "r" in thường, in hoa, viết thường cho trẻ để trẻ nhận biết).
Giới thiệu bài tập dạng trò chơi thi đua cá nhân hoặc nhóm được cô soạn sẵn cho
trẻ làm:
Bài tập nhóm: Tìm và khoanh từ chứa âm "v, r" trong các bài thơ, câu chuyện,
hoặc bài hát: Cô phát các bài thơ, truyện, bài hát mà cô đã in hoặc viết ra giấy khổ lớn,
yêu cầu các nhóm trẻ tìm và khoanh tròn từ chứa âm "v, r", (quy định âm v khoanh
màu đỏ, âm ra khoanh màu xanh). Nhóm nào làm xong trước thì mang dán bài làm
nhóm mình lên bảng để cô và cả lớp nhận xét.
Chú ý: Yêu cầu được cô nêu bằng miệng để trẻ sử dụng kiến thức và biểu tượng
về âm "v, r" đã được hình thành để nhận biết chữ ghi âm "v, r" trong các bài viết. Cô
không nêu hoặc viết âm "v, r" cho trẻ nhìn.
Bài tập cá nhân: Cho trẻ làm bài tập "khoanh hình" tương tự như trò chơi 18
trong phần trò chơi bên dưới.
Cô tổ chức cho trẻ làm cá nhân, cô sắp xếp vị trí ngồi để trẻ không bắt chước,
nhìn bài bạn, cô quan sát trẻ, hướng dẫn trẻ tự nhận xét, chỉnh tư thế ngồi và cách cầm
viết cho trẻ trong quá trình trẻ thực hiện.
Kết thúc: Cô yêu cầu trẻ gom các bài làm lại và nhận xét giờ học của trẻ.
Cô giới thiệu bài tập trong tập "Làm quen chữ cái" để trẻ thực hiện vào các giờ
hoạt động khác.
Phụ lục 2:
TRÒ CHƠI HỌC TẬP:
Góc Học tập: Chơi "Ô chữ"; "Bảng chữ di động"; "Ngôi nhà âm v"; "Ngôi nhà
âm r"; "Hãy nghe thật kỹ"; "Chiếc vòng xoay xoay"; "Cờ ô chữ"; "Trúc xanh chữ cái";
"Tin nhắn"; "Từ dòng đến cột".
Góc Thư viện: "Từ điển của bé"; "Những con chữ vui nhộn"; "Bé nghe cô kể";
"Thi ai nói nhanh"; "Câu chuyện của bé"; "Khoanh hình"; "Từ hình đến chữ cái";
"Những từ đi vắng".
Trò chơi 1: Ô chữ
Mục đích: Nhận biết vị trí âm v, r trong tiếng/từ. Đọc các từ chứa âm v hoặc r.
Số lượng trẻ chơi: Nhóm 2 đến 5 trẻ.
Chuẩn bị: 1 Bộ thẻ đáp án và nhiều bộ thẻ chơi, nút bần hoặc nắp chai nước ngọt,
xúc xắc (nếu có).
Luật chơi: Trẻ đặt nút bần đánh dấu vào đúng vị trí ô chứa âm v, r. Trẻ sai bị phạt
phải làm "cái".
Cách chơi: Một trẻ làm "cái" được cầm một quyển sách đáp án, trong đó có các
hình ảnh, đi kèm phía dưới là các từ chỉ tên đối tượng trong hình đó được ghi trong các
ô kẻ liền nhau, mỗi ô là một chữ cái (Ở mức độ ban đầu, các ô sẽ được đánh số thứ tự
cho trẻ dễ nhận xét bạn, về sau bỏ các số đi cho trẻ tự đếm và ước lượng bằng mắt).
Trẻ này có nhiệm vụ đưa cho các trẻ còn lại mỗi trẻ một thẻ bài là các hình tương tự
hình của mình đang cầm song phía dưới không có chữ chỉ có các ô trống có số lượng
tương ứng với các âm có trong từ chỉ tên đối tượng trong hình rồi đọc các từ cho phía
dưới cho các bạn còn lại đánh dấu vị trí âm "v" hoặc "r" vào vị trí của nó trong từ của
đáp án bằng cách đặt nút bần (hoặc nắp chai nước ngọt).
Trẻ làm cái kiểm tra đáp án của các bạn, nếu đúng thì đổi từ khác, nếu sai thì trẻ
bị sai phải làm cái. Trường hợp có nhiều trẻ sai thì các trẻ phải thảy xúc xắc hoặc oẳn
tù tì để xác định trẻ thua cuộc.
Trò chơi 2: Bảng chữ di động
Mục đích: Trẻ biết ghép từ từ bộ chữ cái và đọc được các từ đã ghép. Biết vị trí
âm đầu âm cuôi trong các tiếng.
Số lượng trẻ: Cô chơi cùng 2 đến 5 trẻ. Hoặc trẻ chơi với trẻ.
Chuẩn bị: Bảng gỗ có các sợi dây thun phía trên gắn các nút chai có chữ cái. Xếp
thành từng dãy, mỗi dãy 4, hoặc 5 chữ tùy ý. Các chữ cái dãy đầu thường là các
nguyên âm.
Luật chơi: Trẻ phải ghép đúng vị trí âm đầu âm cuối và đọc được các từ đã ghép.
Nếu sai trẻ mất lượt chơi.
Các chơi:
Cách 1: Trẻ tung xúc xắc để xác định người đi trước. Trẻ đi trước sẽ cầm các sợi
dây thun kéo sao cho các chữ ở ngang hàng nhau ghép thành một từ có nghĩa, trẻ đọc
các từ vừa ghép (trẻ có thể ghép thành một tiếng nào đó và đọc lên sau đó nghĩ ra các
tiếng khác ghép vào để tạo thành từ có nghĩa). Trẻ làm cái là trẻ đã chơi thuần thục có
thể nhận xét xem bạn làm đúng hay sai. Nếu không có trẻ làm cái thì cô phải chơi với
trẻ.
Cách 2: Tương tự cách trên nhưng cách 2 trẻ không ghép từ một cách tùy tiện mà
ghép theo yêu cầu của bạn. Một trẻ sẽ đọc tiếng bất kì từ trong các thẻ hình cho sẵn để
bạn khác ghép. Sau khi ghép trẻ cùng kiểm tra bằng thẻ hình đó, sau đó xem tiếng vừa
ghép có thể đi với các tiếng nào đề tạo thành từ có nghĩa. (Cách này trẻ có thể tự chơi
với nhau).
Trò chơi 3: "Ngôi nhà chữ v"
Mục đích: Trẻ ghép âm v với các nguyên âm khác và đọc được chúng, nhận biết
v là âm đầu hay âm cuối.
Số lượng trẻ chơi: nhóm trẻ 2 đến 3 trẻ.
Chuẩn bị: Tấm bìa carton có kẻ ô như hình
v
Luật chơi: Ghép đúng vị trí âm đầu âm cuối và đọc được tiếng vừa ghép. Trẻ
không đọc được coi như thua cuộc.
Cách chơi: Trẻ dùng thẻ chữ cái đặt vào ô tương ứng ở 2 cột và đọc các tiếng vừa
ghép. Các từ vừa ghép đều có âm v. (Trẻ có thể cầm viết, viết âm các âm vào ô tương
ứng).
