BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Ngọc Sáng
CÁC XU HƯỚNG TRONG PHONG TRÀO YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. TS. VÕ XUÂN ĐÀN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn. Từ khi lập quốc, do không ngừng đấu
tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm, cộng đồng dân tộc Việt Nam sớm có ý thức đoàn kết bảo vệ
chủ quyền và xây dựng đất nước mình, lòng yêu nước Việt Nam cũng bắt nguồn từ đó. Trải qua hàng
ngàn năm dựng nước và giữ nước, truyền thống ấy không ngừng được hun đúc và ngày càng phát triển.
Các thế hệ dân tộc Việt Nam, nối tiếp nhau không những bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia mà còn
ngày càng xây dựng đất nước phát triển đi lên. Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ấy, lòng
yêu nước thực sự là động lực để nhân dân ta có thể thực hiện được những chiến công hiển hách làm
rạng ngời những trang sử vẻ vang của dân tộc, và bản thân lòng yêu nước, tự nó, cũng trở thành niềm
tự hào không gì so sánh được của tất cả những ai mang trong mình dòng máu Việt Nam.
Tuy vậy, lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam không phải là một khái niệm thuần nhất. Lòng yêu
nước chịu sự chi phối trực tiếp từ những hoàn cảnh kinh tế xã hội cụ thể, không những thế nó còn thay
đổi cùng với quá trình vận động và phát triển của lịch sử dân tộc. Vì vậy lòng yêu nước trong lịch sử
của dân tộc Việt Nam tuy tồn tại hầu như xuyên suốt trong quá trình tồn tại và phát triển của dân tộc
qua các thời kỳ, thế nhưng biểu hiện của nó thì lại không hề khô khan, bất biến mà vô cùng sinh động
và phong phú. Do những đặc thù của hoàn cảnh kinh tế xã hội nước ta ở các thời điểm khác nhau và
đặc điểm riêng của các địa phương cụ thể, mà lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam cũng có những biểu
hiện đặc trưng trong từng giai đoạn lịch sử, đồng thời còn mang đậm dấu ấn vùng miền.
Biểu hiện của lòng yêu nước trong khoảng thời gian đấu tranh chống thực dân Pháp ở Nam Bộ đầu
thế kỷ XX là một trong những minh chứng tiêu biểu nhất cho điều đó.
Vùng đất Nam Bộ là một vùng đất mới được cư dân người Việt khai phá từ khoảng thế kỷ XVI -
XVII. Do những điều kiện lịch sử cụ thể, thành phần cư dân nơi đây được cấu thành từ nhiều bộ phận
có nguồn gốc khác nhau. Hơn thế nữa, Nam Bộ, do vị trí địa lý đặc biệt của nó, cũng là nơi hội tụ của
rất nhiều luồng văn hóa từ những vùng khác nhau trên thế giới. Trong lịch sử nơi đây đã từng chịu ảnh
hưởng của các trung tâm văn hóa lớn của thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, ảnh hưởng của văn hóa các
quốc gia xung quanh như Thái Lan, Campuchia và các nước Đông Nam Á khác. Ngoài ra, từ thế kỷ
XVIII, với vai trò là một trung tâm thương mại, thương thuyền của hàng loạt các quốc gia khác nhau
trên thế giới đến đây buôn bán và đồng thời thông qua đó những luồng văn hóa trên thế giới có những
điều kiện thuận lợi để du nhập vào Nam Bộ. Và nếu như các vùng khác của Đông Dương, sau khi bị
thực dân Pháp tấn công xâm lược, chỉ là xứ bảo hộ của Pháp thì vùng Nam bộ có một lịch sử riêng.
Năm 1972, nơi đây chính thức trở thành thuộc địa của Pháp. Trở thành thuộc địa của Pháp, bản sắc văn
hóa của vùng Nam bộ, vì thế, lại có những đặc điểm riêng, không giống với các vùng miền khác trên
lãnh thổ Việt Nam. Tất cả những điều đó đã tạo cho vùng Nam Bộ một bản sắc văn hóa đa dạng mà lại
rất đặc thù.
Từ những điều kiện cụ thể trên, lòng yêu nước ở Nam Bộ Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX có
những đặc điểm riêng không thể nhầm lẫn. Sự đa dạng về bản sắc văn hóa dẫn đến việc ở Nam Bộ xuất
hiện hàng loạt các xu hướng yêu nước khác nhau. Mỗi xu hướng yêu nước có một mục tiêu và phương
pháp đấu tranh riêng. Trong một chừng mực nào đó, các phong trào yêu nước có những sự liên hệ và
hỗ trợ nhau để hướng tới mục đích chung: Đánh đuổi giặc Pháp, giành độc lập dân tộc. Sự phối hợp ấy
thực sự đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để làm nên sức mạnh của phong trào đấu tranh của nhân dân
Nam Bộ.
Nhưng mặc dù có nhiều điểm tương đồng, các xu hướng yêu nước ấy vẫn có những khác biệt rất cơ
bản, và chính vì vậy, giữa các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX luôn có sự đấu tranh với
nhau, khi êm ả, lúc quyết liệt. Trong quá trình ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đứng ở vị trí trung
tâm, đóng vai trò đoàn kết và thống nhất các xu hướng yêu nước khác để hướng tất cả vào sự nghiệp
chung. Và vì vậy những thành quả trong các phong trào đấu tranh cách mạng ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX
không phải là sự thể hiện sức mạnh của bản thân Đảng Cộng sản, mà là sự thể hiện sức mạnh tổng hợp
của tất cả các phong trào yêu nước, được hội tụ vào những mục tiêu cách mạng mà Đảng đề ra. Điều đó
tạo nên sự sinh động và đặc thù của lịch sử Nam Bộ nói riêng.
Nghiên cứu về những lòng yêu nước của một vùng đất xuất hiện nhiều xu hướng yêu nước khác
nhau và lịch sử chứa đầy những biến động thăng trầm như vùng Nam Bộ là một vấn đề khó khăn và
phức tạp. Nhưng tất nhiên những vấn đề khó khăn luôn là một sức cuốn hút mãnh liệt đối với những
người nghiên cứu khoa học. Đó cũng là lý do tôi lựa chọn đề tài CÁC XU HƯỚNG TRONG PHONG
TRÀO YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX làm đề tài luận văn tốt nghiệp chương trình
cao học niên khóa 2007 - 2010 của mình. Mục đích nghiên cứu của đề tài không gì khác hơn là góp
phần khái quát lại những xu hướng yêu nước xuất hiện ở vùng đất Nam Bộ trong nửa đầu thế kỷ XX,
với những mối liên hệ, hỗ trợ và cả đấu tranh giữa chúng. Để từ đó có thể góp phần vào việc nhận thức
toàn diện hơn về lịch sử vùng đất Nam Bộ nói riêng cũng như toàn bộ lịch sử Việt Nam nói chung.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Lịch sử vùng Nam Bộ Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là một bức tranh sinh động và rộng lớn với
những vận động và biến đổi trên rất nhiều các phương diện, lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nơi
đây. Ngay bản thân cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp để giành lại độc lập chủ quyền, xây dựng và
bảo vệ đất nước của nhân dân Nam Bộ, vốn chỉ là một bộ phận của lịch sử vùng Nam Bộ, đã là một
một hệ thống phức tạp các mặt trận đối đầu không khoan nhượng. Đề tài không thể và cũng không có ý
định nghiên cứu một cách tường tận tất cả các phương diện trong giai đoạn lịch sử đầy biến động này
của vùng Nam Bộ, mà chỉ tập trung vào một đối tượng nghiên cứu nhỏ, đó là vấn đề xem xét, tìm hiểu
sự xuất hiện và phát triển, sự liên hệ cũng như đấu tranh của các xu hướng yêu nước ở vùng đất Nam
Bộ trong khoảng thời gian đó dưới vai trò lãnh đạo trung tâm của Đảng và những đóng góp của các xu
hướng này đối với tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chỉ là một vấn đề nhỏ trong lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, lại chỉ gói
gọn trong vùng Nam bộ, nhưng không vì vậy mà phạm vi nghiên cứu của đề tài bị thu hẹp, mà ngược
lại, phạm vi nghiên cứu của đề tài là hết sức rộng lớn, đa dạng và phong phú.
Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp ở Nam bộ chỉ là một bộ phận trong toàn bộ cuộc đấu tranh
trường kỳ và vĩ đại của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng tất nhiên cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Bộ
cũng mang một tầm quan trọng đặc biệt và có sự phối hợp và liên quan trực tiếp đến các vùng miền
khác trên phạm vi cả nước. Mặt khác, do các xu hướng yêu nước luôn có cơ sở xuất phát từ những điều
kiện kinh tế xã hội thực tế cụ thể. Vì vậy, đối với vấn đề nghiên cứu vấn đề các xu hướng yêu nước ở
Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, thực chất, phạm vi nghiên cứu của đề tài là tổng thể lịch sử Việt Nam giai
đoạn này trên tất cả các phương diện.
Và không chỉ có thế, kẻ thù và cũng là đối tượng chủ yếu của các cuộc đấu tranh của nhân dân Nam
Bộ, hay rộng hơn là của dân tộc Việt Nam trong suốt mấy chục năm trời gian khổ đầu thế kỷ XX là
thực dân Pháp. Nhưng thực tế lịch sử không hoàn toàn đơn giản như vậy, kẻ thù xâm lược ở Nam Bộ
Việt Nam còn quy tụ rất nhiều các lực lượng khác: Quân đội Nhật, quân đội Anh và đế quốc Mỹ. Vì
vậy, nghiên cứu đề tài các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX nhất thiết phải được mở
rộng ra các đối tượng này. Hay nói cách khác là phạm vi nghiên cứu được tiếp tục mở rộng ra bối cảnh
cụ thể của tình hình thế giới trong giai đoạn đó.
Về mặt thời gian cũng tương tự như vậy, tuy đề tài chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu các xu hướng
yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX nhưng trong quá trình nghiên cứu nhất thiết vẫn phải mở rộng
nghiên cứu các khoảng thời gian trước và sau giai đoạn đó để có thể thấy được sự tiếp nối và kế thừa
của lịch sử cũng như khuynh hướng phát triển của các xu hướng yêu nước ấy.
Cần nhấn mạnh rằng, đối tượng nghiên cứu của đề tài nhỏ bé nhưng phạm vi nghiên cứu lại rộng
lớn không phải là một sự mâu thuẫn, mà sẽ là một sự bổ sung hoàn hảo cho nhau. Tính chất rộng lớn
của phạm vi nghiên cứu sẽ tạo tiền đề thuận lợi để có thể đào sâu nghiên cứu vào đối tượng nghiên cứu
chính, nhằm thực hiện một cách tốt nhất những nhiệm vụ mà mục đích nghiên cứu đã đề ra.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề nghiên cứu về các phong trào đấu tranh yêu nước ở vùng đất Nam Bộ không phải là một đề
tài nghiên cứu mới, vấn đề này từ trước tới nay đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến khá nhiều, gồm
các nhà nghiên cứu về lịch sử Việt Nam và các nhà nghiên cứu lịch sử Đảng, cả các nhà nghiên cứu
trong nước và nước ngoài.
Tùy vào mục đích của từng công trình nghiên cứu cụ thể mà các công trình nghiên cứu về các
phong trào yêu nước ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX cũng có những cách tiếp cận vấn đề từ các góc độ khác
nhau, trực tiếp cũng như gián tiếp. Mặc dù vậy, do các yếu tố chủ quan cũng như khách quan, các công
trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này vẫn có một số hạn chế. Một công trình chuyên sâu và đầy đủ
về vấn đề này cho đến nay vẫn chưa được xuất bản.
Đối với các công trình trình bày chung về tiến trình lịch sử Việt Nam, như Đại Cương Lịch sử Việt
Nam, tập 2 và 3, Nxb Giáo Dục, Hà Nội của các tác giả Lê Mậu Hãn chủ biên, Trần Bá Đệ, Nguyễn
Văn Thư, xuất bản năm 2003; Đại cương lịch sử Việt Nam, toàn tập: từ thời nguyên thủy đến năm 2000
của Trương Hữu Quýnh và những người khác, Nxb Giáo dục, Hà Nội, xuất bản năm 2003; Lịch sử Việt
Nam (Đầu thế kỷ XX - 1918) của Nguyễn Văn Kiêm, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, xuất bản năm 1976; Lịch
sử Việt Nam của Huỳnh Công Bá, Nxb. Thuận Hóa, Huế, xuất bản năm 2008… đều trình bày những
nét lớn về tiến trình lịch sử của cả nước nói chung và vùng Nam Bộ nói riêng nửa đầu thế kỷ XX. Các
công trình này dều đề cập đến các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ, với quá trình ra đời và phát triển cơ
bản của chúng, nhưng bởi đây là những công trình mang tính chất đại cương, các tác giả không thể
trình bày vấn đề một cách chi tiết và chuyên sâu.
Tương tự như vậy là các công trình nghiên cứu về các phong trào yêu nước ở Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX. Có thể kể đến các công trình như: Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX - Một
cách tiếp cận của Đỗ Thanh Bình, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, xuất bản năm 2006; Sự chuyển biến
của phong trào yêu nước và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX
của Đinh Trần Dương, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2006; Phong trào Duy Tân của
Nguyễn Văn Xuân, Nxb Đà Nẵng, xuất bản năm 1995… Do các công trình này trình bày về các phong
trào yêu nước trên phạm vi cả nước nên không thể trình bày một cách đầy đủ về phong trào yêu nước ở
Nam Bộ nói riêng.
Các công trình nghiên cứu về các tổ chức tôn giáo và chính trị ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX như
Đạo Cao Đài và chính trị, Luận văn tốt nghiệp, Học viện Quốc gia hành chánh, Sài Gòn của Phan Kỳ
Chưởng niên khóa năm 1973, Bộ đội Bình Xuyên, Nxb. Lao động, Hà Nội của các tác giả Hồ Sơn Đài,
Đỗ Tầm Chương, Hồ Khang xuất bản năm 2005; Nhận thức Phật giáo Hòa Hảo, Nxb. Hương Sen, Sài
Gòn của Nguyễn Văn Hầu, xuất bản năm 1968 … và các công trình nghiên cứu về các phong trào yêu
nước xuất hiện ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX như Phong trào Đông Du ở Miền Nam, của tập thể tác
giả tham gia hội thảo “Phong trào Đông Du ở Miền Nam”, Nxb. Văn hóa Sài Gòn, TP.HCM, xuất bản
năm 2007; Phong trào Duy Tân ở Bắc, Trung, Nam; Miền Nam đầu thế kỷ XX - Thiên Địa hội và cuộc
minh tân, của Sơn Nam, Nxb Trẻ, TP.HCM, xuất bản năm 2003; Nam Kỳ khởi nghĩa do Lưu Phương
Thanh chủ biên, Nxb. TP.HCM, xuất bản năm 1990; Hội kín Nguyễn An Ninh, Nxb Nguyễn Tri
Phương, Chợ Lớn, xuất bản năm 1961… Tất cả đều là các công trình đi sâu nghiên cứu về những tổ
chức và phong trào yêu nước chủ yếu ở vùng Nam Bộ trong nửa đầu thế kỷ XX, nhưng bản thân mỗi
công trình chỉ đào sâu vào một tổ chức, một phong trào nhất định nên chưa bao quát được toàn bộ vấn
đề nghiên cứu tổng quan về các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ trong khoảng thời gian này, đặc biệt là
sự ảnh hưởng cũng như vai trò của Đảng đối với các phong trào yêu nước theo các xu hướng khác nhau
ở Nam Bộ.
Các công trình nói về những cá nhân có ảnh hưởng lớn đến sự xuất hiện và phát triển của các xu
hướng yêu nước ở Nam Bộ cũng gián tiếp đề cập đến mảng đề tài này. Ví dụ như các công trình: Bảy
Viễn - thủ lĩnh Bình Xuyên, tuyển tập của tác giả Nguyên Hùng Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội xuất
bản năm 2004; Phan Bội Châu niên biểu, Nxb. Văn Nghệ, TP.HCM, xuất bản năm 2001; Cao Triều
Phát, nghĩa khí Nam Bộ của Phan Văn Hoàng, Nxb Trẻ, TPHCM, xuất bản năm 2001; Phan Châu
Trinh - Thân thế và sự nghiệp, của Huỳnh Lý, Nxb Trẻ, TP.HCM, xuất bản năm 2002; Nguyễn An
Ninh - Dấu ấn để lại của Lê Minh Quốc, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, xuất bản năm 2007… Bởi trong một
chừng mực nào đó, đây là các cá nhân đại diện và tác động sâu sắc đến các xu thế yêu nước khác nhau
xuất hiện ở vùng Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, vì đối tượng nghiên cứu của các công trình
này chỉ là các cá nhân cụ thể, nên không thể đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về các phong trào yêu nước
ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX.
Các công trình nghiên cứu về lịch sử Đảng nói chung và lịch sử Đảng các địa phương ở Nam Bộ
như Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2000) của các tác giả Nguyễn Hữu
Trí, Nguyễn Thị Phương Hồng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2005; Lịch sử Đảng Bộ
Thành Phố Hồ Chí Minh, của Phạm Văn Thắng, Cao Tự Thanh và những người khác, Nxb Tổng hợp
TP.HCM, xuất bản năm 20007; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Minh Hải 1930 - 1975 của tác giả Huỳnh Lứa và
những người khác, Nxb. Mũi Cà Mau, xuất bản năm 1995… lại chủ yếu đề cập đến sự phát triển của
Đảng, với sự lãnh cụ thể bằng các chủ trương, sách lược trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể mà ít quan
tâm đến các phong trào yêu nước theo các khuynh hướng khác, đặc biệt là những đóng góp của các
phong trào này cho phong trào cách mạng nói chung ở Nam Bộ.
Đặc biệt gần gũi với đề tài này là công trình nghiên cứu của giáo sư Trần Văn Giàu: Sự phát triển
của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, gồm 3 tập ( tập 1: Hệ ý thức phong
kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, tập 2: Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó
trước các nhiệm vụ lịch sử, tập 3: Thành công của chủ nghĩa Mác Lênin - Tư tưởng Hồ Chí Minh),
Nxb TP. HCM, xuất bản năm 1993. Đây là công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu về mảng đề tài
tư tưởng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, và tất nhiên có đề cập đến vùng Nam Bộ. Nhưng vì công trình
này tập trung nghiên cứu về sự phát triển của tư tưởng trên phạm vi cả nước, nên việc đề cập đến
những xu hướng yêu nước ở Nam Bộ còn có những hạn chế nhất định, bởi đây chỉ là một bộ phận nhỏ
trong đối tượng nghiên cứu của công trình.
Tóm lại tất cả các công trình trên tuy hầu như đã khái quát được sự ra đời và phát triển của các xu
hướng yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, do các lý do chủ quan và khách quan, các
công trình trên chưa thật sự đào sâu nghiên cứu về vấn đề các xu hướng yêu nước ở vùng Nam Bộ nửa
đầu thế kỷ XX, đặc biệt là trong vấn đề phân tích vai trò của Đảng đối với các xu hướng yêu nước theo
các xu hướng khác nhau, vốn xuất hiện rất nhiều ở Nam Bộ giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Thực tế cho
thấy mỗi công trình chỉ phản ánh một khía cạnh nhỏ của toàn bộ mảng đề tài này. Do đó, thực hiện đề
tài này, hi vọng đề tài có thể kế thừa một cách tốt nhất những thành quả của các công trình nghiên cứu
đi trước để có thể khái quát lại một cách toàn diện và hệ thống hơn về toàn bộ vấn đề này.
4. Nguồn tư liệu
Nghiên cứu về lòng yêu nước là một mảng đề tài chủ đạo đối với các nhà nghiên cứu lịch sử. Đặc
biệt, đối với dân tộc Việt Nam, lòng yêu nước cũng là một trong những đặc điểm nổi bật nhất, là sợi chỉ
đỏ xuyên suốt tiến trình lịch sử dựng nước củacủa dân tộc. Nguồn tư liệu có thể phục vụ cho việc
nghiên cứu đề tài này, vì thế, vô cùng phong phú và đa dạng. Hơn thế nữa giai đoạn lịch sử nửa đầu thế
kỷ XX của Việt Nam, từ trước tới nay là một lĩnh vực mà các nhà sử học, trong nước và cả nước ngoài
đã dày công nghiên cứu.
Nguồn tư liệu đầu tiên không thể không nhắc đến đó là các công trình đại cương nghiên cứu về lịch
sử Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX. Có thể kể đến một số công trình: Đại cương lịch sử Việt Nam,
toàn tập: từ thời nguyên thủy đến năm 2000, Nxb. Giáo dục Hà Nội của Trương Hữu Quýnh và những
người khác, xuất bản năm 2003; Lịch sử Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa, Huế của Huỳnh Công Bá, xuất
bản năm 2008; Đại Cương Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội của tập thể tác giả Lê Mậu
Hãn chủ biên, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, xuất bản năm 2003…
Một nguồn tư liệu khác là các công trình nghiên cứu về cuộc đấu tranh chống Pháp ở Nam Bộ, công
trình này phần nào cũng trình bày một cách khái quát giống như các công trình đại cương nói trên,
nhưng chi tiết hơn rất nhiều bởi đây là các công trình chuyên sâu nghiên cứu về cuộc kháng chiến ở
Nam Bộ: Nam Bộ và Nam Phần Trung Bộ trong hai năm đầu kháng chiến (1945 - 1946), Nxb. Văn Sử
Địa, Hà Nội của Nguyễn Việt biên soạn xuất bản năm 1957; Chiến khu ở miền Đông Nam Bộ (1945 -
1954), Nxb. TP.HCM của Hồ Sơn Đài, xuất bản năm 1996; Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945 -
1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội do Trần Viết Tá chủ biên, xuất bản năm 1990; Miền Đông Nam
Bộ lịch sử và phát triển của Nguyễn Hanh, Nxb TPHCM, xuất bản năm 1984…
Tiếp theo là những công trình nghiên cứu về các đảng phái và tổ chức chính trị ở Nam Bộ trong
kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954, đơn cử như các công trình Bảy Viễn - thủ lĩnh Bình Xuyên, tuyển
tập, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội của tác giả Nguyên Hùng, xuất bản năm 2004; Nhận thức Phật
giáo Hòa Hảo, Nxb. Hương Sen, Sài Gòn của tác giả Nguyễn Văn Hầu, xuất bản năm1968; Bộ đội
Bình Xuyên, Nxb. Lao động, Hà Nội của tập thể tác giả Hồ Sơn Đài, Đỗ Tầm Chương, Hồ Khang, xuất
bản năm 2005; Đạo Cao Đài và chính trị, Luận văn tốt nghiệp, Học viện Quốc gia hành chánh, Sài
Gòn của Phan Kỳ Chưởng, niên khóa 1970 - 1973…
Các công trình nghiên cứu về các phong trào đấu tranh yêu nước của các tầng lớp nhân dân Nam Bộ
trong kháng chiến chống Pháp cũng là một nguồn tư liệu quý giá, có thể đem lại một cái nhìn toàn diện
về cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Bộ. Có thể kể đến các công trình như: Phụ nữ Nam Bộ thành
đồng, Nxb. Phụ Nữ, TP.HCM của Tổ sử phụ nữ Nam Bộ, xuất bản năm 1989; Trí thức Nam Bộ trong
kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Nxb.Đại học quốc gia, TP.HCM của Hồ Sơn Diệp, xuất bản
năm 2003…
Các công trình nghiên cứu lịch sử Đảng nói chung và lịch sử Đảng Bộ các địa phương ở Nam Bộ
cũng là một nguồn tư liệu cực kỳ quan trọng, nó giúp ta có một cái nhìn toàn diện hơn về những chủ
trương đối với vấn đề nghiên cứu các xu hướng yêu nước và các phong trào đấu tranh ở Nam bộ trong
giai đoạn này. Có thể kể đến các công trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện công nghệ bưu
chính viễn thông, Hà Nội, của Trần Thị Minh Tuyết, Nguyễn Thị Hồng Vân, xuất bản năm 2007, Lịch
sử Đảng bộ Miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 -
1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội của Lâm Hiếu Trung chủ biên, xuất bản năm 2003; Lịch sử
Đảng Bộ Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp TP.HCM của Phạm Văn Thắng, Cao Tự Thanh và
những người khác, xuất bản năm 2007; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Minh Hải 1930 - 1975, Nxb. Mũi Cà Mau
của Huỳnh Lứa và những người khác, xuất bản năm 1995…
Một nguồn tư liệu hết sức quan trọng khác là các tác phẩm thuộc thể loại hồi ký. Đây là những hồi
ức của những con người đã từng trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, là
những nhân chứng lịch sử. Có thể kể đến một số tác phẩm sau: Công nhân Nam Bộ trong khói lửa,
Nxb. Lao Động, Hà Nội của Vũ Ngọc Nguyên, xuất bản năm 1959; Nam bộ thành đồng Tổ quốc đi
trước về sau - Hồi ký kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội của nhiều tác
giả, xuất bản năm 1999… Tuy nhiên, các câu chuyện của họ trong hồi ký mặc dù sinh động và hấp dẫn
nhưng rất có thể không đảm bảo được sự chính xác. Một phần vì có sự thêm thắt, một phần vì trí nhớ
của các nhân chứng đó không đảm bảo sự chính xác tuyệt đối. Vì vậy, đối với các ông trình loại này
cần phải có sự thẩm định và đối chiếu với các công trình nghiên cứu khoa học khác.
Cũng gần giống như thể loại Hồi ký, các tiểu thuyết tư liệu về vùng Nam Bộ trong cuộc đấu tranh
trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược cũng có tính chất tương tự. Bất cứ một tiểu thuyết nào cũng
không thể tránh khỏi các tình tiết hư cấu. Đối với loại tiểu thuyết tư liệu, mặc dù tác giả đã cố gắng hạn
chế đến mức thấp nhất điều đó nhưng cố nhiên vẫn không thể nào loại bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, nếu
biết cách khai thác thì các tư liệu loại này cũng là một nguồn tư liệu hết sức quý giá, vấn đề chỉ là việc
thẩm định và lựa chọn các sự kiện một cách chính xác nhất. Các công trình loại này gồm có: Sư thúc
Hòa Hảo, tiểu thuyết tư liệu, Nxb. Tổng hợp Hậu Giang, xuất bản năm 1990 và Người Bình Xuyên, tiểu
thuyết tư liệu, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, xuất bản năm 1988 của tác giả Nguyên Hùng.
Các công trình nghiên cứu về lịch sử và văn hóa của vùng Nam Bộ cũng có tác dụng không nhỏ
trong việc phục vụ bổ trợ cho công tác nghiên cứu đề tài. Ví dụ như các công trình Văn hóa và cư dân
Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội của tập thể tác giả Nguyễn Công Bình, Lê
Xuân Diệm, Mạc Đường, xuất bản năm 1990; Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb. TP.HCM của
các tác giả Huỳnh Lứa chủ biên, Lê Quang Minh, Lê Văn Nam, Nguyễn Nghị, Đỗ Hữu Nghiêm, xuất
bản năm 1987; Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội do các tác giả Vũ Minh
Giang chủ biên, Nguyễn Quang Ngọc, Lê Trung Dũng, Cao Thanh Tân, Nguyễn Sỹ Tuấn, xuất bản
năm 2006…
Cuối cùng, đề tài cũng sử dụng một số tư liệu từ sách điện tử và internet. Đây là một nguồn tài liệu
vô cùng phong phú và đa dạng nhưng tính khoa học lại không cao. Vì vậy trong quá trình khai thác
nguồn tài liệu này rất cần có sự thận trọng, nhất thiết phải có sự so sánh, đối chiếu với các nguồn tài
liệu khác để thẩm tra. Có như vậy mới đảm bảo tính chính xác và khoa học cho đề tài.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, tôi có sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp tiếp cận hệ
thống, phương pháp lịch sử và phương pháp logic, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp so
sánh và một số phương pháp khác.
Bản thân lịch sử vùng Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX là một chỉnh thể bao gồm tổng hòa của các hệ
thống quan hệ. Cuộc đấu tranh của nhân dân ở Nam Bộ chống Pháp ở Nam Bộ thực chất chỉ là một bộ
phận của toàn bộ hệ thống đó. Hơn thế nữa lịch sử vùng Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX cũng không nằm
riêng rẽ độc lập mà chịu sự chi phối trực tiếp của bối cảnh thế giới trong giai đoạn ấy. Do đó, phương
pháp nghiên cứu của đề tài nhất thiết cũng phải tiến hành trên quan điểm của phương pháp tiếp cận hệ
thống. Đó là đặt quá trình xuất hiện, phát triển của các xu hướng đấu tranh yêu nước của nhân dân
Nam Bộ với tư cách là một bộ phận trong hệ thống bối cảnh của cuộc lịch sử Nam Bộ nói riêng và toàn
bộ cả nước nói chung, hay rộng hơn là trong hoàn cảnh cụ thể của thế giới giai đoạn đầu thế kỷ XX với
những mối liên hệ, tác động qua lại của các yếu tố, của các lĩnh vực khác nhau.
Phương pháp lịch sử thể hiện ở chỗ đặt bản thân vấn đề nghiên cứu các xu hướng yêu nước ở Nam
Bộ trong bối cảnh lịch sử cụ thể của giai đoạn đầu thế kỷ XX, trong mối tương quan lực lượng và tình
thế cụ thể giữa nhân dân ta và thực dân Pháp xâm lược. Bất cứ việc nhìn nhận hoặc đánh giá một vấn
đề nào cũng không thể không căn cứ vào bối cảnh lịch sử cụ thể cũng như đặc điểm riêng của điều kiện
tự nhiên - xã hội và con người Nam Bộ. Đồng thời, phương pháp lịch sử còn thể hiện ở chỗ diễn biến
của các sự kiện trong đề tài đều được trình bày theo trình tự thời gian.
Phương pháp lịch sử không được sử dụng riêng rẽ mà cần thiết phải đi kèm với phương pháp logic.
Nghiên cứu lịch sử không phải chỉ là dựng lại quá khứ, khôi phục lại những sự kiện đã xảy ra mà còn
phải tìm cho ra bản chất và quy luật của tiến trình phát triển của lịch sử. Phương pháp logic chính là
công cụ đóng vai trò giải thích các biến cố, liên kết các sự kiện, rút ra những quy luật trong quá trình
nghiên cứu. Đặc biệt trong vấn đề nhìn nhận và đánh giá tầm quan trọng của các xu hướng yêu nước ở
Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, phương pháp logic sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc làm rõ sự tác động
qua lại giữa các xu hướng yêu nước, sự chi phối của các điều kiện thực tế lịch sử cụ thể. Đồng thời qua
đó phương pháp logic cũng là công cụ để rút ra những bài học lịch sử cụ thể để vận dụng vào hoàn
cảnh xây dựng đất nước hiện nay, định hướng cho sự phát triển của dân tộc trong bối cảnh mới.
Cần nhấn mạnh rằng, phải có sự phối hợp sử dụng đồng thời cả hai phương pháp trên mới có thể
phát huy được hiệu quả nghiên cứu cao nhất. Bởi chúng có sự bổ sung và hỗ trợ cho nhau. Sử dụng
phương pháp này mà không sử dụng phương pháp kia hoặc sử dụng cả hai phương pháp mà không có
sự phối hợp với nhau thì cũng đều khó đi đến chân lý khách quan.
Sự phối hợp hai phương pháp trên đều dựa trên nền tảng của phương pháp duy vật biện chứng. Lịch
sử luôn luôn vận động và phát triển, nhưng sự vận động và phát triển đó không diễn ra một cách ngẫu
nhiên mà tuân theo quy luật, các biến cố lịch sử đều có nguồn gốc sâu xa từ những cơ sở kinh tế xã hội
của bản thân xã hội đó. Nhiệm vụ của người nghiên cứu lịch sử là phải tìm ra được bản chất của lịch sử
cũng như phát hiện ra cái nguyên nhân, cái quy luật chi phối tiến trình vận động của lịch sử. Và để có
thể giải thích được các biến cố lịch sử một cách khoa học và chính xác nhất, nhất thiết phải quán triệt
phương pháp duy vật biện chứng. Vấn đề nghiên cứu các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ
XX cũng không phải là ngoại lệ.
Riêng đối với đề tài này, phương pháp so sánh có vai trò đặc biệt quan trọng. Phương pháp so sánh
không chỉ là công cụ để thấy được sự phát triển của các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân
Nam Bộ trước và sau khi có sự lãnh đạo của Đảng, mà còn để thấy được những nét tương đồng và dị
biệt của các xu hướng yêu nước xuất hiện ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, cũng như tìm ra những nét
đặc thù của các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ với các địa phương khác trên phạm vi cả nước.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương phác khác như phương pháp liên ngành (khai thác một
số tài liệu văn học, địa lý…), phương pháp liệt kê (để tìm hiểu một cách có hệ thống tất cả các xu
hướng yêu nước xuất hiện ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX) và một số các phương pháp khác.
Chỉ có sự vận dụng một cách nhuần nhuyễn và thích hợp toàn bộ các phương pháp trên mới có một
cái nhìn thực sự khách quan và đúng đắn khi xem xét, đánh giá một hiện tượng hay một cá nhân trong
lịch sử.
6. Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu về các xu hướng yêu nước xuất hiện ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX trong cách mạng
Việt Nam không phải là một đề tài mới. Các công trình đi trước gần như đã bao quát được mảng đề tài
này. Tuy nhiên, dựa vào kết quả của các nhà nghiên cứu đi trước, đề tài hi vọng có thể phát triển những
thành quả đó để có thể có những đóng góp mới cho ngành khoa học lịch sử nói chung và cả cho công
tác giảng dạy trong các trường phổ thông hiện nay.
Trước hết, đối với công tác nghiên cứu khoa học. Mặc dù mảng đề tài về các xu hướng yêu nước
xuất hiện ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX chỉ là một bộ phận rất nhỏ của lịch sử dân tộc Việt Nam nói
chung, nhưng thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề này, tôi hi vọng đề tài sẽ góp phần đưa
ra một cách tiếp cận giai đoạn lịch sử đầu thế kỷ XX của Việt Nam theo một hướng mới, để thông qua
đó có thể bổ sung thêm những tri thức quan trọng và cần thiết, nhằm lấp dần những khoảng trống trong
nhận thức về giai đoạn lịch sử của vùng Nam Bộ nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung trong giai
đoạn đầu thế kỷ XX. Những tri thức mà đề tài này đề cập chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ để có thể
nhận thức về một giai đoạn lịch sử hào hùng và vĩ đại của dân tộc Việt Nam một cách bao quát nhất,
khoa học nhất. Đồng thời, từ những nhận thức đúng đắn đó, chúng ta mới có thể rút ra những bài học
có giá trị thực tiễn đối với hoàn cảnh cụ thể hiện nay thông qua những bài học từ quá khứ.
Thứ hai, đối với công tác giảng dạy. Giai đoạn lịch sử nửa đầu thế kỷ XX là một nội dung hết sức
quan trọng trong chương trình giảng dạy lịch sử ở bậc phổ thông trung học. Việc có một công trình
nghiên cứu chuyên sâu về các xu hướng yêu nước, tuy chỉ gói gọn trong vùng Nam Bộ, nhưng cũng sẽ
là một điều kiện hết sức thuận lợi để người giáo viên phổ thông có thêm tư liệu và những kiến thức cần
thiết phục vụ cho công tác giảng dạy, góp phần làm cho việc giảng dạy trở nên sinh động và toàn diện
hơn. Và cuối cùng thông qua đó, có thể giáo dục cho thế hệ tương lai của đất nước niềm tự hào dân tộc,
lòng yêu nước nồng nàn để ra sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc thiêng liêng của dân tộc mình.
Những đóng góp của luận văn như trên có thể vẫn còn những hạn chế nhất định. Điều đó làm cho
đề tài rất cần có những ý kiến đóng góp phản biện của những người cùng làm công tác nghiên cứu lịch
sử. Đồng thời cũng đòi hỏi người thực hiện đề tài phải nỗ lực để tiếp tục hoàn thiện vấn đề này hơn nữa
trong tương lai.
7. Bố cục luận văn
Luận văn gồm có 162 trang, gồm:
Phần mở đầu
Chương một: Các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ từ đầu thế kỷ XX đến trước khi thành
lập Xứ ủy Nam Kỳ
Chương hai: Phong trào yêu nước ở Nam Bộ sau khi có sự lãnh đạo của Đảng đến
Cách mạng tháng Tám (1930 - 1945)
Chương ba: Đặc điểm và khuynh hướng phát triển của chủ nghĩa yêu nước ở Nam Bộ
Phần nội dung: Có ba chương
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
Tài liệu tham khảo
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG MỘT
CÁC XU HƯỚNG YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN
TRƯỚC KHI THÀNH LẬP
XỨ ỦY NAM KỲ
1.1 Một số nét khái quát về vùng Nam Bộ
1.1.1 Vấn đề tên gọi Nam Bộ và Nam Kỳ trong lịch sử Việt Nam
Trong lịch sử của các vùng miền lãnh thổ trên đất nước Việt Nam, có lẽ hiếm có địa phương nào lại
có một hoàn cảnh đặc biệt như vùng Nam Bộ. Đặc biệt ở cả những biến động thăng trầm của lịch sử và
cả vấn đề tên gọi. Có thể nói, vùng đất Nam Bộ từ khi in dấu chân con người đến nay đã trải qua không
ít lần thay đổi tên gọi. Mỗi tên gọi đều ứng với một giai đoạn lịch sử nhất định và có lẽ những tên gọi
ấy phần nào cũng gợi lên trong tiềm thức mỗi người dân Nam Bộ những hoài niệm và tự hào về một
thời đại đã qua của thế hệ cha ông nơi mảnh đất này.
Riêng đối với các nhà nghiên cứu lịch sử, thì việc nắm bắt một cách rõ ràng những tên gọi của vùng
đất Nam Bộ qua các thời kỳ phát triển lại càng quan trọng hơn nữa, bởi điều đó đảm bảo cho tính khoa
học của công tác nghiên cứu. Thể hiện sự chính xác của các công trình khoa học lịch sử. Và không chỉ
có vậy, trong một chừng mực nào đó, việc xác định và phân biệt rõ ràng các tên gọi của Nam Bộ trong
các giai đoạn khác nhau còn thể hiện tính đảng, tức lập trường chính trị của người nghiên cứu, do bởi
có những thời kỳ, những tên gọi của Nam Bộ có liên quan mật thiết đến yếu tố chính trị của những lực
lượng tranh chấp trên vùng đất vốn đầy biến động này.
Vì những lý do trên, có thể nói, đối với việc nghiên cứu về những xu hướng yêu nước ở Nam Bộ
nửa đầu thế kỷ XX, vấn đề tên gọi của vùng Nam Bộ trong giai đoạn ấy cũng là một vấn đề cần phải
chú ý và cần phải làm rõ.
Từ khi được sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam, vùng đất Nam Bộ đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau.
Vào năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu cho lập phủ Gia Định. Tên gọi Gia Định khi ấy là cái tên được
dùng để chỉ chung vùng lãnh thổ ở phía cực nam đất nước. Tất nhiên vùng lãnh thổ ấy chưa phải là
toàn bộ vùng Nam Bộ, mà nhỏ bé hơn khá nhiều. Cùng với quá trình mở rộng lãnh thổ, tên gọi Gia
Định mới dần dần được sử dụng để chỉ vùng đất tương ứng với Nam Bộ ngày nay.
Đến năm 1802 vua Gia Long đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định; năm 1808 lại đổi tên trấn Gia
Định ra thành Gia Định gồm năm trấn là Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên.
Năm 1832 vua Minh Mạng đổi tên thành Gia Định ra thành Phiên An, năm trấn trước kia được chia
lại thành sáu tỉnh (Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Năm 1835, tỉnh
Phiên An đổi tên là tỉnh Gia Định.
Như vậy tên Lục Tỉnh đã có từ năm 1832. Hai năm sau, tức năm 1834, Lục Tỉnh được gọi chung là
Nam Kỳ, theo nghĩa Kỳ là một cõi đất. Nam Kỳ là cõi đất phương Nam. Tên gọi Nam Kỳ Lục Tỉnh từ
ấy thực sự đã trở thành một tên gọi gắn liền với lịch sử dân tộc Việt Nam trong một giai đoạn dài sau
đó.
Khác với Việt Nam, thực dân Pháp sử dụng tên gọi Cochinchine để chỉ vùng Nam Bộ, phân biệt với
Bắc Kỳ là Tonkin, Trung Kỳ là Annam. Người Anh, Mỹ cũng gọi Nam Kỳ là Cochinchina. Giới học
giả trong và ngoài nước từng đưa ra nhiều cách lý giải khác nhau về xuất xứ tên gọi Cochinchine,
nhưng vẫn chưa ngã ngũ.
Sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa (1862) và ba tỉnh
miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (1867), thực dân Pháp xóa bỏ cách phân chia địa giới
hành chánh cũ của triều Nguyễn. Năm 1899, Lục Tỉnh của Nam Kỳ bị phân lại thành hai mươi mốt
tỉnh. Chia lại đất Nam Kỳ, có lẽ thực dân Pháp muốn xóa nhòa hai chữ Lục Tỉnh trong lòng người Việt,
cũng là cách cắt đứt lòng lưu luyến với truyền thống yêu nước của người dân Nam Bộ, một thủ đoạn
tâm lý bên cạnh các cuộc đàn áp những phong trào yêu nước kháng chiến. Song mặc dù vậy, cái tên
Nam Kỳ vẫn được duy trì cho đến tận năm 1945.
Sau cuộc đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9/3/1945, quân đội Nhật đã tuyên bố trao lại quyền
độc lập cho Việt Nam. Song song với quá trình thanh lập chính phủ, vua Bảo Đại cũng cho phân vùng
lãnh thổ Việt Nam thành ba khu vực hành chính, và đặt các chức quan Khâm sai thay mặt nhà vua để
cai quản từng vùng. Nam Bộ là khu vực tương ứng với Nam Kỳ cũ, theo nghĩa Bộ là một phần. Nam
Bộ là một phần đất nước ở phía Nam.
Tên gọi Nam Bộ được chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lựa chọn và được sử dụng lâu dài
cho đến tận ngày nay, thay cho tên gọi Nam Kỳ. Nam Bộ là một trong ba xứ, hai xứ kia là Bắc Bộ và
Trung Bộ.
Như vậy, với tư cách là một người nghiên cứu đương đại tìm hiểu về quá khứ. Trong bản thân đề tài
này chỉ sử dụng thuật ngữ Nam Bộ làm tên gọi thống nhất. Tuy nhiên, trong các tài liệu trích dẫn hoặc
trong một số trường hợp đặc biệt cụ thể, đề tài có thể vẫn sử dụng tên gọi Nam Kỳ, được dùng để chỉ
chung một đối tượng lịch sử. Tất cả đều không ngoài mục đích đảm bảo tính khoa học và tính đảng cho
đề tài nghiên cứu.
1.1.2 Đặc điểm tự nhiên - xã hội của vùng Nam Bộ
Vùng đất Nam Bộ Việt Nam là một vùng đồng bằng rộng lớn ở hạ lưu sông Mêkông, phía đông
giáp biển Đông, phía đông bắc giáp với cao nguyên Trường Sơn, phía tây giáp vịnh Thái Lan, phía bắc
nối liền với đồng bằng của Campuchia. Đất đai nơi đây rất màu mỡ do được phù sa của các hệ thống
sông Mêkông, sông Đồng Nai và các hệ sông nhỏ khác bồi đắp. Địa hình nhìn chung khá bằng phẳng
nhưng rất phức tạp. “Miền đông bắc có nền đất tương đối cao hơn các nơi khác của đồng bằng, nhưng
đổ về phía biển, mặt đất thấp, sông ngòi và kinh rạch quanh co chằng chịt, nhiều chỗ đồng lầy nước
đọng, nơi sinh trưởng của từng ngập mặn, của cây bần, cây đước… địa thế rất hiểm trở”. [59, tr 17]
Khí hậu của vùng Nam Bộ là khí hậu nhiệt đới gió mùa. Cây cối quanh năm xanh tốt, hệ động thực
vật rất đa dạng và phong phú. Hệ thống sông ngòi nơi đây chằng chịt, thuận lợi cho giao thông đi lại
cũng như phát triển các ngành kinh tế thủy sản. Tuy nhiên, hàng năm nước các con sông dâng lên gây
ra tình trạng ngập úng. Vì vậy vùng này rất nhiều vùng trũng ngập nước, tạo ra trở ngại lớn cho cư dân
sinh sống ở đây.
Do những đặc điểm của điều kiện địa hình, Nam Bộ được chia thành hai vùng thiên nhiên khá rõ
rệt: Vùng đất tương đối cao ở phía đông bắc thường được gọi là miền Đông Nam Bộ, diện tích khoảng 27.920 km2 và vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long thấp phẳng ở phía tây nam diện tích khoảng 39.590 km2.
Do mỗi vùng có những điều kiện tự nhiên rất khác biệt, dẫn đến nền tảng kinh tế và xã hội của hai
vùng cũng có sự khác biệt căn bản. Sự khác biệt ấy, đến đầu thế kỷ XX, lại trở thành tiền đề cho những
sắc thái rất khác nhau của các phong trào yêu nước ở đây.
Thực tế lịch sử cho thấy, vùng Nam Bộ là một trong những địa điểm đầu tiên có mặt con người sinh
sống và khai phá. Hơn thế nữa, văn minh của các cư dân nơi đây là một trong những nền văn minh vào
loại sớm nhất không chỉ của Việt Nam mà còn ở cả khu vực Đông Nam Á. Các di chỉ khảo cổ được
khai quật cho thấy vùng Nam Bộ đã có con người sinh sống ngay từ thời đại đá cũ. “Vào những năm
1968 - 1971, nhà địa chất học người Pháp E. Saurin đã công bố những phát hiện đồ đá cũ của ông tại
hai địa điểm Hàng Gòn 6 và Dầu Giây 2. Tiếp cho đến nay, nhất là từ năm 1975 đến nay, các nhà khảo
cổ học Việt Nam đã phát hiện thêm, được biết đến 14 địa điểm có công cụ thuộc thời đại đá cũ…”.
