BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Ngọc Sáng

CÁC XU HƯỚNG TRONG PHONG TRÀO YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. TS. VÕ XUÂN ĐÀN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2010

A. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn. Từ khi lập quốc, do không ngừng đấu

tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm, cộng đồng dân tộc Việt Nam sớm có ý thức đoàn kết bảo vệ

chủ quyền và xây dựng đất nước mình, lòng yêu nước Việt Nam cũng bắt nguồn từ đó. Trải qua hàng

ngàn năm dựng nước và giữ nước, truyền thống ấy không ngừng được hun đúc và ngày càng phát triển.

Các thế hệ dân tộc Việt Nam, nối tiếp nhau không những bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia mà còn

ngày càng xây dựng đất nước phát triển đi lên. Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ấy, lòng

yêu nước thực sự là động lực để nhân dân ta có thể thực hiện được những chiến công hiển hách làm

rạng ngời những trang sử vẻ vang của dân tộc, và bản thân lòng yêu nước, tự nó, cũng trở thành niềm

tự hào không gì so sánh được của tất cả những ai mang trong mình dòng máu Việt Nam.

Tuy vậy, lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam không phải là một khái niệm thuần nhất. Lòng yêu

nước chịu sự chi phối trực tiếp từ những hoàn cảnh kinh tế xã hội cụ thể, không những thế nó còn thay

đổi cùng với quá trình vận động và phát triển của lịch sử dân tộc. Vì vậy lòng yêu nước trong lịch sử

của dân tộc Việt Nam tuy tồn tại hầu như xuyên suốt trong quá trình tồn tại và phát triển của dân tộc

qua các thời kỳ, thế nhưng biểu hiện của nó thì lại không hề khô khan, bất biến mà vô cùng sinh động

và phong phú. Do những đặc thù của hoàn cảnh kinh tế xã hội nước ta ở các thời điểm khác nhau và

đặc điểm riêng của các địa phương cụ thể, mà lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam cũng có những biểu

hiện đặc trưng trong từng giai đoạn lịch sử, đồng thời còn mang đậm dấu ấn vùng miền.

Biểu hiện của lòng yêu nước trong khoảng thời gian đấu tranh chống thực dân Pháp ở Nam Bộ đầu

thế kỷ XX là một trong những minh chứng tiêu biểu nhất cho điều đó.

Vùng đất Nam Bộ là một vùng đất mới được cư dân người Việt khai phá từ khoảng thế kỷ XVI -

XVII. Do những điều kiện lịch sử cụ thể, thành phần cư dân nơi đây được cấu thành từ nhiều bộ phận

có nguồn gốc khác nhau. Hơn thế nữa, Nam Bộ, do vị trí địa lý đặc biệt của nó, cũng là nơi hội tụ của

rất nhiều luồng văn hóa từ những vùng khác nhau trên thế giới. Trong lịch sử nơi đây đã từng chịu ảnh

hưởng của các trung tâm văn hóa lớn của thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, ảnh hưởng của văn hóa các

quốc gia xung quanh như Thái Lan, Campuchia và các nước Đông Nam Á khác. Ngoài ra, từ thế kỷ

XVIII, với vai trò là một trung tâm thương mại, thương thuyền của hàng loạt các quốc gia khác nhau

trên thế giới đến đây buôn bán và đồng thời thông qua đó những luồng văn hóa trên thế giới có những

điều kiện thuận lợi để du nhập vào Nam Bộ. Và nếu như các vùng khác của Đông Dương, sau khi bị

thực dân Pháp tấn công xâm lược, chỉ là xứ bảo hộ của Pháp thì vùng Nam bộ có một lịch sử riêng.

Năm 1972, nơi đây chính thức trở thành thuộc địa của Pháp. Trở thành thuộc địa của Pháp, bản sắc văn

hóa của vùng Nam bộ, vì thế, lại có những đặc điểm riêng, không giống với các vùng miền khác trên

lãnh thổ Việt Nam. Tất cả những điều đó đã tạo cho vùng Nam Bộ một bản sắc văn hóa đa dạng mà lại

rất đặc thù.

Từ những điều kiện cụ thể trên, lòng yêu nước ở Nam Bộ Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX có

những đặc điểm riêng không thể nhầm lẫn. Sự đa dạng về bản sắc văn hóa dẫn đến việc ở Nam Bộ xuất

hiện hàng loạt các xu hướng yêu nước khác nhau. Mỗi xu hướng yêu nước có một mục tiêu và phương

pháp đấu tranh riêng. Trong một chừng mực nào đó, các phong trào yêu nước có những sự liên hệ và

hỗ trợ nhau để hướng tới mục đích chung: Đánh đuổi giặc Pháp, giành độc lập dân tộc. Sự phối hợp ấy

thực sự đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để làm nên sức mạnh của phong trào đấu tranh của nhân dân

Nam Bộ.

Nhưng mặc dù có nhiều điểm tương đồng, các xu hướng yêu nước ấy vẫn có những khác biệt rất cơ

bản, và chính vì vậy, giữa các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX luôn có sự đấu tranh với

nhau, khi êm ả, lúc quyết liệt. Trong quá trình ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đứng ở vị trí trung

tâm, đóng vai trò đoàn kết và thống nhất các xu hướng yêu nước khác để hướng tất cả vào sự nghiệp

chung. Và vì vậy những thành quả trong các phong trào đấu tranh cách mạng ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX

không phải là sự thể hiện sức mạnh của bản thân Đảng Cộng sản, mà là sự thể hiện sức mạnh tổng hợp

của tất cả các phong trào yêu nước, được hội tụ vào những mục tiêu cách mạng mà Đảng đề ra. Điều đó

tạo nên sự sinh động và đặc thù của lịch sử Nam Bộ nói riêng.

Nghiên cứu về những lòng yêu nước của một vùng đất xuất hiện nhiều xu hướng yêu nước khác

nhau và lịch sử chứa đầy những biến động thăng trầm như vùng Nam Bộ là một vấn đề khó khăn và

phức tạp. Nhưng tất nhiên những vấn đề khó khăn luôn là một sức cuốn hút mãnh liệt đối với những

người nghiên cứu khoa học. Đó cũng là lý do tôi lựa chọn đề tài CÁC XU HƯỚNG TRONG PHONG

TRÀO YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX làm đề tài luận văn tốt nghiệp chương trình

cao học niên khóa 2007 - 2010 của mình. Mục đích nghiên cứu của đề tài không gì khác hơn là góp

phần khái quát lại những xu hướng yêu nước xuất hiện ở vùng đất Nam Bộ trong nửa đầu thế kỷ XX,

với những mối liên hệ, hỗ trợ và cả đấu tranh giữa chúng. Để từ đó có thể góp phần vào việc nhận thức

toàn diện hơn về lịch sử vùng đất Nam Bộ nói riêng cũng như toàn bộ lịch sử Việt Nam nói chung.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Lịch sử vùng Nam Bộ Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là một bức tranh sinh động và rộng lớn với

những vận động và biến đổi trên rất nhiều các phương diện, lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nơi

đây. Ngay bản thân cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp để giành lại độc lập chủ quyền, xây dựng và

bảo vệ đất nước của nhân dân Nam Bộ, vốn chỉ là một bộ phận của lịch sử vùng Nam Bộ, đã là một

một hệ thống phức tạp các mặt trận đối đầu không khoan nhượng. Đề tài không thể và cũng không có ý

định nghiên cứu một cách tường tận tất cả các phương diện trong giai đoạn lịch sử đầy biến động này

của vùng Nam Bộ, mà chỉ tập trung vào một đối tượng nghiên cứu nhỏ, đó là vấn đề xem xét, tìm hiểu

sự xuất hiện và phát triển, sự liên hệ cũng như đấu tranh của các xu hướng yêu nước ở vùng đất Nam

Bộ trong khoảng thời gian đó dưới vai trò lãnh đạo trung tâm của Đảng và những đóng góp của các xu

hướng này đối với tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài chỉ là một vấn đề nhỏ trong lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, lại chỉ gói

gọn trong vùng Nam bộ, nhưng không vì vậy mà phạm vi nghiên cứu của đề tài bị thu hẹp, mà ngược

lại, phạm vi nghiên cứu của đề tài là hết sức rộng lớn, đa dạng và phong phú.

Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp ở Nam bộ chỉ là một bộ phận trong toàn bộ cuộc đấu tranh

trường kỳ và vĩ đại của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng tất nhiên cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Bộ

cũng mang một tầm quan trọng đặc biệt và có sự phối hợp và liên quan trực tiếp đến các vùng miền

khác trên phạm vi cả nước. Mặt khác, do các xu hướng yêu nước luôn có cơ sở xuất phát từ những điều

kiện kinh tế xã hội thực tế cụ thể. Vì vậy, đối với vấn đề nghiên cứu vấn đề các xu hướng yêu nước ở

Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, thực chất, phạm vi nghiên cứu của đề tài là tổng thể lịch sử Việt Nam giai

đoạn này trên tất cả các phương diện.

Và không chỉ có thế, kẻ thù và cũng là đối tượng chủ yếu của các cuộc đấu tranh của nhân dân Nam

Bộ, hay rộng hơn là của dân tộc Việt Nam trong suốt mấy chục năm trời gian khổ đầu thế kỷ XX là

thực dân Pháp. Nhưng thực tế lịch sử không hoàn toàn đơn giản như vậy, kẻ thù xâm lược ở Nam Bộ

Việt Nam còn quy tụ rất nhiều các lực lượng khác: Quân đội Nhật, quân đội Anh và đế quốc Mỹ. Vì

vậy, nghiên cứu đề tài các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX nhất thiết phải được mở

rộng ra các đối tượng này. Hay nói cách khác là phạm vi nghiên cứu được tiếp tục mở rộng ra bối cảnh

cụ thể của tình hình thế giới trong giai đoạn đó.

Về mặt thời gian cũng tương tự như vậy, tuy đề tài chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu các xu hướng

yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX nhưng trong quá trình nghiên cứu nhất thiết vẫn phải mở rộng

nghiên cứu các khoảng thời gian trước và sau giai đoạn đó để có thể thấy được sự tiếp nối và kế thừa

của lịch sử cũng như khuynh hướng phát triển của các xu hướng yêu nước ấy.

Cần nhấn mạnh rằng, đối tượng nghiên cứu của đề tài nhỏ bé nhưng phạm vi nghiên cứu lại rộng

lớn không phải là một sự mâu thuẫn, mà sẽ là một sự bổ sung hoàn hảo cho nhau. Tính chất rộng lớn

của phạm vi nghiên cứu sẽ tạo tiền đề thuận lợi để có thể đào sâu nghiên cứu vào đối tượng nghiên cứu

chính, nhằm thực hiện một cách tốt nhất những nhiệm vụ mà mục đích nghiên cứu đã đề ra.

3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề nghiên cứu về các phong trào đấu tranh yêu nước ở vùng đất Nam Bộ không phải là một đề

tài nghiên cứu mới, vấn đề này từ trước tới nay đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến khá nhiều, gồm

các nhà nghiên cứu về lịch sử Việt Nam và các nhà nghiên cứu lịch sử Đảng, cả các nhà nghiên cứu

trong nước và nước ngoài.

Tùy vào mục đích của từng công trình nghiên cứu cụ thể mà các công trình nghiên cứu về các

phong trào yêu nước ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX cũng có những cách tiếp cận vấn đề từ các góc độ khác

nhau, trực tiếp cũng như gián tiếp. Mặc dù vậy, do các yếu tố chủ quan cũng như khách quan, các công

trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này vẫn có một số hạn chế. Một công trình chuyên sâu và đầy đủ

về vấn đề này cho đến nay vẫn chưa được xuất bản.

Đối với các công trình trình bày chung về tiến trình lịch sử Việt Nam, như Đại Cương Lịch sử Việt

Nam, tập 2 và 3, Nxb Giáo Dục, Hà Nội của các tác giả Lê Mậu Hãn chủ biên, Trần Bá Đệ, Nguyễn

Văn Thư, xuất bản năm 2003; Đại cương lịch sử Việt Nam, toàn tập: từ thời nguyên thủy đến năm 2000

của Trương Hữu Quýnh và những người khác, Nxb Giáo dục, Hà Nội, xuất bản năm 2003; Lịch sử Việt

Nam (Đầu thế kỷ XX - 1918) của Nguyễn Văn Kiêm, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, xuất bản năm 1976; Lịch

sử Việt Nam của Huỳnh Công Bá, Nxb. Thuận Hóa, Huế, xuất bản năm 2008… đều trình bày những

nét lớn về tiến trình lịch sử của cả nước nói chung và vùng Nam Bộ nói riêng nửa đầu thế kỷ XX. Các

công trình này dều đề cập đến các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ, với quá trình ra đời và phát triển cơ

bản của chúng, nhưng bởi đây là những công trình mang tính chất đại cương, các tác giả không thể

trình bày vấn đề một cách chi tiết và chuyên sâu.

Tương tự như vậy là các công trình nghiên cứu về các phong trào yêu nước ở Việt Nam nửa đầu thế

kỷ XX. Có thể kể đến các công trình như: Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX - Một

cách tiếp cận của Đỗ Thanh Bình, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, xuất bản năm 2006; Sự chuyển biến

của phong trào yêu nước và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX

của Đinh Trần Dương, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2006; Phong trào Duy Tân của

Nguyễn Văn Xuân, Nxb Đà Nẵng, xuất bản năm 1995… Do các công trình này trình bày về các phong

trào yêu nước trên phạm vi cả nước nên không thể trình bày một cách đầy đủ về phong trào yêu nước ở

Nam Bộ nói riêng.

Các công trình nghiên cứu về các tổ chức tôn giáo và chính trị ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX như

Đạo Cao Đài và chính trị, Luận văn tốt nghiệp, Học viện Quốc gia hành chánh, Sài Gòn của Phan Kỳ

Chưởng niên khóa năm 1973, Bộ đội Bình Xuyên, Nxb. Lao động, Hà Nội của các tác giả Hồ Sơn Đài,

Đỗ Tầm Chương, Hồ Khang xuất bản năm 2005; Nhận thức Phật giáo Hòa Hảo, Nxb. Hương Sen, Sài

Gòn của Nguyễn Văn Hầu, xuất bản năm 1968 … và các công trình nghiên cứu về các phong trào yêu

nước xuất hiện ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX như Phong trào Đông Du ở Miền Nam, của tập thể tác

giả tham gia hội thảo “Phong trào Đông Du ở Miền Nam”, Nxb. Văn hóa Sài Gòn, TP.HCM, xuất bản

năm 2007; Phong trào Duy Tân ở Bắc, Trung, Nam; Miền Nam đầu thế kỷ XX - Thiên Địa hội và cuộc

minh tân, của Sơn Nam, Nxb Trẻ, TP.HCM, xuất bản năm 2003; Nam Kỳ khởi nghĩa do Lưu Phương

Thanh chủ biên, Nxb. TP.HCM, xuất bản năm 1990; Hội kín Nguyễn An Ninh, Nxb Nguyễn Tri

Phương, Chợ Lớn, xuất bản năm 1961… Tất cả đều là các công trình đi sâu nghiên cứu về những tổ

chức và phong trào yêu nước chủ yếu ở vùng Nam Bộ trong nửa đầu thế kỷ XX, nhưng bản thân mỗi

công trình chỉ đào sâu vào một tổ chức, một phong trào nhất định nên chưa bao quát được toàn bộ vấn

đề nghiên cứu tổng quan về các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ trong khoảng thời gian này, đặc biệt là

sự ảnh hưởng cũng như vai trò của Đảng đối với các phong trào yêu nước theo các xu hướng khác nhau

ở Nam Bộ.

Các công trình nói về những cá nhân có ảnh hưởng lớn đến sự xuất hiện và phát triển của các xu

hướng yêu nước ở Nam Bộ cũng gián tiếp đề cập đến mảng đề tài này. Ví dụ như các công trình: Bảy

Viễn - thủ lĩnh Bình Xuyên, tuyển tập của tác giả Nguyên Hùng Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội xuất

bản năm 2004; Phan Bội Châu niên biểu, Nxb. Văn Nghệ, TP.HCM, xuất bản năm 2001; Cao Triều

Phát, nghĩa khí Nam Bộ của Phan Văn Hoàng, Nxb Trẻ, TPHCM, xuất bản năm 2001; Phan Châu

Trinh - Thân thế và sự nghiệp, của Huỳnh Lý, Nxb Trẻ, TP.HCM, xuất bản năm 2002; Nguyễn An

Ninh - Dấu ấn để lại của Lê Minh Quốc, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, xuất bản năm 2007… Bởi trong một

chừng mực nào đó, đây là các cá nhân đại diện và tác động sâu sắc đến các xu thế yêu nước khác nhau

xuất hiện ở vùng Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, vì đối tượng nghiên cứu của các công trình

này chỉ là các cá nhân cụ thể, nên không thể đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về các phong trào yêu nước

ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX.

Các công trình nghiên cứu về lịch sử Đảng nói chung và lịch sử Đảng các địa phương ở Nam Bộ

như Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2000) của các tác giả Nguyễn Hữu

Trí, Nguyễn Thị Phương Hồng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2005; Lịch sử Đảng Bộ

Thành Phố Hồ Chí Minh, của Phạm Văn Thắng, Cao Tự Thanh và những người khác, Nxb Tổng hợp

TP.HCM, xuất bản năm 20007; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Minh Hải 1930 - 1975 của tác giả Huỳnh Lứa và

những người khác, Nxb. Mũi Cà Mau, xuất bản năm 1995… lại chủ yếu đề cập đến sự phát triển của

Đảng, với sự lãnh cụ thể bằng các chủ trương, sách lược trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể mà ít quan

tâm đến các phong trào yêu nước theo các khuynh hướng khác, đặc biệt là những đóng góp của các

phong trào này cho phong trào cách mạng nói chung ở Nam Bộ.

Đặc biệt gần gũi với đề tài này là công trình nghiên cứu của giáo sư Trần Văn Giàu: Sự phát triển

của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, gồm 3 tập ( tập 1: Hệ ý thức phong

kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, tập 2: Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó

trước các nhiệm vụ lịch sử, tập 3: Thành công của chủ nghĩa Mác Lênin - Tư tưởng Hồ Chí Minh),

Nxb TP. HCM, xuất bản năm 1993. Đây là công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu về mảng đề tài

tư tưởng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, và tất nhiên có đề cập đến vùng Nam Bộ. Nhưng vì công trình

này tập trung nghiên cứu về sự phát triển của tư tưởng trên phạm vi cả nước, nên việc đề cập đến

những xu hướng yêu nước ở Nam Bộ còn có những hạn chế nhất định, bởi đây chỉ là một bộ phận nhỏ

trong đối tượng nghiên cứu của công trình.

Tóm lại tất cả các công trình trên tuy hầu như đã khái quát được sự ra đời và phát triển của các xu

hướng yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, do các lý do chủ quan và khách quan, các

công trình trên chưa thật sự đào sâu nghiên cứu về vấn đề các xu hướng yêu nước ở vùng Nam Bộ nửa

đầu thế kỷ XX, đặc biệt là trong vấn đề phân tích vai trò của Đảng đối với các xu hướng yêu nước theo

các xu hướng khác nhau, vốn xuất hiện rất nhiều ở Nam Bộ giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Thực tế cho

thấy mỗi công trình chỉ phản ánh một khía cạnh nhỏ của toàn bộ mảng đề tài này. Do đó, thực hiện đề

tài này, hi vọng đề tài có thể kế thừa một cách tốt nhất những thành quả của các công trình nghiên cứu

đi trước để có thể khái quát lại một cách toàn diện và hệ thống hơn về toàn bộ vấn đề này.

4. Nguồn tư liệu

Nghiên cứu về lòng yêu nước là một mảng đề tài chủ đạo đối với các nhà nghiên cứu lịch sử. Đặc

biệt, đối với dân tộc Việt Nam, lòng yêu nước cũng là một trong những đặc điểm nổi bật nhất, là sợi chỉ

đỏ xuyên suốt tiến trình lịch sử dựng nước củacủa dân tộc. Nguồn tư liệu có thể phục vụ cho việc

nghiên cứu đề tài này, vì thế, vô cùng phong phú và đa dạng. Hơn thế nữa giai đoạn lịch sử nửa đầu thế

kỷ XX của Việt Nam, từ trước tới nay là một lĩnh vực mà các nhà sử học, trong nước và cả nước ngoài

đã dày công nghiên cứu.

Nguồn tư liệu đầu tiên không thể không nhắc đến đó là các công trình đại cương nghiên cứu về lịch

sử Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX. Có thể kể đến một số công trình: Đại cương lịch sử Việt Nam,

toàn tập: từ thời nguyên thủy đến năm 2000, Nxb. Giáo dục Hà Nội của Trương Hữu Quýnh và những

người khác, xuất bản năm 2003; Lịch sử Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa, Huế của Huỳnh Công Bá, xuất

bản năm 2008; Đại Cương Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội của tập thể tác giả Lê Mậu

Hãn chủ biên, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, xuất bản năm 2003…

Một nguồn tư liệu khác là các công trình nghiên cứu về cuộc đấu tranh chống Pháp ở Nam Bộ, công

trình này phần nào cũng trình bày một cách khái quát giống như các công trình đại cương nói trên,

nhưng chi tiết hơn rất nhiều bởi đây là các công trình chuyên sâu nghiên cứu về cuộc kháng chiến ở

Nam Bộ: Nam Bộ và Nam Phần Trung Bộ trong hai năm đầu kháng chiến (1945 - 1946), Nxb. Văn Sử

Địa, Hà Nội của Nguyễn Việt biên soạn xuất bản năm 1957; Chiến khu ở miền Đông Nam Bộ (1945 -

1954), Nxb. TP.HCM của Hồ Sơn Đài, xuất bản năm 1996; Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945 -

1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội do Trần Viết Tá chủ biên, xuất bản năm 1990; Miền Đông Nam

Bộ lịch sử và phát triển của Nguyễn Hanh, Nxb TPHCM, xuất bản năm 1984…

Tiếp theo là những công trình nghiên cứu về các đảng phái và tổ chức chính trị ở Nam Bộ trong

kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954, đơn cử như các công trình Bảy Viễn - thủ lĩnh Bình Xuyên, tuyển

tập, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội của tác giả Nguyên Hùng, xuất bản năm 2004; Nhận thức Phật

giáo Hòa Hảo, Nxb. Hương Sen, Sài Gòn của tác giả Nguyễn Văn Hầu, xuất bản năm1968; Bộ đội

Bình Xuyên, Nxb. Lao động, Hà Nội của tập thể tác giả Hồ Sơn Đài, Đỗ Tầm Chương, Hồ Khang, xuất

bản năm 2005; Đạo Cao Đài và chính trị, Luận văn tốt nghiệp, Học viện Quốc gia hành chánh, Sài

Gòn của Phan Kỳ Chưởng, niên khóa 1970 - 1973…

Các công trình nghiên cứu về các phong trào đấu tranh yêu nước của các tầng lớp nhân dân Nam Bộ

trong kháng chiến chống Pháp cũng là một nguồn tư liệu quý giá, có thể đem lại một cái nhìn toàn diện

về cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Bộ. Có thể kể đến các công trình như: Phụ nữ Nam Bộ thành

đồng, Nxb. Phụ Nữ, TP.HCM của Tổ sử phụ nữ Nam Bộ, xuất bản năm 1989; Trí thức Nam Bộ trong

kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Nxb.Đại học quốc gia, TP.HCM của Hồ Sơn Diệp, xuất bản

năm 2003…

Các công trình nghiên cứu lịch sử Đảng nói chung và lịch sử Đảng Bộ các địa phương ở Nam Bộ

cũng là một nguồn tư liệu cực kỳ quan trọng, nó giúp ta có một cái nhìn toàn diện hơn về những chủ

trương đối với vấn đề nghiên cứu các xu hướng yêu nước và các phong trào đấu tranh ở Nam bộ trong

giai đoạn này. Có thể kể đến các công trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện công nghệ bưu

chính viễn thông, Hà Nội, của Trần Thị Minh Tuyết, Nguyễn Thị Hồng Vân, xuất bản năm 2007, Lịch

sử Đảng bộ Miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 -

1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội của Lâm Hiếu Trung chủ biên, xuất bản năm 2003; Lịch sử

Đảng Bộ Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp TP.HCM của Phạm Văn Thắng, Cao Tự Thanh và

những người khác, xuất bản năm 2007; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Minh Hải 1930 - 1975, Nxb. Mũi Cà Mau

của Huỳnh Lứa và những người khác, xuất bản năm 1995…

Một nguồn tư liệu hết sức quan trọng khác là các tác phẩm thuộc thể loại hồi ký. Đây là những hồi

ức của những con người đã từng trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, là

những nhân chứng lịch sử. Có thể kể đến một số tác phẩm sau: Công nhân Nam Bộ trong khói lửa,

Nxb. Lao Động, Hà Nội của Vũ Ngọc Nguyên, xuất bản năm 1959; Nam bộ thành đồng Tổ quốc đi

trước về sau - Hồi ký kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội của nhiều tác

giả, xuất bản năm 1999… Tuy nhiên, các câu chuyện của họ trong hồi ký mặc dù sinh động và hấp dẫn

nhưng rất có thể không đảm bảo được sự chính xác. Một phần vì có sự thêm thắt, một phần vì trí nhớ

của các nhân chứng đó không đảm bảo sự chính xác tuyệt đối. Vì vậy, đối với các ông trình loại này

cần phải có sự thẩm định và đối chiếu với các công trình nghiên cứu khoa học khác.

Cũng gần giống như thể loại Hồi ký, các tiểu thuyết tư liệu về vùng Nam Bộ trong cuộc đấu tranh

trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược cũng có tính chất tương tự. Bất cứ một tiểu thuyết nào cũng

không thể tránh khỏi các tình tiết hư cấu. Đối với loại tiểu thuyết tư liệu, mặc dù tác giả đã cố gắng hạn

chế đến mức thấp nhất điều đó nhưng cố nhiên vẫn không thể nào loại bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, nếu

biết cách khai thác thì các tư liệu loại này cũng là một nguồn tư liệu hết sức quý giá, vấn đề chỉ là việc

thẩm định và lựa chọn các sự kiện một cách chính xác nhất. Các công trình loại này gồm có: Sư thúc

Hòa Hảo, tiểu thuyết tư liệu, Nxb. Tổng hợp Hậu Giang, xuất bản năm 1990 và Người Bình Xuyên, tiểu

thuyết tư liệu, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, xuất bản năm 1988 của tác giả Nguyên Hùng.

Các công trình nghiên cứu về lịch sử và văn hóa của vùng Nam Bộ cũng có tác dụng không nhỏ

trong việc phục vụ bổ trợ cho công tác nghiên cứu đề tài. Ví dụ như các công trình Văn hóa và cư dân

Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội của tập thể tác giả Nguyễn Công Bình, Lê

Xuân Diệm, Mạc Đường, xuất bản năm 1990; Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb. TP.HCM của

các tác giả Huỳnh Lứa chủ biên, Lê Quang Minh, Lê Văn Nam, Nguyễn Nghị, Đỗ Hữu Nghiêm, xuất

bản năm 1987; Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội do các tác giả Vũ Minh

Giang chủ biên, Nguyễn Quang Ngọc, Lê Trung Dũng, Cao Thanh Tân, Nguyễn Sỹ Tuấn, xuất bản

năm 2006…

Cuối cùng, đề tài cũng sử dụng một số tư liệu từ sách điện tử và internet. Đây là một nguồn tài liệu

vô cùng phong phú và đa dạng nhưng tính khoa học lại không cao. Vì vậy trong quá trình khai thác

nguồn tài liệu này rất cần có sự thận trọng, nhất thiết phải có sự so sánh, đối chiếu với các nguồn tài

liệu khác để thẩm tra. Có như vậy mới đảm bảo tính chính xác và khoa học cho đề tài.

5. Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, tôi có sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp tiếp cận hệ

thống, phương pháp lịch sử và phương pháp logic, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp so

sánh và một số phương pháp khác.

Bản thân lịch sử vùng Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX là một chỉnh thể bao gồm tổng hòa của các hệ

thống quan hệ. Cuộc đấu tranh của nhân dân ở Nam Bộ chống Pháp ở Nam Bộ thực chất chỉ là một bộ

phận của toàn bộ hệ thống đó. Hơn thế nữa lịch sử vùng Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX cũng không nằm

riêng rẽ độc lập mà chịu sự chi phối trực tiếp của bối cảnh thế giới trong giai đoạn ấy. Do đó, phương

pháp nghiên cứu của đề tài nhất thiết cũng phải tiến hành trên quan điểm của phương pháp tiếp cận hệ

thống. Đó là đặt quá trình xuất hiện, phát triển của các xu hướng đấu tranh yêu nước của nhân dân

Nam Bộ với tư cách là một bộ phận trong hệ thống bối cảnh của cuộc lịch sử Nam Bộ nói riêng và toàn

bộ cả nước nói chung, hay rộng hơn là trong hoàn cảnh cụ thể của thế giới giai đoạn đầu thế kỷ XX với

những mối liên hệ, tác động qua lại của các yếu tố, của các lĩnh vực khác nhau.

Phương pháp lịch sử thể hiện ở chỗ đặt bản thân vấn đề nghiên cứu các xu hướng yêu nước ở Nam

Bộ trong bối cảnh lịch sử cụ thể của giai đoạn đầu thế kỷ XX, trong mối tương quan lực lượng và tình

thế cụ thể giữa nhân dân ta và thực dân Pháp xâm lược. Bất cứ việc nhìn nhận hoặc đánh giá một vấn

đề nào cũng không thể không căn cứ vào bối cảnh lịch sử cụ thể cũng như đặc điểm riêng của điều kiện

tự nhiên - xã hội và con người Nam Bộ. Đồng thời, phương pháp lịch sử còn thể hiện ở chỗ diễn biến

của các sự kiện trong đề tài đều được trình bày theo trình tự thời gian.

Phương pháp lịch sử không được sử dụng riêng rẽ mà cần thiết phải đi kèm với phương pháp logic.

Nghiên cứu lịch sử không phải chỉ là dựng lại quá khứ, khôi phục lại những sự kiện đã xảy ra mà còn

phải tìm cho ra bản chất và quy luật của tiến trình phát triển của lịch sử. Phương pháp logic chính là

công cụ đóng vai trò giải thích các biến cố, liên kết các sự kiện, rút ra những quy luật trong quá trình

nghiên cứu. Đặc biệt trong vấn đề nhìn nhận và đánh giá tầm quan trọng của các xu hướng yêu nước ở

Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, phương pháp logic sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc làm rõ sự tác động

qua lại giữa các xu hướng yêu nước, sự chi phối của các điều kiện thực tế lịch sử cụ thể. Đồng thời qua

đó phương pháp logic cũng là công cụ để rút ra những bài học lịch sử cụ thể để vận dụng vào hoàn

cảnh xây dựng đất nước hiện nay, định hướng cho sự phát triển của dân tộc trong bối cảnh mới.

Cần nhấn mạnh rằng, phải có sự phối hợp sử dụng đồng thời cả hai phương pháp trên mới có thể

phát huy được hiệu quả nghiên cứu cao nhất. Bởi chúng có sự bổ sung và hỗ trợ cho nhau. Sử dụng

phương pháp này mà không sử dụng phương pháp kia hoặc sử dụng cả hai phương pháp mà không có

sự phối hợp với nhau thì cũng đều khó đi đến chân lý khách quan.

Sự phối hợp hai phương pháp trên đều dựa trên nền tảng của phương pháp duy vật biện chứng. Lịch

sử luôn luôn vận động và phát triển, nhưng sự vận động và phát triển đó không diễn ra một cách ngẫu

nhiên mà tuân theo quy luật, các biến cố lịch sử đều có nguồn gốc sâu xa từ những cơ sở kinh tế xã hội

của bản thân xã hội đó. Nhiệm vụ của người nghiên cứu lịch sử là phải tìm ra được bản chất của lịch sử

cũng như phát hiện ra cái nguyên nhân, cái quy luật chi phối tiến trình vận động của lịch sử. Và để có

thể giải thích được các biến cố lịch sử một cách khoa học và chính xác nhất, nhất thiết phải quán triệt

phương pháp duy vật biện chứng. Vấn đề nghiên cứu các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ

XX cũng không phải là ngoại lệ.

Riêng đối với đề tài này, phương pháp so sánh có vai trò đặc biệt quan trọng. Phương pháp so sánh

không chỉ là công cụ để thấy được sự phát triển của các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân

Nam Bộ trước và sau khi có sự lãnh đạo của Đảng, mà còn để thấy được những nét tương đồng và dị

biệt của các xu hướng yêu nước xuất hiện ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, cũng như tìm ra những nét

đặc thù của các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ với các địa phương khác trên phạm vi cả nước.

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương phác khác như phương pháp liên ngành (khai thác một

số tài liệu văn học, địa lý…), phương pháp liệt kê (để tìm hiểu một cách có hệ thống tất cả các xu

hướng yêu nước xuất hiện ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX) và một số các phương pháp khác.

Chỉ có sự vận dụng một cách nhuần nhuyễn và thích hợp toàn bộ các phương pháp trên mới có một

cái nhìn thực sự khách quan và đúng đắn khi xem xét, đánh giá một hiện tượng hay một cá nhân trong

lịch sử.

6. Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu về các xu hướng yêu nước xuất hiện ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX trong cách mạng

Việt Nam không phải là một đề tài mới. Các công trình đi trước gần như đã bao quát được mảng đề tài

này. Tuy nhiên, dựa vào kết quả của các nhà nghiên cứu đi trước, đề tài hi vọng có thể phát triển những

thành quả đó để có thể có những đóng góp mới cho ngành khoa học lịch sử nói chung và cả cho công

tác giảng dạy trong các trường phổ thông hiện nay.

Trước hết, đối với công tác nghiên cứu khoa học. Mặc dù mảng đề tài về các xu hướng yêu nước

xuất hiện ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX chỉ là một bộ phận rất nhỏ của lịch sử dân tộc Việt Nam nói

chung, nhưng thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề này, tôi hi vọng đề tài sẽ góp phần đưa

ra một cách tiếp cận giai đoạn lịch sử đầu thế kỷ XX của Việt Nam theo một hướng mới, để thông qua

đó có thể bổ sung thêm những tri thức quan trọng và cần thiết, nhằm lấp dần những khoảng trống trong

nhận thức về giai đoạn lịch sử của vùng Nam Bộ nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung trong giai

đoạn đầu thế kỷ XX. Những tri thức mà đề tài này đề cập chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ để có thể

nhận thức về một giai đoạn lịch sử hào hùng và vĩ đại của dân tộc Việt Nam một cách bao quát nhất,

khoa học nhất. Đồng thời, từ những nhận thức đúng đắn đó, chúng ta mới có thể rút ra những bài học

có giá trị thực tiễn đối với hoàn cảnh cụ thể hiện nay thông qua những bài học từ quá khứ.

Thứ hai, đối với công tác giảng dạy. Giai đoạn lịch sử nửa đầu thế kỷ XX là một nội dung hết sức

quan trọng trong chương trình giảng dạy lịch sử ở bậc phổ thông trung học. Việc có một công trình

nghiên cứu chuyên sâu về các xu hướng yêu nước, tuy chỉ gói gọn trong vùng Nam Bộ, nhưng cũng sẽ

là một điều kiện hết sức thuận lợi để người giáo viên phổ thông có thêm tư liệu và những kiến thức cần

thiết phục vụ cho công tác giảng dạy, góp phần làm cho việc giảng dạy trở nên sinh động và toàn diện

hơn. Và cuối cùng thông qua đó, có thể giáo dục cho thế hệ tương lai của đất nước niềm tự hào dân tộc,

lòng yêu nước nồng nàn để ra sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc thiêng liêng của dân tộc mình.

Những đóng góp của luận văn như trên có thể vẫn còn những hạn chế nhất định. Điều đó làm cho

đề tài rất cần có những ý kiến đóng góp phản biện của những người cùng làm công tác nghiên cứu lịch

sử. Đồng thời cũng đòi hỏi người thực hiện đề tài phải nỗ lực để tiếp tục hoàn thiện vấn đề này hơn nữa

trong tương lai.

7. Bố cục luận văn

Luận văn gồm có 162 trang, gồm:

Phần mở đầu

Chương một: Các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ từ đầu thế kỷ XX đến trước khi thành

lập Xứ ủy Nam Kỳ

Chương hai: Phong trào yêu nước ở Nam Bộ sau khi có sự lãnh đạo của Đảng đến

Cách mạng tháng Tám (1930 - 1945)

Chương ba: Đặc điểm và khuynh hướng phát triển của chủ nghĩa yêu nước ở Nam Bộ

Phần nội dung: Có ba chương

KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

Tài liệu tham khảo

B. PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG MỘT

CÁC XU HƯỚNG YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN

TRƯỚC KHI THÀNH LẬP

XỨ ỦY NAM KỲ

1.1 Một số nét khái quát về vùng Nam Bộ

1.1.1 Vấn đề tên gọi Nam Bộ và Nam Kỳ trong lịch sử Việt Nam

Trong lịch sử của các vùng miền lãnh thổ trên đất nước Việt Nam, có lẽ hiếm có địa phương nào lại

có một hoàn cảnh đặc biệt như vùng Nam Bộ. Đặc biệt ở cả những biến động thăng trầm của lịch sử và

cả vấn đề tên gọi. Có thể nói, vùng đất Nam Bộ từ khi in dấu chân con người đến nay đã trải qua không

ít lần thay đổi tên gọi. Mỗi tên gọi đều ứng với một giai đoạn lịch sử nhất định và có lẽ những tên gọi

ấy phần nào cũng gợi lên trong tiềm thức mỗi người dân Nam Bộ những hoài niệm và tự hào về một

thời đại đã qua của thế hệ cha ông nơi mảnh đất này.

Riêng đối với các nhà nghiên cứu lịch sử, thì việc nắm bắt một cách rõ ràng những tên gọi của vùng

đất Nam Bộ qua các thời kỳ phát triển lại càng quan trọng hơn nữa, bởi điều đó đảm bảo cho tính khoa

học của công tác nghiên cứu. Thể hiện sự chính xác của các công trình khoa học lịch sử. Và không chỉ

có vậy, trong một chừng mực nào đó, việc xác định và phân biệt rõ ràng các tên gọi của Nam Bộ trong

các giai đoạn khác nhau còn thể hiện tính đảng, tức lập trường chính trị của người nghiên cứu, do bởi

có những thời kỳ, những tên gọi của Nam Bộ có liên quan mật thiết đến yếu tố chính trị của những lực

lượng tranh chấp trên vùng đất vốn đầy biến động này.

Vì những lý do trên, có thể nói, đối với việc nghiên cứu về những xu hướng yêu nước ở Nam Bộ

nửa đầu thế kỷ XX, vấn đề tên gọi của vùng Nam Bộ trong giai đoạn ấy cũng là một vấn đề cần phải

chú ý và cần phải làm rõ.

Từ khi được sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam, vùng đất Nam Bộ đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau.

Vào năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu cho lập phủ Gia Định. Tên gọi Gia Định khi ấy là cái tên được

dùng để chỉ chung vùng lãnh thổ ở phía cực nam đất nước. Tất nhiên vùng lãnh thổ ấy chưa phải là

toàn bộ vùng Nam Bộ, mà nhỏ bé hơn khá nhiều. Cùng với quá trình mở rộng lãnh thổ, tên gọi Gia

Định mới dần dần được sử dụng để chỉ vùng đất tương ứng với Nam Bộ ngày nay.

Đến năm 1802 vua Gia Long đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định; năm 1808 lại đổi tên trấn Gia

Định ra thành Gia Định gồm năm trấn là Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên.

Năm 1832 vua Minh Mạng đổi tên thành Gia Định ra thành Phiên An, năm trấn trước kia được chia

lại thành sáu tỉnh (Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Năm 1835, tỉnh

Phiên An đổi tên là tỉnh Gia Định.

Như vậy tên Lục Tỉnh đã có từ năm 1832. Hai năm sau, tức năm 1834, Lục Tỉnh được gọi chung là

Nam Kỳ, theo nghĩa Kỳ là một cõi đất. Nam Kỳ là cõi đất phương Nam. Tên gọi Nam Kỳ Lục Tỉnh từ

ấy thực sự đã trở thành một tên gọi gắn liền với lịch sử dân tộc Việt Nam trong một giai đoạn dài sau

đó.

Khác với Việt Nam, thực dân Pháp sử dụng tên gọi Cochinchine để chỉ vùng Nam Bộ, phân biệt với

Bắc Kỳ là Tonkin, Trung Kỳ là Annam. Người Anh, Mỹ cũng gọi Nam Kỳ là Cochinchina. Giới học

giả trong và ngoài nước từng đưa ra nhiều cách lý giải khác nhau về xuất xứ tên gọi Cochinchine,

nhưng vẫn chưa ngã ngũ.

Sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa (1862) và ba tỉnh

miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (1867), thực dân Pháp xóa bỏ cách phân chia địa giới

hành chánh cũ của triều Nguyễn. Năm 1899, Lục Tỉnh của Nam Kỳ bị phân lại thành hai mươi mốt

tỉnh. Chia lại đất Nam Kỳ, có lẽ thực dân Pháp muốn xóa nhòa hai chữ Lục Tỉnh trong lòng người Việt,

cũng là cách cắt đứt lòng lưu luyến với truyền thống yêu nước của người dân Nam Bộ, một thủ đoạn

tâm lý bên cạnh các cuộc đàn áp những phong trào yêu nước kháng chiến. Song mặc dù vậy, cái tên

Nam Kỳ vẫn được duy trì cho đến tận năm 1945.

Sau cuộc đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9/3/1945, quân đội Nhật đã tuyên bố trao lại quyền

độc lập cho Việt Nam. Song song với quá trình thanh lập chính phủ, vua Bảo Đại cũng cho phân vùng

lãnh thổ Việt Nam thành ba khu vực hành chính, và đặt các chức quan Khâm sai thay mặt nhà vua để

cai quản từng vùng. Nam Bộ là khu vực tương ứng với Nam Kỳ cũ, theo nghĩa Bộ là một phần. Nam

Bộ là một phần đất nước ở phía Nam.

Tên gọi Nam Bộ được chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lựa chọn và được sử dụng lâu dài

cho đến tận ngày nay, thay cho tên gọi Nam Kỳ. Nam Bộ là một trong ba xứ, hai xứ kia là Bắc Bộ và

Trung Bộ.

Như vậy, với tư cách là một người nghiên cứu đương đại tìm hiểu về quá khứ. Trong bản thân đề tài

này chỉ sử dụng thuật ngữ Nam Bộ làm tên gọi thống nhất. Tuy nhiên, trong các tài liệu trích dẫn hoặc

trong một số trường hợp đặc biệt cụ thể, đề tài có thể vẫn sử dụng tên gọi Nam Kỳ, được dùng để chỉ

chung một đối tượng lịch sử. Tất cả đều không ngoài mục đích đảm bảo tính khoa học và tính đảng cho

đề tài nghiên cứu.

1.1.2 Đặc điểm tự nhiên - xã hội của vùng Nam Bộ

Vùng đất Nam Bộ Việt Nam là một vùng đồng bằng rộng lớn ở hạ lưu sông Mêkông, phía đông

giáp biển Đông, phía đông bắc giáp với cao nguyên Trường Sơn, phía tây giáp vịnh Thái Lan, phía bắc

nối liền với đồng bằng của Campuchia. Đất đai nơi đây rất màu mỡ do được phù sa của các hệ thống

sông Mêkông, sông Đồng Nai và các hệ sông nhỏ khác bồi đắp. Địa hình nhìn chung khá bằng phẳng

nhưng rất phức tạp. “Miền đông bắc có nền đất tương đối cao hơn các nơi khác của đồng bằng, nhưng

đổ về phía biển, mặt đất thấp, sông ngòi và kinh rạch quanh co chằng chịt, nhiều chỗ đồng lầy nước

đọng, nơi sinh trưởng của từng ngập mặn, của cây bần, cây đước… địa thế rất hiểm trở”. [59, tr 17]

Khí hậu của vùng Nam Bộ là khí hậu nhiệt đới gió mùa. Cây cối quanh năm xanh tốt, hệ động thực

vật rất đa dạng và phong phú. Hệ thống sông ngòi nơi đây chằng chịt, thuận lợi cho giao thông đi lại

cũng như phát triển các ngành kinh tế thủy sản. Tuy nhiên, hàng năm nước các con sông dâng lên gây

ra tình trạng ngập úng. Vì vậy vùng này rất nhiều vùng trũng ngập nước, tạo ra trở ngại lớn cho cư dân

sinh sống ở đây.

Do những đặc điểm của điều kiện địa hình, Nam Bộ được chia thành hai vùng thiên nhiên khá rõ

rệt: Vùng đất tương đối cao ở phía đông bắc thường được gọi là miền Đông Nam Bộ, diện tích khoảng 27.920 km2 và vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long thấp phẳng ở phía tây nam diện tích khoảng 39.590 km2.

Do mỗi vùng có những điều kiện tự nhiên rất khác biệt, dẫn đến nền tảng kinh tế và xã hội của hai

vùng cũng có sự khác biệt căn bản. Sự khác biệt ấy, đến đầu thế kỷ XX, lại trở thành tiền đề cho những

sắc thái rất khác nhau của các phong trào yêu nước ở đây.

Thực tế lịch sử cho thấy, vùng Nam Bộ là một trong những địa điểm đầu tiên có mặt con người sinh

sống và khai phá. Hơn thế nữa, văn minh của các cư dân nơi đây là một trong những nền văn minh vào

loại sớm nhất không chỉ của Việt Nam mà còn ở cả khu vực Đông Nam Á. Các di chỉ khảo cổ được

khai quật cho thấy vùng Nam Bộ đã có con người sinh sống ngay từ thời đại đá cũ. “Vào những năm

1968 - 1971, nhà địa chất học người Pháp E. Saurin đã công bố những phát hiện đồ đá cũ của ông tại

hai địa điểm Hàng Gòn 6 và Dầu Giây 2. Tiếp cho đến nay, nhất là từ năm 1975 đến nay, các nhà khảo

cổ học Việt Nam đã phát hiện thêm, được biết đến 14 địa điểm có công cụ thuộc thời đại đá cũ…”.

