BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Triệu Thị Huệ VẤN ĐỀ DẠY HỌC “NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN
KIỀU” TRONG CHƯƠNG TRÌNH VĂN Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2003
LỜI CẢM ƠN
23TChúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới quý thầy cô, những người đã giảng dạy,
động viên, giúp đỡ, đóng góp ý kiến cho chúng tôi trong quá trình học tập cũng như khi thực
23TChúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS Trần Thanh Đạm, người đã tận
hiện luận văn.
23TXin chân thành cảm ơn phòng Khoa học Công nghệ - Sau đại học trường Đại học Sư
tình hướng dẫn, hết lòng giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành luận văn này.
phạm thành phố Hồ Chí Minh, Ban giám hiệu, Chi bộ trường THPT Nguyễn Trãi, các thành
viên trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ, khuyến khích động viên
23TLuận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót; chúng tôi kính mong nhận được sự góp
chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
23TThành phố Hồ Chí Minh tháng 11 năm 2003.
23TTriệu Thị Huệ
ý, giúp đỡ của các thầy, cô, các đồng nghiệp và các bạn.
3
MỤC LỤC
104TLỜI CẢM ƠN104T .............................................................................................................. 3
104TMỤC LỤC104T .................................................................................................................... 4
104TPHẦN MỞ ĐẦU104T .......................................................................................................... 6
104T1. Lí do chọn đề tài104T .............................................................................................................. 6
104T2. Mục đích, ý nghĩa của đề tài và đối tượng nghiên cứu104T ............................................... 8
104T3. Phạm vi, giới hạn của đề tài104T ........................................................................................... 8
104T4. Phương pháp nghiên cứu104T ............................................................................................... 9
104T5. Lịch sử vấn đề104T ................................................................................................................. 9
104T6. Đóng góp của luận văn104T ................................................................................................. 13
104T7. Kết cấu của luận văn104T .................................................................................................... 13
104TCHƯƠNG 1: Ý NGHĨA VĂN HÓA VÀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA CHUYÊN MỤC “NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU” TRONG CHƯƠNG TRÌNH MÔN VĂN Ở TRƯỜNG THPT.104T ............................................................... 14
104T1.1. Vị trí của Nguyễn Du và Truyện Kiều trong đời sống của dân tộc.104T ..................... 14
104T1.1.1. Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều của ông có một vị trí to lớn trong lịch sử văn học và trong đời sống văn hóa của con người Việt Nam.104T ............................................... 14
104T1.1.2. Trong nhà trường phổ thông, việc dạy học "Nguyễn Du và Truyện Kiều" được đặc biệt chú ý.104T ........................................................................................................................ 15
104T1.2. Tầm quan trọng, ý nghĩa văn hóa và giáo dục phổ thông của chuyên mục “Nguyễn Du và Truyện Kiều” trong chương trình Văn ở trường THPT.104T .................. 17
104T1.2.1. Bài học về nhân cách lớn Nguyễn Du.104T ................................................................. 17
104T1.2.2. Học “Nguyễn Du và Truyện Kiều”, học sinh thấy được những thành tựu của một giai đoạn văn học cụ thể thông qua một tác gia cụ thể.104T .................................................. 19
104T1.2.3. Học chuyên mục “Nguyễn Du và Truyện Kiều” trong nhà trường THPT, học sinh được bồi dưỡng những cảm xúc thẩm mĩ, từ đó góp phần vào việc hình thành nhân cách của bản thân.104T ................................................................................................................... 21
104T1.2.4. Việc dạy học “Nguyễn Du và Truyện Kiều” có một ý nghĩa đặc biệt trong việc giáo dục truyền thống cho học sinh.104T ....................................................................................... 23
104TCHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC “NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU” TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT HIỆN NAY - NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN, NGUYÊN NHÂN VÀ TRIỂN VỌNG104T ....................................................... 26
104T2.1. Những thuận lợi, khó khăn của giáo viên và học sinh khi tiếp cận những bài học về “Nguyễn Du và Truyện Kiều”.104T ................................................................................... 26
104T2.1.1. Những thuận lợi104T .................................................................................................... 26
104T2.1.2. Những khó khăn104T .................................................................................................... 28
104T2.2. Thực trạng dạy học chuyên mục “Nguyễn Du và Truyện Kiều”.104T ......................... 31
104T2.2.1. Về phía người học.104T ................................................................................................ 31