[67, tr 10]
Đến khi cư dân Nam Bộ bước vào ngưỡng cửa văn minh, việc lập quốc diễn ra vào khoảng đầu
công nguyên. Sau đó giai đoạn từ đầu công nguyên đến thế kỷ VII, vùng Nam Bộ là địa bàn chủ yếu
của vương quốc Phù Nam, quốc gia của những người Môn cổ. Vương quốc Phù Nam nhanh chóng phát
triển trở thành một nước hùng mạnh và tấn công chinh phục các nước xung quanh, trở thành một cường
quốc cổ đại Đông Nam Á. “Vào lúc cực thịnh, Phù Nam chiếm nhiều nước nhỏ xung quanh làm chư
hầu, lãnh thổ bao gồm diện tích ngày nay của Campuchia, vùng Hạ Lào, nam Thái Lan, nam Miến
Điện, bắc bán đảo Mã Lai, nam Trung Bộ và Nam Bộ của Việt Nam…”. [107, tr 42]
Các quốc gia lân cận Phù Nam ở Đông Nam Á đều phải thần phục quốc gia này. Tuy nhiên đến thế
kỷ VI, do những biến động của lịch sử, Phù Nam dần dần suy yếu, đó chính là lúc các thuộc quốc của
Phù Nam nổi lên tách khỏi sự lệ thuộc, thậm chí quay lại tấn công Phù Nam. Trong đó có quốc gia của
người Khơ me ở vùng bình nguyên Cò Rạt, quanh lưu vực sông Sê mun và trung lưu sông Mê công,
đang trong giai đoạn phát triển lớn mạnh.
Tộc người Khơ me vốn thần phục Phù Nam từ thế kỷ III. Sau đó nhân lúc Phù Nam gặp khủng
hoảng suy thoái, người Khơ me từ bỏ việc thần phục Phù Nam, thậm chí còn tiến hành cuộc nam tiến
chinh phục lại Phù Nam. Cuối cùng đến khoảng giữa thế kỷ VII, Phù Nam bị tiêu diệt. Trong khoảng
thời gian từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, vùng Nam Bộ thuộc quyền quản lý của vương quốc Chân Lạp.
Đến khoảng thế kỷ XVII - XIX, vùng Nam Bộ được chuyển vào tay những người Việt di cư.
Cho đến thế kỷ XVII, trên vùng đất Nam Bộ Việt Nam ngày nay, các cư dân Khơ me và các dân tộc
ít người khác đã sống lẻ tẻ, rải rác trên các giồng đất cao, các vùng đồi núi, với số lượng dân cư ít ỏi,
trình độ kỹ thuật thấp kém. Về cơ bản, vùng đất Nam Bộ thời điểm đó phần lớn vẫn còn là một vùng
đất hoang vu chưa được khai phá, mặc dù nơi đây từ lâu đã tồn tại nhiều lớp cư dân khác nhau từng
sinh sống.
Bước vào thế kỷ XVII, những biến động của lịch sử trên đất nước Đại Việt cũng kéo theo những
thay đổi lớn lao ở vùng đất Nam Bộ. Những tranh chấp quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến họ
Trịnh và họ Nguyễn dẫn tới cục diện chia cắt đất nước thành hai miền riêng biệt: Đàng Trong thuộc
quyền kiểm soát của chúa Nguyễn và Đàng Ngoài thuộc quyền kiểm soát của vua Lê chúa Trịnh.
Cuộc chiến tranh Đàng Trong - Đàng Ngoài nổ ra quyết liệt và kết quả là đất nước Đại Việt bị chia
cắt kéo dài suốt gần hai thế kỷ. Chiến tranh đã làm xáo trộn cuộc sống của người dân, là nguyên nhân
trực tiếp cũng như gián tiếp cho những cuộc di cư ồ ạt của người Việt về phía nam, trong đó một trong
những điểm đến quan trọng nhất chính là vùng Nam Bộ.
Cùng với quá trình di cư của người Việt, vùng Nam Bộ thế kỷ XVII - XVIII còn tiếp nhận thêm
một bộ phận cư dân lớn người Chăm vốn là những cư dân còn lại của vương quốc Champa vừa sụp đổ.
Bên cạnh đó dòng lưu dân vào vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII - XVIII còn phải kể đến người Hoa. Bộ
phận người Hoa này chủ yếu là quan quân nhà Minh và gia quyến của họ, vốn không chịu thần phục
nhà Mãn Thanh vừa được lập nên ở Trung Quốc.
Các lớp cư dân người Việt, người Hoa và người Chăm đua nhau kéo vào vùng Nam Bộ để tìm một
cuộc sống mới. Vùng đất Nam Bộ bắt đầu được khai phá trên quy mô rộng lớn.
Các thành quả khai phá của các cư dân mới đến đã thực sự làm thay đổi bộ mặt của vùng đất Nam
Bộ. Và cuối cùng từ những phong trào di cư tự phát, chính quyền chúa Nguyễn và sau này là vương
triều Nguyễn đã thực hiện tiếp các hoạt động chính trị để sát nhập thành công vùng đất Nam Bộ vào
lãnh thổ của mình.
Tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp đưa lịch sử của vùng Nam Bộ bước sang một trang mới.
Sau khi không thành công trong việc tấn công ở Đà Nẵng năm 1858. Thực dân Pháp quay xuống tấn
công Nam Bộ, thực hiện chủ trương đánh lâu dài. Bằng các thủ đoạn quân sự và chính trị, thực dân
Pháp đã thành công trong việc thôn tính Nam Bộ. Đến nửa cuối thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn ký
hai bản hiệp ước Nhâm Tuất (1862) và Giáp Tuất (1874), cắt vùng Nam Bộ cho Pháp.
Như vậy, từ thời điểm ấy trên danh nghĩa vùng đất Nam Kỳ coi như trở thành một bộ phận của lãnh
thổ nước Pháp, không giống như Trung Kỳ và Bắc Kỳ chỉ là xứ bảo hộ. Chính quyền nhà Nguyễn hoàn
toàn không còn chút quyền hạn nào trên khu vực này. Chính quyền trung ương Nam Kỳ do người Pháp
nắm giữ, nhưng hệ thống chính quyền từ cấp tổng trở xuống thì được tuyển lựa từ người bản xứ. Việc
tuyển lựa từ cuối năm 1918 được cải cách theo hướng dân chủ hóa, nhưng thật ra, điều đó chỉ có lợi
cho một bộ phận tầng lớp trên của xã hội, được Pháp sử dụng như một thứ tay sai để củng cố bộ máy
cai trị thực dân ở đây.
Lợi dụng những yếu tố thuận lợi của điều kiện tự nhiên Nam Bộ, các chính sách, mục tiêu, biện
pháp của thực dân Pháp trong việc khai thác vùng Nam Bộ có những sắc thái rất riêng biệt.
Vùng Đông Nam Bộ chủ yếu phát triển các đồn điền, nhất là đồn điền cao su. “Loại cây công
nghiệp duy nhất trong số các cây công nghiệp và cũng là loại canh tác duy nhất trong số các loại canh
tác được người Pháp du nhập vào vùng đất Nam Kỳ dưới thời thuộc Pháp phát triển được và có một
tầm mức tương đối quan trọng, đó là cây cao su” [59, tr 205]. Những đồn điền cao su mọc lên nhiều,
nhưng hầu như nằm hoàn toàn trong tay người Pháp, bởi nó đòi hỏi một số vốn khổng lồ và chậm đem
lại lợi nhuận. Các loại cây công nghiệp khác như đay, cà phê, tiêu cũng có được trồng ở một số nơi
nhưng không chiếm vị thế quan trọng trong cơ cấu kinh tế như cây cao su.
Còn miền Tây Nam Bộ lại trở thành một vựa lúa khổng lồ. Diện tích canh tác lúa chiếm ưu thế
tuyệt đối trong vốn đất canh tác. Năm 1913, diện tích trồng lúa ở đây là 1.426.485 ha, năm 1921 là
1.758.383 ha, năm 1930 là 2.112.500 ha. Hơn hẳn diện tích canh tác lúa vùng Đông Nam bộ, vốn chỉ
trên dưới 300.000 ha.
Do ảnh hưởng từ chính sách khai thác của Pháp, vùng Nam Bộ xuất hiện những tầng lớp mới: Đại
địa chủ, tư sản, trí thức tây học, tiểu tư sản… Một bộ phận trong số đó dựa vào quyền lực của thực dân
Pháp, câu kết với kẻ thù, phản bội quyền lợi của quốc gia dân tộc; nhưng bộ phận còn lại, vẫn có phần
nào tinh thần yêu nước, và trong những điều kiện cụ thể, họ cũng có tham gia với một chừng mực nào
đó các phong trào yêu nước, đặc biệt nếu phong trào ấy có đề cập đến lợi ích của họ.
Giai cấp công nhân, xuất hiện khá sớm ở Nam Bộ, nhưng do những đặc thù của điều kiện kinh tế xã
hội nên có những đặc điểm rất đặc trưng. Giai cấp công nhân ở Nam Bộ ra đời sớm, số lượng phát triển
khá nhanh, đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Cùng với sự du nhập những luồng tư tưởng tiến
bộ, đặc biệt là chủ nghĩa Mác Lênin, giai cấp công nhân Nam Bộ dần hình thành và trở thành ngọn cờ
đầu trong các phong trào yêu nước.
Do điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử cụ thể nói trên, cư dân và nền kinh tế xã hội Nam Bộ đã
xuất hiện những nét đặc thù. Từ đó phong trào yêu nước ở Nam Bộ trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX
cũng có xu hướng phát triển riêng, không giống với các địa phương khác trên đất nước Việt Nam. Nhân
dân Nam Bộ đứng lên chống Pháp ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta.
Cuối thế kỷ XIX, các phong trào khởi nghĩa vũ trang chống Pháp từ Nam chí Bắc về cơ bản đều đã thất
bại, trong đó bao gồm cả các phong trào ở Nam Bộ.
Nhưng dân tộc Việt Nam vốn có một tinh thần đấu tranh bất khuất, càng bị đè nén bao nhiêu càng
quyết liệt vùng lên quật khởi bấy nhiêu. Sự thất bại tạm thời của các phong trào yêu nước ấy không thể
dập tắt được ý chí quật cường đó.
Đến đầu thế kỷ XX, những người yêu nước Việt Nam nói chung và người dân Nam Bộ nói riêng
vẫn cố gắng tìm ra một con đường đi mới giải phóng cho dân tộc thoát khỏi xích xiềng nô lệ. Trước
những biến động lớn lao của tình hình trong nước và thế giới trong hoàn cảnh mới, các xu hướng trong
phong trào đấu tranh yêu nước ở Nam Bộ không ngừng nở rộ, điểm thêm những nét vẽ sinh động cho
bức tranh lịch sử bi tráng nhưng cũng thật đáng tự hào của dân tộc Việt Nam.
1.2 Các phong trào yêu nước chống Pháp trước khi có sự lãnh đạo của Đảng ở Nam Bộ
1.2.1 Các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp theo xu hướng phong kiến: Phong trào
Hội kín Nam Kỳ
Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã cơ bản bình định xong và thiết lập được
bộ máy cai trị thực dân ở vùng Nam Bộ. Từ năm 1874, Nam Kỳ chính thức trở thành thuộc địa của
Pháp. Với việc thi hành chính sách trực trị, chính quyền nhà Nguyễn hoàn toàn không còn chút quyền
hạn nào trên khu vực này. Nói cách khác, vùng đất Nam Kỳ bị biến thành một phần lãnh thổ của nước
Pháp ở Đông Dương. Vùng Nam Kỳ từ đó khi ấy được định nghĩa là “một phần đất thuộc gia sản đất
đai của nước Pháp và được cai trị trực tiếp bởi những người đại diện cho nước Pháp”. [59, tr 164]
Trong bối cảnh đó, các cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp không còn điều kiện thuận lợi để phát
triển nữa. Điều này có thể nhận thấy rõ qua phong trào Cần Vương, một phong trào nổ ra dưới sự lãnh
đạo của phái chủ chiến trong triều định Huế, đứng đầu là Tôn Thất Thuyết. Các cuộc khởi nghĩa Cần
Vương nổ ra trên khắp các địa phương miền Bắc và miền Trung nhưng ở Nam Bộ, phong trào gần như
im ắng. Đó không phải do người dân Nam Bộ thờ ơ với vận mệnh quốc gia dân tộc, mà thực sự là do
chưa có những điều kiện để chống Pháp một cách rầm rộ như những giai đoạn trước.
Mặc dù vậy, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Nam Bộ vẫn được duy trì một
cách bền bỉ. Một hình thức đấu tranh mới xuất hiện dưới hình thức thành lập các hội kín là minh chứng
cho điều đó.
Theo giáo sư Trần Văn Giàu, “danh từ “hội kín” mãi cho đến vụ án Nguyễn An Ninh năm 1929 thì
mới phổ biến trên báo tiếng Việt để dịch chữ “sociétés secrète”của Pháp; chứ hồi cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX cái tên của những tổ chức bí mật (…) không phải là “hội kín” mà là “Hội…”. [33, tr 565 -
566]
Các hội bí mật mọc lên rất nhiều, hễ có bao nhiêu hội thì có bấy nhiêu tên gọi khác nhau: Duy Tân,
Hòa Đồng, Nghĩa Hòa, Nhân Hòa… và đặc biệt là tổ chức Thiên Địa Hội. Thiên Địa hội vốn có nguồn
gốc từ Trung Quốc, theo chân những người Hoa phản Thanh phục Minh du nhập vào Việt Nam. Thiên
Địa Hội nhanh chóng được những người Việt Nam yêu nước ủng hộ để phát triển thành phong trào đấu
tranh chống Pháp dưới hình thức hội kín ở Nam Bộ trong những năm đầu thế kỉ XX.
Những nơi có phong trào hội kín phát triển mạnh là Biên Hoà, Gia Định, Mỹ Tho, Bạc Liêu, Rạch
Giá, Bến Tre, Châu Đốc.
Mục đích chủ yếu của các hội kín là chống Pháp, quan lại tham ô, khôi phục Việt Nam. Những hội
kín ở Nam Kỳ mang màu sắc tôn giáo, nhưng tôn giáo chỉ là phương tiện để tập hợp, cố kết các thành
viên lại với nhau, còn mục đích chung vẫn là đấu tranh chống bọn đế quốc cướp nước và bọn phong
kiến tay sai bán nước. Tôn giáo và phương thuật (pháp sư, bùa chú, uống máu ăn thề, dùng tiếng lóng,
dấu hiệu riêng để liên lạc...) chỉ giữ vai trò trong việc tổ chức hội viên và tuyên truyền cho dân chúng.
“Tuy các hội kín chịu nhiều ảnh hưởng của thầy chùa (Phật), thầy pháp (Đạo), nhưng trong hội kín,
trong các cuộc trực tiếp hành động khởi nghĩa thì hoàn toàn không có thầy chùa, thầy pháp nào hết.
Cộng tất cả các vụ bị bắt năm 1916, chỉ phát hiện thấy hai thầy pháp trong hội kín toàn Nam Kỳ, còn
thầy chùa thì chỉ can dự ở cấp lãnh đạo bên trên thôi. Lực lượng hội kín là lực lượng của người dân
thường, người thế tục”. [33, tr 569]
Nghĩa quân của các hội này có chừng vài trăm người được vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác đã tiến
hành đánh phá các trụ sở mộ lính, phá nhà giam, bắt giết bọn quan lại tay sai gian ác. Thực dân Pháp e
ngại hội kín, những kẻ cường hào ác bá cũng sợ hãi mà không dám hung hăng. Sức mạnh thực sự của
hội kín không phải chỉ nằm ở bản thân số hội viên hội kín, mà trong những trường hợp cụ thể, khi trực
tiếp đấu tranh, các hội kín có thể và thực sự đã huy động, lôi kéo được một bộ phận quần chúng, đặc
biệt là tầng lớp dân lao khổ.
Trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XX đến những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất, các hội
kín Nam Kỳ thực hiện được hàng loạt những hoạt động yêu nước có tiếng vang lớn, trong đó tiêu biểu
là việc phát động phong trào đấu tranh chống chính sách động viên của thực dân Pháp và cuộc đột nhập
phá Khám Lớn ở Sài Gòn.
Trước hết, về phong trào chống chính sách động viên. Từ cuối năm 1915 đầu 1916, trong bối cảnh
thực dân Pháp tăng cường hoạt động vơ vét sức người sức của để đổ vào cuộc chiến tranh đế quốc, các
hội kín ở Nam Bộ ngày càng hoạt động mạnh mẽ để chống lại chính sách đó. Các cuộc xung đột vũ
trang đã lẻ tẻ nổ ra ở một số nơi.
Cuối tháng 1/1916, các hội kín ở Trà Vinh tổ chức bạo động, công khai chống chính sách mộ lính
của thực dân Pháp. Cũng trong thời gian này, các hội kín ở Biên Hòa cũng vũ trang nổi dậy, nhà ngục
Biên Hòa bị phá.
Tháng 2/1916, nhóm hội kín của Vương Văn Lê, Nguyễn Văn Thạch, Lê Văn Hà nổi lên ở Tây
Ninh, nhóm hội kín Nguyễn Văn Huệ tấn công Ô Cấp - Bà Rịa. Ngoài ra còn có một số cuộc nổi dậy ở
những nơi khác.
Các cuộc tấn công lan rộng, nhưng lực lượng các hội kín rất yếu, vũ khí chủ yếu chỉ là gậy gộc,
súng đạn rất ít, lại tin vào bùa phép nên thực dân Pháp dễ dàng đàn áp. Phong trào cuối cùng đành tạm
lắng xuống.
Bên cạnh phong trào chống chính sách động viên của thực dân Pháp, cuộc đột nhập phá Khám Lớn
Sài Gòn cũng là một trong những hoạt động gây tiếng vang lớn nhất của phong trào hội kín Nam Kỳ.
Cuộc đấu tranh này gắn liền với tên tuổi của Phan Xích Long (1893 - 1916). Ông tên thật là Phan Phát
Sanh, tên tự là Lạc, con trai của Phan Núi, một viên chức cảnh sát gốc Hoa ở Chợ Lớn.
Năm 1912, Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Văn Hiệp, hai nhân sỹ yêu nước tôn Phan Phát Sanh làm
lãnh tụ Thiên Địa Hội, nhằm tập hợp lực lượng chống Pháp. Sau đó Phan Phát Sanh đổi tên là Phan
Xích Long, tự xưng là Đông cung (con vua Hàm Nghi), tự phong là hoàng đế.
Buổi đầu, Phan Xích Long đặt cơ sở đầu tiên ở Cần Vọt (Campuchia). Ở đó, nhờ tiền quyên góp,
ông cho cất một ngôi chùa để làm nơi tụ họp, chế tạo lựu đạn, trái phá, in truyền đơn đưa ra tuyên cáo
Phản Pháp phục Nam, kêu gọi mọi người chống Pháp... Sau này, ông lập căn cứ ở vùng núi Thất Sơn
(Châu Đốc, tỉnh An Giang).
Đêm 23 rạng sáng ngày 24/3/1913 Phan Xích Long tổ chức rải truyền đơn và đặt bom tại một số nơi
quan trọng ở Sài Gòn. Kế hoạch không thành công vì các trái bom đều không nổ và vì kế hoạch đã bị
lộ. Bản thân Phan Xích Long đã bị bắt hai ngày trước đó tại Phan Thiết. Các thành viên hội kín ở vùng
Gò Vấp, Hóc Môn đột nhập vào nội thành Sài Gòn, cả thảy đều bị bắt giam.
Năm 1913, tòa án Nam Kỳ đã đưa ông ra xét xử, tha bổng 57 người, riêng Phan Xích Long bị lãnh
án chung thân khổ sai, bị giam giữ tại Khám Lớn (Sài Gòn).
Năm 1916, nhân lúc Pháp bại trận trong Thế chiến thứ nhất, khoảng 300 hội viên của hội kín "Thiên
Địa Hội" ở Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Cần Giuộc, Cần Đước v.v..., tìm cách phá
ngục cứu ông.
Đêm 16/2/1916, đúng 3 giờ sáng, tất cả hội viên do Nguyễn Hữu Trí cầm đầu, đều được uống bùa,
cổ mang phù chú, từ sông cầu Ông Lãnh với áo đen, quần trắng, khăn quấn cổ màu trắng, tay cầm giáo
mác (không có súng) chia làm ba nhóm đột nhập nội thành Sài Gòn.
Gần tới nơi, ba nhóm nhập lại rồi chia ra thành hai hướng tiến đến Khám Lớn và Dinh Thống đốc
Nam Kỳ. Do có phòng bị từ trước, quân Pháp đã kịp thời đối phó. Lính Pháp xả đạn vào đám người chỉ
có giáo mác và bùa chú. Nghĩa quân tan vỡ, một số bị chết, bị thương và nhiều người bị bắt. Cuộc tấn
công nhanh chóng bị đàn áp đẫm máu.
Sau đó, tòa kết tội tử hình 38 người tại cánh đồng Tập Trận vào ngày 22/2/1916, trong đó có Phan
Xích Long là người cầm đầu. Ngày 16/3/1916, tử hình thêm 13 người nữa, cũng tại địa điểm trên. Như
vậy, sau 2 lần bắn và 6 người đã chết trước, tổng cộng là 57 người. Những người chết đều được chôn
tại nghĩa địa Đất Thánh Chà ở đường Hiền Vương (nay là đường Võ Thị Sáu).
Ngoài Sài Gòn, 13 trên tổng số các tỉnh Nam Bộ đều có các cuộc nổi dậy. Quần chúng đánh chiếm
nhiều trụ sở xã, tuần hành. Nhưng cũng giống như Sài Gòn, các cuộc đấu tranh nhanh chóng bị dập tắt
mà không chiếm được tỉnh lị nào.
Có thể nói phong trào hội kín là một hình thức đấu tranh rất đặc biệt của nhân dân Nam Bộ vào đầu
thế kỷ XX. Hội kín là biểu hiện của một xu hướng đấu tranh theo đường lối phong kiến, từ cơ cấu tổ
chức đến ý thức hệ. Nhưng trong bối cảnh mà xu hướng đấu tranh cứu nước theo hình thức phong kiến
do nhà Nguyễn đứng đầu vốn đã thất bại trước những thách thức của lịch sử, thì dư âm của nó thông
qua phong trào hội kín cũng chỉ là sự níu kéo trong vô vọng của những người dân Nam Bộ yêu nước.
Lực lượng yếu, chưa đề ra được một con đường đấu tranh đúng đắn. Hơn nữa việc nhuộm màu sắc tôn
giáo, sử dụng pháp thuật cho các phong trào đấu tranh cũng là một hạn chế lớn. Phong trào hội kín đã
bị đàn áp. Nhưng một điểm hết sức đặc biệt đáng phải ghi nhận là, tuy không thành công nhưng phong
trào hội kín không hề thất bại. Bản thân phong trào hội kín vẫn có những đóng góp nhất định vào
phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung.
Thứ nhất, bản thân phong trào Hội kín vẫn mang những giá trị tích cực. Hội kín xuất phát từ sự cố
kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau của những con người lao khổ. Điều lệ của hội dạy những hội viên
phải biết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau. Đó là sự nối tiếp truyền thống tốt đẹp từ ngàn xưa của dân tộc,
vẫn được phát huy trong cảnh tang thương của một đất nước đang rên xiết trong xích xiềng nô lệ. Giá
trị tích cực ấy sẽ còn được nối tiếp và phát huy trong những giai đoạn đấu tranh tiếp theo của người dân
Nam Bộ.
Thứ hai, mặc dù thực lực của bản thân hội kín không mạnh, nhưng thực sự trong một số cuộc đấu
tranh cụ thể, hội kín đã thu hút được một số lượng đông đảo các tầng lớp trong xã hội cùng tham gia.
Những kinh nghiệm về tập hợp lực lượng, cách thức tổ chức đấu tranh bí mật và bạo động cũng là
những bài học quý giá cho những nhà cách mạng ở Nam Bộ trong giai đoạn tiếp theo.
Cuối cùng, tuy bị đàn áp nhưng hội kín không hề lụi tắt và tan rã. Sức sống bền bỉ ấy sau đó nhanh
chóng đã hòa nhập những tàn dư còn lại của hội kín với những phong trào đấu tranh theo các xu hướng
mới, tiến bộ hơn (tư sản, vô sản…). Góp phần nuôi dưỡng lòng yêu nước và tinh thần quật khởi của
nhân dân Nam Bộ.
1.2.2 Phong trào yêu nước theo xu hướng tư sản
Sự tồn tại của phong trào đấu tranh theo xu hướng phong kiến dưới hình thức hội kín ở Nam Bộ kéo
dài qua gần cả 20 năm đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh mà xu hướng đấu tranh này đã thất bại từ trước
đó rất lâu trên phạm vi cả nước là một điểm rất đặc biệt của lịch sử vùng Nam Bộ. Tuy nhiên, đến đầu
thế kỷ XX, trong bối cảnh chung của cả nước và thế giới, các phong trào đấu tranh ở Nam Bộ cũng bắt
đầu xuất hiện một xu hướng mới, tiến bộ hơn: Xu hướng tư sản.
“Đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX là khi ở Việt Nam chưa có giai cấp tư sản thì
tư tưởng dân chủ đã đến”. [21, tr 62] Ở thời điểm chế độ phong kiến khủng hoảng đối với vấn đề lãnh
đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong lúc mà một bầu không khí bi quan tràn ngập khắp nơi, khi
các cuộc khởi nghĩa chống Pháp đều đã bị kẻ thù dìm trong bể máu, thì những luồng tư tưởng dân chủ
mới mẻ qua tân thư, tân văn, sách báo tiến bộ đã ào ạt đổ vào Việt Nam như một luồng gió mát làm dịu
đi sự bức bối của đêm hè nóng nực. Những sỹ phu yêu nước Việt Nam nhanh chóng tiếp nhận những
quan điểm tiến bộ đó, và bắt đầu xúc tiến một con đường cứu nước mới theo ngọn cờ dân chủ tư sản.
Liền sau đó, một phong trào yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản bùng nổ trên phạm vi cả nước, cụ
thể là các phong trào Duy Tân và Đông Du.
Từ đầu thế kỷ XX, khi các phong trào yêu nước mới theo xu hướng dân chủ tư sản được các sỹ phu
yêu nước Việt Nam phát động rầm rộ, vùng Nam Bộ cũng có những hoạt động hưởng ứng tích cực. Hai
trụ cột của phong trào Duy Tân: Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều hết sức chú ý đến vùng Nam
Bộ, bởi tiềm lực tài chính, và truyền thống yêu nước của cư dân nơi đây.
Thực tế đã cho thấy, “phong trào Đông Du là cuộc vận động cứu nước do Duy Tân Hội phát động
dưới sự lãnh đạo của Phan Bội Châu và Cường Để ở những năm đầu thế kỷ XX, phát triển rộng khắp
trong cả nước. Riêng Nam Kỳ có bước phát triển sâu rộng nhất, có lãnh đạo, có tổ chức và có những
điều kiện khả thi để cho phong trào Đông Du phát triển”. [73, tr 24]
Điều kiện để phong trào Đông Du phát triển ở Nam Bộ thực sự thuận lợi hơn rất nhiều so với các
địa phương khác trên cả nước, do bởi vùng Nam Bộ, với tư cách là một khu vực trực trị của chính
quyền Pháp, đã có một nền kinh tế - văn hóa tiếp cận với nền kinh tế thị trường ở một mức độ sâu rộng
và trong thời gian dài. Những luồng ý thức hệ tư sản vì vậy có điều kiện nảy sinh và phát triển một
cách mạnh mẽ, mà điều đó lại là một nhân tố quan trọng hàng đầu cho việc xu hướng yêu nước tư sản
ra đời và khẳng định vị thế của mình trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX nói
chung.
Đối với Phan Bội Châu, ngay từ khi thành lập Duy Tân Hội, ông cùng với một số nhà lãnh đạo của
Hội đã nghĩ đến việc tranh thủ những thế mạnh của vùng Nam Bộ để tạo tiềm lực cho cuộc đấu tranh
chống Pháp. Ngay từ năm 1903, Phan Bội Châu đến Châu Đốc, mục đích để thăm dò khả năng cách
mạng ở nơi đây. Đến năm 1907, theo sáng kiến của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, ông soạn bài văn: Ai
cáo Nam kỳ phụ lão để vận động các nhân sỹ yêu nước Nam Bộ, trong đó có đoạn:
Thương ôi! Lục tỉnh Nam Kỳ
Ngàn năm cơ nghiệp còn gì hay không?
Mịt mù một giải non sông,
Hỡi ai, ai có đau lòng chăng ai?
Hưởng ứng lời kêu gọi đó, hàng loạt các sỹ phu Nam Bộ đã hoạt động rất tích cực để ủng hộ phong
trào Duy Tân. Có thể kể đến những nhà yêu nước vĩ đại như: Bùi Chi Nhuận, Nguyễn Thần Hiến, Trần
Chánh Chiếu, Nguyễn An Khương…
Trần Chánh Chiếu không chỉ đấu tranh tích cực trên mặt trận tuyên truyền thông qua báo chí, mà
còn thành lập công ty Nam Kỳ Minh Tân Công Nghệ, mở các khách sạn như Minh Tân khách sạn ở
Mỹ Tho và Nam Trung khách sạn ở Sài Gòn để vừa tìm kiếm kinh phí vừa tạo cơ sở hoạt động cho
phong trào Duy Tân.
Nguyễn Thần Hiến lập Khuyến du học hội, đem phần lớn gia sản để ủng hộ quỹ du học sinh. Bản
thân ông cũng từng dẫn một đoàn thanh niên xuất dương sang Nhật, sau đó hội kiến với Phan Bội Châu
và Cường Để. Sau khi trở về nước, ông tiếp tục tích cực hoạt động để phát triển phong trào Duy Tân ở
Nam Bộ.
Nguyễn An Khương bỏ vốn lập Chiêu Nam Lầu ở Sài Gòn. Bề ngoài đây là một cơ sở kinh doanh
nhưng thực chất đây là địa điểm hoạt động của các nhà yêu nước, là trạm chuyển tiếp thanh thiếu niên
để đưa sang Nhật du học.
“Nhờ sự hoạt động nhiệt tình của các chí sỹ kể trên mà phong trào Đông Du ở Nam Kỳ, trong
những năm 1907 - 1908, phát khởi khá mạnh. Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1907, riêng miền Tây đã có
hơn 30 thanh thiếu niên xuất dương. Năm 1908, trong hơn 200 du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản, có
hơn 100 học sinh đến từ Nam Kỳ. Đây cũng là nơi có mức đóng góp kinh phí nhiều nhất cho phong
trào”. [73, tr 166 - 167]
Phong trào Duy Tân ở Nam Bộ trên thực tế gồm có các nội dung cơ bản sau: Sử dụng báo chí để
khuấy động lòng yêu nước, vận động tài chính và phát triển phong trào Đông Du.
Đối với việc vận động các nguồn tài chính, ngoài sự vận động đóng góp của các nhà yêu nước, bản
thân những nhân sỹ cốt cán trong phong trào Duy Tân Nam Kỳ cũng tích cực tổ chức các hoạt động
kinh doanh để tạo nguồn tài chính phục vụ hoạt động yêu nước. Trong một thời gian ngắn, “15 tổ chức
khác đã hưởng ứng phong trào, rải rác ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ, từ Biên Hòa đến Rạch Giá
nhằm mua bán lúa gạo, lập quán ăn, lập nhà in hoặc nhằm mục đích cho vay nhẹ lời, lập công ty dược
để bào chế thuốc bắc theo hình thức Âu dược. Lại còn có sáng kiến lập công ty tàu thủy đưa đò”. [66,
tr 38]
Ở Nam Bộ, điều kiện để huy động tài chính thuận lợi hơn rất nhiều so với miền Bắc và miền Trung.
Các cơ sở kinh doanh nơi đây thành lập rất nhiều, rải đều khắp các tỉnh, hoạt động đa dạng, với sự góp
vốn của nhiều đại điền chủ, nghiệp chủ, các chức sắc người Việt trong bộ máy chính quyền… nên các
cơ sở này có một tiềm lực kinh tế rất mạnh. “Mỗi cơ sở quy tụ được từ mấy chục đến hàng trăm, có
công ty có đến hàng ngàn người hùn vốn. Tùy theo công ty lớn nhỏ, mà số vốn đóng góp ở mỗi cơ sở ,
có nơi chỉ là bạc ngàn, có nơi là tiền muôn, tiền triệu. Con số này nói lên nhiệt tình của giới điền chủ
đối với công cuộc Minh Tân”. [73, tr 35 - 36]
Bên cạnh các hoạt động kinh doanh chấn hưng kinh tế, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị, tư
tưởng cũng diễn ra sôi nổi. Các tờ Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn, Đuốc Nhà Nam… lần lượt
ra đời. Các Báo công khai cổ súy cho phong trào Duy Tân, kêu gọi sự đoàn kết của đồng bào, chống
quan lại tham nhũng…
Báo Nông Cổ Mín Đàm ra số đầu tiên ngày 1/8/1901, nguyên là của Canavaggio, một hội viên của
Hội đồng Quản hạt. Sau khi Canavaggio qua đời năm 1902, quyền điều khiến tờ báo thuộc về Nguyễn
Chánh Sắt (chủ bút) và Nguyễn Tấn Phong (quản lý). Đến năm 1905, các cây bút của phong trào Duy
Tân sử dụng tở báo này như một phương tiện hoạt động yêu nước hiệu quả. Họ liên tiếp xuất hiện trên
mặt báo với các bài viết sắc sảo, hô hào canh tân, cải cách nông nghiệp, thương mại… Đặc biệt, từ khi
Trần Chánh Chiếu lên làm chủ bút năm 1907, ông đã cho công khai trên mặt báo chủ trương Duy Tân,
kêu gọi các nghiệp chủ, điền chủ, chức sắc… gia nhập vào Hội Minh Tân.
Báo Lục Tỉnh Tân Văn chính thức phát hành ngày 15/11/1907 tại Sài Gòn. Chủ báo là Pièrre
Jeantet, nguyên là chánh tham biện. Mặc dù là một người Pháp, nhưng Pièrre Jeantet là một người rất
tiến bộ, có tư tưởng chống lại chủ nghĩa thực dân. Những người yêu nước Nam Kỳ nhanh chóng tìm
đến tờ báo như một bến đỗ an toàn để hoạt động trên mặt trận công khai. “Với tờ báo này, nhóm Minh
Tân đẩy mạnh hơn nữa việc quảng bá công khai chủ trương canh tân, hô hào thành lập các cơ sở kinh
doanh, phổ biến kinh nghiệm hoạt động làm ăn, mua bán, trồng trọt, cung cấp thông tin kinh tế, giá cả
thị trường, hỗ trợ việc thành lập công ty, kêu gọi đoàn kết chống lại hành động lũng đoạn thị trường
của giới tư sản Hoa kiều… Về mặt chính trị, rõ ràng đây là tờ báo đối lập, công khai kêu gọi đấu tranh
chống thực dân Pháp với chủ đích rõ rệt, được xem là tờ báo đối lập đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt
Nam”. [73, tr 34 - 35]
Song song với các hoạt động báo chí và kinh doanh, phong trào Đông Du ở Nam Bộ cũng được xúc
tiến ngày càng mạnh mẽ. Hàng loạt thanh niên Nam Bộ khi ấy được sự động viên của gia đình cũng đã
gia nhập phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng. Năm 1907 - 1908, số du học sinh Nam
Kỳ chiếm tới 50% số du học sinh cả nước.
“Về tổ chức đã thành lập được “Khuyến du học hội”, lãnh đạo “Khuyến du học hội” là những nhà
yêu nước như Nguyễn An Khương, Trần Chánh Chiếu, Đặng Thúc Liêng, Nguyễn Thần Hiến, người
khởi xướng tổ chức “Khuyến du học hội” đầu tiên là Nguyễn Thần Hiến. Sau lớp nhà yêu nước lão
thành còn có những thanh niên yêu nước tham gia “Khuyến du học hội” là Nguyễn Quang Diêu,
Hoàng Hưng, Lý Diêu, Lưu Quang Bật, Lê Văn Sao, Đỗ Văn Y, Nguyễn Truyện”. [73, tr 24 - 25]
Phong trào Đông Du ở Nam Bộ thực sự đạt một tầm vóc hơn hẳn các địa phương khác trên cả nước.
Điều đó không chỉ thể hiện ở sự áp đảo về số lượng du học sinh Nam Kỳ so với Bắc Kỳ hay Trung Kỳ,
mà còn thể hiện bằng tiềm lực tài chính cũng như tấm lòng mà các nhà yêu nước Nam Kỳ đóng góp
cho phong trào.
Hưởng ứng lời kêu gọi “khuyến quốc dân tư trợ du học văn” của Phan Bội Châu, nhân dân Nam Bộ
trở thành đối tượng hưởng ứng mạnh mẽ nhất. “Nhiều yếu nhân của phong trào Đông Du như Bùi
Quang Chiêu, Nguyễn An Khương, Nguyễn Thần Hiến đã đem một phần gia sản lớn của mình ủng hộ
quỹ du học sinh”. [73, tr 27]
Những hoạt động tích cực đó ở Nam Bộ và trên phạm vi cả nước đã nhanh chóng bị thực dân Pháp
chú ý. Kết quả là phong trào bị đàn áp, một số nhân sỹ yêu nước có hoạt động tích cực nhất bị bắt.
Nhưng phong trào yêu nước theo xu hướng tư sản ở Nam Bộ không vì thế mà tan rã. Nó vẫn tồn tại và
bắt đầu có những sự điều chỉnh để phù hợp hơn với hoàn cảnh mới. “Vì vậy phong trào Đông Du, xét
về mặt phong trào đã giữ vị trí chuyển tiếp giữa phong trào cách mạng kiểu cũ sang phong trào cách
mạng kiểu mới, đứng về mặt con người đã giữ vai trò chuyển giao thế hệ, vừa kết thúc một thời kỳ cũ
vừa mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử yêu nước cách mạng ở nước ta”. [73, tr 19] Có thể nói, xu
hướng yêu nước tư sản do các sỹ phu phong kiến phát động, dù thất bại nhưng cũng đã kịp hoàn thành
vai trò lịch sử của mình.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, xu hướng yêu nước tư sản Việt Nam nói chung và ở Nam Bộ nói
riêng có những bước phát triển mới. Cùng với các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội
vùng Nam Bộ có những chuyển biến mạnh mẽ. Giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản đã hình thành và
ngày càng đông đảo. Do bị thực dân Pháp cạnh tranh, chèn ép, tư sản và tiểu tư sản Việt Nam, trừ một
bộ phận có quyền lợi gắn với thực dân Pháp, cơ bản vẫn có tinh thần đấu tranh yêu nước.
Đến đây, xu hướng yêu nước tư sản mới thực sự có nền tảng xã hội từ giai cấp tư sản và tầng lớp
tiểu tư sản vừa mới ra đời. Các phong trào đấu tranh yêu nước theo xu hướng này tiếp tục được nở rộ.
Năm 1919, một phong trào tẩy chay tư sản Hoa kiều bùng lên trên phạm vi cả nước. Tại Nam Bộ
thời điểm đó, Sài Gòn trở thành một trong những trung tâm chủ yếu của phong trào. Cuộc vận động
này diễn ra trong khi thế lực của tư sản Việt Nam, trong đó có tư sản Nam Kỳ vừa mới ra đời, vẫn còn
yếu ớt về lực lượng và non nớt về chính trị. Vậy nên không có gì khó hiểu khi phong trào nhanh chóng
lắng xuống khi thực dân Pháp tìm cách ngăn chặn. Bản thân cuộc đấu tranh cũng chưa dám chĩa mũi
nhọn tấn công vào kẻ thù chủ yếu là thực dân Pháp, mà chỉ là một trong những đối thủ cạnh tranh vốn
được Pháp dung túng để đàn áp nhân dân Việt Nam. Nhưng dẫu sao, nó cũng thể hiện tinh thần dân
tộc, thể hiện tinh thần yêu nước của giai cấp tư sản Việt Nam.
Năm 1923, tiến thêm một bước so với phong trào tẩy chay tư sản Hoa Kiều, cuộc vận động chống
độc quyền thương cảng Sài Gòn, vốn được Hội đồng thuộc địa giao cho một công ty Pháp, bùng nổ
kịch liệt, lôi kéo được đông đảo thanh niên trí thức tư sản và tiểu tư sản ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ.
Các cuộc míttinh được tổ chức, nhiều tờ báo công khai ủng hộ cuộc đấu tranh. Trước áp lực đấu tranh
mạnh mẽ, và nhất là phong trào đã tranh thủ được các lực lượng tiến bộ ở ngay nước Pháp, thực dân
Pháp đã phải nhượng bộ. Đây là một trong những thắng lợi đầu tiên của xu hướng yêu nước theo xu
hướng dân chủ tư sản, do giai cấp tư sản Nam Kỳ phát động. Cuộc đấu tranh này đã trực tiếp tấn công
vào tư bản Pháp, song quy mô còn nhỏ bé, đối tượng chỉ là một công ty tư bản, chứ chưa phải là thực
dân Pháp nói chung. Mặc dù vậy, thắng lợi này cũng mở đường cho những phong trào đấu tranh rộng
lớn hơn của xu hướng dân chủ tư sản trong giai đoạn kế tiếp.
Cũng trong năm 1923, Đảng Lập hiến của Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long được thành lập tại
Nam Bộ. Tuy chưa có cương lĩnh chính trị, tổ chức cũng chưa chặt chẽ, hơn nữa những yêu sách của
Đảng Lập Hiến còn khá mơ hồ, chỉ đòi những quyền lợi cho giai cấp tư sản Việt Nam, đặc biệt là giai
cấp tư sản Nam Kỳ, nhưng dẫu sao, sự thành lập của Đảng Lập hiến cũng là một trong những cố gắng
lớn của giai cấp tư sản Việt Nam nói chung và giai cấp tư sản Nam Kỳ nói riêng trên con đường khẳng
định vị thế của mình trên vũ đài chính trị.
Trong các phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi sau đó, hàng loạt các tổ chức yêu nước của tầng lớp
trí thức, tiểu tư sản tiến bộ tiếp tục ra đời, thể hiện sự lớn mạnh của xu hướng yêu nước dân chủ tư sản,
tiêu biểu là Đảng Thanh Niên của Trần Huy Liệu, tổ chức Thanh niên Cao Vọng của Nguyễn An Ninh.
Năm 1925, Phan Bội Châu bị bắt, nhân dân Nam Bộ cũng lập tức hăng hái hưởng ứng phong trào
đấu tranh lên án thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Bộ thời điểm đó cũng đã góp
phần không nhỏ làm cho thực dân Pháp phải nhượng bộ.
Năm 1926, Phan Châu Trinh mất ở Sài Gòn. Đám tang của cụ trở thành một cuộc biểu dương lực
lượng lớn chưa từng có của quần chúng yêu nước Nam Bộ. Tại Sài Gòn, đám tang được tổ chức trọng
thể, huy động đến 14 vạn người tham gia. Hội đồng tang lễ được lập ra bao gồm đại diện của Đảng
Thanh Niên và Đảng Lập Hiến. Quy mô và khí thế của đám tang đã làm cho thực dân Pháp phải e ngại,
tìm cách trấn áp. Ngay lập tức, nhiều cuộc bãi công, bãi khóa nổ ra để phản đối. Đám tang Phan Châu
Trinh đã thực sự vượt ra khỏi ý nghĩa của một đám tang thông thường mà biến thành một cuộc biểu
dương lực lượng của quần chúng nhân dân Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung.
Cùng với việc tổ chức đám tang cụ Phan Châu Trinh, năm 1926 còn diễn ra phong trào yêu nước
dưới danh nghĩa đón tiếp Bùi Quang Chiêu. Năm 1925, Bùi Quang Chiêu sang Pháp và tổ chức một
cuộc vận động lớn đòi Pháp phải ban hành các quyền tự do dân chủ ở Việt Nam. Các yêu sách gồm
chín điểm chính:
1. Tự do ngôn luận,
2. Tự do báo chí.
3. Tự do hội họp và lập hội.
4. Tự do đi lại.
5. Cải cách giáo dục.
6. Điều chỉnh chế độ lương bổng công bằng giữa người Pháp và người Việt.
7. Nới rộng quyền đại diện chính trị.
8. Nâng cao đời sống lao động.
9. Bãi bỏ độc quyền kinh tế.
Chuyến đi không đạt kết quả và ngày 24/3/1926, Bùi Quang Chiêu phải trở về nước mà không đạt
được ý định. Tuy nhiên, nhân cơ hội này, Đảng Thanh Niên chủ trương phát động một số lượng lớn
quần chúng đến đón tiếp Bùi Quang Chiêu, nhằm phát triển thành một cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ
cho dân tộc. Cuộc đón tiếp Bùi Quang Chiêu lập tức nhận được sự hưởng ứng nhiệt thành của các tầng
lớp nhân dân, thu hút hàng vạn người tham gia.
Tuy nhiên, Bùi Quang Chiêu và Đảng Lập Hiến vốn chủ trương bất bạo động, chỉ mong muốn đấu
tranh bằng phương pháp hòa bình. Trước khí thế cách mạng của quần chúng đang lên cao, Bùi Quang
Chiêu và Đảng Lập Hiến không muốn phong trào phát triển quá xa. Vậy nên Bùi Quang Chiêu ngay
sau đó đã công khai phản đối bạo động, tuyên bố trung thành với chủ nghĩa Pháp Việt đề huề.
Thái độ tiêu cực đó của Bùi Quang Chiêu không hề làm cho phong trào lắng xuống, mà tiếp tục
phát triển mạnh mẽ theo một hướng khác: đả đảo Bùi Quang Chiêu, phản đối chủ nghĩa Pháp Việt đề
huề của Đảng Lập Hiến. Khí thế ấy được cụ thể hóa trong cuộc đấu tranh đòi thả Nguyễn An Ninh diễn
ra ngay sau đó.
Cùng ngày Bùi Quang Chiêu về nước, Nguyễn An Ninh, một trí thức yêu nước có uy tín lớn, bị
thực dân Pháp bắt giam và tuyên án hai năm tù. Trước tình hình đó, Đảng Thanh Niên đã phát truyền
đơn kêu gọi nhân dân đấu tranh đòi trả tự do cho Nguyễn An Ninh. “Một cuộc tổng đình công đã được
dự định tổ chức ở khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn. Tại một vài nơi như Ngân hàng Đông Dương, hẵng cao
su Labbé, công nhân và viên chức đã nghỉ việc để phản đối bản án”. [80, tr 724]
Lo ngại trước sự phát triển mạnh của các phong trào đấu tranh, thực dân Pháp đối phó quyết liệt.