Trò chơi 4: "Ngôi nhà chữ r"
(Tương tự trò chơi "Ngôi nhà chữ v")
Trò chơi 5: "Hãy nghe thật kỹ"
Mục đích: Luyện trẻ kỹ năng nghe, phân biệt âm thanh và chỉ đúng chữ ghi âm.
Luyện phát âm tập thể.
Số lượng trẻ chơi: Nhóm hoặc tập thể lớp
Chuẩn bị: Thẻ chữ v, r đủ cho cả nhóm, lớp.
Luật chơi: Nghe đọc tên thẻ chữ cái của mình và cầm thẻ chữ nhảy vào vòng
tròn. Nếu sai thì nhảy lò cò quanh lớp.
Cách chơi: Trẻ nắm tay thành vòng tròn. Mỗi trẻ được phát ngẫu nhiên một thẻ
chữ v hoặc r. Cô hoặc bạn (tổ trưởng hoặc trưởng nhóm) sẽ đọc to hoặc đọc hơi nhỏ để
trẻ nghe xem âm gì vừa được đọc rồi cầm xem thẻ chữ cái mình cầm có phải là âm vừa
được đọc không, nếu phải thì nhanh chóng nhảy vào vòng tròn. Cô hoặc tổ trưởng
(trưởng nhóm) sẽ đi kiểm tra nếu bé nào nghe và nhảy sai sẽ bị phạt, yêu cầu nhóm âm
v, và âm r đọc lớn âm của mình.
Trò chơi 6: Chiếc vòng xoay xoay:
Mục đích: Đọc các chữ đơn giản có 2 chữ cái.
Số lượng trẻ chơi: 3 hoặc nhiều trẻ
Chuẩn bị: Vòng tròn có trục, xoay được; trên vòng tròn khoét lỗ nhỏ vừa để hiện
ra các nguyên âm từ phía sau. Thẻ một sô phụ âm được dán ở mặt trước vòng tròn.
Luật chơi: Đọc đúng các từ hiện ra. Đọc sai bị mất lượt chơi.
Cách chơi: Trẻ xoay vòng tròn cho các nguyên âm phía sau đi qua phụ âm phía
mặt trước vòng tròn và đọc tiếng vùa ghép. Trẻ xoay đến âm, ghép và đọc được thì
chơi tiếp, nếu gặp phải ô trống hoặc ô không có nghĩa thì mất lượt chơi. Khi trẻ đã
thuần thục thì gắn thẻ phụ âm khác lên. Tiếp tục chơi.
Trò chơi 7: "Trúc xanh chữ cái"
Mục đích: Trẻ nhận biết và đọc được chữ ghi âm, rèn trí nhớ chữ cái.
Số lượng trẻ chơi: Mỗi bàn cờ 2 trẻ cùng chơi.
Chuẩn bị: Bàn cờ chữ bằng bìa carton cứng hoặc gỗ (nhựa…) hình vuông, mỗi
bàn cờ có kẻ các ô vuông (số lượng ô vuông tùy vào kỹ năng của trẻ, có thể là 4x4,
6x6, 9x9… ô vuông). Một vài bộ chữ cái bằng nút chai (tăng độ khó của trò chơi bằng
cách thay thẻ chữ cái bằng thẻ từ có hình, rồi đến các từ đơn giản không có hình tùy
theo khả năng của trẻ).
Luật chơi: Trẻ lật được hai thẻ chữ giống nhau và đọc đúng thẻ chữ đó.
Cách chơi: Mỗi bàn cờ có các thẻ cờ được xếp úp vào các ô cờ. Trẻ tung xúc xắc
để xác định bạn chơi trước. Trẻ chơi trước sẽ lật 2 thẻ cờ và xem chúng có cùng chỉ
một từ hoặc chữ nào không, nếu cùng và trẻ đọc được thi trẻ được lấy 2 thẻ cờ đó (mỗi
lần lật một thẻ, trẻ sẽ đọc thẻ đó lên), nếu không trẻ úp thẻ cờ lại đúng vị trí để trẻ kia
chơi. Trẻ lật đúng 2 thẻ thì được lật tiếp cho đến lúc thua thì trẻ kia mới được đi. Tiếp
tục cho đến hết các thẻ cờ trên bàn cờ. Trẻ được nhiều thẻ cờ thì thắng cuộc. (trẻ phải
nhớ vị trí và thẻ cờ đã lật là gì thì lượt chơi sẽ nhanh hơn và trẻ có cơ hội thắng cuộc
hơn.
Có thể tăng thêm độ khó bằng cách tăng số lượng ô cờ.
Trò chơi 8: "Cờ ô chữ"
Mục đích: Biết cách ghép từ hoàn chỉnh và giúp trẻ ngày càng biết ghép nhiều từ
hơn từ bảng chữ cái.
Số lượng trẻ chơi: Mỗi bàn cờ 3 trẻ cùng chơi.
Chuẩn bị: Bàn cờ chữ bằng bìa carton cứng hoặc gỗ (nhựa…) hình vuông, mỗi
bàn cờ có kẻ các ô vuông (số lượng ô vuông tùy vào kỹ năng của trẻ, có thể là 4x4,
6x6, 9x9… ô vuông). Một vài bộ chữ cái bằng nút chai.
Luật chơi: Hai trẻ chơi chính phải tạo được càng nhiều từ mới từ bộ chữ cái của
mình và đọc được từ vừa tạo; mỗi từ đúng thì được lấy các thẻ cờ tạo thành từ đó. Trẻ
nào được nhiều thẻ thì thắng cuộc. Trẻ thua làm người cản trở thay cho trẻ thứ 3.
Cách chơi: Trẻ làm "cản" đặt 3 con cờ chữ vào 3 vị trí khác nhau trên bàn cờ, hai
trẻ còn lại tung xúc xắc để chọn người đi trước. Trẻ đi trước có nhiệm vụ chuyển một
trong số 3 con cờ trên bàn cờ để tạo thành từ có nghĩa theo hàng ngang/dọc/chéo, nếu
được trẻ được lấy các con cờ. Trường hợp các con cờ không tạo thành từ có nghĩa thì
trẻ bắt buộc phải chuyển vị trí 1 trong 3 con cờ thì bạn làm "cản" sẽ đặt vào một con
cờ mới bất kì và đến lượt trẻ chơi thứ 2 làm nhiệm vụ tương tự trẻ chơi trước. Hai trẻ
tiếp tục chơi cho đến khi bàn cờ bị lấp đầy bởi các con cờ mà không tạo được từ mới
nào nữa thì kết thúc.
Trẻ đếm số lượng con cờ mình thu được xem ai thắng cuộc. Trẻ thua bị buộc làm
người "cản".
Trò chơi 9: "Tin nhắn"
Mục đích: Rèn khả năng nghe âm thanh. Nhận biết và chọn đúng chữ ghi âm của
âm được nghe.
Số lượng trẻ chơi: Chia đội. Mỗi đội có trên 5 trẻ chơi.
Chuẩn bị: Các rổ đựng thẻ chữ hoặc từ có hình. Bảng để gắn thẻ từ có chia khu
vực cho từng đội.
Luật chơi: Nghe, truyền tin và lấy chính xác các chữ hoặc từ được nghe. Đọc
chữ, từ đã lấy được.