104T2.2.2. Về phía người dạy. 104T ................................................................................................ 37
104T2.2.3. Từ thực trạng dạy học chuyên mục “Nguyễn Du và Truyện Kiều”, nghĩ về thực trạng dạy học văn học trung đại ở nhà trường THPT hiện nay.104T ..................................... 46
104T2.3. Đi tìm những nguyên nhân.104T ...................................................................................... 48
104T2.3.1. Nguyên nhân khách quan104T ...................................................................................... 48
104T2.3.2. Nguyên nhân chủ quan104T ......................................................................................... 51
104T2.4. Triển vọng của việc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du và Truyện Kiều" trong nhà trường THPT.104T ................................................................................................................... 53
104TCHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ104T.......................................... 56
104T3.1. Giải pháp.104T ................................................................................................................... 56
104T3.1.1. Giải pháp chung .104T .................................................................................................. 56
104T3.1.2. Một số giải pháp cụ thể.104T ........................................................................................ 61
104T3.2. Một số kiến nghị.104T ........................................................................................................ 79
104T3.2.1. Cần tăng thêm số tiết dạy học cho chuyên mục "Nguyễn Du và Truyện Kiều" trong nhà trường THPT.104T ........................................................................................................... 79
104T3.2.2. Cần xây dựng một chương trình ngoại khóa văn học cho các chuyên mục lớn trong chương trình, đặc biệt là chuyên mục “Nguyễn Du và Truyện Kiều”.104T........................... 79
104T3.2.3. Nên đưa một số lượng hạn chế giờ dạy chữ Hán vào chương trình cho học sinh THPT.104T .............................................................................................................................. 79
104T3.2.4. Nên bổ sung thêm bộ phận văn học trung đại, đặc biệt chuyên mục “Nguyễn Du và Truyện Kiều” vào nội dung thi tú tài và đại học.104T ............................................................ 80
104T3.2.5. Nên mở các lớp dạy chữ Hán, các lớp bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên về văn học, văn hóa thời trung đại.104T ...................................................................................... 80
104T3.2.6. Cần có một quan điểm "động" hơn đối những tác phẩm còn gây nhiều tranh luận, chưa có sự thống nhất như bài Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du.104T .............................. 80
104TKẾT LUẬN104T ................................................................................................................ 81
104TTÀI LIỆU THAM KHẢO104T ........................................................................................ 84
104TPHỤ LỤC104T ................................................................................................................... 91
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ yêu cầu mang tính cấp thiết về đổi mới phương pháp dạy học Văn
23TChúng ta đang sống trong những năm đầu của thế kỉ XXI, thế kỉ của khoa học kĩ thuật,
trong nhà trường phổ thông hiện nay.
của công nghệ thông tin phát triển như vũ bão khắp toàn cầu. Con người đã và đang được
23TChất lượng cuộc sống có liên quan mật thiết và đòi hỏi một cách khắt khe đến chất lượng
hưởng thụ những thành tựu của khoa học kĩ thuật có thể nói là cao nhất từ trước đến nay.
con người. Nền giáo dục Việt Nam hiện nay đang đứng trước một thách thức lớn: làm sao đào
tạo được những con người phát triển toàn diện, có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ để đáp
23TĐảng và nhà nước ta luôn xác định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu" trong sự nghiệp
ứng được yêu cầu của thời đại khoa học kĩ thuật phát triển cao.
xây dựng và phát triển đất nước. Đại hội lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: "Phát triển giáo dục là
nền tảng. Nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
23TTrong các giải pháp phát triển giáo dục giai đoạn 2001 - 2010, đối với giáo dục phổ
nhanh và bền vững" [77, 100].
thông, Đảng ta chỉ đạo: "Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục; chuyển từ việc
truyền đạt tri thức thụ động: thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy
trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin
một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp ..." [77, 108] . Nhằm đáp ứng mục tiêu đào
tạo của giáo dục trong thời kỳ mới, môn Văn cũng như các môn học khác trong nhà trường
THPT đã và đang đứng trước một vấn đề mang tính cấp bách: đổi mới phương pháp dạy và
23TVấn đề đổi mới phương pháp dạy và học Văn trong nhà trường phổ thông đã được đặt ra
học.
từ mấy chục năm qua, thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều người và thực sự đã đạt được một
số thành tựu. Tuy nhiên, đây vẫn còn là một bài toán có nhiều ẩn số, đòi hỏi nhiều hơn nữa sự
quan tâm, sự đầu tư công sức của nhiều cấp ngành, của các nhà sư phạm và nhất là của những
giáo viên dạy Văn.