Các cuộc đấu tranh bị đàn áp dữ dội, nhiều đảng viên Thanh Niên lãnh đạo các cuộc đấu tranh bị bắt
giữ. Phong trào đấu tranh vì thế dần dần bị lắng xuống.
Có thể nói, các phong trào đấu tranh theo xu hướng tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã lôi kéo
được đông đảo quần chúng tham gia nhưng không đạt được những thành quả lớn vì bản thân sức mạnh
của xu hướng này chưa đủ mạnh và có cả nguyên nhân từ tính chất thỏa hiệp của giai cấp tư sản.
Từ các phong trào đấu tranh yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản ở Nam Bộ, có thể đưa ra một
số nhận xét sau:
Thứ nhất, do đặc điểm của vùng Nam Bộ là vùng đất trực trị của thực dân Pháp, nền kinh tế ở đây
có thể nói là khá phát triển so với các vùng miền khác trên phạm vi cả nước, do đó, giai cấp tư sản và
tầng lớp trí thức tiểu tư sản ở đây phát triển khá mạnh. Điều này giải thích vì sao các phong trào đấu
tranh theo xu hướng dân chủ tư sản ở Nam Bộ rất sôi động và mang những bản sắc riêng biệt so với các
địa phương khác.
Thứ hai, từ đầu thế kỷ XX đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất là xu hướng yêu nước tư sản
hình thành dưới sự phát động của các sỹ phu phong kiến có tinh thần dân tộc chịu ảnh hưởng của các
luồng tư tưởng dân chủ mới du nhập vào nước ta. Đến sau chiến tranh, giai cấp tư sản và tầng lớp trí
thức tiểu tư sản mới trưởng thành, trên nền tảng mà các sỹ phu đã dày công gây dựng, các phong trào
đấu tranh theo xu hướng này bùng nổ mạnh mẽ, thực sự làm cho thực dân Pháp phải e ngại.
Thứ ba, các phong trào yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản phát huy được sức mạnh không chỉ
bởi sức mạnh của bản thân giai cấp tư sản và tầng lớp trí thức tiểu tư sản mà nhờ thu hút được một số
lượng đông đảo quần chúng tham gia. Điều đó khẳng định rằng, trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, xu
hướng yêu nước dân chủ tư sản là một xu thế tiến bộ, là ngọn cờ đầu trong việc khuấy động các phong
trào đấu tranh, nuôi dưỡng tinh thần yêu nươc cho nhân dân Nam Bộ.
Thứ tư, các phong trào đấu tranh theo xu hướng dân chủ tư sản cuối cùng đều chưa thành công, hay
chỉ đạt được những thắng lợi nhỏ tạm thời. Điều này có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Thực
dân Pháp lúc này còn rất mạnh, bộ máy cai trị thực dân vẫn ổn định chứ chưa có dấu hiệu khủng hoảng.
Thêm vào đó, các phong trào tuy rầm rộ nhưng chưa có một đường lối chiến lược đúng đắn, bản thân
giai cấp tư sản, đầu tàu lôi kéo phong trào thì lại yếu ớt và thỏa hiệp. Vậy nên khi bị kẻ thù đàn áp, các
cuộc đấu tranh nhanh chóng xẹp xuống.
Thứ năm, xu hướng yêu nước tư sản ban đầu có sự thống nhất, nhưng sau đó bắt đầu có dấu hiệu
chia rẽ thành hai xu hướng nhỏ: Xu hướng tư sản dân tộc cải lương và xu hướng tư sản dân tộc cách
mạng. Xu hướng tư sản dân tộc cải lương cũng có phát động được một số phong trào đấu tranh, nhưng
xu hướng này nhanh chóng bị phong trào yêu nước nói chung của quần chúng vượt qua. Còn xu hướng
tư sản dân tộc cách mạng thì vẫn đóng vai trò quan trọng ở Nam Bộ, nhưng thực sự không thể vươn lên
trở thành một thế lực lớn mạnh trong vũ đài chính trị Nam Bộ.
Đến những năm 20 của thế kỷ XX, ở Nam Bộ chứng kiến diễn ra sự dung hòa, chuyển tiếp giữa xu
hướng dân chủ tư sản và xu hướng yêu nước vô sản. Cuối năm 1926 đầu năm 1927 tổ chức Thanh niên
Cao Vọng được thành lập do Nguyễn An Ninh khởi xướng. Đây là một tổ chức thiên về xu hướng cộng
sản, trong giai đoạn sau này, đa số yếu nhân cốt cán của Thanh Niên Cao Vọng đều là những thành
viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể nói, từ các phong trào yêu nước do các sỹ phu khởi xướng,
và những tàn dư của phong trào Hội kín được Nguyễn An Ninh cải tổ lại, minh chứng cho bước chuyển
giao của xu hướng yêu nước theo hướng phong kiến và xu hướng tư sản. Thì việc các tổ chức như
thanh niên Cao Vọng, Đảng Thanh Niên lại là một bước quá độ để ra đời một xu hướng yêu nước mới,
tiến bộ hơn, để đáp ứng những yêu cầu khách quan của lịch sử. Đó là phong trào yêu nước Nam Bộ
nhất thiết cần phải có một tổ chức lãnh đạo tiến bộ với một đường lối đấu tranh tiến bộ hơn, kiên quyết
hơn. Nhu cầu đó nhanh chóng được thỏa mãn khi chủ nghĩa Mác Lênin bắt đầu phát huy ảnh hưởng
mạnh mẽ ở Nam Bộ.
1.3 Sự du nhập và phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin ở Nam Bộ
1.3.1 Quá trình du nhập của chủ nghĩa Mác Lê nin vào Nam Bộ
Vùng Nam Bộ, sau khi trở thành thuộc địa của Pháp, du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa từ rất sớm. Bởi vậy giai cấp công nhân ở đây có điều kiện thuận lợi nhất định để hình thành và
phát triển.
Có thể nói ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, vùng Bắc Bộ mới là nơi tập trung công nhân với số lượng
đông đảo nhất, do nơi đây tập trung khá nhiều các loại mỏ quặng. Nhưng sự phát triển của giai cấp
công nhân ở Nam Bộ cũng không hề thua kém. Thành phần chủ yếu của giai cấp công nhân Nam Bộ
bao gồm công nhân các đồn điền cao su và công nhân các ngành công nghiệp và thương nghiệp. “Riêng
tại Nam Kỳ, bên cạnh công cuộc khai thác đồn điền cao su miền Đông, các ngành công nghiệp thương
mại cũng phát triển mạnh, chủ yếu là Sài Gòn – Chợ Lớn. Tiêu biểu như năm 1905, Sài Gòn và Chợ
Lớn có chín nhà máy xay, sử dụng 700 đến 800 sức ngựa. Năm 1905, nhà máy Ba Son đã có 2000 công
nhân”. [72, tr 59]
Đặc biệt, các ngành công thương nghiệp, nhất là các đồn điền cao su ở Nam Bộ bấy giờ tuyển mộ
rất nhiều các đối tượng lao động ở các tỉnh đồng bằng miền Bắc. “Bằng những thủ đoạn dụ dỗ và
cưỡng ép, trong vòng 10 năm từ 1919 đến 1929, thực dân Pháp đã mộ được 87.371 người ở Bắc Kỳ và
Bắc Trung Kỳ đưa vào Nam làm trong các đồn điền”. [58, tr 18] Vậy nên ở Nam Bộ thời điểm đó “quá
trình vô sản hóa trên phạm vi cả nước không bó hẹp tại chỗ đã làm cho các trung tâm công nhân mang
tính chất toàn quốc”. [72, tr 14]
Công nhân ở Nam Bộ, cũng như các địa phương khác trên cả nước bị áp bức bóc lột nặng nề, lại kế
thừa truyền thống yêu nước nồng nàn của dân tộc nên đã biết nổi dậy đấu tranh từ rất sớm.
Những cuộc đấu tranh đầu tiên của công nhân Nam Bộ được hòa chung với những phong trào hội
kín, đang phát triển mạnh mẽ lúc bấy giờ. Tuy nhiên, giai đoạn sau đó, khi mà phong trào hội kín tỏ ra
bế tắc, thì phong trào công nhân lại ngày càng phát triển mạnh mẽ theo một con đường riêng.
Năm 1912, cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son và bãi khóa của học sinh trường Bá Nghệ
nổ ra dưới sự lãnh đạo của Tôn Đức Thắng. Sau cuộc đấu tranh này, Tôn Đức Thắng bị chính quyền
thực dân Pháp truy lùng nên phải tạm lánh ra nước ngoài, nhưng cuộc đấu tranh này thực sự là một dấu
ấn đối với sự phát triển của phong trào công nhân Nam Bộ.
Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất cũng có tác động không nhỏ đến sự phát triển của giai cấp
công nhân Việt Nam nói chung và giai cấp công nhân Nam Bộ nói riêng. Để đỡ một phần gánh nặng
chiến tranh cho chính quốc, thực dân Pháp tăng cường đầu tư phát triển nền công thương nghiệp thuộc
địa. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp
ở Đông Dương, giai cấp công nhân càng có điều kiện trưởng thành. “Giai cấp công nhân Việt Nam lớn
mạnh với sự lớn mạnh của nền công nghiệp, đặc biệt tính tập trung của nó ngày càng cao, số lượng
công nhân kỹ thuật ngày càng nhiều hơn trước, làm cho nó ngày càng trở thành một lực lượng quan
trọng trong xã hội Việt Nam”. [3, tr 49]
Năm 1917, Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi. Chủ nghĩa Mác - Lênin bắt đầu lan tỏa khắp toàn
cầu. Trong thời kỳ sau chiến tranh, rất nhiều thủy thủ, lính thợ Việt Nam hồi hương đã mang theo
những hiểu biết mới tư tưởng mới và cả những kinh nghiệm mới của giai cấp công nhân các nước tư
bản Phương Tây về nước. Giai cấp công nhân Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng đã bắt đầu biết
đến Cách Mạng Tháng Mười và các tác phẩm của chủ nghĩa Mác – Lênin. Và trên cơ sở đó dần tiếp thu
được ánh sáng cách mạng.
Đặc biệt, năm 1920 ở Sài Gòn nổ ra một cuộc bãi công lớn của 226 thủy thủ trên năm chiếc tàu lớn
ở cảng Sài Gòn đòi tăng phụ cấp và phản đối việc thực dân Pháp đưa lính Đông Dương sang đàn áp
cách mạng Xiri. Các thủy thủ tuy không phải là công nhân Việt Nam nhưng lại được sự ủng hộ của rất
nhiều người Việt Nam tiến bộ. Cuộc bãi công đã có tác động rất sâu sắc đến phong trào đấu tranh của
giai cấp công nhân Nam Bộ bấy giờ, cả về khía cạnh tinh thần cách mạng và cách thức tổ chức đấu
tranh.
Cũng trong năm 1920, Tôn Đức Thắng về nước, và sau đó bí mật thành lập Công hội đầu tiên ở Sài
Gòn, đánh dấu bước phát triển mới của phong trào công nhân Nam Bộ. “Công hội do đồng chí Tôn
Đức Thắng sáng lập đã bắt nhịp cầu đưa chủ nghĩa Mác – Lênin đến với công nhân. Công hội Sài Gòn
– Chợ Lớn tuy không rộng lớn nhưng lại là một tổ chức bí mật đồng nhất và hoạt động có tổ chức
trong khoảng thời gian 1920 – 1925”. [72, tr 65] Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Nam Bộ từ
chỗ đấu tranh tự phát, đơn thuần nhằm vào kinh tế, dần dần đi vào tổ chức và có mục đích chính trị rõ
ràng.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân Nam Bộ, thông qua những hoạt động
của Nguyễn Ái Quốc và nhiều nhà yêu nước khác, các sách báo cách mạng đã bắt đầu du nhập vào Việt
Nam, truyền bá một cách sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin vào Nam Bộ, tạo tiền đề cho sự xuất hiện của
các tổ chức cộng sản trong giai đoạn sau này.
1.3.2 Sự phát triển của chủ nghĩa Mác Lê nin ở Nam Bộ đến trước khi thành lập Xứ Ủy Nam Kỳ
Trước sự ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của chủ nghĩa Mác Lênin. Những tổ chức yêu nước theo
xu hướng vô sản bắt đầu hình thành và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, khuấy
động các phong trào yêu nước ở Nam Bộ.
Đặc biệt, năm 1921, Liên đoàn công nhân tàu biển ở Viễn Đông đã được thành lập, thu hút cả một
số công nhân, thủy thủ ở Nam Bộ tham gia, chứng minh sự liên hệ chặt chẽ giữa phong trào công nhân
trong nước và quốc tế.
Phong trào công nhân vì vậy cũng có những bước phát triển mới.
Tháng 11/1922, được sự ủng hộ của Công hội bí mật, một cuộc bãi công lớn của 600 thợ nhuộm ở
Chợ Lớn nổ ra. Cuộc bãi công cuối cùng đã thắng lợi, các chủ xưởng đã phải nhượng bộ trước các yêu
sách của công nhân đưa ra.
Tháng 8/ 1925, cuộc bãi công lớn của 1000 công nhân Ba Son. Mục đích của cuộc bãi công không
chỉ là đòi hỏi những quyền lợi cho công nhân Ba Son mà mục đích chính là nhằm giữ chiếc tàu
Michelet không cho thực dân Pháp đưa quân sang đàn áp cách mạng Trung Quốc. Công hội đã vận
động cả các nhà máy, công sở khác ủng hộ công nhân Ba Son. Kết quả cuộc bãi công đã giành thắng
lợi, và không chỉ có vậy, thắng lợi của công nhân Ba Son còn góp phần không nhỏ vào thắng lợi của
công nhân và thủy thủ Trung Quốc.
“Rõ ràng, cuộc bãi công Ba Son năm 1925 là cuộc đấu tranh đầu tiên có tổ chức và có lãnh đạo.
Cuộc bãi công này không chỉ nhằm vào mục tiêu kinh tế, mà cao hơn nữa còn nhằm vào mục đích
chính trị, thể hiện tinh thần đoàn kết giai cấp, đoàn kết quốc tế của công nhân Việt Nam với những
người anh em Trung Quốc”. [80, tr 728]
Tháng 6/1925, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ra đời tại Quảng Châu (Trung Quốc). Ảnh
hưởng của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên nhanh chóng lan tỏa đến Nam Bộ. Năm 1926, Tôn Đức
Thắng và toàn bộ công hội Sài Gòn – Chợ Lớn đều gia nhập vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
Năm 1927, tại Sài Gòn, Kỳ Bộ Nam Kỳ được thành lập với bí thư là Phan Trọng Bình.
Dưới sự lãnh đạo của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, phong trào công nhân ở Nam Bộ, bùng
nổ mạnh mẽ hòa cùng với phong trào công nhân và phong trào yêu nước trên phạm vi toàn quốc. Có
thể kể đến hàng loạt các cuộc đấu tranh như: công nhân nhà máy cao su Sài Gòn (7/1926), công nhân
đồn điền cao su Phú Riềng (8 – 9/ 1927), công nhân nhà máy nước đá Larue Sài Gòn (2/1928), công
nhân nhà máy xay gạo Chợ Lớn (2/1928), công nhân nhà máy in Portail Sài Gòn (5/1928)…
Tuy nhiên, ở Nam Bộ thời gian này không chỉ chịu ảnh hưởng của Hội Việt Nam cách mạng thanh
niên, mà còn có cả những cơ sở của Tân Việt cách mạng đảng. Tân Việt cách mạng đảng là một tổ
chức yêu nước, ban đầu tuy chưa có lập trường giai cấp rõ rệt, nhưng qua các hoạt động tiếp xúc với
Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, lập trường chính trị của Tân Việt dần dần thay đổi và chuyển
sang xu hướng vô sản. Tại Nam Bộ, tổ chức kỳ bộ của Tân Việt có bí danh là “Dũng kỳ”.
Mặc dù vậy, địa bàn chủ yếu của Tân Việt vẫn là ở Trung Kỳ, còn ở Nam Kỳ, do ảnh hưởng của
Hội Việt Nam cách mạng thanh niên khá mạnh, thêm vào đó, bản thân các thành viên Tân Việt cũng
ngày càng có xu hướng gia nhập vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, nên cơ sở của Tân Việt
trong quần chúng không được rộng rãi.
Năm 1929, các phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Nam Bộ tiếp tục phát triển mạnh.
Tiêu biểu là các cuộc bãi công của công nhân đồn điền mía Phú Mỹ (Bà Rịa), công nhân hãng buôn
Sacne (Sài Gòn), công nhân đồn điền cao su Phú Riềng, công nhân các nhà in Chợ Lớn…
Trước sự lớn mạnh của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, hội Việt Nam cách mạng
thanh niên bắt đầu phân hóa. Ở Nam Bộ khi ấy cũng chứng kiến sự phân hóa sâu sắc của xu hướng yêu
nước cộng sản. Nơi đây có cả cơ sở của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Tân Việt Cách mạng
Đảng. Khi bộ phận hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Bắc Kỳ tách ra thành lập Đông Dương Cộng
sản Đảng, và ảnh hưởng ngày càng mạnh đến phong trào đấu tranh yêu nước, bộ phận còn lại của hội
Việt Nam cách mạng thanh niên ở Nam Bộ bèn tự cải tổ lại thành tổ chức An Nam cộng sản Đảng. Tổ
chức Tân Việt cách mạng đảng trước những thay đổi mau lẹ của thực tiễn lịch sử, cũng cải tổ thành
Đông Dương cộng sản liên đoàn.
Như vậy ở Nam Bộ, xu hướng yêu nước theo con đường cộng sản đến trước năm 1930 tuy có sự
phát triển nhưng không có sự thống nhất, giống như hoàn cảnh chung trên phạm vi cả nước.
Sự hình thành các tổ chức cộng sản tuy là một sự phát triển đáng ghi nhận, nhưng thực chất cũng
gây ra nhiều bất lợi cho phong trào cách mạng chung của dân tộc. Đầu năm 1930, thực hiện theo chỉ thị
của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc tiến hành hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Hương Cảng
(Trung Quốc). Từ sau sự thống nhất này, chủ nghĩa Mác Lênin ở Nam Bộ mới có được những tiền đề
để phát triển trong giai đoạn mới.
Trung tuần tháng 2/ 1930, các đại diện của An Nam cộng sản Đảng là châu Văn Liêm và Nguyễn
Thiệu về tới Sài Gòn sau khi dự hội nghị thành lập Đảng ở Hương Cảng (Trung Quốc). Các cuộc tiếp
xúc với những chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng diễn ra suôn sẻ, và cuối cùng, Chấp ủy của Đảng
Cộng sản Việt Nam ở Nam Kỳ ra đời, bí thư là Ngô Gia Tự.
Sau khi thành lập, Ban lâm thời Chấp ủy tiếp tục tiến hành việc hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Sài
Gòn và các tỉnh cho đến tận các chi bộ cơ sở và các hội quần chúng. Đảng Cộng sản thực sự đã đặt
được nền móng vững chắc trên vùng Nam Bộ, đó là tiền đề quan trọng mang tính quyết định cho những
bước phát triển nhảy vọt của xu hướng yêu nước vô sản trong giai đoạn tiếp theo.
**
*
Nhìn lại, khoảng thời gian 30 năm đầu thế kỷ XX là một giai đoạn lịch sử đầy biến động của vùng
Nam Bộ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Đến thời điểm này, thực dân Pháp đã cơ bản hoàn
thành công cuộc xâm lược, đặt được nền móng cai trị lên toàn bộ cả ba miền. Những đau thương và
tiếc nuối khi các phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ XIX thất bại cuối cùng cũng
dần tan. Đây thời kỳ mà những người Việt Nam yêu nước phải tạm gác lại quá khứ đau thương để cố
gắng mò mẫm tìm ra một lối đi cho dân tộc mình thoát khỏi vòng nô lệ.
Xu hướng yêu nước theo đường lối phong kiến tuy gặp những tổn thất nặng nề và chứng tỏ sự bất
lực của nó trong việc đáp ứng các đòi hỏi của thực tiễn lịch sử ở thời đại mới, nhưng với những nền
tảng đặc thù của đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của vùng Nam Bộ, và lại có truyền thống yêu nước
làm cốt lõi, vẫn tiếp tục tồn tại dưới hình thức các hội kín. Sự tồn tại dai dẳng của xu hướng yêu nước
phong kiến thực sự là một đặc trưng của vùng Nam Bộ. Điều đó một phần xuất phát từ bản chất của
con người nơi đây, được tôi luyện thành từ lịch sử khai phá mảnh đất này từ thuở ban sơ. “Người Nam
Kỳ rất sòng phẳng, ơn đền oán trả, ăn trái nhớ kẻ trồng cây. Họ luôn nhớ đến công lao khai hoang mở
cõi của các chúa Nguyễn, tạo điều kiện cho họ sống trên mảnh đất trù phú này”. [73, tr 40]
Nhưng các cuộc đấu tranh của các hội kín thực sự chỉ có thể mang lại những kết quả nhất thời,
những thành công nhỏ ở từng địa phương, chứ không thể vạch ra một con đường giải phóng cho toàn
dân tộc. Bởi vậy, những nhân sỹ Nam Bộ, cùng với những nhà yêu nước vỹ đại khác trên cả nước, lại
phải tìm một con đường mới.
Phong trào Duy Tân thực sự là một điểm nhấn quan trọng của phong trào yêu nước những năm đầu
thế kỷ XX ở Nam Bộ. Đây là “phong trào đấu tranh yêu nước cách mạng cuối cùng trước khi xuất hiện
sự phân hóa đường lối chính trị trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam”. [73, tr 19] Nó đánh
dấu sự phát triển đi lên của phong trào yêu nước Việt Nam trước những thay đổi lớn lao của thời đại
mới. Từ đây, xu hướng yêu nước tư sản, một trong những xu hướng tiến bộ nhất thời điểm bấy giờ đã
bắt đầu được nảy sinh và phát triển nhanh chóng ở Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung.
Đến những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Xu hướng yêu nước tư sản ở Nam Bộ bước sang
một giai đoạn phát triển mới, do giai cấp tư sản trực tiếp lãnh đạo. Tuy nhiên, dù cho hoàn cảnh kinh tế
xã hội của vùng Nam Bộ có rất nhiều thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của giai cấp tư sản
người Việt, bản thân giai cấp này vẫn không thể nào khắc phục được những nhược điểm cố hữu (quyền
lợi gắn với thực dân, cơ sở xã hội lỏng lẻo, lý luận cách mạng non nớt…). Điều đó tất yếu dẫn đến việc
mặc dù xu hướng yêu nước tư sản ở Nam Bộ cho đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX đã phát động
được nhiều cuộc đấu tranh gây tiếng vang lớn, vẫn không thể nào trở thành một thế lực lớn mạnh có thể
đảm đương trách nhiệm đưa dân tộc đến mục tiêu giải phóng. Và cuối cùng, xu hướng yêu nước tư sản
dần phân hóa thành hai nhánh nhỏ (xu hướng yêu nước tư sản cách mạng và xu hướng yêu nước tư sản
cải lương). Sự phân hóa ấy là minh chứng rõ ràng nhất cho sự suy yếu của xu hướng tư sản trong
phong trào yêu nước Nam Bộ. Quyền lãnh đạo cách mạng cuối cùng được chuyển giao sang xu hướng
vô sản, tuy xuất hiện sau nhưng lại nhanh chóng thể hiện sức mạnh và bản lĩnh của mình trước những
nhiệm vụ mà lịch sử giao phó. Quá trình chuyển giao sự lãnh đạo ấy không phải diễn ra ngày một ngày
hai, mà là một quá trình lâu dài, là kết quả đấu tranh của rất nhiều những chiến sỹ cộng sản trung kiên
bất khuất từ khi có sự du nhập của chủ nghĩa Mác Lênin vào Nam Bộ đến cả giai đoạn sau này.
Tóm lại, sự phát triển của các xu hướng trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ giai đoạn đầu thế kỷ
XX đã chứng tỏ được tinh thần yêu nước quật cường của người dân Nam Bộ. Trong giai đoạn này,
chưa xét đến yếu tố thành công hay thất bại, tất cả các phong trào yêu nước từ xu hướng phong kiến, xu
hướng tư sản và cả xu hướng vô sản đều mang ý nghĩa tích cực, góp phần nuôi dưỡng ngọn lửa yêu
nước trong tâm khảm mỗi người dân Nam Bộ. Đồng thời nó cũng đặt những nền móng vững chắc cho
sự phát triển của các phong trào yêu nước trong giai đoạn sau, tiến tới giành lấy những thắng lợi lớn
hơn cho toàn dân tộc.
CHƯƠNG HAI
PHONG TRÀO YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ SAU KHI CÓ SỰ LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
(1930 - 1945)
2.1 Quá trình xác lập vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Nam Bộ - sự thắng thế
của xu hướng yêu nước vô sản trong phong trào yêu nước Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX
2.1.1 Sự phát triển của các xu hướng yêu nước phi cộng sản ở Nam Bộ
Sau khi Đảng ra đời, các phong trào yêu nước theo xu hướng vô sản ở Nam Bộ bắt đầu phát triển
mạnh dưới sự lãnh đạo thống nhất của Chấp Ủy Nam Kỳ, và sau là Xứ ủy Nam Kỳ.
Mặc dù vậy, bản thân phong trào yêu nước nói chung ở Nam Bộ thời điểm này không chỉ có một xu
hướng vô sản, mà còn khá nhiều các xu hướng khác.
Trước hết phải kể đến sự đấu tranh mang màu sắc tôn giáo, một xu hướng yêu nước mang những
nét độc đáo của riêng vùng Nam Bộ, đặc biệt là sự ra đời của Đạo Cao Đài, cùng với phong trào chấn
hưng Phật giáo mà một trong những kết quả là sự ra đời của Phật Giáo Hòa Hảo.
Đêm Noel năm 1925, đạo Cao Đài chính thức được ra đời trong một buổi cầu cơ. Đêm đó, tương
truyền qua Cơ Bút, Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát đã chỉ đạo chọn 12 người để đứng ra lập
một tôn giáo mới gọi là “Đại đạo Tam Kỳ phổ độ”, tức đạo Cao Đài.
Sau đó những chức sắc đầu tiên của đạo Cao Đài làm đơn kèm chữ ký của 27 tín đồ đệ trình lên
Thống đốc Nam Kỳ để khai báo cho đạo được hoạt động một cách hợp pháp. Ngày 19/11/1926, Thống
đốc Nam Kỳ La Lepol chấp thuận đề nghị đó. Ngay sau đó, những người sáng lập đạo Cao Đài đã tổ
chức lễ ra mắt rất lớn ở chùa Gò Kén (Hòa Thành, Tây Ninh) với sự hiện diện của cả một số quan chức
người Pháp.
Bản thân từ đầu đạo Cao Đài không phải là một tổ chức quốc gia, dân tộc, dân chủ được bao bọc
bởi lớp vỏ tôn giáo để qua mắt chính quyền thực dân. Vào thời điểm năm 1925 - 1926, khi mà các
phong trào đấu tranh yêu nước đang sôi sục (đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh, phong
trào đám tang Phan Châu Trinh, đón tiếp Bùi Quang Chiêu…), thực dân Pháp không có lý do gì để cho
phép một tổ chức yêu nước tiến bộ hoạt động công khai như vậy. Thật ra, đạo Cao Đài ra đời một phần
là do âm mưu thâm độc của chính quyền thực dân ở Nam Kỳ. Những người sáng lập ra Đạo Cao Đài
hầu hết đều là những người thân Pháp và cổ động cho chủ trương Pháp - Việt đề huề. Ngay trong lần
giáng cơ tháng 1/1926, quan điểm của Đạo Cao Đài đã được xác định rõ ràng: “Nòi giống Pháp và nòi
giống Nam là hai nòi giống được ta phù hộ. Ta muốn các ngươi mãi mãi đề huề với nhau”. [37, tr 512]
Như vậy, Đạo Cao Đài thực chất buổi đầu được khai sinh ra chỉ với tư cách là một công cụ tuyên
truyền của thực dân Pháp, và cũng nhằm mục đích là lôi kéo quần chúng Nam Bộ vào các hoạt động
tôn giáo mà xao nhãng các phong trào đấu tranh. Nhưng những toan tính dù kỹ lưỡng vẫn không thể
nào không có chút sơ hở, nhất là khi lịch sử không phải lúc nào cũng yên bình mà luôn vận động và
xáo trộn.
Thứ nhất, số lượng tín đồ càng đông thì các chức sắc buộc phải bàn đến những vấn đề xã hội liên
quan đến lợi ích của bản thân đạo. Có nghĩa là bắt tay vào hoạt động chính trị một cách trực tiếp. Hầu
hết các tôn giáo lớn trên thế giới (Thiên chúa giáo, Hồi giáo…) đều trải qua con đường như vậy.
Thứ hai, trong một xã hội đang có một nền chính trị sôi động như vùng Nam Bộ nửa đầu thế kỷ
XX, đạo càng phát triển, thì số tín đồ cơ hội, đặc biệt là cơ hội chính trị xen lẫn vào hàng ngũ chức sắc
ngày càng đông. Số chức sắc này tất nhiên dễ dàng biến đạo, hay ít nhất là một bộ phận của nó, trở
thành chính đảng dưới lớp vỏ bọc tôn giáo.
Thứ ba, thực dân Pháp thời điểm đó đang mạnh, nhưng sẽ có ngày suy yếu. Nếu chuyện đó xảy ra,
đạo Cao Đài chắc chắn không thể mãi là công cụ trong tay thực dân Pháp.
Thực tế lịch sử đã diễn ra gần giống như vậy, từ sau khi chính thức thành lập năm 1926, do đáp ứng
đúng được nhu cầu của một bộ phận nhân dân đương thời: đề cao lòng yêu nước và hi vọng thay đổi số
phận, đạo Cao Đài dần dần có những bước phát triển vượt bậc. Cơ cấu giáo hội của đạo dần được kiện
toàn và được tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, dựa theo kinh nghiệm tổ chức của Thiên
Chúa giáo. Đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX, Đạo Cao Đài thực sự trở thành một thế lực lớn
mạnh trên vũ đài chính trị Nam Bộ.
Số người gia nhập đạo ngày càng tăng làm cho chính quyền cai trị của thực dân Pháp không thể
không lưu tâm. Chính phủ thuộc địa bấy giờ bắt đầu nhận thấy nguy cơ lớn có thể làm lung lay nền
thống trị đầu độc người bản xứ của Pháp, bởi sự giác ngộ theo tinh thần đạo giáo mới. Không ngần
ngại, chính quyền cai trị lập tức có những hành động để phòng ngừa.
Tuy nhiên, để đàn áp một tôn giáo đã có cơ sở rộng rãi và được phép hoạt động công khai như đạo
Cao Đài bấy giờ là một vấn đề không hề dễ dàng. Nhưng thực dân Pháp có thừa kinh nghiệm cho việc
đó. “Có những lý do làm cho người Pháp không thể ra mặt khủng bố tức thì mà họ phải làm theo từng
giai đoạn một, từ theo dõi, dò la, cho người vào nhập môn phái rối đến khủng bố, bắt bớ, nghiêm cấm,
họ đã thi hành từng thời kỳ. Có thể nói đến khi cơ sở tòa thánh bắt đầu được xây dựng tấp nập, chính
là lúc chính phủ Pháp trông thấy một xứ Jerusalem mới có hại cho họ nên họ đã ra tay khủng bố”. [83,
tr 211]
Song khó khăn trong việc chống phá đạo Cao Đài của Pháp không chỉ dừng lại ở đó. Các vị chức
sắc đứng đầu của đạo như các ông Lê Văn Trung, Nguyễn Ngọc Tương, Lê Bá Trang… đều là những
người thân Pháp và là những công chức có thế lực trong chính quyền thuộc địa. Điều đó làm cho Chính
phủ thuộc địa không dám đụng chạm đến các nhà lãnh đạo của Cao Đài mà lại chĩa mũi nhọn vào thành
phần đạo hữu của đạo ở nông thôn.
Sự lan tràn mạnh mẽ của đạo Cao Đài thời điểm bấy giờ bị thực dân Pháp cho là một vấn đề đáng lo
âu nhất trong việc hoạch định chính sách cai trị Đông Dương. “Nhiều tờ báo Pháp đã lên tiếng lo ngại
cho phong trào Đạo giáo mới và cho rằng đó là “một sự xem thường nhưng trở thành nguy hiểm đáng
sợ””. [83, tr 215]
Chính phủ thuộc địa cũng dần thay đổi thái độ, không còn dám thờ ơ với những hoạt động tổ chức
cơ bút của đạo Cao Đài đang thịnh hành khi đó. Khá nhiều các tín đồ Cao Đài bị bắt bớ và giam cầm.
Tuy nhiên, sự phát triển của đạo không vì thế mà giảm sút. “Thật là một điều lạ khi đạo Cao Đài xuất
hiện tại nước Việt Nam, mà còn lạ hơn nữa là nền đạo lại xuất hiện trong hoàn cảnh nước non này còn
bị trị. Nhưng dù chánh phủ Pháp có ngăn cấm, có nghi ngờ, hay có mưu toan khủng bố đàn áp thì đạo
Cao Đài vẫn trưởng thành trong sự hi sinh tin tưởng của tín đồ”. [83, tr 220 - 221]
Mặc dù vậy, tuy mâu thuẫn với thực dân Pháp ngày càng sâu sắc, nhưng nội bộ Đạo Cao Đài lại
không thể thống nhất để đề ra một đường lối đấu tranh chung. Đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai
(1939 - 1945 bùng nổ), sự phân liệt trong hàng ngũ tín đồ Cao Đài ngày càng rõ rệt. Một bộ phận chủ
trương dựa vào Nhật, chấp nhận đứng về phe Nhật khi quân Nhật kéo vào Đông Dương. Trong khi đó
bộ phận còn lại của Đạo Cao Đài lại chọn con đường sát cánh với Đảng Cộng sản, cụ thể là gia nhập
hàng ngũ Việt Minh để tiến hành cuộc cách mạng tháng Tám.
Như vậy có thể thấy, bản thân Đạo Cao Đài đã tồn tại nhiều hạn chế trong việc khẳng định chỗ
đứng của mình trong công cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Bởi vậy, tuy phần nào cũng có ý
nghĩa tích cực, nhưng bản thân Đạo Cao Đài chưa bao giờ đóng vai trò là ngọn cờ đầu trong việc tổ
chức lãnh đạo các phong trào đấu tranh ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX.
Sự hình thành và phát triển của Đạo Cao Đài, thực tế, còn có những tác động khác đến tình hình
Nam Bộ. Từ năm 1926, hoạt động mạnh mẽ của Đạo Cao Đài làm Phật giáo ở nhiều địa phương mất cả
tín đồ lẫn cơ sở thờ tự. Điều này đương nhiên gây nên sự phản ứng từ giới Phật tử và dẫn đến phong
trào Chấn hưng Phật giáo, mà bản chất của phong trào này, không gì khác hơn cũng là một phong trào
mang tính chất dân tộc.
Thực ra, phong trào Chấn hưng Phật giáo không phải chỉ diễn ra ở Nam Bộ mà là một cuộc vận
động có quy mô toàn quốc. Nhưng Nam Bộ, do những điều kiện lịch sử cụ thể, là một trong những nơi
diễn ra mạnh mẽ nhất. Tinh thần yêu nước của giới phật tử Nam Kỳ đã được chứng minh từ lâu. Ngay
từ những năm 1925 - 1926, trong các phong trào ủng hộ Nguyễn An Ninh, Phan Châu Trinh hay trong
buổi đón tiếp Bùi Quang Chiêu cũng có một số phật tử tham gia. Khi bị chất vấn tại sao các tăng ni lại
tham gia biểu tình, giáo thọ Thiện Chiếu công khai trả lời với báo chí: “Thuyết từ bi cứu khổ cua Phật
tử xui Phật tử tham gia những cuộc vận động yêu nước thương dân chớ không ai xui cả”. [37, tr 517]
Từ khi phong trào Chấn hưng Phật giáo được phát động, các hoạt động diễn ra khá sôi nổi, tập trung
vào các hoạt động dịch lại kinh sách ra chữ quốc ngữ, thành lập một số trường đào tạo tăng ni phật tử ,
truyền bá những tinh thần yêu nước phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ, nhất là khuyên
các tăng ni phật tử không nên “co mình vào kinh kệ mà dang tay ra làm việc xã hội cho hợp với tôn chỉ
cứu khổ, cứu nạn của Phật”… [37, tr 520]
Tuy nhiên các phong trào nhanh chóng bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, nhất là sau sự kiện cách
mạng 1930 - 1931. Các tờ báo cổ động cho phong trào bị đóng cửa, các hội phật tử mới thành lập cũng
bị giải tán. Thâm độc hơn, chính quyền thực dân Pháp còn khéo lèo lái cuộc vận động Chấn hưng Phật
giáo theo hướng có lợi cho mình. Năm 1932, thống đốc Nam Kỳ cho Com - mi Chấn đứng ra thành lập
Hội nghiên cứu Phật học và tờ tạp chí Từ bi âm. Tình hình tương tự cũng diễn ra ở Trung Kỳ và Bắc
Kỳ. Công cuộc vận động coi như bị thực dân Pháp thao túng.
Nhưng riêng ở Nam Bộ, tình hình hoàn toàn không đơn giản như miền Bắc và miền Trung. Thực
dân Pháp mặc dù dùng nhiều biện pháp để lũng đoạn phong trào Chấn hưng Phật giáo vẫn không thể
đạt được những kết quả khả quan nhất. Bởi ở Nam Kỳ, do những tác động của phong trào, đến năm
1939, một tôn giáo mới xuất hiện, và nhanh chóng thể hiện chỗ đứng của mình trên vũ đài chính trị:
Phật giáo Hòa Hảo.
Phật giáo Hòa Hảo ra đời ngày 15/5/1939 tại làng Hòa Hảo, Châu Đốc, An Giang và phát triển chủ
yếu ở đồng bằng sông Cửu Long. Sự ra đời của Phật giáo Hòa Hảo gắn với đặc điểm tâm lý, lối sống
đạo đức, tính cách, đời sống tín ngưỡng của nông dân Nam Bộ và liên quan đến môi trường kinh tế - xã
hội - chính trị ở đây trong khoảng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. Sự ra đời này cũng là do
tác động của phong trào chấn hưng Phật giáo nhất là ảnh hưởng của Bửu Sơn Kỳ Hương - một nhánh
của Phật giáo ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Người sáng lập ra Phật giáo Hòa Hảo là
Huỳnh Phú Sổ (1920 – 1947).
Ra đời năm 1939 nhưng qua đến năm 1940 số tín đồ của Phật giáo Hòa Hảo có đến vài trăm ngàn
người. Năm 1941, thực dân Pháp sợ Huỳnh Phú Sổ theo Nhật nên đã tiến hành quản thúc ông tại Châu
đốc rồi Cần Thơ, Bạc Liêu.
Năm 1942, Nhật mua chuộc, lôi kéo đạo Hòa Hảo và đưa Huỳnh Phú Sổ về Sài Gòn.
Năm 1945, Huỳnh Phú Sổ được mời tham gia Ủy ban kháng chiến Nam Bộ với tư cách là đại diện
cho đồng bào Phật giáo Hòa Hảo.
Như vậy, cũng như Đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo tuy ít nhiều cũng đóng vai trò là một tổ chức
yêu nước, có tinh thần dân tộc nhưng cũng không thể nào vượt qua được những hạn chế cả chủ quan và
khách quan để nổi lên như một ngọn cờ đầu lãnh đạo các phong trào yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế
kỷ XX.
Thứ nhất, bản thân là những tôn giáo địa phương, tiềm lực của Đạo Cao Đài và Hòa Hảo hiển nhiên
không thể sánh bằng với những tổ chức chính trị có quy mô rộng lớn trên cả nước, đặc biệt là Đảng
Cộng sản.
Thứ hai, màu sắc tôn giáo của Đạo Cao Đài và Hòa Hảo cũng là hạn chế không nhỏ trong việc tham
gia vào các hoạt động đấu tranh chính trị.
Thứ ba, sự chia rẽ trong hàng ngũ tín đồ, đặc biệt xu hướng hợp tác với Nhật là một hạn chế lớn của
Đạo Cao Đài và Hòa Hảo, làm hạ uy tín của tổ chức trong quần chúng.
Có thể thấy, Cao Đài và Hòa Hảo, trong quá trình phát triển của mình đã thực sự phát huy ảnh
hưởng ra ngoài phạm vi tôn giáo, trở thành những lực lượng chính trị lớn mạnh, thực chất cũng đạo
diện cho xu hướng yêu nước tư sản, ít nhiều có tinh thần yêu nước và chống Pháp.
Trong khi đó, đối với các phong trào yêu nước theo xu hướng yêu nước tư sản khác, tuy ở Nam Bộ
có phát triển hơn các địa phương miền Bắc và miền Trung, nhưng thực sự nếu so sánh với sự phát triển
mạnh mẽ của Đảng Cộng sản ở đây, thì mới thấy hết được sự yếu ớt nó. Suốt đến tận khi Cách mạng
tháng Tám nổ ra, ở Nam Bộ không hề có một tổ chức cách mạng nào thật sự lớn mạnh đại diện cho xu
hướng này. Thảng hoặc đây đó trên các tờ báo như Đuốc nhà Nam, Việt Nam có đăng những bài viết
của Diệp Văn Kỳ, Nguyễn Văn Sâm đề xuất thành lập một liên minh tư sản. Diệp Văn Kỳ viết: “Theo ý
tôi thì tình thế ngày nay nó đã bắt buộc ai là người thức giả đều phải dẹp hết bao nhiêu tư kiến về trẻ
về già, về Nam về Bắc về Trung, dẹp hết bao nhiêu đảng phái, những chủ nghĩa, bao nhiêu những nỗi
hiềm nghi, những vấn đề giai cấp, mà chỉ nên nhớ một điều là nước ta đương nguy, người ta đương
khổ, kinh tế ta đương cần phải mở mang, chính trị ta đương cần phải giải phóng, rồi đồng tâm hiệp lực
mà thành lập ngay chính đảng có tổ chức, có chương trình”. [36, tr 544 - 545]
Những lời kêu gọi thành lập một liên minh tư sản để xác lập quyền lãnh đạo của giai cấp tư sản
không nhận được sự ủng hộ của quảng đại quần chúng. “Bởi vì lập mặt trận bao gồm các chính đảng,
các giai cấp, các xu hướng các tôn giáo để chung sức đòi cải cách dân chủ, là một điều, mà thủ tiêu
các chính đảng, chính kiến để thành lập một đảng duy nhất, đó lại là một điều khác” [36, tr 545]
Vậy nên mặc dù các hoạt động yêu nước theo xu hướng tư sản diễn ra khá sôi nổi, nhưng thực ra xu
hướng này rất yếu ớt, không có chỗ dựa lớn trong quần chúng, và đều phải sự liên hệ trực tiếp hoặc
gián tiếp với Đảng Cộng sản. Và hơn nữa, một bộ phận yếu nhân đại diện cho xu hướng tư sản dân tộc
cách mạng, do chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác Lênin, đã dần chuyển sang lập trường vô sản, sát
cánh với Đảng Cộng sản trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.
Có thể nói “chủ nghĩa dân tộc cách mạng có nguồn gốc sâu xa từ tinh thần chống ngoại xâm của
các tầng lớp đồng bào. Nhưng vào thời điểm lịch sử giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, đảng dân tộc
cách mạng yếu ớt về tổ chức, nông cạn về tư tưởng, đi tìm mãi mà không ra một chủ nghĩa, xem nhẹ lý
luận, xem rẻ tuyên truyền, không tự mình vũ trang nổi cho mình một hệ thống chiến lược chiến thuật,
một lý tưởng để làm hiệu cờ. Cho nên, tổ chức dân tộc cách mạng bị thực dân Pháp đánh phá tan tành
mà dù gặp lúc có điều kiện thuận lợi họ cũng không sao tập hợp trở lại được. Hàng ngũ phân hóa, số
đông thoái chí. Những phần tử bảo thủ quay đầu thỏa hiệp với đế quốc, còn các chiến sỹ ưu tú, kiên
quyết sớm hay muộn đều chuyển sang trận tuyến chủ nghĩa Mác - Lênin để tích cực tham gia sự nghiệp
cứu nước”. [37, tr 749 - 750]
Trước tình hình yếu ớt và bất lực của các xu hướng yêu nước tư sản nhuộm màu sắc tôn giáo và dân
tộc ở Nam Bộ, việc Đảng cộng sản phải cạnh tranh với các xu hướng yêu nước khác là điều không cần
thiết phải bàn. Vấn đề đặt ra chỉ là thực sự Đảng Cộng sản có đủ sức để gánh vác trách nhiệm lãnh đạo
phong trào yêu nước nói chung đi đến thắng lợi hoàn toàn hay không.
2.1.2 Quá trình khẳng định vị thế của Đảng trong phong trào yêu nước Nam Bộ
Ngay sau khi thành lập, Đảng đã chịu sự tổn thất nặng nề do sự khủng bố dã man của thực dân Pháp
trong phong trào cách mạng 1930 - 1931. Tuy ở Nam Bộ phong trào đấu tranh không quyết liệt như ở
các tỉnh miền Trung và miền Bắc, nhưng hầu hết các cơ sở Đảng cũng bị phá vỡ. Mặc dù vậy, với
những hoạt động đấu tranh phối hợp với các địa phương khác trên cả nước, Đảng đã gây dựng được ít
nhiều uy tín trong nhân dân Nam Bộ.
Đến cuối năm 1934 đầu năm 1935, cơ sở Đảng mới dần được phục hồi. Xứ ủy Nam Kỳ được thành
lập trở lại, tiếp tục lãnh đạo phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Nam Bộ.
Giai đoạn 1936 - 1939, khi mà chủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất dần đi vào thực
tiễn, Đảng đã khuấy động được một phong trào yêu nước rộng lớn ở Nam Bộ với cuộc vận động Đông
Dương Đại hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ, hướng tất cả vào
mục tiêu đấu tranh chung. Đa số các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ giai đoạn này tuy khác nhau về
đường lối, cương lĩnh nhưng đều có chung tinh thần dân tộc, vì vậy các xu hướng này dễ dàng bị hút
theo các cuộc đấu tranh do Đảng phát động. Mâu thuẫn dân tộc làm xóa nhòa đi những khoảng cách
giữa các xu hướng yêu nước, đoàn kết các lực lượng quần chúng lại thành một khối để tấn công vào
thực dân Pháp và bọn tay sai. Chủ trương xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất là bước đi đúng đắn
của Đảng và cũng là nhân tố quyết định đưa Đảng trở thành ngọn cờ đầu trong phong trào yêu nước.