Cách chơi: Các đội xếp thành hàng dọc. Cuối mỗi hàng có rổ các thẻ chữ/ từ. Trẻ
đầu hàng sẽ có nhiệm vụ lên nhận tin nhắn từ người quản trò (cô). Sau đó mỗi trẻ sẽ
chạy về đội mình nói truyền tin cho bạn tiếp theo sau mình, các trẻ trong hàng lần lượt
truyền tin vào tai bạn tiếp theo cho đến cuối hàng. Trẻ cuối cùng có nhiệm vụ chạy tới
rổ chữ cuối hàng và lấy đúng thẻ chữ/từ mình nghe được chạy lên đưa bỏ vào vị trí
bảng dành cho đội mình. Người quản trò kiểm tra và yêu cầu các đội đọc thẻ từ mình
lấy được. Nhận xét đội nào lấy đúng yêu cầu của tin nhắn. Trò chơi tiếp tục 3 đên 5
lượt. Trong khi chơi cô khuyến khích trẻ tích cực và nhanh chóng. Kết thúc trò chơi,
đội nào lấy đúng nhiều thẻ từ thì thắng cuộc. Cô và cả lớp tuyên dương đội thắng cuộc
(có thể có quà cho trẻ).
Trò chơi 10:"Từ dòng đến cột"
Mục đích: Trẻ biết sự tương ứng dòng cột, biết ghép, chép và đọc từ đã ghép.
Tăng vốn từ cho trẻ.
Số lượng trẻ chơi: 1hoặc 2 trẻ.
Chuẩn bị: Bảng có kẻ chia ô, cột, dòng đầu tiên và cột đầu tiên được viết các chữ
trong bảng chữ cái, viết lông.
Yêu cầu: Viết từ vào ô giao nhau của cột và hàng bằng cách ghép phụ âm và
nguyên âm của cột với hàng đó. Và đọc được từ vừa ghép.
Cách chơi: Trẻ sẽ đối chiếu dòng với cột rồi tới ô giao nhau của dòng và cột đó
trẻ viết lại 2 âm của dòng và cột đó vào đúng vị trí để tạo từ có nghĩa hoặc đúng vị trí
âm đầu, âm cuối và đọc được từ đó (nếu từ vô nghĩa trẻ sẽ đọc ghép thêm các từ khác
để tạo thành từ có nghĩa).
Trò chơi 11: "Từ từ đến chữ".
Mục đích: Trẻ biết từ được chia thành các tiếng viết cách nhau và tiếng có các
âm riêng biệt, học cách sử dụng viết và sao chép chữ.
Số lượng trẻ chơi: 2 đến 3 trẻ.
Chuẩn bị: Bảng có kẻ ô, chia làm 2 phần. Phần có từ hoàn chỉnh có hình. Phần có
ô trống (số lượng ô tương ứng với số chữ cái có trong từ hoàn chỉnh ở dòng tương ứng
của cột kia. Các từ có hai tiếng trở lên thì giữa mỗi tiếng có khoảng cách.
Cách chơi: Trẻ chọn thẻ chữ có số lượng chữ cái bằng số lượng ô trống dòng
tương ứng ở cột 2, sau đó trẻ dùng viết lông sao chép các âm trong từ ở cột 1 vào các ô
ở cột 2. Sao chép đúng vị trí các âm, không để thừa hoặc thiếu ô chữ.
Trò chơi 12: "Đội nào kể được nhiều"
Mục đích: Trẻ nhớ các chữ cái một cách có chủ định, có mục đích; trẻ biết phân
tích các tiếng ra âm, phát hiện âm có trong tiếng; Rèn trẻ phản xạ ngôn ngữ.
Số lượng trẻ: Ít nhất 2 đội, mỗi đội từ 5 trẻ trở lên. Có thể chơi theo cá nhân.
Chuẩn bị: Bảng, phấn hoặc bút viết bảng.
Luật chơi: Trẻ không lặp lại từ của bạn hoặc đội bạn.
Cách thực hiện:
- Hình thức chơi theo đội: Chia trẻ thành các đội. Đặt tên cho từng đội hoặc cho
trẻ tự đặt tên cho đội mình rồi cô viết tên đội lên bảng (chia bảng ra từng phần bằng
với số lượng đội). Các đội thi đua kể từ chứa các âm được yêu cầu. Đội nào kể được
nhiều thì thắng cuộc. Trong lúc trẻ kể cô viết các từ trẻ kể lên bảng vào phần của mỗi
đội. Khi trò chơi kết thúc, trẻ cùng cô đếm số từ của mỗi đội, đọc lại các từ đã có, nhận
xét đội thắng đội thua; Cô tuyên dương đội thắng, khích lệ đội thua cố gắng lượt chơi
sau. Nếu trẻ còn hứng thú chơi, cô tổ chức cho trẻ chơi với các âm khác.
- Hình thức chơi cá nhân: Tổ chức tương tự hình thức chơi theo đội nhưng dưới
dạng thi đua cá nhân. Cô hoặc trẻ được chọn bắt thăm xem âm nào sẽ được chơi. Các
trẻ tự suy nghĩ xem từ nào có chứa âm được chọn và đọc lên cho cô và cả lớp nhận xét
xem đúng hay sai. Mỗi trẻ đọc được một từ cô và các trẻ khác sẽ nhận xét xem từ đó
có âm được yêu cầu hay không (trẻ phân tích bằng cách đọc kéo dài các âm vị trong từ
bạn vừa nêu; xác định tiếng nào trong từ có âm đó). Sau khi xác định được từ trẻ vừa
nêu nếu đúng cô viết tên trẻ đó lên bảng và đánh dấu bằng một bông hoa hoặc một dấu
gạch chéo.
Kết thúc trò chơi, cô cùng trẻ đếm xem trẻ nào tìm được nhiều từ đúng nhất bằng
cách đếm số bông hoa hoặc số gạch chéo rồi tuyên dương trẻ thắng cuộc. Có thể chọn
tuyên dương 3 trẻ có số lượng từ nhiều nhất.
Trò chơi 13: "Từ điển của bé"
Mục đích: Trẻ hiểu được mối liên hệ giữa đối tượng và từ gọi đối tượng.
Chuẩn bị: Một quyển từ điển tự tạo bằng giấy A4, tạp chí cũ, bút chì, sáp màu, hồ
dán, kéo…
Cách thực hiện: Trẻ sẽ sưu tầm và cắt các loại tranh, hình ảnh từ tạp chí cũ dán
vào quyển từ điển của mình hoặc vẽ các hình ảnh mà trẻ thích sau đó dùng viết viết từ
gọi đối tượng trong hình vẽ vào bên dưới hình đối tượng bằng nhiều cách (có thể trẻ
hỏi cô để cô viết ra cho trẻ sao chép vào hoặc trẻ tra/ tìm từ chỉ đối tượng ở trong lớp
hoặc các sách báo khác.
Trò chơi 14: "Những con chữ vui nhộn"
Mục đích: Trẻ sáng tạo từ các con chữ, giúp trẻ hứng thú học chữ, ghi nhớ chữ
cái một cách tự nhiên, thú vị.
Chuẩn bị: Giấy A4, giấy màu, viết chì, sáp màu, kéo, đất sét…
Số trẻ: cá nhân.
Cách thực hiện: Cho trẻ tượng tượng trang trí các con chữ, sáng tạo ra các hình
ngộ nghĩnh từ con chữ và thực hiện ý tưởng của mình bằng các vật liệu sẵn có. Ví dụ:
trẻ tạo hình con rùa hay người đang bò từ chữ r viết thường, trang trí chữ o thành hình
mặt người hay mặt gấu…
Cho trẻ trung bày sản phẩm của mình trong góc chơi.