23TÝ thức sâu sắc về vấn đề trên, chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: 23T24T"Vấn đề dạy học
Nguyễn Du 24T26Tvà Truyện Kiều 24T26Ttrong chương trình Văn ở trường trung học phổ thông" 23T24Tvới
hy vọng góp một phần nhỏ bé vào việc giải bài toán lớn: đổi mới phương pháp dạy và học Văn
hiện nay.
1.2. Xuất phát từ thực trạng dạy học Văn trong nhà trường hiện nay, đặc biệt là vấn
23TNgay từ những năm 70, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát hiểu: "Chúng ta phải xem lại
đề dạy học mảng văn học trung đại Việt Nam còn nhiều hạn chế.
cách dạy Văn của chúng ta, không nên dạy như cũ bởi vì dạy như cũ thì không chỉ dạy Văn
không hay mà sự đào tạo cũng không hay. Vì vậy dứt khoát chúng ta phải có cách dạy khác"
[30]. Đối với những giáo viên dạy Văn, lời nhắc nhở ấy vẫn còn nguyên vẹn tác dụng cho đến
ngày hôm nay. Trong những năm qua, mặc dù đã có những chuyển biến nhất định nhưng nhìn
chung chất lượng dạy và học Văn trong nhà trường THPT vẫn đang có nhiều giảm sút. Điều
này thể hiện rõ nhất ở 23T24Tsự ít hứng thú 23T24Tcủa học sinh đối với môn Văn. Khuynh hướng chạy theo
các môn khoa học tự nhiên, thờ ơ với môn Văn ở học sinh càng ngày càng bộc lộ rõ nét. Kết
quả là đã có nhiều thế hệ học sinh ra trường rất kém cỏi trong việc nói và viết tiếng Việt văn
hóa. Nhưng môn Văn không chỉ là môn học cung cấp kiến thức văn học, rèn kỹ năng nói và
viết tiếng Việt mà còn là môn học có tác dụng bồi đắp tâm hồn, tình cảm cho học sinh. Chính
vì vậy, ở một góc độ khác, việc học sinh ngày càng ít hứng thú học Văn còn đi kèm với "nỗi lo
giá lạnh tâm hồn" (Phan Trọng Luận) của các bậc phụ huynh, của các nhà sư phạm và của toàn
23TCơ chế dạy học Văn theo lối truyền thống với căn bệnh chạy theo thành tích vẫn tồn tại
thể xã hội.
một cách phổ biến trong nhà trường THPT hiện nay. Mặc dù bị phê phán song giáo viên vẫn
áp dụng lối dạy áp đặt kiến thức một chiều. Giờ học vì thế trở nên nặng nề vì học sinh chỉ thụ
23TTrong chương trình Văn 23T26Tở 23T26Ttrường THPT, mảng văn học trung đại Việt Nam cũng như
động, ít hứng thú và không phát huy được tính sáng tạo của mình.
tác gia Nguyễn Du và tuyệt tác 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcủa ông chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Đây
là bộ phận văn học có tác dụng to lớn trong vấn đề giáo dục truyền thống cũng như bồi đắp
tâm hồn, tình cảm cho học sinh. Tuy nhiên, vấn đề dạy học các chuyên mục này (trong luận
văn, chúng tôi xin phép được gọi những bài về Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều ở 23T26Tcấp THPT là một
chuyên mục) lại đang có nhiều hạn chế và vướng mắc, vừa phản ánh tình trạng dạy học Văn
7
trong nhà trường THPT hiện nay lại vừa phản ánh không ít khó khăn, trăn trở của nhiều giáo
23TThực trạng trên đã gợi ý cho chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài: 23T24T"Vấn đề dạy học Nguyễn
viên Văn.