Đến khi Đảng rút vào hoạt động bí mật năm 1939, các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ dần dần được hội
tụ vào phong trào công nhân. Đảng thực sự đã xác lập được vị trí lãnh đạo đối với phong trào yêu nước
nói chung ở Nam Bộ.
Có điều con đường xác lập vị thế dẫn đầu lãnh đạo của Đảng tất nhiên không phải chỉ có thuận lợi
mà cũng tồn tại những khó khăn nhất định.
Thứ nhất, tuy đa số các lực lượng yêu nước chân chính đều đứng về phía Đảng trong cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc, nhưng bên cạnh đó vẫn có những kẻ mang danh chủ nghĩa dân tộc nhưng chấp nhận
bán mình làm tay sai cho kẻ thù, tấn công Đảng. Nguyễn Phan Long đại diện cho Phái Lập Hiến “bấy
giờ được xem như là một tay chống cộng có ý thức giai cấp mạnh, y nhìn xa hơn những người chống
cộng đương thời”. [37, tr 898] Dương Bá Trạc, đại diện nhóm Nam Phong thì lại “biểu hiện tư tưởng
chống cộng của tập đoàn phong kiến ra sức gắn bó một cách dại dột Nho giáo Việt Nam với mẫu quốc
Đại Pháp”. [37, tr 900] Tuy những luận điệu của những kẻ chống cộng không mấy có tiếng vang lớn,
nhưng đó cũng là một trong những lá bài để thực dân Pháp lợi dụng nhằm chống lại sự lớn mạnh của
Đảng và các phong trào yêu nước của nhân dân Nam Bộ.
Thứ hai, Đảng là bộ phận cách mạng nhất, kiên quyết nhất, ưu tú nhất trong phong trào đấu tranh
yêu nước, nhưng trước sự khủng bố trắng trợn và dã man của kẻ thù, những yếu tố tiêu cực dần nảy
sinh trong hàng ngũ Đảng, mà cụ thể là sự xuất hiện của “chủ nghĩa thủ tiêu” trong và liền sau phong
trào cách mạng 1930 - 1931. “Chủ nghĩa thủ tiêu” biểu hiện dưới nhiều hình thức, song rõ nhất là trên
lĩnh vực tổ chức Đảng và quan điểm phát động đấu tranh.
Đối với việc tổ chức Đảng, những người theo “chủ nghĩa thủ tiêu” cho rằng “trong điều kiện chế độ
thuộc địa hoàn toàn không có tự do dân chủ, khủng bố đế quốc vô cùng tàn bạo, phong kiến bản xứ lại
làm tay sai đắc lực cho Pháp, thì không thể nào tổ chức những hội quần chúng đông mà không bị kẻ
thù phát hiện và một khi bị phát hiện thì nhất định bị tiêu diệt. (…) Trong tình hình đó không ít đồng
chí và hội viên cho rằng “hãy mai phục đã”, còn nếu hoạt động thì nên hoạt động công khai hợp pháp
như thế nào đó, bằng không thì chỉ được đơn tuyến liên lạc cá nhân với nhau mà thôi. Hoặc phải co rút
lại tới mức tối thiểu từa tựa như Thiên Địa hội ngày nào”. [37, tr 902 - 903]
Còn đối với công tác phát động đấu tranh, “chủ nghĩa thủ tiêu” cho rằng nên củng cố tổ chức rồi
mới nghĩ đến việc tranh đấu. Thực sự điều này nếu xảy ra sẽ làm cho Đảng chẳng những làm cho
phong trào lắng xuống mà còn khiến Đảng gắp khó khăn nhiều hơn trong vấn đề củng cố tổ chức. Bởi
sức mạnh của Đảng là từ nhân dân mà ra. Xa rời quần chúng, không dám phát động đấu tranh thì Đảng
sẽ mất đi sức mạnh và cả vai trò đầu tàu đối với phong trào yêu nước nói chung của mình.
Tất nhiên, những tiêu cực này chỉ xuất hiện trong một bộ phận đảng viên bản lĩnh cách mạng chưa
cao. Nhưng việc đấu tranh với các xu hướng này lại là một vấn đề mang tính sống còn đối với Đảng.
Bởi nếu không đấu tranh một cách nghiêm túc và quyết liệt, những tiêu cực ấy sẽ lan tràn không thể
kiểm soát. Bản thân Đảng chẳng những suy yếu mà còn mất uy tín trước quần chúng nhân dân.
Thứ ba, tuy Đảng là đại diện chân chính cho xu hướng yêu nước vô sản, nhưng thực sự xu hướng
này còn bao gồm cả những phần tử mang danh cộng sản nhưng lại đứng trên một lập trường khác. Tiêu
biểu là sự xuất hiện của nhóm Tờ rốt kít. Nhóm này có nguồn gốc từ Pháp, bị trục xuất về nước sau
cuộc biểu tình ở Pháp năm 1930 đòi thả những chiến sỹ Yên Bái bị xử tử hình. Về đến Sài Gòn, trong
bối cảnh Đảng bị đàn áp dẫn đến các cơ sở bị tan rã, nhóm Tờ rốt kít nhanh chóng phát triển nhờ con
đường hoạt động hợp pháp rồi công khai thành lập cánh “tả đối lập”, tức nhóm đối lập của Đảng cộng
sản. Những lập luận của nhóm Tờ rốt kít khá mơ hồ. Tiêu biểu như tư tưởng phủ nhận chủ nghĩa yêu
nước, cho rằng những người cộng sản phải đặt tinh thần quốc tế, tinh thần giai cấp lên trên hết, hoặc
quan điểm cho rằng giai cấp vô sản chỉ có nhiệm vụ làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, không có nhiệm
vụ chống phong kiến…
Tuy chủ trương phủ nhận chủ nghĩa yêu nước, nhưng thực sự nhóm Tờ rốt kít vẫn có tinh thần
chống thực dân, đế quốc. Song mặc dù vậy, những tư tưởng lệch lạc của nhóm này vẫn gây những khó
khăn đáng kể cho phong trào yêu nước Nam Bộ nói chung và hoạt động của Đảng Cộng sản nói riêng.
Bởi trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng này nếu Đảng không đứng vững thì cũng khó mà đảm
bảo cho việc tranh thủ lòng tin của quần chúng, chưa nói đến việc lãnh đạo các phong trào đấu tranh
yêu nước.
Tất nhiên, những khó khăn đó đã được Đảng giải quyết một cách rốt ráo thông qua những chủ
trương đúng đắn và phù hợp với thực tiễn.
Những kẻ chống cộng cam tâm làm tay sai cho kẻ thù bản thân họ đã không nhận được sự đồng tình
của quần chúng, đây hóa ra lại là kẻ thù dễ đối phó nhất. Vậy nên Đảng không cần nhọc công tranh
luận, bởi “càng chống cộng, bọn họ càng gián tiếp tuyên truyền cho người cộng sản thì người Việt
Nam từ nay (1930 - 1931) xem cộng sản là tiêu biểu kiên cường cho chủ nghĩa yêu nước không phải ở
đầu lưỡi mà trong hành động. Các phiên tòa xử người cộng sản, xử người công nhân bãi công, xử
người nông dân biểu tình , kể hàng chục phiên nếu không phải là hàng trăm, đã thành những diễn đàn
đánh tan bất cứ luận điệu chống cộng nào”. [37, tr 902]
Riêng đối với những tư tưởng lệch lạc trong nội bộ, như “chủ nghĩa thủ tiêu”, thì vấn đề khó khăn
hơn nhiều. Nhưng dẫu sao, tư tưởng này chỉ có thể nảy nở do những điều kiện khó khăn đen tối, và
cũng chỉ ở những người đảng viên chưa thật trung kiên. Còn đa phần các Đảng viên vẫn duy trì được
niềm tin và vạch ra sách lược đúng đắn để hướng phong trào đi lên. Đến khi giai đoạn thoái trào kết
thúc, các hoạt động diễn ra dễ dàng hơn thì những tư tưởng sai lệch cũng không còn điều kiện để tồn tại
nữa.
Còn đối với chủ nghĩa Tờ rốt kít, thực sự thì những người theo chủ nghĩa này trong thời điểm ban
đầu cũng không hẳn là kẻ thù của cách mạng, của dân tộc. Đảng chủ trương trong một chừng mực nào
đó vẫn có thể lợi dụng họ, hợp tác với họ, nhưng nhất thiết phải đấu tranh để làm rõ lập trường quan
điểm chân chính của chủ nghĩa Mác - Lênin. Vậy nên “cuộc đấu tranh tư tưởng này có bề sâu đáng kể
nhưng hai bên chưa nặng lời với nhau, mà trên mặt trận công khai hợp pháp, còn hợp tác với nhau”.
[37, tr 908] Thậm chí, ngay bản thân việc đấu tranh tư tưởng với nhóm Tờ rốt kít còn được Đảng xác
định như một biện pháp để quảng bá hình ảnh của mình đối với quần chúng nhân dân. Hơn nữa, Đảng
cũng giữ lập trường rất rõ ràng, kiên quyết tấn công bọn đầu sỏ Tờ rốt kít, nhưng không đánh đồng
quần chúng lầm lạc đi theo họ. Đối với những người như vậy, Đảng cho rằng cần kiên nhẫn lôi kéo họ,
làm cho họ tự rút kinh nghiệm mà nhận rõ bản chất phản động của chủ nghĩa Tờ rốt kít. Cuộc đấu tranh
với nhóm Tờ rốt kít vừa kiên quyết, lại vừa mềm mỏng. Nhưng mặc dù vậy, cuộc đấu tranh này là một
cuộc đấu tranh kiên quyết không khoan nhượng, bởi việc thành hay bại không chỉ đơn thuần là sự
thắng thế của một xu hướng tích cực hay phản động trong xu hướng vô sản, mà còn liên quan đến vận
mệnh toàn dân tộc.
Với những sách lược khôn khéo và đúng đắn đó, Đảng không chỉ tự kiện toàn tổ chức và ngày càng
vững mạnh, mà cũng không lạ khi cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Nam Bộ, Đảng Cộng sản
nổi lên như một lá cờ đầu trong việc đoàn kết các lực lượng, các xu hướng yêu nước để giành lấy độc
lập tự do.
2.2 Các xu hướng đấu tranh yêu nước dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông
Dương ở Nam Bộ
2.2.1 Các phong trào đấu tranh yêu nước ở Nam Bộ dưới sự liên kết của Đảng từ 1930 đến trước
ngày Nhật tiến vào Đông Dương
Phong trào cách mạng 1930 – 1931 bùng nổ, Đảng Cộng sản ở Nam Bộ đã tích cực tổ chức các
cuộc đấu tranh để ủng hộ cho phong trào ở Nghệ Tĩnh. Ngày 1/5/1930, các cuộc bãi công diễn ra khắp
nơi trên khắp Nam Kỳ: Công nhân nhà đèn chợ Quán (Sài Gòn), công nhân đồn điền cao su Phú Riềng,
công nhân đồn điền cao su Dầu Tiếng, công nhân hãng dầu Nhà Bè, công nhân nhà đèn Cần Thơ…
Tháng 4/1930, Tổng công hội đỏ Nam Kỳ được thành lập trên cơ sở 12 công hội tổ chức ở Sài Gòn
- Chợ Lớn với 700 hội viên. Sự thành lập tổ chức công hội đỏ không những tổ chức các phong trào đấu
tranh yêu nước mà còn có tác dụng nâng cao uy tín của Đảng đối với phong trào yêu nước nói chung
của nhân dân Nam Bộ.
Trong khi công nhân ở các thành phố lớn đấu tranh sôi nổi, Đảng cũng chú ý đến việc dìu dắt nông
dân ở các vùng nông thôn phụ cận vùng lên. Tại Sa Đéc, Long Xuyên và một số địa phương khác đã
xuất hiện các cuộc biểu dương lực lượng, có cuộc lên đến hàng ngàn người.
Bước sang năm 1931, trong khi các phong trào đấu tranh trên cả nước đã bắt đầu lắng xuống do sự
khủng bố dã man của kẻ thù, thì ở Nam Kỳ các cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục, có phần mạnh hơn các nơi
khác. “Đầu năm 1931, được tăng cường sự lãnh đạo của Trung Ương Đảng, phong trào công nhân Sài
Gòn hoạt động mạnh hẳn lên, thu hút sự chú ý đặc biệt của các lực lượng đàn áp của đế quốc Pháp”.
[16, tr 93]
Trong hai tháng đầu năm 1931, “Tổng công hội đỏ Nam Kỳ liên tiếp tổ chức năm cuộc bãi công lớn
ở ba hãng dầu Stăng - đa - oan, Téc - xa - cô và Pháp - Á. Nông dân ngoại thành Sài Gòn quyên tiền,
tổ chức mít tinh, biểu tình nhiệt liệt ủng hộ công nhân đấu tranh. Ở các hãng dầu Nhà Bè, công hội đỏ
áp dụng hình thức bãi công “ngồi”, ngăn chặn không cho bọn phá bãi công đến gần xí nghiệp, thành
lập các đội tự vệ để đối phó với những hành động bạo lực của chính quyền thuộc địa”. [3, tr 85]
Nối tiếp khí thế đấu tranh đó, công nông quận Đức Hòa (Chợ Lớn) đã mạnh dạn lập cả những chiến
lũy để chống lại cảnh sát và phát động nên một phong trào đấu tranh sôi nổi của công công Nam Bộ
thời điểm đó.
Tuy nhiên sau đó, trước sự khủng bố của thực dân Pháp, tổ chức Đảng bị tổn thất nặng và các cuộc
đấu tranh phải tạm lắng xuống. Phong trào đấu tranh ở Nam Bộ cũng không phải là ngoại lệ. Mặc dù
vậy, so với các địa phương khác trên cả nước, phong trào yêu nước ở Nam Bộ vẫn có những điều kiện
thuận lợi hơn để phát triển. Bởi sau khi các cuộc đấu tranh trong phong trào cách mạng 1930 - 1931
tạm lắng. Chính quyền thực dân ở Nam Bộ thi hành một số biện pháp mị dân.
Ở Sài Gòn - Chợ Lớn, thực dân Pháp cho phép “phát triển công khai một số tổ chức ái hữu của
công nhân ở các xí nghiệp: Ba Son, Đề pô xe lửa, công ty xe điện, Liên đoàn tài xế Sài Gòn - Chợ Lớn,
Liên đoàn những người chèo thuyền ở bến Sài Gòn và một số ngành khác. Chúng khuyến khích công
nhân chơi thể thao, đá bóng; chúng tổ chức chợ phiên, đồng thời cho phát triển những hội có tính chất
tôn giáo để ru ngủ tinh thần đấu tranh của họ”. [3, tr 95]
Đặc biệt, đối với các công nhân thất nghiệp ở Sài Gòn, chính quyền thực dân còn cho lập ra những
“Quán cơm thất nghiệp”, kêu gọi các “Hội từ thiện”, “Hội hợp thiện” lạc quyên để cứu tế cho những
người lao động.
Các thủ đoạn của thực dân Pháp tuy thâm độc nhưng thực ra khó đạt kết quả. Bởi “sự áp bức bóc lột
ở thuộc địa của giai cấp tư sản đế quốc Pháp vẫn vô cùng tàn bạo mà bản chất của giai cấp công nhân
Việt Nam lại sẵn tinh thần cách mạng”. [3, tr 96] Những hành động mềm mỏng của thực dân Pháp ở
Nam Bộ chỉ có ý nghĩa tích cực duy nhất là tạo điều kiện để tổ chức Đảng nơi đây phục hồi lại để tiếp
tục phát triển các cuộc đấu tranh quyết liệt hơn trong các giai đoạn tiếp theo.
Các cuộc đấu tranh vẫn âm ỉ nổ ra. Năm 1932, nổi lên cuộc đấu tranh của 400 nữ công nhân Hoa
Kiều ở 13 xưởng dệt khăn tay Chợ Lớn. Cuộc đấu tranh của công nhân làm đường ở Tân Đảo (Sài
Gòn). Rồi ngay sau đó là các cuộc đấu tranh liên tiếp của công nhân nhiều nhà máy in và công nhân xe
kéo ở Sài Gòn - Gia Định. Các tỉnh như Hà Tiên, Biên Hòa cũng diễn ra các cuộc đấu tranh của công
nhân các đồn điền.
Mặc dù vậy vẫn cần phải thừa nhận rằng, “phần lớn các cuộc đấu tranh bấy giờ đều thiếu sự lãnh
đạo của Đảng và công hội đỏ, kể cả những cuộc đấu tranh diễn ra hết sức quyết liệt vì tổ chức Đảng và
công hội bị khủng bố tan rã hết”. [3, tr 99] Nhưng dẫu sao các cuộc đấu tranh ấy cũng phần nào chứng
minh được sức sống bền bỉ của tinh thần yêu nước của nhân dân Nam Bộ nói riêng và nhân dân Việt
Nam nói chung trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Bởi khủng bố man rợ của bọn phản động
thuộc địa trong hai năm 1930 - 1931 và những thủ đoạn cải lương để lừa bịp công nhân không thể lay
chuyển được lòng yêu nước của quần chúng Nam Bộ.
Cuối năm 1932, Xứ ủy Nam Kỳ được thành lập lại, nhưng ngay lập tức lại bị phá vỡ. Nhưng với
tinh thần đấu tranh kiên cường, các đảng viên cộng sản vẫn tiếp tục bền bỉ tìm cách khôi phục lại tổ
chức Đảng. Tháng 5/1933, Trương Văn Bang lập lại Xứ ủy Nam Kỳ, gồm bảy đảng viên.
Năm 1933, nhiều đảng viên mãn hạn tù bắt đầu trở về tiếp tục hoạt động. Tổ chức Đảng ở Nam Bộ
dần hồi phục lại.
Theo chủ trương chung của Đảng, để tránh sự khủng bố của kẻ thù, các cuộc đấu tranh nên tranh
thủ cả những hình thức đấu tranh hợp pháp. Nam Bộ là một trong những địa phương có được sự cai trị
tương đối rộng rãi so với các nơi khác và những hành động cải lương lừa bịp của chính quyền cơ sở,
bởi vậy, chủ trương đó nhanh chóng được vận dụng để tiếp tục nuôi dưỡng tinh thần yêu nước và tạo
điều kiện để tổ chức Đảng phục hồi lực lượng.
Cũng trong năm 1933, lợi dụng chế độ ứng cử vào hội đồng thành phố và xuất bản báo chí ở Sài
Gòn được nới rộng, một số đại biểu công nhân đã ra tranh cử hội đồng thành phố Sài Gòn.
“Số đại biểu ra tranh cử tập hợp trong “Danh sách công nhân” đã xuất bản tờ “La Lutte” (“Tranh
đấu”) ngày 24/3/1933 để cổ động cho việc tranh cử. Trên tờ “Tranh đấu” và trong các cuộc họp mặt
với đại biểu công nhân và nhân dân lao động Sài Gòn, có cuộc đông tới 3000 người, các đại biểu công
nhân đã giới thiệu chương trình hành động của nhóm “Danh sách công nhân”, thu thập ý kiến cử tri,
tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, đồng thời vạch mặt bọn quốc gia cải lương, tố cáo tội ác của bọn
tư bản đế quốc và tay chân của chúng”. [3, tr 101]
Kết quả, hai ứng viên đại biểu của “Danh sách công nhân” đã trúng cử vào Hội đồng thành phố Sài
Gòn. “Thế là lần đầu tiên trong lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu công nhân thu được
thắng lợi trên mặt trận công khai, hết sức hiếm có ở một xứ thuộc địa”. [3, tr 101] Thắng lợi này có ý
nghĩa thật sự lớn lao, khẳng định sức mạnh của Đảng trên con đường xác lập vị trí lãnh đạo đối với
phong trào yêu nước nói chung ở Nam Bộ.
Trong khi đó, bên trong các nhà tù ở Nam Bộ, hoạt động của các Đảng viên Cộng sản cũng hết sức
sôi nổi. Bọn cai ngục ở Khám Lớn (Sài Gòn) đã bắt được một bản thảo với tựa đề “Chương trình hành
động” gồm 5 chương, được lưu hành bí mật trong nhà tù.
Năm 1935, cùng với việc tổ chức thành công Đại Hội Đảng lần thứ nhất tại Ma Cao (Trung Quốc),
tổ chức Đảng ở Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng cơ bản đã hồi phục.
Các cuộc đấu tranh lại bắt đầu sôi động trở lại. Cuối năm 1935, xảy ra cuộc bãi công của hơn công
nhân 1000 xe ngựa kéo ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Các vị trong Hội đồng thành phố đã phải can thiệp với
Thống đốc Nam Kỳ yêu cầu thỏa mãn yêu cầu của công nhân. Cuộc bãi công gây tiếng vang tận sang
chính giới Pháp. Cuối cùng chính quyền Nam Kỳ phải nhượng bộ.
Năm 1936, 2000 tù chính trị Côn Đảo bãi thực để phản đối chế độ lao tù hà khắc, chống việc tái bổ
nhiệm tên ác ôn Bouvier; công nhân trồng thuốc lá ở các tỉnh Gia Định, Thủ Dầu Một, Chợ Lớn, công
nhân nhà máy cưa Khánh Hội (Sài Gòn, 500 công nhân kho muối Cổ May (Bà Rịa)… nổ ra liên tiếp.
Đến cuối năm 1936, sự khủng bố của thực dân Pháp chính thức chấm dứt với các chính sách tương
đối tiến bộ của Mặt trận nhân dân Pháp vốn vừa giành thắng lợi trong tổng tuyển cử ở Pháp. Mặt trận
nhân dân Pháp chỉ đưa ra ba quyết định quan trọng:
Một, thả phần lớn các chính trị phạm.
Hai, thành lập Ủy ban điều tra tình hình các thuộc địa, đặc biệt là Bắc Phi và Đông Dương.
Cuối cùng là thi hành một số cải cách xã hội cho lao động.
Nhưng thật sự đó là những điều kiện cực kỳ thuận lợi để Đảng khuấy động phong trào yêu nước ở
Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng. Hàng loạt các phong trào yêu nước ở Nam Bộ theo các xu
hướng khác nhau lập tức nổ ra mạnh mẽ, hơn hẳn phong trào ở bất cứ nơi nào trên cả nước. Báo chí
tiến bộ Nam Kỳ lập tức lên tiếng bày tỏ sự ủng hộ và hi vọng các chính sách đó sẽ được thi hành một
cách nghiêm túc ở các thuộc địa.
Đảng lập tức nhận thấy việc tổ chức các phong trào không có biện pháp gì tốt hơn là tập hợp quần
chúng để đưa ra các yêu sách. Nguyễn An Ninh là người đầu tiên đưa ra ý kiến thành lập Đông Dương
đại hội. Nhưng thực ra “ý kiến tổ chức một cuộc vận động rộng lớn của quần chúng để thảo dân
nguyện đã được các cán bộ, Đảng viên trong Đảng Cộng sản Đông Dương thảo luận, nhất là từ sau
cuộc Hội nghị Trung Ương ngày 26/6/1936, sau khi Đảng quyết định thành lập một mặt trận rộng rãi ở
Đông Dương bao gồm từ quần chúng lao động đến giai cấp tư sản cải lương. Nguyễn An Ninh là người
gần gũi với Đảng Cộng sản Đông Dương, (…) là một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng ở các tầng lớp
giữa và trên, cho nên ý kiến các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản có mặt ở Sài Gòn lúc đó thì An Ninh là
người tốt nhất để xướng ra một hình thức thích ứng nhằm lập một mặt trận rộng rãi đòi tự do cơm áo
với hình thức Đông Dương đại hội”. [36, tr 543]
Một số chính khách tư sản không muốn cho nhân dân tham gia phong trào Đông Dương đại hội,
muốn độc quyền làm bản dân nguyện để phục vụ cho lợi ích riêng cho giai cấp mình. Nguyên An Ninh
đã trực tiếp cực lực phản đối, “ông phê phán những quan điểm và khuynh hướng sai lầm của một số
người, như ỷ vào văn bằng mà vỗ ngực đại diện cho quần chúng không có học(…), ông bênh vực tiếng
nói chân thật của quần chúng bị áp bức không bị xuyên tạc bởi những người không vì lợi ích thật sự
của quần chúng. [87, tr 23] trước áp lực của nhiều tổ chức và cá nhân tiến bộ, cuối cùng ý kiến của
Nguyễn An Ninh thắng thế.
Đáp lại lời kêu gọi của Nguyễn An Ninh và do sự ủng hộ của Đảng, người dân Nam Bộ hưởng ứng
Đông Dương Đại hội với một thái độ nồng nhiệt.
Một Ủy ban lâm thời được cử ra gồm nhiều phe phái chính trị khác nhau, “từ lập hiến già và cánh
hữu như ông Liêm, ông Khá, đến Cộng sản như anh Tạo, anh Nguyễn. (…) Đến 15, nó sẽ nở rộng thêm
tất cả 35 người. Tuy vậy, đó là một hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất mà ưu điểm là
đoàn kết rộng rãi”. [36, tr 548]
Thực dân Pháp không ngồi yên nhìn phong trào phát triển, các cuộc họp lập tức bị cảnh sát và mật
thám chú ý theo dõi. Những người đâu tiên bị khủng bố là công nhân Ba Son, những người tham gia
hăng hái nhất cuộc vận động. Một số công nhân tham gia hội họp bị sa thải.
Ngay sau đó, một phong trào đấu tranh bênh vực cho những người công nhân Ba Son bùng nổ mạnh
mẽ, gây tiếng vang tận sang Pháp. Chính quyền Pháp ngay lập tức phải nhượng bộ. Giám đốc sở Ba
Son Kahn bị triệu hồi về Pháp. Thắng lợi này là một sự cổ vũ tinh thần rất lớn để quần chúng tích cực
tham gia cuộc vận động hăng hái hơn.
Từ việc thành lập Ủy ban lâm thời, phong trào nhanh chóng phát triển lên thêm một bước dài, đó là
việc vận động thành lập các Ủy ban hành động. Đây thực sự là một thắng lợi lớn của Đảng. Bởi trong
Ủy ban lâm thời Đảng không thể chiếm ưu thế, thì trong các Ủy ban hành động, hầu như đều do các
Đảng viên trực tiếp lãnh đạo và hướng dẫn.
Phong trào Ủy ban hành động phát triển với một tốc độ mau lẹ chưa từng thấy. “Không đầy một
tháng, riêng Nam Kỳ đã có 600 Ủy ban hành động mà phân nửa là ủy ban hành động của công nhân
viên chức công sở, xí nghiệp tư nhân và những công nhân lẻ tẻ, thợ thủ công. Ở thôn quê và lục tỉnh,
Ủy ban hành động trở thành những cơ quan đại diện cho nhân dân, ít nhiều đối lập với hội tề và các cơ
quan chính quyền. Uy thế của Ủy ban hành động lên cao đến nỗi mọi công việc lớn nhỏ giữa nhân dân
trong làng hầu như qua Ủy ban hành động. Uy thế của các hội tề xuống trông thấy”. [36, tr 551]
Trước sự phát triển nhanh chóng của các Ủy ban hành động, thực dân Pháp điên cuồng tìm cách đối
phó. Một số vụ bắt bớ tiếp tục xảy ra. Ngay những người chủ chốt của Lâm ủy lâm thời như Nguyễn
Văn Tạo, Tạ Thu Thâu và Nguyễn An Ninh cũng bị bắt. Đặc biệt, Thống đốc Nam Kỳ đã đặt làm hàng
nghìn dùi cui và ra lệnh cấm hội họp ở Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh lân cận. Mặt khác, chính quyền
Pháp cũng yêu cầu trong vòng 4 ngày từ 21/9/1936 đến 25/9/1936 Lâm ủy Đông Dương Đại hội phải
nộp bản dân nguyện và chấm dứt hoạt động.
Nhưng mưu mô thâm độc nhất tấn công Đông Dương Đại hội của thực dân Pháp là việc xúi giục
những thành viên của Hội đồng quản hạt tách ra khỏi Lâm ủy lâm thời, tìm cách thực hiện trưng cầu
dân nguyện riêng theo hướng có lợi cho chính quyền thực dân.
Nhưng tất cả những mưu đồ đó đều không thể thành công. Trong tù, Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu
Thâu và Nguyễn An Ninh tuyệt thực để phản đối. Một cuộc đấu tranh với quy mô rộng lớn của các tầng
lớp nhân dân bùng lên mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của cả những chính khách tiến bộ ở Pháp. Chính
quyền thực dân Nam Kỳ lúng túng khi không tìm ra lý do của cuộc bắt giữ, rốt cuộc đành phải thả họ
ra.
Mặc dù các Ủy ban hành động buộc phải giải tán trước sự đàn áp của kẻ thù, nhưng các cơ sở Đảng
vẫn được bảo toàn. Đó thật sự là một thắng lợi lớn của quần chúng Nam Bộ trước sự tổ chức và lãnh
đạo đấu tranh của Đảng.
Song song với phong trào Đông Dương Đại hội, các cuộc bãi công tiếp tục diễn ra một cách liên tục
và có hệ thống. Đặc biệt, công nhân nhà máy cưa Tân Mai (Biên Hòa) lần đầu tiên sử dụng cách chiếm
cứ luôn xưởng làm để gây sức ép với chủ xưởng.
Năm 1937, phái viên của chính phủ Pháp là Godart được đặc phái sang Đông Dương để điều tra
tình hình xã hội và lao động. Godart là đảng viên Đảng Cấp tiến, một đảng tán thành chủ nghĩa thực
dân. Thực chất, những người Cộng sản Đông Dương không hề có ảo tưởng gì về Godart, nhưng cho
rằng “cần phải thừa cơ hội cho ông Gô đa sang điều tra mà vận động một phong trào công nhân, nông
dân và nhân dân rộng rãi đưa yêu sách, gây thêm một đà chiến đấu đòi quyền lợi của mình”. [36, tr
611]
Xứ ủy Nam Kỳ lập tức huy động chừng 20.000 người đủ các thành phần, tiến về bến cảng Nhà
Rồng. Đoàn người kéo dài cả cây số, nhưng rất có trật tự. Mặc dù bị ngăn cản, nhưng vẫn có hơn 5000
người lọt được vào trong bến cảng, căng các biểu ngữ đòi tự do dân chủ.
Hai tuần sau, Brévié, tân toàn quyền Đông Dương đến Sài Gòn. Cuộc biểu tình đón tiếp Brévié diễn
ra còn lớn hơn cả lần đón tiếp Godart. Rút kinh nghiệm từ cuộc biểu tình đón Godart, chính quyền thực
dân Nam Kỳ huy động một số lượng lớn cảnh sát, lính lưu động và cả quân đội về Sài Gòn để quyết
trấn áp quần chúng. Cuộc biểu tình nhanh chóng biến thành xung đột. Rất nhiều người bị thương,
nhưng khí thế của quần chúng thì không hề giảm sút.
Tháng 6/1937, Đảng chủ trương thành lập Ủy ban sáng xuất nghiệp đoàn. Mục đích là tích cực đề ra
những sáng kiến để đi đến thành lập các tổ chức công đoàn trong các xí nghiệp, đấu tranh chống chính
quyền thực dân cắt xén luật công đoàn. Qua năm 1938, Ủy ban sáng xuất nghiệp đoàn đổi tên thành
“Ủy ban đại biểu công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn”. Có thể nói “Chính những công việc không tên không
tuổi mà bền bỉ, thiết thực đã làm cho giai cấp công nhân và quần chúng lao động gắn bó với những
người cộng sản, với Đảng Cộng sản”. [36, tr 712]
Mặc dù tổ chức này ngay lập tức bị thực dân Pháp tìm cách chống phá và buộc phải giải tán. Nhưng
“phong trào ái hữu và công đoàn từ năm 1937 - 1939 đã giác ngộ được hàng vạn công nhân, đã làm
cho mối liên hệ giữa giai cấp công nhân với Đảng Cộng sản thêm vững vàng, sâu sắc và tương đối
mau lẹ vì đã biết lợi dụng những khả năng công khai hợp pháp để truyền bá tư tưởng cách mạng trong
quần chúng”. [36, tr 712]
Cũng trong năm 1938, cùng với các cuộc bãi công tiếp tục nổ ra ngày càng nhiều, các cuộc đấu
tranh của nông dân, tiểu tư sản thành thị cũng diễn ra sôi nổi. Toàn Nam Kỳ trong năm này có đến 112
cuộc đấu tranh, trong đó có 8 cuộc bãi thị.
Đặc biệt, ngày 1/5/1938, nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động, bộ phận công khai của Đảng bộ
thành phố Sài Gòn vận động tổ chức một cuộc mít tinh lớn ở rạp hát Đội Có, huy động hàng ngàn
người đủ các thành phần xã hội. Những người mít tinh hô vang các khẩu hiệu đòi tự do dân chủ, ủng hộ
Liên Xô và phong trào cách mạng thế giới. Phái Tờ - rốt - kít trà trộn vào cuộc mít tinh gây chia rẽ và
phá hoại nhưng ngay lập tức bị quần chúng vạch mặt và đuổi ra khỏi rạp.
Từ tháng 10/1938, trong khi mà phong trào công nhân diễn ra bình thường thì phong trào nông dân
đột ngột rộ lên. Các cuộc đấu tranh của nông dân diễn ra phần lớn ở khu vực Hậu Giang. Tất cả các
cuộc đấu tranh trên đều do Đảng tổ chức và lãnh đạo. Có thể nói, “trong suốt thời gian từ năm 1936
đến 1939, Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động mạnh mẽ ở thành thị, mà không xem nhẹ nông thôn;
ngược lại, trong suốt thời gian đó, phong trào đấu tranh của nông dân phát triển song song với phong
trào công nhân”. [36, tr 754]
Cuối năm 1938, đầu năm 1939, nguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ hai đến gần. Thực dân Pháp ảo
tưởng Nhật sẽ bị sa lầy ở Trung Quốc và phải dè chừng Liên Xô nên không dám tiến xuống Đông
Dương. Tuy nhiên, Đảng không có một chút ảo tưởng nào về chuyện đó. “Đông Dương không chắc gì
khỏi bị đánh phá. Căn cứ theo tình hình quốc tế, chúng tôi hô hào dân chúng vì ủng hộ nền hòa bình
thế giới và hòa bình ở Viễn Đông, vì ủng hộ Liên bang Xô Viết - cột trụ của hòa bình, hãy kịch liệt
phản đối chính sách đầu hàng thỏa hiệp…”. [36, tr 772]
Đảng kêu gọi quần chúng chấp nhận đứng bên cạnh chính quyền thực dân để cùng phòng thủ Đông
Dương. Tuy nhiên, “dân chúng phòng thủ Đông Dương mà không tranh đấu đòi tự do dân chủ, đòi cải
thiện sinh hoạt, đòi vũ trang để phòng thủ thì sự phòng thủ ấy chỉ là phòng thủ suông, không có ý
nghĩa”. [36, tr 773]
Tháng 3/1939, trong dịp cổ động tranh cử Hội đồng quản hạt Nam Kỳ, những người Cộng sản một
lần nữa khẳng định lại thái độ đó. Đồng thời cũng kêu gọi “liên hiệp các lực lượng dân chủ toàn xứ để
đối phó với thế lực phản động của bọn đại tư bản tài chính (…), và mở rộng lực lượng dân chủ để
chống xâm lược phát xít Nhật”. [36, tr 774]
Nhưng thái độ của chính phủ Pháp là hoàn toàn không có thiện chí. Daladier một mặt nhượng bộ
phát xít Đức, một mặt tăng cường khủng bố các đảng phái tiến bộ, đặc biệt là Đảng Cộng sản Pháp.
Bọn phản động Pháp ở Đông Dương bấy giờ cũng ngóc đầu dậy, phản công các phong trào đấu tranh
yêu nước của quần chúng, thu hẹp các quyền dân chủ mà trước đây chính quyền thực dân đã buộc phải
nhượng bộ.
Tình thế xoay chuyển hết sức mau lẹ. Trước hoàn cảnh đó, tháng 2/1939, Xứ ủy Nam Kỳ triệu tập
Hội nghị toàn thể ở Sài Gòn nhằm kiểm điểm tình hình hoạt động, tiếp tục lãnh đạo phong trào đi lên.
Kết thúc hội nghị “Xứ ủy Nam Kỳ đã ra 16 quyết định về nhiệm vụ trong thời gian tới, trong đó có
những vấn đề phát triển Đảng, tổ chức các cơ quan huấn luyện, hợp pháp hóa các hội quần chúng…”.
[101, tr 631]
Tiếp đó, tháng 11/1939, Hội Nghị ban Chấp hành trung ương Đảng lần thứ 6 được tổ chức tại Bà
Điểm, Hóc Môn (Gia Định) đã phân tích tình hình trong nước và quốc tế, bước đầu đề ra những sự
chuyển hướng chỉ đạo chiến lược để phù hợp với thực tiễn cách mạng.
Như vậy, Đảng đã nhận thấy nguy cơ đe dọa và có sự đề phòng. Bộ phận nào của Đảng đang công
khai, hoạt động hợp pháp một cách an toàn thì vẫn tiếp tục hoạt động. Còn đại đa số bộ phận còn lại thì
rút vào bí mật. Tuy vậy “sự rút vào bí mật không phải hấp tấp, không bỏ mất vị trí đấu tranh của
mình”. [36, tr 832]
Những chủ trương của Đảng là rất chính xác, bảo toàn được lực lượng của cả Đảng và quần chúng
và tiếp tục đưa công cuộc giải phóng dân tộc ở Nam Bộ phát triển lên một tầm cao mới.
Ngày 1/9/1939, chiến tranh thế giới thứ hai chính thức bùng nổ. Lịch sử Nam Bộ cũng bắt đầu
chuyển sang một bước ngoặt mới.
Tóm lại, do những điều kiện kinh tế xã hội đặc thù của vùng Nam Bộ, bất chấp sự khủng bố dã man
của thực dân Pháp sau phong trào cách mạng 1930 - 1931, các phong trào yêu nước ở Nam Bộ xuất
hiện ngày nhiều. Các tổ chức Đảng đến năm 1935 đã cơ bản hồi phục lại. Không chỉ vậy, các lực lượng
yêu nước khác cũng trỗi dậy mạnh mẽ. Dưới vai trò liên kết và tổ chức phát động các phong trào đấu
tranh của Đảng, giai đoạn 1936 - 1939 là một giai đoạn sôi động của phong trào đấu tranh yêu nước ở
Nam Bộ. Tuy nhiên, đây chỉ là giai đoạn mang tính chất quy tập các lực lượng yêu nước ở Nam bộ,
phát triển tổ chức và xác lập vị trí lãnh đạo của Đảng ở Nam Bộ để chuẩn bị cho các cuộc đấu tranh
quyết liệt hơn ở giai đoạn tiếp theo.
2.2.2 Đảng tập hợp của các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ giai đoạn 1940 - 1944
Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, thực dân Pháp dường như tin tưởng tuyệt đối vào thắng lợi
chắc chắn trước phe phát xít. Thế nhưng cục diện chiến trường không đơn giản như vậy. Cuộc tiến
công như vũ bão của quân đội Đức tháng 6/1940 xuyên thủng chiến lũy Maginot, tiêu diệt phần lớn
sinh lực quân đội Pháp. Rồi Paris cũng bị chiếm, chính phủ đầu hàng phát xít Pétain được dựng lên.
Nước Pháp đã thực sự bị đánh khụy.
Được tin Pháp ký hàng ước với Đức, đám tay sai thực dân Nam Kỳ được sự xúi giục của Phủ Toàn
quyền Đông Dương lập tức tổ chức một cuộc hội nghị lớn tại Hội quán Nam Kỳ Tương tế (Sài Gòn).
Cuộc họp thu hút đến khoảng 500 người, mục đích là để trấn an lại dư luận không hay sau thất bại nhục
nhã của Pháp.
Thất bại của nước Pháp tác động sâu sắc đến thái độ của những lực lượng yêu nước Nam Bộ.
“Một số người quốc gia thấy ở sự bại trận của Pháp một cơ hội để có thể giải phóng đất nước, làm
cái việc mà cụ Phan Bội Châu định làm trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất: song vì họ hoặc
không có quần chúng, hoặc không tin vào sức mạnh của quần chúng, cho nên một số người ấy trông
mong có thể đánh lá bài Nhật Bản, “lợi dụng Nhật Bản”. Lúc ấy số đông tín đồ đạo Cao Đài không
giấu nỗi vui mừng khi thấy Pháp thất trận; họ nghĩ rằng sớm muộn Nhật sẽ đem Cường Để về làm vua
nước Việt Nam độc lập”. [36, tr 846]
Còn đa số các tầng lớp nhân dân lao động ở thành thị và thôn quê, kể cả trong một số Đảng viên
Cộng sản cũng cho rằng thất bại của nước Pháp chính là phát pháo hiệu cho một thời cơ cách mạng đã
chín muồi.
Tháng 3/1940, Xứ ủy Nam Kỳ phát hành quyển Đề cương chuẩn bị bạo động, tổ chức quân đội
cách mạng và chuẩn bị vũ khí.
Tháng 7/1940, Đại biểu các đoàn thể Nam Kỳ nhóm họp ở Mỹ Tho để thảo luận đề cương khởi
nghĩa, chuẩn bị cướp chính quyền ở Nam Bộ. Sau hội nghị, Đồng chí Phan Đăng Lưu được cử ra Bắc
để thông qua ý kiến của Trung Ương Đảng.
Trong khi công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa đang tiến hành sôi nổi thì tình hình khách quan cũng xuất
hiện nhiều yếu tố thuận lợi. Tháng 9/1940, trong khi Nhật gây áp lực với Pháp để tiến vào Bắc Kỳ, thì
ở phía Nam, Thái Lan có sự hậu thuẫn của Nhật, cũng yêu cầu Pháp phải nhượng cho một số địa phận
ở Lào và Campuchia. Thực dân Pháp tất nhiên không đồng ý. Cuối tháng 10/1940, chiến tranh Pháp –
Thái bùng nổ.
Một phong trào phản chiến của các binh sỹ người Việt lập tức dấy lên. Nhiều cuộc biểu tình của
binh lính ở Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Sài Gòn… nổ ra liên tiếp. Xứ Ủy Nam Kỳ hi
vọng nhờ công tác địch vận mà có thể tranh thủ lực lượng quân lính này để tăng thanh thế cho khởi
nghĩa.
Lực lượng Đảng Cộng sản ở Nam Bộ bấy giờ cũng được đánh giá là “mạnh nhất Đông Dương” [36,
tr 861] và “ở Nam Kỳ 30% nhân dân chịu ảnh hưởng của Đảng” [36, tr 861].
Chính vì vậy mà các Đảng viên Nam Bộ khi ấy cho rằng bấy giờ chính là thời cơ để đánh đổ chính
quyền thực dân Pháp.
Tuy nhiên, thực ra tất cả những yếu tố thuận lợi đó vẫn chưa đủ điều kiện chín muồi cho một cuộc
bạo động. Trung ương Đảng sau khi phân tích kỹ lưỡng tình hình đã không chuẩn y nghị quyết của Xứ
ủy Nam Kỳ. Nhưng tình hình ở Nam Bộ diễn biến quá mau lẹ. Nhiều binh lính Việt Nam ở khắp các
tỉnh bị dồn tới Sài Gòn để đưa lên mặt trận Campuchia, Lào. Tin các đơn vị phản chiến sắp bị gọi đi
làm cho binh lính thiết tha đòi hỏi khởi nghĩa. Lệnh khởi nghĩa vì vậy được phát ra một cách vội vã.
Quyết định trì hoãn khởi nghĩa của Trung ương Đảng chưa về tới thì lệnh khởi nghĩa đã được phát đi.
Cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra đêm 22 rạng ngày 23/11/1940, trên phạm vi hầu khắp các tỉnh Nam
Bộ, đặc biệt quyết liệt ở các Hóc Môn (Bà Điểm, Gia Định), Cai Lậy (Mỹ Tho), Vũng Liêm (Vĩnh
Long). “Cả vùng nông thôn rung chuyển trước sức mạnh tiến công của quần chúng cách mạng. Nhiều
đồn bốt, công sở, đường giao thông… của địch bị phá. Tại một số xã, quận, chính quyền địch hoang
mang tan rã, chính quyền cách mạng được thành lập (…)”. [101, tr 703]
Do thời cơ khởi nghĩa chưa chín, và nhất là do kế hoạch khởi nghĩa bị lộ, cuộc khởi nghĩa không
phát huy được hết những tiềm lực vốn có. Trước ngày khởi nghĩa, phần nhiều các đơn vị quân lính yêu
cầu khởi nghĩa đã bị điều động đi rồi. Các đơn vị còn lại không đủ sức cướp trại. Lại bị thực dân Pháp
chủ động tước khí giới, giam chặt trong trại. “Vì vậy mà, tuy rằng khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra dưới sức
thúc đẩy của binh lính, nhưng khi khởi nghĩa nổ ra lại không có binh lính tham gia”. [36, tr 861]
Hơn nữa, tuy khởi nghĩa nổ ra rộng khắp, nhưng vẫn có những địa phương có tụ tập lực lượng
nhưng không khởi nghĩa như Gia Định, Chợ Lớn, Tân An…
Thực dân Pháp nhanh chóng trấn áp các cuộc nổi dậy ở các địa phương. “Trong thời gian từ ngày
23/11/1940 đến ngày 31/12/1940, ở các tỉnh Gia Định, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên, thực dân Pháp
bắt 5.848 người. Hàng ngàn người bị xử tử, bị đày ra Côn Đảo, đi các trại tập trung Tà Lài, Bà Rá”.
[101, tr 703] Cả Xứ Ủy Nam Kỳ và Thành ủy Sài Gòn đều bị bắt. Tổn thất của Đảng là rất nặng nề.
Lực lượng ít ỏi còn lại của cuộc khởi nghĩa rút về Truông Mít (Thủ Dầu Một), Bình Hòa, Bình
Thành trong vùng Đồng Tháp và rừng U Minh để củng cố lại lực lượng.
Tháng 7/1941, hàng chục vạn quân Nhật bắt đầu đổ bộ vào Nam Đông Dương, trong đó có Nam
Bộ. Khá nhiều lực lượng yêu nước ở Nam Bộ khi ấy vẫn ảo tưởng, mong rằng Nhật sẽ lật đổ Pháp, đưa
Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về nước làm vua và tuyên bố cho Việt Nam độc lập.