[67, tr 10]

Đến khi cư dân Nam Bộ bước vào ngưỡng cửa văn minh, việc lập quốc diễn ra vào khoảng đầu

công nguyên. Sau đó giai đoạn từ đầu công nguyên đến thế kỷ VII, vùng Nam Bộ là địa bàn chủ yếu

của vương quốc Phù Nam, quốc gia của những người Môn cổ. Vương quốc Phù Nam nhanh chóng phát

triển trở thành một nước hùng mạnh và tấn công chinh phục các nước xung quanh, trở thành một cường

quốc cổ đại Đông Nam Á. “Vào lúc cực thịnh, Phù Nam chiếm nhiều nước nhỏ xung quanh làm chư

hầu, lãnh thổ bao gồm diện tích ngày nay của Campuchia, vùng Hạ Lào, nam Thái Lan, nam Miến

Điện, bắc bán đảo Mã Lai, nam Trung Bộ và Nam Bộ của Việt Nam…”. [107, tr 42]

Các quốc gia lân cận Phù Nam ở Đông Nam Á đều phải thần phục quốc gia này. Tuy nhiên đến thế

kỷ VI, do những biến động của lịch sử, Phù Nam dần dần suy yếu, đó chính là lúc các thuộc quốc của

Phù Nam nổi lên tách khỏi sự lệ thuộc, thậm chí quay lại tấn công Phù Nam. Trong đó có quốc gia của

người Khơ me ở vùng bình nguyên Cò Rạt, quanh lưu vực sông Sê mun và trung lưu sông Mê công,

đang trong giai đoạn phát triển lớn mạnh.

Tộc người Khơ me vốn thần phục Phù Nam từ thế kỷ III. Sau đó nhân lúc Phù Nam gặp khủng

hoảng suy thoái, người Khơ me từ bỏ việc thần phục Phù Nam, thậm chí còn tiến hành cuộc nam tiến

chinh phục lại Phù Nam. Cuối cùng đến khoảng giữa thế kỷ VII, Phù Nam bị tiêu diệt. Trong khoảng

thời gian từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, vùng Nam Bộ thuộc quyền quản lý của vương quốc Chân Lạp.

Đến khoảng thế kỷ XVII - XIX, vùng Nam Bộ được chuyển vào tay những người Việt di cư.

Cho đến thế kỷ XVII, trên vùng đất Nam Bộ Việt Nam ngày nay, các cư dân Khơ me và các dân tộc

ít người khác đã sống lẻ tẻ, rải rác trên các giồng đất cao, các vùng đồi núi, với số lượng dân cư ít ỏi,

trình độ kỹ thuật thấp kém. Về cơ bản, vùng đất Nam Bộ thời điểm đó phần lớn vẫn còn là một vùng

đất hoang vu chưa được khai phá, mặc dù nơi đây từ lâu đã tồn tại nhiều lớp cư dân khác nhau từng

sinh sống.

Bước vào thế kỷ XVII, những biến động của lịch sử trên đất nước Đại Việt cũng kéo theo những

thay đổi lớn lao ở vùng đất Nam Bộ. Những tranh chấp quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến họ

Trịnh và họ Nguyễn dẫn tới cục diện chia cắt đất nước thành hai miền riêng biệt: Đàng Trong thuộc

quyền kiểm soát của chúa Nguyễn và Đàng Ngoài thuộc quyền kiểm soát của vua Lê chúa Trịnh.

Cuộc chiến tranh Đàng Trong - Đàng Ngoài nổ ra quyết liệt và kết quả là đất nước Đại Việt bị chia

cắt kéo dài suốt gần hai thế kỷ. Chiến tranh đã làm xáo trộn cuộc sống của người dân, là nguyên nhân

trực tiếp cũng như gián tiếp cho những cuộc di cư ồ ạt của người Việt về phía nam, trong đó một trong

những điểm đến quan trọng nhất chính là vùng Nam Bộ.

Cùng với quá trình di cư của người Việt, vùng Nam Bộ thế kỷ XVII - XVIII còn tiếp nhận thêm

một bộ phận cư dân lớn người Chăm vốn là những cư dân còn lại của vương quốc Champa vừa sụp đổ.

Bên cạnh đó dòng lưu dân vào vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII - XVIII còn phải kể đến người Hoa. Bộ

phận người Hoa này chủ yếu là quan quân nhà Minh và gia quyến của họ, vốn không chịu thần phục

nhà Mãn Thanh vừa được lập nên ở Trung Quốc.

Các lớp cư dân người Việt, người Hoa và người Chăm đua nhau kéo vào vùng Nam Bộ để tìm một

cuộc sống mới. Vùng đất Nam Bộ bắt đầu được khai phá trên quy mô rộng lớn.

Các thành quả khai phá của các cư dân mới đến đã thực sự làm thay đổi bộ mặt của vùng đất Nam

Bộ. Và cuối cùng từ những phong trào di cư tự phát, chính quyền chúa Nguyễn và sau này là vương

triều Nguyễn đã thực hiện tiếp các hoạt động chính trị để sát nhập thành công vùng đất Nam Bộ vào

lãnh thổ của mình.

Tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp đưa lịch sử của vùng Nam Bộ bước sang một trang mới.

Sau khi không thành công trong việc tấn công ở Đà Nẵng năm 1858. Thực dân Pháp quay xuống tấn

công Nam Bộ, thực hiện chủ trương đánh lâu dài. Bằng các thủ đoạn quân sự và chính trị, thực dân

Pháp đã thành công trong việc thôn tính Nam Bộ. Đến nửa cuối thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn ký

hai bản hiệp ước Nhâm Tuất (1862) và Giáp Tuất (1874), cắt vùng Nam Bộ cho Pháp.

Như vậy, từ thời điểm ấy trên danh nghĩa vùng đất Nam Kỳ coi như trở thành một bộ phận của lãnh

thổ nước Pháp, không giống như Trung Kỳ và Bắc Kỳ chỉ là xứ bảo hộ. Chính quyền nhà Nguyễn hoàn

toàn không còn chút quyền hạn nào trên khu vực này. Chính quyền trung ương Nam Kỳ do người Pháp

nắm giữ, nhưng hệ thống chính quyền từ cấp tổng trở xuống thì được tuyển lựa từ người bản xứ. Việc

tuyển lựa từ cuối năm 1918 được cải cách theo hướng dân chủ hóa, nhưng thật ra, điều đó chỉ có lợi

cho một bộ phận tầng lớp trên của xã hội, được Pháp sử dụng như một thứ tay sai để củng cố bộ máy

cai trị thực dân ở đây.

Lợi dụng những yếu tố thuận lợi của điều kiện tự nhiên Nam Bộ, các chính sách, mục tiêu, biện

pháp của thực dân Pháp trong việc khai thác vùng Nam Bộ có những sắc thái rất riêng biệt.

Vùng Đông Nam Bộ chủ yếu phát triển các đồn điền, nhất là đồn điền cao su. “Loại cây công

nghiệp duy nhất trong số các cây công nghiệp và cũng là loại canh tác duy nhất trong số các loại canh

tác được người Pháp du nhập vào vùng đất Nam Kỳ dưới thời thuộc Pháp phát triển được và có một

tầm mức tương đối quan trọng, đó là cây cao su” [59, tr 205]. Những đồn điền cao su mọc lên nhiều,

nhưng hầu như nằm hoàn toàn trong tay người Pháp, bởi nó đòi hỏi một số vốn khổng lồ và chậm đem

lại lợi nhuận. Các loại cây công nghiệp khác như đay, cà phê, tiêu cũng có được trồng ở một số nơi

nhưng không chiếm vị thế quan trọng trong cơ cấu kinh tế như cây cao su.

Còn miền Tây Nam Bộ lại trở thành một vựa lúa khổng lồ. Diện tích canh tác lúa chiếm ưu thế

tuyệt đối trong vốn đất canh tác. Năm 1913, diện tích trồng lúa ở đây là 1.426.485 ha, năm 1921 là

1.758.383 ha, năm 1930 là 2.112.500 ha. Hơn hẳn diện tích canh tác lúa vùng Đông Nam bộ, vốn chỉ

trên dưới 300.000 ha.

Do ảnh hưởng từ chính sách khai thác của Pháp, vùng Nam Bộ xuất hiện những tầng lớp mới: Đại

địa chủ, tư sản, trí thức tây học, tiểu tư sản… Một bộ phận trong số đó dựa vào quyền lực của thực dân

Pháp, câu kết với kẻ thù, phản bội quyền lợi của quốc gia dân tộc; nhưng bộ phận còn lại, vẫn có phần

nào tinh thần yêu nước, và trong những điều kiện cụ thể, họ cũng có tham gia với một chừng mực nào

đó các phong trào yêu nước, đặc biệt nếu phong trào ấy có đề cập đến lợi ích của họ.

Giai cấp công nhân, xuất hiện khá sớm ở Nam Bộ, nhưng do những đặc thù của điều kiện kinh tế xã

hội nên có những đặc điểm rất đặc trưng. Giai cấp công nhân ở Nam Bộ ra đời sớm, số lượng phát triển

khá nhanh, đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Cùng với sự du nhập những luồng tư tưởng tiến

bộ, đặc biệt là chủ nghĩa Mác Lênin, giai cấp công nhân Nam Bộ dần hình thành và trở thành ngọn cờ

đầu trong các phong trào yêu nước.

Do điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử cụ thể nói trên, cư dân và nền kinh tế xã hội Nam Bộ đã

xuất hiện những nét đặc thù. Từ đó phong trào yêu nước ở Nam Bộ trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX

cũng có xu hướng phát triển riêng, không giống với các địa phương khác trên đất nước Việt Nam. Nhân

dân Nam Bộ đứng lên chống Pháp ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta.

Cuối thế kỷ XIX, các phong trào khởi nghĩa vũ trang chống Pháp từ Nam chí Bắc về cơ bản đều đã thất

bại, trong đó bao gồm cả các phong trào ở Nam Bộ.

Nhưng dân tộc Việt Nam vốn có một tinh thần đấu tranh bất khuất, càng bị đè nén bao nhiêu càng

quyết liệt vùng lên quật khởi bấy nhiêu. Sự thất bại tạm thời của các phong trào yêu nước ấy không thể

dập tắt được ý chí quật cường đó.

Đến đầu thế kỷ XX, những người yêu nước Việt Nam nói chung và người dân Nam Bộ nói riêng

vẫn cố gắng tìm ra một con đường đi mới giải phóng cho dân tộc thoát khỏi xích xiềng nô lệ. Trước

những biến động lớn lao của tình hình trong nước và thế giới trong hoàn cảnh mới, các xu hướng trong

phong trào đấu tranh yêu nước ở Nam Bộ không ngừng nở rộ, điểm thêm những nét vẽ sinh động cho

bức tranh lịch sử bi tráng nhưng cũng thật đáng tự hào của dân tộc Việt Nam.

1.2 Các phong trào yêu nước chống Pháp trước khi có sự lãnh đạo của Đảng ở Nam Bộ

1.2.1 Các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp theo xu hướng phong kiến: Phong trào

Hội kín Nam Kỳ

Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã cơ bản bình định xong và thiết lập được

bộ máy cai trị thực dân ở vùng Nam Bộ. Từ năm 1874, Nam Kỳ chính thức trở thành thuộc địa của

Pháp. Với việc thi hành chính sách trực trị, chính quyền nhà Nguyễn hoàn toàn không còn chút quyền

hạn nào trên khu vực này. Nói cách khác, vùng đất Nam Kỳ bị biến thành một phần lãnh thổ của nước

Pháp ở Đông Dương. Vùng Nam Kỳ từ đó khi ấy được định nghĩa là “một phần đất thuộc gia sản đất

đai của nước Pháp và được cai trị trực tiếp bởi những người đại diện cho nước Pháp”. [59, tr 164]

Trong bối cảnh đó, các cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp không còn điều kiện thuận lợi để phát

triển nữa. Điều này có thể nhận thấy rõ qua phong trào Cần Vương, một phong trào nổ ra dưới sự lãnh

đạo của phái chủ chiến trong triều định Huế, đứng đầu là Tôn Thất Thuyết. Các cuộc khởi nghĩa Cần

Vương nổ ra trên khắp các địa phương miền Bắc và miền Trung nhưng ở Nam Bộ, phong trào gần như

im ắng. Đó không phải do người dân Nam Bộ thờ ơ với vận mệnh quốc gia dân tộc, mà thực sự là do

chưa có những điều kiện để chống Pháp một cách rầm rộ như những giai đoạn trước.

Mặc dù vậy, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Nam Bộ vẫn được duy trì một

cách bền bỉ. Một hình thức đấu tranh mới xuất hiện dưới hình thức thành lập các hội kín là minh chứng

cho điều đó.

Theo giáo sư Trần Văn Giàu, “danh từ “hội kín” mãi cho đến vụ án Nguyễn An Ninh năm 1929 thì

mới phổ biến trên báo tiếng Việt để dịch chữ “sociétés secrète”của Pháp; chứ hồi cuối thế kỷ XIX, đầu

thế kỷ XX cái tên của những tổ chức bí mật (…) không phải là “hội kín” mà là “Hội…”. [33, tr 565 -

566]

Các hội bí mật mọc lên rất nhiều, hễ có bao nhiêu hội thì có bấy nhiêu tên gọi khác nhau: Duy Tân,

Hòa Đồng, Nghĩa Hòa, Nhân Hòa… và đặc biệt là tổ chức Thiên Địa Hội. Thiên Địa hội vốn có nguồn

gốc từ Trung Quốc, theo chân những người Hoa phản Thanh phục Minh du nhập vào Việt Nam. Thiên

Địa Hội nhanh chóng được những người Việt Nam yêu nước ủng hộ để phát triển thành phong trào đấu

tranh chống Pháp dưới hình thức hội kín ở Nam Bộ trong những năm đầu thế kỉ XX.

Những nơi có phong trào hội kín phát triển mạnh là Biên Hoà, Gia Định, Mỹ Tho, Bạc Liêu, Rạch

Giá, Bến Tre, Châu Đốc.

Mục đích chủ yếu của các hội kín là chống Pháp, quan lại tham ô, khôi phục Việt Nam. Những hội

kín ở Nam Kỳ mang màu sắc tôn giáo, nhưng tôn giáo chỉ là phương tiện để tập hợp, cố kết các thành

viên lại với nhau, còn mục đích chung vẫn là đấu tranh chống bọn đế quốc cướp nước và bọn phong

kiến tay sai bán nước. Tôn giáo và phương thuật (pháp sư, bùa chú, uống máu ăn thề, dùng tiếng lóng,

dấu hiệu riêng để liên lạc...) chỉ giữ vai trò trong việc tổ chức hội viên và tuyên truyền cho dân chúng.

“Tuy các hội kín chịu nhiều ảnh hưởng của thầy chùa (Phật), thầy pháp (Đạo), nhưng trong hội kín,

trong các cuộc trực tiếp hành động khởi nghĩa thì hoàn toàn không có thầy chùa, thầy pháp nào hết.

Cộng tất cả các vụ bị bắt năm 1916, chỉ phát hiện thấy hai thầy pháp trong hội kín toàn Nam Kỳ, còn

thầy chùa thì chỉ can dự ở cấp lãnh đạo bên trên thôi. Lực lượng hội kín là lực lượng của người dân

thường, người thế tục”. [33, tr 569]

Nghĩa quân của các hội này có chừng vài trăm người được vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác đã tiến

hành đánh phá các trụ sở mộ lính, phá nhà giam, bắt giết bọn quan lại tay sai gian ác. Thực dân Pháp e

ngại hội kín, những kẻ cường hào ác bá cũng sợ hãi mà không dám hung hăng. Sức mạnh thực sự của

hội kín không phải chỉ nằm ở bản thân số hội viên hội kín, mà trong những trường hợp cụ thể, khi trực

tiếp đấu tranh, các hội kín có thể và thực sự đã huy động, lôi kéo được một bộ phận quần chúng, đặc

biệt là tầng lớp dân lao khổ.

Trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XX đến những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất, các hội

kín Nam Kỳ thực hiện được hàng loạt những hoạt động yêu nước có tiếng vang lớn, trong đó tiêu biểu

là việc phát động phong trào đấu tranh chống chính sách động viên của thực dân Pháp và cuộc đột nhập

phá Khám Lớn ở Sài Gòn.

Trước hết, về phong trào chống chính sách động viên. Từ cuối năm 1915 đầu 1916, trong bối cảnh

thực dân Pháp tăng cường hoạt động vơ vét sức người sức của để đổ vào cuộc chiến tranh đế quốc, các

hội kín ở Nam Bộ ngày càng hoạt động mạnh mẽ để chống lại chính sách đó. Các cuộc xung đột vũ

trang đã lẻ tẻ nổ ra ở một số nơi.

Cuối tháng 1/1916, các hội kín ở Trà Vinh tổ chức bạo động, công khai chống chính sách mộ lính

của thực dân Pháp. Cũng trong thời gian này, các hội kín ở Biên Hòa cũng vũ trang nổi dậy, nhà ngục

Biên Hòa bị phá.

Tháng 2/1916, nhóm hội kín của Vương Văn Lê, Nguyễn Văn Thạch, Lê Văn Hà nổi lên ở Tây

Ninh, nhóm hội kín Nguyễn Văn Huệ tấn công Ô Cấp - Bà Rịa. Ngoài ra còn có một số cuộc nổi dậy ở

những nơi khác.

Các cuộc tấn công lan rộng, nhưng lực lượng các hội kín rất yếu, vũ khí chủ yếu chỉ là gậy gộc,

súng đạn rất ít, lại tin vào bùa phép nên thực dân Pháp dễ dàng đàn áp. Phong trào cuối cùng đành tạm

lắng xuống.

Bên cạnh phong trào chống chính sách động viên của thực dân Pháp, cuộc đột nhập phá Khám Lớn

Sài Gòn cũng là một trong những hoạt động gây tiếng vang lớn nhất của phong trào hội kín Nam Kỳ.

Cuộc đấu tranh này gắn liền với tên tuổi của Phan Xích Long (1893 - 1916). Ông tên thật là Phan Phát

Sanh, tên tự là Lạc, con trai của Phan Núi, một viên chức cảnh sát gốc Hoa ở Chợ Lớn.

Năm 1912, Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Văn Hiệp, hai nhân sỹ yêu nước tôn Phan Phát Sanh làm

lãnh tụ Thiên Địa Hội, nhằm tập hợp lực lượng chống Pháp. Sau đó Phan Phát Sanh đổi tên là Phan

Xích Long, tự xưng là Đông cung (con vua Hàm Nghi), tự phong là hoàng đế.

Buổi đầu, Phan Xích Long đặt cơ sở đầu tiên ở Cần Vọt (Campuchia). Ở đó, nhờ tiền quyên góp,

ông cho cất một ngôi chùa để làm nơi tụ họp, chế tạo lựu đạn, trái phá, in truyền đơn đưa ra tuyên cáo

Phản Pháp phục Nam, kêu gọi mọi người chống Pháp... Sau này, ông lập căn cứ ở vùng núi Thất Sơn

(Châu Đốc, tỉnh An Giang).

Đêm 23 rạng sáng ngày 24/3/1913 Phan Xích Long tổ chức rải truyền đơn và đặt bom tại một số nơi

quan trọng ở Sài Gòn. Kế hoạch không thành công vì các trái bom đều không nổ và vì kế hoạch đã bị

lộ. Bản thân Phan Xích Long đã bị bắt hai ngày trước đó tại Phan Thiết. Các thành viên hội kín ở vùng

Gò Vấp, Hóc Môn đột nhập vào nội thành Sài Gòn, cả thảy đều bị bắt giam.

Năm 1913, tòa án Nam Kỳ đã đưa ông ra xét xử, tha bổng 57 người, riêng Phan Xích Long bị lãnh

án chung thân khổ sai, bị giam giữ tại Khám Lớn (Sài Gòn).

Năm 1916, nhân lúc Pháp bại trận trong Thế chiến thứ nhất, khoảng 300 hội viên của hội kín "Thiên

Địa Hội" ở Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Cần Giuộc, Cần Đước v.v..., tìm cách phá

ngục cứu ông.

Đêm 16/2/1916, đúng 3 giờ sáng, tất cả hội viên do Nguyễn Hữu Trí cầm đầu, đều được uống bùa,

cổ mang phù chú, từ sông cầu Ông Lãnh với áo đen, quần trắng, khăn quấn cổ màu trắng, tay cầm giáo

mác (không có súng) chia làm ba nhóm đột nhập nội thành Sài Gòn.

Gần tới nơi, ba nhóm nhập lại rồi chia ra thành hai hướng tiến đến Khám Lớn và Dinh Thống đốc

Nam Kỳ. Do có phòng bị từ trước, quân Pháp đã kịp thời đối phó. Lính Pháp xả đạn vào đám người chỉ

có giáo mác và bùa chú. Nghĩa quân tan vỡ, một số bị chết, bị thương và nhiều người bị bắt. Cuộc tấn

công nhanh chóng bị đàn áp đẫm máu.

Sau đó, tòa kết tội tử hình 38 người tại cánh đồng Tập Trận vào ngày 22/2/1916, trong đó có Phan

Xích Long là người cầm đầu. Ngày 16/3/1916, tử hình thêm 13 người nữa, cũng tại địa điểm trên. Như

vậy, sau 2 lần bắn và 6 người đã chết trước, tổng cộng là 57 người. Những người chết đều được chôn

tại nghĩa địa Đất Thánh Chà ở đường Hiền Vương (nay là đường Võ Thị Sáu).

Ngoài Sài Gòn, 13 trên tổng số các tỉnh Nam Bộ đều có các cuộc nổi dậy. Quần chúng đánh chiếm

nhiều trụ sở xã, tuần hành. Nhưng cũng giống như Sài Gòn, các cuộc đấu tranh nhanh chóng bị dập tắt

mà không chiếm được tỉnh lị nào.

Có thể nói phong trào hội kín là một hình thức đấu tranh rất đặc biệt của nhân dân Nam Bộ vào đầu

thế kỷ XX. Hội kín là biểu hiện của một xu hướng đấu tranh theo đường lối phong kiến, từ cơ cấu tổ

chức đến ý thức hệ. Nhưng trong bối cảnh mà xu hướng đấu tranh cứu nước theo hình thức phong kiến

do nhà Nguyễn đứng đầu vốn đã thất bại trước những thách thức của lịch sử, thì dư âm của nó thông

qua phong trào hội kín cũng chỉ là sự níu kéo trong vô vọng của những người dân Nam Bộ yêu nước.

Lực lượng yếu, chưa đề ra được một con đường đấu tranh đúng đắn. Hơn nữa việc nhuộm màu sắc tôn

giáo, sử dụng pháp thuật cho các phong trào đấu tranh cũng là một hạn chế lớn. Phong trào hội kín đã

bị đàn áp. Nhưng một điểm hết sức đặc biệt đáng phải ghi nhận là, tuy không thành công nhưng phong

trào hội kín không hề thất bại. Bản thân phong trào hội kín vẫn có những đóng góp nhất định vào

phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung.

Thứ nhất, bản thân phong trào Hội kín vẫn mang những giá trị tích cực. Hội kín xuất phát từ sự cố

kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau của những con người lao khổ. Điều lệ của hội dạy những hội viên

phải biết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau. Đó là sự nối tiếp truyền thống tốt đẹp từ ngàn xưa của dân tộc,

vẫn được phát huy trong cảnh tang thương của một đất nước đang rên xiết trong xích xiềng nô lệ. Giá

trị tích cực ấy sẽ còn được nối tiếp và phát huy trong những giai đoạn đấu tranh tiếp theo của người dân

Nam Bộ.

Thứ hai, mặc dù thực lực của bản thân hội kín không mạnh, nhưng thực sự trong một số cuộc đấu

tranh cụ thể, hội kín đã thu hút được một số lượng đông đảo các tầng lớp trong xã hội cùng tham gia.

Những kinh nghiệm về tập hợp lực lượng, cách thức tổ chức đấu tranh bí mật và bạo động cũng là

những bài học quý giá cho những nhà cách mạng ở Nam Bộ trong giai đoạn tiếp theo.

Cuối cùng, tuy bị đàn áp nhưng hội kín không hề lụi tắt và tan rã. Sức sống bền bỉ ấy sau đó nhanh

chóng đã hòa nhập những tàn dư còn lại của hội kín với những phong trào đấu tranh theo các xu hướng

mới, tiến bộ hơn (tư sản, vô sản…). Góp phần nuôi dưỡng lòng yêu nước và tinh thần quật khởi của

nhân dân Nam Bộ.

1.2.2 Phong trào yêu nước theo xu hướng tư sản

Sự tồn tại của phong trào đấu tranh theo xu hướng phong kiến dưới hình thức hội kín ở Nam Bộ kéo

dài qua gần cả 20 năm đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh mà xu hướng đấu tranh này đã thất bại từ trước

đó rất lâu trên phạm vi cả nước là một điểm rất đặc biệt của lịch sử vùng Nam Bộ. Tuy nhiên, đến đầu

thế kỷ XX, trong bối cảnh chung của cả nước và thế giới, các phong trào đấu tranh ở Nam Bộ cũng bắt

đầu xuất hiện một xu hướng mới, tiến bộ hơn: Xu hướng tư sản.

“Đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX là khi ở Việt Nam chưa có giai cấp tư sản thì

tư tưởng dân chủ đã đến”. [21, tr 62] Ở thời điểm chế độ phong kiến khủng hoảng đối với vấn đề lãnh

đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong lúc mà một bầu không khí bi quan tràn ngập khắp nơi, khi

các cuộc khởi nghĩa chống Pháp đều đã bị kẻ thù dìm trong bể máu, thì những luồng tư tưởng dân chủ

mới mẻ qua tân thư, tân văn, sách báo tiến bộ đã ào ạt đổ vào Việt Nam như một luồng gió mát làm dịu

đi sự bức bối của đêm hè nóng nực. Những sỹ phu yêu nước Việt Nam nhanh chóng tiếp nhận những

quan điểm tiến bộ đó, và bắt đầu xúc tiến một con đường cứu nước mới theo ngọn cờ dân chủ tư sản.

Liền sau đó, một phong trào yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản bùng nổ trên phạm vi cả nước, cụ

thể là các phong trào Duy Tân và Đông Du.

Từ đầu thế kỷ XX, khi các phong trào yêu nước mới theo xu hướng dân chủ tư sản được các sỹ phu

yêu nước Việt Nam phát động rầm rộ, vùng Nam Bộ cũng có những hoạt động hưởng ứng tích cực. Hai

trụ cột của phong trào Duy Tân: Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều hết sức chú ý đến vùng Nam

Bộ, bởi tiềm lực tài chính, và truyền thống yêu nước của cư dân nơi đây.

Thực tế đã cho thấy, “phong trào Đông Du là cuộc vận động cứu nước do Duy Tân Hội phát động

dưới sự lãnh đạo của Phan Bội Châu và Cường Để ở những năm đầu thế kỷ XX, phát triển rộng khắp

trong cả nước. Riêng Nam Kỳ có bước phát triển sâu rộng nhất, có lãnh đạo, có tổ chức và có những

điều kiện khả thi để cho phong trào Đông Du phát triển”. [73, tr 24]

Điều kiện để phong trào Đông Du phát triển ở Nam Bộ thực sự thuận lợi hơn rất nhiều so với các

địa phương khác trên cả nước, do bởi vùng Nam Bộ, với tư cách là một khu vực trực trị của chính

quyền Pháp, đã có một nền kinh tế - văn hóa tiếp cận với nền kinh tế thị trường ở một mức độ sâu rộng

và trong thời gian dài. Những luồng ý thức hệ tư sản vì vậy có điều kiện nảy sinh và phát triển một

cách mạnh mẽ, mà điều đó lại là một nhân tố quan trọng hàng đầu cho việc xu hướng yêu nước tư sản

ra đời và khẳng định vị thế của mình trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX nói

chung.

Đối với Phan Bội Châu, ngay từ khi thành lập Duy Tân Hội, ông cùng với một số nhà lãnh đạo của

Hội đã nghĩ đến việc tranh thủ những thế mạnh của vùng Nam Bộ để tạo tiềm lực cho cuộc đấu tranh

chống Pháp. Ngay từ năm 1903, Phan Bội Châu đến Châu Đốc, mục đích để thăm dò khả năng cách

mạng ở nơi đây. Đến năm 1907, theo sáng kiến của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, ông soạn bài văn: Ai

cáo Nam kỳ phụ lão để vận động các nhân sỹ yêu nước Nam Bộ, trong đó có đoạn:

Thương ôi! Lục tỉnh Nam Kỳ

Ngàn năm cơ nghiệp còn gì hay không?

Mịt mù một giải non sông,

Hỡi ai, ai có đau lòng chăng ai?

Hưởng ứng lời kêu gọi đó, hàng loạt các sỹ phu Nam Bộ đã hoạt động rất tích cực để ủng hộ phong

trào Duy Tân. Có thể kể đến những nhà yêu nước vĩ đại như: Bùi Chi Nhuận, Nguyễn Thần Hiến, Trần

Chánh Chiếu, Nguyễn An Khương…

Trần Chánh Chiếu không chỉ đấu tranh tích cực trên mặt trận tuyên truyền thông qua báo chí, mà

còn thành lập công ty Nam Kỳ Minh Tân Công Nghệ, mở các khách sạn như Minh Tân khách sạn ở

Mỹ Tho và Nam Trung khách sạn ở Sài Gòn để vừa tìm kiếm kinh phí vừa tạo cơ sở hoạt động cho

phong trào Duy Tân.

Nguyễn Thần Hiến lập Khuyến du học hội, đem phần lớn gia sản để ủng hộ quỹ du học sinh. Bản

thân ông cũng từng dẫn một đoàn thanh niên xuất dương sang Nhật, sau đó hội kiến với Phan Bội Châu

và Cường Để. Sau khi trở về nước, ông tiếp tục tích cực hoạt động để phát triển phong trào Duy Tân ở

Nam Bộ.

Nguyễn An Khương bỏ vốn lập Chiêu Nam Lầu ở Sài Gòn. Bề ngoài đây là một cơ sở kinh doanh

nhưng thực chất đây là địa điểm hoạt động của các nhà yêu nước, là trạm chuyển tiếp thanh thiếu niên

để đưa sang Nhật du học.

“Nhờ sự hoạt động nhiệt tình của các chí sỹ kể trên mà phong trào Đông Du ở Nam Kỳ, trong

những năm 1907 - 1908, phát khởi khá mạnh. Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1907, riêng miền Tây đã có

hơn 30 thanh thiếu niên xuất dương. Năm 1908, trong hơn 200 du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản, có

hơn 100 học sinh đến từ Nam Kỳ. Đây cũng là nơi có mức đóng góp kinh phí nhiều nhất cho phong

trào”. [73, tr 166 - 167]

Phong trào Duy Tân ở Nam Bộ trên thực tế gồm có các nội dung cơ bản sau: Sử dụng báo chí để

khuấy động lòng yêu nước, vận động tài chính và phát triển phong trào Đông Du.

Đối với việc vận động các nguồn tài chính, ngoài sự vận động đóng góp của các nhà yêu nước, bản

thân những nhân sỹ cốt cán trong phong trào Duy Tân Nam Kỳ cũng tích cực tổ chức các hoạt động

kinh doanh để tạo nguồn tài chính phục vụ hoạt động yêu nước. Trong một thời gian ngắn, “15 tổ chức

khác đã hưởng ứng phong trào, rải rác ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ, từ Biên Hòa đến Rạch Giá

nhằm mua bán lúa gạo, lập quán ăn, lập nhà in hoặc nhằm mục đích cho vay nhẹ lời, lập công ty dược

để bào chế thuốc bắc theo hình thức Âu dược. Lại còn có sáng kiến lập công ty tàu thủy đưa đò”. [66,

tr 38]

Ở Nam Bộ, điều kiện để huy động tài chính thuận lợi hơn rất nhiều so với miền Bắc và miền Trung.

Các cơ sở kinh doanh nơi đây thành lập rất nhiều, rải đều khắp các tỉnh, hoạt động đa dạng, với sự góp

vốn của nhiều đại điền chủ, nghiệp chủ, các chức sắc người Việt trong bộ máy chính quyền… nên các

cơ sở này có một tiềm lực kinh tế rất mạnh. “Mỗi cơ sở quy tụ được từ mấy chục đến hàng trăm, có

công ty có đến hàng ngàn người hùn vốn. Tùy theo công ty lớn nhỏ, mà số vốn đóng góp ở mỗi cơ sở ,

có nơi chỉ là bạc ngàn, có nơi là tiền muôn, tiền triệu. Con số này nói lên nhiệt tình của giới điền chủ

đối với công cuộc Minh Tân”. [73, tr 35 - 36]

Bên cạnh các hoạt động kinh doanh chấn hưng kinh tế, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị, tư

tưởng cũng diễn ra sôi nổi. Các tờ Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn, Đuốc Nhà Nam… lần lượt

ra đời. Các Báo công khai cổ súy cho phong trào Duy Tân, kêu gọi sự đoàn kết của đồng bào, chống

quan lại tham nhũng…

Báo Nông Cổ Mín Đàm ra số đầu tiên ngày 1/8/1901, nguyên là của Canavaggio, một hội viên của

Hội đồng Quản hạt. Sau khi Canavaggio qua đời năm 1902, quyền điều khiến tờ báo thuộc về Nguyễn

Chánh Sắt (chủ bút) và Nguyễn Tấn Phong (quản lý). Đến năm 1905, các cây bút của phong trào Duy

Tân sử dụng tở báo này như một phương tiện hoạt động yêu nước hiệu quả. Họ liên tiếp xuất hiện trên

mặt báo với các bài viết sắc sảo, hô hào canh tân, cải cách nông nghiệp, thương mại… Đặc biệt, từ khi

Trần Chánh Chiếu lên làm chủ bút năm 1907, ông đã cho công khai trên mặt báo chủ trương Duy Tân,

kêu gọi các nghiệp chủ, điền chủ, chức sắc… gia nhập vào Hội Minh Tân.

Báo Lục Tỉnh Tân Văn chính thức phát hành ngày 15/11/1907 tại Sài Gòn. Chủ báo là Pièrre

Jeantet, nguyên là chánh tham biện. Mặc dù là một người Pháp, nhưng Pièrre Jeantet là một người rất

tiến bộ, có tư tưởng chống lại chủ nghĩa thực dân. Những người yêu nước Nam Kỳ nhanh chóng tìm

đến tờ báo như một bến đỗ an toàn để hoạt động trên mặt trận công khai. “Với tờ báo này, nhóm Minh

Tân đẩy mạnh hơn nữa việc quảng bá công khai chủ trương canh tân, hô hào thành lập các cơ sở kinh

doanh, phổ biến kinh nghiệm hoạt động làm ăn, mua bán, trồng trọt, cung cấp thông tin kinh tế, giá cả

thị trường, hỗ trợ việc thành lập công ty, kêu gọi đoàn kết chống lại hành động lũng đoạn thị trường

của giới tư sản Hoa kiều… Về mặt chính trị, rõ ràng đây là tờ báo đối lập, công khai kêu gọi đấu tranh

chống thực dân Pháp với chủ đích rõ rệt, được xem là tờ báo đối lập đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt

Nam”. [73, tr 34 - 35]

Song song với các hoạt động báo chí và kinh doanh, phong trào Đông Du ở Nam Bộ cũng được xúc

tiến ngày càng mạnh mẽ. Hàng loạt thanh niên Nam Bộ khi ấy được sự động viên của gia đình cũng đã

gia nhập phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng. Năm 1907 - 1908, số du học sinh Nam

Kỳ chiếm tới 50% số du học sinh cả nước.

“Về tổ chức đã thành lập được “Khuyến du học hội”, lãnh đạo “Khuyến du học hội” là những nhà

yêu nước như Nguyễn An Khương, Trần Chánh Chiếu, Đặng Thúc Liêng, Nguyễn Thần Hiến, người

khởi xướng tổ chức “Khuyến du học hội” đầu tiên là Nguyễn Thần Hiến. Sau lớp nhà yêu nước lão

thành còn có những thanh niên yêu nước tham gia “Khuyến du học hội” là Nguyễn Quang Diêu,

Hoàng Hưng, Lý Diêu, Lưu Quang Bật, Lê Văn Sao, Đỗ Văn Y, Nguyễn Truyện”. [73, tr 24 - 25]

Phong trào Đông Du ở Nam Bộ thực sự đạt một tầm vóc hơn hẳn các địa phương khác trên cả nước.

Điều đó không chỉ thể hiện ở sự áp đảo về số lượng du học sinh Nam Kỳ so với Bắc Kỳ hay Trung Kỳ,

mà còn thể hiện bằng tiềm lực tài chính cũng như tấm lòng mà các nhà yêu nước Nam Kỳ đóng góp

cho phong trào.

Hưởng ứng lời kêu gọi “khuyến quốc dân tư trợ du học văn” của Phan Bội Châu, nhân dân Nam Bộ

trở thành đối tượng hưởng ứng mạnh mẽ nhất. “Nhiều yếu nhân của phong trào Đông Du như Bùi

Quang Chiêu, Nguyễn An Khương, Nguyễn Thần Hiến đã đem một phần gia sản lớn của mình ủng hộ

quỹ du học sinh”. [73, tr 27]

Những hoạt động tích cực đó ở Nam Bộ và trên phạm vi cả nước đã nhanh chóng bị thực dân Pháp

chú ý. Kết quả là phong trào bị đàn áp, một số nhân sỹ yêu nước có hoạt động tích cực nhất bị bắt.

Nhưng phong trào yêu nước theo xu hướng tư sản ở Nam Bộ không vì thế mà tan rã. Nó vẫn tồn tại và

bắt đầu có những sự điều chỉnh để phù hợp hơn với hoàn cảnh mới. “Vì vậy phong trào Đông Du, xét

về mặt phong trào đã giữ vị trí chuyển tiếp giữa phong trào cách mạng kiểu cũ sang phong trào cách

mạng kiểu mới, đứng về mặt con người đã giữ vai trò chuyển giao thế hệ, vừa kết thúc một thời kỳ cũ

vừa mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử yêu nước cách mạng ở nước ta”. [73, tr 19] Có thể nói, xu

hướng yêu nước tư sản do các sỹ phu phong kiến phát động, dù thất bại nhưng cũng đã kịp hoàn thành

vai trò lịch sử của mình.

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, xu hướng yêu nước tư sản Việt Nam nói chung và ở Nam Bộ nói

riêng có những bước phát triển mới. Cùng với các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội

vùng Nam Bộ có những chuyển biến mạnh mẽ. Giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản đã hình thành và

ngày càng đông đảo. Do bị thực dân Pháp cạnh tranh, chèn ép, tư sản và tiểu tư sản Việt Nam, trừ một

bộ phận có quyền lợi gắn với thực dân Pháp, cơ bản vẫn có tinh thần đấu tranh yêu nước.

Đến đây, xu hướng yêu nước tư sản mới thực sự có nền tảng xã hội từ giai cấp tư sản và tầng lớp

tiểu tư sản vừa mới ra đời. Các phong trào đấu tranh yêu nước theo xu hướng này tiếp tục được nở rộ.

Năm 1919, một phong trào tẩy chay tư sản Hoa kiều bùng lên trên phạm vi cả nước. Tại Nam Bộ

thời điểm đó, Sài Gòn trở thành một trong những trung tâm chủ yếu của phong trào. Cuộc vận động

này diễn ra trong khi thế lực của tư sản Việt Nam, trong đó có tư sản Nam Kỳ vừa mới ra đời, vẫn còn

yếu ớt về lực lượng và non nớt về chính trị. Vậy nên không có gì khó hiểu khi phong trào nhanh chóng

lắng xuống khi thực dân Pháp tìm cách ngăn chặn. Bản thân cuộc đấu tranh cũng chưa dám chĩa mũi

nhọn tấn công vào kẻ thù chủ yếu là thực dân Pháp, mà chỉ là một trong những đối thủ cạnh tranh vốn

được Pháp dung túng để đàn áp nhân dân Việt Nam. Nhưng dẫu sao, nó cũng thể hiện tinh thần dân

tộc, thể hiện tinh thần yêu nước của giai cấp tư sản Việt Nam.

Năm 1923, tiến thêm một bước so với phong trào tẩy chay tư sản Hoa Kiều, cuộc vận động chống

độc quyền thương cảng Sài Gòn, vốn được Hội đồng thuộc địa giao cho một công ty Pháp, bùng nổ

kịch liệt, lôi kéo được đông đảo thanh niên trí thức tư sản và tiểu tư sản ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ.

Các cuộc míttinh được tổ chức, nhiều tờ báo công khai ủng hộ cuộc đấu tranh. Trước áp lực đấu tranh

mạnh mẽ, và nhất là phong trào đã tranh thủ được các lực lượng tiến bộ ở ngay nước Pháp, thực dân

Pháp đã phải nhượng bộ. Đây là một trong những thắng lợi đầu tiên của xu hướng yêu nước theo xu

hướng dân chủ tư sản, do giai cấp tư sản Nam Kỳ phát động. Cuộc đấu tranh này đã trực tiếp tấn công

vào tư bản Pháp, song quy mô còn nhỏ bé, đối tượng chỉ là một công ty tư bản, chứ chưa phải là thực

dân Pháp nói chung. Mặc dù vậy, thắng lợi này cũng mở đường cho những phong trào đấu tranh rộng

lớn hơn của xu hướng dân chủ tư sản trong giai đoạn kế tiếp.

Cũng trong năm 1923, Đảng Lập hiến của Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long được thành lập tại

Nam Bộ. Tuy chưa có cương lĩnh chính trị, tổ chức cũng chưa chặt chẽ, hơn nữa những yêu sách của

Đảng Lập Hiến còn khá mơ hồ, chỉ đòi những quyền lợi cho giai cấp tư sản Việt Nam, đặc biệt là giai

cấp tư sản Nam Kỳ, nhưng dẫu sao, sự thành lập của Đảng Lập hiến cũng là một trong những cố gắng

lớn của giai cấp tư sản Việt Nam nói chung và giai cấp tư sản Nam Kỳ nói riêng trên con đường khẳng

định vị thế của mình trên vũ đài chính trị.

Trong các phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi sau đó, hàng loạt các tổ chức yêu nước của tầng lớp

trí thức, tiểu tư sản tiến bộ tiếp tục ra đời, thể hiện sự lớn mạnh của xu hướng yêu nước dân chủ tư sản,

tiêu biểu là Đảng Thanh Niên của Trần Huy Liệu, tổ chức Thanh niên Cao Vọng của Nguyễn An Ninh.

Năm 1925, Phan Bội Châu bị bắt, nhân dân Nam Bộ cũng lập tức hăng hái hưởng ứng phong trào

đấu tranh lên án thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Bộ thời điểm đó cũng đã góp

phần không nhỏ làm cho thực dân Pháp phải nhượng bộ.

Năm 1926, Phan Châu Trinh mất ở Sài Gòn. Đám tang của cụ trở thành một cuộc biểu dương lực

lượng lớn chưa từng có của quần chúng yêu nước Nam Bộ. Tại Sài Gòn, đám tang được tổ chức trọng

thể, huy động đến 14 vạn người tham gia. Hội đồng tang lễ được lập ra bao gồm đại diện của Đảng

Thanh Niên và Đảng Lập Hiến. Quy mô và khí thế của đám tang đã làm cho thực dân Pháp phải e ngại,

tìm cách trấn áp. Ngay lập tức, nhiều cuộc bãi công, bãi khóa nổ ra để phản đối. Đám tang Phan Châu

Trinh đã thực sự vượt ra khỏi ý nghĩa của một đám tang thông thường mà biến thành một cuộc biểu

dương lực lượng của quần chúng nhân dân Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung.

Cùng với việc tổ chức đám tang cụ Phan Châu Trinh, năm 1926 còn diễn ra phong trào yêu nước

dưới danh nghĩa đón tiếp Bùi Quang Chiêu. Năm 1925, Bùi Quang Chiêu sang Pháp và tổ chức một

cuộc vận động lớn đòi Pháp phải ban hành các quyền tự do dân chủ ở Việt Nam. Các yêu sách gồm

chín điểm chính:

1. Tự do ngôn luận,

2. Tự do báo chí.

3. Tự do hội họp và lập hội.

4. Tự do đi lại.

5. Cải cách giáo dục.

6. Điều chỉnh chế độ lương bổng công bằng giữa người Pháp và người Việt.

7. Nới rộng quyền đại diện chính trị.

8. Nâng cao đời sống lao động.

9. Bãi bỏ độc quyền kinh tế.

Chuyến đi không đạt kết quả và ngày 24/3/1926, Bùi Quang Chiêu phải trở về nước mà không đạt

được ý định. Tuy nhiên, nhân cơ hội này, Đảng Thanh Niên chủ trương phát động một số lượng lớn

quần chúng đến đón tiếp Bùi Quang Chiêu, nhằm phát triển thành một cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ

cho dân tộc. Cuộc đón tiếp Bùi Quang Chiêu lập tức nhận được sự hưởng ứng nhiệt thành của các tầng

lớp nhân dân, thu hút hàng vạn người tham gia.

Tuy nhiên, Bùi Quang Chiêu và Đảng Lập Hiến vốn chủ trương bất bạo động, chỉ mong muốn đấu

tranh bằng phương pháp hòa bình. Trước khí thế cách mạng của quần chúng đang lên cao, Bùi Quang

Chiêu và Đảng Lập Hiến không muốn phong trào phát triển quá xa. Vậy nên Bùi Quang Chiêu ngay

sau đó đã công khai phản đối bạo động, tuyên bố trung thành với chủ nghĩa Pháp Việt đề huề.

Thái độ tiêu cực đó của Bùi Quang Chiêu không hề làm cho phong trào lắng xuống, mà tiếp tục

phát triển mạnh mẽ theo một hướng khác: đả đảo Bùi Quang Chiêu, phản đối chủ nghĩa Pháp Việt đề

huề của Đảng Lập Hiến. Khí thế ấy được cụ thể hóa trong cuộc đấu tranh đòi thả Nguyễn An Ninh diễn

ra ngay sau đó.

Cùng ngày Bùi Quang Chiêu về nước, Nguyễn An Ninh, một trí thức yêu nước có uy tín lớn, bị

thực dân Pháp bắt giam và tuyên án hai năm tù. Trước tình hình đó, Đảng Thanh Niên đã phát truyền

đơn kêu gọi nhân dân đấu tranh đòi trả tự do cho Nguyễn An Ninh. “Một cuộc tổng đình công đã được

dự định tổ chức ở khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn. Tại một vài nơi như Ngân hàng Đông Dương, hẵng cao

su Labbé, công nhân và viên chức đã nghỉ việc để phản đối bản án”. [80, tr 724]

Lo ngại trước sự phát triển mạnh của các phong trào đấu tranh, thực dân Pháp đối phó quyết liệt.