Trò chơi 15: "Bé nghe thật kỹ nhé"
Mục đích: Trẻ nghe kể câu chuyện đơn giản có thể xác định các phần trong câu
chuyện, nêu được nghĩa từng phần, xác định số câu có trong truyện ngắn vừa nghe.
Chuẩn bị: Tranh hoặc sách truyện.
Số trẻ chơi: Không giới hạn.
Cách thực hiện: Cô chọn câu chuyện ngắn hoặc 3, 4 bức tranh đơn giản và kể cho
trẻ nghe câu chuyện có liên quan (có thể cho trẻ kể nếu được). Sau khi kể xong
chuyện, cô yêu cầu trẻ xác định câu chuyện vừa nghe có mấy phần, nêu nội dung từng
phần, đếm số câu có trong chuyện, nếu ý nghĩa của một câu đơn giản nào đó.
Trò chơi 16: "Thi ai nói nhanh"
Mục đích: Rèn phản xạ nghe và phát hiện ra từ có âm được yêu cầu hoặc âm
đang học.
Số trẻ chơi: Không giới hạn số trẻ chơi.
Thực hiện: Cô hoặc cả nhóm trẻ đọc bài thơ quen thuộc hoặc một bài thơ mới bất
kì. Yêu cầu trẻ nghe và phát hiện từ có chứa âm nào đó trẻ đang học hoặc đã được học
(ví dụ: từ chứa âm "v" hoặc "r"). Trong quá trình kể cô nhấn mạnh hoặc lặp lại câu có
các từ chứa âm được yêu cầu nếu trẻ không phát hiện ra và nhắc trẻ nghe thật kỹ (trẻ
sử dụng kỹ thuật đọc kéo dài âm để tìm từ có chứa âm được yêu cầu).
Lưu ý: Cô nên chọn âm được xuất hiện nhiều trong bài thơ làm âm cần phát hiện.
Khi trẻ đã có kỹ năng thuần thục, cô có thể tăng độ khó bằng cách đọc lướt thật nhanh
khi đến câu có từ chứa âm trọng tâm mà trò chơi yêu cầu.
Trò chơi 17: "Câu chuyện của bé"
Mục đích: Trẻ sử kể được truyện có 3, hoặc 4 câu đơn giản từ các bức tranh minh
họa.
Số lượng trẻ chơi: 1 hoặc nhiều trẻ.
Chuẩn bị: Một số bức tranh minh họa một câu chuyện thuộc hoặc một vài bức
tranh sưu tầm bất kì dùng để kể lại chuyện.
Cách thực hiện: Cô cho trẻ xem các bức tranh, yêu cầu trẻ sắp xếp các bức tranh
theo thứ tự tùy ý và kể một câu chuyện dựa vào các bức tranh đó. Yêu cầu trẻ nói xem
câu chuyện vừa kể có mấy phần, nội dung từng phần, số câu trong chuyện…
(Yêu cầu trẻ kể câu chuyện hoàn chỉnh có mở đầu, có kết thúc.)
Trò chơi 18: "Khoanh hình"
Mục đích: Trẻ gọi được tên của đối tượng và phân tích âm thanh các từ chỉ tên
đối tượng đó xem từ chỉ đối tượng nào có chứa âm trọng tâm mà đề bài yêu cầu. Hình
thành mối liên hệ giữa âm thanh, từ và chữ cái cho trẻ. Trẻ hiểu đối tượng được gọi tên
và viết ra bằng từ, trong từ có tiếng và âm vị.
Số lượng trẻ chơi: Nhiều trẻ, mỗi trẻ có một bài tập riêng.
Chuẩn bị: Các bài tập được in nhiều hình và chữ cái ghi âm chủ đề theo mục đích
của giáo viên muốn trẻ phân tích, liên hệ và ghi nhớ âm nào.
Cách thức thực hiện: Trẻ nhìn hình và gọi tên đối tượng trong hình và phân tích
trong đầu xem từ chỉ hình đối tượng nào có âm chủ đề rồi khoanh tròn hình đó lại. Ví
dụ: âm chủ đề là âm "v", và các hình có trong bài tập là hình con ve, em bé tập viết, võ
sĩ, cái cây, cục tẩy, con vịt… trẻ sẽ khoanh tròn hình con ve, em bé tập vẽ, võ sĩ, con
vịt. Tương tự với các âm khác).
Trò chơi 19: "Từ tiếng đến hình"
Mục đích: Luyện kỹ năng nghe và liên hệ tiếng với hình.
Số lượng: Nhiều trẻ.
Chuẩn bị: Bài tập in hình, bút sáp màu.
Cách thực hiện: Mỗi trẻ một bài tập cá nhân. Cô đọc một tiếng bất kì, trẻ lắng
nghe tiếng được đọc, tự gọi tên hình đối tượng trong bài tập và khoanh tròn hình mà
trong tên gọi chứa tiếng cô đọc.
Trò chơi 20: "Những từ đi vắng".
Mục đích: Trẻ biết kể chuyện, đọc thơ hoàn chỉnh dựa vào hình minh họa chỗ
khuyết. Trẻ biết cách chỉ từng từ khi đọc, đọc từ trái sang phải từ trên xuống dưới. Biết
thay thế hình thành các từ và đọc lên.
Số lượng trẻ: 1 hoặc nhiều trẻ.
Chuẩn bị: Các bài thơ hoặc câu chuyện được in ra có các chỗ khuyết từ được
thay thế bằng các hình.
Yêu cầu: Trẻ đọc các bài thơ, câu chuyện được in bằng cách chỉ ngón tay vào
từng từ lần lượt từ trái sang phải, từ dòng trên xuống dòng dưới. Đến các chỗ khuyết
có hình trẻ thay hình bằng từ rồi đọc lên. Trẻ có thể sáng tạo bằng cách thay từ đồng
nghĩa với từ được chỉ định.
Trò chơi 21: "Vỗ tay theo âm".
Mục đích: Trẻ biết xác định số âm trong các từ, tiếng và vị trí của âm yêu cầu
trong tiếng được nghe.
Số lượng trẻ: Không giới hạn.
Yêu cầu và cách thực hiện:
- Xác định vị trí âm yêu cầu: Cô và trẻ cùng chọn âm cần xác định. Cô hoặc một
trẻ làm cái sẽ đọc một tiếng có chứa âm đã chọn cho các trẻ khác nghe. Các trẻ còn lại
chú ý nghe và phân tích tiếng vừa nghe sau đó đồng loạt vỗ tay theo vị trí âm đã xác
định được. Chẳng hạn âm ở vị trí thứ 2 của tiếng thì trẻ vỗ tay 2 lần liên tục. Ban đầu
cô chọn các tiếng đơn giản có 2 âm, sau nâng mức độ lên 3 âm cho trẻ làm quen tùy
vào điều kiện của lớp, nhóm trẻ. Nhưng chủ yếu là tiếng có 2 âm.
- Xác định số âm có trong từ, tiếng: Trẻ nghe tiếng đơn giản và đếm nhẩm xem
tiếng đó có bao nhiêu âm rồi vỗ tay có số lần đúng với số âm có trong tiếng. Hoặc trẻ
nghe từ có 2 hoặc 3 tiếng đơn giản (mỗi tiếng có 2 âm), rồi vỗ tay đúng số lần bằng
với số âm hoặc số tiếng (tùy yêu cầu và khả năng của trẻ) có trong từ vừa nghe.