Du và 24T26TTruyện Kiều 24T26Ttrong chương trình Văn ở trường trung học phổ thông". 23T24TVới tư cách
là giáo viên dạy Văn, chúng tôi muốn được đề cập tới chính những khó khăn và hạn chế của
bản thân trong quá trình giảng dạy chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều", 23T26Ttừ đó cố gắng
tìm một giải pháp có tính khả thi phục vụ cho việc giảng dạy.
2. Mục đích, ý nghĩa của đề tài và đối tượng nghiên cứu
- 23TMục đích, ý nghĩa của đề tài: từ việc tìm hiểu thực trạng vấn đề dạy học một tác gia cụ
thể trong nhà trường THPT, chúng tôi thử đề xuất ý kiến góp phần vào việc đổi mới phương
23TVấn đề dạy học "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Tchắc chắn là mối quan tâm của nhiều
pháp dạy học Văn .
người, vì thế, đề tài có một ý nghĩa thực tiễn nhất định đối với học sinh và giáo viên dạy Văn
ở trường THPT hiện nay.
- 23TĐối tượng nghiên cứu của đề tài: chính là quá trình giảng dạy và học tập "Nguyễn Du
và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Tcủa giáo viên, học sinh ở nhà trường THPT. Ngoài ra, trong một chừng mực
nhất định, luận văn còn chú ý đến một phạm vi bao quát hơn. Đó là việc dạy học mảng văn học
trung đại Việt Nam ở nhà trường THPT hiện nay.
23TKhi thực hiện luận văn, chúng tôi xác định đi vào tìm hiểu thực trạng, khó khăn, thuận
3. Phạm vi, giới hạn của đề tài
lợi và cả những triển vọng của việc dạy học "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều". 23T26TĐây là một hệ
23TVấn đề dạy học "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Tlà một vấn đề lớn có liên quan đến nhiều
thống việc làm có liên quan đến hoạt động học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên.
cấp học. Đề tài chỉ nhằm nghiên cứu việc dạy học "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Ttrong khuôn
khổ nhà trường THPT, cụ thể trong chương trình Văn lớp 10 hiện hành; Do điều kiện còn hạn
chế, chúng tôi mới chỉ tiến hành khảo sát, thăm dò, phỏng vấn học sinh, giáo viên chủ yếu ở
23TTên đề tài 23T24T"Vấn đề dạy học Nguyễn Du và 24T26TTruyện Kiều 24T26Ttrong chương trình Văn ở
một số trường THPT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
trường THPT" 23T24Tcó tính chất nhấn mạnh vấn đề dạy học tác gia Nguyễn Du và kiệt tác 23T26TTruyện
Kiều. 23T26TTuy nhiên, phạm vi của đề tài còn bao gồm việc tìm hiểu, nghiên cứu cả việc dạy học tác
phẩm khác của Nguyễn Du ngoài 23T26TTruyện Kiều 23T26Ttrong chương trình: bài Độc 23T26TTiểu Thanh kí.
23TXuất phát từ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích của luận văn, chúng tôi
4. Phương pháp nghiên cứu
thực hiện đề tài theo những phương pháp sau;
- 23TVận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành: vận dụng thành tựu của nhiều ngành:
nghiên cứu văn học, lý luận văn học, ngôn ngữ,học, tâm lý học, giáo dục học... trong đó đặc
biệt chú trọng vận dụng những thành tựu của những công trình nghiên cứu về Nguyễn
Du, 23T26TTruyện Kiều và 23T26Tkhoa học về phương pháp dạy học Văn, cụ thể là dạy học Nguyễn Du
và 23T26TTruyện Kiều.
- 23TPhương pháp miêu tả, so sánh, quy nạp: miêu tả thực trạng dạy, học "Nguyễn Du
và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Ttrong nhà trường THPT; so sánh, đối chiếu các tài liệu, sách hướng dẫn dành
cho giáo viên, học sinh, các ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề dạy học "Nguyễn Du
và 23T26TTruyện Kiều"; quy 23T26Tnạp thành những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận.
- 23TPhương pháp thống kê, điều tra, thăm dò, phỏng vấn: điều tra, thăm dò, phỏng vấn các
đối tượng giáo viên, học sinh THPT, sinh viên sư phạm để rút ra thực trạng dạy và học, những
thuận lợi, khó khăn và triển vọng của việc dạy học "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều"; 23T26Tthống kê để
lấy số liệu minh họa cho những vấn đề trên.