Các cuộc đấu tranh bị đàn áp dữ dội, nhiều đảng viên Thanh Niên lãnh đạo các cuộc đấu tranh bị bắt

giữ. Phong trào đấu tranh vì thế dần dần bị lắng xuống.

Có thể nói, các phong trào đấu tranh theo xu hướng tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã lôi kéo

được đông đảo quần chúng tham gia nhưng không đạt được những thành quả lớn vì bản thân sức mạnh

của xu hướng này chưa đủ mạnh và có cả nguyên nhân từ tính chất thỏa hiệp của giai cấp tư sản.

Từ các phong trào đấu tranh yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản ở Nam Bộ, có thể đưa ra một

số nhận xét sau:

Thứ nhất, do đặc điểm của vùng Nam Bộ là vùng đất trực trị của thực dân Pháp, nền kinh tế ở đây

có thể nói là khá phát triển so với các vùng miền khác trên phạm vi cả nước, do đó, giai cấp tư sản và

tầng lớp trí thức tiểu tư sản ở đây phát triển khá mạnh. Điều này giải thích vì sao các phong trào đấu

tranh theo xu hướng dân chủ tư sản ở Nam Bộ rất sôi động và mang những bản sắc riêng biệt so với các

địa phương khác.

Thứ hai, từ đầu thế kỷ XX đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất là xu hướng yêu nước tư sản

hình thành dưới sự phát động của các sỹ phu phong kiến có tinh thần dân tộc chịu ảnh hưởng của các

luồng tư tưởng dân chủ mới du nhập vào nước ta. Đến sau chiến tranh, giai cấp tư sản và tầng lớp trí

thức tiểu tư sản mới trưởng thành, trên nền tảng mà các sỹ phu đã dày công gây dựng, các phong trào

đấu tranh theo xu hướng này bùng nổ mạnh mẽ, thực sự làm cho thực dân Pháp phải e ngại.

Thứ ba, các phong trào yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản phát huy được sức mạnh không chỉ

bởi sức mạnh của bản thân giai cấp tư sản và tầng lớp trí thức tiểu tư sản mà nhờ thu hút được một số

lượng đông đảo quần chúng tham gia. Điều đó khẳng định rằng, trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, xu

hướng yêu nước dân chủ tư sản là một xu thế tiến bộ, là ngọn cờ đầu trong việc khuấy động các phong

trào đấu tranh, nuôi dưỡng tinh thần yêu nươc cho nhân dân Nam Bộ.

Thứ tư, các phong trào đấu tranh theo xu hướng dân chủ tư sản cuối cùng đều chưa thành công, hay

chỉ đạt được những thắng lợi nhỏ tạm thời. Điều này có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Thực

dân Pháp lúc này còn rất mạnh, bộ máy cai trị thực dân vẫn ổn định chứ chưa có dấu hiệu khủng hoảng.

Thêm vào đó, các phong trào tuy rầm rộ nhưng chưa có một đường lối chiến lược đúng đắn, bản thân

giai cấp tư sản, đầu tàu lôi kéo phong trào thì lại yếu ớt và thỏa hiệp. Vậy nên khi bị kẻ thù đàn áp, các

cuộc đấu tranh nhanh chóng xẹp xuống.

Thứ năm, xu hướng yêu nước tư sản ban đầu có sự thống nhất, nhưng sau đó bắt đầu có dấu hiệu

chia rẽ thành hai xu hướng nhỏ: Xu hướng tư sản dân tộc cải lương và xu hướng tư sản dân tộc cách

mạng. Xu hướng tư sản dân tộc cải lương cũng có phát động được một số phong trào đấu tranh, nhưng

xu hướng này nhanh chóng bị phong trào yêu nước nói chung của quần chúng vượt qua. Còn xu hướng

tư sản dân tộc cách mạng thì vẫn đóng vai trò quan trọng ở Nam Bộ, nhưng thực sự không thể vươn lên

trở thành một thế lực lớn mạnh trong vũ đài chính trị Nam Bộ.

Đến những năm 20 của thế kỷ XX, ở Nam Bộ chứng kiến diễn ra sự dung hòa, chuyển tiếp giữa xu

hướng dân chủ tư sản và xu hướng yêu nước vô sản. Cuối năm 1926 đầu năm 1927 tổ chức Thanh niên

Cao Vọng được thành lập do Nguyễn An Ninh khởi xướng. Đây là một tổ chức thiên về xu hướng cộng

sản, trong giai đoạn sau này, đa số yếu nhân cốt cán của Thanh Niên Cao Vọng đều là những thành

viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể nói, từ các phong trào yêu nước do các sỹ phu khởi xướng,

và những tàn dư của phong trào Hội kín được Nguyễn An Ninh cải tổ lại, minh chứng cho bước chuyển

giao của xu hướng yêu nước theo hướng phong kiến và xu hướng tư sản. Thì việc các tổ chức như

thanh niên Cao Vọng, Đảng Thanh Niên lại là một bước quá độ để ra đời một xu hướng yêu nước mới,

tiến bộ hơn, để đáp ứng những yêu cầu khách quan của lịch sử. Đó là phong trào yêu nước Nam Bộ

nhất thiết cần phải có một tổ chức lãnh đạo tiến bộ với một đường lối đấu tranh tiến bộ hơn, kiên quyết

hơn. Nhu cầu đó nhanh chóng được thỏa mãn khi chủ nghĩa Mác Lênin bắt đầu phát huy ảnh hưởng

mạnh mẽ ở Nam Bộ.

1.3 Sự du nhập và phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin ở Nam Bộ

1.3.1 Quá trình du nhập của chủ nghĩa Mác Lê nin vào Nam Bộ

Vùng Nam Bộ, sau khi trở thành thuộc địa của Pháp, du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ

nghĩa từ rất sớm. Bởi vậy giai cấp công nhân ở đây có điều kiện thuận lợi nhất định để hình thành và

phát triển.

Có thể nói ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, vùng Bắc Bộ mới là nơi tập trung công nhân với số lượng

đông đảo nhất, do nơi đây tập trung khá nhiều các loại mỏ quặng. Nhưng sự phát triển của giai cấp

công nhân ở Nam Bộ cũng không hề thua kém. Thành phần chủ yếu của giai cấp công nhân Nam Bộ

bao gồm công nhân các đồn điền cao su và công nhân các ngành công nghiệp và thương nghiệp. “Riêng

tại Nam Kỳ, bên cạnh công cuộc khai thác đồn điền cao su miền Đông, các ngành công nghiệp thương

mại cũng phát triển mạnh, chủ yếu là Sài Gòn – Chợ Lớn. Tiêu biểu như năm 1905, Sài Gòn và Chợ

Lớn có chín nhà máy xay, sử dụng 700 đến 800 sức ngựa. Năm 1905, nhà máy Ba Son đã có 2000 công

nhân”. [72, tr 59]

Đặc biệt, các ngành công thương nghiệp, nhất là các đồn điền cao su ở Nam Bộ bấy giờ tuyển mộ

rất nhiều các đối tượng lao động ở các tỉnh đồng bằng miền Bắc. “Bằng những thủ đoạn dụ dỗ và

cưỡng ép, trong vòng 10 năm từ 1919 đến 1929, thực dân Pháp đã mộ được 87.371 người ở Bắc Kỳ và

Bắc Trung Kỳ đưa vào Nam làm trong các đồn điền”. [58, tr 18] Vậy nên ở Nam Bộ thời điểm đó “quá

trình vô sản hóa trên phạm vi cả nước không bó hẹp tại chỗ đã làm cho các trung tâm công nhân mang

tính chất toàn quốc”. [72, tr 14]

Công nhân ở Nam Bộ, cũng như các địa phương khác trên cả nước bị áp bức bóc lột nặng nề, lại kế

thừa truyền thống yêu nước nồng nàn của dân tộc nên đã biết nổi dậy đấu tranh từ rất sớm.

Những cuộc đấu tranh đầu tiên của công nhân Nam Bộ được hòa chung với những phong trào hội

kín, đang phát triển mạnh mẽ lúc bấy giờ. Tuy nhiên, giai đoạn sau đó, khi mà phong trào hội kín tỏ ra

bế tắc, thì phong trào công nhân lại ngày càng phát triển mạnh mẽ theo một con đường riêng.

Năm 1912, cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son và bãi khóa của học sinh trường Bá Nghệ

nổ ra dưới sự lãnh đạo của Tôn Đức Thắng. Sau cuộc đấu tranh này, Tôn Đức Thắng bị chính quyền

thực dân Pháp truy lùng nên phải tạm lánh ra nước ngoài, nhưng cuộc đấu tranh này thực sự là một dấu

ấn đối với sự phát triển của phong trào công nhân Nam Bộ.

Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất cũng có tác động không nhỏ đến sự phát triển của giai cấp

công nhân Việt Nam nói chung và giai cấp công nhân Nam Bộ nói riêng. Để đỡ một phần gánh nặng

chiến tranh cho chính quốc, thực dân Pháp tăng cường đầu tư phát triển nền công thương nghiệp thuộc

địa. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp

ở Đông Dương, giai cấp công nhân càng có điều kiện trưởng thành. “Giai cấp công nhân Việt Nam lớn

mạnh với sự lớn mạnh của nền công nghiệp, đặc biệt tính tập trung của nó ngày càng cao, số lượng

công nhân kỹ thuật ngày càng nhiều hơn trước, làm cho nó ngày càng trở thành một lực lượng quan

trọng trong xã hội Việt Nam”. [3, tr 49]

Năm 1917, Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi. Chủ nghĩa Mác - Lênin bắt đầu lan tỏa khắp toàn

cầu. Trong thời kỳ sau chiến tranh, rất nhiều thủy thủ, lính thợ Việt Nam hồi hương đã mang theo

những hiểu biết mới tư tưởng mới và cả những kinh nghiệm mới của giai cấp công nhân các nước tư

bản Phương Tây về nước. Giai cấp công nhân Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng đã bắt đầu biết

đến Cách Mạng Tháng Mười và các tác phẩm của chủ nghĩa Mác – Lênin. Và trên cơ sở đó dần tiếp thu

được ánh sáng cách mạng.

Đặc biệt, năm 1920 ở Sài Gòn nổ ra một cuộc bãi công lớn của 226 thủy thủ trên năm chiếc tàu lớn

ở cảng Sài Gòn đòi tăng phụ cấp và phản đối việc thực dân Pháp đưa lính Đông Dương sang đàn áp

cách mạng Xiri. Các thủy thủ tuy không phải là công nhân Việt Nam nhưng lại được sự ủng hộ của rất

nhiều người Việt Nam tiến bộ. Cuộc bãi công đã có tác động rất sâu sắc đến phong trào đấu tranh của

giai cấp công nhân Nam Bộ bấy giờ, cả về khía cạnh tinh thần cách mạng và cách thức tổ chức đấu

tranh.

Cũng trong năm 1920, Tôn Đức Thắng về nước, và sau đó bí mật thành lập Công hội đầu tiên ở Sài

Gòn, đánh dấu bước phát triển mới của phong trào công nhân Nam Bộ. “Công hội do đồng chí Tôn

Đức Thắng sáng lập đã bắt nhịp cầu đưa chủ nghĩa Mác – Lênin đến với công nhân. Công hội Sài Gòn

– Chợ Lớn tuy không rộng lớn nhưng lại là một tổ chức bí mật đồng nhất và hoạt động có tổ chức

trong khoảng thời gian 1920 – 1925”. [72, tr 65] Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Nam Bộ từ

chỗ đấu tranh tự phát, đơn thuần nhằm vào kinh tế, dần dần đi vào tổ chức và có mục đích chính trị rõ

ràng.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân Nam Bộ, thông qua những hoạt động

của Nguyễn Ái Quốc và nhiều nhà yêu nước khác, các sách báo cách mạng đã bắt đầu du nhập vào Việt

Nam, truyền bá một cách sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin vào Nam Bộ, tạo tiền đề cho sự xuất hiện của

các tổ chức cộng sản trong giai đoạn sau này.

1.3.2 Sự phát triển của chủ nghĩa Mác Lê nin ở Nam Bộ đến trước khi thành lập Xứ Ủy Nam Kỳ

Trước sự ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của chủ nghĩa Mác Lênin. Những tổ chức yêu nước theo

xu hướng vô sản bắt đầu hình thành và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, khuấy

động các phong trào yêu nước ở Nam Bộ.

Đặc biệt, năm 1921, Liên đoàn công nhân tàu biển ở Viễn Đông đã được thành lập, thu hút cả một

số công nhân, thủy thủ ở Nam Bộ tham gia, chứng minh sự liên hệ chặt chẽ giữa phong trào công nhân

trong nước và quốc tế.

Phong trào công nhân vì vậy cũng có những bước phát triển mới.

Tháng 11/1922, được sự ủng hộ của Công hội bí mật, một cuộc bãi công lớn của 600 thợ nhuộm ở

Chợ Lớn nổ ra. Cuộc bãi công cuối cùng đã thắng lợi, các chủ xưởng đã phải nhượng bộ trước các yêu

sách của công nhân đưa ra.

Tháng 8/ 1925, cuộc bãi công lớn của 1000 công nhân Ba Son. Mục đích của cuộc bãi công không

chỉ là đòi hỏi những quyền lợi cho công nhân Ba Son mà mục đích chính là nhằm giữ chiếc tàu

Michelet không cho thực dân Pháp đưa quân sang đàn áp cách mạng Trung Quốc. Công hội đã vận

động cả các nhà máy, công sở khác ủng hộ công nhân Ba Son. Kết quả cuộc bãi công đã giành thắng

lợi, và không chỉ có vậy, thắng lợi của công nhân Ba Son còn góp phần không nhỏ vào thắng lợi của

công nhân và thủy thủ Trung Quốc.

“Rõ ràng, cuộc bãi công Ba Son năm 1925 là cuộc đấu tranh đầu tiên có tổ chức và có lãnh đạo.

Cuộc bãi công này không chỉ nhằm vào mục tiêu kinh tế, mà cao hơn nữa còn nhằm vào mục đích

chính trị, thể hiện tinh thần đoàn kết giai cấp, đoàn kết quốc tế của công nhân Việt Nam với những

người anh em Trung Quốc”. [80, tr 728]

Tháng 6/1925, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ra đời tại Quảng Châu (Trung Quốc). Ảnh

hưởng của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên nhanh chóng lan tỏa đến Nam Bộ. Năm 1926, Tôn Đức

Thắng và toàn bộ công hội Sài Gòn – Chợ Lớn đều gia nhập vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.

Năm 1927, tại Sài Gòn, Kỳ Bộ Nam Kỳ được thành lập với bí thư là Phan Trọng Bình.

Dưới sự lãnh đạo của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, phong trào công nhân ở Nam Bộ, bùng

nổ mạnh mẽ hòa cùng với phong trào công nhân và phong trào yêu nước trên phạm vi toàn quốc. Có

thể kể đến hàng loạt các cuộc đấu tranh như: công nhân nhà máy cao su Sài Gòn (7/1926), công nhân

đồn điền cao su Phú Riềng (8 – 9/ 1927), công nhân nhà máy nước đá Larue Sài Gòn (2/1928), công

nhân nhà máy xay gạo Chợ Lớn (2/1928), công nhân nhà máy in Portail Sài Gòn (5/1928)…

Tuy nhiên, ở Nam Bộ thời gian này không chỉ chịu ảnh hưởng của Hội Việt Nam cách mạng thanh

niên, mà còn có cả những cơ sở của Tân Việt cách mạng đảng. Tân Việt cách mạng đảng là một tổ

chức yêu nước, ban đầu tuy chưa có lập trường giai cấp rõ rệt, nhưng qua các hoạt động tiếp xúc với

Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, lập trường chính trị của Tân Việt dần dần thay đổi và chuyển

sang xu hướng vô sản. Tại Nam Bộ, tổ chức kỳ bộ của Tân Việt có bí danh là “Dũng kỳ”.

Mặc dù vậy, địa bàn chủ yếu của Tân Việt vẫn là ở Trung Kỳ, còn ở Nam Kỳ, do ảnh hưởng của

Hội Việt Nam cách mạng thanh niên khá mạnh, thêm vào đó, bản thân các thành viên Tân Việt cũng

ngày càng có xu hướng gia nhập vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, nên cơ sở của Tân Việt

trong quần chúng không được rộng rãi.

Năm 1929, các phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Nam Bộ tiếp tục phát triển mạnh.

Tiêu biểu là các cuộc bãi công của công nhân đồn điền mía Phú Mỹ (Bà Rịa), công nhân hãng buôn

Sacne (Sài Gòn), công nhân đồn điền cao su Phú Riềng, công nhân các nhà in Chợ Lớn…

Trước sự lớn mạnh của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, hội Việt Nam cách mạng

thanh niên bắt đầu phân hóa. Ở Nam Bộ khi ấy cũng chứng kiến sự phân hóa sâu sắc của xu hướng yêu

nước cộng sản. Nơi đây có cả cơ sở của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Tân Việt Cách mạng

Đảng. Khi bộ phận hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Bắc Kỳ tách ra thành lập Đông Dương Cộng

sản Đảng, và ảnh hưởng ngày càng mạnh đến phong trào đấu tranh yêu nước, bộ phận còn lại của hội

Việt Nam cách mạng thanh niên ở Nam Bộ bèn tự cải tổ lại thành tổ chức An Nam cộng sản Đảng. Tổ

chức Tân Việt cách mạng đảng trước những thay đổi mau lẹ của thực tiễn lịch sử, cũng cải tổ thành

Đông Dương cộng sản liên đoàn.

Như vậy ở Nam Bộ, xu hướng yêu nước theo con đường cộng sản đến trước năm 1930 tuy có sự

phát triển nhưng không có sự thống nhất, giống như hoàn cảnh chung trên phạm vi cả nước.

Sự hình thành các tổ chức cộng sản tuy là một sự phát triển đáng ghi nhận, nhưng thực chất cũng

gây ra nhiều bất lợi cho phong trào cách mạng chung của dân tộc. Đầu năm 1930, thực hiện theo chỉ thị

của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc tiến hành hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Hương Cảng

(Trung Quốc). Từ sau sự thống nhất này, chủ nghĩa Mác Lênin ở Nam Bộ mới có được những tiền đề

để phát triển trong giai đoạn mới.

Trung tuần tháng 2/ 1930, các đại diện của An Nam cộng sản Đảng là châu Văn Liêm và Nguyễn

Thiệu về tới Sài Gòn sau khi dự hội nghị thành lập Đảng ở Hương Cảng (Trung Quốc). Các cuộc tiếp

xúc với những chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng diễn ra suôn sẻ, và cuối cùng, Chấp ủy của Đảng

Cộng sản Việt Nam ở Nam Kỳ ra đời, bí thư là Ngô Gia Tự.

Sau khi thành lập, Ban lâm thời Chấp ủy tiếp tục tiến hành việc hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Sài

Gòn và các tỉnh cho đến tận các chi bộ cơ sở và các hội quần chúng. Đảng Cộng sản thực sự đã đặt

được nền móng vững chắc trên vùng Nam Bộ, đó là tiền đề quan trọng mang tính quyết định cho những

bước phát triển nhảy vọt của xu hướng yêu nước vô sản trong giai đoạn tiếp theo.

**

*

Nhìn lại, khoảng thời gian 30 năm đầu thế kỷ XX là một giai đoạn lịch sử đầy biến động của vùng

Nam Bộ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Đến thời điểm này, thực dân Pháp đã cơ bản hoàn

thành công cuộc xâm lược, đặt được nền móng cai trị lên toàn bộ cả ba miền. Những đau thương và

tiếc nuối khi các phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ XIX thất bại cuối cùng cũng

dần tan. Đây thời kỳ mà những người Việt Nam yêu nước phải tạm gác lại quá khứ đau thương để cố

gắng mò mẫm tìm ra một lối đi cho dân tộc mình thoát khỏi vòng nô lệ.

Xu hướng yêu nước theo đường lối phong kiến tuy gặp những tổn thất nặng nề và chứng tỏ sự bất

lực của nó trong việc đáp ứng các đòi hỏi của thực tiễn lịch sử ở thời đại mới, nhưng với những nền

tảng đặc thù của đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của vùng Nam Bộ, và lại có truyền thống yêu nước

làm cốt lõi, vẫn tiếp tục tồn tại dưới hình thức các hội kín. Sự tồn tại dai dẳng của xu hướng yêu nước

phong kiến thực sự là một đặc trưng của vùng Nam Bộ. Điều đó một phần xuất phát từ bản chất của

con người nơi đây, được tôi luyện thành từ lịch sử khai phá mảnh đất này từ thuở ban sơ. “Người Nam

Kỳ rất sòng phẳng, ơn đền oán trả, ăn trái nhớ kẻ trồng cây. Họ luôn nhớ đến công lao khai hoang mở

cõi của các chúa Nguyễn, tạo điều kiện cho họ sống trên mảnh đất trù phú này”. [73, tr 40]

Nhưng các cuộc đấu tranh của các hội kín thực sự chỉ có thể mang lại những kết quả nhất thời,

những thành công nhỏ ở từng địa phương, chứ không thể vạch ra một con đường giải phóng cho toàn

dân tộc. Bởi vậy, những nhân sỹ Nam Bộ, cùng với những nhà yêu nước vỹ đại khác trên cả nước, lại

phải tìm một con đường mới.

Phong trào Duy Tân thực sự là một điểm nhấn quan trọng của phong trào yêu nước những năm đầu

thế kỷ XX ở Nam Bộ. Đây là “phong trào đấu tranh yêu nước cách mạng cuối cùng trước khi xuất hiện

sự phân hóa đường lối chính trị trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam”. [73, tr 19] Nó đánh

dấu sự phát triển đi lên của phong trào yêu nước Việt Nam trước những thay đổi lớn lao của thời đại

mới. Từ đây, xu hướng yêu nước tư sản, một trong những xu hướng tiến bộ nhất thời điểm bấy giờ đã

bắt đầu được nảy sinh và phát triển nhanh chóng ở Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung.

Đến những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Xu hướng yêu nước tư sản ở Nam Bộ bước sang

một giai đoạn phát triển mới, do giai cấp tư sản trực tiếp lãnh đạo. Tuy nhiên, dù cho hoàn cảnh kinh tế

xã hội của vùng Nam Bộ có rất nhiều thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của giai cấp tư sản

người Việt, bản thân giai cấp này vẫn không thể nào khắc phục được những nhược điểm cố hữu (quyền

lợi gắn với thực dân, cơ sở xã hội lỏng lẻo, lý luận cách mạng non nớt…). Điều đó tất yếu dẫn đến việc

mặc dù xu hướng yêu nước tư sản ở Nam Bộ cho đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX đã phát động

được nhiều cuộc đấu tranh gây tiếng vang lớn, vẫn không thể nào trở thành một thế lực lớn mạnh có thể

đảm đương trách nhiệm đưa dân tộc đến mục tiêu giải phóng. Và cuối cùng, xu hướng yêu nước tư sản

dần phân hóa thành hai nhánh nhỏ (xu hướng yêu nước tư sản cách mạng và xu hướng yêu nước tư sản

cải lương). Sự phân hóa ấy là minh chứng rõ ràng nhất cho sự suy yếu của xu hướng tư sản trong

phong trào yêu nước Nam Bộ. Quyền lãnh đạo cách mạng cuối cùng được chuyển giao sang xu hướng

vô sản, tuy xuất hiện sau nhưng lại nhanh chóng thể hiện sức mạnh và bản lĩnh của mình trước những

nhiệm vụ mà lịch sử giao phó. Quá trình chuyển giao sự lãnh đạo ấy không phải diễn ra ngày một ngày

hai, mà là một quá trình lâu dài, là kết quả đấu tranh của rất nhiều những chiến sỹ cộng sản trung kiên

bất khuất từ khi có sự du nhập của chủ nghĩa Mác Lênin vào Nam Bộ đến cả giai đoạn sau này.

Tóm lại, sự phát triển của các xu hướng trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ giai đoạn đầu thế kỷ

XX đã chứng tỏ được tinh thần yêu nước quật cường của người dân Nam Bộ. Trong giai đoạn này,

chưa xét đến yếu tố thành công hay thất bại, tất cả các phong trào yêu nước từ xu hướng phong kiến, xu

hướng tư sản và cả xu hướng vô sản đều mang ý nghĩa tích cực, góp phần nuôi dưỡng ngọn lửa yêu

nước trong tâm khảm mỗi người dân Nam Bộ. Đồng thời nó cũng đặt những nền móng vững chắc cho

sự phát triển của các phong trào yêu nước trong giai đoạn sau, tiến tới giành lấy những thắng lợi lớn

hơn cho toàn dân tộc.

CHƯƠNG HAI

PHONG TRÀO YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ SAU KHI CÓ SỰ LÃNH ĐẠO

CỦA ĐẢNG ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

(1930 - 1945)

2.1 Quá trình xác lập vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Nam Bộ - sự thắng thế

của xu hướng yêu nước vô sản trong phong trào yêu nước Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

2.1.1 Sự phát triển của các xu hướng yêu nước phi cộng sản ở Nam Bộ

Sau khi Đảng ra đời, các phong trào yêu nước theo xu hướng vô sản ở Nam Bộ bắt đầu phát triển

mạnh dưới sự lãnh đạo thống nhất của Chấp Ủy Nam Kỳ, và sau là Xứ ủy Nam Kỳ.

Mặc dù vậy, bản thân phong trào yêu nước nói chung ở Nam Bộ thời điểm này không chỉ có một xu

hướng vô sản, mà còn khá nhiều các xu hướng khác.

Trước hết phải kể đến sự đấu tranh mang màu sắc tôn giáo, một xu hướng yêu nước mang những

nét độc đáo của riêng vùng Nam Bộ, đặc biệt là sự ra đời của Đạo Cao Đài, cùng với phong trào chấn

hưng Phật giáo mà một trong những kết quả là sự ra đời của Phật Giáo Hòa Hảo.

Đêm Noel năm 1925, đạo Cao Đài chính thức được ra đời trong một buổi cầu cơ. Đêm đó, tương

truyền qua Cơ Bút, Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát đã chỉ đạo chọn 12 người để đứng ra lập

một tôn giáo mới gọi là “Đại đạo Tam Kỳ phổ độ”, tức đạo Cao Đài.

Sau đó những chức sắc đầu tiên của đạo Cao Đài làm đơn kèm chữ ký của 27 tín đồ đệ trình lên

Thống đốc Nam Kỳ để khai báo cho đạo được hoạt động một cách hợp pháp. Ngày 19/11/1926, Thống

đốc Nam Kỳ La Lepol chấp thuận đề nghị đó. Ngay sau đó, những người sáng lập đạo Cao Đài đã tổ

chức lễ ra mắt rất lớn ở chùa Gò Kén (Hòa Thành, Tây Ninh) với sự hiện diện của cả một số quan chức

người Pháp.

Bản thân từ đầu đạo Cao Đài không phải là một tổ chức quốc gia, dân tộc, dân chủ được bao bọc

bởi lớp vỏ tôn giáo để qua mắt chính quyền thực dân. Vào thời điểm năm 1925 - 1926, khi mà các

phong trào đấu tranh yêu nước đang sôi sục (đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh, phong

trào đám tang Phan Châu Trinh, đón tiếp Bùi Quang Chiêu…), thực dân Pháp không có lý do gì để cho

phép một tổ chức yêu nước tiến bộ hoạt động công khai như vậy. Thật ra, đạo Cao Đài ra đời một phần

là do âm mưu thâm độc của chính quyền thực dân ở Nam Kỳ. Những người sáng lập ra Đạo Cao Đài

hầu hết đều là những người thân Pháp và cổ động cho chủ trương Pháp - Việt đề huề. Ngay trong lần

giáng cơ tháng 1/1926, quan điểm của Đạo Cao Đài đã được xác định rõ ràng: “Nòi giống Pháp và nòi

giống Nam là hai nòi giống được ta phù hộ. Ta muốn các ngươi mãi mãi đề huề với nhau”. [37, tr 512]

Như vậy, Đạo Cao Đài thực chất buổi đầu được khai sinh ra chỉ với tư cách là một công cụ tuyên

truyền của thực dân Pháp, và cũng nhằm mục đích là lôi kéo quần chúng Nam Bộ vào các hoạt động

tôn giáo mà xao nhãng các phong trào đấu tranh. Nhưng những toan tính dù kỹ lưỡng vẫn không thể

nào không có chút sơ hở, nhất là khi lịch sử không phải lúc nào cũng yên bình mà luôn vận động và

xáo trộn.

Thứ nhất, số lượng tín đồ càng đông thì các chức sắc buộc phải bàn đến những vấn đề xã hội liên

quan đến lợi ích của bản thân đạo. Có nghĩa là bắt tay vào hoạt động chính trị một cách trực tiếp. Hầu

hết các tôn giáo lớn trên thế giới (Thiên chúa giáo, Hồi giáo…) đều trải qua con đường như vậy.

Thứ hai, trong một xã hội đang có một nền chính trị sôi động như vùng Nam Bộ nửa đầu thế kỷ

XX, đạo càng phát triển, thì số tín đồ cơ hội, đặc biệt là cơ hội chính trị xen lẫn vào hàng ngũ chức sắc

ngày càng đông. Số chức sắc này tất nhiên dễ dàng biến đạo, hay ít nhất là một bộ phận của nó, trở

thành chính đảng dưới lớp vỏ bọc tôn giáo.

Thứ ba, thực dân Pháp thời điểm đó đang mạnh, nhưng sẽ có ngày suy yếu. Nếu chuyện đó xảy ra,

đạo Cao Đài chắc chắn không thể mãi là công cụ trong tay thực dân Pháp.

Thực tế lịch sử đã diễn ra gần giống như vậy, từ sau khi chính thức thành lập năm 1926, do đáp ứng

đúng được nhu cầu của một bộ phận nhân dân đương thời: đề cao lòng yêu nước và hi vọng thay đổi số

phận, đạo Cao Đài dần dần có những bước phát triển vượt bậc. Cơ cấu giáo hội của đạo dần được kiện

toàn và được tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, dựa theo kinh nghiệm tổ chức của Thiên

Chúa giáo. Đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX, Đạo Cao Đài thực sự trở thành một thế lực lớn

mạnh trên vũ đài chính trị Nam Bộ.

Số người gia nhập đạo ngày càng tăng làm cho chính quyền cai trị của thực dân Pháp không thể

không lưu tâm. Chính phủ thuộc địa bấy giờ bắt đầu nhận thấy nguy cơ lớn có thể làm lung lay nền

thống trị đầu độc người bản xứ của Pháp, bởi sự giác ngộ theo tinh thần đạo giáo mới. Không ngần

ngại, chính quyền cai trị lập tức có những hành động để phòng ngừa.

Tuy nhiên, để đàn áp một tôn giáo đã có cơ sở rộng rãi và được phép hoạt động công khai như đạo

Cao Đài bấy giờ là một vấn đề không hề dễ dàng. Nhưng thực dân Pháp có thừa kinh nghiệm cho việc

đó. “Có những lý do làm cho người Pháp không thể ra mặt khủng bố tức thì mà họ phải làm theo từng

giai đoạn một, từ theo dõi, dò la, cho người vào nhập môn phái rối đến khủng bố, bắt bớ, nghiêm cấm,

họ đã thi hành từng thời kỳ. Có thể nói đến khi cơ sở tòa thánh bắt đầu được xây dựng tấp nập, chính

là lúc chính phủ Pháp trông thấy một xứ Jerusalem mới có hại cho họ nên họ đã ra tay khủng bố”. [83,

tr 211]

Song khó khăn trong việc chống phá đạo Cao Đài của Pháp không chỉ dừng lại ở đó. Các vị chức

sắc đứng đầu của đạo như các ông Lê Văn Trung, Nguyễn Ngọc Tương, Lê Bá Trang… đều là những

người thân Pháp và là những công chức có thế lực trong chính quyền thuộc địa. Điều đó làm cho Chính

phủ thuộc địa không dám đụng chạm đến các nhà lãnh đạo của Cao Đài mà lại chĩa mũi nhọn vào thành

phần đạo hữu của đạo ở nông thôn.

Sự lan tràn mạnh mẽ của đạo Cao Đài thời điểm bấy giờ bị thực dân Pháp cho là một vấn đề đáng lo

âu nhất trong việc hoạch định chính sách cai trị Đông Dương. “Nhiều tờ báo Pháp đã lên tiếng lo ngại

cho phong trào Đạo giáo mới và cho rằng đó là “một sự xem thường nhưng trở thành nguy hiểm đáng

sợ””. [83, tr 215]

Chính phủ thuộc địa cũng dần thay đổi thái độ, không còn dám thờ ơ với những hoạt động tổ chức

cơ bút của đạo Cao Đài đang thịnh hành khi đó. Khá nhiều các tín đồ Cao Đài bị bắt bớ và giam cầm.

Tuy nhiên, sự phát triển của đạo không vì thế mà giảm sút. “Thật là một điều lạ khi đạo Cao Đài xuất

hiện tại nước Việt Nam, mà còn lạ hơn nữa là nền đạo lại xuất hiện trong hoàn cảnh nước non này còn

bị trị. Nhưng dù chánh phủ Pháp có ngăn cấm, có nghi ngờ, hay có mưu toan khủng bố đàn áp thì đạo

Cao Đài vẫn trưởng thành trong sự hi sinh tin tưởng của tín đồ”. [83, tr 220 - 221]

Mặc dù vậy, tuy mâu thuẫn với thực dân Pháp ngày càng sâu sắc, nhưng nội bộ Đạo Cao Đài lại

không thể thống nhất để đề ra một đường lối đấu tranh chung. Đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai

(1939 - 1945 bùng nổ), sự phân liệt trong hàng ngũ tín đồ Cao Đài ngày càng rõ rệt. Một bộ phận chủ

trương dựa vào Nhật, chấp nhận đứng về phe Nhật khi quân Nhật kéo vào Đông Dương. Trong khi đó

bộ phận còn lại của Đạo Cao Đài lại chọn con đường sát cánh với Đảng Cộng sản, cụ thể là gia nhập

hàng ngũ Việt Minh để tiến hành cuộc cách mạng tháng Tám.

Như vậy có thể thấy, bản thân Đạo Cao Đài đã tồn tại nhiều hạn chế trong việc khẳng định chỗ

đứng của mình trong công cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Bởi vậy, tuy phần nào cũng có ý

nghĩa tích cực, nhưng bản thân Đạo Cao Đài chưa bao giờ đóng vai trò là ngọn cờ đầu trong việc tổ

chức lãnh đạo các phong trào đấu tranh ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX.

Sự hình thành và phát triển của Đạo Cao Đài, thực tế, còn có những tác động khác đến tình hình

Nam Bộ. Từ năm 1926, hoạt động mạnh mẽ của Đạo Cao Đài làm Phật giáo ở nhiều địa phương mất cả

tín đồ lẫn cơ sở thờ tự. Điều này đương nhiên gây nên sự phản ứng từ giới Phật tử và dẫn đến phong

trào Chấn hưng Phật giáo, mà bản chất của phong trào này, không gì khác hơn cũng là một phong trào

mang tính chất dân tộc.

Thực ra, phong trào Chấn hưng Phật giáo không phải chỉ diễn ra ở Nam Bộ mà là một cuộc vận

động có quy mô toàn quốc. Nhưng Nam Bộ, do những điều kiện lịch sử cụ thể, là một trong những nơi

diễn ra mạnh mẽ nhất. Tinh thần yêu nước của giới phật tử Nam Kỳ đã được chứng minh từ lâu. Ngay

từ những năm 1925 - 1926, trong các phong trào ủng hộ Nguyễn An Ninh, Phan Châu Trinh hay trong

buổi đón tiếp Bùi Quang Chiêu cũng có một số phật tử tham gia. Khi bị chất vấn tại sao các tăng ni lại

tham gia biểu tình, giáo thọ Thiện Chiếu công khai trả lời với báo chí: “Thuyết từ bi cứu khổ cua Phật

tử xui Phật tử tham gia những cuộc vận động yêu nước thương dân chớ không ai xui cả”. [37, tr 517]

Từ khi phong trào Chấn hưng Phật giáo được phát động, các hoạt động diễn ra khá sôi nổi, tập trung

vào các hoạt động dịch lại kinh sách ra chữ quốc ngữ, thành lập một số trường đào tạo tăng ni phật tử ,

truyền bá những tinh thần yêu nước phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ, nhất là khuyên

các tăng ni phật tử không nên “co mình vào kinh kệ mà dang tay ra làm việc xã hội cho hợp với tôn chỉ

cứu khổ, cứu nạn của Phật”… [37, tr 520]

Tuy nhiên các phong trào nhanh chóng bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, nhất là sau sự kiện cách

mạng 1930 - 1931. Các tờ báo cổ động cho phong trào bị đóng cửa, các hội phật tử mới thành lập cũng

bị giải tán. Thâm độc hơn, chính quyền thực dân Pháp còn khéo lèo lái cuộc vận động Chấn hưng Phật

giáo theo hướng có lợi cho mình. Năm 1932, thống đốc Nam Kỳ cho Com - mi Chấn đứng ra thành lập

Hội nghiên cứu Phật học và tờ tạp chí Từ bi âm. Tình hình tương tự cũng diễn ra ở Trung Kỳ và Bắc

Kỳ. Công cuộc vận động coi như bị thực dân Pháp thao túng.

Nhưng riêng ở Nam Bộ, tình hình hoàn toàn không đơn giản như miền Bắc và miền Trung. Thực

dân Pháp mặc dù dùng nhiều biện pháp để lũng đoạn phong trào Chấn hưng Phật giáo vẫn không thể

đạt được những kết quả khả quan nhất. Bởi ở Nam Kỳ, do những tác động của phong trào, đến năm

1939, một tôn giáo mới xuất hiện, và nhanh chóng thể hiện chỗ đứng của mình trên vũ đài chính trị:

Phật giáo Hòa Hảo.

Phật giáo Hòa Hảo ra đời ngày 15/5/1939 tại làng Hòa Hảo, Châu Đốc, An Giang và phát triển chủ

yếu ở đồng bằng sông Cửu Long. Sự ra đời của Phật giáo Hòa Hảo gắn với đặc điểm tâm lý, lối sống

đạo đức, tính cách, đời sống tín ngưỡng của nông dân Nam Bộ và liên quan đến môi trường kinh tế - xã

hội - chính trị ở đây trong khoảng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. Sự ra đời này cũng là do

tác động của phong trào chấn hưng Phật giáo nhất là ảnh hưởng của Bửu Sơn Kỳ Hương - một nhánh

của Phật giáo ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Người sáng lập ra Phật giáo Hòa Hảo là

Huỳnh Phú Sổ (1920 – 1947).

Ra đời năm 1939 nhưng qua đến năm 1940 số tín đồ của Phật giáo Hòa Hảo có đến vài trăm ngàn

người. Năm 1941, thực dân Pháp sợ Huỳnh Phú Sổ theo Nhật nên đã tiến hành quản thúc ông tại Châu

đốc rồi Cần Thơ, Bạc Liêu.

Năm 1942, Nhật mua chuộc, lôi kéo đạo Hòa Hảo và đưa Huỳnh Phú Sổ về Sài Gòn.

Năm 1945, Huỳnh Phú Sổ được mời tham gia Ủy ban kháng chiến Nam Bộ với tư cách là đại diện

cho đồng bào Phật giáo Hòa Hảo.

Như vậy, cũng như Đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo tuy ít nhiều cũng đóng vai trò là một tổ chức

yêu nước, có tinh thần dân tộc nhưng cũng không thể nào vượt qua được những hạn chế cả chủ quan và

khách quan để nổi lên như một ngọn cờ đầu lãnh đạo các phong trào yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế

kỷ XX.

Thứ nhất, bản thân là những tôn giáo địa phương, tiềm lực của Đạo Cao Đài và Hòa Hảo hiển nhiên

không thể sánh bằng với những tổ chức chính trị có quy mô rộng lớn trên cả nước, đặc biệt là Đảng

Cộng sản.

Thứ hai, màu sắc tôn giáo của Đạo Cao Đài và Hòa Hảo cũng là hạn chế không nhỏ trong việc tham

gia vào các hoạt động đấu tranh chính trị.

Thứ ba, sự chia rẽ trong hàng ngũ tín đồ, đặc biệt xu hướng hợp tác với Nhật là một hạn chế lớn của

Đạo Cao Đài và Hòa Hảo, làm hạ uy tín của tổ chức trong quần chúng.

Có thể thấy, Cao Đài và Hòa Hảo, trong quá trình phát triển của mình đã thực sự phát huy ảnh

hưởng ra ngoài phạm vi tôn giáo, trở thành những lực lượng chính trị lớn mạnh, thực chất cũng đạo

diện cho xu hướng yêu nước tư sản, ít nhiều có tinh thần yêu nước và chống Pháp.

Trong khi đó, đối với các phong trào yêu nước theo xu hướng yêu nước tư sản khác, tuy ở Nam Bộ

có phát triển hơn các địa phương miền Bắc và miền Trung, nhưng thực sự nếu so sánh với sự phát triển

mạnh mẽ của Đảng Cộng sản ở đây, thì mới thấy hết được sự yếu ớt nó. Suốt đến tận khi Cách mạng

tháng Tám nổ ra, ở Nam Bộ không hề có một tổ chức cách mạng nào thật sự lớn mạnh đại diện cho xu

hướng này. Thảng hoặc đây đó trên các tờ báo như Đuốc nhà Nam, Việt Nam có đăng những bài viết

của Diệp Văn Kỳ, Nguyễn Văn Sâm đề xuất thành lập một liên minh tư sản. Diệp Văn Kỳ viết: “Theo ý

tôi thì tình thế ngày nay nó đã bắt buộc ai là người thức giả đều phải dẹp hết bao nhiêu tư kiến về trẻ

về già, về Nam về Bắc về Trung, dẹp hết bao nhiêu đảng phái, những chủ nghĩa, bao nhiêu những nỗi

hiềm nghi, những vấn đề giai cấp, mà chỉ nên nhớ một điều là nước ta đương nguy, người ta đương

khổ, kinh tế ta đương cần phải mở mang, chính trị ta đương cần phải giải phóng, rồi đồng tâm hiệp lực

mà thành lập ngay chính đảng có tổ chức, có chương trình”. [36, tr 544 - 545]

Những lời kêu gọi thành lập một liên minh tư sản để xác lập quyền lãnh đạo của giai cấp tư sản

không nhận được sự ủng hộ của quảng đại quần chúng. “Bởi vì lập mặt trận bao gồm các chính đảng,

các giai cấp, các xu hướng các tôn giáo để chung sức đòi cải cách dân chủ, là một điều, mà thủ tiêu

các chính đảng, chính kiến để thành lập một đảng duy nhất, đó lại là một điều khác” [36, tr 545]

Vậy nên mặc dù các hoạt động yêu nước theo xu hướng tư sản diễn ra khá sôi nổi, nhưng thực ra xu

hướng này rất yếu ớt, không có chỗ dựa lớn trong quần chúng, và đều phải sự liên hệ trực tiếp hoặc

gián tiếp với Đảng Cộng sản. Và hơn nữa, một bộ phận yếu nhân đại diện cho xu hướng tư sản dân tộc

cách mạng, do chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác Lênin, đã dần chuyển sang lập trường vô sản, sát

cánh với Đảng Cộng sản trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

Có thể nói “chủ nghĩa dân tộc cách mạng có nguồn gốc sâu xa từ tinh thần chống ngoại xâm của

các tầng lớp đồng bào. Nhưng vào thời điểm lịch sử giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, đảng dân tộc

cách mạng yếu ớt về tổ chức, nông cạn về tư tưởng, đi tìm mãi mà không ra một chủ nghĩa, xem nhẹ lý

luận, xem rẻ tuyên truyền, không tự mình vũ trang nổi cho mình một hệ thống chiến lược chiến thuật,

một lý tưởng để làm hiệu cờ. Cho nên, tổ chức dân tộc cách mạng bị thực dân Pháp đánh phá tan tành

mà dù gặp lúc có điều kiện thuận lợi họ cũng không sao tập hợp trở lại được. Hàng ngũ phân hóa, số

đông thoái chí. Những phần tử bảo thủ quay đầu thỏa hiệp với đế quốc, còn các chiến sỹ ưu tú, kiên

quyết sớm hay muộn đều chuyển sang trận tuyến chủ nghĩa Mác - Lênin để tích cực tham gia sự nghiệp

cứu nước”. [37, tr 749 - 750]

Trước tình hình yếu ớt và bất lực của các xu hướng yêu nước tư sản nhuộm màu sắc tôn giáo và dân

tộc ở Nam Bộ, việc Đảng cộng sản phải cạnh tranh với các xu hướng yêu nước khác là điều không cần

thiết phải bàn. Vấn đề đặt ra chỉ là thực sự Đảng Cộng sản có đủ sức để gánh vác trách nhiệm lãnh đạo

phong trào yêu nước nói chung đi đến thắng lợi hoàn toàn hay không.

2.1.2 Quá trình khẳng định vị thế của Đảng trong phong trào yêu nước Nam Bộ

Ngay sau khi thành lập, Đảng đã chịu sự tổn thất nặng nề do sự khủng bố dã man của thực dân Pháp

trong phong trào cách mạng 1930 - 1931. Tuy ở Nam Bộ phong trào đấu tranh không quyết liệt như ở

các tỉnh miền Trung và miền Bắc, nhưng hầu hết các cơ sở Đảng cũng bị phá vỡ. Mặc dù vậy, với

những hoạt động đấu tranh phối hợp với các địa phương khác trên cả nước, Đảng đã gây dựng được ít

nhiều uy tín trong nhân dân Nam Bộ.

Đến cuối năm 1934 đầu năm 1935, cơ sở Đảng mới dần được phục hồi. Xứ ủy Nam Kỳ được thành

lập trở lại, tiếp tục lãnh đạo phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Nam Bộ.

Giai đoạn 1936 - 1939, khi mà chủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất dần đi vào thực

tiễn, Đảng đã khuấy động được một phong trào yêu nước rộng lớn ở Nam Bộ với cuộc vận động Đông

Dương Đại hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ, hướng tất cả vào

mục tiêu đấu tranh chung. Đa số các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ giai đoạn này tuy khác nhau về

đường lối, cương lĩnh nhưng đều có chung tinh thần dân tộc, vì vậy các xu hướng này dễ dàng bị hút

theo các cuộc đấu tranh do Đảng phát động. Mâu thuẫn dân tộc làm xóa nhòa đi những khoảng cách

giữa các xu hướng yêu nước, đoàn kết các lực lượng quần chúng lại thành một khối để tấn công vào

thực dân Pháp và bọn tay sai. Chủ trương xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất là bước đi đúng đắn

của Đảng và cũng là nhân tố quyết định đưa Đảng trở thành ngọn cờ đầu trong phong trào yêu nước.