• Lưu ý khi tổ chức cho trẻ chơi: Các bài tập, trò chơi trên giấy có thể hình
thành cho trẻ kỹ năng tự kiểm tra đánh giá cho trẻ (ví dụ trò chơi: "Khoanh hình", "Từ
tiếng đến hình"). Cụ thể sau khi trẻ thực hiện xong các bài tập, cô nhận xét hoặc cho
trẻ đáp án chính xác các bài tập để trẻ đối chiếu và nhận xét bài làm của mình bằng
cách cho trẻ dùng màu tô hình theo quy định màu như sau:
Đánh giá từng câu riêng 2 đáp án.
- Đúng: Màu xanh.
- Sai: Màu đỏ.
Đánh giá cả bài nhiều phương án. Trên mỗi bài cô in hình một vòng tròn nhỏ
hoặc vị trí dán hoa hoặc kí hiệu màu như sau.
- Đúng hết toàn bộ: Màu xanh.
- Sai hết toàn bộ: Màu đen.
- Sai nhiều hơn đúng: Màu vàng.
- Đúng nhiều hơn sai: Màu hồng.
- Đúng bằng sai: Màu nâu.
Tùy theo kỹ năng của trẻ mà cô thêm bớt các quy định ký hiệu màu cho trẻ dễ
thực hiện. Vì trẻ có thể chỉ nhớ được 2 hoặc 3 mức độ nên cô có thể sử dụng các mức
độ (đúng/sai; đúng nhiều hơn/sai nhiều hơn/đúng bằng sai).
• Trong quá trình trẻ thực hiện các bài tập, trò chơi trên giấy có sử dụng bút cô
cho trẻ ngồi vào bàn thực hiện kết hợp nhắc nhở và rèn trẻ kỹ năng học tập, ngồi học
và cách cầm viết…
• Tất cả các hoạt động, góc chơi tại trường đều có thể tận dụng để tổ chức các
hoạt động hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Giáo
viên cần chú trọng khai thác và đưa vào sử dụng một cách hợp lý.
Phụ lục 3:
PHIẾU ĐIỀU TRA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
Họ và tên trẻ: .....................................................................................................................
Ngày sinh: ..........................................................................................................................
Lớp: ......................................................... Trường:.............................................................
STT CÁC CHỈ SỐ ĐIỂM GHI CHÚ
1 0
Bài 1: Liên hệ giữa từ chỉ tên gọi với đối tượng thật
1 Nói được tên đối tượng vừa được gọi bằng từ
gì.
Lặp lại từ vừa được nghe. 2
Lặp lại từ chỉ tên đối tượng mà mình vừa nói. 3
Trả lời được câu hỏi về từ chỉ tên đối tượng 4
vừa gọi.
Bài tập 2: Kể chuyện theo tranh
Kể được chuyện 5
Nêu được nội dung từng phần của câu chuyện. 6
Nói được câu chuyện có bao nhiêu câu? 7
Nói được ý nghĩa của một câu đơn giản. 8
Nêu được số tiếng có trong một câu đơn giản 9
Bài tập 3: Tìm đối tượng mà tên gọi có chữ cái đang học, đánh giá bài tập cá
nhân:
10 Chỉ hoặc khoanh tròn đối tượng mà trong tên
gọi có âm được yêu cầu.
11 Xác định tiếng nào trong một từ (đơn giản) có
âm được hỏi.
12 Nghe đọc một tiếng có 2 âm đơn giản, nói
được âm đầu, âm cuối trong tiếng đó.
13 Tách được âm trong từ đơn giản.
14 Chỉ đúng chữ ghi âm được yêu cầu.
15 Tự kiểm tra và đánh giá đúng từng phần riêng
lẻ bằng kí hiệu được quy định.
16 Tự kiểm tra và đánh giá đúng cả bài làm bằng
kí hiệu được quy định
Bài tập 4: Ghép các từ đơn giản
17 Dùng thẻ chữ cái ghép thành tên của mình.
18 Ghép được một phụ âm cho sẵn với các
nguyên âm khác đúng vị trí âm đầu âm cuối.
19 Đọc được từ vừa ghép.
20 Đọc một số từ trong môi trường lớp
21 Đọc từ đơn giản được yêu cầu.
Bài tập 5: Cách đọc và sử dụng sách
22 Nhận ra bìa của sách
23 Nhận ra trang, số chỉ trang sách
24 Nhận ra vị trí tên sách
25 Cầm sách đúng chiều khi đọc
26 Lật từng trang sách khi đọc
27 Đọc từng từ (chỉ vào từng từ khi đọc), từ trái
sang phải, từ trên xuống dưới.
Bài tập 6: Cách viết
28 Ngồi đúng tư thế
29 Cầm viết đúng cách
30 Ngồi học ngay ngắn
31 Giơ tay, xin phép khi muốn phát biểu ý kiến.
32 Thực hiện đúng yêu cầu của giáo viên.
Phụ lục 4a
PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN GIÁO VIÊN MẦM NON
Để tìm hiểu thực trạng và có cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non
huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, thầy (cô) vui lòng cho biết ý kiến của mình về một
số vấn đề sau:
Phần 1: Thông tin cá nhân
Trường ................ Mn Hướng Dương .........................................................................
• Trình độ chuyên môn:
Chưa qua đào tạo
Sơ cấp
Trung cấp
Cao đẳng
Đại học
Sau đại học
Khác (ghi cụ thể): .......................................................................................................
.......................................................................................................................................
• Thâm niên công tác :
Dưới 5 năm
5-10 năm
Trên 10 năm
• Kinh nghiệm dạy lớp 5 – 6 tuổi: năm?
Phần 2:
1. Xin thầy (cô) cho ý kiến về bản chất của việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học
viết:
Mức độ Bản chất củaviệc chuẩn bị cho trẻ học
STT đọc, học viết
Không Không có Rất đồng ý Đồng
ý đồng ý ý kiến
Đọc và viết là các dạng của hoạt động
ngôn ngữ, mà cơ sở của chúng là ngôn
ngữ nói 1
Khi chuẩn bị cho việc học đọc, học viết
cần có cả quá trình phát triển ngôn ngữ
trẻ ở trong trường mầm non (nói mạch
lạc; phát âm đúng) 2
Sự phát triển tính có chủ định và sự phản
tỉnh (nhận thức rõ ràng) về ngôn ngữ nói
của bản thân trẻ là cơ sở cho việc nắm
vững ngôn ngữ viết sau này 3
Việc đọc là chuyển mã từ chữ cái thành
4 các từ được nói lên
Việc viết là sự chuyển ngôn ngữ nói
5 thành mã chữ cái
Để chuẩn bị cho việc học đọc, học viết,
cần hình thành, phát triển ở trẻ khả năng
nghe âm vị và các kỹ năng phân tích và
tổng hợp âm thanh ngôn ngữ 6
Ý kiến khác: .........................................................................................................................