23TKhoa học về phương pháp dạy Văn ở nước ta là một bộ môn khoa học còn rất trẻ nhưng
5. Lịch sử vấn đề
đã đạt được nhiều thành tựu. Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đã ra đời, góp phần to lớn
trong việc cải tiến phương pháp dạy học cũng như nâng cao nhận thức của người thầy giáo
dạy Văn đối với bộ môn quan trọng này. Tiêu biểu là các công trình: 23T36TVấn 26T36Tđề giảng dạy theo
loại thể 23T26T(Trần Thanh Đạm), 23T26TCảm thụ văn học giảng dạy văn học 23T26T(Phan Trọng Luận), 23T26TPhương
pháp dạy học văn 23T26T(Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế
Phiệt), 23T26THiểu vấn dạy văn 23T26T(Nguyễn Thanh Hùng), 23T26TMấy vấn đề về phương pháp dạy văn thơ cổ
Việt Nam 23T26T(Nguyễn Sĩ 23T27TCẩn).23T27T.. Đây là những công trình mang tính chất lí luận, từ lâu đã trở
23TCác công trình nghiên cứu về Nguyễn Du, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tvà các tác phẩm khác của ông,
thành "cẩm nang" cho giáo viên dạy Văn trong nhà trường phổ thông.
chữ Nôm cũng như chữ Hán, chiếm một số lượng đồ sộ phản ánh vị trí to lớn của Nguyễn Du
9
trong nền văn học dân tộc. Điều này cũng nói lên sự quan tâm, niềm say mê của đông đảo các
thế hệ độc giả, các nhà phê bình, nghiên cứu đối với hiện tượng văn học độc đáo này của dân
tộc. Các công trình nghiên cứu về vấn đề dạy học Nguyễn Du, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tvà các tác phẩm
khác của ông cũng rất phong phú. Tiêu biểu là các công trình:
1. 26TGiảng dạy văn học Việt Nam (phần cổ điển và cận đại ở trường phổ thông cấp
III), 23T26TTrần Thanh Đạm, Bùi Văn Nguyên, Tạ Phong Châu, NXB Giáo dục, H, 1966. Đây là
sách hướng dẫn giảng dạy cho giáo viên Văn cấp 23T29TIII, 23T29Tđược soạn theo chương trình sửa đổi
năm 1965. Phần đầu cuốn sách 23T26T(Mấy vấn đề chung về giảng dạy văn học cổ điển và văn học
cận đại Việt Nam ở các lớp cấp III phổ thông - 23T26TPGS. Trần Thanh Đạm viết) mang tính chất lí
luận chung nhưng cũng bao hàm những chỉ dẫn cụ thể cho giáo viên. Phần hướng dẫn giảng
dạy về Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều do 23T26Ttác giả Tạ Phong Châu biên soạn.
2. 26TNhững bài giảng văn ở đại học, 23T26TLê Trí Viễn, NXB Giáo dục, 1982. Hai bài giảng văn
về 23T26TTruyện Kiều 23T26Tđược đưa vào cuốn sách là hai bài giảng các trích đoạn : 23T26TThúy Kiều dặn dò
Thúy Vân, Kiều báo ân báo oán.
3. 26TSách Văn học 10. 23T26TTập một, 23T26TSách giáo viên, 23T26TNguyễn Lộc (chủ biên), NXB Giáo dục,
1990. Phần hướng dẫn giảng dạy Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều 23T26Tgồm các bài về tác gia Nguyễn
Du; hai trích đoạn 23T26TTruyện Kiều: Trao duyên, Những nỗi lòng tê tái 23T26Tvà bài thơ 23T26TĐộc Tiểu Thanh
kí.
4. 23TCác cuốn: 23T26TLàm văn 10; Làm văn 10 (Sách giáo viên), 23T26TTrần Thanh Đạm (chủ biên),
NXB Giáo dục, 1990. Những đề làm văn về Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều 23T26Tdo tác giả Lương Duy
Cán biên soạn.
5. 26TGiảng văn văn học Việt Nam, 23T26TNhiều tác giả, NXB Giáo dục 1998 (tái bản lần thứ 3 có
chỉnh lí, bổ sung). Các bài giảng văn về các trích đoạn trong 23T26TTruyện Kiều 23T26Tvà một số bài thơ
chữ Hán của Nguyễn Du do tác giả Lê Bảo biên soạn.