Đến khi Đảng rút vào hoạt động bí mật năm 1939, các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ dần dần được hội

tụ vào phong trào công nhân. Đảng thực sự đã xác lập được vị trí lãnh đạo đối với phong trào yêu nước

nói chung ở Nam Bộ.

Có điều con đường xác lập vị thế dẫn đầu lãnh đạo của Đảng tất nhiên không phải chỉ có thuận lợi

mà cũng tồn tại những khó khăn nhất định.

Thứ nhất, tuy đa số các lực lượng yêu nước chân chính đều đứng về phía Đảng trong cuộc đấu tranh

giải phóng dân tộc, nhưng bên cạnh đó vẫn có những kẻ mang danh chủ nghĩa dân tộc nhưng chấp nhận

bán mình làm tay sai cho kẻ thù, tấn công Đảng. Nguyễn Phan Long đại diện cho Phái Lập Hiến “bấy

giờ được xem như là một tay chống cộng có ý thức giai cấp mạnh, y nhìn xa hơn những người chống

cộng đương thời”. [37, tr 898] Dương Bá Trạc, đại diện nhóm Nam Phong thì lại “biểu hiện tư tưởng

chống cộng của tập đoàn phong kiến ra sức gắn bó một cách dại dột Nho giáo Việt Nam với mẫu quốc

Đại Pháp”. [37, tr 900] Tuy những luận điệu của những kẻ chống cộng không mấy có tiếng vang lớn,

nhưng đó cũng là một trong những lá bài để thực dân Pháp lợi dụng nhằm chống lại sự lớn mạnh của

Đảng và các phong trào yêu nước của nhân dân Nam Bộ.

Thứ hai, Đảng là bộ phận cách mạng nhất, kiên quyết nhất, ưu tú nhất trong phong trào đấu tranh

yêu nước, nhưng trước sự khủng bố trắng trợn và dã man của kẻ thù, những yếu tố tiêu cực dần nảy

sinh trong hàng ngũ Đảng, mà cụ thể là sự xuất hiện của “chủ nghĩa thủ tiêu” trong và liền sau phong

trào cách mạng 1930 - 1931. “Chủ nghĩa thủ tiêu” biểu hiện dưới nhiều hình thức, song rõ nhất là trên

lĩnh vực tổ chức Đảng và quan điểm phát động đấu tranh.

Đối với việc tổ chức Đảng, những người theo “chủ nghĩa thủ tiêu” cho rằng “trong điều kiện chế độ

thuộc địa hoàn toàn không có tự do dân chủ, khủng bố đế quốc vô cùng tàn bạo, phong kiến bản xứ lại

làm tay sai đắc lực cho Pháp, thì không thể nào tổ chức những hội quần chúng đông mà không bị kẻ

thù phát hiện và một khi bị phát hiện thì nhất định bị tiêu diệt. (…) Trong tình hình đó không ít đồng

chí và hội viên cho rằng “hãy mai phục đã”, còn nếu hoạt động thì nên hoạt động công khai hợp pháp

như thế nào đó, bằng không thì chỉ được đơn tuyến liên lạc cá nhân với nhau mà thôi. Hoặc phải co rút

lại tới mức tối thiểu từa tựa như Thiên Địa hội ngày nào”. [37, tr 902 - 903]

Còn đối với công tác phát động đấu tranh, “chủ nghĩa thủ tiêu” cho rằng nên củng cố tổ chức rồi

mới nghĩ đến việc tranh đấu. Thực sự điều này nếu xảy ra sẽ làm cho Đảng chẳng những làm cho

phong trào lắng xuống mà còn khiến Đảng gắp khó khăn nhiều hơn trong vấn đề củng cố tổ chức. Bởi

sức mạnh của Đảng là từ nhân dân mà ra. Xa rời quần chúng, không dám phát động đấu tranh thì Đảng

sẽ mất đi sức mạnh và cả vai trò đầu tàu đối với phong trào yêu nước nói chung của mình.

Tất nhiên, những tiêu cực này chỉ xuất hiện trong một bộ phận đảng viên bản lĩnh cách mạng chưa

cao. Nhưng việc đấu tranh với các xu hướng này lại là một vấn đề mang tính sống còn đối với Đảng.

Bởi nếu không đấu tranh một cách nghiêm túc và quyết liệt, những tiêu cực ấy sẽ lan tràn không thể

kiểm soát. Bản thân Đảng chẳng những suy yếu mà còn mất uy tín trước quần chúng nhân dân.

Thứ ba, tuy Đảng là đại diện chân chính cho xu hướng yêu nước vô sản, nhưng thực sự xu hướng

này còn bao gồm cả những phần tử mang danh cộng sản nhưng lại đứng trên một lập trường khác. Tiêu

biểu là sự xuất hiện của nhóm Tờ rốt kít. Nhóm này có nguồn gốc từ Pháp, bị trục xuất về nước sau

cuộc biểu tình ở Pháp năm 1930 đòi thả những chiến sỹ Yên Bái bị xử tử hình. Về đến Sài Gòn, trong

bối cảnh Đảng bị đàn áp dẫn đến các cơ sở bị tan rã, nhóm Tờ rốt kít nhanh chóng phát triển nhờ con

đường hoạt động hợp pháp rồi công khai thành lập cánh “tả đối lập”, tức nhóm đối lập của Đảng cộng

sản. Những lập luận của nhóm Tờ rốt kít khá mơ hồ. Tiêu biểu như tư tưởng phủ nhận chủ nghĩa yêu

nước, cho rằng những người cộng sản phải đặt tinh thần quốc tế, tinh thần giai cấp lên trên hết, hoặc

quan điểm cho rằng giai cấp vô sản chỉ có nhiệm vụ làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, không có nhiệm

vụ chống phong kiến…

Tuy chủ trương phủ nhận chủ nghĩa yêu nước, nhưng thực sự nhóm Tờ rốt kít vẫn có tinh thần

chống thực dân, đế quốc. Song mặc dù vậy, những tư tưởng lệch lạc của nhóm này vẫn gây những khó

khăn đáng kể cho phong trào yêu nước Nam Bộ nói chung và hoạt động của Đảng Cộng sản nói riêng.

Bởi trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng này nếu Đảng không đứng vững thì cũng khó mà đảm

bảo cho việc tranh thủ lòng tin của quần chúng, chưa nói đến việc lãnh đạo các phong trào đấu tranh

yêu nước.

Tất nhiên, những khó khăn đó đã được Đảng giải quyết một cách rốt ráo thông qua những chủ

trương đúng đắn và phù hợp với thực tiễn.

Những kẻ chống cộng cam tâm làm tay sai cho kẻ thù bản thân họ đã không nhận được sự đồng tình

của quần chúng, đây hóa ra lại là kẻ thù dễ đối phó nhất. Vậy nên Đảng không cần nhọc công tranh

luận, bởi “càng chống cộng, bọn họ càng gián tiếp tuyên truyền cho người cộng sản thì người Việt

Nam từ nay (1930 - 1931) xem cộng sản là tiêu biểu kiên cường cho chủ nghĩa yêu nước không phải ở

đầu lưỡi mà trong hành động. Các phiên tòa xử người cộng sản, xử người công nhân bãi công, xử

người nông dân biểu tình , kể hàng chục phiên nếu không phải là hàng trăm, đã thành những diễn đàn

đánh tan bất cứ luận điệu chống cộng nào”. [37, tr 902]

Riêng đối với những tư tưởng lệch lạc trong nội bộ, như “chủ nghĩa thủ tiêu”, thì vấn đề khó khăn

hơn nhiều. Nhưng dẫu sao, tư tưởng này chỉ có thể nảy nở do những điều kiện khó khăn đen tối, và

cũng chỉ ở những người đảng viên chưa thật trung kiên. Còn đa phần các Đảng viên vẫn duy trì được

niềm tin và vạch ra sách lược đúng đắn để hướng phong trào đi lên. Đến khi giai đoạn thoái trào kết

thúc, các hoạt động diễn ra dễ dàng hơn thì những tư tưởng sai lệch cũng không còn điều kiện để tồn tại

nữa.

Còn đối với chủ nghĩa Tờ rốt kít, thực sự thì những người theo chủ nghĩa này trong thời điểm ban

đầu cũng không hẳn là kẻ thù của cách mạng, của dân tộc. Đảng chủ trương trong một chừng mực nào

đó vẫn có thể lợi dụng họ, hợp tác với họ, nhưng nhất thiết phải đấu tranh để làm rõ lập trường quan

điểm chân chính của chủ nghĩa Mác - Lênin. Vậy nên “cuộc đấu tranh tư tưởng này có bề sâu đáng kể

nhưng hai bên chưa nặng lời với nhau, mà trên mặt trận công khai hợp pháp, còn hợp tác với nhau”.

[37, tr 908] Thậm chí, ngay bản thân việc đấu tranh tư tưởng với nhóm Tờ rốt kít còn được Đảng xác

định như một biện pháp để quảng bá hình ảnh của mình đối với quần chúng nhân dân. Hơn nữa, Đảng

cũng giữ lập trường rất rõ ràng, kiên quyết tấn công bọn đầu sỏ Tờ rốt kít, nhưng không đánh đồng

quần chúng lầm lạc đi theo họ. Đối với những người như vậy, Đảng cho rằng cần kiên nhẫn lôi kéo họ,

làm cho họ tự rút kinh nghiệm mà nhận rõ bản chất phản động của chủ nghĩa Tờ rốt kít. Cuộc đấu tranh

với nhóm Tờ rốt kít vừa kiên quyết, lại vừa mềm mỏng. Nhưng mặc dù vậy, cuộc đấu tranh này là một

cuộc đấu tranh kiên quyết không khoan nhượng, bởi việc thành hay bại không chỉ đơn thuần là sự

thắng thế của một xu hướng tích cực hay phản động trong xu hướng vô sản, mà còn liên quan đến vận

mệnh toàn dân tộc.

Với những sách lược khôn khéo và đúng đắn đó, Đảng không chỉ tự kiện toàn tổ chức và ngày càng

vững mạnh, mà cũng không lạ khi cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Nam Bộ, Đảng Cộng sản

nổi lên như một lá cờ đầu trong việc đoàn kết các lực lượng, các xu hướng yêu nước để giành lấy độc

lập tự do.

2.2 Các xu hướng đấu tranh yêu nước dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông

Dương ở Nam Bộ

2.2.1 Các phong trào đấu tranh yêu nước ở Nam Bộ dưới sự liên kết của Đảng từ 1930 đến trước

ngày Nhật tiến vào Đông Dương

Phong trào cách mạng 1930 – 1931 bùng nổ, Đảng Cộng sản ở Nam Bộ đã tích cực tổ chức các

cuộc đấu tranh để ủng hộ cho phong trào ở Nghệ Tĩnh. Ngày 1/5/1930, các cuộc bãi công diễn ra khắp

nơi trên khắp Nam Kỳ: Công nhân nhà đèn chợ Quán (Sài Gòn), công nhân đồn điền cao su Phú Riềng,

công nhân đồn điền cao su Dầu Tiếng, công nhân hãng dầu Nhà Bè, công nhân nhà đèn Cần Thơ…

Tháng 4/1930, Tổng công hội đỏ Nam Kỳ được thành lập trên cơ sở 12 công hội tổ chức ở Sài Gòn

- Chợ Lớn với 700 hội viên. Sự thành lập tổ chức công hội đỏ không những tổ chức các phong trào đấu

tranh yêu nước mà còn có tác dụng nâng cao uy tín của Đảng đối với phong trào yêu nước nói chung

của nhân dân Nam Bộ.

Trong khi công nhân ở các thành phố lớn đấu tranh sôi nổi, Đảng cũng chú ý đến việc dìu dắt nông

dân ở các vùng nông thôn phụ cận vùng lên. Tại Sa Đéc, Long Xuyên và một số địa phương khác đã

xuất hiện các cuộc biểu dương lực lượng, có cuộc lên đến hàng ngàn người.

Bước sang năm 1931, trong khi các phong trào đấu tranh trên cả nước đã bắt đầu lắng xuống do sự

khủng bố dã man của kẻ thù, thì ở Nam Kỳ các cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục, có phần mạnh hơn các nơi

khác. “Đầu năm 1931, được tăng cường sự lãnh đạo của Trung Ương Đảng, phong trào công nhân Sài

Gòn hoạt động mạnh hẳn lên, thu hút sự chú ý đặc biệt của các lực lượng đàn áp của đế quốc Pháp”.

[16, tr 93]

Trong hai tháng đầu năm 1931, “Tổng công hội đỏ Nam Kỳ liên tiếp tổ chức năm cuộc bãi công lớn

ở ba hãng dầu Stăng - đa - oan, Téc - xa - cô và Pháp - Á. Nông dân ngoại thành Sài Gòn quyên tiền,

tổ chức mít tinh, biểu tình nhiệt liệt ủng hộ công nhân đấu tranh. Ở các hãng dầu Nhà Bè, công hội đỏ

áp dụng hình thức bãi công “ngồi”, ngăn chặn không cho bọn phá bãi công đến gần xí nghiệp, thành

lập các đội tự vệ để đối phó với những hành động bạo lực của chính quyền thuộc địa”. [3, tr 85]

Nối tiếp khí thế đấu tranh đó, công nông quận Đức Hòa (Chợ Lớn) đã mạnh dạn lập cả những chiến

lũy để chống lại cảnh sát và phát động nên một phong trào đấu tranh sôi nổi của công công Nam Bộ

thời điểm đó.

Tuy nhiên sau đó, trước sự khủng bố của thực dân Pháp, tổ chức Đảng bị tổn thất nặng và các cuộc

đấu tranh phải tạm lắng xuống. Phong trào đấu tranh ở Nam Bộ cũng không phải là ngoại lệ. Mặc dù

vậy, so với các địa phương khác trên cả nước, phong trào yêu nước ở Nam Bộ vẫn có những điều kiện

thuận lợi hơn để phát triển. Bởi sau khi các cuộc đấu tranh trong phong trào cách mạng 1930 - 1931

tạm lắng. Chính quyền thực dân ở Nam Bộ thi hành một số biện pháp mị dân.

Ở Sài Gòn - Chợ Lớn, thực dân Pháp cho phép “phát triển công khai một số tổ chức ái hữu của

công nhân ở các xí nghiệp: Ba Son, Đề pô xe lửa, công ty xe điện, Liên đoàn tài xế Sài Gòn - Chợ Lớn,

Liên đoàn những người chèo thuyền ở bến Sài Gòn và một số ngành khác. Chúng khuyến khích công

nhân chơi thể thao, đá bóng; chúng tổ chức chợ phiên, đồng thời cho phát triển những hội có tính chất

tôn giáo để ru ngủ tinh thần đấu tranh của họ”. [3, tr 95]

Đặc biệt, đối với các công nhân thất nghiệp ở Sài Gòn, chính quyền thực dân còn cho lập ra những

“Quán cơm thất nghiệp”, kêu gọi các “Hội từ thiện”, “Hội hợp thiện” lạc quyên để cứu tế cho những

người lao động.

Các thủ đoạn của thực dân Pháp tuy thâm độc nhưng thực ra khó đạt kết quả. Bởi “sự áp bức bóc lột

ở thuộc địa của giai cấp tư sản đế quốc Pháp vẫn vô cùng tàn bạo mà bản chất của giai cấp công nhân

Việt Nam lại sẵn tinh thần cách mạng”. [3, tr 96] Những hành động mềm mỏng của thực dân Pháp ở

Nam Bộ chỉ có ý nghĩa tích cực duy nhất là tạo điều kiện để tổ chức Đảng nơi đây phục hồi lại để tiếp

tục phát triển các cuộc đấu tranh quyết liệt hơn trong các giai đoạn tiếp theo.

Các cuộc đấu tranh vẫn âm ỉ nổ ra. Năm 1932, nổi lên cuộc đấu tranh của 400 nữ công nhân Hoa

Kiều ở 13 xưởng dệt khăn tay Chợ Lớn. Cuộc đấu tranh của công nhân làm đường ở Tân Đảo (Sài

Gòn). Rồi ngay sau đó là các cuộc đấu tranh liên tiếp của công nhân nhiều nhà máy in và công nhân xe

kéo ở Sài Gòn - Gia Định. Các tỉnh như Hà Tiên, Biên Hòa cũng diễn ra các cuộc đấu tranh của công

nhân các đồn điền.

Mặc dù vậy vẫn cần phải thừa nhận rằng, “phần lớn các cuộc đấu tranh bấy giờ đều thiếu sự lãnh

đạo của Đảng và công hội đỏ, kể cả những cuộc đấu tranh diễn ra hết sức quyết liệt vì tổ chức Đảng và

công hội bị khủng bố tan rã hết”. [3, tr 99] Nhưng dẫu sao các cuộc đấu tranh ấy cũng phần nào chứng

minh được sức sống bền bỉ của tinh thần yêu nước của nhân dân Nam Bộ nói riêng và nhân dân Việt

Nam nói chung trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Bởi khủng bố man rợ của bọn phản động

thuộc địa trong hai năm 1930 - 1931 và những thủ đoạn cải lương để lừa bịp công nhân không thể lay

chuyển được lòng yêu nước của quần chúng Nam Bộ.

Cuối năm 1932, Xứ ủy Nam Kỳ được thành lập lại, nhưng ngay lập tức lại bị phá vỡ. Nhưng với

tinh thần đấu tranh kiên cường, các đảng viên cộng sản vẫn tiếp tục bền bỉ tìm cách khôi phục lại tổ

chức Đảng. Tháng 5/1933, Trương Văn Bang lập lại Xứ ủy Nam Kỳ, gồm bảy đảng viên.

Năm 1933, nhiều đảng viên mãn hạn tù bắt đầu trở về tiếp tục hoạt động. Tổ chức Đảng ở Nam Bộ

dần hồi phục lại.

Theo chủ trương chung của Đảng, để tránh sự khủng bố của kẻ thù, các cuộc đấu tranh nên tranh

thủ cả những hình thức đấu tranh hợp pháp. Nam Bộ là một trong những địa phương có được sự cai trị

tương đối rộng rãi so với các nơi khác và những hành động cải lương lừa bịp của chính quyền cơ sở,

bởi vậy, chủ trương đó nhanh chóng được vận dụng để tiếp tục nuôi dưỡng tinh thần yêu nước và tạo

điều kiện để tổ chức Đảng phục hồi lực lượng.

Cũng trong năm 1933, lợi dụng chế độ ứng cử vào hội đồng thành phố và xuất bản báo chí ở Sài

Gòn được nới rộng, một số đại biểu công nhân đã ra tranh cử hội đồng thành phố Sài Gòn.

“Số đại biểu ra tranh cử tập hợp trong “Danh sách công nhân” đã xuất bản tờ “La Lutte” (“Tranh

đấu”) ngày 24/3/1933 để cổ động cho việc tranh cử. Trên tờ “Tranh đấu” và trong các cuộc họp mặt

với đại biểu công nhân và nhân dân lao động Sài Gòn, có cuộc đông tới 3000 người, các đại biểu công

nhân đã giới thiệu chương trình hành động của nhóm “Danh sách công nhân”, thu thập ý kiến cử tri,

tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, đồng thời vạch mặt bọn quốc gia cải lương, tố cáo tội ác của bọn

tư bản đế quốc và tay chân của chúng”. [3, tr 101]

Kết quả, hai ứng viên đại biểu của “Danh sách công nhân” đã trúng cử vào Hội đồng thành phố Sài

Gòn. “Thế là lần đầu tiên trong lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu công nhân thu được

thắng lợi trên mặt trận công khai, hết sức hiếm có ở một xứ thuộc địa”. [3, tr 101] Thắng lợi này có ý

nghĩa thật sự lớn lao, khẳng định sức mạnh của Đảng trên con đường xác lập vị trí lãnh đạo đối với

phong trào yêu nước nói chung ở Nam Bộ.

Trong khi đó, bên trong các nhà tù ở Nam Bộ, hoạt động của các Đảng viên Cộng sản cũng hết sức

sôi nổi. Bọn cai ngục ở Khám Lớn (Sài Gòn) đã bắt được một bản thảo với tựa đề “Chương trình hành

động” gồm 5 chương, được lưu hành bí mật trong nhà tù.

Năm 1935, cùng với việc tổ chức thành công Đại Hội Đảng lần thứ nhất tại Ma Cao (Trung Quốc),

tổ chức Đảng ở Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng cơ bản đã hồi phục.

Các cuộc đấu tranh lại bắt đầu sôi động trở lại. Cuối năm 1935, xảy ra cuộc bãi công của hơn công

nhân 1000 xe ngựa kéo ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Các vị trong Hội đồng thành phố đã phải can thiệp với

Thống đốc Nam Kỳ yêu cầu thỏa mãn yêu cầu của công nhân. Cuộc bãi công gây tiếng vang tận sang

chính giới Pháp. Cuối cùng chính quyền Nam Kỳ phải nhượng bộ.

Năm 1936, 2000 tù chính trị Côn Đảo bãi thực để phản đối chế độ lao tù hà khắc, chống việc tái bổ

nhiệm tên ác ôn Bouvier; công nhân trồng thuốc lá ở các tỉnh Gia Định, Thủ Dầu Một, Chợ Lớn, công

nhân nhà máy cưa Khánh Hội (Sài Gòn, 500 công nhân kho muối Cổ May (Bà Rịa)… nổ ra liên tiếp.

Đến cuối năm 1936, sự khủng bố của thực dân Pháp chính thức chấm dứt với các chính sách tương

đối tiến bộ của Mặt trận nhân dân Pháp vốn vừa giành thắng lợi trong tổng tuyển cử ở Pháp. Mặt trận

nhân dân Pháp chỉ đưa ra ba quyết định quan trọng:

Một, thả phần lớn các chính trị phạm.

Hai, thành lập Ủy ban điều tra tình hình các thuộc địa, đặc biệt là Bắc Phi và Đông Dương.

Cuối cùng là thi hành một số cải cách xã hội cho lao động.

Nhưng thật sự đó là những điều kiện cực kỳ thuận lợi để Đảng khuấy động phong trào yêu nước ở

Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng. Hàng loạt các phong trào yêu nước ở Nam Bộ theo các xu

hướng khác nhau lập tức nổ ra mạnh mẽ, hơn hẳn phong trào ở bất cứ nơi nào trên cả nước. Báo chí

tiến bộ Nam Kỳ lập tức lên tiếng bày tỏ sự ủng hộ và hi vọng các chính sách đó sẽ được thi hành một

cách nghiêm túc ở các thuộc địa.

Đảng lập tức nhận thấy việc tổ chức các phong trào không có biện pháp gì tốt hơn là tập hợp quần

chúng để đưa ra các yêu sách. Nguyễn An Ninh là người đầu tiên đưa ra ý kiến thành lập Đông Dương

đại hội. Nhưng thực ra “ý kiến tổ chức một cuộc vận động rộng lớn của quần chúng để thảo dân

nguyện đã được các cán bộ, Đảng viên trong Đảng Cộng sản Đông Dương thảo luận, nhất là từ sau

cuộc Hội nghị Trung Ương ngày 26/6/1936, sau khi Đảng quyết định thành lập một mặt trận rộng rãi ở

Đông Dương bao gồm từ quần chúng lao động đến giai cấp tư sản cải lương. Nguyễn An Ninh là người

gần gũi với Đảng Cộng sản Đông Dương, (…) là một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng ở các tầng lớp

giữa và trên, cho nên ý kiến các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản có mặt ở Sài Gòn lúc đó thì An Ninh là

người tốt nhất để xướng ra một hình thức thích ứng nhằm lập một mặt trận rộng rãi đòi tự do cơm áo

với hình thức Đông Dương đại hội”. [36, tr 543]

Một số chính khách tư sản không muốn cho nhân dân tham gia phong trào Đông Dương đại hội,

muốn độc quyền làm bản dân nguyện để phục vụ cho lợi ích riêng cho giai cấp mình. Nguyên An Ninh

đã trực tiếp cực lực phản đối, “ông phê phán những quan điểm và khuynh hướng sai lầm của một số

người, như ỷ vào văn bằng mà vỗ ngực đại diện cho quần chúng không có học(…), ông bênh vực tiếng

nói chân thật của quần chúng bị áp bức không bị xuyên tạc bởi những người không vì lợi ích thật sự

của quần chúng. [87, tr 23] trước áp lực của nhiều tổ chức và cá nhân tiến bộ, cuối cùng ý kiến của

Nguyễn An Ninh thắng thế.

Đáp lại lời kêu gọi của Nguyễn An Ninh và do sự ủng hộ của Đảng, người dân Nam Bộ hưởng ứng

Đông Dương Đại hội với một thái độ nồng nhiệt.

Một Ủy ban lâm thời được cử ra gồm nhiều phe phái chính trị khác nhau, “từ lập hiến già và cánh

hữu như ông Liêm, ông Khá, đến Cộng sản như anh Tạo, anh Nguyễn. (…) Đến 15, nó sẽ nở rộng thêm

tất cả 35 người. Tuy vậy, đó là một hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất mà ưu điểm là

đoàn kết rộng rãi”. [36, tr 548]

Thực dân Pháp không ngồi yên nhìn phong trào phát triển, các cuộc họp lập tức bị cảnh sát và mật

thám chú ý theo dõi. Những người đâu tiên bị khủng bố là công nhân Ba Son, những người tham gia

hăng hái nhất cuộc vận động. Một số công nhân tham gia hội họp bị sa thải.

Ngay sau đó, một phong trào đấu tranh bênh vực cho những người công nhân Ba Son bùng nổ mạnh

mẽ, gây tiếng vang tận sang Pháp. Chính quyền Pháp ngay lập tức phải nhượng bộ. Giám đốc sở Ba

Son Kahn bị triệu hồi về Pháp. Thắng lợi này là một sự cổ vũ tinh thần rất lớn để quần chúng tích cực

tham gia cuộc vận động hăng hái hơn.

Từ việc thành lập Ủy ban lâm thời, phong trào nhanh chóng phát triển lên thêm một bước dài, đó là

việc vận động thành lập các Ủy ban hành động. Đây thực sự là một thắng lợi lớn của Đảng. Bởi trong

Ủy ban lâm thời Đảng không thể chiếm ưu thế, thì trong các Ủy ban hành động, hầu như đều do các

Đảng viên trực tiếp lãnh đạo và hướng dẫn.

Phong trào Ủy ban hành động phát triển với một tốc độ mau lẹ chưa từng thấy. “Không đầy một

tháng, riêng Nam Kỳ đã có 600 Ủy ban hành động mà phân nửa là ủy ban hành động của công nhân

viên chức công sở, xí nghiệp tư nhân và những công nhân lẻ tẻ, thợ thủ công. Ở thôn quê và lục tỉnh,

Ủy ban hành động trở thành những cơ quan đại diện cho nhân dân, ít nhiều đối lập với hội tề và các cơ

quan chính quyền. Uy thế của Ủy ban hành động lên cao đến nỗi mọi công việc lớn nhỏ giữa nhân dân

trong làng hầu như qua Ủy ban hành động. Uy thế của các hội tề xuống trông thấy”. [36, tr 551]

Trước sự phát triển nhanh chóng của các Ủy ban hành động, thực dân Pháp điên cuồng tìm cách đối

phó. Một số vụ bắt bớ tiếp tục xảy ra. Ngay những người chủ chốt của Lâm ủy lâm thời như Nguyễn

Văn Tạo, Tạ Thu Thâu và Nguyễn An Ninh cũng bị bắt. Đặc biệt, Thống đốc Nam Kỳ đã đặt làm hàng

nghìn dùi cui và ra lệnh cấm hội họp ở Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh lân cận. Mặt khác, chính quyền

Pháp cũng yêu cầu trong vòng 4 ngày từ 21/9/1936 đến 25/9/1936 Lâm ủy Đông Dương Đại hội phải

nộp bản dân nguyện và chấm dứt hoạt động.

Nhưng mưu mô thâm độc nhất tấn công Đông Dương Đại hội của thực dân Pháp là việc xúi giục

những thành viên của Hội đồng quản hạt tách ra khỏi Lâm ủy lâm thời, tìm cách thực hiện trưng cầu

dân nguyện riêng theo hướng có lợi cho chính quyền thực dân.

Nhưng tất cả những mưu đồ đó đều không thể thành công. Trong tù, Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu

Thâu và Nguyễn An Ninh tuyệt thực để phản đối. Một cuộc đấu tranh với quy mô rộng lớn của các tầng

lớp nhân dân bùng lên mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của cả những chính khách tiến bộ ở Pháp. Chính

quyền thực dân Nam Kỳ lúng túng khi không tìm ra lý do của cuộc bắt giữ, rốt cuộc đành phải thả họ

ra.

Mặc dù các Ủy ban hành động buộc phải giải tán trước sự đàn áp của kẻ thù, nhưng các cơ sở Đảng

vẫn được bảo toàn. Đó thật sự là một thắng lợi lớn của quần chúng Nam Bộ trước sự tổ chức và lãnh

đạo đấu tranh của Đảng.

Song song với phong trào Đông Dương Đại hội, các cuộc bãi công tiếp tục diễn ra một cách liên tục

và có hệ thống. Đặc biệt, công nhân nhà máy cưa Tân Mai (Biên Hòa) lần đầu tiên sử dụng cách chiếm

cứ luôn xưởng làm để gây sức ép với chủ xưởng.

Năm 1937, phái viên của chính phủ Pháp là Godart được đặc phái sang Đông Dương để điều tra

tình hình xã hội và lao động. Godart là đảng viên Đảng Cấp tiến, một đảng tán thành chủ nghĩa thực

dân. Thực chất, những người Cộng sản Đông Dương không hề có ảo tưởng gì về Godart, nhưng cho

rằng “cần phải thừa cơ hội cho ông Gô đa sang điều tra mà vận động một phong trào công nhân, nông

dân và nhân dân rộng rãi đưa yêu sách, gây thêm một đà chiến đấu đòi quyền lợi của mình”. [36, tr

611]

Xứ ủy Nam Kỳ lập tức huy động chừng 20.000 người đủ các thành phần, tiến về bến cảng Nhà

Rồng. Đoàn người kéo dài cả cây số, nhưng rất có trật tự. Mặc dù bị ngăn cản, nhưng vẫn có hơn 5000

người lọt được vào trong bến cảng, căng các biểu ngữ đòi tự do dân chủ.

Hai tuần sau, Brévié, tân toàn quyền Đông Dương đến Sài Gòn. Cuộc biểu tình đón tiếp Brévié diễn

ra còn lớn hơn cả lần đón tiếp Godart. Rút kinh nghiệm từ cuộc biểu tình đón Godart, chính quyền thực

dân Nam Kỳ huy động một số lượng lớn cảnh sát, lính lưu động và cả quân đội về Sài Gòn để quyết

trấn áp quần chúng. Cuộc biểu tình nhanh chóng biến thành xung đột. Rất nhiều người bị thương,

nhưng khí thế của quần chúng thì không hề giảm sút.

Tháng 6/1937, Đảng chủ trương thành lập Ủy ban sáng xuất nghiệp đoàn. Mục đích là tích cực đề ra

những sáng kiến để đi đến thành lập các tổ chức công đoàn trong các xí nghiệp, đấu tranh chống chính

quyền thực dân cắt xén luật công đoàn. Qua năm 1938, Ủy ban sáng xuất nghiệp đoàn đổi tên thành

“Ủy ban đại biểu công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn”. Có thể nói “Chính những công việc không tên không

tuổi mà bền bỉ, thiết thực đã làm cho giai cấp công nhân và quần chúng lao động gắn bó với những

người cộng sản, với Đảng Cộng sản”. [36, tr 712]

Mặc dù tổ chức này ngay lập tức bị thực dân Pháp tìm cách chống phá và buộc phải giải tán. Nhưng

“phong trào ái hữu và công đoàn từ năm 1937 - 1939 đã giác ngộ được hàng vạn công nhân, đã làm

cho mối liên hệ giữa giai cấp công nhân với Đảng Cộng sản thêm vững vàng, sâu sắc và tương đối

mau lẹ vì đã biết lợi dụng những khả năng công khai hợp pháp để truyền bá tư tưởng cách mạng trong

quần chúng”. [36, tr 712]

Cũng trong năm 1938, cùng với các cuộc bãi công tiếp tục nổ ra ngày càng nhiều, các cuộc đấu

tranh của nông dân, tiểu tư sản thành thị cũng diễn ra sôi nổi. Toàn Nam Kỳ trong năm này có đến 112

cuộc đấu tranh, trong đó có 8 cuộc bãi thị.

Đặc biệt, ngày 1/5/1938, nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động, bộ phận công khai của Đảng bộ

thành phố Sài Gòn vận động tổ chức một cuộc mít tinh lớn ở rạp hát Đội Có, huy động hàng ngàn

người đủ các thành phần xã hội. Những người mít tinh hô vang các khẩu hiệu đòi tự do dân chủ, ủng hộ

Liên Xô và phong trào cách mạng thế giới. Phái Tờ - rốt - kít trà trộn vào cuộc mít tinh gây chia rẽ và

phá hoại nhưng ngay lập tức bị quần chúng vạch mặt và đuổi ra khỏi rạp.

Từ tháng 10/1938, trong khi mà phong trào công nhân diễn ra bình thường thì phong trào nông dân

đột ngột rộ lên. Các cuộc đấu tranh của nông dân diễn ra phần lớn ở khu vực Hậu Giang. Tất cả các

cuộc đấu tranh trên đều do Đảng tổ chức và lãnh đạo. Có thể nói, “trong suốt thời gian từ năm 1936

đến 1939, Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động mạnh mẽ ở thành thị, mà không xem nhẹ nông thôn;

ngược lại, trong suốt thời gian đó, phong trào đấu tranh của nông dân phát triển song song với phong

trào công nhân”. [36, tr 754]

Cuối năm 1938, đầu năm 1939, nguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ hai đến gần. Thực dân Pháp ảo

tưởng Nhật sẽ bị sa lầy ở Trung Quốc và phải dè chừng Liên Xô nên không dám tiến xuống Đông

Dương. Tuy nhiên, Đảng không có một chút ảo tưởng nào về chuyện đó. “Đông Dương không chắc gì

khỏi bị đánh phá. Căn cứ theo tình hình quốc tế, chúng tôi hô hào dân chúng vì ủng hộ nền hòa bình

thế giới và hòa bình ở Viễn Đông, vì ủng hộ Liên bang Xô Viết - cột trụ của hòa bình, hãy kịch liệt

phản đối chính sách đầu hàng thỏa hiệp…”. [36, tr 772]

Đảng kêu gọi quần chúng chấp nhận đứng bên cạnh chính quyền thực dân để cùng phòng thủ Đông

Dương. Tuy nhiên, “dân chúng phòng thủ Đông Dương mà không tranh đấu đòi tự do dân chủ, đòi cải

thiện sinh hoạt, đòi vũ trang để phòng thủ thì sự phòng thủ ấy chỉ là phòng thủ suông, không có ý

nghĩa”. [36, tr 773]

Tháng 3/1939, trong dịp cổ động tranh cử Hội đồng quản hạt Nam Kỳ, những người Cộng sản một

lần nữa khẳng định lại thái độ đó. Đồng thời cũng kêu gọi “liên hiệp các lực lượng dân chủ toàn xứ để

đối phó với thế lực phản động của bọn đại tư bản tài chính (…), và mở rộng lực lượng dân chủ để

chống xâm lược phát xít Nhật”. [36, tr 774]

Nhưng thái độ của chính phủ Pháp là hoàn toàn không có thiện chí. Daladier một mặt nhượng bộ

phát xít Đức, một mặt tăng cường khủng bố các đảng phái tiến bộ, đặc biệt là Đảng Cộng sản Pháp.

Bọn phản động Pháp ở Đông Dương bấy giờ cũng ngóc đầu dậy, phản công các phong trào đấu tranh

yêu nước của quần chúng, thu hẹp các quyền dân chủ mà trước đây chính quyền thực dân đã buộc phải

nhượng bộ.

Tình thế xoay chuyển hết sức mau lẹ. Trước hoàn cảnh đó, tháng 2/1939, Xứ ủy Nam Kỳ triệu tập

Hội nghị toàn thể ở Sài Gòn nhằm kiểm điểm tình hình hoạt động, tiếp tục lãnh đạo phong trào đi lên.

Kết thúc hội nghị “Xứ ủy Nam Kỳ đã ra 16 quyết định về nhiệm vụ trong thời gian tới, trong đó có

những vấn đề phát triển Đảng, tổ chức các cơ quan huấn luyện, hợp pháp hóa các hội quần chúng…”.

[101, tr 631]

Tiếp đó, tháng 11/1939, Hội Nghị ban Chấp hành trung ương Đảng lần thứ 6 được tổ chức tại Bà

Điểm, Hóc Môn (Gia Định) đã phân tích tình hình trong nước và quốc tế, bước đầu đề ra những sự

chuyển hướng chỉ đạo chiến lược để phù hợp với thực tiễn cách mạng.

Như vậy, Đảng đã nhận thấy nguy cơ đe dọa và có sự đề phòng. Bộ phận nào của Đảng đang công

khai, hoạt động hợp pháp một cách an toàn thì vẫn tiếp tục hoạt động. Còn đại đa số bộ phận còn lại thì

rút vào bí mật. Tuy vậy “sự rút vào bí mật không phải hấp tấp, không bỏ mất vị trí đấu tranh của

mình”. [36, tr 832]

Những chủ trương của Đảng là rất chính xác, bảo toàn được lực lượng của cả Đảng và quần chúng

và tiếp tục đưa công cuộc giải phóng dân tộc ở Nam Bộ phát triển lên một tầm cao mới.

Ngày 1/9/1939, chiến tranh thế giới thứ hai chính thức bùng nổ. Lịch sử Nam Bộ cũng bắt đầu

chuyển sang một bước ngoặt mới.

Tóm lại, do những điều kiện kinh tế xã hội đặc thù của vùng Nam Bộ, bất chấp sự khủng bố dã man

của thực dân Pháp sau phong trào cách mạng 1930 - 1931, các phong trào yêu nước ở Nam Bộ xuất

hiện ngày nhiều. Các tổ chức Đảng đến năm 1935 đã cơ bản hồi phục lại. Không chỉ vậy, các lực lượng

yêu nước khác cũng trỗi dậy mạnh mẽ. Dưới vai trò liên kết và tổ chức phát động các phong trào đấu

tranh của Đảng, giai đoạn 1936 - 1939 là một giai đoạn sôi động của phong trào đấu tranh yêu nước ở

Nam Bộ. Tuy nhiên, đây chỉ là giai đoạn mang tính chất quy tập các lực lượng yêu nước ở Nam bộ,

phát triển tổ chức và xác lập vị trí lãnh đạo của Đảng ở Nam Bộ để chuẩn bị cho các cuộc đấu tranh

quyết liệt hơn ở giai đoạn tiếp theo.

2.2.2 Đảng tập hợp của các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ giai đoạn 1940 - 1944

Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, thực dân Pháp dường như tin tưởng tuyệt đối vào thắng lợi

chắc chắn trước phe phát xít. Thế nhưng cục diện chiến trường không đơn giản như vậy. Cuộc tiến

công như vũ bão của quân đội Đức tháng 6/1940 xuyên thủng chiến lũy Maginot, tiêu diệt phần lớn

sinh lực quân đội Pháp. Rồi Paris cũng bị chiếm, chính phủ đầu hàng phát xít Pétain được dựng lên.

Nước Pháp đã thực sự bị đánh khụy.

Được tin Pháp ký hàng ước với Đức, đám tay sai thực dân Nam Kỳ được sự xúi giục của Phủ Toàn

quyền Đông Dương lập tức tổ chức một cuộc hội nghị lớn tại Hội quán Nam Kỳ Tương tế (Sài Gòn).

Cuộc họp thu hút đến khoảng 500 người, mục đích là để trấn an lại dư luận không hay sau thất bại nhục

nhã của Pháp.

Thất bại của nước Pháp tác động sâu sắc đến thái độ của những lực lượng yêu nước Nam Bộ.

“Một số người quốc gia thấy ở sự bại trận của Pháp một cơ hội để có thể giải phóng đất nước, làm

cái việc mà cụ Phan Bội Châu định làm trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất: song vì họ hoặc

không có quần chúng, hoặc không tin vào sức mạnh của quần chúng, cho nên một số người ấy trông

mong có thể đánh lá bài Nhật Bản, “lợi dụng Nhật Bản”. Lúc ấy số đông tín đồ đạo Cao Đài không

giấu nỗi vui mừng khi thấy Pháp thất trận; họ nghĩ rằng sớm muộn Nhật sẽ đem Cường Để về làm vua

nước Việt Nam độc lập”. [36, tr 846]

Còn đa số các tầng lớp nhân dân lao động ở thành thị và thôn quê, kể cả trong một số Đảng viên

Cộng sản cũng cho rằng thất bại của nước Pháp chính là phát pháo hiệu cho một thời cơ cách mạng đã

chín muồi.

Tháng 3/1940, Xứ ủy Nam Kỳ phát hành quyển Đề cương chuẩn bị bạo động, tổ chức quân đội

cách mạng và chuẩn bị vũ khí.

Tháng 7/1940, Đại biểu các đoàn thể Nam Kỳ nhóm họp ở Mỹ Tho để thảo luận đề cương khởi

nghĩa, chuẩn bị cướp chính quyền ở Nam Bộ. Sau hội nghị, Đồng chí Phan Đăng Lưu được cử ra Bắc

để thông qua ý kiến của Trung Ương Đảng.

Trong khi công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa đang tiến hành sôi nổi thì tình hình khách quan cũng xuất

hiện nhiều yếu tố thuận lợi. Tháng 9/1940, trong khi Nhật gây áp lực với Pháp để tiến vào Bắc Kỳ, thì

ở phía Nam, Thái Lan có sự hậu thuẫn của Nhật, cũng yêu cầu Pháp phải nhượng cho một số địa phận

ở Lào và Campuchia. Thực dân Pháp tất nhiên không đồng ý. Cuối tháng 10/1940, chiến tranh Pháp –

Thái bùng nổ.

Một phong trào phản chiến của các binh sỹ người Việt lập tức dấy lên. Nhiều cuộc biểu tình của

binh lính ở Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Sài Gòn… nổ ra liên tiếp. Xứ Ủy Nam Kỳ hi

vọng nhờ công tác địch vận mà có thể tranh thủ lực lượng quân lính này để tăng thanh thế cho khởi

nghĩa.

Lực lượng Đảng Cộng sản ở Nam Bộ bấy giờ cũng được đánh giá là “mạnh nhất Đông Dương” [36,

tr 861] và “ở Nam Kỳ 30% nhân dân chịu ảnh hưởng của Đảng” [36, tr 861].

Chính vì vậy mà các Đảng viên Nam Bộ khi ấy cho rằng bấy giờ chính là thời cơ để đánh đổ chính

quyền thực dân Pháp.

Tuy nhiên, thực ra tất cả những yếu tố thuận lợi đó vẫn chưa đủ điều kiện chín muồi cho một cuộc

bạo động. Trung ương Đảng sau khi phân tích kỹ lưỡng tình hình đã không chuẩn y nghị quyết của Xứ

ủy Nam Kỳ. Nhưng tình hình ở Nam Bộ diễn biến quá mau lẹ. Nhiều binh lính Việt Nam ở khắp các

tỉnh bị dồn tới Sài Gòn để đưa lên mặt trận Campuchia, Lào. Tin các đơn vị phản chiến sắp bị gọi đi

làm cho binh lính thiết tha đòi hỏi khởi nghĩa. Lệnh khởi nghĩa vì vậy được phát ra một cách vội vã.

Quyết định trì hoãn khởi nghĩa của Trung ương Đảng chưa về tới thì lệnh khởi nghĩa đã được phát đi.

Cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra đêm 22 rạng ngày 23/11/1940, trên phạm vi hầu khắp các tỉnh Nam

Bộ, đặc biệt quyết liệt ở các Hóc Môn (Bà Điểm, Gia Định), Cai Lậy (Mỹ Tho), Vũng Liêm (Vĩnh

Long). “Cả vùng nông thôn rung chuyển trước sức mạnh tiến công của quần chúng cách mạng. Nhiều

đồn bốt, công sở, đường giao thông… của địch bị phá. Tại một số xã, quận, chính quyền địch hoang

mang tan rã, chính quyền cách mạng được thành lập (…)”. [101, tr 703]

Do thời cơ khởi nghĩa chưa chín, và nhất là do kế hoạch khởi nghĩa bị lộ, cuộc khởi nghĩa không

phát huy được hết những tiềm lực vốn có. Trước ngày khởi nghĩa, phần nhiều các đơn vị quân lính yêu

cầu khởi nghĩa đã bị điều động đi rồi. Các đơn vị còn lại không đủ sức cướp trại. Lại bị thực dân Pháp

chủ động tước khí giới, giam chặt trong trại. “Vì vậy mà, tuy rằng khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra dưới sức

thúc đẩy của binh lính, nhưng khi khởi nghĩa nổ ra lại không có binh lính tham gia”. [36, tr 861]

Hơn nữa, tuy khởi nghĩa nổ ra rộng khắp, nhưng vẫn có những địa phương có tụ tập lực lượng

nhưng không khởi nghĩa như Gia Định, Chợ Lớn, Tân An…

Thực dân Pháp nhanh chóng trấn áp các cuộc nổi dậy ở các địa phương. “Trong thời gian từ ngày

23/11/1940 đến ngày 31/12/1940, ở các tỉnh Gia Định, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên, thực dân Pháp

bắt 5.848 người. Hàng ngàn người bị xử tử, bị đày ra Côn Đảo, đi các trại tập trung Tà Lài, Bà Rá”.

[101, tr 703] Cả Xứ Ủy Nam Kỳ và Thành ủy Sài Gòn đều bị bắt. Tổn thất của Đảng là rất nặng nề.

Lực lượng ít ỏi còn lại của cuộc khởi nghĩa rút về Truông Mít (Thủ Dầu Một), Bình Hòa, Bình

Thành trong vùng Đồng Tháp và rừng U Minh để củng cố lại lực lượng.

Tháng 7/1941, hàng chục vạn quân Nhật bắt đầu đổ bộ vào Nam Đông Dương, trong đó có Nam

Bộ. Khá nhiều lực lượng yêu nước ở Nam Bộ khi ấy vẫn ảo tưởng, mong rằng Nhật sẽ lật đổ Pháp, đưa

Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về nước làm vua và tuyên bố cho Việt Nam độc lập.