Phái Cao Đài của Trần Quang Vinh đứng ra công khai cộng tác với Nhật. Huỳnh Phú Sổ, giáo của
đạo Cao Đài đang bị Pháp an trí ở Bạc Liêu được Nhật đưa về Sài Gòn. Những trí thức như Nguyễn
Văn Sâm, chủ tịch hội nhà báo, giáo sư toán học Hồ Văn Ngà lập ra đảng Quốc gia độc lập. Đặc biệt,
tháng 9/1943, “Nhật hạ lệnh cho các đảng phái việt gian thân Nhật (Phục Quốc, Đại Việt, Phục Việt,
Quốc Xã, Cao Đài, Phật Thầy…) họp “Đại hội” ở Sài Gòn, thống nhất lại thành một đoàn thể thân
Nhật, lấy tên chung là “Việt Nam phục quốc đồng minh hội” và quyết định chuẩn bị lập “chính phủ
lâm thời” đem Cường Để về làm vua. [13, tr 82]
Nhưng niềm tin ấy nhanh chóng lụi tắt. Năm 1942, rồi 1943 trôi qua mà tình hình vẫn chẳng có gì
thay đổi. Chính quyền Pháp vẫn được giữ nguyên, trở thành chỗ dựa cho quân đội Nhật. Những người
thân Nhật nhưng có tinh thần yêu nước bắt đầu thất vọng.
Xét kỹ lại thì một số phần tử trí thức cũng như quần chúng Nam Bộ thân Nhật cũng không phải là
một lỗi lầm không thể tha thứ. Tuy nhiên, tầm nhìn của họ quá hạn hẹp. Một số người cũng không hẳn
tin vào lòng tốt của Nhật, nhưng vẫn đi theo Nhật với hi vọng có thể “lợi dụng” Nhật để chống Pháp,
nhưng “kỳ thật kẻ bị lợi dụng không phải là Nhật”. [36, tr 861]
Khác với những lực lượng thân Nhật, Đảng Cộng sản nhận thức rất rõ bộ mặt thật của Nhật. Ngay
từ khi quân đội Nhật mới đặt chân đến Nam Bộ. Các cơ sở Đảng bấy giờ vẫn còn chưa gượng lại được
sau những đòn tấn công của thực dân Pháp, nhưng cũng tổ chức một cuộc bãi công lớn thu hút 500
công nhân khuân vác ở Xóm Chiếu (Sài Gòn) để phản đối sự bạc đãi tàn bạo của quân đội Nhật.
Cũng trong năm 1941, Hội nghị Ban chấp hành Trung Ương Đảng họp tại Cao Bằng được triệu tập
dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị phân tích thực tiễn tình hình Việt Nam và thế giới, đưa
ra những chỉ đạo cấp thiết cho cuộc đấu tranh trong hoàn cảnh mới. Đặc biệt, Hội nghị đã ra quyết định
thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng mình (gọi tắt là Việt Minh) để tập hợp tất cả các lực lượng
yêu nước trong một mặt trận chung để chống Nhật – Pháp. Tuy nhiên, ảnh hưởng của những nghị quyết
Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8 đối với Nam Bộ là hết sức hạn chế. Bởi tổ chức
Đảng ở đây gần như đã tê liệt. Một số đoàn thể quần chúng chỉ xuất hiện lẻ tẻ ở vùng ngoại ô Sài Gòn –
Chợ Lớn và một số nơi ở Gia Định.
Năm 1942, các cơ sở Đảng mới bắt đầu được phục hồi ở Nam Bộ. Tổ chức Liên tỉnh ủy Miền Đông
được thành lập, phát hành tờ báo Giải phóng làm cơ quan ngôn luận. Liên tỉnh ủy ra đời đánh dấu một
bước phát triển mới sau những tổn thất nặng nề của Đảng sau Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940.
Năm 1943, một số tỉnh ủy được lập lại, các cơ sở Đảng bắt đầu xuất hiện trở lại ngày càng nhiều.
Trước tình hình đó, để đáp ứng vấn đề phát triển phong trào cách mạng đều khắp trong cả nước, Trung
ương Đảng quyết định tăng cường thêm một số cán bộ vào để giúp đỡ công tác đảng ở Nam Bộ, thúc
đẩy phong trào Việt Minh. Bấy giờ, trong điều kiện mới, các hoạt động khủng bố của Pháp – Nhật đã
giảm, một số Đảng viên đã mãn hạn tù hoặc vượt ngục trở lại hoạt động. Tổ chức Đảng ở Nam Kỳ
quyết định thành lập lại Xứ ủy Nam Kỳ, do Trần Văn Giàu làm Bí thư, lấy báo Tiền Phong làm cơ
quan ngôn luận.
Tháng 4/1944, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam kỳ, Tổng công đoàn Nam Kỳ được thành lập, đánh
dấu bước phát triển mới của phong trào công nhân Nam Bộ. Đồng thời với sự phát triển của phong trào
công nhân, Mặt trận Việt Minh bắt đầu lan rộng. Tổ chức Kỳ bộ Việt Minh Nam Kỳ được thành lập.
Tuy nhiên, so với các địa phương miền Bắc và Trung, phong trào Việt Minh ở Nam Bộ phát triển
không bằng. “Việt Minh Nam Kỳ đến thời điểm đầu năm 1945 vẫn phát triển chủ yếu ở nông thôn,
trong nông dân và ngay trong tầng lớp này cũng không thu hút được đông đảo”. [101, tr 867]
Có thể thấy, giai đoạn 1940 – 1944 là một khoảng thời gian đầy biến động của lịch sử Nam bộ.
Năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra do chủ trương của Xứ ủy Nam Kỳ. Do những nguyên nhân
chủ quan và cả khách quan, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp. Sau Khởi nghĩa
Nam Kỳ, lực lượng của Đảng Cộng sản ở Nam Bộ bị tổn thất nghiêm trọng. Các xu thế yêu nước phi
cộng sản ở Nam Bộ vì thế có điều kiện để phát triển.
Nhưng điều đó đã không xảy ra.
Xu thế yêu nước tư sản vẫn yếu đuối và bất lực. Thậm chí còn không tổ chức được một hoạt động
nào đáng kể, gây được tiếng vang như những giai đoạn trước. Số trí thức, tư sản thân Pháp thì lộ rõ bộ
mặt phản động, quay lưng lại với quyền lợi của quốc gia dân tộc.
Trong bối cảnh như vậy, Đảng Cộng sản từng bước được phục hồi, tiếp tục nắm lấy ngọn cờ lãnh
đạo các phong trào yêu nước mà gần như không vấp phải một sự trở ngại hay một đối thủ nào đáng kể.
Tuy nhiên, thực lực của Đảng trong giai đoạn này, vốn vừa mới hồi phục, tất nhiên không còn được
mạnh mẽ như xưa. Vì vậy, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Nam Bộ trong khi thời cơ ngàn năm có
một xuất hiện, lại có những biểu hiện bằng một sắc thái rất riêng, không giống như các địa phương
khác trên cả nước.
2.2.3 Cách mạng tháng Tám - thành quả của sức mạnh tổng hợp của các xu hướng yêu nước ở
Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng
Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc với thất bại không thể
tránh khỏi của khối phát xít. Trước sự tấn công như vũ bão của quân đội Đồng minh, đã đến lúc Nhật
phải loại bỏ Pháp, nhằm “gỡ một chiếc gai dưới bàn chân, để trừ bỏ một khả năng bị đánh sau lưng”
[37, tr 1088] khi quân Đồng minh đánh tới.
Cuộc đảo chính diễn ra vào đêm 9/3/1945. Ở Sài Gòn, để che mắt nhân dân Nam Bộ, Nhật huy
động mấy ngàn quân Cao Đài của Trần Quang Vinh để làm thanh viện, với mục đích tuyên truyền cuộc
tấn công thực sự là một cuộc “cách mạng giải phóng”, và nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng chiến
đấu vì độc lập tự do của dân tộc.
Thực dân Pháp chống cự yếu ớt rồi đầu hàng nhanh chóng. Lật xong Pháp, Nhật hùng hồn tuyên bố
trao trả độc lập cho Việt Nam. Tuy nhiên, thái độ của nhân dân Việt Nam sau sự kiện ấy là rất dửng
dưng. Sau đảo chính, tất cả vẫn y như cũ, đất Nam Bộ vẫn là thuộc địa, thay vì của Pháp thì giờ đây là
của Nhật. Chế độ trực trị và bộ máy chính quyền trước đó được giữ nguyên. Đến đây thì ngay cả một
số phần tử thân Nhật ở Nam Bộ, những người khao khát sự kiện này mấy năm trời đằng đẵng, cũng đã
nhận rõ dã tâm của Nhật, biết vì sao đến thời điểm này Nhật mới chịu hất cẳng Pháp.
Nhưng dẫu sao, để tạo cho mình một chỗ dựa vững chắc, ngoài các tổ chức thân Nhật cũ, Nhật cũng
rất rộng rãi trong việc cho phép thành lập các đảng phái mới có xu hướng thân Nhật. Các đảng phái
xuất hiện như nấm sau mưa ở Nam Bộ: Việt Nam Quốc gia đảng, Việt Nam quốc gia độc lập đảng,
Đảng Huỳnh Long, Hội cựu binh sỹ, Tổng hội viên chức… Phe Tờ rốt kít ở Sài Gòn cũng lợi dụng thời
thế bắt đầu hoạt động trở lại. Mặc dù vậy, “các tổ chức mới mọc đó không phải cái nào cũng là phe
Nhật. Trừ các giáo phái ra, trừ tổ chức của thanh niên, học sinh, công chức ra thì không mấy tổ chức
có quần chúng”. [36, tr 1101]
Sau cuộc đảo chính ngày 9/3/1945 của Nhật, Xứ ủy Nam Kỳ tổ chức Hội nghị liên tịch với các Tỉnh
ủy tại Phú Lạc (Chợ Lớn) để đánh giá tình hình, bàn bạc chủ trương hành động. Trong hội nghị, vấn đề
chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền là một trọng tâm quan trọng. Hội nghị cho
rằng “lực lượng cán bộ ở Nam Kỳ còn rất mỏng, “địch có mười, ta chưa được một”. Nếu tương quan
lực lượng không thay đổi thì khi Nhật đầu hàng đồng minh, ta khó có thể giành chính quyền”. [101, tr
920]
Khó khăn không chỉ dừng lại ở đó, lực lượng của Đảng ở Nam Bộ khi ấy không những mỏng mà lại
phân tán. Cũng trong tháng 3/1945, một nhóm đảng viên đã nhóm họp ở Xoài Hột (Châu Thành, Mỹ
Tho) và cũng đi tới thành lập một tổ chức Xứ ủy Nam Kỳ khác, do Trần Văn Vi làm Bí thư, lấy báo
Giải phóng làm cơ quan ngôn luận. Như vậy, thời điểm tháng 3/1945, Đảng cộng sản ở Nam Bộ có hai
tổ chức Xứ ủy hoạt động độc lập với nhau. Xứ ủy của Trần Văn Vi thường được gọi là xứ ủy Giải
phóng. Tổ chức kia do Trần Văn Giàu làm Bí thư, lấy báo Tiền phong làm cơ quan ngôn luận, được
thành lập từ năm 1943, gọi là Xứ ủy Tiền Phong.
Việc hình thành hai tổ chức Đảng tồn tại song song với nhau không chứng tỏ tổ chức Đảng phát
triển, ngược lại cho thấy sự khó khăn trong việc hoạt động của Đảng ở Nam Bộ. Tất nhiên, hai tổ chức
này chưa có mâu thuẫn gì lớn với nhau. Nhưng nếu muốn tiến hành cách mạng thuận lợi thì cần phải có
sự phối hợp trong hoạt động và tiến tới sát nhập lại với nhau thành một tổ chức thống nhất.
Trong khi tình hình chuẩn bị của Xứ ủy Nam Kỳ đang diễn ra gấp rút thì Hội nghị Thường vụ trung
ương Đảng họp ngày 12/3/1945 cũng đưa ra những chỉ thị cần thiết. Đó là cần phải tập trung chuẩn mọi
lực lượng để khi thời cơ đến thì lập tức khởi nghĩa.
Nắm bắt tinh thần đó, ngày 15/4/1945, Đại hội đại biểu Xứ bộ Nam Kỳ ra lời Hiệu triệu, kêu gọi tất
cả các đoàn thể quần chúng và các tầng lớp nhân dân đứng chung vào một mặt trận thống nhất. Bản
Hiệu triệu nêu rõ: “Đảng cộng sản chúng tôi trải muôn trùng khủng bố của đế quốc Pháp, vẫn còn
sống và nay còn có bề sáng suốt và mạnh mẽ hơn xưa. Chúng tôi là đảng duy nhất có cơ sở từ Cà Mau
đến Lạng Sơn ấy thế mà không xem rẻ một đoàn thể nhỏ nào, một cá nhân nào biết thương nước, yêu
dân”. [101, tr 932]
Trên cơ sở đó, bản Hiệu Triệu kêu gọi các lực lượng yêu nước ở Nam Bộ, từ Cao Đài, Hòa Hảo, các
đảng phái, đoàn thể đến các cá nhân yêu nước hãy hưởng ứng phong trào đấu tranh kháng Nhật, giành
lấy độc lập tự do.
Bản Hiệu triệu cũng nêu bật vai trò của Đảng Cộng sản: “Chúng ta là tiền phong của dân chúng,
hãy nỗ lực hoạt động, tuyên truyền tổ chức, chiến đấu cho thanh danh của Đảng được nâng cao, cho
sứ mạng của dân được hoàn thành, giải thoát dân tộc”. [101, tr 933]
Giữa tháng 5/1945, quân đội Nhật liên tiếp thất bại trên các chiến trường Viễn Đông. Quân Nhật
hoang mang tột độ. Phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Bộ ngày càng lên cao. Để cứu vãn tình thế,
chính quyền Nhật ở Nam Bộ bấy giờ vẫn cố gắng trong tuyệt vọng, tìm cách lợi dụng một số trí thức có
uy tín để phát động một phong trào thanh niên để lôi kéo một bộ phận quần chúng xa rời các cuộc đấu
tranh. Người phụ trách Thanh niên và Thể thao của Nhật đã lựa chọn và mời bác sỹ Phạm Ngọc Thạch
phát động phong trào.
Tuy nhiên, bác sỹ Phạm Ngọc Thạch lại chính là một Đảng viên cộng sản. Xứ ủy Tiền Phong lập
tức chủ trương lợi dụng kế hoạch của Nhật để gây dựng lực lượng. Nhiều cuộc mít tinh diễn ra rầm rộ
sau đó ở khắp Sài Gòn để ủng hộ cuộc vận động. Kết quả là tổ chức “Thanh niên tiền phong” ra đời, trở
thành lực lượng vũ trang cách mạng sơ khai của Đảng ở Nam Bộ. Phong trào Thanh niên tiền phong
nhanh chóng lan ra khỏi phạm vi Sài Gòn, phát triển mạnh ở hầu hết các tỉnh Nam Kỳ. Số lượng hội
viên tăng nhanh chóng, lên đến hàng triệu người.
Tháng 6/1945, cục diện chiến trường ngày càng bi đát đối với quân đội Nhật. Ở trong nước, chính
phủ Trần Trọng Kim bất lực trước những tình thế cấp bách của đất nước (kinh tế đình đốn, nạn đói lan
tràn, không đàm phán được vấn đề độc lập thống nhất đất nước với Nhật…). Lòng tin vào chính phủ
Trần Trọng Kim và Nhật dần lụi tắt. Các phe phái thân Nhật ở Nam Bộ dần rã đám.
Tình hình càng ngày càng có lợi cho cách mạng. Tương quan lực lượng dần thay đổi nhanh chóng.
“Nhiều đảng viên thoát ngục, các đồng chí ẩn náu ra tham gia công tác, các tổ chức cách mạng ở Sài
Gòn đã hoạt động trở lại, lực lượng cách mạng đã có vài trăm đảng viên và vài ngàn đoàn viên công
đoàn, nhiều tổ chức thân Nhật, nhiều binh lính người việt cũng đã ngả về phía cách mạng”. [101, tr
920 - 921]
Tháng 7/1945, lực lượng cách mạng phát triển ngày càng mạnh, nhưng tình hình không thống nhất
trong tổ chức Đảng ở Nam Bộ vẫn là một điều nhức nhối. Trung ương Đảng nhận định: “Chúng ta sẽ
phạm phải một tội lớn, nếu trước giờ quyết liệt mà chúng ta còn chia rẽ mãi”. [101, tr 970] Trước tình
hình chia rẽ của tổ chức Đảng Nam Kỳ, Trung ương Đảng rất quan tâm và đã cử các cán bộ vào để tiến
hành sát nhập cả hai tổ chức, trên tinh thần “Để thống nhất Đảng bộ Nam Kỳ hãy kíp đi vào đường lối”
của Trường Chinh.
Kết quả của những nỗ lực đó của Trung ương Đảng đã được cụ thể hóa bằng cuộc họp hỗn hợp của
hai Xứ ủy tại Láng Le. Trong cuộc họp, hai Xứ ủy đều đồng ý lập một Ủy ban hành động chung. Tuy
nhiên, do Đảng bộ bị chia rẽ khá sâu sắc nên Ủy ban hành động chung chỉ đạt được về danh nghĩa chứ
chưa làm được gì nhiều trong thực tế. Sự thật là trong cách mạng tháng Tám, việc giành chính quyền,
giữ chính quyền và các nhân sự của chính quyền cấp xứ sau khi khởi nghĩa thành công vẫn là do hai
Xứ ủy tiến hành riêng rẽ, chưa thống nhất được với nhau.
Tháng 8/1945, chiến tranh thế giới thứ hai đang đi đến những ngày cuối cùng. Nhật Bản thoi thóp
chờ đòn tấn công quyết định của quân đội Đồng Minh. Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa đang tiến hành
một cách hết sức thuận lợi trên phạm vi cả nước. Thời cơ cách mạng đã dần xuất hiện.
Ngày 15/8/1945, Nhật tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Đảng Cộng sản Đông Dương lập tức ra
lời Hiệu triệu, phát động Tổng khởi nghĩa.
Ở Nam Bộ, được tin Nhật đầu hàng Đồng Minh, mặc dù chưa nhận được chỉ thị khởi nghĩa của
Trung Ương, Xứ ủy Tiền Phong lập tức thành lập Ủy ban khởi nghĩa, do Trần Văn Giàu làm chủ tịch.
Tối 16/8/1945, Hội nghị mở rộng Xứ ủy Nam Kỳ (Tiền Phong) được triệu tập tại Chợ Đệm (Chợ
Lớn) để bàn về vấn đề khởi nghĩa. Đa số đại biểu cho rằng thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi, nếu không
hành động sẽ bỏ lỡ thời cơ. Tuy nhiên, một số người vẫn lo ngại quân đội Nhật sẽ theo lệnh Đồng
Minh đàn áp cách mạng. Sự e ngại này không phải không có cơ sở. Cuối cùng, hội nghị đi đến quyết
định vẫn tiếp tục xúc tiến khởi nghĩa, nhưng chờ tin từ Trung ương. Hễ thấy Trung ương khởi nghĩa thì
lập tức tiến hành kế hoạch.
Sáng ngày 19/8/1945, 70.000 Thanh niên tiền phong tổ chức tuyên thệ lần thứ hai tại vườn Ông
Thượng để biểu dương lực lượng.
Ngày 20/8/1945, Việt Minh ra hoạt động công khai ở Sài Gòn. Cờ Việt Minh, cờ Đảng xuất hiện
khắp nơi.
Sáng ngày 21/8/1945, được tin Hà Nội đã khởi nghĩa thắng lợi. Hội nghị mở rộng Xứ ủy Nam Kỳ
(Tiền Phong) lại được tái họp. Hội nghị quyết định chọn Tân An làm khởi nghĩa thí điểm để thăm dò
phản ứng của Nhật. Đồng thời lên kế hoạch chi tiết cho việc nổi dậy ở Sài Gòn.
Đêm 24/8/1945, Kỳ bộ Việt - Minh ra đời và mở hội nghị hiệp thương, lập danh sách Ủy ban hành
chính lâm thời Nam Bộ. Đảng Dân chủ Việt Nam và Tổng Công đoàn ra công khai. Ủy ban Tổng Khởi
nghĩa Sài Gòn bắt tay vào chỉ đạo hành động. Khắp thành phố nổi lên những khẩu hiệu:
"Bảo Đại phải thoái vị".
"Nguyễn Văn Sâm phải từ chức".
"Chính quyền về tay Việt-Minh".
"Việt Nam độc lập muôn năm".
"Đảng Cộng sản Đông dương muôn năm".
Các đội trưởng quân khởi nghĩa họp tại trụ sở Hướng đạo sinh ở đường Pen - lơ - ranh nghe phổ
biến chủ trương tổng khởi nghĩa, rồi tấp nập vào trụ sở Ủy ban Tổng khởi nghĩa đóng ở số 6 đường Cô-
lôm-ba nhận mệnh lệnh, kế hoạch và súng đạn. Các đội Thanh niên xung phong và Công đoàn Xung
phong chiếm công sở, các vị trí quan trọng như dinh Thống đốc, Kho bạc, Sở Bưu điện, Sở chữa lửa...
Quân Nhật co về phòng thủ, hầu như không có một hoạt động chống trả quyết liệt nào.
Rạng sáng ngày 25/8/1945, hàng chục vạn đồng bào ngoại thành và các tỉnh lân cận Sài Gòn như
Bà Điểm, Hóc Môn, Chợ Đệm, Tân An, Lái Thiêu, v.v... ồ ạt kéo vào hỗ trợ đồng bào nội thành, mang
theo súng, gươm, giáo, mác, cưa, búa, thang. Thành phố Sài Gòn rung chuyển dưới bước chân đi của
trên một triệu người. Sài Gòn đã thay đổi hẳn bộ mặt. Cả thành phố chìm ngập trong biển cờ, và biểu
ngữ.
Cách mạng tháng Tám đã thành công ở Sài Gòn.
Tại các địa phương khác ở Nam Bộ, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cũng nhanh chóng thắng
lợi.
Ngày 24/8/1945 Biên Hòa, Thủ Dầu Một giành chính quyền.
Ngày 25/8/1945 Bến Tre, Mỹ Tho, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Tây Ninh tiến hành khởi nghĩa
thắng lợi.
Ngày 28/8/1945, Rạch Giá, Hà Tiên cũng tiến hành giành chính quyền thành công.
Riêng các đảo xa đất liền như Côn Đảo, Phú Quốc, việc tiến hành khởi nghĩa diễn ra muộn hơn một
chút, đến giữa tháng 9/1945 mới giành hoàn toàn giành lại quyền làm chủ.
Cuộc tổng khởi nghĩa thực sự đã giành thắng lợi vẻ vang.
Cách mạng tháng Tám thành công ở Nam Bộ là phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực không
biết mệt mỏi và biết bao hi sinh mất mát của các Đảng viên Cộng sản. Từ sau khi khởi nghĩa Nam Kỳ
năm 1940 thất bại, đến năm 1945 tổ chức Đảng ở Nam Bộ tương đối được phục hồi lại. Tuy vậy, cho
đến tận những ngày đầu năm 1945, vùng Nam Bộ vẫn là một bức tranh hỗn độn của hàng chục tổ chức
chính trị và giáo phái khác nhau, lực lượng Đảng ở đây vẫn còn rất mỏng và yếu, tương quan lực lượng
không mấy khá hơn các tổ chức chính trị khác.
Tình trạng đó là một khó khăn lớn.
Yêu cầu bức thiết bấy giờ là phải tăng cường thực lực của Đảng, ít nhất là phải chiếm được ưu thế
trước các đảng phái chính trị khác. Có như vậy mới nắm được ngọn cờ lãnh đạo để tiến tới khởi nghĩa
giành chính quyền. Bởi “trên bầu trời, tinh tú nào lớn nhất thì có sức hút mạnh nhất. Đảng Cộng sản
và Mặt trận dân tộc phải lớn mạnh nhất thì mới thu hút được tất cả các lực lượng yêu nước vào quỹ
đạo giải phóng của mình”. [37, tr 1336]
Đó là một nhiệm vụ rất khó khăn. Tuy nhiên, tổ chức Đảng ở Nam Bộ đã hoàn thành nhiệm vụ đó
một cách xuất sắc. Cùng với việc thành lập tổ thức Thanh niên xung phong. Uy thế của Đảng nhanh
chóng vượt lên trên tất cả các tổ chức chính trị khác, lôi kéo họ gia nhập vào phong trào yêu nước do
Đảng phát động.
Trong không khí sục sôi của cách mạng trên phạm vi cả nước, Xứ ủy Nam Kỳ cũng quyết định
chớp thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền. Do uy tín của Đảng đã có từ trong các giai đoạn lãnh đạo
đấu tranh trước đó, các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ đã ủng hộ và thừa nhận vị trí lãnh đạo của Đảng.
Từ ngày 25/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng quần chúng nhân dân Nam Bộ, bao gồm hầu hết các lực
lượng chính trị với các xu hướng yêu nước khác nhau đã nhất tề nổi dậy và nhanh chóng làm chủ các
địa phương ở Nam Bộ.
Cách mạng tháng Tám thành công ở Nam Bộ thực sự là thành quả của sức mạnh tổng hợp của các
xu hướng yêu nước với vai trò đoàn kết và lãnh đạo của Đảng.
**
*
Chủ nghĩa Mác Lênin được du nhập vào vùng Nam Bộ bắt đầu từ những năm sau chiến tranh thế
giới thứ nhất (1918). Từ những ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác, xu hướng yêu nước vô sản ở Nam Bộ
dần định hình và phát triển. Trải qua hơn mười năm, vị thế của xu hướng này đã được nâng lên đáng
kể, trở thành lực lượng tiên phong trong việc phát động các cuộc đấu tranh cứu nước. Tuy nhiên, đạt
được vị thế ấy không phải là điều dễ dàng. Đó là một con đường không hề bằng phẳng mà vô cùng gập
ghềnh và quanh co khúc khuỷu, đòi hỏi sự nỗ lực không biết mệt mỏi và thậm chí đánh đổi bằng máu
và sinh mạng của biết bao những người cộng sản trung kiên chân chính.
Cũng như xu hướng phát triển chung của xu hướng yêu nước vô sản trên cả nước. Ở Nam Bộ cũng
chứng kiến sự xuất hiện của hàng loạt các tổ chức cộng sản khác nhau (Đông Dương Cộng Sản Đảng,
An Nam Cộng Sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn). Việc cùng tồn tại một lúc nhiều tổ chức
cộng sản như vậy không chứng tỏ xu hướng yêu nước vô sản ở đây mạnh mẽ, mà ngược lại, đó chính là
sự mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ xu hướng này. Điều đó nếu không được giải quyết một cách rốt ráo
sẽ ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp giải phóng của toàn dân tộc. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc hợp nhất các tổ
chức cộng sản trong nước thành một tổ chức duy nhất là một sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt không chỉ
với cách mạng Việt Nam nói chung mà còn có tác động sâu sắc đến phong trào yêu nước của bản thân
vùng Nam Bộ. Từ sự hợp nhất này, Đảng Cộng sản ở Nam Bộ đã trở thành một khối đoàn kết vững
chắc, tập hợp được sức mạnh để trở thành lực lượng cách mạng mạnh nhất, đóng vai trò tiên phong
trong việc phát động các cuộc đấu tranh yêu nước.
Tuy nhiên, con đường đi đến thắng lợi cũng có những thời điểm gặp muôn vàn gian nan và thử
thách. Ở Nam Bộ, các xu hướng yêu nước tư sản vốn đã được gây dựng từ trước đó, thâm nhập sâu và
có cơ sở vững chắc trong một bộ phận quần chúng nhân dân, trong giai đoạn này cũng có những bước
phát triển vượt bậc, cạnh tranh vị thế lãnh đạo các phong trào yêu nước với Đảng Cộng sản. Trong khi
đó, bản thân Đảng lại liên tiếp gặp những khó khăn từ sự đàn áp đẫm máu của kẻ thù. Những tổn thất
to lớn trong những năm 1930 - 1931 và sau đó là trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 thực sự gây ra
những trở ngại lớn trên con đường phát triển của Đảng. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận một cách khách
quan rằng, bản thân những tổn thất tuy đau thương nhưng điều đó cũng là một yếu tố quan trọng xây
dựng nên bức màn huyền thoại về Đảng, xây dựng nên niềm tin cho quần chúng nhân dân Nam Bộ, tạo
ra sự khâm phục cho những tổ chức yêu nước theo các xu hướng khác. Chính vì vậy, cứ mỗi lần gượng
dậy sau khi bị kẻ thù đàn áp, uy tín của Đảng lại tăng thêm gấp bội, dễ dàng vận động được đông đảo
quần chúng, kể cả những tổ chức chính trị theo các xu hướng yêu nước khác nhau cũng tham gia vào sự
nghiệp cứu nước.
Nam Bộ thời điểm năm 1945 thực sự là một chảo lửa chính trị sôi sục. Những tin tức thất trận của
quân đội phát xít từ khắp các chiến trường liên tiếp dội về. Nhật đã buộc phải đảo chính Pháp loại trừ
một nguy cơ tiềm ẩn. Nhưng điều đó cũng không thể nào cứu vãn được tình thế ngày càng bi đát. Tranh
thủ điều kiện đó, hàng loạt các tổ chức chính trị ở Nam Bộ nhanh chóng tìm cách củng cố thế lực, chờ
đợi thời cơ tới. Đảng Cộng sản khi ấy vẫn còn chưa thể gượng dậy nổi sau những tổn thất nghiêm trọng
từ năm 1940, hơn thế nữa, di chứng từ sự đàn áp của kẻ thù còn tồn tại dai dẳng đến tận lúc bấy giờ đó
là sự chia rẽ trong bản thân tổ chức Đảng với sự xuất hiện của hai Xứ ủy hoạt động độc lập. Trong điều
kiện bất lợi như vậy, mục tiêu đặt ra là trong một thời gian ngắn phát triển lực lượng để nắm lại vị thế
lãnh đạo phong trào yêu nước thực sự là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn.
Nhưng quả thật, thử thách càng khắc nghiệt bao nhiêu thì bản lĩnh kiên cường và sự thông minh
sáng tạo của những người cộng sản Nam Bộ càng được chứng tỏ bấy nhiêu. Với sự xuất hiện của tổ
chức Thanh niên tiền phong, yêu cầu xây dựng lực lượng lớn mạnh mà Đảng đặt ra trước đó đã được
đáp ứng. Thế lực của Đảng nhanh chóng vượt xa các tổ chức chính trị khác đang xuất hiện ngày một
nhiều ở Nam Bộ, hút tất cả vào một quỹ đạo chung do Đảng vạch ra, tất cả đều nhằm đến một mục tiêu
duy nhất: Giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập tự do.
Cuộc cách mạng mạng tháng Tám thành công ở Nam Bộ là kết quả của những chiến lược và sách
lược đúng đắn của Đảng, và đồng thời cũng thể hiện khả năng cách mạng phi thường của người dân
Nam Bộ. Nhắc đến thành công của cách mạng tháng Tám, không thể chỉ nói đến vai trò của Đảng mà
không nhắc đến vai trò của các lực lượng yêu nước khác, vốn là lực lượng quyết định dẫn đến kỳ tích
ấy.
CHƯƠNG BA
ĐẶC ĐIỂM VÀ KHUYNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA
CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ
3.1 Những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX
3.1.1 Các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX rất đa dạng
Vùng Nam Bộ có một nền văn hóa đa dạng và một lịch sử phát triển riêng không giống với các địa
phương khác trên lãnh thổ Việt Nam. Thành phần cư dân Nam Bộ không thuần nhất mà được cấu thành
từ nhiều bộ phận có nguồn gốc khác nhau. Người Việt, người Khơ me, người Chăm, người Hoa và
nhiều tộc người thiểu số khác… Mỗi bộ phận cư dân có sự khác biệt về đời sống kinh tế, bản sắc văn
hóa và quan hệ xã hội. Sự đa dạng đó khiến cho lòng yêu nước của mỗi tộc người thể hiện một sắc thái
riêng biệt.
Ngoài ra, Nam Bộ, do vị trí địa lý đặc biệt, cũng là nơi hội tụ của rất nhiều luồng văn hóa lớn nhỏ
khác nhau trên thế giới (Ấn Độ, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á khác…). Đặc biệt đối với văn hóa
phương Tây, có thể nói, so với các vùng miền khác trên đất nước Việt Nam, Nam Bộ thể hiện một cách
rõ nét hơn cả.
Bởi vậy, vùng Nam Bộ sở hữu một bản sắc văn hóa đa dạng mà lại rất đặc thù. Sự đa dạng về văn
hóa làm cho lòng yêu nước ở Nam Bộ, vì thế, cũng có những đặc trưng riêng biệt.
Hơn thế nữa, do mỗi bộ phận cư dân đều có những quan điểm khác nhau về lòng yêu nước. Và kẻ
thù thâm độc cũng lợi dụng chính điều đó để tìm cách chia rẽ khối đoàn kết của cư dân Nam Bộ. Bởi
vậy, rất nhiều các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ trong quá trình hình thành đã bị phân hóa mạnh, cuối
cùng hình thành nên hàng loạt các tổ chức mang những tư tưởng, đường lối đấu tranh khác nhau.
Sự đa dạng và phức tạp của lòng yêu nước Nam Bộ còn phụ thuộc rất lớn vào hoàn cảnh lịch sử
cuối thế kỷ XX. Nam Bộ tuy không phải là nơi chứng kiến tiếng súng xâm lược đầu tiên của thực dân
Pháp, nhưng lại là nơi bị chiếm đầu tiên. Toàn bộ vùng Nam Kỳ (Nam Bộ) trên thực tế bị thực dân
Pháp chiếm đóng từ năm 1867. Tuy nhiên, phải đến năm 1972 việc chiếm đóng ấy của thực dân Pháp
mới được triều đình nhà Nguyễn thừa nhận với việc ký kết hòa ước Nhâm Tuất.
Trở thành thuộc địa, điều kiện kinh tế xã hội ở Nam Bộ có nhiều điểm khác biệt so với các vùng
miền khác. Có một điểm đáng chú ý, thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ trong bối cảnh không phải
hoàn toàn thuận lợi. Phe cánh tả thắng thế trong cuộc bầu cử năm 1863 ở Pháp tỏ ra hoài nghi với
những cuộc viễn chinh bành trướng thuộc địa mà chính phủ Pháp đang theo đuổi. Những thất bại nặng
nề của quân viễn chinh Pháp tại Mêhicô thời điểm đó đã làm cho không ít người dân Pháp tỏ ra chán
ngán với những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa khác. Trong tình hình đó, những người chủ
trương chiếm đóng Nam Kỳ làm thuộc địa nhận thấy phải tìm mọi cách chứng minh rằng việc chiếm
đóng Nam Kỳ không phải là gánh nặng cho chính quốc. Vì vậy, việc khai thác Nam Kỳ, được tiến hành
từ rất sớm. “Ngân sách của thuộc địa Nam Kỳ, ngay từ những năm đầu dưới thời Pháp thuộc, chẳng
những đã cáng đáng nổi những chỉ tiêu khổng lồ của một nền hành chánh cồng kềnh tại chính thuộc
địa mà còn có thể chi viện cho cuộc xâm lăng của Pháp tại Bắc Kỳ và góp phần vào ngân sách của
chính quốc gia nữa”. [59, tr 167] Vậy nên nền kinh tế của Nam Bộ trở nên năng động và phát triển
tương đối nhanh. Các đồn điền, nhà máy xuất hiện ngày càng nhiều. Nội thương và ngoại thương cũng
được đẩy mạnh. Điều đó làm cho sự phân hóa xã hội Nam bộ diễn ra mạnh mẽ. Các giai cấp, tầng lớp
mới bắt đầu xuất hiện: Tư sản, công nhân, trí thức tây học, tiểu tư sản… Việc xuất hiện các giai cấp,
tầng lớp và những điều kiện xã hội cụ thể ở Nam Bộ làm nảy sinh hàng loạt các xu hướng yêu nước
khác nhau. Nửa đầu thế kỷ XX, ở Nam Bộ các xu hướng yêu nước theo đường lối phong kiến, dân chủ
tư sản, cộng sản… đều có mặt ở Nam Bộ.
Tất cả những điều đó làm cho lòng yêu nước Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX biểu hiện rất phức tạp.
Theo dòng phát triển của lịch sử, các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ không tồn tại ở một dạng đơn
nhất mà biểu hiện ra thành rất nhiều hình thức khác nhau. Đầu thế kỷ XX, trong khi xu hướng yêu nước
theo hình thức phong kiến đã tỏ ra bất lực trước sức mạnh của quân đội Pháp, thì ở Nam Bộ, xu hướng
này vẫn phát triển. Mạng lưới các hội kín dày đặc khắp Nam Bộ làm cho thực dân Pháp và chính quyền
tay sai phải e dè. Tuy nhiên, cuối cùng bản thân các hội kín thực sự vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của
lịch sử, nên cuối cùng không thể đạt được thắng lợi, mà chỉ gây được tiếng vang trong quần chúng để
tiếp tục nuôi dưỡng lòng yêu nước của nhân dân Nam Bộ.
Đầu thế kỷ XX, hoạt động của các sỹ phu yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản lan đến Nam Bộ.
Xu hướng này nhanh chóng nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các tầng lớp nhân dân, bao gồm cả địa
chủ đến những trí thức tây học. Những hoạt động rầm rộ của những cuộc vận động Duy Tân, của
phong trào Đông Du ở Nam Bộ thời kỳ này phối hợp với các vùng miền khác trên phạm vi cả nước góp
phần điều này thể hiện truyền thống yêu nước quật cường của nhân dân Nam Bộ nói chung.
Phong trào Đông Du tan rã, cuộc vận động Duy Tân cũng dần chấm dứt sau khi hoàn thành vai trò
lịch sử. Xu hướng yêu nước dân chủ tư sản ở Nam Bộ lại bước sang một giai đoạn mới. Các đảng phái
của giai cấp tư sản, tiểu tư sản thành lập ngày một nhiều (Đảng Lập Hiến, Thanh niên Cao Vọng, Đảng
Thanh niên…). Tiếp nối khí thế những năm đầu thế kỷ, những phong trào yêu nước của giai cấp tư sản,
trí thức tiểu tư sản nổ ra liên tiếp (chống độc quyền thương cảng Sài Gòn, đám tang Phan Châu Trinh,
đòi thả Phan Bội Châu và Nguyễn An Ninh, đón tiếp Bùi Quang Chiêu…). Những cuộc đấu tranh này
thực sự trở thành những phong trào đấu tranh tiêu biểu cho cả nước.
Đến khoảng những năm 30 của thế kỷ XX, toàn bộ vùng Nam Bộ là trở thành một địa điểm hội tụ
của hàng loạt những tổ chức yêu nước theo những xu hướng tư sản, cả tư sản dân tộc cách mạng lẫn tư
sản dân tộc cải lương. Việc nảy sinh nhiều tổ chức như vậy không chứng tỏ xu hướng này mạnh, ngược
lại, chỉ cho thấy sự yếu đuối và chia rẽ của bản thân xu hướng ấy. Sự yếu đuối ấy thực sự có những
nguyên nhân sâu xa của nó. Bản thân giai cấp tư sản Nam Bộ không mạnh, quyền lợi lại gắn chặt với
thực dân. Vậy nên tinh thần đấu tranh của xu hướng này phần nhiều mang tính chất cải lương. Đa số
các đảng phái tư sản khi phát động các phong trào yêu nước đều mong muốn đấu tranh hòa bình, không
muốn phong trào đi quá xa. Và chỉ cần thực dân Pháp nhượng bộ cho một số quyền lợi, các đảng phái
này rất dễ quay lưng lại với quần chúng. Hơn thế nữa, trong giai cấp tư sản, vẫn có một bộ phận mang
danh dân tộc, nhưng thực ra chấp nhận làm tay sai cho thực dân Pháp, câu kết chặt chẽ với kẻ thù để
chống phá phong trào yêu nước nói chung.
Nhật tiến vào Nam Bộ, xu hướng yêu nước tư sản lại làm xuất hiện những đảng phái thân Nhật,
mong muốn dựa vào Nhật để chống Pháp, giành lại độc lập. Ngay trong tư tưởng dựa dẫm này, xu
hướng yêu nước tư sản đã bộc lộ sự yếu đuối và bất lực của nó.
Lịch sử Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX quả thật là một bức tranh sinh động với sự quy tập nhiều các
xu hướng yêu nước khác nhau, với hàng loạt các tổ chức đảng phái chính trị. Trong bức tranh hỗn độn
đó, khi mà xu hướng yêu nước tư sản tỏ ra yếu đuối và bất lực, sự xuất hiện của xu hướng yêu nước vô
sản, cụ thể là sự xuất hiện của các tổ chức Đảng thực sự là một vệt màu tươi sáng.
Sự du nhập của chủ nghĩa Mác Lênin vào Nam Bộ được diễn ra từ rất sớm. Nơi đây cũng là nơi mà
các tổ chức tiền thân của Đảng tranh giành phạm vi ảnh hưởng một cách quyết liệt từ trước ngày thành
lập Đảng. Trong quá trình tồn tại và phát triển ở Nam Bộ, xu hướng này thực sự tỏ rõ ưu thế trước các
xu hướng yêu nước khác. Tất nhiên, con đường đi đến độc lập tự do không phải thênh thang bằng
phẳng. Đã có những giai đoạn Đảng phải đối mặt với những khó khăn chồng chất, thậm chí gặp phải
những thất bại tạm thời. Thế nhưng tất cả những khó khăn đó không làm thể làm nhụt chí những chiến
sỹ cộng sản chân chính, chiến đấu với lý tưởng vì nước vì dân, được vũ trang bởi một hệ tư tưởng tiên
tiến. Và cuối cùng, thành công của cuộc cách mạng tháng Tám 1945 là câu trả lời hùng hồn nhất cho
mọi nỗi ngờ vực về vai trò của Đảng.
Tóm lại, đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ xuất hiện rất nhiều các đảng phái chính trị và các xu hướng yêu
nước khác nhau. Điều đó do những điều kiện kinh tế xã hội và lịch sử của vùng Nam Bộ quy định. Sự
đa dạng của các xu hướng yêu nước thực sự là một đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa yêu nước Nam Bộ
nửa đầu thế kỷ XX.
3.1.2 Sự ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo đến các xu hướng yêu nước Nam Bộ đầu thế kỷ XX
Một đặc điểm không thể không nhắc đến khi nói về các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ, đó là sự ảnh
hưởng của tôn giáo. Trừ xu hướng yêu nước vô sản, các xu hướng yêu nước còn lại dù ít dù nhiều đều
chịu ảnh hưởng của màu sắc thần bí. Từ các hội kín ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX, đến các tôn giáo như
Cao Đài, Hòa Hảo, mà trong thời điểm đó thực chất đóng vai trò là những đảng phái chính trị.
Vùng đất Nam Bộ là một vùng đất chỉ mới được khai phá được vài thế kỷ. Sự hoang sơ của điều
kiện tự nhiên và trình độ dân trí ở nơi đây chưa phát triển ở mức độ cao là một đặc điểm nổi bật của
vùng đất này. Hơn nữa văn hóa Nam Bộ có cả các yếu tố văn hóa bản địa và các dòng văn hóa được du
nhập từ bên ngoài. Tất cả những điều đó là một trong những điều kiện để làm nảy sinh các yếu tố tôn
giáo ở Nam Bộ.
Tuy nhiên, bản chất của sự xuất hiện của yếu tố tôn giáo ở Nam Bộ không hoàn toàn đơn giản như
vậy. Nguyên nhân của nó có thể còn bao gồm cả những nguyên nhân riêng.
Có thể thấy, sự xuất hiện của yếu tố tôn giáo trong các phong trào yêu nước ở Nam Bộ lại có
nguyên nhân cơ bản từ bản thân lòng yêu nước của nhân dân nơi đây. Hay nói cách khác, tôn giáo và
lòng yêu nước ở Nam Bộ là hai đối tượng có tác động tương hỗ lẫn nhau. Lòng yêu nước làm nảy sinh
ra yếu tố tôn giáo trong quần chúng. Đến lượt mình, yếu tố tôn giáo tạo ra niềm tin, sức mạnh và sự
đoàn kết trong nội bộ các tổ chức yêu nước. Mối quan hệ tương hỗ ấy làm cho các phong trào yêu nước
ở Nam Bộ mang một sắc thái riêng biệt so với các địa phương khác trên cả nước.
Yếu tố tôn giáo bản thân nó vừa có ý nghĩa tích cực, nhưng đồng thời lại cũng là tiêu cực. Bằng
màu sắc huyền bí, các lãnh tụ yêu nước có thể tập hợp được một lực lượng quần chúng đông đảo, kích
thích tinh thần đấu tranh của họ. Nhưng ngược lại, một khi bị kẻ thù đàn áp, những màu sắc thần bí
không còn hiệu nghiệm, thì các phong trào yêu nước sẽ tan rã rất nhanh chóng. Sự thất bại của phong
trào hội kín là một minh chứng tiêu biểu nhất cho điều đó.
Đối với các tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, khi tham gia vào chính trị, thì yếu tố tôn giáo có phần
bị giảm sút. Vai trò của tôn giáo chỉ mang tính chất động viên về tinh thần. Song thực sự sức mạnh của
các tổ chức này hầu như chỉ đơn thuần dựa trên sức mạnh của hàng ngũ tín đồ, chứ chưa thực sự có cơ
sở vững mạnh trong toàn bộ quần chúng nhân dân Nam Bộ. Điều đó làm cho các tổ chức này không có
được đầy đủ sức mạnh để có thể trở thành một thế lực lớn mạnh trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ
nửa đầu thế kỷ XX.
Không giống với các xu hướng yêu nước khác, các phong trào yêu nước theo xu hướng vô sản hầu
như không bị ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo. Tất nhiên nói như vậy không có nghĩa là xu hướng này
loại bỏ hoàn toàn vai trò tích cực của yếu tố tôn giáo trong việc vận động, tổ chức các phong trào yêu
nước. Bản thân Đảng Cộng sản luôn đề cao quyền tự do tôn giáo của mỗi người dân. Chính sách tôn
giáo ấy thể hiện sự tiến bộ, phù hợp với thực tế lịch sử. Bởi vậy, tuy không chịu ảnh hưởng của bất kỳ
tôn giáo nào, Đảng Cộng sản ở Nam Bộ vẫn quy tập và liên kết được một số các tổ chức tôn giáo ở
Nam Bộ và tranh thủ được cả những thành phần nhân dân ngoài đạo. Sức mạnh tổng hợp ấy làm cho
Đảng có được sức mạnh đề đưa nhân dân Nam Bộ đạt đến những thành công.