2. Xin thầy (cô) cho ý kiến về sự cần thiết hình thành các kỹ năng tiền học đọc
học viết cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi:
Mức độ
STT Các kỹ năng tiền học đọc học viết Rất cần Cần Không thật Không
thiết thiết cần thiết cần thiết
Kĩ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa 1 độc lập của ngôn ngữ
Kĩ năng tách câu như là đơn vị ý 2 nghĩa của ngôn ngữ
Kĩ năng chia câu ra các từ và tạo lập 3 câu từ 2 – 4 từ đơn giản
Kĩ năng phân tích các âm thanh (các 4 âm vị) của một tiếng đơn giản
5 Phân biệt nguyên âm và phụ âm
6 Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái
7 Nhận biết các chữ cái
Trẻ biết cách ghép chữ thành từ đơn 8 giản
Kĩ năng đọc các từ, câu đơn giản, 9 quen thuộc
10 Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng cách
11 Kỹ năng viết các chữ cái
12 Kỹ năng sao chép con chữ
13 Kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá
Kĩ năng thực hiện các qui định trên 14 giờ học
Ý kiến khác: .........................................................................................................................
3. Thầy (cô) hãy cho biết ý kiến về mức độ cần thiết sử dụng các biện pháp hình
thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi được nêu ở
dưới đây:
Mức độ
Các biện pháp hình thành kỹ năng STT Rất Không tiền học đọc học viết Cần Không cần thật cần thiết cần thiết thiết thiết
Hướng dẫn trẻ dùng các từ để gọi tên
1 đối tượng và đồ chơi, các thuộc tính
và các phẩm chất của chúng
Hướng dẫn trẻ tự đặt các câu về đồ 2 chơi, về các bức tranh và kể truyện
Hướng dẫn trẻ tự nghĩ ra những mẩu 3 truyện ngắn
Dạy trẻ chú ý nghe các bài thơ giúp
4 trẻ phát hiện ra từ, các âm thanh được
lặp lại
Dạy trẻ đọc kéo dài một âm vị nào đó 5 có trong một tiếng
6 Làm quen trẻ với tên gọi của âm vị
Dạy trẻ xác định vị trí của âm vị nào
7 đó ở trong tiếng (là âm đầu hay âm
cuối)
Dạy trẻ gọi tên các tiếng đơn giản có 8 chứa một âm vị nào đó
Sử dụng mô hình để diễn tả cấu trúc
9 của một tiếng đơn giản và xác định vị
trí của âm vị nào đó ở trong tiếng
Dạy trẻ đọc một tiếng theo mô hình 10 của tiếng đó
11 Hướng dẫn trẻ đọc các âm tiết
Dạy trẻ định hướng đúng trên trang 12 vở
Giúp trẻ làm quen với các qui tắc viết 13 (từ trái qua phải…)
Luyện viết các yếu tố của chữ cái (nét
tròn, nét thẳng đứng, nét móc xuôi, 14
nét móc ngược)
15 Xây dựng môi trường viết, đọc
16 Dạy trẻ sao chép từ, chữ cái
Ý kiến khác: .........................................................................................................................
4. Thầy (cô) hãy cho biết mức độ thầy (cô) sử dụng các biện pháp hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi được nêu ở dưới đây:
Mức độ
Các biện pháp hình thành kỹ năng Không Thường Thỉnh Không TT tiền học đọc học viết thường xuyên thoảng bao giờ xuyên
Hướng dẫn trẻ dùng các từ để gọi tên
1 đối tượng và đồ chơi, các thuộc tính
và các phẩm chất của chúng
Hướng dẫn trẻ tự đặt các câu về đồ 2 chơi, về các bức tranh và kể truyện
Hướng dẫn trẻ tự nghĩ ra những mẩu 3 truyện ngắn
Dạy trẻ chú ý nghe các bài thơ giúp
4 trẻ phát hiện ra từ, các âm thanh được
lặp lại
Dạy trẻ đọc kéo dài một âm vị nào 5 đó có trong một tiếng
6 Làm quen trẻ với tên gọi của âm vị
Dạy trẻ xác định vị trí của âm vị nào
7 đó ở trong tiếng (là âm đầu hay âm
cuối)
Dạy trẻ gọi tên các tiếng đơn giản có 8 chứa một âm vị nào đó
Sử dụng mô hình để diễn tả cấu trúc
9 của một tiếng đơn giản và xác định vị
trí của âm vị nào đó ở trong tiếng
Dạy trẻ đọc một tiếng theo mô hình 10 của tiếng đó
11 Hướng dẫn trẻ đọc các âm tiết
12 Dạy trẻ định hướng đúng trên trang vở
Giúp trẻ làm quen với các qui tắc viết 13 (từ trái qua phải…)
Luyện viết các yếu tố của chữ cái (nét
tròn, nét thẳng đứng, nét móc xuôi, 14
nét móc ngược)
15 Xây dựng môi trường viết, đọc
16 Dạy trẻ sao chép từ, chữ cái
Ý kiến khác ...............................................................................................................
5. Xin thầy/cô cho biết những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hình thành
kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ.
Mức độ Thuận lợi, khó khăn STT
Rất đồng ý Đồng ý Không đồng ý Không có ý kiến Thuận lợi
1
2
3
4
5
6 Có chủ trương phổ cập lớp mẫu giáo 5 tuổi và có yêu cầu cụ thể với giáo viên dạy lớp lá Chương trình giáo dục mầm non đã đề ra các nội dung chi tiết làm quen trẻ với đọc và viết Có đồ dùng, đồ chơi, thiết bịdạy học tối thiểu Trẻ hứng thú học tập GV nhiệt tình với việc hình thành kỹ năng tiền học đọc học viết cho trẻ Phụ huynh quan tâm đến việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết
Ý kiến khác:.........................................................................................................................
Khó khăn
Chỉ đạo việc hình thành kỹ năng tiền học đọc, học viết cho trẻ chưa rõ ràng 1
2
3
4 Cơ sở vật chất, giáo cụ hỗ trợ chưa phong phú Giáo viên mầm non chưa hiểu rõ bản chất của đọc và viết Giáo viên mầm non chưa hiểu rõ bản chất của việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết
5 Cô giáo MN dạy trước chương trình
nhưng không nắm được phương pháp dạy Tiếng Việt ở trường tiểu học (lớp 1) Chữ giáo viên xấu, không đúng quy định các kiểu chữ 6
7
8
9 Chưa thật sự gắn liền việc học đọc – viết với nhu cầu cuộc sống của trẻ và ngôn ngữ nói mạch lạc Trình độ của các trẻ không đồng đều Một số phụ huynh chưa hiểu đúng về bản chất của việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết
Ý kiến khác:.........................................................................................................................
6. Xin thầy (cô) đánh giá về tỷ lệ các trẻ ở trong nhóm lớp của thầy (cô) đã hình
thành các kĩ năng tiền học đọc học viết được nêu dưới đây:
Tỷ lệ Các kỹ năng tiền học đọc học viết STT Không ý kiến
≤20% 21% đến 40% 41% đến 60% 61% đến 80% 81% đến 100% 1
2
3
4
Kĩ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ Kĩ năng tách câu như là đơn vị ý nghĩa của ngôn ngữ Kĩ năng chia câu ra các từ và tạo lập câu từ 2 – 4 từ đơn giản Kĩ năng phân tích các âm thanh (các âm vị) của một tiếng đơn giản Phân biệt nguyên âm và phụ âm Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái
5 6 7 Nhận biết các chữ cái
8
9 Trẻ biết cách ghép chữ thành từ đơn giản Kĩ năng đọc các từ, câu đơn giản, quen thuộc
10 Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng cách 11 Kỹ năng viết các chữ cái 12 Kỹ năng sao chép con chữ 13 Kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá
Kĩ năng thực hiện các qui định trên giờ học 14
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô!