Phái Cao Đài của Trần Quang Vinh đứng ra công khai cộng tác với Nhật. Huỳnh Phú Sổ, giáo của

đạo Cao Đài đang bị Pháp an trí ở Bạc Liêu được Nhật đưa về Sài Gòn. Những trí thức như Nguyễn

Văn Sâm, chủ tịch hội nhà báo, giáo sư toán học Hồ Văn Ngà lập ra đảng Quốc gia độc lập. Đặc biệt,

tháng 9/1943, “Nhật hạ lệnh cho các đảng phái việt gian thân Nhật (Phục Quốc, Đại Việt, Phục Việt,

Quốc Xã, Cao Đài, Phật Thầy…) họp “Đại hội” ở Sài Gòn, thống nhất lại thành một đoàn thể thân

Nhật, lấy tên chung là “Việt Nam phục quốc đồng minh hội” và quyết định chuẩn bị lập “chính phủ

lâm thời” đem Cường Để về làm vua. [13, tr 82]

Nhưng niềm tin ấy nhanh chóng lụi tắt. Năm 1942, rồi 1943 trôi qua mà tình hình vẫn chẳng có gì

thay đổi. Chính quyền Pháp vẫn được giữ nguyên, trở thành chỗ dựa cho quân đội Nhật. Những người

thân Nhật nhưng có tinh thần yêu nước bắt đầu thất vọng.

Xét kỹ lại thì một số phần tử trí thức cũng như quần chúng Nam Bộ thân Nhật cũng không phải là

một lỗi lầm không thể tha thứ. Tuy nhiên, tầm nhìn của họ quá hạn hẹp. Một số người cũng không hẳn

tin vào lòng tốt của Nhật, nhưng vẫn đi theo Nhật với hi vọng có thể “lợi dụng” Nhật để chống Pháp,

nhưng “kỳ thật kẻ bị lợi dụng không phải là Nhật”. [36, tr 861]

Khác với những lực lượng thân Nhật, Đảng Cộng sản nhận thức rất rõ bộ mặt thật của Nhật. Ngay

từ khi quân đội Nhật mới đặt chân đến Nam Bộ. Các cơ sở Đảng bấy giờ vẫn còn chưa gượng lại được

sau những đòn tấn công của thực dân Pháp, nhưng cũng tổ chức một cuộc bãi công lớn thu hút 500

công nhân khuân vác ở Xóm Chiếu (Sài Gòn) để phản đối sự bạc đãi tàn bạo của quân đội Nhật.

Cũng trong năm 1941, Hội nghị Ban chấp hành Trung Ương Đảng họp tại Cao Bằng được triệu tập

dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị phân tích thực tiễn tình hình Việt Nam và thế giới, đưa

ra những chỉ đạo cấp thiết cho cuộc đấu tranh trong hoàn cảnh mới. Đặc biệt, Hội nghị đã ra quyết định

thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng mình (gọi tắt là Việt Minh) để tập hợp tất cả các lực lượng

yêu nước trong một mặt trận chung để chống Nhật – Pháp. Tuy nhiên, ảnh hưởng của những nghị quyết

Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8 đối với Nam Bộ là hết sức hạn chế. Bởi tổ chức

Đảng ở đây gần như đã tê liệt. Một số đoàn thể quần chúng chỉ xuất hiện lẻ tẻ ở vùng ngoại ô Sài Gòn –

Chợ Lớn và một số nơi ở Gia Định.

Năm 1942, các cơ sở Đảng mới bắt đầu được phục hồi ở Nam Bộ. Tổ chức Liên tỉnh ủy Miền Đông

được thành lập, phát hành tờ báo Giải phóng làm cơ quan ngôn luận. Liên tỉnh ủy ra đời đánh dấu một

bước phát triển mới sau những tổn thất nặng nề của Đảng sau Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940.

Năm 1943, một số tỉnh ủy được lập lại, các cơ sở Đảng bắt đầu xuất hiện trở lại ngày càng nhiều.

Trước tình hình đó, để đáp ứng vấn đề phát triển phong trào cách mạng đều khắp trong cả nước, Trung

ương Đảng quyết định tăng cường thêm một số cán bộ vào để giúp đỡ công tác đảng ở Nam Bộ, thúc

đẩy phong trào Việt Minh. Bấy giờ, trong điều kiện mới, các hoạt động khủng bố của Pháp – Nhật đã

giảm, một số Đảng viên đã mãn hạn tù hoặc vượt ngục trở lại hoạt động. Tổ chức Đảng ở Nam Kỳ

quyết định thành lập lại Xứ ủy Nam Kỳ, do Trần Văn Giàu làm Bí thư, lấy báo Tiền Phong làm cơ

quan ngôn luận.

Tháng 4/1944, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam kỳ, Tổng công đoàn Nam Kỳ được thành lập, đánh

dấu bước phát triển mới của phong trào công nhân Nam Bộ. Đồng thời với sự phát triển của phong trào

công nhân, Mặt trận Việt Minh bắt đầu lan rộng. Tổ chức Kỳ bộ Việt Minh Nam Kỳ được thành lập.

Tuy nhiên, so với các địa phương miền Bắc và Trung, phong trào Việt Minh ở Nam Bộ phát triển

không bằng. “Việt Minh Nam Kỳ đến thời điểm đầu năm 1945 vẫn phát triển chủ yếu ở nông thôn,

trong nông dân và ngay trong tầng lớp này cũng không thu hút được đông đảo”. [101, tr 867]

Có thể thấy, giai đoạn 1940 – 1944 là một khoảng thời gian đầy biến động của lịch sử Nam bộ.

Năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra do chủ trương của Xứ ủy Nam Kỳ. Do những nguyên nhân

chủ quan và cả khách quan, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp. Sau Khởi nghĩa

Nam Kỳ, lực lượng của Đảng Cộng sản ở Nam Bộ bị tổn thất nghiêm trọng. Các xu thế yêu nước phi

cộng sản ở Nam Bộ vì thế có điều kiện để phát triển.

Nhưng điều đó đã không xảy ra.

Xu thế yêu nước tư sản vẫn yếu đuối và bất lực. Thậm chí còn không tổ chức được một hoạt động

nào đáng kể, gây được tiếng vang như những giai đoạn trước. Số trí thức, tư sản thân Pháp thì lộ rõ bộ

mặt phản động, quay lưng lại với quyền lợi của quốc gia dân tộc.

Trong bối cảnh như vậy, Đảng Cộng sản từng bước được phục hồi, tiếp tục nắm lấy ngọn cờ lãnh

đạo các phong trào yêu nước mà gần như không vấp phải một sự trở ngại hay một đối thủ nào đáng kể.

Tuy nhiên, thực lực của Đảng trong giai đoạn này, vốn vừa mới hồi phục, tất nhiên không còn được

mạnh mẽ như xưa. Vì vậy, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Nam Bộ trong khi thời cơ ngàn năm có

một xuất hiện, lại có những biểu hiện bằng một sắc thái rất riêng, không giống như các địa phương

khác trên cả nước.

2.2.3 Cách mạng tháng Tám - thành quả của sức mạnh tổng hợp của các xu hướng yêu nước ở

Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng

Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc với thất bại không thể

tránh khỏi của khối phát xít. Trước sự tấn công như vũ bão của quân đội Đồng minh, đã đến lúc Nhật

phải loại bỏ Pháp, nhằm “gỡ một chiếc gai dưới bàn chân, để trừ bỏ một khả năng bị đánh sau lưng”

[37, tr 1088] khi quân Đồng minh đánh tới.

Cuộc đảo chính diễn ra vào đêm 9/3/1945. Ở Sài Gòn, để che mắt nhân dân Nam Bộ, Nhật huy

động mấy ngàn quân Cao Đài của Trần Quang Vinh để làm thanh viện, với mục đích tuyên truyền cuộc

tấn công thực sự là một cuộc “cách mạng giải phóng”, và nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng chiến

đấu vì độc lập tự do của dân tộc.

Thực dân Pháp chống cự yếu ớt rồi đầu hàng nhanh chóng. Lật xong Pháp, Nhật hùng hồn tuyên bố

trao trả độc lập cho Việt Nam. Tuy nhiên, thái độ của nhân dân Việt Nam sau sự kiện ấy là rất dửng

dưng. Sau đảo chính, tất cả vẫn y như cũ, đất Nam Bộ vẫn là thuộc địa, thay vì của Pháp thì giờ đây là

của Nhật. Chế độ trực trị và bộ máy chính quyền trước đó được giữ nguyên. Đến đây thì ngay cả một

số phần tử thân Nhật ở Nam Bộ, những người khao khát sự kiện này mấy năm trời đằng đẵng, cũng đã

nhận rõ dã tâm của Nhật, biết vì sao đến thời điểm này Nhật mới chịu hất cẳng Pháp.

Nhưng dẫu sao, để tạo cho mình một chỗ dựa vững chắc, ngoài các tổ chức thân Nhật cũ, Nhật cũng

rất rộng rãi trong việc cho phép thành lập các đảng phái mới có xu hướng thân Nhật. Các đảng phái

xuất hiện như nấm sau mưa ở Nam Bộ: Việt Nam Quốc gia đảng, Việt Nam quốc gia độc lập đảng,

Đảng Huỳnh Long, Hội cựu binh sỹ, Tổng hội viên chức… Phe Tờ rốt kít ở Sài Gòn cũng lợi dụng thời

thế bắt đầu hoạt động trở lại. Mặc dù vậy, “các tổ chức mới mọc đó không phải cái nào cũng là phe

Nhật. Trừ các giáo phái ra, trừ tổ chức của thanh niên, học sinh, công chức ra thì không mấy tổ chức

có quần chúng”. [36, tr 1101]

Sau cuộc đảo chính ngày 9/3/1945 của Nhật, Xứ ủy Nam Kỳ tổ chức Hội nghị liên tịch với các Tỉnh

ủy tại Phú Lạc (Chợ Lớn) để đánh giá tình hình, bàn bạc chủ trương hành động. Trong hội nghị, vấn đề

chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền là một trọng tâm quan trọng. Hội nghị cho

rằng “lực lượng cán bộ ở Nam Kỳ còn rất mỏng, “địch có mười, ta chưa được một”. Nếu tương quan

lực lượng không thay đổi thì khi Nhật đầu hàng đồng minh, ta khó có thể giành chính quyền”. [101, tr

920]

Khó khăn không chỉ dừng lại ở đó, lực lượng của Đảng ở Nam Bộ khi ấy không những mỏng mà lại

phân tán. Cũng trong tháng 3/1945, một nhóm đảng viên đã nhóm họp ở Xoài Hột (Châu Thành, Mỹ

Tho) và cũng đi tới thành lập một tổ chức Xứ ủy Nam Kỳ khác, do Trần Văn Vi làm Bí thư, lấy báo

Giải phóng làm cơ quan ngôn luận. Như vậy, thời điểm tháng 3/1945, Đảng cộng sản ở Nam Bộ có hai

tổ chức Xứ ủy hoạt động độc lập với nhau. Xứ ủy của Trần Văn Vi thường được gọi là xứ ủy Giải

phóng. Tổ chức kia do Trần Văn Giàu làm Bí thư, lấy báo Tiền phong làm cơ quan ngôn luận, được

thành lập từ năm 1943, gọi là Xứ ủy Tiền Phong.

Việc hình thành hai tổ chức Đảng tồn tại song song với nhau không chứng tỏ tổ chức Đảng phát

triển, ngược lại cho thấy sự khó khăn trong việc hoạt động của Đảng ở Nam Bộ. Tất nhiên, hai tổ chức

này chưa có mâu thuẫn gì lớn với nhau. Nhưng nếu muốn tiến hành cách mạng thuận lợi thì cần phải có

sự phối hợp trong hoạt động và tiến tới sát nhập lại với nhau thành một tổ chức thống nhất.

Trong khi tình hình chuẩn bị của Xứ ủy Nam Kỳ đang diễn ra gấp rút thì Hội nghị Thường vụ trung

ương Đảng họp ngày 12/3/1945 cũng đưa ra những chỉ thị cần thiết. Đó là cần phải tập trung chuẩn mọi

lực lượng để khi thời cơ đến thì lập tức khởi nghĩa.

Nắm bắt tinh thần đó, ngày 15/4/1945, Đại hội đại biểu Xứ bộ Nam Kỳ ra lời Hiệu triệu, kêu gọi tất

cả các đoàn thể quần chúng và các tầng lớp nhân dân đứng chung vào một mặt trận thống nhất. Bản

Hiệu triệu nêu rõ: “Đảng cộng sản chúng tôi trải muôn trùng khủng bố của đế quốc Pháp, vẫn còn

sống và nay còn có bề sáng suốt và mạnh mẽ hơn xưa. Chúng tôi là đảng duy nhất có cơ sở từ Cà Mau

đến Lạng Sơn ấy thế mà không xem rẻ một đoàn thể nhỏ nào, một cá nhân nào biết thương nước, yêu

dân”. [101, tr 932]

Trên cơ sở đó, bản Hiệu Triệu kêu gọi các lực lượng yêu nước ở Nam Bộ, từ Cao Đài, Hòa Hảo, các

đảng phái, đoàn thể đến các cá nhân yêu nước hãy hưởng ứng phong trào đấu tranh kháng Nhật, giành

lấy độc lập tự do.

Bản Hiệu triệu cũng nêu bật vai trò của Đảng Cộng sản: “Chúng ta là tiền phong của dân chúng,

hãy nỗ lực hoạt động, tuyên truyền tổ chức, chiến đấu cho thanh danh của Đảng được nâng cao, cho

sứ mạng của dân được hoàn thành, giải thoát dân tộc”. [101, tr 933]

Giữa tháng 5/1945, quân đội Nhật liên tiếp thất bại trên các chiến trường Viễn Đông. Quân Nhật

hoang mang tột độ. Phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Bộ ngày càng lên cao. Để cứu vãn tình thế,

chính quyền Nhật ở Nam Bộ bấy giờ vẫn cố gắng trong tuyệt vọng, tìm cách lợi dụng một số trí thức có

uy tín để phát động một phong trào thanh niên để lôi kéo một bộ phận quần chúng xa rời các cuộc đấu

tranh. Người phụ trách Thanh niên và Thể thao của Nhật đã lựa chọn và mời bác sỹ Phạm Ngọc Thạch

phát động phong trào.

Tuy nhiên, bác sỹ Phạm Ngọc Thạch lại chính là một Đảng viên cộng sản. Xứ ủy Tiền Phong lập

tức chủ trương lợi dụng kế hoạch của Nhật để gây dựng lực lượng. Nhiều cuộc mít tinh diễn ra rầm rộ

sau đó ở khắp Sài Gòn để ủng hộ cuộc vận động. Kết quả là tổ chức “Thanh niên tiền phong” ra đời, trở

thành lực lượng vũ trang cách mạng sơ khai của Đảng ở Nam Bộ. Phong trào Thanh niên tiền phong

nhanh chóng lan ra khỏi phạm vi Sài Gòn, phát triển mạnh ở hầu hết các tỉnh Nam Kỳ. Số lượng hội

viên tăng nhanh chóng, lên đến hàng triệu người.

Tháng 6/1945, cục diện chiến trường ngày càng bi đát đối với quân đội Nhật. Ở trong nước, chính

phủ Trần Trọng Kim bất lực trước những tình thế cấp bách của đất nước (kinh tế đình đốn, nạn đói lan

tràn, không đàm phán được vấn đề độc lập thống nhất đất nước với Nhật…). Lòng tin vào chính phủ

Trần Trọng Kim và Nhật dần lụi tắt. Các phe phái thân Nhật ở Nam Bộ dần rã đám.

Tình hình càng ngày càng có lợi cho cách mạng. Tương quan lực lượng dần thay đổi nhanh chóng.

“Nhiều đảng viên thoát ngục, các đồng chí ẩn náu ra tham gia công tác, các tổ chức cách mạng ở Sài

Gòn đã hoạt động trở lại, lực lượng cách mạng đã có vài trăm đảng viên và vài ngàn đoàn viên công

đoàn, nhiều tổ chức thân Nhật, nhiều binh lính người việt cũng đã ngả về phía cách mạng”. [101, tr

920 - 921]

Tháng 7/1945, lực lượng cách mạng phát triển ngày càng mạnh, nhưng tình hình không thống nhất

trong tổ chức Đảng ở Nam Bộ vẫn là một điều nhức nhối. Trung ương Đảng nhận định: “Chúng ta sẽ

phạm phải một tội lớn, nếu trước giờ quyết liệt mà chúng ta còn chia rẽ mãi”. [101, tr 970] Trước tình

hình chia rẽ của tổ chức Đảng Nam Kỳ, Trung ương Đảng rất quan tâm và đã cử các cán bộ vào để tiến

hành sát nhập cả hai tổ chức, trên tinh thần “Để thống nhất Đảng bộ Nam Kỳ hãy kíp đi vào đường lối”

của Trường Chinh.

Kết quả của những nỗ lực đó của Trung ương Đảng đã được cụ thể hóa bằng cuộc họp hỗn hợp của

hai Xứ ủy tại Láng Le. Trong cuộc họp, hai Xứ ủy đều đồng ý lập một Ủy ban hành động chung. Tuy

nhiên, do Đảng bộ bị chia rẽ khá sâu sắc nên Ủy ban hành động chung chỉ đạt được về danh nghĩa chứ

chưa làm được gì nhiều trong thực tế. Sự thật là trong cách mạng tháng Tám, việc giành chính quyền,

giữ chính quyền và các nhân sự của chính quyền cấp xứ sau khi khởi nghĩa thành công vẫn là do hai

Xứ ủy tiến hành riêng rẽ, chưa thống nhất được với nhau.

Tháng 8/1945, chiến tranh thế giới thứ hai đang đi đến những ngày cuối cùng. Nhật Bản thoi thóp

chờ đòn tấn công quyết định của quân đội Đồng Minh. Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa đang tiến hành

một cách hết sức thuận lợi trên phạm vi cả nước. Thời cơ cách mạng đã dần xuất hiện.

Ngày 15/8/1945, Nhật tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Đảng Cộng sản Đông Dương lập tức ra

lời Hiệu triệu, phát động Tổng khởi nghĩa.

Ở Nam Bộ, được tin Nhật đầu hàng Đồng Minh, mặc dù chưa nhận được chỉ thị khởi nghĩa của

Trung Ương, Xứ ủy Tiền Phong lập tức thành lập Ủy ban khởi nghĩa, do Trần Văn Giàu làm chủ tịch.

Tối 16/8/1945, Hội nghị mở rộng Xứ ủy Nam Kỳ (Tiền Phong) được triệu tập tại Chợ Đệm (Chợ

Lớn) để bàn về vấn đề khởi nghĩa. Đa số đại biểu cho rằng thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi, nếu không

hành động sẽ bỏ lỡ thời cơ. Tuy nhiên, một số người vẫn lo ngại quân đội Nhật sẽ theo lệnh Đồng

Minh đàn áp cách mạng. Sự e ngại này không phải không có cơ sở. Cuối cùng, hội nghị đi đến quyết

định vẫn tiếp tục xúc tiến khởi nghĩa, nhưng chờ tin từ Trung ương. Hễ thấy Trung ương khởi nghĩa thì

lập tức tiến hành kế hoạch.

Sáng ngày 19/8/1945, 70.000 Thanh niên tiền phong tổ chức tuyên thệ lần thứ hai tại vườn Ông

Thượng để biểu dương lực lượng.

Ngày 20/8/1945, Việt Minh ra hoạt động công khai ở Sài Gòn. Cờ Việt Minh, cờ Đảng xuất hiện

khắp nơi.

Sáng ngày 21/8/1945, được tin Hà Nội đã khởi nghĩa thắng lợi. Hội nghị mở rộng Xứ ủy Nam Kỳ

(Tiền Phong) lại được tái họp. Hội nghị quyết định chọn Tân An làm khởi nghĩa thí điểm để thăm dò

phản ứng của Nhật. Đồng thời lên kế hoạch chi tiết cho việc nổi dậy ở Sài Gòn.

Đêm 24/8/1945, Kỳ bộ Việt - Minh ra đời và mở hội nghị hiệp thương, lập danh sách Ủy ban hành

chính lâm thời Nam Bộ. Đảng Dân chủ Việt Nam và Tổng Công đoàn ra công khai. Ủy ban Tổng Khởi

nghĩa Sài Gòn bắt tay vào chỉ đạo hành động. Khắp thành phố nổi lên những khẩu hiệu:

"Bảo Đại phải thoái vị".

"Nguyễn Văn Sâm phải từ chức".

"Chính quyền về tay Việt-Minh".

"Việt Nam độc lập muôn năm".

"Đảng Cộng sản Đông dương muôn năm".

Các đội trưởng quân khởi nghĩa họp tại trụ sở Hướng đạo sinh ở đường Pen - lơ - ranh nghe phổ

biến chủ trương tổng khởi nghĩa, rồi tấp nập vào trụ sở Ủy ban Tổng khởi nghĩa đóng ở số 6 đường Cô-

lôm-ba nhận mệnh lệnh, kế hoạch và súng đạn. Các đội Thanh niên xung phong và Công đoàn Xung

phong chiếm công sở, các vị trí quan trọng như dinh Thống đốc, Kho bạc, Sở Bưu điện, Sở chữa lửa...

Quân Nhật co về phòng thủ, hầu như không có một hoạt động chống trả quyết liệt nào.

Rạng sáng ngày 25/8/1945, hàng chục vạn đồng bào ngoại thành và các tỉnh lân cận Sài Gòn như

Bà Điểm, Hóc Môn, Chợ Đệm, Tân An, Lái Thiêu, v.v... ồ ạt kéo vào hỗ trợ đồng bào nội thành, mang

theo súng, gươm, giáo, mác, cưa, búa, thang. Thành phố Sài Gòn rung chuyển dưới bước chân đi của

trên một triệu người. Sài Gòn đã thay đổi hẳn bộ mặt. Cả thành phố chìm ngập trong biển cờ, và biểu

ngữ.

Cách mạng tháng Tám đã thành công ở Sài Gòn.

Tại các địa phương khác ở Nam Bộ, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cũng nhanh chóng thắng

lợi.

Ngày 24/8/1945 Biên Hòa, Thủ Dầu Một giành chính quyền.

Ngày 25/8/1945 Bến Tre, Mỹ Tho, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Tây Ninh tiến hành khởi nghĩa

thắng lợi.

Ngày 28/8/1945, Rạch Giá, Hà Tiên cũng tiến hành giành chính quyền thành công.

Riêng các đảo xa đất liền như Côn Đảo, Phú Quốc, việc tiến hành khởi nghĩa diễn ra muộn hơn một

chút, đến giữa tháng 9/1945 mới giành hoàn toàn giành lại quyền làm chủ.

Cuộc tổng khởi nghĩa thực sự đã giành thắng lợi vẻ vang.

Cách mạng tháng Tám thành công ở Nam Bộ là phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực không

biết mệt mỏi và biết bao hi sinh mất mát của các Đảng viên Cộng sản. Từ sau khi khởi nghĩa Nam Kỳ

năm 1940 thất bại, đến năm 1945 tổ chức Đảng ở Nam Bộ tương đối được phục hồi lại. Tuy vậy, cho

đến tận những ngày đầu năm 1945, vùng Nam Bộ vẫn là một bức tranh hỗn độn của hàng chục tổ chức

chính trị và giáo phái khác nhau, lực lượng Đảng ở đây vẫn còn rất mỏng và yếu, tương quan lực lượng

không mấy khá hơn các tổ chức chính trị khác.

Tình trạng đó là một khó khăn lớn.

Yêu cầu bức thiết bấy giờ là phải tăng cường thực lực của Đảng, ít nhất là phải chiếm được ưu thế

trước các đảng phái chính trị khác. Có như vậy mới nắm được ngọn cờ lãnh đạo để tiến tới khởi nghĩa

giành chính quyền. Bởi “trên bầu trời, tinh tú nào lớn nhất thì có sức hút mạnh nhất. Đảng Cộng sản

và Mặt trận dân tộc phải lớn mạnh nhất thì mới thu hút được tất cả các lực lượng yêu nước vào quỹ

đạo giải phóng của mình”. [37, tr 1336]

Đó là một nhiệm vụ rất khó khăn. Tuy nhiên, tổ chức Đảng ở Nam Bộ đã hoàn thành nhiệm vụ đó

một cách xuất sắc. Cùng với việc thành lập tổ thức Thanh niên xung phong. Uy thế của Đảng nhanh

chóng vượt lên trên tất cả các tổ chức chính trị khác, lôi kéo họ gia nhập vào phong trào yêu nước do

Đảng phát động.

Trong không khí sục sôi của cách mạng trên phạm vi cả nước, Xứ ủy Nam Kỳ cũng quyết định

chớp thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền. Do uy tín của Đảng đã có từ trong các giai đoạn lãnh đạo

đấu tranh trước đó, các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ đã ủng hộ và thừa nhận vị trí lãnh đạo của Đảng.

Từ ngày 25/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng quần chúng nhân dân Nam Bộ, bao gồm hầu hết các lực

lượng chính trị với các xu hướng yêu nước khác nhau đã nhất tề nổi dậy và nhanh chóng làm chủ các

địa phương ở Nam Bộ.

Cách mạng tháng Tám thành công ở Nam Bộ thực sự là thành quả của sức mạnh tổng hợp của các

xu hướng yêu nước với vai trò đoàn kết và lãnh đạo của Đảng.

**

*

Chủ nghĩa Mác Lênin được du nhập vào vùng Nam Bộ bắt đầu từ những năm sau chiến tranh thế

giới thứ nhất (1918). Từ những ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác, xu hướng yêu nước vô sản ở Nam Bộ

dần định hình và phát triển. Trải qua hơn mười năm, vị thế của xu hướng này đã được nâng lên đáng

kể, trở thành lực lượng tiên phong trong việc phát động các cuộc đấu tranh cứu nước. Tuy nhiên, đạt

được vị thế ấy không phải là điều dễ dàng. Đó là một con đường không hề bằng phẳng mà vô cùng gập

ghềnh và quanh co khúc khuỷu, đòi hỏi sự nỗ lực không biết mệt mỏi và thậm chí đánh đổi bằng máu

và sinh mạng của biết bao những người cộng sản trung kiên chân chính.

Cũng như xu hướng phát triển chung của xu hướng yêu nước vô sản trên cả nước. Ở Nam Bộ cũng

chứng kiến sự xuất hiện của hàng loạt các tổ chức cộng sản khác nhau (Đông Dương Cộng Sản Đảng,

An Nam Cộng Sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn). Việc cùng tồn tại một lúc nhiều tổ chức

cộng sản như vậy không chứng tỏ xu hướng yêu nước vô sản ở đây mạnh mẽ, mà ngược lại, đó chính là

sự mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ xu hướng này. Điều đó nếu không được giải quyết một cách rốt ráo

sẽ ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp giải phóng của toàn dân tộc. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc hợp nhất các tổ

chức cộng sản trong nước thành một tổ chức duy nhất là một sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt không chỉ

với cách mạng Việt Nam nói chung mà còn có tác động sâu sắc đến phong trào yêu nước của bản thân

vùng Nam Bộ. Từ sự hợp nhất này, Đảng Cộng sản ở Nam Bộ đã trở thành một khối đoàn kết vững

chắc, tập hợp được sức mạnh để trở thành lực lượng cách mạng mạnh nhất, đóng vai trò tiên phong

trong việc phát động các cuộc đấu tranh yêu nước.

Tuy nhiên, con đường đi đến thắng lợi cũng có những thời điểm gặp muôn vàn gian nan và thử

thách. Ở Nam Bộ, các xu hướng yêu nước tư sản vốn đã được gây dựng từ trước đó, thâm nhập sâu và

có cơ sở vững chắc trong một bộ phận quần chúng nhân dân, trong giai đoạn này cũng có những bước

phát triển vượt bậc, cạnh tranh vị thế lãnh đạo các phong trào yêu nước với Đảng Cộng sản. Trong khi

đó, bản thân Đảng lại liên tiếp gặp những khó khăn từ sự đàn áp đẫm máu của kẻ thù. Những tổn thất

to lớn trong những năm 1930 - 1931 và sau đó là trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 thực sự gây ra

những trở ngại lớn trên con đường phát triển của Đảng. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận một cách khách

quan rằng, bản thân những tổn thất tuy đau thương nhưng điều đó cũng là một yếu tố quan trọng xây

dựng nên bức màn huyền thoại về Đảng, xây dựng nên niềm tin cho quần chúng nhân dân Nam Bộ, tạo

ra sự khâm phục cho những tổ chức yêu nước theo các xu hướng khác. Chính vì vậy, cứ mỗi lần gượng

dậy sau khi bị kẻ thù đàn áp, uy tín của Đảng lại tăng thêm gấp bội, dễ dàng vận động được đông đảo

quần chúng, kể cả những tổ chức chính trị theo các xu hướng yêu nước khác nhau cũng tham gia vào sự

nghiệp cứu nước.

Nam Bộ thời điểm năm 1945 thực sự là một chảo lửa chính trị sôi sục. Những tin tức thất trận của

quân đội phát xít từ khắp các chiến trường liên tiếp dội về. Nhật đã buộc phải đảo chính Pháp loại trừ

một nguy cơ tiềm ẩn. Nhưng điều đó cũng không thể nào cứu vãn được tình thế ngày càng bi đát. Tranh

thủ điều kiện đó, hàng loạt các tổ chức chính trị ở Nam Bộ nhanh chóng tìm cách củng cố thế lực, chờ

đợi thời cơ tới. Đảng Cộng sản khi ấy vẫn còn chưa thể gượng dậy nổi sau những tổn thất nghiêm trọng

từ năm 1940, hơn thế nữa, di chứng từ sự đàn áp của kẻ thù còn tồn tại dai dẳng đến tận lúc bấy giờ đó

là sự chia rẽ trong bản thân tổ chức Đảng với sự xuất hiện của hai Xứ ủy hoạt động độc lập. Trong điều

kiện bất lợi như vậy, mục tiêu đặt ra là trong một thời gian ngắn phát triển lực lượng để nắm lại vị thế

lãnh đạo phong trào yêu nước thực sự là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn.

Nhưng quả thật, thử thách càng khắc nghiệt bao nhiêu thì bản lĩnh kiên cường và sự thông minh

sáng tạo của những người cộng sản Nam Bộ càng được chứng tỏ bấy nhiêu. Với sự xuất hiện của tổ

chức Thanh niên tiền phong, yêu cầu xây dựng lực lượng lớn mạnh mà Đảng đặt ra trước đó đã được

đáp ứng. Thế lực của Đảng nhanh chóng vượt xa các tổ chức chính trị khác đang xuất hiện ngày một

nhiều ở Nam Bộ, hút tất cả vào một quỹ đạo chung do Đảng vạch ra, tất cả đều nhằm đến một mục tiêu

duy nhất: Giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập tự do.

Cuộc cách mạng mạng tháng Tám thành công ở Nam Bộ là kết quả của những chiến lược và sách

lược đúng đắn của Đảng, và đồng thời cũng thể hiện khả năng cách mạng phi thường của người dân

Nam Bộ. Nhắc đến thành công của cách mạng tháng Tám, không thể chỉ nói đến vai trò của Đảng mà

không nhắc đến vai trò của các lực lượng yêu nước khác, vốn là lực lượng quyết định dẫn đến kỳ tích

ấy.

CHƯƠNG BA

ĐẶC ĐIỂM VÀ KHUYNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA

CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ

3.1 Những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

3.1.1 Các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX rất đa dạng

Vùng Nam Bộ có một nền văn hóa đa dạng và một lịch sử phát triển riêng không giống với các địa

phương khác trên lãnh thổ Việt Nam. Thành phần cư dân Nam Bộ không thuần nhất mà được cấu thành

từ nhiều bộ phận có nguồn gốc khác nhau. Người Việt, người Khơ me, người Chăm, người Hoa và

nhiều tộc người thiểu số khác… Mỗi bộ phận cư dân có sự khác biệt về đời sống kinh tế, bản sắc văn

hóa và quan hệ xã hội. Sự đa dạng đó khiến cho lòng yêu nước của mỗi tộc người thể hiện một sắc thái

riêng biệt.

Ngoài ra, Nam Bộ, do vị trí địa lý đặc biệt, cũng là nơi hội tụ của rất nhiều luồng văn hóa lớn nhỏ

khác nhau trên thế giới (Ấn Độ, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á khác…). Đặc biệt đối với văn hóa

phương Tây, có thể nói, so với các vùng miền khác trên đất nước Việt Nam, Nam Bộ thể hiện một cách

rõ nét hơn cả.

Bởi vậy, vùng Nam Bộ sở hữu một bản sắc văn hóa đa dạng mà lại rất đặc thù. Sự đa dạng về văn

hóa làm cho lòng yêu nước ở Nam Bộ, vì thế, cũng có những đặc trưng riêng biệt.

Hơn thế nữa, do mỗi bộ phận cư dân đều có những quan điểm khác nhau về lòng yêu nước. Và kẻ

thù thâm độc cũng lợi dụng chính điều đó để tìm cách chia rẽ khối đoàn kết của cư dân Nam Bộ. Bởi

vậy, rất nhiều các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ trong quá trình hình thành đã bị phân hóa mạnh, cuối

cùng hình thành nên hàng loạt các tổ chức mang những tư tưởng, đường lối đấu tranh khác nhau.

Sự đa dạng và phức tạp của lòng yêu nước Nam Bộ còn phụ thuộc rất lớn vào hoàn cảnh lịch sử

cuối thế kỷ XX. Nam Bộ tuy không phải là nơi chứng kiến tiếng súng xâm lược đầu tiên của thực dân

Pháp, nhưng lại là nơi bị chiếm đầu tiên. Toàn bộ vùng Nam Kỳ (Nam Bộ) trên thực tế bị thực dân

Pháp chiếm đóng từ năm 1867. Tuy nhiên, phải đến năm 1972 việc chiếm đóng ấy của thực dân Pháp

mới được triều đình nhà Nguyễn thừa nhận với việc ký kết hòa ước Nhâm Tuất.

Trở thành thuộc địa, điều kiện kinh tế xã hội ở Nam Bộ có nhiều điểm khác biệt so với các vùng

miền khác. Có một điểm đáng chú ý, thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ trong bối cảnh không phải

hoàn toàn thuận lợi. Phe cánh tả thắng thế trong cuộc bầu cử năm 1863 ở Pháp tỏ ra hoài nghi với

những cuộc viễn chinh bành trướng thuộc địa mà chính phủ Pháp đang theo đuổi. Những thất bại nặng

nề của quân viễn chinh Pháp tại Mêhicô thời điểm đó đã làm cho không ít người dân Pháp tỏ ra chán

ngán với những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa khác. Trong tình hình đó, những người chủ

trương chiếm đóng Nam Kỳ làm thuộc địa nhận thấy phải tìm mọi cách chứng minh rằng việc chiếm

đóng Nam Kỳ không phải là gánh nặng cho chính quốc. Vì vậy, việc khai thác Nam Kỳ, được tiến hành

từ rất sớm. “Ngân sách của thuộc địa Nam Kỳ, ngay từ những năm đầu dưới thời Pháp thuộc, chẳng

những đã cáng đáng nổi những chỉ tiêu khổng lồ của một nền hành chánh cồng kềnh tại chính thuộc

địa mà còn có thể chi viện cho cuộc xâm lăng của Pháp tại Bắc Kỳ và góp phần vào ngân sách của

chính quốc gia nữa”. [59, tr 167] Vậy nên nền kinh tế của Nam Bộ trở nên năng động và phát triển

tương đối nhanh. Các đồn điền, nhà máy xuất hiện ngày càng nhiều. Nội thương và ngoại thương cũng

được đẩy mạnh. Điều đó làm cho sự phân hóa xã hội Nam bộ diễn ra mạnh mẽ. Các giai cấp, tầng lớp

mới bắt đầu xuất hiện: Tư sản, công nhân, trí thức tây học, tiểu tư sản… Việc xuất hiện các giai cấp,

tầng lớp và những điều kiện xã hội cụ thể ở Nam Bộ làm nảy sinh hàng loạt các xu hướng yêu nước

khác nhau. Nửa đầu thế kỷ XX, ở Nam Bộ các xu hướng yêu nước theo đường lối phong kiến, dân chủ

tư sản, cộng sản… đều có mặt ở Nam Bộ.

Tất cả những điều đó làm cho lòng yêu nước Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX biểu hiện rất phức tạp.

Theo dòng phát triển của lịch sử, các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ không tồn tại ở một dạng đơn

nhất mà biểu hiện ra thành rất nhiều hình thức khác nhau. Đầu thế kỷ XX, trong khi xu hướng yêu nước

theo hình thức phong kiến đã tỏ ra bất lực trước sức mạnh của quân đội Pháp, thì ở Nam Bộ, xu hướng

này vẫn phát triển. Mạng lưới các hội kín dày đặc khắp Nam Bộ làm cho thực dân Pháp và chính quyền

tay sai phải e dè. Tuy nhiên, cuối cùng bản thân các hội kín thực sự vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của

lịch sử, nên cuối cùng không thể đạt được thắng lợi, mà chỉ gây được tiếng vang trong quần chúng để

tiếp tục nuôi dưỡng lòng yêu nước của nhân dân Nam Bộ.

Đầu thế kỷ XX, hoạt động của các sỹ phu yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản lan đến Nam Bộ.

Xu hướng này nhanh chóng nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các tầng lớp nhân dân, bao gồm cả địa

chủ đến những trí thức tây học. Những hoạt động rầm rộ của những cuộc vận động Duy Tân, của

phong trào Đông Du ở Nam Bộ thời kỳ này phối hợp với các vùng miền khác trên phạm vi cả nước góp

phần điều này thể hiện truyền thống yêu nước quật cường của nhân dân Nam Bộ nói chung.

Phong trào Đông Du tan rã, cuộc vận động Duy Tân cũng dần chấm dứt sau khi hoàn thành vai trò

lịch sử. Xu hướng yêu nước dân chủ tư sản ở Nam Bộ lại bước sang một giai đoạn mới. Các đảng phái

của giai cấp tư sản, tiểu tư sản thành lập ngày một nhiều (Đảng Lập Hiến, Thanh niên Cao Vọng, Đảng

Thanh niên…). Tiếp nối khí thế những năm đầu thế kỷ, những phong trào yêu nước của giai cấp tư sản,

trí thức tiểu tư sản nổ ra liên tiếp (chống độc quyền thương cảng Sài Gòn, đám tang Phan Châu Trinh,

đòi thả Phan Bội Châu và Nguyễn An Ninh, đón tiếp Bùi Quang Chiêu…). Những cuộc đấu tranh này

thực sự trở thành những phong trào đấu tranh tiêu biểu cho cả nước.

Đến khoảng những năm 30 của thế kỷ XX, toàn bộ vùng Nam Bộ là trở thành một địa điểm hội tụ

của hàng loạt những tổ chức yêu nước theo những xu hướng tư sản, cả tư sản dân tộc cách mạng lẫn tư

sản dân tộc cải lương. Việc nảy sinh nhiều tổ chức như vậy không chứng tỏ xu hướng này mạnh, ngược

lại, chỉ cho thấy sự yếu đuối và chia rẽ của bản thân xu hướng ấy. Sự yếu đuối ấy thực sự có những

nguyên nhân sâu xa của nó. Bản thân giai cấp tư sản Nam Bộ không mạnh, quyền lợi lại gắn chặt với

thực dân. Vậy nên tinh thần đấu tranh của xu hướng này phần nhiều mang tính chất cải lương. Đa số

các đảng phái tư sản khi phát động các phong trào yêu nước đều mong muốn đấu tranh hòa bình, không

muốn phong trào đi quá xa. Và chỉ cần thực dân Pháp nhượng bộ cho một số quyền lợi, các đảng phái

này rất dễ quay lưng lại với quần chúng. Hơn thế nữa, trong giai cấp tư sản, vẫn có một bộ phận mang

danh dân tộc, nhưng thực ra chấp nhận làm tay sai cho thực dân Pháp, câu kết chặt chẽ với kẻ thù để

chống phá phong trào yêu nước nói chung.

Nhật tiến vào Nam Bộ, xu hướng yêu nước tư sản lại làm xuất hiện những đảng phái thân Nhật,

mong muốn dựa vào Nhật để chống Pháp, giành lại độc lập. Ngay trong tư tưởng dựa dẫm này, xu

hướng yêu nước tư sản đã bộc lộ sự yếu đuối và bất lực của nó.

Lịch sử Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX quả thật là một bức tranh sinh động với sự quy tập nhiều các

xu hướng yêu nước khác nhau, với hàng loạt các tổ chức đảng phái chính trị. Trong bức tranh hỗn độn

đó, khi mà xu hướng yêu nước tư sản tỏ ra yếu đuối và bất lực, sự xuất hiện của xu hướng yêu nước vô

sản, cụ thể là sự xuất hiện của các tổ chức Đảng thực sự là một vệt màu tươi sáng.

Sự du nhập của chủ nghĩa Mác Lênin vào Nam Bộ được diễn ra từ rất sớm. Nơi đây cũng là nơi mà

các tổ chức tiền thân của Đảng tranh giành phạm vi ảnh hưởng một cách quyết liệt từ trước ngày thành

lập Đảng. Trong quá trình tồn tại và phát triển ở Nam Bộ, xu hướng này thực sự tỏ rõ ưu thế trước các

xu hướng yêu nước khác. Tất nhiên, con đường đi đến độc lập tự do không phải thênh thang bằng

phẳng. Đã có những giai đoạn Đảng phải đối mặt với những khó khăn chồng chất, thậm chí gặp phải

những thất bại tạm thời. Thế nhưng tất cả những khó khăn đó không làm thể làm nhụt chí những chiến

sỹ cộng sản chân chính, chiến đấu với lý tưởng vì nước vì dân, được vũ trang bởi một hệ tư tưởng tiên

tiến. Và cuối cùng, thành công của cuộc cách mạng tháng Tám 1945 là câu trả lời hùng hồn nhất cho

mọi nỗi ngờ vực về vai trò của Đảng.

Tóm lại, đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ xuất hiện rất nhiều các đảng phái chính trị và các xu hướng yêu

nước khác nhau. Điều đó do những điều kiện kinh tế xã hội và lịch sử của vùng Nam Bộ quy định. Sự

đa dạng của các xu hướng yêu nước thực sự là một đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa yêu nước Nam Bộ

nửa đầu thế kỷ XX.

3.1.2 Sự ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo đến các xu hướng yêu nước Nam Bộ đầu thế kỷ XX

Một đặc điểm không thể không nhắc đến khi nói về các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ, đó là sự ảnh

hưởng của tôn giáo. Trừ xu hướng yêu nước vô sản, các xu hướng yêu nước còn lại dù ít dù nhiều đều

chịu ảnh hưởng của màu sắc thần bí. Từ các hội kín ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX, đến các tôn giáo như

Cao Đài, Hòa Hảo, mà trong thời điểm đó thực chất đóng vai trò là những đảng phái chính trị.

Vùng đất Nam Bộ là một vùng đất chỉ mới được khai phá được vài thế kỷ. Sự hoang sơ của điều

kiện tự nhiên và trình độ dân trí ở nơi đây chưa phát triển ở mức độ cao là một đặc điểm nổi bật của

vùng đất này. Hơn nữa văn hóa Nam Bộ có cả các yếu tố văn hóa bản địa và các dòng văn hóa được du

nhập từ bên ngoài. Tất cả những điều đó là một trong những điều kiện để làm nảy sinh các yếu tố tôn

giáo ở Nam Bộ.

Tuy nhiên, bản chất của sự xuất hiện của yếu tố tôn giáo ở Nam Bộ không hoàn toàn đơn giản như

vậy. Nguyên nhân của nó có thể còn bao gồm cả những nguyên nhân riêng.

Có thể thấy, sự xuất hiện của yếu tố tôn giáo trong các phong trào yêu nước ở Nam Bộ lại có

nguyên nhân cơ bản từ bản thân lòng yêu nước của nhân dân nơi đây. Hay nói cách khác, tôn giáo và

lòng yêu nước ở Nam Bộ là hai đối tượng có tác động tương hỗ lẫn nhau. Lòng yêu nước làm nảy sinh

ra yếu tố tôn giáo trong quần chúng. Đến lượt mình, yếu tố tôn giáo tạo ra niềm tin, sức mạnh và sự

đoàn kết trong nội bộ các tổ chức yêu nước. Mối quan hệ tương hỗ ấy làm cho các phong trào yêu nước

ở Nam Bộ mang một sắc thái riêng biệt so với các địa phương khác trên cả nước.

Yếu tố tôn giáo bản thân nó vừa có ý nghĩa tích cực, nhưng đồng thời lại cũng là tiêu cực. Bằng

màu sắc huyền bí, các lãnh tụ yêu nước có thể tập hợp được một lực lượng quần chúng đông đảo, kích

thích tinh thần đấu tranh của họ. Nhưng ngược lại, một khi bị kẻ thù đàn áp, những màu sắc thần bí

không còn hiệu nghiệm, thì các phong trào yêu nước sẽ tan rã rất nhanh chóng. Sự thất bại của phong

trào hội kín là một minh chứng tiêu biểu nhất cho điều đó.

Đối với các tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, khi tham gia vào chính trị, thì yếu tố tôn giáo có phần

bị giảm sút. Vai trò của tôn giáo chỉ mang tính chất động viên về tinh thần. Song thực sự sức mạnh của

các tổ chức này hầu như chỉ đơn thuần dựa trên sức mạnh của hàng ngũ tín đồ, chứ chưa thực sự có cơ

sở vững mạnh trong toàn bộ quần chúng nhân dân Nam Bộ. Điều đó làm cho các tổ chức này không có

được đầy đủ sức mạnh để có thể trở thành một thế lực lớn mạnh trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ

nửa đầu thế kỷ XX.

Không giống với các xu hướng yêu nước khác, các phong trào yêu nước theo xu hướng vô sản hầu

như không bị ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo. Tất nhiên nói như vậy không có nghĩa là xu hướng này

loại bỏ hoàn toàn vai trò tích cực của yếu tố tôn giáo trong việc vận động, tổ chức các phong trào yêu

nước. Bản thân Đảng Cộng sản luôn đề cao quyền tự do tôn giáo của mỗi người dân. Chính sách tôn

giáo ấy thể hiện sự tiến bộ, phù hợp với thực tế lịch sử. Bởi vậy, tuy không chịu ảnh hưởng của bất kỳ

tôn giáo nào, Đảng Cộng sản ở Nam Bộ vẫn quy tập và liên kết được một số các tổ chức tôn giáo ở

Nam Bộ và tranh thủ được cả những thành phần nhân dân ngoài đạo. Sức mạnh tổng hợp ấy làm cho

Đảng có được sức mạnh đề đưa nhân dân Nam Bộ đạt đến những thành công.