Và như vậy có thể nói rằng, sự xuất hiện và ảnh hưởng mạnh mẽ của yếu tố tôn giáo trong các
phong trào yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX là một thực tế. Tuy nhiên, xu hướng yêu nước vô
sản, đứng đầu là Đảng cộng sản, đã đề ra được những sách lược phù hợp để hướng cả những yếu tố tôn
giáo ấy vào mục đích đấu tranh chung. Điều đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thắng
thế và đảm bảo vững chắc của xu hướng yêu nước vô sản trong phong trào yêu nước nói chung ở Nam
Bộ.
3.1.3 Tính chất kế thừa của các xu hướng yêu nước Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX
Lịch sử là một dòng chảy liên tục, giữa các giai đoạn, các thời kỳ không phải tách biệt mà luôn có
sự tiếp nối. Đối với các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ cũng không phải là ngoại lệ. Mỗi xu hướng yêu
nước khi xuất hiện đều dựa trên những cơ sở xã hội nhất định, tiếp thu những giá trị của các xu hướng
cũ để biến đổi, hoàn thiện cho phù hợp với hoàn cảnh mới.
Tính chất kế thừa của các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ thể hiện rất rõ nét. Những năm đầu thế kỷ
XX là khoảng thời gian giao thoa giữa xu hướng yêu nước phong kiến và xu hướng dân chủ tư sản.
Qua các phong trào đấu tranh đầu thế kỷ, có thể thấy rằng “một lớp sỹ phu thì bắt đầu đi tìm tiếng nói
mới, tư tưởng mới trong những di văn của Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ, nhất là trong “tân
thư”từ Trung Quốc gửi sang, mang tư tưởng dân chủ tư sản Tây phương. Một lớp sỹ phu khác và một
số đông nhà yêu nước xuất thân từ nhân dân thì soạn lại trong kho vũ khí sẵn có của tổ tiên, của nhân
dân, xem còn có vũ khí nào đắc dụng hay không, và họ trở về với nhà chùa và với phương thuật quen
thuộc”. [37, tr 353]
Xu hướng yêu nước phong kiến, tiêu biểu là các hội kín sau khi thất bại trong cuộc khởi nghĩa năm
1916 thất bại, các hội kín bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt. Nhưng phong trào đấu tranh dưới hình
thức này vẫn chưa hoàn toàn tắt hẳn. “Ngọn lửa có xuống, nhưng than vẫn còn hồng”. [37, tr 353] Một
bộ phận của các hội kín sau này được chuyển hóa thành hội kín Nguyễn An Ninh, tức chuyển từ xu
hướng yêu nước phong kiến sang xu hướng yêu nước dân chủ tư sản. Rồi tổ chức hội kín Nguyễn An
Ninh, lại một lần nữa lại tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin để chuyển hóa thành xu hướng yêu nước vô sản.
Con đường ấy tuy dài nhưng lại là tất yếu.
Tính chất kế thừa còn có thể hiện thông qua cuộc vận động Duy Tân đầu thế kỷ XX. Những yếu
nhân của phong trào hầu hết đều là những sỹ phu yêu nước, tiếp nhận tư tưởng dân chủ từ nước ngoài.
Hơn nữa, đối với riêng vùng Nam Bộ, để xu hướng này nhận được sự ủng hộ của các tầng lớp nhân
dân, Phan Bội Châu đã phải chấp nhận mời Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm Hội chủ Duy Tân Hội. Mặt
khác, tuy cổ động việc học hỏi văn minh phương Tây, các sỹ phu yêu nước vẫn không phải hoàn toàn
phủ nhận những tín điều của Nho giáo, vốn là nền tảng của chế độ phong kiến. “Phan Châu Trinh đã
khẳng định rằng, đạo đức của Khổng - Mạnh và Tây Âu có những điểm tương đồng và đều chân chính,
do đó “đem văn minh Châu Âu về, tức là đem đạo Khổng Mạnh về làm cho rõ thêm đạo Khổng Mạnh.
Nghĩa là, đem cái chân văn minh ở Tây Âu hòa hợp với chân Nho giáo ở Á Đông””. [14, tr 103] Có
thể nói, phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX, tuy đã mang hơi thở dân chủ tư sản, nhưng vẫn còn dấu ấn
đậm nét của ý thức hệ phong kiến.
Đến những năm 20 của thế kỷ XX, xu hướng yêu nước dân chủ tư sản đã dần dần xác lập được chỗ
đứng trong phong trào yêu nước. Bắt đầu phát động được những cuộc đấu tranh thu hút được đông đảo
quần chúng tham gia. Thế nhưng xu hướng này vẫn không thể hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của ý
thức hệ phong kiến. Giai cấp tư sản ở Nam Bộ hầu hết có mối liên hệ chặt chẽ với bộ phận điền chủ,
đại điện của chế độ phong kiến. Hơn nữa, các phong trào yêu nước theo xu hướng tư sản mạnh nhất ở
Nam Bộ, là Cao Đài và Hòa Hảo lại quay về với màu sắc thần bí như các giai đoạn trước.
Tuy nhiên, xu hướng yêu nước tư sản nhanh chóng bộc lộ những nhược điểm không thể khắc phục.
Bộ phận theo chủ nghĩa dân tộc cải lương mất dần đi vai trò tích cực, quay sang thỏa hiệp với kẻ thù,
chấp nhận trở thành tay sai cho giặc. Còn bộ phận theo chủ nghĩa dân tộc cách mạng thì yếu đuối và
bất lực. Bởi “vào thời điểm lịch sử giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, đảng dân tộc cách mạng yếu ớt
về tổ chức, nông cạn về tư tưởng, đi tìm mà không ra một chủ nghĩa, xem nhẹ lý luận, xem rẻ tuyên
truyền, không tự mình vũ trang nổi cho mình một hệ thống chiến lược chiến thuật, một lý tưởng để làm
hiệu cờ. Cho nên tổ chức dân tộc các mạng bị thực dân Pháp đánh tan tành mà dù gặp lúc có điều kiện
thuận lợi họ cũng không làm sao tập hợp trở lại được. Hàng ngũ phân hóa. Số đông thoái chí. Những
phần tử bảo thủ quay đầu thỏa hiệp với đế quốc, còn các chiến sỹ ưu tú, kiên quyết thì sớm hay muộn
đều chuyển sang trận tuyến chủ nghĩa Mác Lênin để tích cực tham gia sự nghiệp cứu nước”. [37, tr
750]
Trong bối cảnh đó, cùng với sự du nhập của chủ nghĩa Mác Lênin, xu hướng yêu nước vô sản bắt
đầu xuất hiện Nam Bộ. Sự thành lập tổ chức Đảng cũng không hẳn là một sự xuất hiện hoàn toàn mới
mẻ mà thực ra một phần là do kế thừa những thành quả của các xu hướng yêu nước trong các giai đoạn
trước. Các đảng viên Cộng sản rất nhiều người xuất thân từ những tổ chức cách mạng dân chủ tư sản,
như Đảng Thanh niên của Trần Huy Liệu, Thanh niên Cao Vọng Đảng của Nguyễn An Ninh… Thậm
chí, cả những nhà sư như Thiện Chiếu cũng trở thành một chiến sỹ cộng sản mà vẫn không từ bỏ những
gì quý giá nhất của tư tưởng Phật giáo. Hơn thế nữa, tính chất kế thừa trong sự nghiệp hoạt động của
Đảng không chỉ thể hiện trên mặt nhân sự, mà còn trên cả mặt lý luận, tư tưởng. Trong khi nhóm Tờ rốt
kít ra sức truyền bá chủ nghĩa hư vô dân tộc, thì ngược lại, kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc,
Đảng hoàn toàn không đề ra chủ trương như vậy. Thực tế lịch sử đã chứng minh chủ trương đó là đúng
đắn. Bởi “ở Việt Nam, truyền thống lịch sử của dân tộc, ý thức phổ biến của nhân dân là đánh giá mọi
việc lớn nhỏ, từ nhân vật đến biến cố, từ tác phẩm đến ý thức tư tưởng đều chiếu theo tiêu chuẩn quang
minh chính đại của chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước là hòn đá thử vàng chính của tất cả”. [37,
tr 372]
Có thể nói, kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, dung hợp những giá trị của các xu
hướng yêu nước đi trước, bổ sung những giá trị tinh hoa đương đại, đó chính là chìa khóa thắng lợi của
Đảng trong sự nghiệp lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Nam Bộ nói riêng và Việt
Nam nói chung.
Tóm lại, các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX tuy khác nhau về bản chất, về chiến lược
chiến thuật hoạt động và xuất hiện ở những thời điểm khác nhau, nhưng thực chất giữa các xu hướng
ấy vẫn có sự nối tiếp, kế thừa. Sự nối tiếp ấy cũng chính là một đặc điểm thể hiện tinh thần yêu nước
nồng nàn của nhân dân Nam Bộ.
3.1.4 Các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX tồn tại song song và liên hệ với
nhau, vừa hợp tác vừa đấu tranh
Các phong trào yêu nước ở Nam Bộ xuất hiện nhiều, có sự khác nhau về mặt tư duy lý luận hay
sách lược hành động, nhưng có thể nói đại đa số đều hướng vào một mục tiêu chung là chống ngoại
xâm, xây dựng và phát triển đất nước. Hay nói cách khác, các xu hướng yêu nước Nam Bộ nửa đầu thế
kỷ XX hội tụ ở một chủ nghĩa yêu nước chân chính. Vì vậy, các tổ chức yêu nước trong một chứng
mực nào đó vẫn có sự liên hệ, hỗ trợ cho nhau. Không hiếm trường hợp một phong trào do một tổ chức
yêu nước khởi xướng nhưng được các tổ chức, cá nhân yêu nước theo các xu hướng khác nhiệt liệt ủng
hộ.
Đầu thế kỷ XX, xu hướng yêu nước dân chủ tư sản do những sỹ phu yêu nước, tiêu biểu như Phan
Bội Châu, Phan Châu Trinh lan tới Nam Bộ. Tuy các sỹ phu truyền bá các tư tưởng duy tân, bài trừ cái
cũ, thế nhưng cuộc vận động ấy ở Nam Bộ lại đạt kết quả ngoài mong đợi. Bộ phận giai cấp thống trị,
đặc biệt là tầng lớp điền chủ Nam Bộ là những người ủng hộ nhiệt thành nhất cho phong trào. Không
chỉ dừng ở mức quyên góp ủng hộ tiền bạc, một số người còn động viên con cái tham gia phong trào
Đông Du. Chính sự hết lòng ủng hộ ấy mà ở Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước
theo xu hướng dân chủ tư sản phát triển rất rầm rộ, hơn cả các địa phương khác vốn là cái nôi của
phong trào.
Những năm 20 của thế kỷ XX, các phong trào yêu nước dân chủ tư sản phát triển rất mạnh, thể hiện
qua các cuộc đấu tranh lớn, huy động được đông đảo quần chúng tham gia (đấu tranh chống độc quyền
thương cảng Sài Gòn, đòi thả Phan Bội Châu, bênh vực Nguyễn An Ninh, đám tang Phan Châu Trinh,
hình thành đạo Cao Đài…). Đặc biệt, giai đoạn này cũng là giai đoạn mà các tổ chức Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên, Tân Việt cách mạng Đảng bắt đầu hoạt động mạnh ở Nam Bộ. Nói chung, xu
hướng yêu nước tư sản và vô sản trong giai đoạn này là chưa rõ ràng, và các tổ chức yêu nước theo các
xu hướng khác nhau vẫn có sự gắn bó, liên hệ, hỗ trợ nhau trong hoạt động. Điển hình nhất phải kể đến
sự liên hệ giữa Tân Việt Cách mạng Đảng và Hội Việt nam cách mạng thanh niên.
Đến những năm 1930 của thế kỷ XX, sự liên hệ giữa các xu hướng yêu nước trở nên mạnh mẽ hơn
bao giờ hết. Nguyễn An Ninh chính là người chủ động đề xướng và tham gia tích cực phong trào Đông
Dương Đại hội. Nhóm Tờ rốt kít và Đảng cộng sản hợp tác với nhau trong đấu tranh nghị trường… Tất
cả các xu hướng yêu nước trong giai đoạn này dường như hòa trộn vào nhau để cùng hướng tới một
mục đích chung: tấn công kẻ thù xâm lược, xây dựng đất nước.
Giai đoạn tiến tới tổng khởi nghĩa 1940 - 1945 ở Nam bộ cũng là một bằng chứng tiêu biểu nhất cho
sự hòa quyện của các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ. Chủ trương thành lập mặt trận Việt Minh đã quy
tụ hầu hết những tổ chức, đảng phái yêu nước ở Nam Bộ khi đó. Có thể thấy, trong mặt trận có cả
những thành phần như Đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo và nhiều đảng phái chính trị khác. Tất cả các xu
hướng khi hợp nhất thực sự có thể tạo ra được một sức mạnh vô địch, khiến cho quân đội Nhật ở Nam
Bộ không dám phản ứng. Cuộc Cách mạng tháng Tám thành công ở Nam Bộ cũng là vì thế.
Sự liên hệ của các xu hướng yêu nước còn được thể hiện ở chỗ tính chất không rõ ràng của các
phong trào yêu nước ở Nam Bộ. Có những tổ chức yêu nước theo xu hướng tư sản, nhưng vẫn thể hiện
tính chất vô sản, hoặc ngược lại. Mà trường hợp của Nguyễn An Ninh hay Tân Việt cách mạng Đảng là
những điển hình. Tất nhiên, tính chất không rõ ràng ấy chỉ thể hiện trong một giai đoạn nhất định và
không lâu dài. Cùng với sự phát triển của các phong trào yêu nước, sẽ đến một thời điểm mà các tổ
chức hay cá nhân yêu nước phải thể hiện rõ lập trường, và hầu như khi ấy các tổ chức yêu nước theo xu
hướng tư sản đều chuyển hóa để bước sang lập trường của chủ nghĩa Mác Lênin, tức xu hướng yêu
nước vô sản.
Nhưng mặc đù vậy, giữa các phong trào yêu nước theo các xu hướng khác nhau vẫn có những khác
biệt căn bản về đường lối, cương lĩnh và sách lược. Vì vậy, chúng vẫn có sự đấu tranh với nhau để
giành quyền lãnh đạo đối với phong trào yêu nước nói chung.
Những năm đầu thế kỷ XX, cuộc vận động Duy Tân mà các sỹ phu yêu nước khuấy động ở Nam
Bộ với các nội dung bài trừ mê tín dị đoan, thực hiện nếp sống văn minh, xuất dương du học tất nhiên
trong một chừng mực nào đó có sự mâu thuẫn với việc sử dụng và truyền bá phương thuật của các hội
kín. Đến những năm 20 - 30 của thế kỷ, sự đấu tranh giữa các xu hướng yêu nước tư sản và vô sản còn
thể hiện rõ nét hơn nhiều. Cùng với sự phát triển của lịch sử, chủ nghĩa yêu nước theo con đường cải
lương dần mất đi tính cách mạng, trở thành vật cản để phong trào yêu nước tiến lên. Vậy nên những
đảng phái như Đảng Lập Hiến, Việt Nam quốc gia đảng, Việt Nam quốc gia độc lập đảng… cũng trở
thành những đối tượng tấn công của các tổ chức cách mạng yêu nước, tiêu biểu là Đảng Cộng sản.
Không chỉ có vậy, trong bản thân mỗi xu hướng yêu nước cũng có sự đấu tranh giữa các bộ phận
khác nhau. Điều này có thể thấy rõ nhất thông qua các cuộc đấu tranh của Đảng Cộng sản và nhóm Tờ
rốt kít. Thậm chí, trong một chừng mực nào đó, Đảng cộng sản còn đánh giá nhóm Tờ rốt kít có thể
còn nguy hiểm hơn cả các đối tượng khác, như lời một bức thư kêu gọi: “(…) kẻ thù số một của chúng
tôi là chủ nghĩa phát xít và bọn lãnh tụ tờ rốt kít chuyên môn phá hoại, chia rẽ, giúp tay trong cho phát
xít để tiêu diệt chúng ta”. [36, tr 770]
Con đường cách mạng không bao giờ bằng phẳng mà rất nhiều chông gai. Cả xu hướng yêu nước
theo con đường tư sản và vô sản đều là những xu hướng tiến bộ, có thể đảm đương được vai trò là ngọn
cờ đầu để lãnh đạo phong trào yêu nước nói chung. Vậy nên, lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX ở
Nam Bộ chứng kiến sự đấu tranh giành quyền lãnh đạo của hai xu hướng yêu nước tư sản và vô sản đối
với phong trào yêu nước nói chung.
Tuy nhiên thực tế lịch sử chứng minh rằng, một giai cấp muốn trở thành trung tâm của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, giai cấp ấy phải dung hòa, thống nhất được quyền lợi của giai cấp mình với
quyền lợi của cả quốc gia dân tộc, không những tập hợp được giai cấp của mình mà còn phải có đường
lối chính trị đúng đắn để giải quyết những mâu thuẫn nội bộ trong đất nước, trong dân tộc để tập hợp
toàn thể dân tộc vào một mặt trận chung. Giai cấp tư sản Nam Bộ rõ ràng chưa thể có được những điều
kiện đó.
Sinh ra từ một xã hội thuộc địa, bị đế quốc và tư sản người Hoa chèn ép và những tàn dư của chế độ
phong kiến vẫn tồn tại dai dẳng kìm hãm sự phát triển, giai cấp tư sản Nam Bộ, dù được đánh giá vào
hàng phát triển nhất trên phạm vi cả nước nhưng nhìn chung vẫn yếu ớt, sức chiến đấu không cao. Hơn
nữa, giai cấp tư sản Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung, tuy có mâu thuẫn với đế quốc nhưng
suy cho cùng vẫn có những mối liên hệ kinh tế với đế quốc. Từ đó dẫn đến việc giai cấp tư sản Việt
Nam không thể triệt để đấu tranh. Xu hướng chính trị của họ chủ yếu là chủ nghĩa cải lương. Một bộ
phận tư sản mại bản thì lại còn gắn liền quyền lợi với đế quốc, quay lưng lại với lợi ích của quốc gia
dân tộc. Tất cả những điều trên đây giải thích tại sao xu hướng yêu nước tư sản Nam Bộ ở một mức độ
nhất định cũng đại diện cho một lực lượng xã hội tương đối tiến bộ, nhưng không thể tập hợp được
đông đảo quần chúng, không lãnh đạo được cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Nam Bộ nửa đầu thế
kỷ XX.
Khác với xu hướng yêu nước tư sản, xu hướng yêu nước vô sản ở Nam Bộ tỏ ra triệt để hơn rất
nhiều. Giai cấp công nhân Nam Bộ ngay từ khi mới ra đời biết liên kết thành giai cấp. Hơn nữa, ý thức
giai cấp và lòng yêu nước của giai cấp công nhân Nam Bộ đã sớm hòa quyện với nhau. Mối hận mất
nước và mâu thuẫn giai cấp càng làm cho ý thức cách mạng của giai cấp công nhân Nam Bộ sớm
trưởng thành. Hơn nữa, giai cấp công nhân Việt Nam, khác với giai cấp tư sản dân tộc, có mối liên hệ
chặt chẽ với hầu hết các giai cấp và tầng lớp trong quần chúng nhân dân, đặc biệt là giai cấp nông dân,
người bạn đồng minh lớn mạnh và gần gũi nhất.
Một điểm hết sức quan trọng nữa là, giai cấp công nhân Việt Nam trưởng thành và bước ra vũ đài
chính trị đứng lúc cuộc cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ và giành thắng lợi. Dưới ảnh hưởng của
cách mạng tháng Mười, chủ nghĩa Mác Lê nin nhanh chóng thâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam. Được
vũ trang bằng một ý thức hệ tiên tiến, giai cấp công nhân vì thế nhanh chóng nổi lên giữ vị trí trung
tâm, lôi cuốn cả dân tộc vào cuộc đấu tranh giải phóng do mình lãnh đạo.
Cuối cùng, trước vai trò tiên phong trong việc phát động và khuấy động các phong trào yêu nước,
tất cả các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ đều thừa nhận vị trí lãnh đạo của Đảng, chấp nhận hòa vào các
phong trào đấu tranh do Đảng khởi xướng. Và như vậy, có thể nói sự liên hệ và đấu tranh của các xu
hướng yêu nước ở Nam Bộ diễn ra song song. Nhưng tựu chung lại, xu thế hợp tác, hỗ trợ nhau vẫn là
chủ đạo. Chính điều đó tạo ra sức mạnh để Đảng Cộng sản ở Nam bộ có thể lãnh đạo phong trào yêu
nước đi đến thắng lợi hoàn toàn.
3.1.5 Đảng Cộng sản ở Nam Bộ đóng vai trò hạt nhân trong sự nghiệp tổ chức và lãnh đạo các
phong trào đấu tranh chống Pháp nửa đầu thế kỷ XX
Giai cấp công nhân Nam Bộ được chính thức hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Cùng
với công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, số lượng công nhân Nam Bộ tăng lên
rất nhanh và có mức độ tập trung cao.
Giai cấp công nhân Nam Bộ hình thành ngay thời điểm cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi và
chủ nghĩa Mác Lênin đang được truyền bá vào Việt Nam một cách mạnh mẽ. Chính vì vậy, ngay từ
buổi ban đầu giai cấp công nhân Nam Bộ đã sớm giác ngộ cách mạng. Từ cuối năm 1920, ở Nam Bộ
đã hình thành nên tổ chức công hội, có thể nói là sớm nhất trong cả nước.
Đối với một vùng đất giàu truyền thống yêu nước như vùng Nam Bộ thì sự hình thành và phát triển
của giai cấp công nhân có những thuận lợi rất cơ bản. Giai cấp công nhân tiếp thu lý luận của chủ nghĩa
Mác Lênin, hòa quyện với chủ nghĩa yêu nước chân chính của các thế hệ đi trước, để hình thành nên xu
hướng yêu nước vô sản ở Nam Bộ, tiến tới việc thành lập một chính đảng cộng sản.
Trong những năm 1920 ở Nam Bộ tồn tại đủ các tổ chức tiền thân của Đảng như Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên, và Tân Việt cách mạng Đảng. Sau đó là các tổ chức Đông Dương Cộng sản
đảng, An Nam Cộng sản đảng và Đông Dương cộng sản liên đoàn. Tuy nhiên, từ năm 1930, với sự tổ
chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam tại Hương Cảng (Trung Quốc) do
Nguyễn Ái Quốc chủ trì, các tổ chức cộng sản ở Nam Bộ thống nhất lại và trở thành một chính đảng
cộng sản duy nhất. Từ đây, Đảng phát triển lực lượng rất mạnh và nhanh chóng xác lập được vị thế đầu
tàu trong các phong trào yêu nước nói chung ở Nam Bộ.
Mặc dù vậy, cần nhấn mạnh rằng con đường xác lập vị thế và uy tín ấy không phải dễ dàng mà phải
trả giá bằng máu và nước mắt của biết bao thế hệ các đảng viên chân chính. Vừa thành lập, Đảng lập
tức phải chịu sự đàn áp dã man của kẻ thù sau phong trào cách mạng 1930 - 1931. Rồi cuộc khởi nghĩa
Nam Kỳ năm 1940 thất bại cũng làm cho các tổ chức Đảng gần như bị tê liệt. Có những giai đoạn, Xứ
ủy Nam Kỳ vừa lập ra rồi ngay lập tức lại bị phá vỡ. Sự thất vọng và chán nản đã có lúc làm chủ nghĩa
thủ tiêu lan tràn trong đội ngũ Đảng viên. Rồi sự chống phá của nhóm Tờ rốt kít, của những đảng phái
khác. Những khó khăn dồn đến liên tục tưởng chừng như sẽ khiến Đảng cộng sản không thể gượng dậy
nổi. Nhưng thực tế lịch sử đã chứng minh điều ngược lại. Sau mỗi lần bị tấn công, chẳng những Đảng
phục hồi nhanh chóng mà dường như còn mạnh mẽ hơn trước. Điều đó chẳng những thể hiện ý chí sắt
đá, kiên cường của những người cộng sản Nam Bộ mà còn thể hiện tính chất ưu việt của xu hướng yêu
nước vô sản trong các phong trào đấu tranh yêu nước ở Nam Bộ.
Các phong trào yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX tuy hết sức sôi động nhưng lại xuất hiện
nhiều xu hướng khác nhau. Điều đó đã gây ra những trở ngại cho việc phát triển lực lượng và phát
động các phong trào đấu tranh của Đảng. Để có thể nắm vững được ngọn cờ lãnh đạo, Đảng phải có
được những đặc điểm sau:
Thứ nhất, phải đại diện cho một chủ nghĩa yêu nước chân chính.
Thứ hai, phải có một lực lượng mạnh, hơn tất cả các tổ chức chính trị đối lập.
Thứ ba, phải gây được uy tín thông qua những hoạt động cách mạng, thông qua những chủ trương
phù hợp với thực tiễn đấu tranh cách mạng.
Để làm được tất cả những nội dung trên là một điều không hề đơn giản. Bởi Đảng Cộng sản là đối
tượng đàn áp chính của thực dân Pháp. Sau những lần khủng bố của kẻ thù, lực lượng Đảng thường bị
tổn thất nặng nề. Nhất là vào thời điểm chiến tranh thế giới sắp kết thúc. Thời cơ ngàn năm có một
đang đến gần, vấn đề là tổ chức Đảng ở Nam Bộ có thể tận dụng được thời cơ ấy hay không? Sau khi
cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, các cơ sở Đảng bị tổn thất và buộc phải rút vào hoạt động bí mật.
Việc phát triển Đảng vì vậy càng gặp khó khăn lớn. Thêm vào đó là tình trạng chia rẽ trong nội bộ
Đảng với việc hình thành hai Xứ ủy Nam Kỳ song song tồn tại.
Thời điểm đầu năm 1945, Nam Bộ là một khu vực mà các tổ chức chính trị mọc lên nhiều như nấm
sau mưa. Mỗi tổ chức lại theo những xu hướng chính trị khác nhau. Nhiệm vụ trọng tâm của Đảng lúc
này là phải phát triển lực lượng một cách nhanh nhất. Bởi “nếu không đủ mạnh, mạnh hơn tất cả các
đảng phái khác cộng lại, nếu lẹt đẹt trong vòng cô độc, không ai trông thấy lực lượng hùng hậu của ta
mà chỉ nghe tiếng tăm của ta thôi, thì vào lúc Nhật Bản bị bại trận, khủng hoảng chính trị xảy đến, các
đảng phái quốc gia và các giáo phái sẽ giành chính quyền, chớ ta nhỏ yếu thì làm gì được”. [37, Tr
1333)
Nắm được yếu tố cốt lõi của thời thế, nhưng tất nhiên nhiệm vụ đó quả là rất khó thực hiện. Thực
lực của Đảng ở Nam Bộ bấy giờ vẫn còn rất mỏng. Cái giá của khởi nghĩa Nam Kỳ quả thật là quá đắt.
Trong khi đó các xu hướng yêu nước khác sau năm 1940 vẫn có những điều kiện để phát triển, đặc biệt
là các giáo phái. Bấy giờ Xứ ủy Nam Kỳ đã xác định rằng “khó khăn đáng sợ nhất, chưa phải là Nhật,
là Đại Nhật Bản với số quân ở Đông Dương sáu, bảy hay 10 vạn người có quá đầy đủ súng đạn, thừa
can đảm, thạo chinh chiến; bởi vì quân Nhật sắp thua rồi, ta đâu cần phải đánh đồn phá lũy của
chúng, tuy không phải có lúc phải làm như vậy ở nơi này hay nơi khác; khó khăn thực tế đáng chú ý
nhất mà nhất thiết phải vượt qua là các giáo phái ở Nam Kỳ lớn lắm, và thực ra đó là những chánh
đảng hoạt động dưới hình thức tôn giáo”. [37, tr 1332)
Không có được sức mạnh như tổ chức Đảng ở các địa phương khác trên cả nước, Đảng muốn xác
lập được quyền lãnh đạo của mình đối với các phong trào yêu nước ở Nam Bộ chỉ còn cách tính đến
việc đoàn kết các lực lượng yêu nước theo các xu hướng khác nhau ở Nam Bộ. Thực tế lịch sử cho
thấy, Xứ ủy Nam Kỳ đã thực hiện rất tốt điều đó. Từ sau khi đặt được ảnh hưởng lên vùng Nam Bộ,
Đảng đã nhanh chóng tạo được uy tín trong các tầng lớp nhân dân Nam Bộ, để từ đó lôi kéo, tập hợp
được các xu hướng yêu nước khác nhau. Các phong trào yêu nước ở Nam Bộ tuy không thống nhất
nhưng đều được hội tụ vào các phong trào đấu tranh do Đảng phát động.
Cuộc cách mạng Tháng Tám thực sự không phải là kết quả đấu tranh của một mình Đảng mà là
thành quả của sức mạnh tổng hợp tất cả các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ được quy tụ xung quanh
Đảng Cộng sản.
3.2 Quá trình hội tụ và phân hóa của các xu hướng đấu tranh yêu nước ở Nam Bộ trong
kháng chiến chống Pháp
3.2.1 Quá trình phân hóa trong hàng ngũ kháng chiến trong kháng chiến chống Pháp 1945 -
1954
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam đã tự tay chặt đứt xích xiềng nô lệ sau hơn
80 năm tủi nhục. Ngày 2/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên
ngôn Độc lập, tự hào tuyên bố với thế giới Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chính thức ra đời,
nhân dân Việt Nam đã hoàn toàn tự do và độc lập và hoàn toàn xứng đáng với sự tự do và độc lập ấy.
Cuộc cách mạng tháng Tám 1945 đã đưa dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân Nam Bộ nói
riêng bước sang một kỷ nguyên mới. Nhưng thực dân Pháp vẫn không từ bỏ ý định thống trị Việt Nam,
tìm mọi cách thủ tiêu thành quả cách mạng mà dân tộc Việt Nam vừa giành được. Nam Bộ là nơi đầu
tiên đánh dấu sự quay lại xâm lược ấy.
Ngay ngày 2/9/1945, trong khi nhân dân Nam Bộ mít tinh mừng ngày độc lập, một số tên thực dân
phản động người Pháp đã núp trong các khu nhà xả súng vào đám đông làm 47 người chết và nhiều
người bị thương.
Sau đó dưới sự che chở của thực dân Anh, vốn là lực lượng Đồng Minh tới Nam Bộ để giải giáp
quân Nhật, đến ngày 23/9/1945, thực dân Pháp ngang nhiên nổ súng chiếm Sài Gòn, mở đầu cho cuộc
xâm lược Việt Nam lần thứ hai.
Trước những hành động thể hiện trắng trợn âm mưu quay lại xâm lược của thực dân Pháp, Đảng
Cộng Sản ở Nam Bộ kiên quyết không lùi bước. Cũng trong buổi sáng ngày hôm đó, Xứ ủy và Ủy ban
nhân dân Nam Bộ tổ chức Hội nghị liên tịch khẩn cấp tại Cây Mai - Chợ Lớn, phát động nhân dân Nam
Bộ đứng lên kháng chiến chống Pháp.
Sau Cách mạng tháng Tám, tuy Đảng đã xác lập được vị thế lãnh đạo đối với các phong trào yêu
nước ở Nam Bộ nhưng việc tồn tại nhiều xu hướng yêu nước ở đây vẫn là một thực tế. Lực lượng vũ
trang cách mạng non trẻ ở Nam Bộ khi ấy tập hợp hàng chục phe phái khác nhau (Cao Đài, Hòa Hảo,
Bình Xuyên… ). Các nhóm vũ tranh này phần nhiều bản lĩnh cách mạng chưa vững, tổ chức không
thống nhất, trang bị lại kém. Vậy nên công cuộc kháng chiến trong những năm đầu là gặp vô vàn khó
khăn là một điều tất yếu,
Trong khi đó, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam tuy cũng gặp trở ngại nhưng vẫn có
những thuận lợi rất cơ bản.
Thứ nhất là được sự ủng hộ và giúp đỡ của thực dân Anh. Dưới danh nghĩa quân đội Đồng Minh
vào phía nam Đông Dương giải giáp quân Nhật, quân Anh ra sức bao che và hỗ trợ cho quân đội Pháp
quay trở lại xâm lược. Quân đội Anh còn sử dụng cả quân Nhật để tấn công vào lực lượng vũ trang của
ta để mở đường tấn công cho quân đội Pháp.
Thứ hai, lực lượng kháng chiến của ta ở Nam Bộ khi ấy còn khá yếu và vô tổ chức, tình thế như vậy
rõ ràng không có lợi khi đứng trước những đội quân chuyên nghiệp của Anh - Pháp.
Thứ ba, chính quyền cách mạng vừa mới được thành lập, chưa thể có vị thế vững chắc. Nam Bộ lại
cách khá xa chính quyền trung ương, hơn nữa miền Bắc khi ấy còn đang đau đầu về đối phó với 20 vạn
quân Tưởng và những dư âm của nạn đói khủng khiếp năm 1945. Vùng Nam Bộ trước kia vốn là thuộc
địa của Pháp, không chịu sự quản lý của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, cơ sở xã hội của Pháp ở
đây vẫn còn không nhỏ.
So sánh lực lượng rõ ràng có lợi cho phía Pháp.
Dựa vào những ưu thế đó, thực dân Pháp những tưởng có thể dễ dàng đánh bại các lực lượng kháng
chiến Việt Nam trong một thời gian ngắn để áp đặt lại ách thống trị như giai đoạn trước. Chính vì vậy,
trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, thực dân Pháp có sự hỗ trợ đắc lực của Anh và Nhật nên đã dùng
toàn lực để tấn công, hi vọng có thể nhanh chóng bình định miền Nam, sau đó kẻo ra miền Bắc để hoàn
thành công cuộc xâm lược. Bởi vậy, thực dân Pháp hoàn toàn không nghĩ đến việc phải tranh thủ các
lực lượng chính trị ở Nam Bộ, mà dốc sức tấn công tiêu diệt tất cả các mầm mống phản kháng, chính
điều đó đã thúc đẩy các phe nhóm chính trị và Đảng cộng sản ở Nam Bộ xích lại gần nhau.
Song ngay sau đó, thực tế chiến trường đã chứng tỏ điều ngược lại. Công cuộc xâm lược lần này
của Pháp không phải đơn giản như vậy. Sức phản kháng của nhân dân Nam Bộ mạnh hơn những nhà
chỉ huy quân đội Pháp nghĩ. Vòng vây Sài Gòn - Chợ Lớn siết chặt hơn một tháng trời mà Pháp, có cả
Anh và Nhật giúp đỡ cũng không thể chọc thủng. Sau khi có thêm viện binh, Pháp mới tạm thời thoát
khỏi thế khó khăn. Cuối cùng đến đầu năm 1946, thực dân Pháp cơ bản chiếm đóng thành công Miền
Nam Việt Nam, trong đó có Nam Bộ.
Tuy nhiên sau khoảng thời gian bị động trước sức tấn công mạnh của quân đội viễn chinh Pháp,
phong trào kháng chiến ở Nam bộ lại dần phục hồi. Quân đội Anh và Nhật, lực lượng hậu thuẫn đắc lực
của Pháp đã rút hết. Âm mưu bình định miền Nam của Pháp không thể thực hiện được. Rồi cuộc chiến
lan ra miền Bắc, cuộc tấn công lên Việt Bắc cuối năm 1947 thất bại, kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh
của Pháp chính thức thất bại thảm hại.
Trong bối cảnh lực lượng viễn chinh của Pháp phải căng mỏng trên phạm vi cả nước, chiến tranh du
kích của ta càng có nhiều khoảng trống để phát triển, đặc biệt là ở chiến trường Nam Bộ. Để vãn hồi
tình hình, khôi phục lại an ninh trật tự ở Nam Bộ và tập trung cho chiến trường chính Bắc Bộ, thực dân
Pháp bắt đầu nghĩ đến giải pháp bắt tay với những thế lực đang có mâu thuẫn với lực lượng kháng
chiến mà Đảng Cộng sản là hạt nhân.
Có thể thấy rằng, thực dân Pháp là một kẻ thù rất mạnh, không những thế lại còn rất nham hiểm và
lão luyện trong việc thôn tính thuộc địa. Người dân Nam Bộ anh dũng đứng lên chống Pháp trở lại xâm
lược theo tiếng gọi của Đảng và Chính Phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, thế nhưng những sự khác biệt
về quan điểm, đường lối của các xu hướng yêu nước khác nhau ở Nam Bộ lại là kẽ hở để kẻ thù lợi
dụng nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Việt Nam. Bằng cách dung dưỡng, mua chuộc các tổ chức
chính trị, vũ trang ở Nam bộ để họ quay lưng lại với cuộc kháng chiến, lôi kéo các thành phần nhân dân
Nam Bộ xa rời cuộc kháng chiến, thực dân Pháp hi vọng có thể làm suy yếu lực lượng kháng chiến
Việt Nam ở Nam Bộ, để từ đó giành lấy chiến thắng.
Để thực hiện âm mưu đó, thực dân Pháp tiến hành đàm phán với các lực lượng vũ trang trong hàng
ngũ kháng chiến ở Nam Bộ khi ấy, vốn đang có xu hướng chống Pháp nhưng cũng đang có mâu thuẫn
với Đảng như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên… chấp nhận cho các lực lượng này có một lãnh thổ
riêng mà Pháp hứa sẽ không can thiệp quân sự. Song song bên cạnh đó, Pháp tìm cách cấy người của
họ vào các tổ chức này để nắm các nhân vật chủ chốt, hướng họ đi theo hướng có lợi cho mình.
Không những dung dưỡng, Pháp còn tìm cách viện trợ vũ khí và tài lực, vật lực cho các lực lượng
này. Bởi nếu các tổ chức này càng mạnh thì hậu quả mà nó có thể gây ra cho lực lượng kháng chiến
Việt Nam ở Nam Bộ là càng lớn.
Các nhóm vũ trang lập tức nhân cơ hội ấy càng cố gắng củng cố quyền lực riêng. Trần Văn Soái
(Năm Lửa) chiếm đóng Cái Vồn (Cần Thơ), Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán) giữ Cái Dầu (Châu
Đốc), Lê Quang Vinh (Ba Cụt) giữ Thốt Nốt (Long Xuyên), Nguyễn Giác Ngộ đặt bản doanh ở Cao
Lãnh (Kiến Phong), đạo Cao Đài cát cứ ở Tây Ninh và Bình Xuyên của Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) định
doanh ở Chánh Hưng (Chợ Lớn). Đó là chưa kể đến các tổ chức chính trị như Việt Minh, Đại Việt, v.v.
cũng lăm le củng cố quyền lực.
Song song với việc mua chuộc các lực lượng vũ trang kháng chiến, Thực dân Pháp cũng tiến hành
những thủ đoạn chính trị để hướng vào âm mưu đó. Tháng 2/1946, Ủy viên Cộng hòa Nam Kỳ Jean
Cédile, cho lập Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ với 12 hội viên trên danh nghĩa giúp người bản xứ tự quyết
định tương lai xứ sở, nhưng cũng có thâm ý tách dần Nam Kỳ khỏi những biến động quân sự và chính
trị ở Bắc và Trung Kỳ. Những nhóm chính trị ở Nam Bộ khi ấy như Đông Dương Tự trị Đảng và Việt
Nam Tân dân Đảng cũng ngả theo lập trường "Nam Kỳ tự trị" của Pháp. Đảng Tân Dân chủ của
Nguyễn Văn Thinh cũng tham gia vào Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ và cố tìm chỗ đứng riêng để thu hút
các lực lượng không cộng sản. Một số nhóm cổ động khẩu hiệu "Xứ Nam Kỳ của người Nam Kỳ" để
hưởng ứng.
Bản thân thực dân Pháp tất nhiên không thực lòng tái thiết trật tự hay xây dựng một xứ Nam Kỳ
chân chính mà thực ra chỉ phục vụ mục đích phân hóa lực lượng kháng chiến. Vậy nên tình hình đó thật
sự hợp với mong muốn của Pháp, không những không trấn áp, quân đội Pháp còn vũ trang cho mỗi
nhóm riêng, trên danh nghĩa là giữ an ninh, nhưng chủ ý là chống lại lực lượng Việt Minh.
Âm mưu thành lập “Xứ Nam Kỳ tự trị” của Pháp sau đó không thành. Tháng 4/1949 Nam Kỳ mở
cuộc bầu cử Quốc hội. Sau đó quốc hội này đã biểu quyết chấm dứt "Nước Nam Kỳ" và hiệp nhất vào
nước Việt Nam, để sau đó lập ra chính phủ Quốc gia Việt Nam. Đến ngày 22/5/1949, Quốc hội Pháp
chính thức bỏ phiếu thông qua việc trả Nam Bộ cho Việt Nam.
Mặc dù vậy, thủ đoạn của thực dân Pháp quả thật cũng không phải là không đạt được hiệu quả. Có
thể thấy rất nhiều các tổ chức đoàn thể vốn đứng bên cạnh Đảng trong những ngày mùa thu tháng Tám
1945 đã bị phân hóa mạnh. Sau khi vòng vây Sài Gòn - Chợ Lớn bị phá vỡ, thực dân Pháp đánh tràn ra
các tỉnh, phần lớn các đơn vị chính quy này bị tan rã, tình hình kháng chiến ở Nam Bộ trở nên hết sức
đen tối. Thực dân Pháp thả sức tung hoành, cac đồn bốt của Pháp được dựng lên dày như mạng nhện.
Các cơ quan chỉ đạo của Nam Bộ phiêu tán khắp nơi, sự liên lạc từ trên xuống bị cắt đứt gần như hoàn
toàn. Các lực lượng chính quy kháng chiến ở Nam bộ hầu như không còn nữa, một số đầu hàng giặc,
một bộ phận khác trên đường bị Pháp truy kích thì biến thành thổ phỉ, thậm chí quay súng chống lại
đồng bào, chống lại kháng chiến.
Có thể nói, những năm của cuộc kháng chiến chống Pháp chứng kiến sự phân hóa mạnh mẽ của các
xu hướng yêu nước trong lực lượng kháng chiến do Đảng Cộng sản đứng đầu. Một số tổ chức chính trị
vũ trang tách ra, công khai hợp tác với Pháp, trở thành tay sai cho kẻ thù. Một số cát cứ, chống cả Pháp
và Đảng Cộng Sản. Xu hướng này thực ra cũng gây một trở ngại lớn đối với cuộc kháng chiến nói
chung ở Nam Bộ. Điều đó nếu không được giải quyết sẽ gây ra những trở ngại lớn cho con đường bảo
vệ những thành quả của cách mạng mà dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân Nam Bộ vừa giành
được.
3.2.2 Sự hội tụ của các xu hướng yêu nước - Khuynh hướng phát triển chủ đạo của chủ nghĩa
yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX
Âm mưu thâm độc của thực dân Pháp thực sự trở thành một nguy cơ lớn đối với công cuộc kháng
chiến bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước ở Nam Bộ do Đảng lãnh đạo. Đương nhiên, Đảng và lực
lượng kháng chiến Việt Nam cũng nhận thức được một cách rõ ràng âm mưu của kẻ thù. Thực dân
Pháp rất mạnh và nguy hiểm, nếu như không giải quyết được vấn đề hội tụ các xu hướng yêu nước, huy
động sức mạnh của toàn thể nhân dân Nam Bộ vào cuộc kháng chiến thì tất nhiên kẻ thù sẽ là người
chiến thắng. Cuộc chiến tranh trên mặt trận này vì thế diễn ra âm thầm nhưng rất quyết liệt, chi phối
trực tiếp đến cục diện chiến trường.
Ngày 25/10/1945, Xứ ủy Nam Bộ mở hội nghị đại biểu các tỉnh tại Mỹ Tho, hội nghị đã phân tích
tình hình, chỉ ra những sự non yếu và lệch lạc trong vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang khởi nghĩa sau
ngày giành chính quyền ở Nam Bộ để rút kinh nghiệm và đưa ra dự báo về sự tan ra và phân hóa như
một tất yếu của các “Sư đoàn quân cách mạng”.
Tình hình Nam Bộ cũng được Chính Phủ Trung Ương đặc biệt quan tâm. Tướng Nguyễn Bình được
cử vào miền Nam với nhiệm vụ thống nhất các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ, một nhiệm vụ không hề
dễ dàng, nhưng có tầm quan trọng chiến lược.
Đứng trước thực trạng phân hóa nghiêm trọng trong hàng ngũ kháng chiến, Đảng Cộng sản ở Nam
Bộ đề ra những chủ trương vừa mềm dẻo lại vừa kiên quyết. Đối với những bộ phận đã đã tách ra khỏi
hàng ngũ kháng chiến, thậm chí đứng bên kia chiến tuyến. Đảng chủ trương đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, lôi kéo những người lầm lạc trở về với hàng ngũ kháng chiến. Các công tác dân vận, địch vận
đối với các lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên trở thành những nhiệm vụ trọng tâm, được Đảng
đặc biệt chú trọng.
Bên cạnh đó, việc đưa các chính trị viên xâm nhập vào hàng ngũ các tổ chức vũ trang ở Nam Bộ
cũng là một bước đi chiến lược rất hiệu quả. Tất nhiên, việc điều phái các chính trị viên không phải lúc
nào cũng thuận lợi do sự chống phá quyết liệt của các thế lực phản động. Bởi vậy, bên cạnh hình thức
hoạt động công khai, có nhiều trường hợp các chính trị viên phải hoạt động bí mật.
Còn đối với tổ chức nào đã lộ rõ bộ mặt phản động, phản cách mạng thì Đảng chủ trương kiên
quyết tấn công tiêu diệt. Các cuộc tảo thanh diễn ra tuy không phải là điều mong muốn, song vẫn là
điều cần thiết để bảo đảm tính thống nhất của lực lượng kháng chiến.
Song song với đó, Đảng cũng kêu gọi tất cả các tầng lớp nhân dân cùng tham gia vào công cuộc
kháng chiến. Các phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, trí thức, phụ nữ, thậm chí cả thiếu nhi
đã được khuấy động một cách rộng rãi. Đảng thực sự đã kết hợp được cả đấu tranh vũ trang và đấu
tranh chính trị.