Phụ lục 4b
PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
Để tìm hiểu thực trạng và có cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp hình thành kỹ
năng tiền học đọc học viết cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non
huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, thầy (cô) vui lòng cho biết ý kiến của mình về một
số vấn đề sau:
Phần 1: Thông tin cá nhân
Giáo viên .............................................. lớp: ..... ……………………………………………
Trường ........................................................ . .........................................................................
• Trình độ chuyên môn:
Sơ cấp
Trung cấp
Cao đẳng
Đại học
Sau đại học
Khác (ghi cụ thể): .......................................................................................................
.......................................................................................................................................
• Thâm niên công tác :
Dưới 5 năm
5-10 năm
Trên 10 năm
• Số năm dạy lớp 1: năm?
Phần 2: Nội dung khảo sát
1. Xin thầy (cô) cho ý kiến về bản chất của việc chuẩn bị cho trẻ học đọc,
học viết trước khi vào lớp 1:
Mức độ
Bản chất củaviệc chuẩn bị cho trẻ học STT Rất Đồng Không Không có đọc, học viết đồng ý ý đồng ý ý kiến
Đọc và viết là các dạng của hoạt động
ngôn ngữ, mà cơ sở của chúng là ngôn
ngữ nói 1
Khi chuẩn bị cho việc học đọc, học viết
cần có cả quá trình phát triển ngôn ngữ
trẻ ở trong trường mầm non (nói mạch
lạc; phát âm đúng) 2
Sự phát triển tính có chủ định và sự phản
tỉnh (sự nhận thức) về ngôn ngữ nói của
bản thân trẻ là cơ sở cho việc nắm vững
ngôn ngữ viết sau này 3
Việc đọc là chuyển mã từ chữ cái thành
4 các từ được nói lên
Việc viết là sự chuyển ngôn ngữ nói
5 thành mã chữ cái
Để chuẩn bị cho việc học đọc, học viết,
cần hình thành, phát triển ở trẻ tri giác
nghe âm vị và các kỹ năng phân tích và
tổng hợp âm thanh ngôn ngữ 6
Ý kiến khác: .........................................................................................................................
2. Xin thầy (cô) cho ý kiến về sự cần thiết hình thành các kỹ năng tiền học đọc
học viết cho trẻ mẫu giáo trước khi bước vào lớp 1:
Mức độ
STT Rất cần Cần Không thật Không Các kỹ năng tiền học đọc học viết
thiết thiết cần thiết cần thiết
Kĩ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa 1 độc lập của ngôn ngữ
Kĩ năng tách câu như là đơn vị ý 2 nghĩa của ngôn ngữ
Kĩ năng chia câu ra các từ và tạo lập 3 câu từ 2 – 4 từ đơn giản
Kĩ năng phân tích các âm thanh (các 4 âm vị) của một tiếng đơn giản
5 Phân biệt nguyên âm và phụ âm
6 Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái
7 Nhận biết các chữ cái
Trẻ biết cách ghép chữ thành từ đơn 8 giản
Kĩ năng đọc các từ, câu đơn giản, 9 quen thuộc
10 Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng cách
11 Kỹ năng viết các chữ cái
12 Kỹ năng sao chép con chữ
13 Kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá
Kĩ năng thực hiện các qui định trên 14 giờ học
Ý kiến khác: .........................................................................................................................
3. Xin thầy/cô cho biết những thuận lợi và khó khăn thường gặp phải trong quá
trình dạy đọc, viết Tiếng Việt cho trẻ đầu lớp 1.
Mức độ
Thuận lợi, khó khăn STT Rất Đồng Không Không có
đồng ý ý đồng ý ý kiến
Thuận lợi
Trẻ được làm quen với tiền học đọc học
viết theo chương trình giáo dục mầm non 1 có nội dung chi tiết phù hợp với chương
trình lớp 1.
2 Trẻ hứng thú học tập
Ý kiến khác:.........................................................................................................................
Khó khăn
Trẻ đã được dạy trước chương trình tiểu
1 học từ lớp mẫu giáo nhưng không đúng
phương pháp.
2 Chữ của trẻ xấu, không đúng quy định.
Trình độ của các trẻ không đồng đều 3
Một số phụ huynh cho con đi học thêm 4 ngoài giờ học
Trẻ học trước chương trình nên không 5 hứng thú trong giờ học
Ý kiến khác:.........................................................................................................................
4. Xin thầy (cô) đánh giá về tỷ lệ các kỹ năng tiền học đọc học viết đã được hình
thành ở trẻ vào đầu năm học, khi mới vào học lớp 1 của thầy (cô):
Tỷ lệ
Các kỹ năng tiền học đọc học viết 21% 41% 61% 81% STT Không ≤20% đến đến đến đến ý kiến 40% 60% 80% 100%
Kĩ năng tách từ như là đơn vị ý 1 nghĩa độc lập của ngôn ngữ
Kĩ năng tách câu như là đơn vị ý 2 nghĩa của ngôn ngữ
Kĩ năng chia câu ra các từ và tạo lập 3 câu từ 2 – 4 từ đơn giản
Kĩ năng phân tích các âm thanh (các 4 âm vị) của một tiếng đơn giản
5 Phân biệt nguyên âm và phụ âm
6 Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái
7 Nhận biết các chữ cái
Trẻ biết cách ghép chữ thành từ đơn 8 giản
Kĩ năng đọc các từ, câu đơn giản, 9 quen thuộc
10 Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng cách
11 Kỹ năng viết các chữ cái
12 Kỹ năng sao chép con chữ
13 Kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá
Kĩ năng thực hiện các qui định trên 14 giờ học
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô!
Phụ lục 5a:
Sig (2 – tailed)
Group Statistics KH_THE N Mean Std. Deviation Std. Error Mean
Kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ Kỹ năng tách câu nhưlà đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ
Kĩ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản.
Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái.
Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình
Trẻ ghép được một số chữ đơn giản (2 chữ cái) và đọc được nó
Đọc" được một số từ, câu đơn giản, quen thuộc
Nhận biết một số cấu tạo của một quyển sách.