Và như vậy có thể nói rằng, sự xuất hiện và ảnh hưởng mạnh mẽ của yếu tố tôn giáo trong các

phong trào yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX là một thực tế. Tuy nhiên, xu hướng yêu nước vô

sản, đứng đầu là Đảng cộng sản, đã đề ra được những sách lược phù hợp để hướng cả những yếu tố tôn

giáo ấy vào mục đích đấu tranh chung. Điều đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thắng

thế và đảm bảo vững chắc của xu hướng yêu nước vô sản trong phong trào yêu nước nói chung ở Nam

Bộ.

3.1.3 Tính chất kế thừa của các xu hướng yêu nước Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

Lịch sử là một dòng chảy liên tục, giữa các giai đoạn, các thời kỳ không phải tách biệt mà luôn có

sự tiếp nối. Đối với các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ cũng không phải là ngoại lệ. Mỗi xu hướng yêu

nước khi xuất hiện đều dựa trên những cơ sở xã hội nhất định, tiếp thu những giá trị của các xu hướng

cũ để biến đổi, hoàn thiện cho phù hợp với hoàn cảnh mới.

Tính chất kế thừa của các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ thể hiện rất rõ nét. Những năm đầu thế kỷ

XX là khoảng thời gian giao thoa giữa xu hướng yêu nước phong kiến và xu hướng dân chủ tư sản.

Qua các phong trào đấu tranh đầu thế kỷ, có thể thấy rằng “một lớp sỹ phu thì bắt đầu đi tìm tiếng nói

mới, tư tưởng mới trong những di văn của Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ, nhất là trong “tân

thư”từ Trung Quốc gửi sang, mang tư tưởng dân chủ tư sản Tây phương. Một lớp sỹ phu khác và một

số đông nhà yêu nước xuất thân từ nhân dân thì soạn lại trong kho vũ khí sẵn có của tổ tiên, của nhân

dân, xem còn có vũ khí nào đắc dụng hay không, và họ trở về với nhà chùa và với phương thuật quen

thuộc”. [37, tr 353]

Xu hướng yêu nước phong kiến, tiêu biểu là các hội kín sau khi thất bại trong cuộc khởi nghĩa năm

1916 thất bại, các hội kín bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt. Nhưng phong trào đấu tranh dưới hình

thức này vẫn chưa hoàn toàn tắt hẳn. “Ngọn lửa có xuống, nhưng than vẫn còn hồng”. [37, tr 353] Một

bộ phận của các hội kín sau này được chuyển hóa thành hội kín Nguyễn An Ninh, tức chuyển từ xu

hướng yêu nước phong kiến sang xu hướng yêu nước dân chủ tư sản. Rồi tổ chức hội kín Nguyễn An

Ninh, lại một lần nữa lại tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin để chuyển hóa thành xu hướng yêu nước vô sản.

Con đường ấy tuy dài nhưng lại là tất yếu.

Tính chất kế thừa còn có thể hiện thông qua cuộc vận động Duy Tân đầu thế kỷ XX. Những yếu

nhân của phong trào hầu hết đều là những sỹ phu yêu nước, tiếp nhận tư tưởng dân chủ từ nước ngoài.

Hơn nữa, đối với riêng vùng Nam Bộ, để xu hướng này nhận được sự ủng hộ của các tầng lớp nhân

dân, Phan Bội Châu đã phải chấp nhận mời Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm Hội chủ Duy Tân Hội. Mặt

khác, tuy cổ động việc học hỏi văn minh phương Tây, các sỹ phu yêu nước vẫn không phải hoàn toàn

phủ nhận những tín điều của Nho giáo, vốn là nền tảng của chế độ phong kiến. “Phan Châu Trinh đã

khẳng định rằng, đạo đức của Khổng - Mạnh và Tây Âu có những điểm tương đồng và đều chân chính,

do đó “đem văn minh Châu Âu về, tức là đem đạo Khổng Mạnh về làm cho rõ thêm đạo Khổng Mạnh.

Nghĩa là, đem cái chân văn minh ở Tây Âu hòa hợp với chân Nho giáo ở Á Đông””. [14, tr 103] Có

thể nói, phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX, tuy đã mang hơi thở dân chủ tư sản, nhưng vẫn còn dấu ấn

đậm nét của ý thức hệ phong kiến.

Đến những năm 20 của thế kỷ XX, xu hướng yêu nước dân chủ tư sản đã dần dần xác lập được chỗ

đứng trong phong trào yêu nước. Bắt đầu phát động được những cuộc đấu tranh thu hút được đông đảo

quần chúng tham gia. Thế nhưng xu hướng này vẫn không thể hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của ý

thức hệ phong kiến. Giai cấp tư sản ở Nam Bộ hầu hết có mối liên hệ chặt chẽ với bộ phận điền chủ,

đại điện của chế độ phong kiến. Hơn nữa, các phong trào yêu nước theo xu hướng tư sản mạnh nhất ở

Nam Bộ, là Cao Đài và Hòa Hảo lại quay về với màu sắc thần bí như các giai đoạn trước.

Tuy nhiên, xu hướng yêu nước tư sản nhanh chóng bộc lộ những nhược điểm không thể khắc phục.

Bộ phận theo chủ nghĩa dân tộc cải lương mất dần đi vai trò tích cực, quay sang thỏa hiệp với kẻ thù,

chấp nhận trở thành tay sai cho giặc. Còn bộ phận theo chủ nghĩa dân tộc cách mạng thì yếu đuối và

bất lực. Bởi “vào thời điểm lịch sử giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, đảng dân tộc cách mạng yếu ớt

về tổ chức, nông cạn về tư tưởng, đi tìm mà không ra một chủ nghĩa, xem nhẹ lý luận, xem rẻ tuyên

truyền, không tự mình vũ trang nổi cho mình một hệ thống chiến lược chiến thuật, một lý tưởng để làm

hiệu cờ. Cho nên tổ chức dân tộc các mạng bị thực dân Pháp đánh tan tành mà dù gặp lúc có điều kiện

thuận lợi họ cũng không làm sao tập hợp trở lại được. Hàng ngũ phân hóa. Số đông thoái chí. Những

phần tử bảo thủ quay đầu thỏa hiệp với đế quốc, còn các chiến sỹ ưu tú, kiên quyết thì sớm hay muộn

đều chuyển sang trận tuyến chủ nghĩa Mác Lênin để tích cực tham gia sự nghiệp cứu nước”. [37, tr

750]

Trong bối cảnh đó, cùng với sự du nhập của chủ nghĩa Mác Lênin, xu hướng yêu nước vô sản bắt

đầu xuất hiện Nam Bộ. Sự thành lập tổ chức Đảng cũng không hẳn là một sự xuất hiện hoàn toàn mới

mẻ mà thực ra một phần là do kế thừa những thành quả của các xu hướng yêu nước trong các giai đoạn

trước. Các đảng viên Cộng sản rất nhiều người xuất thân từ những tổ chức cách mạng dân chủ tư sản,

như Đảng Thanh niên của Trần Huy Liệu, Thanh niên Cao Vọng Đảng của Nguyễn An Ninh… Thậm

chí, cả những nhà sư như Thiện Chiếu cũng trở thành một chiến sỹ cộng sản mà vẫn không từ bỏ những

gì quý giá nhất của tư tưởng Phật giáo. Hơn thế nữa, tính chất kế thừa trong sự nghiệp hoạt động của

Đảng không chỉ thể hiện trên mặt nhân sự, mà còn trên cả mặt lý luận, tư tưởng. Trong khi nhóm Tờ rốt

kít ra sức truyền bá chủ nghĩa hư vô dân tộc, thì ngược lại, kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc,

Đảng hoàn toàn không đề ra chủ trương như vậy. Thực tế lịch sử đã chứng minh chủ trương đó là đúng

đắn. Bởi “ở Việt Nam, truyền thống lịch sử của dân tộc, ý thức phổ biến của nhân dân là đánh giá mọi

việc lớn nhỏ, từ nhân vật đến biến cố, từ tác phẩm đến ý thức tư tưởng đều chiếu theo tiêu chuẩn quang

minh chính đại của chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước là hòn đá thử vàng chính của tất cả”. [37,

tr 372]

Có thể nói, kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, dung hợp những giá trị của các xu

hướng yêu nước đi trước, bổ sung những giá trị tinh hoa đương đại, đó chính là chìa khóa thắng lợi của

Đảng trong sự nghiệp lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Nam Bộ nói riêng và Việt

Nam nói chung.

Tóm lại, các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX tuy khác nhau về bản chất, về chiến lược

chiến thuật hoạt động và xuất hiện ở những thời điểm khác nhau, nhưng thực chất giữa các xu hướng

ấy vẫn có sự nối tiếp, kế thừa. Sự nối tiếp ấy cũng chính là một đặc điểm thể hiện tinh thần yêu nước

nồng nàn của nhân dân Nam Bộ.

3.1.4 Các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX tồn tại song song và liên hệ với

nhau, vừa hợp tác vừa đấu tranh

Các phong trào yêu nước ở Nam Bộ xuất hiện nhiều, có sự khác nhau về mặt tư duy lý luận hay

sách lược hành động, nhưng có thể nói đại đa số đều hướng vào một mục tiêu chung là chống ngoại

xâm, xây dựng và phát triển đất nước. Hay nói cách khác, các xu hướng yêu nước Nam Bộ nửa đầu thế

kỷ XX hội tụ ở một chủ nghĩa yêu nước chân chính. Vì vậy, các tổ chức yêu nước trong một chứng

mực nào đó vẫn có sự liên hệ, hỗ trợ cho nhau. Không hiếm trường hợp một phong trào do một tổ chức

yêu nước khởi xướng nhưng được các tổ chức, cá nhân yêu nước theo các xu hướng khác nhiệt liệt ủng

hộ.

Đầu thế kỷ XX, xu hướng yêu nước dân chủ tư sản do những sỹ phu yêu nước, tiêu biểu như Phan

Bội Châu, Phan Châu Trinh lan tới Nam Bộ. Tuy các sỹ phu truyền bá các tư tưởng duy tân, bài trừ cái

cũ, thế nhưng cuộc vận động ấy ở Nam Bộ lại đạt kết quả ngoài mong đợi. Bộ phận giai cấp thống trị,

đặc biệt là tầng lớp điền chủ Nam Bộ là những người ủng hộ nhiệt thành nhất cho phong trào. Không

chỉ dừng ở mức quyên góp ủng hộ tiền bạc, một số người còn động viên con cái tham gia phong trào

Đông Du. Chính sự hết lòng ủng hộ ấy mà ở Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước

theo xu hướng dân chủ tư sản phát triển rất rầm rộ, hơn cả các địa phương khác vốn là cái nôi của

phong trào.

Những năm 20 của thế kỷ XX, các phong trào yêu nước dân chủ tư sản phát triển rất mạnh, thể hiện

qua các cuộc đấu tranh lớn, huy động được đông đảo quần chúng tham gia (đấu tranh chống độc quyền

thương cảng Sài Gòn, đòi thả Phan Bội Châu, bênh vực Nguyễn An Ninh, đám tang Phan Châu Trinh,

hình thành đạo Cao Đài…). Đặc biệt, giai đoạn này cũng là giai đoạn mà các tổ chức Hội Việt Nam

cách mạng thanh niên, Tân Việt cách mạng Đảng bắt đầu hoạt động mạnh ở Nam Bộ. Nói chung, xu

hướng yêu nước tư sản và vô sản trong giai đoạn này là chưa rõ ràng, và các tổ chức yêu nước theo các

xu hướng khác nhau vẫn có sự gắn bó, liên hệ, hỗ trợ nhau trong hoạt động. Điển hình nhất phải kể đến

sự liên hệ giữa Tân Việt Cách mạng Đảng và Hội Việt nam cách mạng thanh niên.

Đến những năm 1930 của thế kỷ XX, sự liên hệ giữa các xu hướng yêu nước trở nên mạnh mẽ hơn

bao giờ hết. Nguyễn An Ninh chính là người chủ động đề xướng và tham gia tích cực phong trào Đông

Dương Đại hội. Nhóm Tờ rốt kít và Đảng cộng sản hợp tác với nhau trong đấu tranh nghị trường… Tất

cả các xu hướng yêu nước trong giai đoạn này dường như hòa trộn vào nhau để cùng hướng tới một

mục đích chung: tấn công kẻ thù xâm lược, xây dựng đất nước.

Giai đoạn tiến tới tổng khởi nghĩa 1940 - 1945 ở Nam bộ cũng là một bằng chứng tiêu biểu nhất cho

sự hòa quyện của các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ. Chủ trương thành lập mặt trận Việt Minh đã quy

tụ hầu hết những tổ chức, đảng phái yêu nước ở Nam Bộ khi đó. Có thể thấy, trong mặt trận có cả

những thành phần như Đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo và nhiều đảng phái chính trị khác. Tất cả các xu

hướng khi hợp nhất thực sự có thể tạo ra được một sức mạnh vô địch, khiến cho quân đội Nhật ở Nam

Bộ không dám phản ứng. Cuộc Cách mạng tháng Tám thành công ở Nam Bộ cũng là vì thế.

Sự liên hệ của các xu hướng yêu nước còn được thể hiện ở chỗ tính chất không rõ ràng của các

phong trào yêu nước ở Nam Bộ. Có những tổ chức yêu nước theo xu hướng tư sản, nhưng vẫn thể hiện

tính chất vô sản, hoặc ngược lại. Mà trường hợp của Nguyễn An Ninh hay Tân Việt cách mạng Đảng là

những điển hình. Tất nhiên, tính chất không rõ ràng ấy chỉ thể hiện trong một giai đoạn nhất định và

không lâu dài. Cùng với sự phát triển của các phong trào yêu nước, sẽ đến một thời điểm mà các tổ

chức hay cá nhân yêu nước phải thể hiện rõ lập trường, và hầu như khi ấy các tổ chức yêu nước theo xu

hướng tư sản đều chuyển hóa để bước sang lập trường của chủ nghĩa Mác Lênin, tức xu hướng yêu

nước vô sản.

Nhưng mặc đù vậy, giữa các phong trào yêu nước theo các xu hướng khác nhau vẫn có những khác

biệt căn bản về đường lối, cương lĩnh và sách lược. Vì vậy, chúng vẫn có sự đấu tranh với nhau để

giành quyền lãnh đạo đối với phong trào yêu nước nói chung.

Những năm đầu thế kỷ XX, cuộc vận động Duy Tân mà các sỹ phu yêu nước khuấy động ở Nam

Bộ với các nội dung bài trừ mê tín dị đoan, thực hiện nếp sống văn minh, xuất dương du học tất nhiên

trong một chừng mực nào đó có sự mâu thuẫn với việc sử dụng và truyền bá phương thuật của các hội

kín. Đến những năm 20 - 30 của thế kỷ, sự đấu tranh giữa các xu hướng yêu nước tư sản và vô sản còn

thể hiện rõ nét hơn nhiều. Cùng với sự phát triển của lịch sử, chủ nghĩa yêu nước theo con đường cải

lương dần mất đi tính cách mạng, trở thành vật cản để phong trào yêu nước tiến lên. Vậy nên những

đảng phái như Đảng Lập Hiến, Việt Nam quốc gia đảng, Việt Nam quốc gia độc lập đảng… cũng trở

thành những đối tượng tấn công của các tổ chức cách mạng yêu nước, tiêu biểu là Đảng Cộng sản.

Không chỉ có vậy, trong bản thân mỗi xu hướng yêu nước cũng có sự đấu tranh giữa các bộ phận

khác nhau. Điều này có thể thấy rõ nhất thông qua các cuộc đấu tranh của Đảng Cộng sản và nhóm Tờ

rốt kít. Thậm chí, trong một chừng mực nào đó, Đảng cộng sản còn đánh giá nhóm Tờ rốt kít có thể

còn nguy hiểm hơn cả các đối tượng khác, như lời một bức thư kêu gọi: “(…) kẻ thù số một của chúng

tôi là chủ nghĩa phát xít và bọn lãnh tụ tờ rốt kít chuyên môn phá hoại, chia rẽ, giúp tay trong cho phát

xít để tiêu diệt chúng ta”. [36, tr 770]

Con đường cách mạng không bao giờ bằng phẳng mà rất nhiều chông gai. Cả xu hướng yêu nước

theo con đường tư sản và vô sản đều là những xu hướng tiến bộ, có thể đảm đương được vai trò là ngọn

cờ đầu để lãnh đạo phong trào yêu nước nói chung. Vậy nên, lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX ở

Nam Bộ chứng kiến sự đấu tranh giành quyền lãnh đạo của hai xu hướng yêu nước tư sản và vô sản đối

với phong trào yêu nước nói chung.

Tuy nhiên thực tế lịch sử chứng minh rằng, một giai cấp muốn trở thành trung tâm của khối đại

đoàn kết toàn dân tộc, giai cấp ấy phải dung hòa, thống nhất được quyền lợi của giai cấp mình với

quyền lợi của cả quốc gia dân tộc, không những tập hợp được giai cấp của mình mà còn phải có đường

lối chính trị đúng đắn để giải quyết những mâu thuẫn nội bộ trong đất nước, trong dân tộc để tập hợp

toàn thể dân tộc vào một mặt trận chung. Giai cấp tư sản Nam Bộ rõ ràng chưa thể có được những điều

kiện đó.

Sinh ra từ một xã hội thuộc địa, bị đế quốc và tư sản người Hoa chèn ép và những tàn dư của chế độ

phong kiến vẫn tồn tại dai dẳng kìm hãm sự phát triển, giai cấp tư sản Nam Bộ, dù được đánh giá vào

hàng phát triển nhất trên phạm vi cả nước nhưng nhìn chung vẫn yếu ớt, sức chiến đấu không cao. Hơn

nữa, giai cấp tư sản Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung, tuy có mâu thuẫn với đế quốc nhưng

suy cho cùng vẫn có những mối liên hệ kinh tế với đế quốc. Từ đó dẫn đến việc giai cấp tư sản Việt

Nam không thể triệt để đấu tranh. Xu hướng chính trị của họ chủ yếu là chủ nghĩa cải lương. Một bộ

phận tư sản mại bản thì lại còn gắn liền quyền lợi với đế quốc, quay lưng lại với lợi ích của quốc gia

dân tộc. Tất cả những điều trên đây giải thích tại sao xu hướng yêu nước tư sản Nam Bộ ở một mức độ

nhất định cũng đại diện cho một lực lượng xã hội tương đối tiến bộ, nhưng không thể tập hợp được

đông đảo quần chúng, không lãnh đạo được cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Nam Bộ nửa đầu thế

kỷ XX.

Khác với xu hướng yêu nước tư sản, xu hướng yêu nước vô sản ở Nam Bộ tỏ ra triệt để hơn rất

nhiều. Giai cấp công nhân Nam Bộ ngay từ khi mới ra đời biết liên kết thành giai cấp. Hơn nữa, ý thức

giai cấp và lòng yêu nước của giai cấp công nhân Nam Bộ đã sớm hòa quyện với nhau. Mối hận mất

nước và mâu thuẫn giai cấp càng làm cho ý thức cách mạng của giai cấp công nhân Nam Bộ sớm

trưởng thành. Hơn nữa, giai cấp công nhân Việt Nam, khác với giai cấp tư sản dân tộc, có mối liên hệ

chặt chẽ với hầu hết các giai cấp và tầng lớp trong quần chúng nhân dân, đặc biệt là giai cấp nông dân,

người bạn đồng minh lớn mạnh và gần gũi nhất.

Một điểm hết sức quan trọng nữa là, giai cấp công nhân Việt Nam trưởng thành và bước ra vũ đài

chính trị đứng lúc cuộc cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ và giành thắng lợi. Dưới ảnh hưởng của

cách mạng tháng Mười, chủ nghĩa Mác Lê nin nhanh chóng thâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam. Được

vũ trang bằng một ý thức hệ tiên tiến, giai cấp công nhân vì thế nhanh chóng nổi lên giữ vị trí trung

tâm, lôi cuốn cả dân tộc vào cuộc đấu tranh giải phóng do mình lãnh đạo.

Cuối cùng, trước vai trò tiên phong trong việc phát động và khuấy động các phong trào yêu nước,

tất cả các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ đều thừa nhận vị trí lãnh đạo của Đảng, chấp nhận hòa vào các

phong trào đấu tranh do Đảng khởi xướng. Và như vậy, có thể nói sự liên hệ và đấu tranh của các xu

hướng yêu nước ở Nam Bộ diễn ra song song. Nhưng tựu chung lại, xu thế hợp tác, hỗ trợ nhau vẫn là

chủ đạo. Chính điều đó tạo ra sức mạnh để Đảng Cộng sản ở Nam bộ có thể lãnh đạo phong trào yêu

nước đi đến thắng lợi hoàn toàn.

3.1.5 Đảng Cộng sản ở Nam Bộ đóng vai trò hạt nhân trong sự nghiệp tổ chức và lãnh đạo các

phong trào đấu tranh chống Pháp nửa đầu thế kỷ XX

Giai cấp công nhân Nam Bộ được chính thức hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Cùng

với công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, số lượng công nhân Nam Bộ tăng lên

rất nhanh và có mức độ tập trung cao.

Giai cấp công nhân Nam Bộ hình thành ngay thời điểm cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi và

chủ nghĩa Mác Lênin đang được truyền bá vào Việt Nam một cách mạnh mẽ. Chính vì vậy, ngay từ

buổi ban đầu giai cấp công nhân Nam Bộ đã sớm giác ngộ cách mạng. Từ cuối năm 1920, ở Nam Bộ

đã hình thành nên tổ chức công hội, có thể nói là sớm nhất trong cả nước.

Đối với một vùng đất giàu truyền thống yêu nước như vùng Nam Bộ thì sự hình thành và phát triển

của giai cấp công nhân có những thuận lợi rất cơ bản. Giai cấp công nhân tiếp thu lý luận của chủ nghĩa

Mác Lênin, hòa quyện với chủ nghĩa yêu nước chân chính của các thế hệ đi trước, để hình thành nên xu

hướng yêu nước vô sản ở Nam Bộ, tiến tới việc thành lập một chính đảng cộng sản.

Trong những năm 1920 ở Nam Bộ tồn tại đủ các tổ chức tiền thân của Đảng như Hội Việt Nam

cách mạng thanh niên, và Tân Việt cách mạng Đảng. Sau đó là các tổ chức Đông Dương Cộng sản

đảng, An Nam Cộng sản đảng và Đông Dương cộng sản liên đoàn. Tuy nhiên, từ năm 1930, với sự tổ

chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam tại Hương Cảng (Trung Quốc) do

Nguyễn Ái Quốc chủ trì, các tổ chức cộng sản ở Nam Bộ thống nhất lại và trở thành một chính đảng

cộng sản duy nhất. Từ đây, Đảng phát triển lực lượng rất mạnh và nhanh chóng xác lập được vị thế đầu

tàu trong các phong trào yêu nước nói chung ở Nam Bộ.

Mặc dù vậy, cần nhấn mạnh rằng con đường xác lập vị thế và uy tín ấy không phải dễ dàng mà phải

trả giá bằng máu và nước mắt của biết bao thế hệ các đảng viên chân chính. Vừa thành lập, Đảng lập

tức phải chịu sự đàn áp dã man của kẻ thù sau phong trào cách mạng 1930 - 1931. Rồi cuộc khởi nghĩa

Nam Kỳ năm 1940 thất bại cũng làm cho các tổ chức Đảng gần như bị tê liệt. Có những giai đoạn, Xứ

ủy Nam Kỳ vừa lập ra rồi ngay lập tức lại bị phá vỡ. Sự thất vọng và chán nản đã có lúc làm chủ nghĩa

thủ tiêu lan tràn trong đội ngũ Đảng viên. Rồi sự chống phá của nhóm Tờ rốt kít, của những đảng phái

khác. Những khó khăn dồn đến liên tục tưởng chừng như sẽ khiến Đảng cộng sản không thể gượng dậy

nổi. Nhưng thực tế lịch sử đã chứng minh điều ngược lại. Sau mỗi lần bị tấn công, chẳng những Đảng

phục hồi nhanh chóng mà dường như còn mạnh mẽ hơn trước. Điều đó chẳng những thể hiện ý chí sắt

đá, kiên cường của những người cộng sản Nam Bộ mà còn thể hiện tính chất ưu việt của xu hướng yêu

nước vô sản trong các phong trào đấu tranh yêu nước ở Nam Bộ.

Các phong trào yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX tuy hết sức sôi động nhưng lại xuất hiện

nhiều xu hướng khác nhau. Điều đó đã gây ra những trở ngại cho việc phát triển lực lượng và phát

động các phong trào đấu tranh của Đảng. Để có thể nắm vững được ngọn cờ lãnh đạo, Đảng phải có

được những đặc điểm sau:

Thứ nhất, phải đại diện cho một chủ nghĩa yêu nước chân chính.

Thứ hai, phải có một lực lượng mạnh, hơn tất cả các tổ chức chính trị đối lập.

Thứ ba, phải gây được uy tín thông qua những hoạt động cách mạng, thông qua những chủ trương

phù hợp với thực tiễn đấu tranh cách mạng.

Để làm được tất cả những nội dung trên là một điều không hề đơn giản. Bởi Đảng Cộng sản là đối

tượng đàn áp chính của thực dân Pháp. Sau những lần khủng bố của kẻ thù, lực lượng Đảng thường bị

tổn thất nặng nề. Nhất là vào thời điểm chiến tranh thế giới sắp kết thúc. Thời cơ ngàn năm có một

đang đến gần, vấn đề là tổ chức Đảng ở Nam Bộ có thể tận dụng được thời cơ ấy hay không? Sau khi

cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, các cơ sở Đảng bị tổn thất và buộc phải rút vào hoạt động bí mật.

Việc phát triển Đảng vì vậy càng gặp khó khăn lớn. Thêm vào đó là tình trạng chia rẽ trong nội bộ

Đảng với việc hình thành hai Xứ ủy Nam Kỳ song song tồn tại.

Thời điểm đầu năm 1945, Nam Bộ là một khu vực mà các tổ chức chính trị mọc lên nhiều như nấm

sau mưa. Mỗi tổ chức lại theo những xu hướng chính trị khác nhau. Nhiệm vụ trọng tâm của Đảng lúc

này là phải phát triển lực lượng một cách nhanh nhất. Bởi “nếu không đủ mạnh, mạnh hơn tất cả các

đảng phái khác cộng lại, nếu lẹt đẹt trong vòng cô độc, không ai trông thấy lực lượng hùng hậu của ta

mà chỉ nghe tiếng tăm của ta thôi, thì vào lúc Nhật Bản bị bại trận, khủng hoảng chính trị xảy đến, các

đảng phái quốc gia và các giáo phái sẽ giành chính quyền, chớ ta nhỏ yếu thì làm gì được”. [37, Tr

1333)

Nắm được yếu tố cốt lõi của thời thế, nhưng tất nhiên nhiệm vụ đó quả là rất khó thực hiện. Thực

lực của Đảng ở Nam Bộ bấy giờ vẫn còn rất mỏng. Cái giá của khởi nghĩa Nam Kỳ quả thật là quá đắt.

Trong khi đó các xu hướng yêu nước khác sau năm 1940 vẫn có những điều kiện để phát triển, đặc biệt

là các giáo phái. Bấy giờ Xứ ủy Nam Kỳ đã xác định rằng “khó khăn đáng sợ nhất, chưa phải là Nhật,

là Đại Nhật Bản với số quân ở Đông Dương sáu, bảy hay 10 vạn người có quá đầy đủ súng đạn, thừa

can đảm, thạo chinh chiến; bởi vì quân Nhật sắp thua rồi, ta đâu cần phải đánh đồn phá lũy của

chúng, tuy không phải có lúc phải làm như vậy ở nơi này hay nơi khác; khó khăn thực tế đáng chú ý

nhất mà nhất thiết phải vượt qua là các giáo phái ở Nam Kỳ lớn lắm, và thực ra đó là những chánh

đảng hoạt động dưới hình thức tôn giáo”. [37, tr 1332)

Không có được sức mạnh như tổ chức Đảng ở các địa phương khác trên cả nước, Đảng muốn xác

lập được quyền lãnh đạo của mình đối với các phong trào yêu nước ở Nam Bộ chỉ còn cách tính đến

việc đoàn kết các lực lượng yêu nước theo các xu hướng khác nhau ở Nam Bộ. Thực tế lịch sử cho

thấy, Xứ ủy Nam Kỳ đã thực hiện rất tốt điều đó. Từ sau khi đặt được ảnh hưởng lên vùng Nam Bộ,

Đảng đã nhanh chóng tạo được uy tín trong các tầng lớp nhân dân Nam Bộ, để từ đó lôi kéo, tập hợp

được các xu hướng yêu nước khác nhau. Các phong trào yêu nước ở Nam Bộ tuy không thống nhất

nhưng đều được hội tụ vào các phong trào đấu tranh do Đảng phát động.

Cuộc cách mạng Tháng Tám thực sự không phải là kết quả đấu tranh của một mình Đảng mà là

thành quả của sức mạnh tổng hợp tất cả các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ được quy tụ xung quanh

Đảng Cộng sản.

3.2 Quá trình hội tụ và phân hóa của các xu hướng đấu tranh yêu nước ở Nam Bộ trong

kháng chiến chống Pháp

3.2.1 Quá trình phân hóa trong hàng ngũ kháng chiến trong kháng chiến chống Pháp 1945 -

1954

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam đã tự tay chặt đứt xích xiềng nô lệ sau hơn

80 năm tủi nhục. Ngày 2/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên

ngôn Độc lập, tự hào tuyên bố với thế giới Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chính thức ra đời,

nhân dân Việt Nam đã hoàn toàn tự do và độc lập và hoàn toàn xứng đáng với sự tự do và độc lập ấy.

Cuộc cách mạng tháng Tám 1945 đã đưa dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân Nam Bộ nói

riêng bước sang một kỷ nguyên mới. Nhưng thực dân Pháp vẫn không từ bỏ ý định thống trị Việt Nam,

tìm mọi cách thủ tiêu thành quả cách mạng mà dân tộc Việt Nam vừa giành được. Nam Bộ là nơi đầu

tiên đánh dấu sự quay lại xâm lược ấy.

Ngay ngày 2/9/1945, trong khi nhân dân Nam Bộ mít tinh mừng ngày độc lập, một số tên thực dân

phản động người Pháp đã núp trong các khu nhà xả súng vào đám đông làm 47 người chết và nhiều

người bị thương.

Sau đó dưới sự che chở của thực dân Anh, vốn là lực lượng Đồng Minh tới Nam Bộ để giải giáp

quân Nhật, đến ngày 23/9/1945, thực dân Pháp ngang nhiên nổ súng chiếm Sài Gòn, mở đầu cho cuộc

xâm lược Việt Nam lần thứ hai.

Trước những hành động thể hiện trắng trợn âm mưu quay lại xâm lược của thực dân Pháp, Đảng

Cộng Sản ở Nam Bộ kiên quyết không lùi bước. Cũng trong buổi sáng ngày hôm đó, Xứ ủy và Ủy ban

nhân dân Nam Bộ tổ chức Hội nghị liên tịch khẩn cấp tại Cây Mai - Chợ Lớn, phát động nhân dân Nam

Bộ đứng lên kháng chiến chống Pháp.

Sau Cách mạng tháng Tám, tuy Đảng đã xác lập được vị thế lãnh đạo đối với các phong trào yêu

nước ở Nam Bộ nhưng việc tồn tại nhiều xu hướng yêu nước ở đây vẫn là một thực tế. Lực lượng vũ

trang cách mạng non trẻ ở Nam Bộ khi ấy tập hợp hàng chục phe phái khác nhau (Cao Đài, Hòa Hảo,

Bình Xuyên… ). Các nhóm vũ tranh này phần nhiều bản lĩnh cách mạng chưa vững, tổ chức không

thống nhất, trang bị lại kém. Vậy nên công cuộc kháng chiến trong những năm đầu là gặp vô vàn khó

khăn là một điều tất yếu,

Trong khi đó, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam tuy cũng gặp trở ngại nhưng vẫn có

những thuận lợi rất cơ bản.

Thứ nhất là được sự ủng hộ và giúp đỡ của thực dân Anh. Dưới danh nghĩa quân đội Đồng Minh

vào phía nam Đông Dương giải giáp quân Nhật, quân Anh ra sức bao che và hỗ trợ cho quân đội Pháp

quay trở lại xâm lược. Quân đội Anh còn sử dụng cả quân Nhật để tấn công vào lực lượng vũ trang của

ta để mở đường tấn công cho quân đội Pháp.

Thứ hai, lực lượng kháng chiến của ta ở Nam Bộ khi ấy còn khá yếu và vô tổ chức, tình thế như vậy

rõ ràng không có lợi khi đứng trước những đội quân chuyên nghiệp của Anh - Pháp.

Thứ ba, chính quyền cách mạng vừa mới được thành lập, chưa thể có vị thế vững chắc. Nam Bộ lại

cách khá xa chính quyền trung ương, hơn nữa miền Bắc khi ấy còn đang đau đầu về đối phó với 20 vạn

quân Tưởng và những dư âm của nạn đói khủng khiếp năm 1945. Vùng Nam Bộ trước kia vốn là thuộc

địa của Pháp, không chịu sự quản lý của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, cơ sở xã hội của Pháp ở

đây vẫn còn không nhỏ.

So sánh lực lượng rõ ràng có lợi cho phía Pháp.

Dựa vào những ưu thế đó, thực dân Pháp những tưởng có thể dễ dàng đánh bại các lực lượng kháng

chiến Việt Nam trong một thời gian ngắn để áp đặt lại ách thống trị như giai đoạn trước. Chính vì vậy,

trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, thực dân Pháp có sự hỗ trợ đắc lực của Anh và Nhật nên đã dùng

toàn lực để tấn công, hi vọng có thể nhanh chóng bình định miền Nam, sau đó kẻo ra miền Bắc để hoàn

thành công cuộc xâm lược. Bởi vậy, thực dân Pháp hoàn toàn không nghĩ đến việc phải tranh thủ các

lực lượng chính trị ở Nam Bộ, mà dốc sức tấn công tiêu diệt tất cả các mầm mống phản kháng, chính

điều đó đã thúc đẩy các phe nhóm chính trị và Đảng cộng sản ở Nam Bộ xích lại gần nhau.

Song ngay sau đó, thực tế chiến trường đã chứng tỏ điều ngược lại. Công cuộc xâm lược lần này

của Pháp không phải đơn giản như vậy. Sức phản kháng của nhân dân Nam Bộ mạnh hơn những nhà

chỉ huy quân đội Pháp nghĩ. Vòng vây Sài Gòn - Chợ Lớn siết chặt hơn một tháng trời mà Pháp, có cả

Anh và Nhật giúp đỡ cũng không thể chọc thủng. Sau khi có thêm viện binh, Pháp mới tạm thời thoát

khỏi thế khó khăn. Cuối cùng đến đầu năm 1946, thực dân Pháp cơ bản chiếm đóng thành công Miền

Nam Việt Nam, trong đó có Nam Bộ.

Tuy nhiên sau khoảng thời gian bị động trước sức tấn công mạnh của quân đội viễn chinh Pháp,

phong trào kháng chiến ở Nam bộ lại dần phục hồi. Quân đội Anh và Nhật, lực lượng hậu thuẫn đắc lực

của Pháp đã rút hết. Âm mưu bình định miền Nam của Pháp không thể thực hiện được. Rồi cuộc chiến

lan ra miền Bắc, cuộc tấn công lên Việt Bắc cuối năm 1947 thất bại, kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh

của Pháp chính thức thất bại thảm hại.

Trong bối cảnh lực lượng viễn chinh của Pháp phải căng mỏng trên phạm vi cả nước, chiến tranh du

kích của ta càng có nhiều khoảng trống để phát triển, đặc biệt là ở chiến trường Nam Bộ. Để vãn hồi

tình hình, khôi phục lại an ninh trật tự ở Nam Bộ và tập trung cho chiến trường chính Bắc Bộ, thực dân

Pháp bắt đầu nghĩ đến giải pháp bắt tay với những thế lực đang có mâu thuẫn với lực lượng kháng

chiến mà Đảng Cộng sản là hạt nhân.

Có thể thấy rằng, thực dân Pháp là một kẻ thù rất mạnh, không những thế lại còn rất nham hiểm và

lão luyện trong việc thôn tính thuộc địa. Người dân Nam Bộ anh dũng đứng lên chống Pháp trở lại xâm

lược theo tiếng gọi của Đảng và Chính Phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, thế nhưng những sự khác biệt

về quan điểm, đường lối của các xu hướng yêu nước khác nhau ở Nam Bộ lại là kẽ hở để kẻ thù lợi

dụng nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Việt Nam. Bằng cách dung dưỡng, mua chuộc các tổ chức

chính trị, vũ trang ở Nam bộ để họ quay lưng lại với cuộc kháng chiến, lôi kéo các thành phần nhân dân

Nam Bộ xa rời cuộc kháng chiến, thực dân Pháp hi vọng có thể làm suy yếu lực lượng kháng chiến

Việt Nam ở Nam Bộ, để từ đó giành lấy chiến thắng.

Để thực hiện âm mưu đó, thực dân Pháp tiến hành đàm phán với các lực lượng vũ trang trong hàng

ngũ kháng chiến ở Nam Bộ khi ấy, vốn đang có xu hướng chống Pháp nhưng cũng đang có mâu thuẫn

với Đảng như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên… chấp nhận cho các lực lượng này có một lãnh thổ

riêng mà Pháp hứa sẽ không can thiệp quân sự. Song song bên cạnh đó, Pháp tìm cách cấy người của

họ vào các tổ chức này để nắm các nhân vật chủ chốt, hướng họ đi theo hướng có lợi cho mình.

Không những dung dưỡng, Pháp còn tìm cách viện trợ vũ khí và tài lực, vật lực cho các lực lượng

này. Bởi nếu các tổ chức này càng mạnh thì hậu quả mà nó có thể gây ra cho lực lượng kháng chiến

Việt Nam ở Nam Bộ là càng lớn.

Các nhóm vũ trang lập tức nhân cơ hội ấy càng cố gắng củng cố quyền lực riêng. Trần Văn Soái

(Năm Lửa) chiếm đóng Cái Vồn (Cần Thơ), Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán) giữ Cái Dầu (Châu

Đốc), Lê Quang Vinh (Ba Cụt) giữ Thốt Nốt (Long Xuyên), Nguyễn Giác Ngộ đặt bản doanh ở Cao

Lãnh (Kiến Phong), đạo Cao Đài cát cứ ở Tây Ninh và Bình Xuyên của Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) định

doanh ở Chánh Hưng (Chợ Lớn). Đó là chưa kể đến các tổ chức chính trị như Việt Minh, Đại Việt, v.v.

cũng lăm le củng cố quyền lực.

Song song với việc mua chuộc các lực lượng vũ trang kháng chiến, Thực dân Pháp cũng tiến hành

những thủ đoạn chính trị để hướng vào âm mưu đó. Tháng 2/1946, Ủy viên Cộng hòa Nam Kỳ Jean

Cédile, cho lập Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ với 12 hội viên trên danh nghĩa giúp người bản xứ tự quyết

định tương lai xứ sở, nhưng cũng có thâm ý tách dần Nam Kỳ khỏi những biến động quân sự và chính

trị ở Bắc và Trung Kỳ. Những nhóm chính trị ở Nam Bộ khi ấy như Đông Dương Tự trị Đảng và Việt

Nam Tân dân Đảng cũng ngả theo lập trường "Nam Kỳ tự trị" của Pháp. Đảng Tân Dân chủ của

Nguyễn Văn Thinh cũng tham gia vào Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ và cố tìm chỗ đứng riêng để thu hút

các lực lượng không cộng sản. Một số nhóm cổ động khẩu hiệu "Xứ Nam Kỳ của người Nam Kỳ" để

hưởng ứng.

Bản thân thực dân Pháp tất nhiên không thực lòng tái thiết trật tự hay xây dựng một xứ Nam Kỳ

chân chính mà thực ra chỉ phục vụ mục đích phân hóa lực lượng kháng chiến. Vậy nên tình hình đó thật

sự hợp với mong muốn của Pháp, không những không trấn áp, quân đội Pháp còn vũ trang cho mỗi

nhóm riêng, trên danh nghĩa là giữ an ninh, nhưng chủ ý là chống lại lực lượng Việt Minh.

Âm mưu thành lập “Xứ Nam Kỳ tự trị” của Pháp sau đó không thành. Tháng 4/1949 Nam Kỳ mở

cuộc bầu cử Quốc hội. Sau đó quốc hội này đã biểu quyết chấm dứt "Nước Nam Kỳ" và hiệp nhất vào

nước Việt Nam, để sau đó lập ra chính phủ Quốc gia Việt Nam. Đến ngày 22/5/1949, Quốc hội Pháp

chính thức bỏ phiếu thông qua việc trả Nam Bộ cho Việt Nam.

Mặc dù vậy, thủ đoạn của thực dân Pháp quả thật cũng không phải là không đạt được hiệu quả. Có

thể thấy rất nhiều các tổ chức đoàn thể vốn đứng bên cạnh Đảng trong những ngày mùa thu tháng Tám

1945 đã bị phân hóa mạnh. Sau khi vòng vây Sài Gòn - Chợ Lớn bị phá vỡ, thực dân Pháp đánh tràn ra

các tỉnh, phần lớn các đơn vị chính quy này bị tan rã, tình hình kháng chiến ở Nam Bộ trở nên hết sức

đen tối. Thực dân Pháp thả sức tung hoành, cac đồn bốt của Pháp được dựng lên dày như mạng nhện.

Các cơ quan chỉ đạo của Nam Bộ phiêu tán khắp nơi, sự liên lạc từ trên xuống bị cắt đứt gần như hoàn

toàn. Các lực lượng chính quy kháng chiến ở Nam bộ hầu như không còn nữa, một số đầu hàng giặc,

một bộ phận khác trên đường bị Pháp truy kích thì biến thành thổ phỉ, thậm chí quay súng chống lại

đồng bào, chống lại kháng chiến.

Có thể nói, những năm của cuộc kháng chiến chống Pháp chứng kiến sự phân hóa mạnh mẽ của các

xu hướng yêu nước trong lực lượng kháng chiến do Đảng Cộng sản đứng đầu. Một số tổ chức chính trị

vũ trang tách ra, công khai hợp tác với Pháp, trở thành tay sai cho kẻ thù. Một số cát cứ, chống cả Pháp

và Đảng Cộng Sản. Xu hướng này thực ra cũng gây một trở ngại lớn đối với cuộc kháng chiến nói

chung ở Nam Bộ. Điều đó nếu không được giải quyết sẽ gây ra những trở ngại lớn cho con đường bảo

vệ những thành quả của cách mạng mà dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân Nam Bộ vừa giành

được.

3.2.2 Sự hội tụ của các xu hướng yêu nước - Khuynh hướng phát triển chủ đạo của chủ nghĩa

yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

Âm mưu thâm độc của thực dân Pháp thực sự trở thành một nguy cơ lớn đối với công cuộc kháng

chiến bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước ở Nam Bộ do Đảng lãnh đạo. Đương nhiên, Đảng và lực

lượng kháng chiến Việt Nam cũng nhận thức được một cách rõ ràng âm mưu của kẻ thù. Thực dân

Pháp rất mạnh và nguy hiểm, nếu như không giải quyết được vấn đề hội tụ các xu hướng yêu nước, huy

động sức mạnh của toàn thể nhân dân Nam Bộ vào cuộc kháng chiến thì tất nhiên kẻ thù sẽ là người

chiến thắng. Cuộc chiến tranh trên mặt trận này vì thế diễn ra âm thầm nhưng rất quyết liệt, chi phối

trực tiếp đến cục diện chiến trường.

Ngày 25/10/1945, Xứ ủy Nam Bộ mở hội nghị đại biểu các tỉnh tại Mỹ Tho, hội nghị đã phân tích

tình hình, chỉ ra những sự non yếu và lệch lạc trong vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang khởi nghĩa sau

ngày giành chính quyền ở Nam Bộ để rút kinh nghiệm và đưa ra dự báo về sự tan ra và phân hóa như

một tất yếu của các “Sư đoàn quân cách mạng”.

Tình hình Nam Bộ cũng được Chính Phủ Trung Ương đặc biệt quan tâm. Tướng Nguyễn Bình được

cử vào miền Nam với nhiệm vụ thống nhất các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ, một nhiệm vụ không hề

dễ dàng, nhưng có tầm quan trọng chiến lược.

Đứng trước thực trạng phân hóa nghiêm trọng trong hàng ngũ kháng chiến, Đảng Cộng sản ở Nam

Bộ đề ra những chủ trương vừa mềm dẻo lại vừa kiên quyết. Đối với những bộ phận đã đã tách ra khỏi

hàng ngũ kháng chiến, thậm chí đứng bên kia chiến tuyến. Đảng chủ trương đẩy mạnh công tác tuyên

truyền, lôi kéo những người lầm lạc trở về với hàng ngũ kháng chiến. Các công tác dân vận, địch vận

đối với các lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên trở thành những nhiệm vụ trọng tâm, được Đảng

đặc biệt chú trọng.

Bên cạnh đó, việc đưa các chính trị viên xâm nhập vào hàng ngũ các tổ chức vũ trang ở Nam Bộ

cũng là một bước đi chiến lược rất hiệu quả. Tất nhiên, việc điều phái các chính trị viên không phải lúc

nào cũng thuận lợi do sự chống phá quyết liệt của các thế lực phản động. Bởi vậy, bên cạnh hình thức

hoạt động công khai, có nhiều trường hợp các chính trị viên phải hoạt động bí mật.

Còn đối với tổ chức nào đã lộ rõ bộ mặt phản động, phản cách mạng thì Đảng chủ trương kiên

quyết tấn công tiêu diệt. Các cuộc tảo thanh diễn ra tuy không phải là điều mong muốn, song vẫn là

điều cần thiết để bảo đảm tính thống nhất của lực lượng kháng chiến.

Song song với đó, Đảng cũng kêu gọi tất cả các tầng lớp nhân dân cùng tham gia vào công cuộc

kháng chiến. Các phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, trí thức, phụ nữ, thậm chí cả thiếu nhi

đã được khuấy động một cách rộng rãi. Đảng thực sự đã kết hợp được cả đấu tranh vũ trang và đấu

tranh chính trị.