Những biện pháp đúng đắn của Đảng đã đem lại những kết quả tích cực. Trừ một bộ phận nhỏ lộ rõ
bộ mặt phản động, trở về đầu hàng thực dân Pháp, còn thì đại đa số nhân dân Nam Bộ với lòng yêu
nước và căm thù giặc ngoại xâm vẫn sát cánh bên lực lượng kháng chiến do Đảng Cộng sản đứng đầu.
Những tổ chức vũ trang cách mạng được cải tổ lại, trở thành những lực lượng vũ trang cách mạng chân
chính và thống nhất, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì nền độc lập thiêng liêng của toàn dân tộc.
Có thể nói, quá trình phân hóa lực lượng trong kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954 là một thực tế
lịch sử. Điều đó có những nguyên nhân cụ thể của nó.
Trước hết, do vùng Nam Bộ có một lịch sử rất đặc biệt, dẫn đến văn hóa và con người nơi đây cũng
có những nét đặc thù không giống với các nơi khác. Người dân Nam Bộ tự do, phóng khoáng, ít khi
chịu sự quản lý chặt chẽ của bất cứ thế lực nào, cho dù đó là một chính quyền tiến bộ và độc lập như
chính quyền cách mạng mới được thành lập.
Thứ hai, trong khi đất nước đang bận rộn trăm công nghìn việc đối phó với thù trong giặc ngoài,
thêm vào đó là sự bất tiện về khoảng cách địa lý, Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không thể
nào quan tâm quản lý một cách chặt chẽ vùng Nam Bộ. Ngoài ra, sự ảnh hưởng của Đảng Cộng sản đối
với vùng Nam Bộ nói chung vẫn còn khá mờ nhạt, chưa tạo được cơ sở vững chắc trong quần chúng.
Cuối cùng, vùng đất Nam Bộ giai đoạn trước đó vốn là thuộc địa của Pháp từ sau hiệp ước 1872.
Ảnh hưởng của Pháp ở vùng này rõ rệt hơn rất nhiều so với các vùng miền khác. Bộ phận những phần
tử thân Pháp ở đây có thể nói là khá nhiều. Thực dân Pháp lại lợi dụng triệt để những yếu tố đó để thi
hành những âm mưu thâm độc nhằm phá hoại khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam.
Tuy nhiên, mặc dù sự chia rẽ là một điều hết sức đau lòng, nhưng nhờ vậy mà Đảng và nhân dân
Nam Bộ lại có được nhiều hơn: Khi mà hàng ngũ đã được thống nhất, giới tuyến của những thế lực
phản động và lực lượng kháng chiến đã rõ ràng, thì cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Bộ thực sự trở
nên dễ dàng hơn, cuộc đấu tranh ấy không chỉ đại diện cho một chính quyền chân chính của toàn dân
tộc, mà còn đại diện cho xu hướng tiến bộ nhất của chủ nghĩa yêu nước trong bối cảnh lịch sử cụ thể
bấy giờ.
Nói tóm lại, sau cách mạng tháng Tám, các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ chỉ còn một xu hướng
duy nhất, đó là xu hướng vô sản, mà Đảng là ngọn cờ đầu. Hay nói cách khác, các xu hướng yêu nước
ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp đã được hội tụ lại thành một xu hướng thống nhất. Còn bộ
phận nào rời bỏ hàng ngũ kháng chiến, chấp nhận liên hệ với Pháp thì dù trong giai đoạn lịch sử trước
kia có thể trong một chừng mực nào đó đã từng đóng vai trò tiến bộ, thì nay cũng lộ rõ bản chất phản
cách mạng, đi ngược lại xu thế phát triển chung của thực tiễn lịch sử. Quá trình hội tụ ấy là một tất yếu
lịch sử, và cũng là khuynh hướng chủ đạo đối với lịch sử Nam Bộ trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX,
bởi nó tạo tiền đề thúc đẩy phong trào cách mạng Nam Bộ nói riêng và cách mạng Việt Nam nói chung
tiến lên, giành lấy những thắng lợi trong các giai đoạn tiếp theo.
**
*
Vùng Nam Bộ trong khoảng thời gian nửa đầu thế kỷ XX chứng kiến sự tồn tại đan xen của hàng
loạt các xu hướng yêu nước khác nhau. Có những xu hướng vốn là tàn dư của một giai đoạn chống
Pháp hào hùng và bi tráng trước đây, nhưng bên cạnh đó cũng xuất hiện sự năng động của những xu
hướng yêu nước mới, ra đời từ những đổi thay của tình hình trong nước và thế giới, được quy định bởi
điều kiện lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội vùng Nam Bộ. Bởi vậy, khi nghiên cứu về các xu hướng
trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ, rất dễ dàng nhận ra những đặc điểm mang tính chất đặc thù.
Phong trào yêu nước nơi đây luôn đa dạng do tồn tại hàng loạt các tổ chức chính trị theo các xu hướng
khác nhau, luôn sôi sục do sự tác động lẫn nhau giữa các xu hướng, hết sức sinh động bởi được yếu tố
tôn giáo bao trùm và trên hết là tính hiệu quả cao khi có Đảng đóng vai trò lãnh đạo.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là phong trào yêu nước xét trên bình diện chung của phạm vi
cả nước không có những đặc điểm như vậy. Bản thân các xu hướng yêu nước theo xu hướng phong
kiến, tư sản và vô sản đều xuất hiện một cách rộng rãi ở các các địa phương khác, không phải chỉ ở
Nam Bộ mới mang những đặc điểm đó. Vấn đề là ở Nam Bộ, những đặc điểm ấy của phong trào yêu
nước nổi lên rõ nét hơn hẳn những vùng miền khác, tạo ra dấu ấn riêng trong lịch sử vùng Nam Bộ. Đó
là điểm tương đồng nhưng cũng chính là nét đặc thù của phong trào yêu nước ở Nam Bộ trong nửa đầu
thế kỷ XX so với phong trào yêu nước nói chung trên cả nước.
Theo xu thế phát triển của phong trào yêu nước nói chung, phong trào yêu nước Nam Bộ cũng xảy
ra hai chiều hướng vận động trái chiều nhau: Quá trình phân hóa và hợp nhất của các xu hướng yêu
nước. Các quá trình này diễn ra giữa các xu hướng yêu nước khác nhau và trong cả bản thân nội bộ mỗi
xu hướng. Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng hai chiều hướng đó diễn ra song song nhưng xu hướng
thống nhất luôn đóng vai trò chủ đạo. Và xu hướng yêu nước nào giải quyết tốt nhất việc siết chặt hàng
ngũ, đoàn kết với các xu hướng yêu nước khác sẽ có thể giành lấy vai trò trung tâm trong sự nghiệp
giải phóng dân tộc. Đó là yêu cầu khách quan mà bất cứ một xu hướng yêu nước nào ở Nam Bộ thời
điểm ấy cũng phải tìm ra giải pháp để đáp ứng.
Xu hướng yêu nước phong kiến hoạt động yếu ớt rồi tan rã. Xu hướng yêu nước tư sản phân hóa
thành hai bộ phận nhỏ (xu hướng dân tộc cải lương và xu hướng dân tộc cách mạng), cuối cùng cả hai
xu hướng này đều yếu ớt, ít có cơ sở trong quần chúng và không thể hợp nhất để tạo nên sức mạnh tổng
lực để phát động quần chúng đấu tranh. Trong hoàn cảnh đó, xu hướng yêu nước vô sản, với Đảng
Cộng sản là đại diện đã thực hiện vấn đề đó một cách xuất sắc. Cuộc cách mạng tháng Tám vỹ đại và
cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi sau đó là phần thưởng xứng đáng cho những chủ trương sáng
suốt và những nỗ lực không biết mệt mỏi của một thế hệ những người Đảng viên Cộng sản.
Sự hội tụ của các xu hướng trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX vào một xu
hướng tiến bộ nhất (xu hướng vô sản) thực sự là một bước phát triển hợp quy luật của lịch sử của vùng
Nam Bộ, đưa nhân dân Nam Bộ đạt được những thắng lợi vang dội, góp phần vào thắng lợi chung cho
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của toàn dân tộc.
KẾT LUẬN
Tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp năm 1858 thực sự là cột mốc mở đầu cho một giai đoạn
đau thương trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên bên cạnh đó, tiếng súng ấy cũng là một hiệu
lệnh để cho lòng yêu nước của một dân tộc kiên cường và bất khuất bùng nổ một cách mạnh mẽ và bền
bỉ, viết tiếp những trang sử hào hùng và vỹ đại, kế tiếp truyền thống yêu nước vinh quang của thế hệ
cha ông từ hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.
Thất bại trong cuộc tấn công vào Đà Nẵng, thực dân Pháp chuyển hướng tấn công xuống Nam Kỳ,
thực hiện âm mưu đánh lâu dài. Nhưng đi đến đâu quân đội viễn chinh pháp cũng vấp phải sức kháng
cự mãnh liệt của nhân dân Nam Kỳ. Hàng loạt các phong trào đấu tranh nổ ra liên tiếp, giáng cho thực
dân Pháp những tổn thất nặng nề. Những Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Thiên
Hộ Dương… thực sự đã trở thành bất tử, đi vào tiềm thức của những người dân Việt Nam như một
minh chứng cho tinh thần quật khởi của nhân dân Nam Bộ nửa cuối thế kỷ XIX.
Tuy nhiên, các phong trào chống Pháp ở Nam Bộ mặc dù diễn ra sôi nổi, nhưng bản thân công cuộc
kháng chiến chống Pháp giai đoạn này vẫn có những hạn chế lớn.
Thứ nhất, tuy số lượng các phong trào chống Pháp rất đông, nhưng lại thiếu sự tổ chức thống nhất,
sự liên hệ hỗ trợ nhau giữa các tổ chức nghĩa quân cũng còn rất hạn chế. Bởi vậy, thực dân Pháp có
điều kiện để lần lượt tiêu diệt các phong trào riêng lẻ, làm suy yếu và tiến tới dập tắt hoàn toàn các
phong trào kháng pháp ở Nam Bộ.
Thứ hai, bản thân các cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Kỳ thời điểm ấy nhận được sự hỗ trợ rất
hạn chế của triều đình nhà Nguyễn. Thậm chí, khi mà tư tưởng chủ hòa chiếm ưu thế, những chủ
trương của triều đình còn gây rất nhiều khó khăn cho sự hoạt động của các tổ chức nghĩa quân ở Nam
Kỳ. Sức mạnh của phong trào chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ vì vậy không được phát huy hết để có
thể níu kéo hi vọng chiến thắng trước kẻ thù xâm lược.
Thứ ba, kẻ thù của nhân dân Nam Kỳ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung bấy giờ là thực dân
Pháp, một kẻ thù quá mạnh và đại diện cho một ý thức hệ tiên tiến. Tương quan lực lượng hai bên có
một khoảng cách mang tính thời đại, rất khó có thể lấp đầy. Bởi vậy, ý thức hệ phong kiến trong thời
điểm đó được vũ trang bởi lòng yêu nước truyền thống cũng chỉ có thể làm dấy lên một phong trào
kháng Pháp trong một giai đoạn nhất định chứ chẳng thế có cơ may giành lấy thắng lợi.
Sự thất bại của các phong trào chống Pháp ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX suy cho cùng cũng là một
điều tất yếu. Điều đó đồng thời cũng thể hiện sự bất lực của ý thức hệ phong kiến trước bước ngoặt của
lịch sử dân tộc.
Những năm cuối cùng của thế kỷ XIX, phong trào Cần Vương bùng nổ. Hàng trăm cuộc khởi nghĩa
bùng lên trên phạm vi cả nước. Nhưng ở Nam Bộ, tình hình khá im ắng. Nguyên nhân là bởi ở Nam
Bộ, điều kiện để phát triển phong trào gần như không có. Nhưng sự im ắng ấy thực sự không phải lòng
yêu nước của nhân dân Nam Bộ đã hoàn toàn lụi tắt. Sự yên tĩnh ấy thực sự giống như sự thanh bình
của bầu trời trước khi nổ ra một cơn bão lớn. Và sự thực đúng là như vậy, đến đầu thế kỷ XX, ngọn lửa
yêu nước lại một lần nữa bùng lên ở Nam Bộ khi hoàn cảnh lịch sử xuất hiện những điều kiện mới cho
các phong trào cách mạng.
Sự đa dạng của văn hóa và những điều kiện đặc thù của đời sống kinh tế xã hội làm cho vùng đất
Nam Bộ xuất hiện hàng loạt các tổ chức chính trị, tôn giáo như một tất yếu. Đến lượt mình, các tổ chức
chính trị, tôn giáo lại làm nảy ra hàng loạt các xu hướng khác nhau trong phong trào yêu nước Nam Bộ
nửa đầu thế kỷ XX.
Xu hướng phong kiến xuất hiện ở Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX chỉ là tàn dư của một giai
đoạn lịch sử chống Pháp hào hùng của cư dân nơi đây từ thế kỷ XIX. Trong bối cảnh mà xu hướng yêu
nước này thời điểm đó đã gần như bị dập tắt trên phạm vi cả nước, thì hoạt động mạnh mẽ của các hội
kín Nam Kỳ có thể là một sự kiện rất đặc biệt. Tuy nhiên, khi mà ý thức hệ phong kiến vào đầu thế kỷ
XX đã trở nên không còn phù hợp thì những cuộc đấu tranh theo xu hướng này chỉ có tác dụng nuôi
dưỡng lòng yêu nước và thể hiện tinh thần kiên cường bất khuất của cư dân Nam Bộ. Còn bản thân xu
hướng này thì sau đó sẽ phải hòa nhập chung với các xu hướng yêu nước khác, tiến bộ hơn.
Những năm đầu thế kỷ XX, cùng với sự lan tỏa các tư tưởng dân chủ tư sản đến Việt Nam nói
chung, xu hướng yêu nước tư sản cũng bắt đầu hình thành ở Nam Bộ. Xu hướng này được biểu hiện
trước hết ở các phong trào yêu nước do các sỹ phu phát động. Các cuộc vận động này thực sự mang ý
nghĩa thời đại. Nó mở ra một hướng đấu tranh mới, khi mà con đường cứu nước bấy giờ đang bế tắc.
Mặc dù vậy, bản thân các phong trào yêu nước này vẫn còn có những hạn chế, cả chủ quan và khách
quan. Vậy nên thành quả của các phong trào yêu nước này vẫn chỉ là hun đúc tinh thần yêu nước, mở
mang dân trí, và đóng vai trò là bước đệm để chuẩn bị cho các xu hướng đấu tranh mới ưu việt hơn,
tiến bộ hơn tiếp tục xuất hiện ở giai đoạn tiếp theo. Đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, giai cấp
tư sản Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng bắt đầu bước lên vũ đài chính trị. Các tổ chức chính
trị, các phong trào đấu tranh do giai cấp tư sản phát động nhanh chóng làm dấy lên một phong trào yêu
nước mạnh mẽ khắp Nam bộ. Tuy nhiên, xu hướng yêu nước tư sản cũng chỉ làm được đến vậy. Bởi vì
bản thân giai cấp tư sản Nam Bộ vẫn có nhưng nhược điểm không thể khắc phục để có thể đóng vai trò
là ngọn cờ đầu cho phong trào yêu nước ở Nam Bộ.
Điều đó có những nguyên nhân của nó.
Trước hết, giai cấp tư sản ở Nam Bộ tuy khá phát triển, nhưng phạm vi ảnh hưởng của giai cấp này
hầu như chỉ ở các thành thị lớn, chủ yếu là Sài Gòn - Chợ Lớn. Từ đó dẫn đến việc giai cấp tư sản Nam
Bộ chưa bao giờ có được một cơ sở rộng rãi trong quần chúng nhân dân. Đặc biệt, sự liên hệ giữa giai
cấp tư sản đối với giai cấp nông dân, thành phần cơ bản trong xã hội Nam Bộ lại càng mờ nhạt. Chính
sự hạn chế trong việc liên hệ và huy động các lực lượng quần chúng là nguyên nhân chủ yếu dân đến
việc xu hướng yêu nước tư sản mất đi sức mạnh để có thể trở thành một xu hướng chủ đạo trong các
phong trào yêu nước ở Nam Bộ.
Thứ hai, bản thân xu hướng yêu nước tư sản sau đó lại chia rẽ thành hai bộ phận nhỏ: Xu hướng tư
sản dân tộc cách mạng và xu hướng tư sản dân tộc cải lương.
Xu hướng tư sản dân tộc cải lương trong những năm 20 của thế kỷ XX cũng khuấy động được một
số cuộc vận động yêu nước. Nhưng bản thân các phần tử của xu hướng này không dám manh động, chỉ
biết trung thành với đường lối bất bạo động. Bởi vậy, xu hướng này tuy ban đầu cũng được ủng hộ,
nhưng ngay sau đó lập tức bị phong trào của quần chúng vượt qua. Và sau đó, xu hướng này quay sang
thỏa hiệp với Pháp, trở thành một lực lượng phản cách mạng.
Xu hướng tư sản dân tộc cách mạng tiến bộ hơn, với thành phần chính là trí thức tiểu tư sản. Nhưng
bản thân xu hướng này cũng không thể tự khắc phục được những điểm yếu cố hữu: Không tìm ra cho
mình một lý tưởng, lực lượng yếu, thiếu mối liên hệ với quảng đại quần chúng, mà trước hết là nông
dân. Vậy nên xu hướng này trong thực tế bị phân hóa rất mạnh. Cuối cùng, một bộ phận bảo thủ thì
theo gót những phần tử tư sản cải lương, quay đầu thỏa hiệp với kẻ thù. Còn một bộ phận ưu tú nhất,
kiên quyết nhất thì chuyển sang lập trường vô sản.
Có thể đánh giá một cách công bằng rằng, xu hướng yêu nước tư sản ở Nam Bộ, trong một giai
đoạn lịch sử nhất định cũng có vai trò tích cực. Thậm chí trong những năm 20 của thế kỷ XX, các
phong trào yêu nước do giai cấp tư sản phát động thực sự nổi lên như một xu hướng chủ đạo trong
phong trào yêu nước ở Nam Bộ, thu hút hầu hết các tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng.
Có điều bản thân xu hướng này vấp phải những khó khăn chủ quan cũng như khách quan không thể
khắc phục. Kết cục xu hướng này không thể đảm đương nổi vai trò cầm cờ lãnh đạo phong trào yêu
nước ở Nam Bộ mà phải hòa vào phong trào yêu nước theo xu hướng vô sản, mà Đảng Cộng sản là đội
tiền phong.
Quá trình chuyển giao vai trò lãnh đạo ấy diễn ra khá êm ả, điều đó cũng do bởi yếu tố lực lượng
cách mạng quy định. Giai cấp công nhân hay giai cấp tư sản ở Nam Bộ xét cho cùng cũng chỉ là một bộ
phận nhỏ trong toàn thể nhân dân Nam Bộ. Vậy nên các tầng lớp trung gian trong xã hội là yếu tố
quyết định cho sự xác lập vị thế của các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ. Xu hướng nào đại diện cho sự
tiến bộ, phù hợp với lợi ích toàn dân, được nhân dân ủng hộ thì đương nhiên sẽ đóng vai trò quan trọng
nhất trong các xu hướng yêu nước nói chung.
Trong giai đoạn đầu, xu hướng yêu nước tư sản trong một chừng mực nào đó đã thực hiện được
điều đó. Nhưng sau đó nó đã nhanh chóng bị thực tế lịch sử vượt qua. Còn xu hướng yêu nước vô sản,
với đại diện là Đảng Cộng sản đã nhận thức rõ vai trò và khả năng cách mạng của các tầng lớp nhân
dân, kể cả đối với giai cấp tư sản, để có thể đề ra được những sách lược đúng đắn, phù hợp nhất với
thực tiễn đấu tranh cách mạng.
Được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân, xu hướng yêu nước vô sản tất nhiên dễ dàng trở thành
xu hướng chủ đạo trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ. Còn bản thân xu hướng yêu nước tư sản, khi
mất đi phần lớn chỗ dựa trong quần chúng, thì tự thân xu hướng ấy cũng mất đi vai trò lãnh đạo đối với
các phong trào yêu nước mà chẳng thể nào níu kéo hay nuối tiếc.
Sự chuyển giao vai trò lãnh đạo ấy, suy cho cùng, cũng là một tất yếu lịch sử. Điều đó không khó
để có thể giải thích.
Không giống với xu hướng yêu nước tư sản, xu hướng yêu nước vô sản ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ
XX có những đặc điểm ưu việt hơn hẳn. Tương tự như giai cấp công nhân Việt Nam nói chung, giai
cấp công nhân Nam Bộ hình thành trước cả giai cấp tư sản và có những điều kiên thuận lợi để phát
triển. Từ những năm 20 của thế kỷ XX, tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin và sẵn tinh thần yêu nước, các tổ
chức cộng sản ở Nam Bộ lần lượt ra đời. Đến năm 1930, các tổ chức cộng sản ở Nam Bộ bắt đầu thống
nhất. Do quan điểm cách mạng tích cực, các phong trào đấu tranh theo xu hướng vô sản nổ ra mạnh mẽ
hơn các cuộc đấu tranh theo xu hướng tư sản rất nhiều. Những cuộc đấu tranh ấy, mặc dù chưa thành
công, nhưng cũng đã đem lại uy tín cho Đảng Cộng sản. Ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng dần
được củng cố vững chắc. Hơn nữa, trong hoàn cảnh giai cấp tư sản dân tộc không thể nhích lại gần với
giai cấp nông dân, thì nông dân và công nhân ở Việt Nam càng có điều kiện để trở thành bạn đồng
minh gắn bó với nhau. Từ những nền tảng thuận lợi đó nên trong quá tranh lãnh đạo đấu tranh, cũng có
những giai đoạn xu hướng yêu nước vô sản gặp phải những trở ngại lớn, tổ chức Đảng bị tổn thất nặng
nề, nhưng xu hướng yêu nước vô sản vẫn là xu thế chủ đạo trong phong trào yêu nước nửa đầu thế kỷ
XX ở Nam Bộ, và Đảng Cộng sản luôn là lực lượng tiên phong, là chất keo để liên kết các xu hướng
yêu nước khác theo mục đích cách mạng của mình, và cũng là của toàn thể nhân dân.
Và như vậy có thể nói, thực tế lịch sử luôn luôn công bằng và bình đẳng. Xu hướng yêu nước nào
đề ra được những chiến lược, đối sách phù hợp với tiến trình vận động của lịch sử thì đương nhiên sẽ
có khả năng phát triển đến đỉnh cao, và sẽ được quần chúng nhân dân tin tưởng lựa chọn. Những thành
quả vỹ đại mà nhân dân Nam Bộ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung đã đạt được trong quá khứ
và đến tận ngày nay là câu trả lời hùng hồn nhất cho tính đúng đắn của sự lựa chọn sáng suốt ấy.
Nhìn lại thực tiễn lịch sử của các xu hướng trong phong trào yêu nước Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX,
chúng ta có thể rút ra được những bài học rất quý giá và vẫn còn có giá trị cho đến ngày nay và trong
cả tương lai.
Thứ nhất, đối với vùng đất giàu truyền thống như vùng Nam Bộ, Đảng và Nhà nước Việt Nam cần
phải chú ý bồi dưỡng và phát huy lòng yêu nước của nhân dân nơi đây. Lòng yêu nước luôn tiềm ẩn
sau mỗi con người Nam Bộ. Lịch sử vùng Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX đã chứng minh điều đó bằng các
phong trào đấu tranh liên tục và sôi nổi. Tuy nhiên trong bối cảnh ngày nay, cần phải hết sức cảnh giác
với những âm mưu chia rẽ của kẻ thù. Âm mưu chia rẽ của thực dân Pháp nửa đầu thế kỷ XX vẫn còn
là một bài học mang tính thời sự nóng bỏng. Trong cuộc chiến đó, ta đã giành được thắng lợi về cơ
bản. Dù cho thực dân Pháp có lôi kéo được một bộ phận người dân Nam Bộ ngả về phía chúng, nhưng
vẫn không thể nào tiêu diệt được phong trào yêu nước ở Nam Bộ do Đảng Cộng sản đứng đầu. Đại bộ
phận nhân dân Nam Bộ vẫn một lòng hướng về cách mạng, quyết tâm chiến đấu đến cùng. Làn sóng
tấn công của nhân dân Nam Bộ vẫn liên tiếp nổ ra, khiến cho kẻ thù tổn thất nặng nề. Cùng với những
thất bại thảm hại trên các chiến trường khác, cuối cùng thực dân Pháp đành phải chấp nhận từ bỏ âm
mưu xâm lược Việt Nam. Đóng góp của nhân dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp vĩ đại
quả thật là không hề nhỏ. Mặc dù vậy, trong bối cảnh mới, kẻ thù hiện nay còn thâm độc và nguy hiểm
hơn rất nhiều lần, chỉ cần một chút mất cảnh giác, toàn bộ thành quả cách mạng trong mấy chục năm,
được đánh đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ có thể sẽ sụp đổ hoàn toàn.
Thứ hai, xu hướng yêu nước nào cũng đáng quý và đáng trân trọng. Mỗi xu hướng yêu nước khi
được nảy sinh đều có những cơ sở thực tiễn của nó. Việc trấn áp, ép buộc các xu hướng khác vào một
con đường của một giai cấp, một tầng lớp là điều không thể, và không nên. Tất nhiên, xu hướng yêu
nước nào phù hợp với tiến trình vận động của lịch sử thì sẽ phát triển mạnh mẽ nhất và nắm được
quyền lãnh đạo. Còn xu hướng nào không phù hợp thì tự nó sẽ không nhận được sự ủng hộ của quần
chúng, xu hướng ấy sẽ tự phân hóa rồi tiêu vong.
Mỗi xu hướng yêu nước trong những giai đoạn lịch sử nhất định đều có những giá trị tích cực nhất
định của nó. Cũng có những xu hướng yêu nước không thể thành công do những hạn chế mang tính
thời đại. Có điều đó hoàn toàn không phải là lý do để chúng ta, những thế hệ đi sau, có thể quên đi
những đóng góp tích cực của những xu hướng yêu nước ấy cho lịch sử dân tộc.
Bản thân xu hướng yêu nước theo hình thức các hội kín ở Nam Bộ đâu phải hoàn toàn là vô ích.
Những giá trị cả về vật chất lẫn tinh thần của phong trào Hội kín thực sự có ý nghĩa rất thiết thực cho
các xu hướng yêu nước xuất hiện sau đó và còn là những bài học quý giá cho đến tận ngày nay.
Đối với xu hướng yêu nước tư sản, bản thân xu hướng yêu nước này trong một giai đoạn nhất định
cũng đã trở thành một ngọn cờ đầu trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ, phát triển song song với xu
hướng yêu nước vô sản. Hay nói cách khác, “sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài chính trị
không có nghĩa là giai cấp tư sản ở khu vực này mất đi vai trò lịch sử, mà ở đây là sự tồn tại song
song, là cuộc chạy đua tới đích độc lập của hai giai cấp này. Tùy theo tương quan lực lượng, điều kiện
lịch sử, khả năng đáp ứng yêu cầu cuộc đấu tranh của mỗi giai cấp… mà lịch sử lựa chọn giai cấp nào
lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”. [5, tr 45]
Xu hướng yêu nước vô sản với đội tiền phong là Đảng Cộng sản trước kia và hiện nay vẫn đóng vai
trò là ưu việt nhất, tiến bộ nhất, vậy nên đã được dân tộc Việt Nam lựa chọn để đóng vai trò lãnh đạo.
Đảng luôn luôn phải đảm bảo quyền lãnh đạo của mình, đó là điều kiện tiên quyết đã được thực tiễn
lịch sử xác nhận. Nhưng nếu muốn duy trì khối đoàn kết, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để hoàn
thành các mục tiêu đặt ra, thì nhất thiết không được trấn áp các xu hướng yêu nước khác để duy trì sự
lãnh đạo một cách gượng ép, mà phải không ngừng tự hoàn thiện tổ chức Đảng, liên kết với các phong
trào yêu nước khác, tác động để các phong trào ấy hỗ trợ cho mình, để rồi từ đó phân hóa các xu thế
yêu nước để hợp nhất vào một xu thế yêu nước chung do Đảng đứng đầu. Như vậy thì những thành quả
cách mạng đạt được mới có giá trị bền vững.
Thứ ba, cần phân biệt rõ ràng các phong trào yêu nước theo các xu hướng khác nhau với các tổ
chức phản động, phản cách mạng. Điều này thực sự không hề đơn giản và hết sức quan trọng. Bản thân
các tổ chức yêu nước trong quá trình hoạt động cũng có thể bị phân hóa thành các tổ chức phản động.
Đối với các xu hướng yêu nước, tuy khác nhau về quan điểm, đường lối nhưng vẫn là đối tượng cần
phải tranh thủ. Còn đối với những tổ chức đối lập với quyền lợi của dân tộc, thỏa hiệp với kẻ thù thì
nhất thiết cần phải đánh đổ. Do đó khi đánh giá, nhận xét về bất cứ một tổ chức hay một xu hướng yêu
nước nào cũng cần có sự thận trọng và cả sự khách quan, nghiêm túc, bởi nếu nhầm lẫn khi nhận xét và
đánh giá có thể sẽ dẫn đến những hậu quả vô cùng đáng tiếc, gây ra những mối rạn nứt trong khối đại
đoàn kết toàn dân tộc.
Từ những bài học như trên chưa phải là nhiều, nhưng nếu có thể thực hiện tốt sẽ không những tạo
điều kiện làm vững mạnh thêm khối đại đoàn kết dân tộc, mà còn đưa Nam Bộ nói riêng và dân tộc
Việt Nam nói chung trưởng thành và bền vững hơn nữa trong tương lai.
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: BẢN ĐỒ ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÙNG NAM BỘ CUỐI THẾ
KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
NGUỒN: www.namkyluctinh.org.vn
NGUỒN: www.namkyluctinh.org.vn
PHỤ LỤC 2: NHÂN VẬT TIÊU BIỂU CHO XU HƯỚNG YÊU NƯỚC PHONG
KIẾN Ở NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX:
PHAN XÍCH LONG (1893 - 1916)
Ông tên thật là Phan Phát Sanh là con trai của Phan Núi, một
viên chức cảnh sát gốc Hoa ở Chợ Lớn.
Năm 1912, Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Văn Hiệp tìm gặp Phan
Phát Sanh ở Tân Châu, tôn làm lãnh tụ. Kể từ đấy Phan Phát Sanh tự
xưng là Phan Xích Long, con vua Hàm Nghi và tự phong là hoàng đế.
Buổi đầu, Phan Xích Long đặt cơ sở đầu tiên ở Cần Vọt (Cao
Miên), lập đảng kín tên Thiên Địa Hội, chế tạo lựu đạn, trái phá, in
truyền đơn đưa ra tuyên cáo Phản Pháp phục Nam, kêu gọi mọi
người chống Pháp... Sau này, ông lập căn cứ ở vùng núi Thất Sơn
(Châu Đốc, tỉnh An Giang).
Sau vụ rải truyền đơn và đặt bom do nhóm Phan Xích Long tổ chức vào đêm 23 rạng sáng ngày
24/3/1913 thất bại, cả thảy 111 người trong đó có Phan Xích Long đều bị bắt giam. Tòa Áo đỏ của
Nam Kỳ đã đưa ông ra xét xử từ ngày 5 đến ngày 12/11/1913, kết án chung thân khổ sai.
Năm 1916, nhân Pháp bại trận trong Thế chiến thứ nhất, khoảng 300 hội viên của hội kín "Thiên
Địa Hội" ở Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Cần Giuộc, Cần Đước v.v..., tìm cách phá
ngục cứu ông. Đêm 16/2/1916, đúng 3 giờ sáng, tất cả hội viên do Nguyễn Hữu Trí cầm đầu, đều được
uống bùa, cổ mang phù chú, từ sông cầu Ông Lãnh xông lên tấn công dinh Thống Đốc và Khám Lớn.
Pháp giết chết tại trận 6 người, làm bị thương nhiều người. Sau đó, tòa kết tội tử hình 38 người tại
Đồng Tập Trận vào ngày 22/2/1916, trong đó có ông là kẻ cầm đầu. Khi ấy Phan Xích Long mới 23
PHỤ LỤC 3: NHỮNG NHÂN VẬT ĐẠI DIỆN CHO XU HƯỚNG YÊU NƯỚC TƯ
SẢN Ở NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX
tuổi.
1. PHAN BỘI CHÂU (1967 - 1940)
Ông tên thật là Phan Văn San, tự là Hài Thu, bút hiệu là Sào Nam,
Thị Hán, Độc Kinh Tử, Việt Điểu, Hàn Mãn Tử, v.v.
Ông sinh ngày 26/12/1867 tại làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, cha là Phan Văn Phổ, mẹ là Nguyễn Thị Nhàn.
Năm 1904, ông thành lập Hội Duy Tân.
Năm 1905, ông cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc rồi sang Nhật Bản, để gặp gỡ các nhà cách
mạng Nhật Bản và Trung Quốc và cầu viện trợ tài chính cho phong trào do ông thành lập.
Năm 1906, Phan Bội Châu đưa Kì Ngoại Hầu Cường Để và một số học sinh người Việt khác sang
Nhật. Cũng trong năm đó ông mời được Phan Chu Trinh, một nhà cách mạng nổi tiếng khác, đến thăm
ông tại thủ đô Tokyo. Sau hai tuần thảo luận, hai người không giải quyết được bất đồng chính kiến về
cách chống Pháp.
Tháng 3/1909, Phan Bội Châu bị Nhật Bản trục xuất.
Năm 1912, ông cùng một số nhà cách mạng Việt Nam lưu vong tại Quảng Châu thành lập tổ chức
Việt Nam Quang phục Hội thay thế cho Duy Tân Hội.
Giữa năm 1924, phỏng theo Trung Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn, ông đã cải tổ Việt Nam
Quang phục hội thành Việt Nam Quốc dân đảng. Tháng 12/1924, Nguyễn Ái Quốc, đã có cuộc tiếp xúc
với Phan Bội Châu, cùng trao đổi về xu hướng Quốc - Cộng hợp tác cho cách mạng Việt Nam, vốn
đang thịnh hành tại Trung Quốc bấy giờ.
Ngày 30/6/1925, ông lại bị Pháp bắt tại Hàng Châu, ông bị dẫn giải về Hà Nội và xử án chung thân
khổ sai. Về sau, bản án được đổi lại thành án quản thúc tại gia. Từ năm 1926, ông bị đưa về sống ở Bến
Ngự, Huế cho đến khi mất. Lúc đó ông được gọi là Ông già Bến Ngự.
Ông mất ngày 29 tháng 12 năm 1940 tại Huế.
2. PHAN CHÂU TRINH (1872 - 1926)
Ông có tên hiệu là Tây Hồ, Hi Mã, tự là Tử Cán, người làng Tây
Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ nay thuộc Xã Tam Lộc Huyện Phú
Ninh, tỉnh Quảng Nam.
Năm 1900, ông đỗ Cử nhân. Năm 1901, ông đỗ Phó bảng. Năm
1905, ông cùng Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp đi vào Nam, dấy
lên phong trào Duy Tân.
Năm 1906, ông bí mật sang Nhật Bản gặp Phan Bội Châu, khởi
xướng duy tân, cải cách nước nhà. Sau khi về nước, ông ra sức tuyên
truyền chủ trương cải cách của mình và đã trở thành một trong những
người lãnh đạo xu hướng cải lương hồi đầu thế kỷ XX.
Tháng 7/1907, ông ra Hà Nội tham gia giảng dạy ở Đông Kinh nghĩa thục.
Năm 1908, vụ Hà thành đầu độc ở Hà Nội và phong trào chống thuế của nông dân Trung Kỳ nổ ra
và bị thực dân Pháp đàn áp, ông bị bắt đày ra Côn Đảo. Đến năm tháng 8/1910, nhờ có Hội Nhân
quyền Pháp can thiệp, ông được trả lại tự do.
Năm 1911, ông sang Pháp, ở nhà luật sư Phan Văn Trường, mở một hiệu sửa ảnh, sống thanh bạch.
Ông tìm cách liên hệ với những người trong Liên minh Nhân quyền và Đảng Xã hội Pháp. Ông cũng
có những cuộc tiếp xúc với các nhóm Việt kiều và các đảng phái tiến bộ. Năm 1914, ông lại bị bắt
giam vì tình nghi có liên hệ với nước Đức. Nhờ sự can thiệp của Đảng Xã hội Pháp, nên ông mới được
thả ra.
Năm 1922 khi vua Khải Định sang Pháp dự đấu xảo Marseille, ông viết một bức thư dài buộc tội
Khải Định 7 điều và khuyên vua về nước gấp, đừng làm nhục quốc thể (quen gọi là Thất Điều Trần hay
Thư Thất Điều).
Năm 1925, ông về Sài Gòn tiếp tục hoạt động theo xu hướng cải lương, kêu gọi dân quyền, dân
sinh, dân khí.
Ông mất ngày 24/3/1926 tại Sài Gòn. Sau khi mất, tinh thần yêu nước của ông vẫn cổ vũ phong trào
trong nước. Lễ tang ông được nhân dân tổ chức rất trọng thể ; bất chấp sự ngăn cản của thực dân, cả
3. TRẦN CHÁNH CHIẾU (1868 - 1919)
Ông còn có tên gọi khác là Gibert Chiếu bút hiệu Tố Hộ và
Trần Nhựt Thăng là một nhà văn, nhà báo và nhà cải cách tại
Nam Bộ đầu thế kỷ XX.
Ông sinh tại làng Vân Tập, sau đổi là Vĩnh Thanh Vân, tỉnh
Rạch Giá (hiện là tỉnh Kiên Giang). Cha ông là Trần Thọ Cửu,
hương chức trong làng.
Tuy mang quốc tịch Pháp, ông là một người yêu nước. Từ
năm 1900 đến năm 1906, ông giao du và hoạt động với nhiều
nhân vật trong phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân như Trương Khắc Ninh và Trương
Duy Toản và thành lập Hội Minh Tân công nghĩa chống lại thực dân Pháp. Vì hoạt động bí mật
và cạnh tranh thương mại, nên ông bị người Pháp theo dõi.
Năm 1907, ông là chủ bút của những tờ báo in bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên như Nông cổ
mín đàm và Lục Tỉnh tân văn để tuyên truyền tư tưởng duy tân cứu nước.
nước dấy lên phong trào làm lễ truy điệu Phan Châu Trinh, là một sự kiện chính trị nổi bật lúc bấy giờ.
Từ năm 1906 đến năm 1908 ông vận động được 100 thanh niên sang Hồng Kông và gặp
Phan Bội Châu để bàn việc tổ chức và gởi các học sinh miền Nam và theo Công giáo sang Nhật
Bản. Phong trào Đông Du kéo dài cho đến khi Nhật Bản thỏa hiệp với Pháp đầu năm 1908 thì
bắt đầu trục xuất các sinh viên Việt Nam về nước.
Tháng 10 năm 1908 ông bị bắt cho đến tháng 4 năm 1909 ông mới được thả ra, sau đó ông
vẫn hoạt động bí mật trong phong trào Đông Du.
Ông mất tại Sài Gòn năm 1919.
4. LÊ QUANG NHƠN (1883 - 1969)
Ông sinh ngày 10/12/1883 tại xã Long Châu - tỉnh Vĩnh Long, là
con trai đầu lòng và duy nhất của thi sĩ Lê Quang Chiểu và nữ sĩ
Tiên.
Trần Ngọc Lầu. Khi viết văn, làm thơ, ông lấy bút hiệu là Thường
Năm 1904, ông thi đậu bằng Thành chung rồi ra Huế làm việc ở
Tòa Khâm sứ. Được ít lâu, ông về Nam làm thông ngôn tại tỉnh Vĩnh
Long.
Thời gian làm việc ở Tòa Khâm sứ Huế, rồi làm thông ngôn tại tỉnh
Việt tạp chí, nhiều lần tham gia các cuộc họp bạn ở Nam Trung khách sạn và Minh Tân khách sạn là
Vĩnh Long, Lê Quang Nhơn có viết cho Báo Công luận và Đại
hai cơ sở cách mạng của các nhà hoạt động chính trị bí mật lúc ấy do ông Trần Chánh Chiếu, Nguyễn
An Khương, Huỳnh Đình Triểm lãnh đạo.
Khi Pháp quay lại gây hấn ở Nam Bộ, ông cùng gia đình tản cư về Cái Đôi. Tại đây, ông lãnh chức
vụ Chủ tịch Ủy ban ủng hộ kháng chiến tỉnh. Không bao lâu, Pháp trở lại đánh chiếm, vì tuổi già, ông
phải tản cư xuống Rạch Giá.
Nguyễn Văn Thinh và Hồ Biểu Chánh là bạn cũ của Lê Quang Nhơn. Khi Nguyễn Văn Thinh làm Thủ
tướng chính phủ bù nhìn “Nam kỳ quốc” do thực dân Pháp dựng lên, Nguyễn Văn Thinh đã cử Hồ
Biểu Chánh (từng là Đốc phủ sứ, rồi Đốc lý thành phố Sài Gòn) làm Đổng lý Văn phòng, đồng thời
mời ông cộng tác. Ông chẳng những không cộng tác, mà còn trách Nguyễn Văn Thinh và Hồ Biểu
Chánh rằng cả hai đều có học mà sao còn làm tay sai cho thực dân Pháp.
Cuối năm 1947, Lê Văn Hoạch (cháu gọi ông bằng chú họ) làm Thủ tướng trong chính phủ Nam
Kỳ tự trị của Pháp có mời ông lên Sài Gòn dự buổi họp Nội các đầu tiên và mời ông nhận chức Bộ
trưởng, ông từ chối rồi bỏ về Long Xuyên ngay. Năm 1950, ông được mời giữ chức chỉ huy Đội Thiên
chúa giáo Long Xuyên - Châu Đốc (vì ông là người Thiên chúa giáo), Lê Quang Nhơn cương quyết từ
chối.
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, ông về sống tại Sài Gòn, thành lập Thi xã Nam Phong,
cùng bạn bè chuyện trò văn chương mỗi tháng để bày tỏ tâm sự. Ông mất tại Gia Định năm 1969.
Sau 40 năm làm việc cho Pháp với đầy những tâm sự và buồn thế sự, bất mãn (thể hiện trong thơ
của ông), sau đó, ông đã khảng khái từ chối hợp tác với Nhật và từ chối cộng tác với thực dân Pháp.
Đấy cũng là khí tiết đáng trân trọng.
5. NGUYỄN THẦN HIẾN (1857 - 1914)
Ông sinh năm Đinh Tỵ (1857) tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên; nay
là thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Thuở nhỏ ông được cha đặt tên Nguyễn Như Khuê, năm 18 tuổi
ông tự đổi là Nguyễn Thần Hiến.
Năm 1902, mẹ ông qua đời, thì tuổi ông cũng đã bốn mươi lăm và
đã là một điền chủ ở Hà Tiên. Trong năm này, ông quyết định đưa cả
gia quyến về sống ở Cần Thơ.
Vào một ngày tháng Giêng năm Giáp Thìn (1904), ông qua Sa Đéc
thăm người bạn thân là Đặng Thúc Liêng (1867 - 1945), tình cờ gặp
nhà chí sĩ Phan Bội Châu (1867 - 1940) từ Thất Sơn trở về. Kể từ cuộc
gặp gỡ ngẫu nhiên này, ông Hiến đã trở thành một thành viên tích cực, có nhiều đóng góp cho phong
trào Đông Du do Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Đặng Tử Kính gây dựng tại Nhật năm 1905.
Ngoài việc tuyên truyền, vận động cho nhiều ngành, nhiều giới tham gia phong trào; điểm nổi bật
nhất của Nguyễn Thần Hiến đó là việc ông đứng ra thành lập Khuyến Du Học Hội vào năm 1907, nhằm
vận động học sinh sang học tại Nhật, tổ chức nhiều cơ cấu cách mạng tại miền Nam để tích cực ủng hộ
phong trào. Và chính ông đã tự nguyện ủng hộ một phần lớn gia tài giúp vào quỹ du học sinh. Tổng
cộng món tiền là 20.000 đồng. Vào năm 1908, số tiền ấy có giá trị bằng hàng trăm lạng vàng.
Tháng 3 năm 1908, ông Hiến cho người con trai duy nhất của mình là Nguyễn Như Bích sang Nhật,
vào học tại Đồng Văn Thư viện. Nhưng cuối năm ấy, Pháp - Nhật ký xong hiệp ước bang giao, và thể
theo yêu cầu của Pháp, Nhật hoàng cho trục xuất tất cả du học sinh Việt Nam về nước, trong số đó có
Nguyễn Như Bích.
Năm 1908, từ Cần Thơ, nhờ người quen giúp đỡ, Nguyễn Thần Hiến theo ghe đánh cá sang
Chantaboun rồi lên Bangkok (Xiêm La), giấu mình bằng cái tên Hoàng Xương và hành nghề đông y.
Cuối năm này, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để (1882-1951) sang Xiêm, ông có tìm đến yết kiến và được
cử làm Tổng Ủy viên sự vụ, giữ trọng trách liên lạc với các đồng chí ở Nam Việt.
Cuối năm 1910, ông sang Hồng Kông tìm Cường Để và Phan Bội Châu để tiếp tục hoạt động.
Sau khi Cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc thắng lợi, đa số đảng viên Duy Tân hội muốn theo chủ
nghĩa dân chủ, từ bỏ quân chủ. Vì vậy, Phan Bội Châu, một trong những người sáng lập, nhận thấy cần
phải triệu tập một hội nghị.
Ngày 19 tháng 6 năm 1912 tại Quảng Châu, có đại diện của cả ba Kỳ đều đồng ý thành lập Việt
Nam Quang Phục Hội để thay thế cho Duy Tân hội. Và trong tổ chức mới, Nguyễn Thần Hiến, đại diện
cho Nam Kỳ, được cử vào Bộ Bình Nghị.
Đầu năm Quý Sửu (1913), hoạt động của Việt Nam Quang Phục Hội lại lâm cảnh đình trệ vì thiếu
tài chính. Trước tình cảnh đó, Nguyễn Thần Hiến đến thuyết phục Cường Để, để cùng bí mật trở về Sài
Gòn và nhiều tỉnh ở Nam Kỳ, nhằm vận động quyên góp tiền bạc cho hội.