Thực hiện được một số quy tắc của việc đọc
Ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách Lớp ĐC sau TN Lớp TN sau TN Lớp ĐC sau TN Lớp TN sau TN Lớp ĐC sau TN Lớp TN sau TN Lớp ĐC sau TN Lớp TN sau TN Lớp ĐC sau TN Lớp TN sau TN Lớp ĐC sau TN Lớp TN sau TN Lớp ĐC sau TN Lớp TN sau TN Lớp ĐC sau TN Lớp TN sau TN Lớp ĐC sau TN Lớp TN sau TN Lớp ĐC sau TN 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 3.37 4.00 1.13 4.00 .10 2.60 .70 1.90 .90 1.57 .70 2.47 .63 1.83 2.17 3.00 2.00 2.80 1.53 1.273 .000 .937 1.203 .305 .770 .466 .305 .845 .679 1.055 .681 .809 .531 .834 .000 .000 .407 .629 .232 .000 .171 .220 .056 .141 .085 .056 .154 .124 .193 .124 .148 .097 .152 .000 .000 .074 .115
Kỹ năng thực hiện các quy định trên giờ học
TONG1 30 30 30 30 30 1.87 1.93 2.60 15.17 28.63 .434 1.112 .675 4.990 3.378 .079 .203 .123 .911 .617
Lớp TN sau TN Lớp ĐC sau TN Lớp TN sau TN Lớp ĐC sau TN Lớp TN sau TN Independent Samples Test
t-test for Equality of Means
Levene's Test for Equality of Variances F Sig. t df Sig. (2- tailed) Mean Differe nce Std. Error Differe nce 95% Confidence Interval of the Difference Lower Upper
43.934 .000 -2.726 58 .008 -.633 .232 -1.098 -.168
Kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ -2.726 29.000 .011 -.633 .232 -1.109 -.158
.546 .463 -10.294 58 .000 -2.867 .278 -3.424 -2.309
Kỹ năng tách câu nhưlà đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ -10.294 54.714 .000 -2.867 .278 -3.425 -2.309
16.725 .000 -16.530 58 .000 -2.500 .151 -2.803 -2.197
Kĩ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản. -16.530 37.886 .000 -2.500 .151 -2.806 -2.194 Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed
18.316 .000 -11.798 58 .000 -1.200 .102 -1.404 -.996
Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái. -11.798 50.000 .000 -1.200 .102 -1.404 -.996
2.070 .156 -3.369 58 .001 -.667 .198 -1.063 -.271
Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình -3.369 55.431 .001 -.667 .198 -1.063 -.270
3.540 .065 -7.703 58 .000 -1.767 .229 -2.226 -1.308
Trẻ ghép được một số chữ đơn giản (2 chữ cái) và đọc được nó -7.703 49.601 .000 -1.767 .229 -2.227 -1.306
16.915 .000 -6.795 58 .000 -1.200 .177 -1.554 -.846
Đọc" được một số từ, câu đơn giản, quen thuộc -6.795 50.068 .000 -1.200 .177 -1.555 -.845
100.430 .000 -5.473 58 .000 -.833 .152 -1.138 -.529
Nhận biết một số cấu tạo của một quyển sách. -5.473 29.000 .000 -.833 .152 -1.145 -.522
51.556 .000 -10.770 58 .000 -.800 .074 -.949 -.651
Thực hiện được một số quy tắc của việc đọc -10.770 29.000 .000 -.800 .074 -.952 -.648
15.367 .000 -2.389 58 .020 -.333 .140 -.613 -.054 Ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed
-2.389 51.530 .021 -.333 .140 -.613 -.053
10.629 .002 -2.807 58 .007 -.667 .237 -1.142 -.191
Kỹ năng thực hiện các quy định trên giờ học -2.807 47.799 .007 -.667 .237 -1.144 -.189
3.741 .058 -12.240 58 .000 -13.467 1.100 -15.669 -11.264
TONG1
-12.240 50.967 .000 -13.467 1.100 -15.675 -11.258 Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed
Phụ lục 5b:
Sig (2 – tailed) Group Statistics
KH_THE N Mean Std. Deviation Std. Error Mean
trước 30 3.03 1.564 .286
Kỹ năng tách từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ trước 30 3.10 1.423 .260
trước 30 .87 .819 .150
Kỹ năng tách câu nhưlà đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ trước 30 1.03 .809 .148
trước 30 .00 .000 .000
Kĩ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản. trước 30 .03 .183 .033
trước 30 .77 .430 .079
Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái. trước 30 .73 .450 .082
trước 30 .63 .718 .131
Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình trước 30 .73 .828 .151 Lớp ĐC TN Lớp TN TN Lớp ĐC TN Lớp TN TN Lớp ĐC TN Lớp TN TN Lớp ĐC TN Lớp TN TN Lớp ĐC TN Lớp TN TN
trước .33 30 .711 .130
Trẻ ghép được một số chữ đơn giản (2 chữ cái) và đọc được nó trước .17 30 .592 .108
trước .27 30 .521 .095
Đọc" được một số từ, câu đơn giản, quen thuộc trước .10 30 .403 .074
trước 1.63 30 .850 .155
Nhận biết một số cấu tạo của một quyển sách. trước 1.50 30 1.009 .184
trước 2.00 30 .000 .000
Thực hiện được một số quy tắc của việc đọc trước 2.00 30 .371 .068
trước 1.53 30 .629 .115
Ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách trước 1.53 30 .730 .133
trước 1.87 30 1.008 .184
Kỹ năng thực hiện các quy định trên giờ học trước 2.30 30 .915 .167
trước 30 12.93 3.903 .713 TONG0 Lớp ĐC TN Lớp TN TN Lớp ĐC TN Lớp TN TN Lớp ĐC TN Lớp TN TN Lớp ĐC TN Lớp TN TN Lớp ĐC TN Lớp TN TN Lớp ĐC TN Lớp TN TN Lớp ĐC TN
trước 30 13.23 4.539 .829 Lớp TN TN
Independent Samples Test
t-test for Equality of Means
Levene's Test for Equality of Variances F Sig. t df Sig. (2- tailed) Mean Differ ence Std. Error Differenc e 95% Confidence Interval of the Difference
Lower Upper
tách 1.636 .206 -.173 58 .864 -.067 .386 -.839 .706
-.173 57.486 .864 -.067 .386 -.840 .706 Kỹ năng từ như là đơn vị ý nghĩa độc lập của ngôn ngữ
.180 .673 -.793 58 .431 -.167 .210 -.587 .254
-.793 57.990 .431 -.167 .210 -.587 .254 Kỹ năng tách câu đơn vị ý nhưlà nghĩa độc lập của ngôn ngữ
4.291 .043 -1.000 58 .321 -.033 .033 -.100 .033
Kĩ năng phân tích âm thanh của một tiếng đơn giản. -1.000 29.000 .326 -.033 .033 -.102 .035
.345 .559 .293 58 .770 .033 .114 -.194 .261
Liên hệ đúng đắn âm vị và chữ cái. .293 57.885 .770 .033 .114 -.194 .261 Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed
1.305 .258 -.500 58 .619 -.100 .200 -.501 .301
Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình -.500 56.875 .619 -.100 .200 -.501 .301
2.712 .105 .986 58 .328 .167 .169 -.172 .505
.986 56.156 .328 .167 .169 -.172 .505 Trẻ ghép được một số chữ đơn giản (2 chữ cái) và đọc được nó
6.604 .013 1.387 58 .171 .167 .120 -.074 .407
Đọc" được một số từ, câu đơn giản, quen thuộc 1.387 54.537 .171 .167 .120 -.074 .408
1.444 .234 .554 58 .582 .133 .241 -.349 .615
Nhận biết một số cấu tạo của một quyển sách. .554 56.388 .582 .133 .241 -.349 .616
4.462 .039 .000 58 1.000 .000 .068 -.136 .136
Thực hiện được một số quy tắc của việc đọc .000 29.000 1.000 .000 .068 -.139 .139
.570 .453 .000 58 1.000 .000 .176 -.352 .352
Ngồi học đúng tư thế, cầm viết đúng cách .000 56.748 1.000 .000 .176 -.352 .352
1.217 .275 -1.743 58 .087 -.433 .249 -.931 .064 Kỹ năng thực hiện các quy định trên Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed Equal variances assumed
giờ học -1.743 57.469 .087 -.433 .249 -.931 .064
1.187 .281 -.274 58 .785 -.300 1.093 -2.488 1.888
TONG0
-.274 56.730 .785 -.300 1.093 -2.489 1.889 Equal variances not assumed Equal variances assumed Equal variances not assumed