Những biện pháp đúng đắn của Đảng đã đem lại những kết quả tích cực. Trừ một bộ phận nhỏ lộ rõ

bộ mặt phản động, trở về đầu hàng thực dân Pháp, còn thì đại đa số nhân dân Nam Bộ với lòng yêu

nước và căm thù giặc ngoại xâm vẫn sát cánh bên lực lượng kháng chiến do Đảng Cộng sản đứng đầu.

Những tổ chức vũ trang cách mạng được cải tổ lại, trở thành những lực lượng vũ trang cách mạng chân

chính và thống nhất, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì nền độc lập thiêng liêng của toàn dân tộc.

Có thể nói, quá trình phân hóa lực lượng trong kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954 là một thực tế

lịch sử. Điều đó có những nguyên nhân cụ thể của nó.

Trước hết, do vùng Nam Bộ có một lịch sử rất đặc biệt, dẫn đến văn hóa và con người nơi đây cũng

có những nét đặc thù không giống với các nơi khác. Người dân Nam Bộ tự do, phóng khoáng, ít khi

chịu sự quản lý chặt chẽ của bất cứ thế lực nào, cho dù đó là một chính quyền tiến bộ và độc lập như

chính quyền cách mạng mới được thành lập.

Thứ hai, trong khi đất nước đang bận rộn trăm công nghìn việc đối phó với thù trong giặc ngoài,

thêm vào đó là sự bất tiện về khoảng cách địa lý, Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không thể

nào quan tâm quản lý một cách chặt chẽ vùng Nam Bộ. Ngoài ra, sự ảnh hưởng của Đảng Cộng sản đối

với vùng Nam Bộ nói chung vẫn còn khá mờ nhạt, chưa tạo được cơ sở vững chắc trong quần chúng.

Cuối cùng, vùng đất Nam Bộ giai đoạn trước đó vốn là thuộc địa của Pháp từ sau hiệp ước 1872.

Ảnh hưởng của Pháp ở vùng này rõ rệt hơn rất nhiều so với các vùng miền khác. Bộ phận những phần

tử thân Pháp ở đây có thể nói là khá nhiều. Thực dân Pháp lại lợi dụng triệt để những yếu tố đó để thi

hành những âm mưu thâm độc nhằm phá hoại khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Tuy nhiên, mặc dù sự chia rẽ là một điều hết sức đau lòng, nhưng nhờ vậy mà Đảng và nhân dân

Nam Bộ lại có được nhiều hơn: Khi mà hàng ngũ đã được thống nhất, giới tuyến của những thế lực

phản động và lực lượng kháng chiến đã rõ ràng, thì cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Bộ thực sự trở

nên dễ dàng hơn, cuộc đấu tranh ấy không chỉ đại diện cho một chính quyền chân chính của toàn dân

tộc, mà còn đại diện cho xu hướng tiến bộ nhất của chủ nghĩa yêu nước trong bối cảnh lịch sử cụ thể

bấy giờ.

Nói tóm lại, sau cách mạng tháng Tám, các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ chỉ còn một xu hướng

duy nhất, đó là xu hướng vô sản, mà Đảng là ngọn cờ đầu. Hay nói cách khác, các xu hướng yêu nước

ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp đã được hội tụ lại thành một xu hướng thống nhất. Còn bộ

phận nào rời bỏ hàng ngũ kháng chiến, chấp nhận liên hệ với Pháp thì dù trong giai đoạn lịch sử trước

kia có thể trong một chừng mực nào đó đã từng đóng vai trò tiến bộ, thì nay cũng lộ rõ bản chất phản

cách mạng, đi ngược lại xu thế phát triển chung của thực tiễn lịch sử. Quá trình hội tụ ấy là một tất yếu

lịch sử, và cũng là khuynh hướng chủ đạo đối với lịch sử Nam Bộ trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX,

bởi nó tạo tiền đề thúc đẩy phong trào cách mạng Nam Bộ nói riêng và cách mạng Việt Nam nói chung

tiến lên, giành lấy những thắng lợi trong các giai đoạn tiếp theo.

**

*

Vùng Nam Bộ trong khoảng thời gian nửa đầu thế kỷ XX chứng kiến sự tồn tại đan xen của hàng

loạt các xu hướng yêu nước khác nhau. Có những xu hướng vốn là tàn dư của một giai đoạn chống

Pháp hào hùng và bi tráng trước đây, nhưng bên cạnh đó cũng xuất hiện sự năng động của những xu

hướng yêu nước mới, ra đời từ những đổi thay của tình hình trong nước và thế giới, được quy định bởi

điều kiện lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội vùng Nam Bộ. Bởi vậy, khi nghiên cứu về các xu hướng

trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ, rất dễ dàng nhận ra những đặc điểm mang tính chất đặc thù.

Phong trào yêu nước nơi đây luôn đa dạng do tồn tại hàng loạt các tổ chức chính trị theo các xu hướng

khác nhau, luôn sôi sục do sự tác động lẫn nhau giữa các xu hướng, hết sức sinh động bởi được yếu tố

tôn giáo bao trùm và trên hết là tính hiệu quả cao khi có Đảng đóng vai trò lãnh đạo.

Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là phong trào yêu nước xét trên bình diện chung của phạm vi

cả nước không có những đặc điểm như vậy. Bản thân các xu hướng yêu nước theo xu hướng phong

kiến, tư sản và vô sản đều xuất hiện một cách rộng rãi ở các các địa phương khác, không phải chỉ ở

Nam Bộ mới mang những đặc điểm đó. Vấn đề là ở Nam Bộ, những đặc điểm ấy của phong trào yêu

nước nổi lên rõ nét hơn hẳn những vùng miền khác, tạo ra dấu ấn riêng trong lịch sử vùng Nam Bộ. Đó

là điểm tương đồng nhưng cũng chính là nét đặc thù của phong trào yêu nước ở Nam Bộ trong nửa đầu

thế kỷ XX so với phong trào yêu nước nói chung trên cả nước.

Theo xu thế phát triển của phong trào yêu nước nói chung, phong trào yêu nước Nam Bộ cũng xảy

ra hai chiều hướng vận động trái chiều nhau: Quá trình phân hóa và hợp nhất của các xu hướng yêu

nước. Các quá trình này diễn ra giữa các xu hướng yêu nước khác nhau và trong cả bản thân nội bộ mỗi

xu hướng. Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng hai chiều hướng đó diễn ra song song nhưng xu hướng

thống nhất luôn đóng vai trò chủ đạo. Và xu hướng yêu nước nào giải quyết tốt nhất việc siết chặt hàng

ngũ, đoàn kết với các xu hướng yêu nước khác sẽ có thể giành lấy vai trò trung tâm trong sự nghiệp

giải phóng dân tộc. Đó là yêu cầu khách quan mà bất cứ một xu hướng yêu nước nào ở Nam Bộ thời

điểm ấy cũng phải tìm ra giải pháp để đáp ứng.

Xu hướng yêu nước phong kiến hoạt động yếu ớt rồi tan rã. Xu hướng yêu nước tư sản phân hóa

thành hai bộ phận nhỏ (xu hướng dân tộc cải lương và xu hướng dân tộc cách mạng), cuối cùng cả hai

xu hướng này đều yếu ớt, ít có cơ sở trong quần chúng và không thể hợp nhất để tạo nên sức mạnh tổng

lực để phát động quần chúng đấu tranh. Trong hoàn cảnh đó, xu hướng yêu nước vô sản, với Đảng

Cộng sản là đại diện đã thực hiện vấn đề đó một cách xuất sắc. Cuộc cách mạng tháng Tám vỹ đại và

cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi sau đó là phần thưởng xứng đáng cho những chủ trương sáng

suốt và những nỗ lực không biết mệt mỏi của một thế hệ những người Đảng viên Cộng sản.

Sự hội tụ của các xu hướng trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX vào một xu

hướng tiến bộ nhất (xu hướng vô sản) thực sự là một bước phát triển hợp quy luật của lịch sử của vùng

Nam Bộ, đưa nhân dân Nam Bộ đạt được những thắng lợi vang dội, góp phần vào thắng lợi chung cho

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của toàn dân tộc.

KẾT LUẬN

Tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp năm 1858 thực sự là cột mốc mở đầu cho một giai đoạn

đau thương trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên bên cạnh đó, tiếng súng ấy cũng là một hiệu

lệnh để cho lòng yêu nước của một dân tộc kiên cường và bất khuất bùng nổ một cách mạnh mẽ và bền

bỉ, viết tiếp những trang sử hào hùng và vỹ đại, kế tiếp truyền thống yêu nước vinh quang của thế hệ

cha ông từ hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Thất bại trong cuộc tấn công vào Đà Nẵng, thực dân Pháp chuyển hướng tấn công xuống Nam Kỳ,

thực hiện âm mưu đánh lâu dài. Nhưng đi đến đâu quân đội viễn chinh pháp cũng vấp phải sức kháng

cự mãnh liệt của nhân dân Nam Kỳ. Hàng loạt các phong trào đấu tranh nổ ra liên tiếp, giáng cho thực

dân Pháp những tổn thất nặng nề. Những Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Thiên

Hộ Dương… thực sự đã trở thành bất tử, đi vào tiềm thức của những người dân Việt Nam như một

minh chứng cho tinh thần quật khởi của nhân dân Nam Bộ nửa cuối thế kỷ XIX.

Tuy nhiên, các phong trào chống Pháp ở Nam Bộ mặc dù diễn ra sôi nổi, nhưng bản thân công cuộc

kháng chiến chống Pháp giai đoạn này vẫn có những hạn chế lớn.

Thứ nhất, tuy số lượng các phong trào chống Pháp rất đông, nhưng lại thiếu sự tổ chức thống nhất,

sự liên hệ hỗ trợ nhau giữa các tổ chức nghĩa quân cũng còn rất hạn chế. Bởi vậy, thực dân Pháp có

điều kiện để lần lượt tiêu diệt các phong trào riêng lẻ, làm suy yếu và tiến tới dập tắt hoàn toàn các

phong trào kháng pháp ở Nam Bộ.

Thứ hai, bản thân các cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Kỳ thời điểm ấy nhận được sự hỗ trợ rất

hạn chế của triều đình nhà Nguyễn. Thậm chí, khi mà tư tưởng chủ hòa chiếm ưu thế, những chủ

trương của triều đình còn gây rất nhiều khó khăn cho sự hoạt động của các tổ chức nghĩa quân ở Nam

Kỳ. Sức mạnh của phong trào chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ vì vậy không được phát huy hết để có

thể níu kéo hi vọng chiến thắng trước kẻ thù xâm lược.

Thứ ba, kẻ thù của nhân dân Nam Kỳ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung bấy giờ là thực dân

Pháp, một kẻ thù quá mạnh và đại diện cho một ý thức hệ tiên tiến. Tương quan lực lượng hai bên có

một khoảng cách mang tính thời đại, rất khó có thể lấp đầy. Bởi vậy, ý thức hệ phong kiến trong thời

điểm đó được vũ trang bởi lòng yêu nước truyền thống cũng chỉ có thể làm dấy lên một phong trào

kháng Pháp trong một giai đoạn nhất định chứ chẳng thế có cơ may giành lấy thắng lợi.

Sự thất bại của các phong trào chống Pháp ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX suy cho cùng cũng là một

điều tất yếu. Điều đó đồng thời cũng thể hiện sự bất lực của ý thức hệ phong kiến trước bước ngoặt của

lịch sử dân tộc.

Những năm cuối cùng của thế kỷ XIX, phong trào Cần Vương bùng nổ. Hàng trăm cuộc khởi nghĩa

bùng lên trên phạm vi cả nước. Nhưng ở Nam Bộ, tình hình khá im ắng. Nguyên nhân là bởi ở Nam

Bộ, điều kiện để phát triển phong trào gần như không có. Nhưng sự im ắng ấy thực sự không phải lòng

yêu nước của nhân dân Nam Bộ đã hoàn toàn lụi tắt. Sự yên tĩnh ấy thực sự giống như sự thanh bình

của bầu trời trước khi nổ ra một cơn bão lớn. Và sự thực đúng là như vậy, đến đầu thế kỷ XX, ngọn lửa

yêu nước lại một lần nữa bùng lên ở Nam Bộ khi hoàn cảnh lịch sử xuất hiện những điều kiện mới cho

các phong trào cách mạng.

Sự đa dạng của văn hóa và những điều kiện đặc thù của đời sống kinh tế xã hội làm cho vùng đất

Nam Bộ xuất hiện hàng loạt các tổ chức chính trị, tôn giáo như một tất yếu. Đến lượt mình, các tổ chức

chính trị, tôn giáo lại làm nảy ra hàng loạt các xu hướng khác nhau trong phong trào yêu nước Nam Bộ

nửa đầu thế kỷ XX.

Xu hướng phong kiến xuất hiện ở Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX chỉ là tàn dư của một giai

đoạn lịch sử chống Pháp hào hùng của cư dân nơi đây từ thế kỷ XIX. Trong bối cảnh mà xu hướng yêu

nước này thời điểm đó đã gần như bị dập tắt trên phạm vi cả nước, thì hoạt động mạnh mẽ của các hội

kín Nam Kỳ có thể là một sự kiện rất đặc biệt. Tuy nhiên, khi mà ý thức hệ phong kiến vào đầu thế kỷ

XX đã trở nên không còn phù hợp thì những cuộc đấu tranh theo xu hướng này chỉ có tác dụng nuôi

dưỡng lòng yêu nước và thể hiện tinh thần kiên cường bất khuất của cư dân Nam Bộ. Còn bản thân xu

hướng này thì sau đó sẽ phải hòa nhập chung với các xu hướng yêu nước khác, tiến bộ hơn.

Những năm đầu thế kỷ XX, cùng với sự lan tỏa các tư tưởng dân chủ tư sản đến Việt Nam nói

chung, xu hướng yêu nước tư sản cũng bắt đầu hình thành ở Nam Bộ. Xu hướng này được biểu hiện

trước hết ở các phong trào yêu nước do các sỹ phu phát động. Các cuộc vận động này thực sự mang ý

nghĩa thời đại. Nó mở ra một hướng đấu tranh mới, khi mà con đường cứu nước bấy giờ đang bế tắc.

Mặc dù vậy, bản thân các phong trào yêu nước này vẫn còn có những hạn chế, cả chủ quan và khách

quan. Vậy nên thành quả của các phong trào yêu nước này vẫn chỉ là hun đúc tinh thần yêu nước, mở

mang dân trí, và đóng vai trò là bước đệm để chuẩn bị cho các xu hướng đấu tranh mới ưu việt hơn,

tiến bộ hơn tiếp tục xuất hiện ở giai đoạn tiếp theo. Đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, giai cấp

tư sản Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng bắt đầu bước lên vũ đài chính trị. Các tổ chức chính

trị, các phong trào đấu tranh do giai cấp tư sản phát động nhanh chóng làm dấy lên một phong trào yêu

nước mạnh mẽ khắp Nam bộ. Tuy nhiên, xu hướng yêu nước tư sản cũng chỉ làm được đến vậy. Bởi vì

bản thân giai cấp tư sản Nam Bộ vẫn có nhưng nhược điểm không thể khắc phục để có thể đóng vai trò

là ngọn cờ đầu cho phong trào yêu nước ở Nam Bộ.

Điều đó có những nguyên nhân của nó.

Trước hết, giai cấp tư sản ở Nam Bộ tuy khá phát triển, nhưng phạm vi ảnh hưởng của giai cấp này

hầu như chỉ ở các thành thị lớn, chủ yếu là Sài Gòn - Chợ Lớn. Từ đó dẫn đến việc giai cấp tư sản Nam

Bộ chưa bao giờ có được một cơ sở rộng rãi trong quần chúng nhân dân. Đặc biệt, sự liên hệ giữa giai

cấp tư sản đối với giai cấp nông dân, thành phần cơ bản trong xã hội Nam Bộ lại càng mờ nhạt. Chính

sự hạn chế trong việc liên hệ và huy động các lực lượng quần chúng là nguyên nhân chủ yếu dân đến

việc xu hướng yêu nước tư sản mất đi sức mạnh để có thể trở thành một xu hướng chủ đạo trong các

phong trào yêu nước ở Nam Bộ.

Thứ hai, bản thân xu hướng yêu nước tư sản sau đó lại chia rẽ thành hai bộ phận nhỏ: Xu hướng tư

sản dân tộc cách mạng và xu hướng tư sản dân tộc cải lương.

Xu hướng tư sản dân tộc cải lương trong những năm 20 của thế kỷ XX cũng khuấy động được một

số cuộc vận động yêu nước. Nhưng bản thân các phần tử của xu hướng này không dám manh động, chỉ

biết trung thành với đường lối bất bạo động. Bởi vậy, xu hướng này tuy ban đầu cũng được ủng hộ,

nhưng ngay sau đó lập tức bị phong trào của quần chúng vượt qua. Và sau đó, xu hướng này quay sang

thỏa hiệp với Pháp, trở thành một lực lượng phản cách mạng.

Xu hướng tư sản dân tộc cách mạng tiến bộ hơn, với thành phần chính là trí thức tiểu tư sản. Nhưng

bản thân xu hướng này cũng không thể tự khắc phục được những điểm yếu cố hữu: Không tìm ra cho

mình một lý tưởng, lực lượng yếu, thiếu mối liên hệ với quảng đại quần chúng, mà trước hết là nông

dân. Vậy nên xu hướng này trong thực tế bị phân hóa rất mạnh. Cuối cùng, một bộ phận bảo thủ thì

theo gót những phần tử tư sản cải lương, quay đầu thỏa hiệp với kẻ thù. Còn một bộ phận ưu tú nhất,

kiên quyết nhất thì chuyển sang lập trường vô sản.

Có thể đánh giá một cách công bằng rằng, xu hướng yêu nước tư sản ở Nam Bộ, trong một giai

đoạn lịch sử nhất định cũng có vai trò tích cực. Thậm chí trong những năm 20 của thế kỷ XX, các

phong trào yêu nước do giai cấp tư sản phát động thực sự nổi lên như một xu hướng chủ đạo trong

phong trào yêu nước ở Nam Bộ, thu hút hầu hết các tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng.

Có điều bản thân xu hướng này vấp phải những khó khăn chủ quan cũng như khách quan không thể

khắc phục. Kết cục xu hướng này không thể đảm đương nổi vai trò cầm cờ lãnh đạo phong trào yêu

nước ở Nam Bộ mà phải hòa vào phong trào yêu nước theo xu hướng vô sản, mà Đảng Cộng sản là đội

tiền phong.

Quá trình chuyển giao vai trò lãnh đạo ấy diễn ra khá êm ả, điều đó cũng do bởi yếu tố lực lượng

cách mạng quy định. Giai cấp công nhân hay giai cấp tư sản ở Nam Bộ xét cho cùng cũng chỉ là một bộ

phận nhỏ trong toàn thể nhân dân Nam Bộ. Vậy nên các tầng lớp trung gian trong xã hội là yếu tố

quyết định cho sự xác lập vị thế của các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ. Xu hướng nào đại diện cho sự

tiến bộ, phù hợp với lợi ích toàn dân, được nhân dân ủng hộ thì đương nhiên sẽ đóng vai trò quan trọng

nhất trong các xu hướng yêu nước nói chung.

Trong giai đoạn đầu, xu hướng yêu nước tư sản trong một chừng mực nào đó đã thực hiện được

điều đó. Nhưng sau đó nó đã nhanh chóng bị thực tế lịch sử vượt qua. Còn xu hướng yêu nước vô sản,

với đại diện là Đảng Cộng sản đã nhận thức rõ vai trò và khả năng cách mạng của các tầng lớp nhân

dân, kể cả đối với giai cấp tư sản, để có thể đề ra được những sách lược đúng đắn, phù hợp nhất với

thực tiễn đấu tranh cách mạng.

Được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân, xu hướng yêu nước vô sản tất nhiên dễ dàng trở thành

xu hướng chủ đạo trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ. Còn bản thân xu hướng yêu nước tư sản, khi

mất đi phần lớn chỗ dựa trong quần chúng, thì tự thân xu hướng ấy cũng mất đi vai trò lãnh đạo đối với

các phong trào yêu nước mà chẳng thể nào níu kéo hay nuối tiếc.

Sự chuyển giao vai trò lãnh đạo ấy, suy cho cùng, cũng là một tất yếu lịch sử. Điều đó không khó

để có thể giải thích.

Không giống với xu hướng yêu nước tư sản, xu hướng yêu nước vô sản ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ

XX có những đặc điểm ưu việt hơn hẳn. Tương tự như giai cấp công nhân Việt Nam nói chung, giai

cấp công nhân Nam Bộ hình thành trước cả giai cấp tư sản và có những điều kiên thuận lợi để phát

triển. Từ những năm 20 của thế kỷ XX, tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin và sẵn tinh thần yêu nước, các tổ

chức cộng sản ở Nam Bộ lần lượt ra đời. Đến năm 1930, các tổ chức cộng sản ở Nam Bộ bắt đầu thống

nhất. Do quan điểm cách mạng tích cực, các phong trào đấu tranh theo xu hướng vô sản nổ ra mạnh mẽ

hơn các cuộc đấu tranh theo xu hướng tư sản rất nhiều. Những cuộc đấu tranh ấy, mặc dù chưa thành

công, nhưng cũng đã đem lại uy tín cho Đảng Cộng sản. Ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng dần

được củng cố vững chắc. Hơn nữa, trong hoàn cảnh giai cấp tư sản dân tộc không thể nhích lại gần với

giai cấp nông dân, thì nông dân và công nhân ở Việt Nam càng có điều kiện để trở thành bạn đồng

minh gắn bó với nhau. Từ những nền tảng thuận lợi đó nên trong quá tranh lãnh đạo đấu tranh, cũng có

những giai đoạn xu hướng yêu nước vô sản gặp phải những trở ngại lớn, tổ chức Đảng bị tổn thất nặng

nề, nhưng xu hướng yêu nước vô sản vẫn là xu thế chủ đạo trong phong trào yêu nước nửa đầu thế kỷ

XX ở Nam Bộ, và Đảng Cộng sản luôn là lực lượng tiên phong, là chất keo để liên kết các xu hướng

yêu nước khác theo mục đích cách mạng của mình, và cũng là của toàn thể nhân dân.

Và như vậy có thể nói, thực tế lịch sử luôn luôn công bằng và bình đẳng. Xu hướng yêu nước nào

đề ra được những chiến lược, đối sách phù hợp với tiến trình vận động của lịch sử thì đương nhiên sẽ

có khả năng phát triển đến đỉnh cao, và sẽ được quần chúng nhân dân tin tưởng lựa chọn. Những thành

quả vỹ đại mà nhân dân Nam Bộ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung đã đạt được trong quá khứ

và đến tận ngày nay là câu trả lời hùng hồn nhất cho tính đúng đắn của sự lựa chọn sáng suốt ấy.

Nhìn lại thực tiễn lịch sử của các xu hướng trong phong trào yêu nước Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX,

chúng ta có thể rút ra được những bài học rất quý giá và vẫn còn có giá trị cho đến ngày nay và trong

cả tương lai.

Thứ nhất, đối với vùng đất giàu truyền thống như vùng Nam Bộ, Đảng và Nhà nước Việt Nam cần

phải chú ý bồi dưỡng và phát huy lòng yêu nước của nhân dân nơi đây. Lòng yêu nước luôn tiềm ẩn

sau mỗi con người Nam Bộ. Lịch sử vùng Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX đã chứng minh điều đó bằng các

phong trào đấu tranh liên tục và sôi nổi. Tuy nhiên trong bối cảnh ngày nay, cần phải hết sức cảnh giác

với những âm mưu chia rẽ của kẻ thù. Âm mưu chia rẽ của thực dân Pháp nửa đầu thế kỷ XX vẫn còn

là một bài học mang tính thời sự nóng bỏng. Trong cuộc chiến đó, ta đã giành được thắng lợi về cơ

bản. Dù cho thực dân Pháp có lôi kéo được một bộ phận người dân Nam Bộ ngả về phía chúng, nhưng

vẫn không thể nào tiêu diệt được phong trào yêu nước ở Nam Bộ do Đảng Cộng sản đứng đầu. Đại bộ

phận nhân dân Nam Bộ vẫn một lòng hướng về cách mạng, quyết tâm chiến đấu đến cùng. Làn sóng

tấn công của nhân dân Nam Bộ vẫn liên tiếp nổ ra, khiến cho kẻ thù tổn thất nặng nề. Cùng với những

thất bại thảm hại trên các chiến trường khác, cuối cùng thực dân Pháp đành phải chấp nhận từ bỏ âm

mưu xâm lược Việt Nam. Đóng góp của nhân dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp vĩ đại

quả thật là không hề nhỏ. Mặc dù vậy, trong bối cảnh mới, kẻ thù hiện nay còn thâm độc và nguy hiểm

hơn rất nhiều lần, chỉ cần một chút mất cảnh giác, toàn bộ thành quả cách mạng trong mấy chục năm,

được đánh đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ có thể sẽ sụp đổ hoàn toàn.

Thứ hai, xu hướng yêu nước nào cũng đáng quý và đáng trân trọng. Mỗi xu hướng yêu nước khi

được nảy sinh đều có những cơ sở thực tiễn của nó. Việc trấn áp, ép buộc các xu hướng khác vào một

con đường của một giai cấp, một tầng lớp là điều không thể, và không nên. Tất nhiên, xu hướng yêu

nước nào phù hợp với tiến trình vận động của lịch sử thì sẽ phát triển mạnh mẽ nhất và nắm được

quyền lãnh đạo. Còn xu hướng nào không phù hợp thì tự nó sẽ không nhận được sự ủng hộ của quần

chúng, xu hướng ấy sẽ tự phân hóa rồi tiêu vong.

Mỗi xu hướng yêu nước trong những giai đoạn lịch sử nhất định đều có những giá trị tích cực nhất

định của nó. Cũng có những xu hướng yêu nước không thể thành công do những hạn chế mang tính

thời đại. Có điều đó hoàn toàn không phải là lý do để chúng ta, những thế hệ đi sau, có thể quên đi

những đóng góp tích cực của những xu hướng yêu nước ấy cho lịch sử dân tộc.

Bản thân xu hướng yêu nước theo hình thức các hội kín ở Nam Bộ đâu phải hoàn toàn là vô ích.

Những giá trị cả về vật chất lẫn tinh thần của phong trào Hội kín thực sự có ý nghĩa rất thiết thực cho

các xu hướng yêu nước xuất hiện sau đó và còn là những bài học quý giá cho đến tận ngày nay.

Đối với xu hướng yêu nước tư sản, bản thân xu hướng yêu nước này trong một giai đoạn nhất định

cũng đã trở thành một ngọn cờ đầu trong phong trào yêu nước ở Nam Bộ, phát triển song song với xu

hướng yêu nước vô sản. Hay nói cách khác, “sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài chính trị

không có nghĩa là giai cấp tư sản ở khu vực này mất đi vai trò lịch sử, mà ở đây là sự tồn tại song

song, là cuộc chạy đua tới đích độc lập của hai giai cấp này. Tùy theo tương quan lực lượng, điều kiện

lịch sử, khả năng đáp ứng yêu cầu cuộc đấu tranh của mỗi giai cấp… mà lịch sử lựa chọn giai cấp nào

lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”. [5, tr 45]

Xu hướng yêu nước vô sản với đội tiền phong là Đảng Cộng sản trước kia và hiện nay vẫn đóng vai

trò là ưu việt nhất, tiến bộ nhất, vậy nên đã được dân tộc Việt Nam lựa chọn để đóng vai trò lãnh đạo.

Đảng luôn luôn phải đảm bảo quyền lãnh đạo của mình, đó là điều kiện tiên quyết đã được thực tiễn

lịch sử xác nhận. Nhưng nếu muốn duy trì khối đoàn kết, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để hoàn

thành các mục tiêu đặt ra, thì nhất thiết không được trấn áp các xu hướng yêu nước khác để duy trì sự

lãnh đạo một cách gượng ép, mà phải không ngừng tự hoàn thiện tổ chức Đảng, liên kết với các phong

trào yêu nước khác, tác động để các phong trào ấy hỗ trợ cho mình, để rồi từ đó phân hóa các xu thế

yêu nước để hợp nhất vào một xu thế yêu nước chung do Đảng đứng đầu. Như vậy thì những thành quả

cách mạng đạt được mới có giá trị bền vững.

Thứ ba, cần phân biệt rõ ràng các phong trào yêu nước theo các xu hướng khác nhau với các tổ

chức phản động, phản cách mạng. Điều này thực sự không hề đơn giản và hết sức quan trọng. Bản thân

các tổ chức yêu nước trong quá trình hoạt động cũng có thể bị phân hóa thành các tổ chức phản động.

Đối với các xu hướng yêu nước, tuy khác nhau về quan điểm, đường lối nhưng vẫn là đối tượng cần

phải tranh thủ. Còn đối với những tổ chức đối lập với quyền lợi của dân tộc, thỏa hiệp với kẻ thù thì

nhất thiết cần phải đánh đổ. Do đó khi đánh giá, nhận xét về bất cứ một tổ chức hay một xu hướng yêu

nước nào cũng cần có sự thận trọng và cả sự khách quan, nghiêm túc, bởi nếu nhầm lẫn khi nhận xét và

đánh giá có thể sẽ dẫn đến những hậu quả vô cùng đáng tiếc, gây ra những mối rạn nứt trong khối đại

đoàn kết toàn dân tộc.

Từ những bài học như trên chưa phải là nhiều, nhưng nếu có thể thực hiện tốt sẽ không những tạo

điều kiện làm vững mạnh thêm khối đại đoàn kết dân tộc, mà còn đưa Nam Bộ nói riêng và dân tộc

Việt Nam nói chung trưởng thành và bền vững hơn nữa trong tương lai.

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: BẢN ĐỒ ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÙNG NAM BỘ CUỐI THẾ

KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

NGUỒN: www.namkyluctinh.org.vn

NGUỒN: www.namkyluctinh.org.vn

PHỤ LỤC 2: NHÂN VẬT TIÊU BIỂU CHO XU HƯỚNG YÊU NƯỚC PHONG

KIẾN Ở NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX:

PHAN XÍCH LONG (1893 - 1916)

Ông tên thật là Phan Phát Sanh là con trai của Phan Núi, một

viên chức cảnh sát gốc Hoa ở Chợ Lớn.

Năm 1912, Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Văn Hiệp tìm gặp Phan

Phát Sanh ở Tân Châu, tôn làm lãnh tụ. Kể từ đấy Phan Phát Sanh tự

xưng là Phan Xích Long, con vua Hàm Nghi và tự phong là hoàng đế.

Buổi đầu, Phan Xích Long đặt cơ sở đầu tiên ở Cần Vọt (Cao

Miên), lập đảng kín tên Thiên Địa Hội, chế tạo lựu đạn, trái phá, in

truyền đơn đưa ra tuyên cáo Phản Pháp phục Nam, kêu gọi mọi

người chống Pháp... Sau này, ông lập căn cứ ở vùng núi Thất Sơn

(Châu Đốc, tỉnh An Giang).

Sau vụ rải truyền đơn và đặt bom do nhóm Phan Xích Long tổ chức vào đêm 23 rạng sáng ngày

24/3/1913 thất bại, cả thảy 111 người trong đó có Phan Xích Long đều bị bắt giam. Tòa Áo đỏ của

Nam Kỳ đã đưa ông ra xét xử từ ngày 5 đến ngày 12/11/1913, kết án chung thân khổ sai.

Năm 1916, nhân Pháp bại trận trong Thế chiến thứ nhất, khoảng 300 hội viên của hội kín "Thiên

Địa Hội" ở Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Cần Giuộc, Cần Đước v.v..., tìm cách phá

ngục cứu ông. Đêm 16/2/1916, đúng 3 giờ sáng, tất cả hội viên do Nguyễn Hữu Trí cầm đầu, đều được

uống bùa, cổ mang phù chú, từ sông cầu Ông Lãnh xông lên tấn công dinh Thống Đốc và Khám Lớn.

Pháp giết chết tại trận 6 người, làm bị thương nhiều người. Sau đó, tòa kết tội tử hình 38 người tại

Đồng Tập Trận vào ngày 22/2/1916, trong đó có ông là kẻ cầm đầu. Khi ấy Phan Xích Long mới 23

PHỤ LỤC 3: NHỮNG NHÂN VẬT ĐẠI DIỆN CHO XU HƯỚNG YÊU NƯỚC TƯ

SẢN Ở NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX

tuổi.

1. PHAN BỘI CHÂU (1967 - 1940)

Ông tên thật là Phan Văn San, tự là Hài Thu, bút hiệu là Sào Nam,

Thị Hán, Độc Kinh Tử, Việt Điểu, Hàn Mãn Tử, v.v.

Ông sinh ngày 26/12/1867 tại làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện

Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, cha là Phan Văn Phổ, mẹ là Nguyễn Thị Nhàn.

Năm 1904, ông thành lập Hội Duy Tân.

Năm 1905, ông cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc rồi sang Nhật Bản, để gặp gỡ các nhà cách

mạng Nhật Bản và Trung Quốc và cầu viện trợ tài chính cho phong trào do ông thành lập.

Năm 1906, Phan Bội Châu đưa Kì Ngoại Hầu Cường Để và một số học sinh người Việt khác sang

Nhật. Cũng trong năm đó ông mời được Phan Chu Trinh, một nhà cách mạng nổi tiếng khác, đến thăm

ông tại thủ đô Tokyo. Sau hai tuần thảo luận, hai người không giải quyết được bất đồng chính kiến về

cách chống Pháp.

Tháng 3/1909, Phan Bội Châu bị Nhật Bản trục xuất.

Năm 1912, ông cùng một số nhà cách mạng Việt Nam lưu vong tại Quảng Châu thành lập tổ chức

Việt Nam Quang phục Hội thay thế cho Duy Tân Hội.

Giữa năm 1924, phỏng theo Trung Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn, ông đã cải tổ Việt Nam

Quang phục hội thành Việt Nam Quốc dân đảng. Tháng 12/1924, Nguyễn Ái Quốc, đã có cuộc tiếp xúc

với Phan Bội Châu, cùng trao đổi về xu hướng Quốc - Cộng hợp tác cho cách mạng Việt Nam, vốn

đang thịnh hành tại Trung Quốc bấy giờ.

Ngày 30/6/1925, ông lại bị Pháp bắt tại Hàng Châu, ông bị dẫn giải về Hà Nội và xử án chung thân

khổ sai. Về sau, bản án được đổi lại thành án quản thúc tại gia. Từ năm 1926, ông bị đưa về sống ở Bến

Ngự, Huế cho đến khi mất. Lúc đó ông được gọi là Ông già Bến Ngự.

Ông mất ngày 29 tháng 12 năm 1940 tại Huế.

2. PHAN CHÂU TRINH (1872 - 1926)

Ông có tên hiệu là Tây Hồ, Hi Mã, tự là Tử Cán, người làng Tây

Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ nay thuộc Xã Tam Lộc Huyện Phú

Ninh, tỉnh Quảng Nam.

Năm 1900, ông đỗ Cử nhân. Năm 1901, ông đỗ Phó bảng. Năm

1905, ông cùng Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp đi vào Nam, dấy

lên phong trào Duy Tân.

Năm 1906, ông bí mật sang Nhật Bản gặp Phan Bội Châu, khởi

xướng duy tân, cải cách nước nhà. Sau khi về nước, ông ra sức tuyên

truyền chủ trương cải cách của mình và đã trở thành một trong những

người lãnh đạo xu hướng cải lương hồi đầu thế kỷ XX.

Tháng 7/1907, ông ra Hà Nội tham gia giảng dạy ở Đông Kinh nghĩa thục.

Năm 1908, vụ Hà thành đầu độc ở Hà Nội và phong trào chống thuế của nông dân Trung Kỳ nổ ra

và bị thực dân Pháp đàn áp, ông bị bắt đày ra Côn Đảo. Đến năm tháng 8/1910, nhờ có Hội Nhân

quyền Pháp can thiệp, ông được trả lại tự do.

Năm 1911, ông sang Pháp, ở nhà luật sư Phan Văn Trường, mở một hiệu sửa ảnh, sống thanh bạch.

Ông tìm cách liên hệ với những người trong Liên minh Nhân quyền và Đảng Xã hội Pháp. Ông cũng

có những cuộc tiếp xúc với các nhóm Việt kiều và các đảng phái tiến bộ. Năm 1914, ông lại bị bắt

giam vì tình nghi có liên hệ với nước Đức. Nhờ sự can thiệp của Đảng Xã hội Pháp, nên ông mới được

thả ra.

Năm 1922 khi vua Khải Định sang Pháp dự đấu xảo Marseille, ông viết một bức thư dài buộc tội

Khải Định 7 điều và khuyên vua về nước gấp, đừng làm nhục quốc thể (quen gọi là Thất Điều Trần hay

Thư Thất Điều).

Năm 1925, ông về Sài Gòn tiếp tục hoạt động theo xu hướng cải lương, kêu gọi dân quyền, dân

sinh, dân khí.

Ông mất ngày 24/3/1926 tại Sài Gòn. Sau khi mất, tinh thần yêu nước của ông vẫn cổ vũ phong trào

trong nước. Lễ tang ông được nhân dân tổ chức rất trọng thể ; bất chấp sự ngăn cản của thực dân, cả

3. TRẦN CHÁNH CHIẾU (1868 - 1919)

Ông còn có tên gọi khác là Gibert Chiếu bút hiệu Tố Hộ và

Trần Nhựt Thăng là một nhà văn, nhà báo và nhà cải cách tại

Nam Bộ đầu thế kỷ XX.

Ông sinh tại làng Vân Tập, sau đổi là Vĩnh Thanh Vân, tỉnh

Rạch Giá (hiện là tỉnh Kiên Giang). Cha ông là Trần Thọ Cửu,

hương chức trong làng.

Tuy mang quốc tịch Pháp, ông là một người yêu nước. Từ

năm 1900 đến năm 1906, ông giao du và hoạt động với nhiều

nhân vật trong phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân như Trương Khắc Ninh và Trương

Duy Toản và thành lập Hội Minh Tân công nghĩa chống lại thực dân Pháp. Vì hoạt động bí mật

và cạnh tranh thương mại, nên ông bị người Pháp theo dõi.

Năm 1907, ông là chủ bút của những tờ báo in bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên như Nông cổ

mín đàm và Lục Tỉnh tân văn để tuyên truyền tư tưởng duy tân cứu nước.

nước dấy lên phong trào làm lễ truy điệu Phan Châu Trinh, là một sự kiện chính trị nổi bật lúc bấy giờ.

Từ năm 1906 đến năm 1908 ông vận động được 100 thanh niên sang Hồng Kông và gặp

Phan Bội Châu để bàn việc tổ chức và gởi các học sinh miền Nam và theo Công giáo sang Nhật

Bản. Phong trào Đông Du kéo dài cho đến khi Nhật Bản thỏa hiệp với Pháp đầu năm 1908 thì

bắt đầu trục xuất các sinh viên Việt Nam về nước.

Tháng 10 năm 1908 ông bị bắt cho đến tháng 4 năm 1909 ông mới được thả ra, sau đó ông

vẫn hoạt động bí mật trong phong trào Đông Du.

Ông mất tại Sài Gòn năm 1919.

4. LÊ QUANG NHƠN (1883 - 1969)

Ông sinh ngày 10/12/1883 tại xã Long Châu - tỉnh Vĩnh Long, là

con trai đầu lòng và duy nhất của thi sĩ Lê Quang Chiểu và nữ sĩ

Tiên.

Trần Ngọc Lầu. Khi viết văn, làm thơ, ông lấy bút hiệu là Thường

Năm 1904, ông thi đậu bằng Thành chung rồi ra Huế làm việc ở

Tòa Khâm sứ. Được ít lâu, ông về Nam làm thông ngôn tại tỉnh Vĩnh

Long.

Thời gian làm việc ở Tòa Khâm sứ Huế, rồi làm thông ngôn tại tỉnh

Việt tạp chí, nhiều lần tham gia các cuộc họp bạn ở Nam Trung khách sạn và Minh Tân khách sạn là

Vĩnh Long, Lê Quang Nhơn có viết cho Báo Công luận và Đại

hai cơ sở cách mạng của các nhà hoạt động chính trị bí mật lúc ấy do ông Trần Chánh Chiếu, Nguyễn

An Khương, Huỳnh Đình Triểm lãnh đạo.

Khi Pháp quay lại gây hấn ở Nam Bộ, ông cùng gia đình tản cư về Cái Đôi. Tại đây, ông lãnh chức

vụ Chủ tịch Ủy ban ủng hộ kháng chiến tỉnh. Không bao lâu, Pháp trở lại đánh chiếm, vì tuổi già, ông

phải tản cư xuống Rạch Giá.

Nguyễn Văn Thinh và Hồ Biểu Chánh là bạn cũ của Lê Quang Nhơn. Khi Nguyễn Văn Thinh làm Thủ

tướng chính phủ bù nhìn “Nam kỳ quốc” do thực dân Pháp dựng lên, Nguyễn Văn Thinh đã cử Hồ

Biểu Chánh (từng là Đốc phủ sứ, rồi Đốc lý thành phố Sài Gòn) làm Đổng lý Văn phòng, đồng thời

mời ông cộng tác. Ông chẳng những không cộng tác, mà còn trách Nguyễn Văn Thinh và Hồ Biểu

Chánh rằng cả hai đều có học mà sao còn làm tay sai cho thực dân Pháp.

Cuối năm 1947, Lê Văn Hoạch (cháu gọi ông bằng chú họ) làm Thủ tướng trong chính phủ Nam

Kỳ tự trị của Pháp có mời ông lên Sài Gòn dự buổi họp Nội các đầu tiên và mời ông nhận chức Bộ

trưởng, ông từ chối rồi bỏ về Long Xuyên ngay. Năm 1950, ông được mời giữ chức chỉ huy Đội Thiên

chúa giáo Long Xuyên - Châu Đốc (vì ông là người Thiên chúa giáo), Lê Quang Nhơn cương quyết từ

chối.

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, ông về sống tại Sài Gòn, thành lập Thi xã Nam Phong,

cùng bạn bè chuyện trò văn chương mỗi tháng để bày tỏ tâm sự. Ông mất tại Gia Định năm 1969.

Sau 40 năm làm việc cho Pháp với đầy những tâm sự và buồn thế sự, bất mãn (thể hiện trong thơ

của ông), sau đó, ông đã khảng khái từ chối hợp tác với Nhật và từ chối cộng tác với thực dân Pháp.

Đấy cũng là khí tiết đáng trân trọng.

5. NGUYỄN THẦN HIẾN (1857 - 1914)

Ông sinh năm Đinh Tỵ (1857) tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên; nay

là thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

Thuở nhỏ ông được cha đặt tên Nguyễn Như Khuê, năm 18 tuổi

ông tự đổi là Nguyễn Thần Hiến.

Năm 1902, mẹ ông qua đời, thì tuổi ông cũng đã bốn mươi lăm và

đã là một điền chủ ở Hà Tiên. Trong năm này, ông quyết định đưa cả

gia quyến về sống ở Cần Thơ.

Vào một ngày tháng Giêng năm Giáp Thìn (1904), ông qua Sa Đéc

thăm người bạn thân là Đặng Thúc Liêng (1867 - 1945), tình cờ gặp

nhà chí sĩ Phan Bội Châu (1867 - 1940) từ Thất Sơn trở về. Kể từ cuộc

gặp gỡ ngẫu nhiên này, ông Hiến đã trở thành một thành viên tích cực, có nhiều đóng góp cho phong

trào Đông Du do Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Đặng Tử Kính gây dựng tại Nhật năm 1905.

Ngoài việc tuyên truyền, vận động cho nhiều ngành, nhiều giới tham gia phong trào; điểm nổi bật

nhất của Nguyễn Thần Hiến đó là việc ông đứng ra thành lập Khuyến Du Học Hội vào năm 1907, nhằm

vận động học sinh sang học tại Nhật, tổ chức nhiều cơ cấu cách mạng tại miền Nam để tích cực ủng hộ

phong trào. Và chính ông đã tự nguyện ủng hộ một phần lớn gia tài giúp vào quỹ du học sinh. Tổng

cộng món tiền là 20.000 đồng. Vào năm 1908, số tiền ấy có giá trị bằng hàng trăm lạng vàng.

Tháng 3 năm 1908, ông Hiến cho người con trai duy nhất của mình là Nguyễn Như Bích sang Nhật,

vào học tại Đồng Văn Thư viện. Nhưng cuối năm ấy, Pháp - Nhật ký xong hiệp ước bang giao, và thể

theo yêu cầu của Pháp, Nhật hoàng cho trục xuất tất cả du học sinh Việt Nam về nước, trong số đó có

Nguyễn Như Bích.

Năm 1908, từ Cần Thơ, nhờ người quen giúp đỡ, Nguyễn Thần Hiến theo ghe đánh cá sang

Chantaboun rồi lên Bangkok (Xiêm La), giấu mình bằng cái tên Hoàng Xương và hành nghề đông y.

Cuối năm này, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để (1882-1951) sang Xiêm, ông có tìm đến yết kiến và được

cử làm Tổng Ủy viên sự vụ, giữ trọng trách liên lạc với các đồng chí ở Nam Việt.

Cuối năm 1910, ông sang Hồng Kông tìm Cường Để và Phan Bội Châu để tiếp tục hoạt động.

Sau khi Cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc thắng lợi, đa số đảng viên Duy Tân hội muốn theo chủ

nghĩa dân chủ, từ bỏ quân chủ. Vì vậy, Phan Bội Châu, một trong những người sáng lập, nhận thấy cần

phải triệu tập một hội nghị.

Ngày 19 tháng 6 năm 1912 tại Quảng Châu, có đại diện của cả ba Kỳ đều đồng ý thành lập Việt

Nam Quang Phục Hội để thay thế cho Duy Tân hội. Và trong tổ chức mới, Nguyễn Thần Hiến, đại diện

cho Nam Kỳ, được cử vào Bộ Bình Nghị.

Đầu năm Quý Sửu (1913), hoạt động của Việt Nam Quang Phục Hội lại lâm cảnh đình trệ vì thiếu

tài chính. Trước tình cảnh đó, Nguyễn Thần Hiến đến thuyết phục Cường Để, để cùng bí mật trở về Sài

Gòn và nhiều tỉnh ở Nam Kỳ, nhằm vận động quyên góp tiền bạc cho hội.

Giữa tháng 6 năm 1913, Cường Để rời Sài Gòn, hẹn sẽ gặp lại Nguyễn Thần Hiến tại Hồng Kông.