Giữa tháng 6 năm 1913, Cường Để rời Sài Gòn, hẹn sẽ gặp lại Nguyễn Thần Hiến tại Hồng Kông.
Đến cuối tháng, khi cả hai cùng vài cộng sự khác gặp nhau tại Hồng Kông, do một thành viên sơ ý làm
nổ quả lựu đạn mới chế tạo, nên cả nhóm bị cảnh sát Anh truy nã gắt...
Vàì hôm sau, thấy tạm yên, một đồng chí của ông Hiến tên Huỳnh Hưng vừa lén trở nhà thì cảnh sát
Anh ập tới bắt giam. Sau đó, ông Hiến cùng các cộng sự khác, như: Nguyễn Quang Diêu (1882- 1936),
Đinh Hữu Thuật...đều bị bắt.
Pháp giam tất cả vào ngục tối, xiềng xích tay chân, rồi chở về Việt Nam nhốt trong nhà lao Hỏa Lò
ở Hà Nội.
Sau nhiều tháng bị tra tấn rất tàn bạo, ông lâm bệnh thổ huyết. Khi Hội đồng Đề Hình của thực dân
Pháp phán xử ông mười năm tù lưu đày qua xứ Cayenne (một thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ), ông
quyết tâm tuyệt thực và đã mất vào giờ giao thừa đêm ba mươi Tết Giáp Dần, tức ngày 26/1/ 1914,
hưởng dương 56 tuổi.
6. BÙI QUANG CHIÊU (1872 - 1945)
Là một nhà chính trị tranh đấu đòi độc lập cho Việt Nam vào
đầu thế kỷ 20.
Ông được gia đình gửi sang Algérie rồi sang Pháp học ở trường
École Coloniale từ năm 1894. Ba năm sau ông là người Việt đầu
tiên đỗ bằng kỹ sư canh nông (ingénieur agronome) của Pháp. Vua
Hàm Nghi bấy giờ bị Pháp đày sang Algérie và ông là người Việt
duy nhất được vào thăm cựu hoàng lúc đó.
Sau khi về nước ông hưởng ứng phong trào Đông Kinh Nghĩa
Thục mở mang dân trí, ông liên lạc với các nhà trí thức Nam Kỳ
nổi tiếng và cùng chí hướng như luật sư Dương Văn Giáo, Diệp
Văn Kỳ, nhà báo Nguyễn Phan Long, bác sĩ Trần Như Lân, bác sĩ
Ông Dương Văn Giáo và ông Bùi Quang Chiêu (bên phải) trong chuyến tàu đi Ấn Độ
Nguyễn Văn Thinh.
Bùi Quang Chiêu cũng cổ động cho phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh cũng như phong trào
Đông Du của Phan Bội Châu. Năm 1919 ông thành lập Đảng Lập hiến Đông Dương. Đảng Lập Hiến
dùng 3 tờ báo: La Tribune Indochinoise, L'Echo Annamite và Đuốc Nhà Nam làm diễn đàn.
Năm 1926, nhân lúc Alexandre Varenne của đảng Xã hội Cấp tiến Pháp được bổ nhiệm làm toàn
quyền Đông Dương với hứa hẹn cải tổ cai trị, Bùi Quang Chiêu lại sang Pháp vận động chính giới Pháp
với loạt bài "Pour le Dominion Indochinois".
Với thanh thế đó, ông về lại Sài Gòn tranh cử cuộc bầu cử tháng 10/1926. Kết quả là ông cùng 9
đảng viên đảng Lập Hiến đắc cử Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ. Ông được bầu làm Phó chủ tịch Hội
đồng.
Năm 1938 ông rời chính trường bỏ về Mỏ Cày một ít lâu rồi lại ra Sài Gòn năm 1943. Ngày
29/9/1945 ở Chợ Đệm ông bị lực lượng Việt Minh ở đây kết án tử hình với tội danh làm "tay sai cho
thực dân Pháp".
7. LÊ VĂN TRUNG (1876 - 1934)
Ông sinh năm 1876 tại làng Phước Lâm, tổng Phước Điền Trung (Chợ
Lớn).
Ông tốt nghiệp trường Chasseloup - Laubat (nay là Trường Trung học Lê
Quý Đôn), Sài Gòn năm 1894. Sau khi tốt nghiệp, ông vào làm thư ký tại
Dinh Thống Đốc Nam Kỳ. Đến 1906 ông xin thôi việc. Sau đó ông ra ứng cử và được bầu vào Hội
Đồng Quản Hạt Nam Kỳ liên tục trong 8 năm.
Năm 1911 ông cùng với bà Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương đứng ra vận động lập College des Jeunes
Filles, trường nữ Trung Học đầu tiên tại Sài Gòn (về sau là Trường Nữ Trung học Gia Long và hiện
nay là Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai).
Năm 1912, chánh phủ Pháp ban thưởng cho ông Bắc Đẩu Bội Tinh Đệ Ngũ Đẳng, đây là một vinh
dự mà ngay cả công dân Pháp cũng khó lòng đạt được.
Năm 1914 ông được cử làm Nghị Viên Hội Đồng Soái Phủ Đông Dương còn gọi là Hội Đồng
Thượng Nghị Viện Đông Dương. Đây cũng là chức vụ sau cùng của ông ở ngoài đời.
Năm 1926, Thượng Đế dạy các ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc đem Đại Ngọc Cơ (đây là một
trong các phương pháp Thông Công của Đạo Cao Đài) đến nhà ông Lê Văn Trung để cầu cơ. Trong lần
cầu cơ này Thượng Đế dạy ông Trung phải tham gia lo việc mở đạo.
Sau đó Thượng Đế phong cho ông chức Thượng Đầu Sư và ban tên thánh cho ông là Thượng Trung
Nhựt.
Vào ngày 7 tháng 10 năm 1926, ông cùng 27 đệ tử Cao Đài khác, theo lệnh Thượng Đế, gởi Tờ
Khai Tịch Đạo lên Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol.
Kể từ đây ông cùng các đệ tử khác chăm lo vun trồng phát triển một nền tôn giáo mới. Ngày 19/11/
1926, Đầu Sư Thượng Trung Nhựt đã cùng với các đệ tử khác tổ chức Lễ Khai Đạo rất trọng thể tại Từ
Lâm Tự (Gò Kén) Tây Ninh.
Trước đó, ông Ngô Minh Chiêu, một trong những đệ tử đầu tiên của Thượng Đế đã từ chối không
nhận chức Giáo Tông, do đó vào ngày 22/11/1930, Giáo Tông thiêng liêng của đạo Cao Đài là Đức Lý
Thái Bạch giáng cơ ban cho ông chức Quyền Giáo Tông.
Ông lâm bệnh và qua đời vào ngày 19/11/1934, sau 9 năm làm việc cho đạo.
8. NGÔ VĂN CHIÊU (1878 - 1932)
Ông sinh ngày 7 tháng Giêng năm Mậu Dần (nhằm ngày
8/2/1878) tại Bình Tây, Chợ Lớn.
Ông là tín đồ đầu tiên của Đạo Cao Đài , tên thánh là Ngô Minh
Chiêu.
Vào năm 1902, Ngô Văn Chiêu đang làm việc tại Sài Gòn, có
đến đàn cầu cơ tại Thủ Dầu Một để thỉnh Tiên cầu thọ cho thân mẫu
và hỏi về tương lai, thì Tiên ông giáng cho ông một bài kệ khuyên
ông lo tu hành ngày sau sẽ đắc đạo. Cuối năm 1919 thân-mẫu ông qua đời, vào ngày 1/3/1920 ông
được lịnh bổ đến Hà Tiên, khi đến nơi này ông thường lên núi Thạch Động cầu Tiên, thì có vị Tiên cô
Ngô Kim Liên giáng cho mấy bài thơ, khuyên ông lo tu hành.
Ngày 26/10/1920, ông đến đảo Phú Quốc. Tại đây ông cũng tiếp tục cầu cơ thỉnh Tiên. Sau đó Tiên
ông hiện ra hình Thiên nhãn và dạy Ngô Văn Chiêu làm biểu tượng thờ phượng.
Ngày 30/7/1924, Ngô Văn Chiêu đổi về Sài Gòn cũng vẫn tiếp tục tu luyện, đến gần cuối năm Ất
Sửu (1925) Đức Cao Đài mới dạy ông đem mối Đạo truyền ra, nên Ngô Văn Chiêu đã độ được bốn
ông : Quan phủ Vương Quan Kỳ, ông phán Nguyễn Văn Hoài, ông phán Võ Văn Sang, ông đốc học
Đoàn Văn Bản. Sau đó các ông này cũng có độ thêm một số đệ tử nữa cùng tu luyện với Ngô Văn
Chiêu, nhưng những hoạt động giai đoạn nầy còn trong phạm vi một nhóm tu chơn tịnh luyện, chứ
chưa phát triển thành một Tôn giáo.
Đến khi đạo Cao Đài chính thức thành lập, thì ông không tham gia vào các hoạt động này. Không
những thế, ông từ chối nhận chức vụ Giáo Tông của Đạo Cao Đài. Hiện nay, những người theo ông tu
luyện tại các Đàn Chiếu Minh, gọi chung là Phái Cao Đài Chiếu Minh.
9. PHẠM CÔNG TẮC (1890 - 1959), tức Hộ Pháp Phạm
Công Tắc của đạo Cao Đài.
Ông sinh ngày 21/6/1890 tại làng Bình Lập, tỉnh Tân An
(nay là Long An), miền nam Việt Nam.
Ngày 7/10/1926, ông là một trong số 28 người đứng tên khai
đạo Cao Đài. Cũng vào ngày này, Thượng Đế giáng cơ phong
cho ông chức Hộ Pháp của Đạo Cao Đài.
Chính ông là người khởi công lần sau cùng vào năm 1936 và
tổ chức lễ khánh thành Tòa Thánh Tây Ninh vào năm 1955. Toà
Thánh là cơ ngơi quan trọng nhất của Tôn giáo Cao Đài (Thể pháp quan trọng nhất).
Năm 1941, phong trào chống thực dân Pháp trong nước Việt Nam nổi lên khắp nơi. Người Pháp
đàn áp thẳng tay bằng cách giam giữ tất cả những ai bị tình nghi là chống lại họ. Lúc bấy giờ Cao Đài
là một tôn giáo có tổ chức chặt chẽ và phát triển rất nhanh, nên người Pháp rất lấy làm nghi ngại. Sau
nhiều lần đe dọa, Pháp vào tận Nội Ô Toà Thánh Tây Ninh bắt Hộ pháp Phạm Công Tắc và một số
chức sắc khác đày sang đảo Madagascar.
Đến năm 1946, tình hình chính trị thay đổi, người Pháp trả tự do cho Phạm Công Tắc. Kể từ đó,
ông trở lại cầm quyền tôn giáo Cao Đài và kiện toàn tất cả các cơ sở tôn giáo này.
Đến năm 1955, tướng Nguyễn Thành Phương theo lệnh của Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình
Nhu đem quân về bao vây Hộ Pháp Đường tại Tòa Thánh Tây Ninh. Chiến dịch thanh trừng này có
mục đích là loại bỏ những ai không đồng tình với chế độ lúc bấy giờ.
Ngày 16 tháng 2 năm 1956, lúc 3 giờ sáng, ông rời sang Campuchia, tiếp tục hành đạo ở đó cho đến
khi mất vào năm 1959.
10. HUỲNH PHÚ SỔ (1920 - 1947)
Ông sinh ngày 15/1/1920 nhằm ngày 25/11 năm Kỷ Mùi tại làng Hoà
Hảo, huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, (nay thuộc huyện Phú Tân, tỉnh An
Giang).
Ngày 18/5/ Kỷ Mão (4 tháng 7 năm 1939) ông khai đạo Hòa Hảo. Chỉ
trong một thời gian ngắn số tín đồ và ảnh hưởng của Huỳnh Phú Sổ càng
ngày càng gia tăng và trở thành một phong trào tín ngưỡng mạnh mẽ khiến
thực dân Pháp lo ngại, bèn lập tức tiến hành quản chế.
Tháng 10/1942 trước tin tức người Pháp sẽ đưa Huỳnh Phú Sổ đi đày ở Ai Lao (Lào), các tín đồ
Phật giáo Hòa Hảo và hiến binh Nhật đã giải cứu ông đem về Sài Gòn.
Ngày 14/8/1945, Huỳnh Phú Sổ cùng Hồ Văn Ngà, Trần Văn Ấn, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn
Thạch... thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất.
Sau tạm ước ngày 6/3/1946, ông tham gia Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ với chức vụ
Ủy viên Đặc biệt.
Ngày 21/9/1946, Huỳnh Phú Sổ và một số trí thức khuynh hướng dân tộc, dân chủ thành lập Việt
Nam Dân chủ Xã hội Đảng, gọi tắt là Dân Xã đảng.
Ngày 27/2/1947, đại diện của Huỳnh Phú Sổ là Nguyễn Bảo Toàn cùng với lãnh tụ các đảng quốc
gia khác như: Nguyễn Hải Thần (Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội), Nguyễn Tường Tam (Việt
Nam Quốc dân đảng) thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất Toàn quốc.
Ngày 16/4/1947 Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải sự
xung đột giữa Việt Minh và Phật Giáo Hòa Hảo. Cái chết của ông đến nay vẫn là một nghi vấn lịch sử
chưa được giải đáp.
PHỤ LỤC 3: NHỮNG NHÀ CÁCH MẠNG TIÊU BIỂU CHO XU HƯỚNG YÊU
NƯỚC VÔ SẢN Ở NAM BỘ NỬA ĐẦU
THẾ KỶ XX
1. NGUYỄN AN NINH (1900 - 1943)
Ông quê ở Quán Tre, huyện Hóc Môn (nay thuộc Thành phố Hồ
Chí Minh) nhưng ông sinh tại quê mẹ ở xã Long Thượng, quận Cần
Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An).
Năm 1918, ông sang Paris, Pháp, học đại học ngành luật tại Đại học
Sorbonne. Hai năm sau, ông đã hoàn thành chương trình học tập và
được cấp bằng cử nhân Luật hạng xuất sắc.
Trong thời gian ở Paris, Nguyễn An Ninh liên hệ với Phan Chu
Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Ái Quốc.
Ngày 5 tháng 10 năm 1922, ông về nước.
Tháng 12/1923, ông cho ra tờ báo Pháp văn La cloche fêlée (Tiếng chuông rè, có người dịch Tiếng
chuông rạn) ở Sài Gòn để công kích chính sách thực dân Pháp, đề cao các nhà cách mạng, làm cho
người đọc tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc và truyền bá những tư tưởng tự do.
Năm 1926, ông đã sáng lập ra Thanh niên Cao vọng Đảng, một tổ chức yêu nước hoạt động theo
nguyên tắc hội kín ở Nam Kỳ.
Năm 1939, ông Ninh đi hẳn với những cộng sản trong nhóm Dân Chúng và viết cho báo Dân
Chúng, góp phần tổ chức nhiều cuộc biểu tình đòi các quyền tự
do dân chủ, ra ứng cử vào Hội đồng Quản hạt (Hội đồng Thuộc
địa Nam Kỳ).
Ngày 5/10/1939, lần thứ năm ông bị thực dân Pháp bắt giam.
Sau đó, ông nhận án 5 năm tù lưu đày Côn Đảo. Trên đảo, ông bị
hành hạ, bị đói khát triền miên khiến ông kiệt sức dần.
Nguyễn An Ninh mất trong tù vào ngày 14/8/1943, hai năm
trước khi Việt Nam giành lại được độc lập, hưởng dương 43
tuổi.
2. NGUYỄN VĂN CỪ (1912 - 1941)
Ông là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương (1938 - 1940).
Ông sinh trong một gia đình nhà Nho, quê xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Năm 1927, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.
Tháng 6/1929, ông được kết nạp vào chi bộ Đông Dương Cộng sản đảng đầu tiên ở Hà Nội. Năm
1930, được cử làm Bí thư đặc khu Hồng Gai – Uông Bí. Bị Pháp bắt, kết án khổ sai, đày đi Côn Đảo.
Năm 1936, ông được trả tự do, về hoạt động bí mật ở Hà Nội. Tháng 9/1937, được cử vào Ban
Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ở hội nghị Hóc Môn (Gia Định). Năm 1938, ông
được bầu làm Tổng bí thư khi mới 26 tuổi.
Tháng 6/1940, ông bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn cùng với một số đảng viên khác.
Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), thực dân Pháp ghép ông vào tội đã thảo ra "Nghị quyết thành
lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương", "chủ trương bạo động" và là "người có trách
nhiệm tinh thần trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ" và kết án tử hình.
Ngày 28/8/1941, bản án được thi hành cùng lúc với một số đảng viên cộng sản khác như Hà Huy
Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu... tại trường bắn Hóc Môn.
3. NGUYỄN THỊ MINH KHAI (1910 - 1941)
Bà sinh tại xã Vĩnh Yên, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Thuở nhỏ
sống cùng mẹ ở xã Đức Tùng, Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Năm 1927, bà hoạt động trong phong trào công nhân ở Vinh và
tham gia thành lập Đảng Tân Việt, giữ chức Ủy viên Ban chấp hành
Đảng bộ.
Năm 1930, bà gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, phụ trách
tuyên truyền, huấn luyện đảng viên tại Trường Thi, Bến Thủy. Sau
đó, bà sang Hương Cảng làm thư ký cho Nguyễn Ái Quốc ở văn
phòng chi nhánh Đông phương bộ của Quốc tế Cộng sản.
Năm 1931, bà bị bắt tại Hương Cảng, bị kết án và giam ở đây.
Năm 1934, bà ra tù và được Đông phương bộ Quốc tế Cộng sản cử làm đại biểu chính thức đi dự Đại
hội VII Quốc tế Cộng sản tại Moskva cùng với Lê Hồng Phong. Sau đó bà thành hôn với Lê Hồng
Phong và học tại trường Đại học Phương Đông.
Năm 1936, bà được cử về nước truyền đạt chỉ thị của Quốc tế Cộng sản và được cử vào Xứ ủy Nam
kỳ, giữ chức Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, một trong những người lãnh đạo cao trào Cách mạng
1936-1939 ở Sài Gòn. Thời gian này, bà lấy bí danh là Năm Bắc.
Năm 1940, bà bị bắt ngay sau phiên họp của xứ ủy Nam kỳ về phổ biến chủ trương khởi nghĩa và bị
giam tại Khám lớn (Sài Gòn). Tuy nhiên, bà vẫn liên lạc với bên ngoài và vẫn tiếp tục lãnh đạo phong
trào đấu tranh.
Sau khi Khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, bà bị thực dân Pháp kết án tử hình và bị xử bắn tại Ngã ba
Giồng, Hóc Môn ngày 26/8/1941. Trước khi bị xử tử, bà đã khẳng khái lên án tội ác thực dân Pháp và
hô to: "Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm!", thể hiện tinh thần bất khuất, kiên trung của bà.
4. PHAN ĐĂNG LƯU (1902 - 1941)
Ông sinh ngày 5/5/1902, tại xã Tràng Thành (nay là Hoa
Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Ông tốt nghiệp Trường Canh nông và tham gia Hội Phục Việt
(sau đổi thành Tân Việt Cách mạng Đảng) làm đến chức uỷ viên
Tổng bộ.
Năm 1928, Phan Đăng Lưu tham gia xuất bản “Quan hải tùng
thư” tại Huế; ông giữ chức uỷ viên thường vụ của Tổng bộ Đảng
Tân Việt. Ngày 15/12 cùng năm, ông sang Trung Quốc để liên
lạc với Tổng bộ Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.
Tháng 9/1929, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt tại Hải
Phòng và bị kết án tù khổ sai và đày đi Buôn Ma Thuột. Ra tù
năm 1936, ông tham gia lãnh đạo phong trào Mặt trận Dân chủ ở Huế. Trong thời gian này ông đã viết
nhiều bài báo, tác phẩm với bút danh Tân Cương, Phi Bằng.
Năm 1938, ông được bầu uỷ viên ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Đông dương và uỷ
viên thường vụ trung ương.
Tháng 11/1939, ông tham dự Hội nghị thứ VI (Hội nghị quyết định nêu cao nhiệm vụ giải phóng
dân tộc, thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế).
Tháng 7/1940, ông thay mặt trung ương Đảng dự Hội nghị của xứ uỷ Nam Kì, thông qua đề cương
chuẩn bị khởi nghĩa.
Tháng 11/1940, ông tham dự Hội nghị VII của Ban Chấp hành trung ương Đảng. Tại Hội nghị này,
ông được bầu là Ủy viên Thường vụ và được phân công chỉ đạo phong trào ở Nam Kỳ. Sau đó, Trung
ương Đảng cử ông vào Nam Kì để thông báo hoãn cuộc khởi nghĩa.
Tuy nhiên, ngày 22/11/1940, ông bị bắt khi vừa về đến Sài Gòn do kế hoạch bị bại lộ. Ngày
18/8/1941, ông bị thực dân Pháp kết án tử hình và bị bắn ở Hóc Môn.
5. LÊ HỒNG PHONG (1902 - 1942)
Ông tên thật là Lê Huy Doãn, sinh năm 1902 trong một gia đình
nghèo thuộc xóm Đông Cửa, thôn Đông Thông, tổng Thông Lạng, nay là
xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Từ nhỏ cuộc sống
ông đã bập bênh nhiều khó khăn.
Khi trưởng thành, ông đi làm công cho một hãng buôn ở Vinh, rồi làm
công nhân nhà máy diêm Bến Thủy và bị đuổi việc vì đã vận động công
nhân đấu tranh.
Tháng 1 năm 1924, ông cùng Phạm Hồng Thái sang Thái Lan, sau đó
đi qua Hồng Kông, Trung Quốc tham gia Tâm Tâm Xã (còn gọi là Tân Việt Thanh niên Đoàn). Ông là
một trong 9 hội viên hạt nhân của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Năm 1924, ông học Trường Quân sự Hoàng Phố. Tháng 2 năm 1926, ông gia nhập Đảng Cộng sản
Trung Quốc. Cuối năm đó, ông tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố.
Từ tháng 10/1926 đến tháng 10/1927, ông sang học trường Lý luận Quân sự tại Leningrad (Liên
Xô). Từ tháng 12 năm 1927 đến tháng 11 năm 1928, ông học trường Không quân số 2 ở Borisoglebsk
(Liên Xô).
Từ tháng 12 năm 1928, ông theo học trường Đại học Lao động Cộng sản phương Đông của Quốc tế
Cộng sản ở Moskva (Liên Xô) với bí danh Litvinov. Sau khi tốt nghiệp, ông tham gia Hồng quân Liên
Xô với cấp bậc Trung tá.
Cuối năm 1931, với tên là Vương Nhật Dân, ông về Trung Quốc hoạt động.
Năm 1934 ông thành lập Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng tại Ma Cao, chính ông làm Bí thư.
Ngày 14 tháng 6 năm 1934, ông triệu tập Hội nghị Ban Chỉ huy Hải ngoại và đại biểu các đảng bộ
trong nước bàn kế hoạch triệu tập Đại hội lần thứ nhất của Đảng.
Tháng 3 năm 1935, tại Đại hội I của Đảng ở Ma Cao, ông được bầu làm Tổng Bí thư. Tháng 7
tháng 1935, ông dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng ra dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản ở Moskva. Đại hội
công nhận Đảng là Chi bộ chính thức của Quốc tế Cộng sản và bầu ông làm Ủy viên Ban Chấp hành
của Quốc tế Cộng sản.
Tháng 1/1936, ông tới Trung Quốc và triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng tại Thượng Hải (tháng 7
năm 1936).
Ngày 10/11/1937, với tên là La Anh, ông về nước hoạt động.
Tháng 3 năm 1938, ông dự Hội nghị Trung ương họp tại Hóc Môn (Gia Định) quyết định thành lập
"Mặt trận Dân chủ Đông Dương".
Ngày 22 tháng 6 năm 1939, ông bị quân Pháp bắt lần thứ nhất ở Sài Gòn và bị kết án 6 tháng tù.
Ngày 6 tháng 2 năm 1940, ông bị bắt lần thứ hai, bị kết án 5 năm tù và đày đi Côn Đảo.
Ngày 6 tháng 9 năm 1942, ông qua đời trong lúc ở trong tù tại Côn Đảo.
Ông lập gia đình với Nguyễn Thị Minh Khai, một nữ đồng chí cùng học tại Đại học Phương Đông.
Hai người có chung một người con gái.
6. VÕ VĂN TẦN (1894 - 1941)
Ông quê ở xã Đức Hoà, huyện Đức Hoà, tỉnh Chợ Lớn, nay
thuộc tỉnh Long An, là anh ruột đồng chí Võ Văn Ngân. Xuất
thân trong một gia đình nông dân nghèo. Lớn lên ra thành phố
làm nghề kéo xe để kiếm sống. Ông sớm tham gia các cuộc đấu
tranh ở địa phương, tham gia hoạt động yêu nước trong tổ chức
của Nguyễn An Ninh,
Ông chuyển sang tổ chức Đảng Cộng sản năm 1929, đảm
trách chức vụ Bí thư Huyện uỷ đầu tiên huyện Đức Hoà (1930),
trực tiếp tổ chức cuộc đấu tranh của nông dân ở Đức Hoà ngày 4
tháng 6 năm 1930, bị thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt. Sau
đó ông giữ các chức vụ quan trọng trong Đảng như Bí thư Tỉnh
uỷ Chợ Lớn (1931), bí thư Tỉnh ủy Gia Định (1932).
Từ 1936, ông tổ chức lãnh đạo phong trào đấu tranh dân chủ ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ; được
Đảng đề cử các chức vụ bí thư Xứ uỷ Nam Kỳ, uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1937 -
1940).
Ông bị thực dân Pháp bắt vào tháng 7/1940 và sau bị xử bắn tại Hóc Môn ngày 28/8/1941.
7. HÀ HUY TẬP (1906 - 1941)
Ông sinh ở làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa, nay là xã Cẩm
Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Thân phụ là một nhà
nho nghèo.
Năm 1923, tốt nghiệp hạng ưu trường Quốc học Huế. Từ năm 1923 đến 1926, ông làm giáo viên
tiểu học ở thành phố Nha Trang.
Giữa năm 1926, ông bị trục xuất khỏi Nha Trang và chuyển về dạy học ở trường tiểu học Cao Xuân
Dục (thành phố Vinh). Ông tham gia Hội Phục Việt (sau đổi là Hội Hưng Nam, tiền thân của Tân Việt
Cách Mạng Đảng nên bị sa thải.
Tháng 3/1927, ông chuyển vào Sài Gòn hoạt động, kiếm sống và dạy học ở An Nam học đường tức
trường Nguyễn Xích Hồng, đến tháng 1/1928 ông lại bị sa thải khỏi An Nam học đường.
Tháng 12/1928, ông sang Quảng Châu, Trung Quốc bàn việc hợp nhất với tổ chức Việt Nam Thanh
niên Cách mạng Đồng chí Hội rồi hoạt động trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
Ngày 19/7/1929, ông sang Liên Xô, học trường Đại học Lao động Cộng sản phương Đông của
Quốc tế Cộng sản ở Moskva với bí danh là Cinichkin (Xi-nhi-trơ-kin).
Cuối năm 1929, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản toàn liên bang (bôn-sê-vích) (tên gọi lúc đó
của Đảng Cộng sản Liên Xô).
Năm 1932, ông tốt nghiệp đại học và trở về Việt Nam. Trên đường về ông bị Pháp bắt và bị trục
xuất sang Bỉ, sau đó trở về Trung Quốc.
Năm 1934, ông tham gia Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Ông trực tiếp chủ trì Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng tại Ma Cao từ 27/3 đến 31/ 3
năm 1935. Tại Đại hội này, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và có chân trong Ban
Thường vụ Trung ương.
Tháng 3/1935, ông được cử làm Bí thư Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Tháng 7/1936, Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng họp Hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung
ương cử ông về nước để lập lại Trung ương cấp ủy và và giữ chức Tổng Bí thư.
Ông trực tiếp chỉ đạo các báo L'Avant garde (Tiền phong) (1937), Dân chúng (1938) của Đảng dưới
danh nghĩa "cơ quan lao động và dân chúng" ở Nam Kỳ.
Từ 3/ 9 đến 5/9 năm 1937, Hội nghị Trung ương họp ở Bà Điểm, Gia Định, ông báo cáo kiểm điểm
sự lãnh đạo của đảng từ sau Đại hội I đến năm 1937.
Tháng 3 năm 1938, ông thôi chức Tổng Bí thư, là Ủy viên Thường vụ Trung ương và thành viên
Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Ngày 1 tháng 5 năm 1938, ông bị quân Pháp bắt tại Sài Gòn, sau đó bị quản thúc ở quê.
Ngày 30/3/1940 ông bị bắt lại và ngày 25/10 năm đó, ông bị thực dân Pháp xử tuyên án 5 năm tù
giam.
Ngày 25/3/1941, Pháp đổi thành án tử hình vì "chịu trách nhiệm tinh thần về cuộc khởi nghĩa Nam
Kỳ (cùng bị kết án tử hình với Hà Huy Tập còn có Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh
Khai). Trước tòa ông tuyên bố: "Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống tôi sẽ tiếp tục hoạt động."
Ngày 28 tháng 8 năm 1941, ông bị Pháp xử bắn cùng với một số nhà cách mạng khác tại Sở Rác
(nay là bệnh viện Hóc Môn, Sài Gòn). (Có tài liệu nói là ông và các đồng chí bị xử bắn ở Ngã Ba
Giồng, Hóc Môn, Gia Định, hiện nay có khu di tích tại đây).
8. NGÔ GIA TỰ (1908 – 1935)
Ông sinh tại làng Tam Sơn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Năm 1927, ông tham gia lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ
chức tại Quảng Châu, Trung Quốc.
Tháng 3 năm 1929, ông tham gia thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở
Việt Nam. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, ông được bầu
làm Bí thư Xứ ủy lâm thời của Đảng bộ Nam Kỳ.
Đến cuối năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn và đày ra Côn
Đảo vào tháng 5 năm 1933.
Đầu năm 1935 ông tổ chức vượt ngục. Song dự định đó không thành, ông bị mất tích cùng với các
bạn tù khác khi vượt biển vào đất liền.
9. TRẦN VĂN GIÀU (1911)
Ông sinh ngày 6/9/1911, quê ở xã An Lục Long, huyện Châu
Thành, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An).
Năm 1928, sang Pháp du học.
Tháng 5/1930, ông tham gia biểu tình trước dinh tổng thống Pháp
đòi hủy án tử hình đối với các thủ lĩnh cuộc Khởi nghĩa Yên Bái, do
đó bị trục xuất về Việt Nam.
Năm 1931, ông theo học tại Trường Đại học Phương Đông ở
Matxcơva, Liên Xô.
Tháng 6/1935, bị tòa án Pháp tại Sài Gòn kết án 5 năm tù và bị
đày ra Côn Đảo.
Tháng 4/1940, ông được tha, nhưng bị bắt lại sau mấy ngày và bị đưa đi an trí ở trại Tà Lài.
Năm 1941, ông trở về tiếp tục hoạt động cách mạng.
Tháng 10/1943, ông được bầu làm bí thư Xứ ủy Nam Kỳ.
Tháng 8/1945, ông tham gia lãnh đạo giành chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh ở Nam Bộ.
Tháng 9/1945, ông được cử làm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ.
Năm 1949, ông được cử làm Tổng giám đốc Nha Thông tin. Năm 1951, sang Bộ Giáo dục, tham gia
xây dựng ngành dự bị đại học và sư phạm cao cấp. Năm 1954, ông giữ chức chủ nhiệm Khoa Lịch Sử,
Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Những năm 1962 - 75, công tác tại Viện Sử học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là
Từ năm 1975 đến nay, ông tiếp tục nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội.
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam).
PHỤ LỤC: SƠ ĐỒ CÁC XU HƯỚNG YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Ngọc Anh và những người khác (2005), 75 năm Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2005),
Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
2. Huỳnh Công Bá (2008), Lịch sử Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
3. Ban nghiên cứu lịch sử công đoàn Việt Nam (1974), Sơ thảo lần thứ nhất Lịch sử phong trào
công nhân và công đoàn Việt Nam (1860 – 1945), NXB Lao Động, Hà Nội.
4. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung Ương (1976), Những sự kiện lịch sử Đảng, tập 1: 1920 -
1945, Nxb. Sự Thật, Hà Nội.
5. Đỗ Thanh Bình (2006), Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX - Một cách tiếp
cận, Nxb. Đại học sư phạm Hà Nội.
6. Phan Xuân Biên (2005), Miền Đông Nam bộ con người và văn hóa, Nxb. Đại học quốc gia
TP.HCM.
7. Nguyễn Công Bình (2008), Đời sống xã hội ở vùng Nam Bộ, Nxb. Đại học quốc gia TP.HCM.
8. Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường (1990), Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông
Cửu Long, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
9. Trần Văn Bính (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Nam bộ, thực trạng và những vấn đề đặt ra,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. Bộ phận thường trực ban nghiên cứu tổng kết lịch sử công an nhân dân phía Nam (1993), Công
an Nam Bộ trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Nxb. Công an nhân dân, TP.HCM.
11. Đặng Đình Ca (1984), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954, tập 1, Nxb.
Quân đội nhân dân, Hà Nội.
12. Phan Bội Châu (2001), Phan Bội Châu niên biểu, Nxb. Văn Nghệ, TP.HCM.
13. Trường Chinh (2005), Cách mạng tháng Tám, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.
14. Trương Văn Chung, Doãn Chính (2005), Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Phan Kỳ Chưởng (1973), Đạo Cao Đài và chính trị, Luận văn tốt nghiệp, Học viện Quốc gia
hành chánh, Sài Gòn.
16. Nguyễn Trọng Cổn (1980), Phong trào công nhân trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Nxb. Lao
Động, Hà Nội.
17. Cục văn thư và lưu trữ cả nước, Trung tâm lưu trữ quốc gia III (2007), Nam Bộ kháng chiến
(1945 - 1954) qua tài liệu lưu trữ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.
18. Hồ Sơn Diệp (2003), Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Nxb.Đại
học quốc gia, TP.HCM.
19. Lê Anh Dũng (1996), Lịch sử Đạo Cao Đài thời kỳ tiềm ẩn, 1920 - 1926, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
20. Đoàn Dũng (1973), Ảnh hưởng tôn giáo trong sinh hoạt chính trị miền nam, Luận văn tốt
nghiệp, Học viện chính trị quốc gia, Sài Gòn.
21. Đinh Trần Dương (2006), Sự chuyển biến của phong trào yêu nước và cách mạng giải phóng
dân tộc Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội.
22. Đinh Trần Dương (2006), Tân Việt Cách mạng Đảng trong cuộc vận động thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
23. Hồ Sơn Đài (1996), Chiến khu ở miền Đông Nam Bộ (1945 - 1954), Nxb. TP.HCM.
24. Hồ Sơn Đài (2008), Cuộc kháng chiến 1945 - 1975 nhìn từ Nam Bộ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
25. Hồ Sơn Đài, Đỗ Tầm Chương, Hồ Khang (2005), Bộ đội Bình Xuyên, Nxb. Lao động, Hà Nội.
26. (1969), Đồng chí Phạm Ngọc Thạch : nhà trí thức cách mạng, Nxb. Y học và thể dục thể thao,
Hà Nội.
27. Vũ Minh Giang (chủ biên), Nguyễn Quang Ngọc, Lê Trung Dũng, Cao Thanh Tân, Nguyễn Sỹ
Tuấn (2006), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
28. Trần Giang chủ biên (2002), Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Công trình khoa học cấp nhà nước,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. Võ Nguyên Giáp (2001), Những năm tháng không thể nào quên, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà
Nội, Hữu Mai thể hiện.
30. Võ Nguyên Giáp (2001), Chiến đấu trong vòng vây, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, Hữu Mai
thể hiện.
31. Võ Nguyên Giáp (2001), Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, Hữu Mai
thể hiện.
32. Võ Nguyên Giáp (2001), Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội,
Hữu Mai thể hiện.
33. Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng
tháng Tám, tập 1: Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, Nxb.
TP.HCM.
34. Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng
tháng Tám, tập 2: Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, Nxb. TP.HCM.
35. Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng
tháng Tám, tập 3: Thành công của chủ nghĩa Mác Lênin - Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. TP.HCM.
36. Trần Văn Giàu (2007), Tổng tập, tập 2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.
37. Trần Văn Giàu (2008), Tổng tập, tập 3, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến
cách mạng tháng Tám, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.
38. Hoàng Hà chủ biên (2005), Trận tuyến công khai giữa Sài Gòn, ký sự về báo chí cách mạng
công khai và phong trào đấu tranh của báo giới Sài Gòn, Nxb. Trẻ, TP.HCM.
39. Lê Mậu Hãn chủ biên, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư (2003), Đại Cương Lịch sử Việt Nam, tập
3, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội.
40. Nguyễn Hanh (1984), Miền Đông Nam Bộ lịch sử và phát triển, Nxb. TPHCM.
41. Nguyễn Văn Hầu (1968), Nhận thức Phật giáo Hòa Hảo, Nxb. Hương Sen, Sài Gòn.
42. Thái Nhân Hòa (2005), Xu hướng canh tân - Phong trào Duy tân - Sự nghiệp đổi mới (Từ giữa
thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX), Nxb. Đà Nẵng.
43. Phan Văn Hoàng (2001), Cao Triều Phát, nghĩa khí Nam Bộ, Nxb. Trẻ, TPHCM.
44. (1961), Hội kín Nguyễn An Ninh, Nxb. Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn.
45. Nguyên Hùng (2004), Bảy Viễn - thủ lĩnh Bình Xuyên, tuyển tập, Nxb. Công an nhân dân, Hà
Nội.
46. Nguyên Hùng (1988), Người Bình Xuyên, tiểu thuyết tư liệu, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
47. Nguyên Hùng (1990), Sư thúc Hòa Hảo, tiểu thuyết tư liệu, Nxb. Tổng hợp Hậu Giang.
48. Đỗ Quang Hưng (2003), Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà
Nội.
49. Phạm Dương Mỹ Thu Huyền (2008), Tôn Đức Thắng với phong trào công nhân Sài Gòn đầu
thế kỷ XX đến năm 1930, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
50. Vũ Như Khôi, Đào Trọng Bằng chủ biên (2006), Mở đầu toàn quốc kháng chiến, Nxb. Quân đội
51. Đoàn Khuê, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Quan (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân
nhân dân, Hà Nội.
52. Nguyễn Văn Kiêm (1976), Lịch sử Việt Nam (Đầu thế kỷ XX - 1918), Quyển 3, tập 2, Nxb. Giáo
Pháp thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
dục, Hà Nội.
53. Mạnh Xuân Kiếm (1971), Vai trò chánh trị của Cao Đài, Luận văn tốt nghiệp Cao học hành
chánh, Học viện chính trị quốc gia, Sài Gòn.
54. (2006), Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
55. Lịch sử quan phủ Ngô Văn Chiêu (1878 - 1932), Người sáng lập Cao Đài Đại Đạo, Nxb. Hòa
Chánh, Sài Gòn.
56. Phan Ngọc Liên chủ biên (2005), Cách mạng tháng Tám 1945 - Toàn cảnh, Nxb. Từ điển Bách
Khoa, Hà Nội.
57. Phan Ngọc Liên và những người khác (2006), Biên niên sử các Đại hội Đảng Cộng sản Việt
Nam, tập 1, 2, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Hà Nội.
58. Huỳnh Lứa chủ biên (1993), Lịch sử phong trào công nhân cao su Việt Nam (1906 - 1990),
Nxb. Trẻ, TP.HCM.
59. Huỳnh Lứa chủ biên, Lê Quang Minh, Lê Văn Nam, Nguyễn Nghị, Đỗ Hữu Nghiêm (1987),
Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb. TP.HCM.
60. Huỳnh Lứa, Đặng Văn Thắng, Hồ Hữu Nhựt (2004), Nam Bộ Đất và người, Nxb. Trẻ, TPHCM.
61. Huỳnh Lý (2002), Phan Châu Trinh - Thân thế và sự nghiệp, Nxb. Trẻ, TP.HCM.
62. Đinh Xuân Lý (2007), Quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
63. Hồ Chí Minh (1966), Về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
64. Nguyễn Thị Minh (2001), Nguyễn An Ninh - “Tôi chỉ muốn làm cơn gió thổi”, Nxb. Trẻ,
TP.HCM.
65. Thành Nam (1982), Phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân cao su miền Đông Nam
Bộ, Nxb. Lao Động, Hà Nội.
66. Sơn Nam (2003), Phong trào Duy Tân ở Bắc, Trung, Nam; Miền Nam đầu thế kỷ XX - Thiên
67. Lương Ninh (2005), Vương quốc Phù Nam - Lịch sử và văn hóa, Viện văn hóa và Nxb.
Văn hóa thông tin, Hà Nội.
Địa hội và cuộc minh tân, Nxb. Trẻ, TP.HCM.
68. Vũ Ngọc Nguyên (1959), Công nhân Nam Bộ trong khói lửa, Nxb. Lao Động, Hà Nội.
69. (2001), Nguyễn An Ninh - Nhà trí thức yêu nước, Nxb. TP.HCM.
70. (1970), Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh - Thân thế và sự nghiệp, Nxb. Cấp Tiến, Sài Gòn.
71. Nhiều tác giả (1999), Nam bộ thành đồng Tổ quốc đi trước về sau - Hồi ký kháng chiến chống
thực dân Pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
72. Nhiều tác giả (2002), Hỏi đáp về chủ tịch Tôn Đức Thắng và lược sử phong trào công nhân Việt
Nam, Nxb. Trẻ, TP.HCM.
73. Nhiều tác giả (2007), Phong trào Đông Du ở Miền Nam, Tạp chí Xưa và Nay, Nxb. Văn hóa Sài
Gòn, TP.HCM.
74. Trịnh Nhu chủ biên (2008), Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập 1:Nguyễn Ái Quốc
tìm đường giải phóng dân tộc và các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản,
75. Trịnh Nhu chủ biên (2008), Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập 2: Đảng lãnh đạo
sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền và thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1930 -
1945), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
76. Nguyễn Trọng Phúc chủ biên (2006), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2006), Nxb. Lao
Động, Hà Nội.
77. Nguyễn Trọng Phúc chủ biên (2006), Các đại hội đại biểu toàn quốc và hội nghị Ban chấp hành
Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2006), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
78. Trần Hải Phụng, Lưu Phương Thanh (1994), Lịch sử Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định kháng chiến
(1945 - 1975), Nxb. TP.HCM.
79. Lê Minh Quốc (2007), Nguyễn An Ninh - Dấu ấn để lại, Nxb. Kim Đồng, Hà Nội.
80. Trương Hữu Quýnh và những người khác (2003), Đại cương lịch sử Việt Nam, toàn tập: từ thời
nguyên thủy đến năm 2000, Nxb. Giáo dục Hà Nội.
81. Trần Viết Tá chủ biên (1990), Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945 - 1975, Nxb. Quân đội
nhân dân, Hà Nội.
82. Nguyễn Thanh Tâm (2005), Khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa trong cách mạng tháng
Tám 1945, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
83. Đồng Tân (1972), Lịch sử Cao Đài - Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Nxb. Cao Hiên, Sài Gòn.
84. Phan Đăng Thanh (2006), Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Nxb. Tư pháp, Hà
Nội.
85. Lưu Phương Thanh chủ biên (1990), Nam Kỳ khởi nghĩa, Nxb. TP.HCM.
86. Nguyễn Thành (1991), Mặt trận Việt Minh, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
87. Nguyễn Thành (1985), Cuộc vận động đại hội Đông Dương, Nxb. TP.HCM.
88. Nguyễn Q. Thắng (2006), Phong trào Duy Tân với các khuôn mặt tiêu biểu, Nxb. Văn hóa
thông tin, Hà Nội.
89. Phạm Văn Thắng, Cao Tự Thanh và những người khác (2007), Lịch sử Đảng Bộ Thành Phố Hồ
Chí Minh, Nxb. Tổng hợp TP.HCM.
90. Chương Thâu (2005), Phan Bội Châu - Nhà yêu nước, nhà văn hóa lớn, Nxb. Trung Tâm văn
hóa ngôn ngữ Đông - Tây, Hà Nội.
91. Huỳnh Văn Tiểng, Bùi Đức Tịnh (1995), Thanh niên tiền phong và các phong trào học sinh sinh
viên trí thức Sài Gòn 1939 - 1945, Nxb. Trẻ, TP.HCM.
92. Huỳnh Công Tín (2006), Cảm nhận bản sắc văn hóa Nam Bộ, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
93. Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Thị Phương Hồng (2005), Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng
sản Việt Nam (1930 - 2000), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
94. Lâm Hiếu Trung chủ biên (2003), Lịch sử Đảng bộ Miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
95. Trung tâm nghiên cứu Dân tộc học và tôn giáo (2005), Nam Bộ dân tộc và tôn giáo, Nxb. Khoa
Học Xã Hội, Hà Nội.
96. Tổng cục chính trị (1998), Một số hiểu biết về tôn giáo – Tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Quân đội
nhân dân, Hà Nội.
97. Nguyễn Thị Mộng Tuyền (2003), Phong trào đấu tranh của công nhân cao su Thủ Dầu Một
trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb. Lao Động, Hà Nội.
98. Trần Thị Minh Tuyết, Nguyễn Thị Hồng Vân (2007), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học
viện công nghệ bưu chính viễn thông, Hà Nội, sách điện tử.
99. Đặng Nghiêm Vạn (2001), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
100. Trần Tường Vân, Nguyễn Quang Ân (1997), Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp
1945 - 1954: Những sự kiện, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
101. Viện Lịch sử Đảng (2008), Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2:Đảng lãnh
đạo sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền và thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1930 -
1945), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
102. Viện Lịch sử Đảng (1985), Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, Nxb. Sự Thật, Hà Nội.
103. Nguyễn Việt biên soạn (1957), Nam Bộ và Nam Phần Trung Bộ trong hai năm đầu kháng
chiến (1945 - 1946), Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội.
104. (1986), Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, tập 1: 1945 - 1960, Nxb Sự
thật, Hà Nội.
105. Đặng Thanh Xuân (2003), Lịch sử tư tưởng lập hiến nửa đầu thế kỷ XX và sự ra đời của
hiến pháp đầu tiên ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ lịch sử, Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Viện Khoa
học xã hội TP.HCM.
106. Nguyễn Văn Xuân (1995), Phong trào Duy Tân, Nxb. Đà Nẵng.