Đến cuối tháng, khi cả hai cùng vài cộng sự khác gặp nhau tại Hồng Kông, do một thành viên sơ ý làm

nổ quả lựu đạn mới chế tạo, nên cả nhóm bị cảnh sát Anh truy nã gắt...

Vàì hôm sau, thấy tạm yên, một đồng chí của ông Hiến tên Huỳnh Hưng vừa lén trở nhà thì cảnh sát

Anh ập tới bắt giam. Sau đó, ông Hiến cùng các cộng sự khác, như: Nguyễn Quang Diêu (1882- 1936),

Đinh Hữu Thuật...đều bị bắt.

Pháp giam tất cả vào ngục tối, xiềng xích tay chân, rồi chở về Việt Nam nhốt trong nhà lao Hỏa Lò

ở Hà Nội.

Sau nhiều tháng bị tra tấn rất tàn bạo, ông lâm bệnh thổ huyết. Khi Hội đồng Đề Hình của thực dân

Pháp phán xử ông mười năm tù lưu đày qua xứ Cayenne (một thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ), ông

quyết tâm tuyệt thực và đã mất vào giờ giao thừa đêm ba mươi Tết Giáp Dần, tức ngày 26/1/ 1914,

hưởng dương 56 tuổi.

6. BÙI QUANG CHIÊU (1872 - 1945)

Là một nhà chính trị tranh đấu đòi độc lập cho Việt Nam vào

đầu thế kỷ 20.

Ông được gia đình gửi sang Algérie rồi sang Pháp học ở trường

École Coloniale từ năm 1894. Ba năm sau ông là người Việt đầu

tiên đỗ bằng kỹ sư canh nông (ingénieur agronome) của Pháp. Vua

Hàm Nghi bấy giờ bị Pháp đày sang Algérie và ông là người Việt

duy nhất được vào thăm cựu hoàng lúc đó.

Sau khi về nước ông hưởng ứng phong trào Đông Kinh Nghĩa

Thục mở mang dân trí, ông liên lạc với các nhà trí thức Nam Kỳ

nổi tiếng và cùng chí hướng như luật sư Dương Văn Giáo, Diệp

Văn Kỳ, nhà báo Nguyễn Phan Long, bác sĩ Trần Như Lân, bác sĩ

Ông Dương Văn Giáo và ông Bùi Quang Chiêu (bên phải) trong chuyến tàu đi Ấn Độ

Nguyễn Văn Thinh.

Bùi Quang Chiêu cũng cổ động cho phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh cũng như phong trào

Đông Du của Phan Bội Châu. Năm 1919 ông thành lập Đảng Lập hiến Đông Dương. Đảng Lập Hiến

dùng 3 tờ báo: La Tribune Indochinoise, L'Echo Annamite và Đuốc Nhà Nam làm diễn đàn.

Năm 1926, nhân lúc Alexandre Varenne của đảng Xã hội Cấp tiến Pháp được bổ nhiệm làm toàn

quyền Đông Dương với hứa hẹn cải tổ cai trị, Bùi Quang Chiêu lại sang Pháp vận động chính giới Pháp

với loạt bài "Pour le Dominion Indochinois".

Với thanh thế đó, ông về lại Sài Gòn tranh cử cuộc bầu cử tháng 10/1926. Kết quả là ông cùng 9

đảng viên đảng Lập Hiến đắc cử Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ. Ông được bầu làm Phó chủ tịch Hội

đồng.

Năm 1938 ông rời chính trường bỏ về Mỏ Cày một ít lâu rồi lại ra Sài Gòn năm 1943. Ngày

29/9/1945 ở Chợ Đệm ông bị lực lượng Việt Minh ở đây kết án tử hình với tội danh làm "tay sai cho

thực dân Pháp".

7. LÊ VĂN TRUNG (1876 - 1934)

Ông sinh năm 1876 tại làng Phước Lâm, tổng Phước Điền Trung (Chợ

Lớn).

Ông tốt nghiệp trường Chasseloup - Laubat (nay là Trường Trung học Lê

Quý Đôn), Sài Gòn năm 1894. Sau khi tốt nghiệp, ông vào làm thư ký tại

Dinh Thống Đốc Nam Kỳ. Đến 1906 ông xin thôi việc. Sau đó ông ra ứng cử và được bầu vào Hội

Đồng Quản Hạt Nam Kỳ liên tục trong 8 năm.

Năm 1911 ông cùng với bà Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương đứng ra vận động lập College des Jeunes

Filles, trường nữ Trung Học đầu tiên tại Sài Gòn (về sau là Trường Nữ Trung học Gia Long và hiện

nay là Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai).

Năm 1912, chánh phủ Pháp ban thưởng cho ông Bắc Đẩu Bội Tinh Đệ Ngũ Đẳng, đây là một vinh

dự mà ngay cả công dân Pháp cũng khó lòng đạt được.

Năm 1914 ông được cử làm Nghị Viên Hội Đồng Soái Phủ Đông Dương còn gọi là Hội Đồng

Thượng Nghị Viện Đông Dương. Đây cũng là chức vụ sau cùng của ông ở ngoài đời.

Năm 1926, Thượng Đế dạy các ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc đem Đại Ngọc Cơ (đây là một

trong các phương pháp Thông Công của Đạo Cao Đài) đến nhà ông Lê Văn Trung để cầu cơ. Trong lần

cầu cơ này Thượng Đế dạy ông Trung phải tham gia lo việc mở đạo.

Sau đó Thượng Đế phong cho ông chức Thượng Đầu Sư và ban tên thánh cho ông là Thượng Trung

Nhựt.

Vào ngày 7 tháng 10 năm 1926, ông cùng 27 đệ tử Cao Đài khác, theo lệnh Thượng Đế, gởi Tờ

Khai Tịch Đạo lên Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol.

Kể từ đây ông cùng các đệ tử khác chăm lo vun trồng phát triển một nền tôn giáo mới. Ngày 19/11/

1926, Đầu Sư Thượng Trung Nhựt đã cùng với các đệ tử khác tổ chức Lễ Khai Đạo rất trọng thể tại Từ

Lâm Tự (Gò Kén) Tây Ninh.

Trước đó, ông Ngô Minh Chiêu, một trong những đệ tử đầu tiên của Thượng Đế đã từ chối không

nhận chức Giáo Tông, do đó vào ngày 22/11/1930, Giáo Tông thiêng liêng của đạo Cao Đài là Đức Lý

Thái Bạch giáng cơ ban cho ông chức Quyền Giáo Tông.

Ông lâm bệnh và qua đời vào ngày 19/11/1934, sau 9 năm làm việc cho đạo.

8. NGÔ VĂN CHIÊU (1878 - 1932)

Ông sinh ngày 7 tháng Giêng năm Mậu Dần (nhằm ngày

8/2/1878) tại Bình Tây, Chợ Lớn.

Ông là tín đồ đầu tiên của Đạo Cao Đài , tên thánh là Ngô Minh

Chiêu.

Vào năm 1902, Ngô Văn Chiêu đang làm việc tại Sài Gòn, có

đến đàn cầu cơ tại Thủ Dầu Một để thỉnh Tiên cầu thọ cho thân mẫu

và hỏi về tương lai, thì Tiên ông giáng cho ông một bài kệ khuyên

ông lo tu hành ngày sau sẽ đắc đạo. Cuối năm 1919 thân-mẫu ông qua đời, vào ngày 1/3/1920 ông

được lịnh bổ đến Hà Tiên, khi đến nơi này ông thường lên núi Thạch Động cầu Tiên, thì có vị Tiên cô

Ngô Kim Liên giáng cho mấy bài thơ, khuyên ông lo tu hành.

Ngày 26/10/1920, ông đến đảo Phú Quốc. Tại đây ông cũng tiếp tục cầu cơ thỉnh Tiên. Sau đó Tiên

ông hiện ra hình Thiên nhãn và dạy Ngô Văn Chiêu làm biểu tượng thờ phượng.

Ngày 30/7/1924, Ngô Văn Chiêu đổi về Sài Gòn cũng vẫn tiếp tục tu luyện, đến gần cuối năm Ất

Sửu (1925) Đức Cao Đài mới dạy ông đem mối Đạo truyền ra, nên Ngô Văn Chiêu đã độ được bốn

ông : Quan phủ Vương Quan Kỳ, ông phán Nguyễn Văn Hoài, ông phán Võ Văn Sang, ông đốc học

Đoàn Văn Bản. Sau đó các ông này cũng có độ thêm một số đệ tử nữa cùng tu luyện với Ngô Văn

Chiêu, nhưng những hoạt động giai đoạn nầy còn trong phạm vi một nhóm tu chơn tịnh luyện, chứ

chưa phát triển thành một Tôn giáo.

Đến khi đạo Cao Đài chính thức thành lập, thì ông không tham gia vào các hoạt động này. Không

những thế, ông từ chối nhận chức vụ Giáo Tông của Đạo Cao Đài. Hiện nay, những người theo ông tu

luyện tại các Đàn Chiếu Minh, gọi chung là Phái Cao Đài Chiếu Minh.

9. PHẠM CÔNG TẮC (1890 - 1959), tức Hộ Pháp Phạm

Công Tắc của đạo Cao Đài.

Ông sinh ngày 21/6/1890 tại làng Bình Lập, tỉnh Tân An

(nay là Long An), miền nam Việt Nam.

Ngày 7/10/1926, ông là một trong số 28 người đứng tên khai

đạo Cao Đài. Cũng vào ngày này, Thượng Đế giáng cơ phong

cho ông chức Hộ Pháp của Đạo Cao Đài.

Chính ông là người khởi công lần sau cùng vào năm 1936 và

tổ chức lễ khánh thành Tòa Thánh Tây Ninh vào năm 1955. Toà

Thánh là cơ ngơi quan trọng nhất của Tôn giáo Cao Đài (Thể pháp quan trọng nhất).

Năm 1941, phong trào chống thực dân Pháp trong nước Việt Nam nổi lên khắp nơi. Người Pháp

đàn áp thẳng tay bằng cách giam giữ tất cả những ai bị tình nghi là chống lại họ. Lúc bấy giờ Cao Đài

là một tôn giáo có tổ chức chặt chẽ và phát triển rất nhanh, nên người Pháp rất lấy làm nghi ngại. Sau

nhiều lần đe dọa, Pháp vào tận Nội Ô Toà Thánh Tây Ninh bắt Hộ pháp Phạm Công Tắc và một số

chức sắc khác đày sang đảo Madagascar.

Đến năm 1946, tình hình chính trị thay đổi, người Pháp trả tự do cho Phạm Công Tắc. Kể từ đó,

ông trở lại cầm quyền tôn giáo Cao Đài và kiện toàn tất cả các cơ sở tôn giáo này.

Đến năm 1955, tướng Nguyễn Thành Phương theo lệnh của Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình

Nhu đem quân về bao vây Hộ Pháp Đường tại Tòa Thánh Tây Ninh. Chiến dịch thanh trừng này có

mục đích là loại bỏ những ai không đồng tình với chế độ lúc bấy giờ.

Ngày 16 tháng 2 năm 1956, lúc 3 giờ sáng, ông rời sang Campuchia, tiếp tục hành đạo ở đó cho đến

khi mất vào năm 1959.

10. HUỲNH PHÚ SỔ (1920 - 1947)

Ông sinh ngày 15/1/1920 nhằm ngày 25/11 năm Kỷ Mùi tại làng Hoà

Hảo, huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, (nay thuộc huyện Phú Tân, tỉnh An

Giang).

Ngày 18/5/ Kỷ Mão (4 tháng 7 năm 1939) ông khai đạo Hòa Hảo. Chỉ

trong một thời gian ngắn số tín đồ và ảnh hưởng của Huỳnh Phú Sổ càng

ngày càng gia tăng và trở thành một phong trào tín ngưỡng mạnh mẽ khiến

thực dân Pháp lo ngại, bèn lập tức tiến hành quản chế.

Tháng 10/1942 trước tin tức người Pháp sẽ đưa Huỳnh Phú Sổ đi đày ở Ai Lao (Lào), các tín đồ

Phật giáo Hòa Hảo và hiến binh Nhật đã giải cứu ông đem về Sài Gòn.

Ngày 14/8/1945, Huỳnh Phú Sổ cùng Hồ Văn Ngà, Trần Văn Ấn, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn

Thạch... thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất.

Sau tạm ước ngày 6/3/1946, ông tham gia Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ với chức vụ

Ủy viên Đặc biệt.

Ngày 21/9/1946, Huỳnh Phú Sổ và một số trí thức khuynh hướng dân tộc, dân chủ thành lập Việt

Nam Dân chủ Xã hội Đảng, gọi tắt là Dân Xã đảng.

Ngày 27/2/1947, đại diện của Huỳnh Phú Sổ là Nguyễn Bảo Toàn cùng với lãnh tụ các đảng quốc

gia khác như: Nguyễn Hải Thần (Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội), Nguyễn Tường Tam (Việt

Nam Quốc dân đảng) thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất Toàn quốc.

Ngày 16/4/1947 Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải sự

xung đột giữa Việt Minh và Phật Giáo Hòa Hảo. Cái chết của ông đến nay vẫn là một nghi vấn lịch sử

chưa được giải đáp.

PHỤ LỤC 3: NHỮNG NHÀ CÁCH MẠNG TIÊU BIỂU CHO XU HƯỚNG YÊU

NƯỚC VÔ SẢN Ở NAM BỘ NỬA ĐẦU

THẾ KỶ XX

1. NGUYỄN AN NINH (1900 - 1943)

Ông quê ở Quán Tre, huyện Hóc Môn (nay thuộc Thành phố Hồ

Chí Minh) nhưng ông sinh tại quê mẹ ở xã Long Thượng, quận Cần

Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An).

Năm 1918, ông sang Paris, Pháp, học đại học ngành luật tại Đại học

Sorbonne. Hai năm sau, ông đã hoàn thành chương trình học tập và

được cấp bằng cử nhân Luật hạng xuất sắc.

Trong thời gian ở Paris, Nguyễn An Ninh liên hệ với Phan Chu

Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Ái Quốc.

Ngày 5 tháng 10 năm 1922, ông về nước.

Tháng 12/1923, ông cho ra tờ báo Pháp văn La cloche fêlée (Tiếng chuông rè, có người dịch Tiếng

chuông rạn) ở Sài Gòn để công kích chính sách thực dân Pháp, đề cao các nhà cách mạng, làm cho

người đọc tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc và truyền bá những tư tưởng tự do.

Năm 1926, ông đã sáng lập ra Thanh niên Cao vọng Đảng, một tổ chức yêu nước hoạt động theo

nguyên tắc hội kín ở Nam Kỳ.

Năm 1939, ông Ninh đi hẳn với những cộng sản trong nhóm Dân Chúng và viết cho báo Dân

Chúng, góp phần tổ chức nhiều cuộc biểu tình đòi các quyền tự

do dân chủ, ra ứng cử vào Hội đồng Quản hạt (Hội đồng Thuộc

địa Nam Kỳ).

Ngày 5/10/1939, lần thứ năm ông bị thực dân Pháp bắt giam.

Sau đó, ông nhận án 5 năm tù lưu đày Côn Đảo. Trên đảo, ông bị

hành hạ, bị đói khát triền miên khiến ông kiệt sức dần.

Nguyễn An Ninh mất trong tù vào ngày 14/8/1943, hai năm

trước khi Việt Nam giành lại được độc lập, hưởng dương 43

tuổi.

2. NGUYỄN VĂN CỪ (1912 - 1941)

Ông là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương (1938 - 1940).

Ông sinh trong một gia đình nhà Nho, quê xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Năm 1927, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.

Tháng 6/1929, ông được kết nạp vào chi bộ Đông Dương Cộng sản đảng đầu tiên ở Hà Nội. Năm

1930, được cử làm Bí thư đặc khu Hồng Gai – Uông Bí. Bị Pháp bắt, kết án khổ sai, đày đi Côn Đảo.

Năm 1936, ông được trả tự do, về hoạt động bí mật ở Hà Nội. Tháng 9/1937, được cử vào Ban

Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ở hội nghị Hóc Môn (Gia Định). Năm 1938, ông

được bầu làm Tổng bí thư khi mới 26 tuổi.

Tháng 6/1940, ông bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn cùng với một số đảng viên khác.

Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), thực dân Pháp ghép ông vào tội đã thảo ra "Nghị quyết thành

lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương", "chủ trương bạo động" và là "người có trách

nhiệm tinh thần trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ" và kết án tử hình.

Ngày 28/8/1941, bản án được thi hành cùng lúc với một số đảng viên cộng sản khác như Hà Huy

Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu... tại trường bắn Hóc Môn.

3. NGUYỄN THỊ MINH KHAI (1910 - 1941)

Bà sinh tại xã Vĩnh Yên, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Thuở nhỏ

sống cùng mẹ ở xã Đức Tùng, Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Năm 1927, bà hoạt động trong phong trào công nhân ở Vinh và

tham gia thành lập Đảng Tân Việt, giữ chức Ủy viên Ban chấp hành

Đảng bộ.

Năm 1930, bà gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, phụ trách

tuyên truyền, huấn luyện đảng viên tại Trường Thi, Bến Thủy. Sau

đó, bà sang Hương Cảng làm thư ký cho Nguyễn Ái Quốc ở văn

phòng chi nhánh Đông phương bộ của Quốc tế Cộng sản.

Năm 1931, bà bị bắt tại Hương Cảng, bị kết án và giam ở đây.

Năm 1934, bà ra tù và được Đông phương bộ Quốc tế Cộng sản cử làm đại biểu chính thức đi dự Đại

hội VII Quốc tế Cộng sản tại Moskva cùng với Lê Hồng Phong. Sau đó bà thành hôn với Lê Hồng

Phong và học tại trường Đại học Phương Đông.

Năm 1936, bà được cử về nước truyền đạt chỉ thị của Quốc tế Cộng sản và được cử vào Xứ ủy Nam

kỳ, giữ chức Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, một trong những người lãnh đạo cao trào Cách mạng

1936-1939 ở Sài Gòn. Thời gian này, bà lấy bí danh là Năm Bắc.

Năm 1940, bà bị bắt ngay sau phiên họp của xứ ủy Nam kỳ về phổ biến chủ trương khởi nghĩa và bị

giam tại Khám lớn (Sài Gòn). Tuy nhiên, bà vẫn liên lạc với bên ngoài và vẫn tiếp tục lãnh đạo phong

trào đấu tranh.

Sau khi Khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, bà bị thực dân Pháp kết án tử hình và bị xử bắn tại Ngã ba

Giồng, Hóc Môn ngày 26/8/1941. Trước khi bị xử tử, bà đã khẳng khái lên án tội ác thực dân Pháp và

hô to: "Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm!", thể hiện tinh thần bất khuất, kiên trung của bà.

4. PHAN ĐĂNG LƯU (1902 - 1941)

Ông sinh ngày 5/5/1902, tại xã Tràng Thành (nay là Hoa

Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Ông tốt nghiệp Trường Canh nông và tham gia Hội Phục Việt

(sau đổi thành Tân Việt Cách mạng Đảng) làm đến chức uỷ viên

Tổng bộ.

Năm 1928, Phan Đăng Lưu tham gia xuất bản “Quan hải tùng

thư” tại Huế; ông giữ chức uỷ viên thường vụ của Tổng bộ Đảng

Tân Việt. Ngày 15/12 cùng năm, ông sang Trung Quốc để liên

lạc với Tổng bộ Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.

Tháng 9/1929, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt tại Hải

Phòng và bị kết án tù khổ sai và đày đi Buôn Ma Thuột. Ra tù

năm 1936, ông tham gia lãnh đạo phong trào Mặt trận Dân chủ ở Huế. Trong thời gian này ông đã viết

nhiều bài báo, tác phẩm với bút danh Tân Cương, Phi Bằng.

Năm 1938, ông được bầu uỷ viên ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Đông dương và uỷ

viên thường vụ trung ương.

Tháng 11/1939, ông tham dự Hội nghị thứ VI (Hội nghị quyết định nêu cao nhiệm vụ giải phóng

dân tộc, thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế).

Tháng 7/1940, ông thay mặt trung ương Đảng dự Hội nghị của xứ uỷ Nam Kì, thông qua đề cương

chuẩn bị khởi nghĩa.

Tháng 11/1940, ông tham dự Hội nghị VII của Ban Chấp hành trung ương Đảng. Tại Hội nghị này,

ông được bầu là Ủy viên Thường vụ và được phân công chỉ đạo phong trào ở Nam Kỳ. Sau đó, Trung

ương Đảng cử ông vào Nam Kì để thông báo hoãn cuộc khởi nghĩa.

Tuy nhiên, ngày 22/11/1940, ông bị bắt khi vừa về đến Sài Gòn do kế hoạch bị bại lộ. Ngày

18/8/1941, ông bị thực dân Pháp kết án tử hình và bị bắn ở Hóc Môn.

5. LÊ HỒNG PHONG (1902 - 1942)

Ông tên thật là Lê Huy Doãn, sinh năm 1902 trong một gia đình

nghèo thuộc xóm Đông Cửa, thôn Đông Thông, tổng Thông Lạng, nay là

xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Từ nhỏ cuộc sống

ông đã bập bênh nhiều khó khăn.

Khi trưởng thành, ông đi làm công cho một hãng buôn ở Vinh, rồi làm

công nhân nhà máy diêm Bến Thủy và bị đuổi việc vì đã vận động công

nhân đấu tranh.

Tháng 1 năm 1924, ông cùng Phạm Hồng Thái sang Thái Lan, sau đó

đi qua Hồng Kông, Trung Quốc tham gia Tâm Tâm Xã (còn gọi là Tân Việt Thanh niên Đoàn). Ông là

một trong 9 hội viên hạt nhân của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Năm 1924, ông học Trường Quân sự Hoàng Phố. Tháng 2 năm 1926, ông gia nhập Đảng Cộng sản

Trung Quốc. Cuối năm đó, ông tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố.

Từ tháng 10/1926 đến tháng 10/1927, ông sang học trường Lý luận Quân sự tại Leningrad (Liên

Xô). Từ tháng 12 năm 1927 đến tháng 11 năm 1928, ông học trường Không quân số 2 ở Borisoglebsk

(Liên Xô).

Từ tháng 12 năm 1928, ông theo học trường Đại học Lao động Cộng sản phương Đông của Quốc tế

Cộng sản ở Moskva (Liên Xô) với bí danh Litvinov. Sau khi tốt nghiệp, ông tham gia Hồng quân Liên

Xô với cấp bậc Trung tá.

Cuối năm 1931, với tên là Vương Nhật Dân, ông về Trung Quốc hoạt động.

Năm 1934 ông thành lập Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng tại Ma Cao, chính ông làm Bí thư.

Ngày 14 tháng 6 năm 1934, ông triệu tập Hội nghị Ban Chỉ huy Hải ngoại và đại biểu các đảng bộ

trong nước bàn kế hoạch triệu tập Đại hội lần thứ nhất của Đảng.

Tháng 3 năm 1935, tại Đại hội I của Đảng ở Ma Cao, ông được bầu làm Tổng Bí thư. Tháng 7

tháng 1935, ông dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng ra dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản ở Moskva. Đại hội

công nhận Đảng là Chi bộ chính thức của Quốc tế Cộng sản và bầu ông làm Ủy viên Ban Chấp hành

của Quốc tế Cộng sản.

Tháng 1/1936, ông tới Trung Quốc và triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng tại Thượng Hải (tháng 7

năm 1936).

Ngày 10/11/1937, với tên là La Anh, ông về nước hoạt động.

Tháng 3 năm 1938, ông dự Hội nghị Trung ương họp tại Hóc Môn (Gia Định) quyết định thành lập

"Mặt trận Dân chủ Đông Dương".

Ngày 22 tháng 6 năm 1939, ông bị quân Pháp bắt lần thứ nhất ở Sài Gòn và bị kết án 6 tháng tù.

Ngày 6 tháng 2 năm 1940, ông bị bắt lần thứ hai, bị kết án 5 năm tù và đày đi Côn Đảo.

Ngày 6 tháng 9 năm 1942, ông qua đời trong lúc ở trong tù tại Côn Đảo.

Ông lập gia đình với Nguyễn Thị Minh Khai, một nữ đồng chí cùng học tại Đại học Phương Đông.

Hai người có chung một người con gái.

6. VÕ VĂN TẦN (1894 - 1941)

Ông quê ở xã Đức Hoà, huyện Đức Hoà, tỉnh Chợ Lớn, nay

thuộc tỉnh Long An, là anh ruột đồng chí Võ Văn Ngân. Xuất

thân trong một gia đình nông dân nghèo. Lớn lên ra thành phố

làm nghề kéo xe để kiếm sống. Ông sớm tham gia các cuộc đấu

tranh ở địa phương, tham gia hoạt động yêu nước trong tổ chức

của Nguyễn An Ninh,

Ông chuyển sang tổ chức Đảng Cộng sản năm 1929, đảm

trách chức vụ Bí thư Huyện uỷ đầu tiên huyện Đức Hoà (1930),

trực tiếp tổ chức cuộc đấu tranh của nông dân ở Đức Hoà ngày 4

tháng 6 năm 1930, bị thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt. Sau

đó ông giữ các chức vụ quan trọng trong Đảng như Bí thư Tỉnh

uỷ Chợ Lớn (1931), bí thư Tỉnh ủy Gia Định (1932).

Từ 1936, ông tổ chức lãnh đạo phong trào đấu tranh dân chủ ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ; được

Đảng đề cử các chức vụ bí thư Xứ uỷ Nam Kỳ, uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1937 -

1940).

Ông bị thực dân Pháp bắt vào tháng 7/1940 và sau bị xử bắn tại Hóc Môn ngày 28/8/1941.

7. HÀ HUY TẬP (1906 - 1941)

Ông sinh ở làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa, nay là xã Cẩm

Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Thân phụ là một nhà

nho nghèo.

Năm 1923, tốt nghiệp hạng ưu trường Quốc học Huế. Từ năm 1923 đến 1926, ông làm giáo viên

tiểu học ở thành phố Nha Trang.

Giữa năm 1926, ông bị trục xuất khỏi Nha Trang và chuyển về dạy học ở trường tiểu học Cao Xuân

Dục (thành phố Vinh). Ông tham gia Hội Phục Việt (sau đổi là Hội Hưng Nam, tiền thân của Tân Việt

Cách Mạng Đảng nên bị sa thải.

Tháng 3/1927, ông chuyển vào Sài Gòn hoạt động, kiếm sống và dạy học ở An Nam học đường tức

trường Nguyễn Xích Hồng, đến tháng 1/1928 ông lại bị sa thải khỏi An Nam học đường.

Tháng 12/1928, ông sang Quảng Châu, Trung Quốc bàn việc hợp nhất với tổ chức Việt Nam Thanh

niên Cách mạng Đồng chí Hội rồi hoạt động trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.

Ngày 19/7/1929, ông sang Liên Xô, học trường Đại học Lao động Cộng sản phương Đông của

Quốc tế Cộng sản ở Moskva với bí danh là Cinichkin (Xi-nhi-trơ-kin).

Cuối năm 1929, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản toàn liên bang (bôn-sê-vích) (tên gọi lúc đó

của Đảng Cộng sản Liên Xô).

Năm 1932, ông tốt nghiệp đại học và trở về Việt Nam. Trên đường về ông bị Pháp bắt và bị trục

xuất sang Bỉ, sau đó trở về Trung Quốc.

Năm 1934, ông tham gia Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Ông trực tiếp chủ trì Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng tại Ma Cao từ 27/3 đến 31/ 3

năm 1935. Tại Đại hội này, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và có chân trong Ban

Thường vụ Trung ương.

Tháng 3/1935, ông được cử làm Bí thư Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 7/1936, Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng họp Hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung

ương cử ông về nước để lập lại Trung ương cấp ủy và và giữ chức Tổng Bí thư.

Ông trực tiếp chỉ đạo các báo L'Avant garde (Tiền phong) (1937), Dân chúng (1938) của Đảng dưới

danh nghĩa "cơ quan lao động và dân chúng" ở Nam Kỳ.

Từ 3/ 9 đến 5/9 năm 1937, Hội nghị Trung ương họp ở Bà Điểm, Gia Định, ông báo cáo kiểm điểm

sự lãnh đạo của đảng từ sau Đại hội I đến năm 1937.

Tháng 3 năm 1938, ông thôi chức Tổng Bí thư, là Ủy viên Thường vụ Trung ương và thành viên

Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Ngày 1 tháng 5 năm 1938, ông bị quân Pháp bắt tại Sài Gòn, sau đó bị quản thúc ở quê.

Ngày 30/3/1940 ông bị bắt lại và ngày 25/10 năm đó, ông bị thực dân Pháp xử tuyên án 5 năm tù

giam.

Ngày 25/3/1941, Pháp đổi thành án tử hình vì "chịu trách nhiệm tinh thần về cuộc khởi nghĩa Nam

Kỳ (cùng bị kết án tử hình với Hà Huy Tập còn có Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh

Khai). Trước tòa ông tuyên bố: "Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống tôi sẽ tiếp tục hoạt động."

Ngày 28 tháng 8 năm 1941, ông bị Pháp xử bắn cùng với một số nhà cách mạng khác tại Sở Rác

(nay là bệnh viện Hóc Môn, Sài Gòn). (Có tài liệu nói là ông và các đồng chí bị xử bắn ở Ngã Ba

Giồng, Hóc Môn, Gia Định, hiện nay có khu di tích tại đây).

8. NGÔ GIA TỰ (1908 – 1935)

Ông sinh tại làng Tam Sơn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Năm 1927, ông tham gia lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ

chức tại Quảng Châu, Trung Quốc.

Tháng 3 năm 1929, ông tham gia thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở

Việt Nam. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, ông được bầu

làm Bí thư Xứ ủy lâm thời của Đảng bộ Nam Kỳ.

Đến cuối năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn và đày ra Côn

Đảo vào tháng 5 năm 1933.

Đầu năm 1935 ông tổ chức vượt ngục. Song dự định đó không thành, ông bị mất tích cùng với các

bạn tù khác khi vượt biển vào đất liền.

9. TRẦN VĂN GIÀU (1911)

Ông sinh ngày 6/9/1911, quê ở xã An Lục Long, huyện Châu

Thành, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An).

Năm 1928, sang Pháp du học.

Tháng 5/1930, ông tham gia biểu tình trước dinh tổng thống Pháp

đòi hủy án tử hình đối với các thủ lĩnh cuộc Khởi nghĩa Yên Bái, do

đó bị trục xuất về Việt Nam.

Năm 1931, ông theo học tại Trường Đại học Phương Đông ở

Matxcơva, Liên Xô.

Tháng 6/1935, bị tòa án Pháp tại Sài Gòn kết án 5 năm tù và bị

đày ra Côn Đảo.

Tháng 4/1940, ông được tha, nhưng bị bắt lại sau mấy ngày và bị đưa đi an trí ở trại Tà Lài.

Năm 1941, ông trở về tiếp tục hoạt động cách mạng.

Tháng 10/1943, ông được bầu làm bí thư Xứ ủy Nam Kỳ.

Tháng 8/1945, ông tham gia lãnh đạo giành chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh ở Nam Bộ.

Tháng 9/1945, ông được cử làm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ.

Năm 1949, ông được cử làm Tổng giám đốc Nha Thông tin. Năm 1951, sang Bộ Giáo dục, tham gia

xây dựng ngành dự bị đại học và sư phạm cao cấp. Năm 1954, ông giữ chức chủ nhiệm Khoa Lịch Sử,

Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Những năm 1962 - 75, công tác tại Viện Sử học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là

Từ năm 1975 đến nay, ông tiếp tục nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội.

Viện Khoa học Xã hội Việt Nam).

PHỤ LỤC: SƠ ĐỒ CÁC XU HƯỚNG YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phạm Ngọc Anh và những người khác (2005), 75 năm Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2005),

Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.

2. Huỳnh Công Bá (2008), Lịch sử Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa, Huế.

3. Ban nghiên cứu lịch sử công đoàn Việt Nam (1974), Sơ thảo lần thứ nhất Lịch sử phong trào

công nhân và công đoàn Việt Nam (1860 – 1945), NXB Lao Động, Hà Nội.

4. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung Ương (1976), Những sự kiện lịch sử Đảng, tập 1: 1920 -

1945, Nxb. Sự Thật, Hà Nội.

5. Đỗ Thanh Bình (2006), Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX - Một cách tiếp

cận, Nxb. Đại học sư phạm Hà Nội.

6. Phan Xuân Biên (2005), Miền Đông Nam bộ con người và văn hóa, Nxb. Đại học quốc gia

TP.HCM.

7. Nguyễn Công Bình (2008), Đời sống xã hội ở vùng Nam Bộ, Nxb. Đại học quốc gia TP.HCM.

8. Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường (1990), Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông

Cửu Long, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

9. Trần Văn Bính (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Nam bộ, thực trạng và những vấn đề đặt ra,

Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10. Bộ phận thường trực ban nghiên cứu tổng kết lịch sử công an nhân dân phía Nam (1993), Công

an Nam Bộ trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Nxb. Công an nhân dân, TP.HCM.

11. Đặng Đình Ca (1984), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954, tập 1, Nxb.

Quân đội nhân dân, Hà Nội.

12. Phan Bội Châu (2001), Phan Bội Châu niên biểu, Nxb. Văn Nghệ, TP.HCM.

13. Trường Chinh (2005), Cách mạng tháng Tám, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.

14. Trương Văn Chung, Doãn Chính (2005), Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu

thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

15. Phan Kỳ Chưởng (1973), Đạo Cao Đài và chính trị, Luận văn tốt nghiệp, Học viện Quốc gia

hành chánh, Sài Gòn.

16. Nguyễn Trọng Cổn (1980), Phong trào công nhân trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Nxb. Lao

Động, Hà Nội.

17. Cục văn thư và lưu trữ cả nước, Trung tâm lưu trữ quốc gia III (2007), Nam Bộ kháng chiến

(1945 - 1954) qua tài liệu lưu trữ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.

18. Hồ Sơn Diệp (2003), Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Nxb.Đại

học quốc gia, TP.HCM.

19. Lê Anh Dũng (1996), Lịch sử Đạo Cao Đài thời kỳ tiềm ẩn, 1920 - 1926, Nxb. Thuận Hóa, Huế.

20. Đoàn Dũng (1973), Ảnh hưởng tôn giáo trong sinh hoạt chính trị miền nam, Luận văn tốt

nghiệp, Học viện chính trị quốc gia, Sài Gòn.

21. Đinh Trần Dương (2006), Sự chuyển biến của phong trào yêu nước và cách mạng giải phóng

dân tộc Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội.

22. Đinh Trần Dương (2006), Tân Việt Cách mạng Đảng trong cuộc vận động thành lập Đảng Cộng

sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

23. Hồ Sơn Đài (1996), Chiến khu ở miền Đông Nam Bộ (1945 - 1954), Nxb. TP.HCM.

24. Hồ Sơn Đài (2008), Cuộc kháng chiến 1945 - 1975 nhìn từ Nam Bộ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà

Nội.

25. Hồ Sơn Đài, Đỗ Tầm Chương, Hồ Khang (2005), Bộ đội Bình Xuyên, Nxb. Lao động, Hà Nội.

26. (1969), Đồng chí Phạm Ngọc Thạch : nhà trí thức cách mạng, Nxb. Y học và thể dục thể thao,

Hà Nội.

27. Vũ Minh Giang (chủ biên), Nguyễn Quang Ngọc, Lê Trung Dũng, Cao Thanh Tân, Nguyễn Sỹ

Tuấn (2006), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

28. Trần Giang chủ biên (2002), Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Công trình khoa học cấp nhà nước,

Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

29. Võ Nguyên Giáp (2001), Những năm tháng không thể nào quên, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà

Nội, Hữu Mai thể hiện.

30. Võ Nguyên Giáp (2001), Chiến đấu trong vòng vây, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, Hữu Mai

thể hiện.

31. Võ Nguyên Giáp (2001), Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, Hữu Mai

thể hiện.

32. Võ Nguyên Giáp (2001), Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội,

Hữu Mai thể hiện.

33. Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng

tháng Tám, tập 1: Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, Nxb.

TP.HCM.

34. Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng

tháng Tám, tập 2: Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, Nxb. TP.HCM.

35. Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng

tháng Tám, tập 3: Thành công của chủ nghĩa Mác Lênin - Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. TP.HCM.

36. Trần Văn Giàu (2007), Tổng tập, tập 2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.

37. Trần Văn Giàu (2008), Tổng tập, tập 3, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến

cách mạng tháng Tám, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.

38. Hoàng Hà chủ biên (2005), Trận tuyến công khai giữa Sài Gòn, ký sự về báo chí cách mạng

công khai và phong trào đấu tranh của báo giới Sài Gòn, Nxb. Trẻ, TP.HCM.

39. Lê Mậu Hãn chủ biên, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư (2003), Đại Cương Lịch sử Việt Nam, tập

3, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội.

40. Nguyễn Hanh (1984), Miền Đông Nam Bộ lịch sử và phát triển, Nxb. TPHCM.

41. Nguyễn Văn Hầu (1968), Nhận thức Phật giáo Hòa Hảo, Nxb. Hương Sen, Sài Gòn.

42. Thái Nhân Hòa (2005), Xu hướng canh tân - Phong trào Duy tân - Sự nghiệp đổi mới (Từ giữa

thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX), Nxb. Đà Nẵng.

43. Phan Văn Hoàng (2001), Cao Triều Phát, nghĩa khí Nam Bộ, Nxb. Trẻ, TPHCM.

44. (1961), Hội kín Nguyễn An Ninh, Nxb. Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn.

45. Nguyên Hùng (2004), Bảy Viễn - thủ lĩnh Bình Xuyên, tuyển tập, Nxb. Công an nhân dân, Hà

Nội.

46. Nguyên Hùng (1988), Người Bình Xuyên, tiểu thuyết tư liệu, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

47. Nguyên Hùng (1990), Sư thúc Hòa Hảo, tiểu thuyết tư liệu, Nxb. Tổng hợp Hậu Giang.

48. Đỗ Quang Hưng (2003), Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà

Nội.

49. Phạm Dương Mỹ Thu Huyền (2008), Tôn Đức Thắng với phong trào công nhân Sài Gòn đầu

thế kỷ XX đến năm 1930, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

50. Vũ Như Khôi, Đào Trọng Bằng chủ biên (2006), Mở đầu toàn quốc kháng chiến, Nxb. Quân đội

51. Đoàn Khuê, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Quan (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân

nhân dân, Hà Nội.

52. Nguyễn Văn Kiêm (1976), Lịch sử Việt Nam (Đầu thế kỷ XX - 1918), Quyển 3, tập 2, Nxb. Giáo

Pháp thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

dục, Hà Nội.

53. Mạnh Xuân Kiếm (1971), Vai trò chánh trị của Cao Đài, Luận văn tốt nghiệp Cao học hành

chánh, Học viện chính trị quốc gia, Sài Gòn.

54. (2006), Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

55. Lịch sử quan phủ Ngô Văn Chiêu (1878 - 1932), Người sáng lập Cao Đài Đại Đạo, Nxb. Hòa

Chánh, Sài Gòn.

56. Phan Ngọc Liên chủ biên (2005), Cách mạng tháng Tám 1945 - Toàn cảnh, Nxb. Từ điển Bách

Khoa, Hà Nội.

57. Phan Ngọc Liên và những người khác (2006), Biên niên sử các Đại hội Đảng Cộng sản Việt

Nam, tập 1, 2, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Hà Nội.

58. Huỳnh Lứa chủ biên (1993), Lịch sử phong trào công nhân cao su Việt Nam (1906 - 1990),

Nxb. Trẻ, TP.HCM.

59. Huỳnh Lứa chủ biên, Lê Quang Minh, Lê Văn Nam, Nguyễn Nghị, Đỗ Hữu Nghiêm (1987),

Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb. TP.HCM.

60. Huỳnh Lứa, Đặng Văn Thắng, Hồ Hữu Nhựt (2004), Nam Bộ Đất và người, Nxb. Trẻ, TPHCM.

61. Huỳnh Lý (2002), Phan Châu Trinh - Thân thế và sự nghiệp, Nxb. Trẻ, TP.HCM.

62. Đinh Xuân Lý (2007), Quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

63. Hồ Chí Minh (1966), Về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb. Sự thật, Hà Nội.

64. Nguyễn Thị Minh (2001), Nguyễn An Ninh - “Tôi chỉ muốn làm cơn gió thổi”, Nxb. Trẻ,

TP.HCM.

65. Thành Nam (1982), Phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân cao su miền Đông Nam

Bộ, Nxb. Lao Động, Hà Nội.

66. Sơn Nam (2003), Phong trào Duy Tân ở Bắc, Trung, Nam; Miền Nam đầu thế kỷ XX - Thiên

67. Lương Ninh (2005), Vương quốc Phù Nam - Lịch sử và văn hóa, Viện văn hóa và Nxb.

Văn hóa thông tin, Hà Nội.

Địa hội và cuộc minh tân, Nxb. Trẻ, TP.HCM.

68. Vũ Ngọc Nguyên (1959), Công nhân Nam Bộ trong khói lửa, Nxb. Lao Động, Hà Nội.

69. (2001), Nguyễn An Ninh - Nhà trí thức yêu nước, Nxb. TP.HCM.

70. (1970), Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh - Thân thế và sự nghiệp, Nxb. Cấp Tiến, Sài Gòn.

71. Nhiều tác giả (1999), Nam bộ thành đồng Tổ quốc đi trước về sau - Hồi ký kháng chiến chống

thực dân Pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

72. Nhiều tác giả (2002), Hỏi đáp về chủ tịch Tôn Đức Thắng và lược sử phong trào công nhân Việt

Nam, Nxb. Trẻ, TP.HCM.

73. Nhiều tác giả (2007), Phong trào Đông Du ở Miền Nam, Tạp chí Xưa và Nay, Nxb. Văn hóa Sài

Gòn, TP.HCM.

74. Trịnh Nhu chủ biên (2008), Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập 1:Nguyễn Ái Quốc

tìm đường giải phóng dân tộc và các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản,

75. Trịnh Nhu chủ biên (2008), Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập 2: Đảng lãnh đạo

sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền và thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1930 -

1945), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

76. Nguyễn Trọng Phúc chủ biên (2006), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2006), Nxb. Lao

Động, Hà Nội.

77. Nguyễn Trọng Phúc chủ biên (2006), Các đại hội đại biểu toàn quốc và hội nghị Ban chấp hành

Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2006), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

78. Trần Hải Phụng, Lưu Phương Thanh (1994), Lịch sử Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định kháng chiến

(1945 - 1975), Nxb. TP.HCM.

79. Lê Minh Quốc (2007), Nguyễn An Ninh - Dấu ấn để lại, Nxb. Kim Đồng, Hà Nội.

80. Trương Hữu Quýnh và những người khác (2003), Đại cương lịch sử Việt Nam, toàn tập: từ thời

nguyên thủy đến năm 2000, Nxb. Giáo dục Hà Nội.

81. Trần Viết Tá chủ biên (1990), Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945 - 1975, Nxb. Quân đội

nhân dân, Hà Nội.

82. Nguyễn Thanh Tâm (2005), Khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa trong cách mạng tháng

Tám 1945, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

83. Đồng Tân (1972), Lịch sử Cao Đài - Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Nxb. Cao Hiên, Sài Gòn.

84. Phan Đăng Thanh (2006), Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Nxb. Tư pháp, Hà

Nội.

85. Lưu Phương Thanh chủ biên (1990), Nam Kỳ khởi nghĩa, Nxb. TP.HCM.

86. Nguyễn Thành (1991), Mặt trận Việt Minh, Nxb. Sự thật, Hà Nội.

87. Nguyễn Thành (1985), Cuộc vận động đại hội Đông Dương, Nxb. TP.HCM.

88. Nguyễn Q. Thắng (2006), Phong trào Duy Tân với các khuôn mặt tiêu biểu, Nxb. Văn hóa

thông tin, Hà Nội.

89. Phạm Văn Thắng, Cao Tự Thanh và những người khác (2007), Lịch sử Đảng Bộ Thành Phố Hồ

Chí Minh, Nxb. Tổng hợp TP.HCM.

90. Chương Thâu (2005), Phan Bội Châu - Nhà yêu nước, nhà văn hóa lớn, Nxb. Trung Tâm văn

hóa ngôn ngữ Đông - Tây, Hà Nội.

91. Huỳnh Văn Tiểng, Bùi Đức Tịnh (1995), Thanh niên tiền phong và các phong trào học sinh sinh

viên trí thức Sài Gòn 1939 - 1945, Nxb. Trẻ, TP.HCM.

92. Huỳnh Công Tín (2006), Cảm nhận bản sắc văn hóa Nam Bộ, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.

93. Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Thị Phương Hồng (2005), Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng

sản Việt Nam (1930 - 2000), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

94. Lâm Hiếu Trung chủ biên (2003), Lịch sử Đảng bộ Miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến

chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

95. Trung tâm nghiên cứu Dân tộc học và tôn giáo (2005), Nam Bộ dân tộc và tôn giáo, Nxb. Khoa

Học Xã Hội, Hà Nội.

96. Tổng cục chính trị (1998), Một số hiểu biết về tôn giáo – Tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Quân đội

nhân dân, Hà Nội.

97. Nguyễn Thị Mộng Tuyền (2003), Phong trào đấu tranh của công nhân cao su Thủ Dầu Một

trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb. Lao Động, Hà Nội.

98. Trần Thị Minh Tuyết, Nguyễn Thị Hồng Vân (2007), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học

viện công nghệ bưu chính viễn thông, Hà Nội, sách điện tử.

99. Đặng Nghiêm Vạn (2001), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

100. Trần Tường Vân, Nguyễn Quang Ân (1997), Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp

1945 - 1954: Những sự kiện, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.

101. Viện Lịch sử Đảng (2008), Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2:Đảng lãnh

đạo sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền và thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1930 -

1945), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

102. Viện Lịch sử Đảng (1985), Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, Nxb. Sự Thật, Hà Nội.

103. Nguyễn Việt biên soạn (1957), Nam Bộ và Nam Phần Trung Bộ trong hai năm đầu kháng

chiến (1945 - 1946), Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội.

104. (1986), Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, tập 1: 1945 - 1960, Nxb Sự

thật, Hà Nội.

105. Đặng Thanh Xuân (2003), Lịch sử tư tưởng lập hiến nửa đầu thế kỷ XX và sự ra đời của

hiến pháp đầu tiên ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ lịch sử, Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Viện Khoa

học xã hội TP.HCM.

106. Nguyễn Văn Xuân (1995), Phong trào Duy Tân, Nxb. Đà Nẵng.