6. 26TGiảng văn Truyện Kiều, 23T26TĐặng Thanh Lê, NXB Giáo dục (Tái bản lần thứ 4). Tác giả
đã đặt vấn đề phân tích 23T26TTruyện Kiều 23T26Ttheo phương hướng tiếp cận thi pháp học và ngôn ngữ
học. Phần chính của cuốn sách là các bài bình giảng một số trích đoạn 23T26TTruyện Kiều 23T26Ttrong và
26T7. Tác phẩm văn chương trong nhà trường - những vấn đề trao đổi, 23T26TNguyễn Văn Tùng
ngoài chương trình phổ thông.
tuyển chọn và giới thiệu, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội (in lần thứ 2). Cuốn sách giới thiệu
những ý kiến trao đổi của GS Mai Quốc Liên, GS Trương Chính và một số tác giả khác xung
quanh bài 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí 23T26Tvà các trích đoạn 23T26TTruyện Kiều 23T26Ttrong nhà trường.
8. 26TThiết kế bài học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông, 23T26Ttập 23T24TI, 23T24TII, Phan
Trọng Luận (chủ biên), NXB Giáo dục, 1999. Các tác giả: Ngọc Mai, Trần Diệu Nữ, Văn
Đường, Hoàng Hữu Bội... đã đưa ra những mô hình thiết kế thể nghiệm cho một bài học về
26T 9. Văn học 26T43T10, 23T43TTập một, 23T26TSách giáo viên, 23T26TNguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc (chủ biên),
những trích đoạn 23T26TTruyện Kiều 23T26Ttrong chương trình THPT hiện nay.
sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000, NXB Giáo dục. So với cuốn sách cũ, cuốn sách dành cho
chương trình chỉnh lí hợp nhất này có những cải tiến. Ngoài việc bổ sung thêm phần hướng
dẫn giảng dạy trích đoạn 23T26TThúc Sinh từ biệt Thúy Kiều 23T26Tmới được đưa thêm vào chương trình,
các bài hướng dẫn đều bao gồm những gợi ý có chất chất định hướng về nội dung và phương
pháp lên lớp cho giáo viên.
10. 23TCác cuốn: 23T26TLàm văn 26T43T10, 26T43TLàm văn 26T43T10, 26T43T(Sách giáo viên), Dàn 26T43Tbài 26T43TTập làm văn 23T26T10 do
Trần Thanh Đạm (chủ biên), Sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000, NXB Giáo dục. Trong những
cuốn sách này, các 23T26Ttác 23T26Tgiả Trần Thanh Đạm, Lương Duy Cán đã chú ý đưa vào một số đề làm
văn liên quan đến Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều 23T26Tnhư là những gợi ý, hướng dẫn cho giáo viên và
học sinh.
11. 26TNguyễn Du 23T26T(Phê bình và bình luận văn học), Vũ Tiến Quỳnh biên soạn, NXB Văn
nghệ Tp. HCM. Tập sách giới thiệu một số ý kiến, bình luận về Nguyễn Du, 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tđặc
biệt giới thiệu những gợi ý, phân tích, giảng văn các trích đoạn trong 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcủa các nhà
giáo tên tuổi: Vũ Dương Quỹ, Hà Như Chi, Trịnh Bích Ba, Trần Đồng Minh, Lê Bảo...
12. 26TNguyễn Du 23T26T(Nhà văn trong nhà trường), Lê Thu Yến, NXB Giáo dục. Cuốn sách
cung cấp nhiều tư liệu tham khảo bổ ích cho giáo viên, học sinh, bao gồm phần giới thiệu về
Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều; 23T26Tnhững bài bình giảng; những bài nghiên cứu và những bài làm
văn tham khảo. Trong cuốn sách này, tác giả Lê Thu Yến còn chú ý giới thiệu một số tranh
ảnh có thể coi là những tư liệu, dụng cụ trực quan phục vụ cho việc dạy học Nguyễn Du
và 23T26TTruyện Kiều.
13. 26TLuận đề về Nguyễn Du và Truyện Kiều, 23T26TTrần Ngọc Hưởng, NXB Văn nghệ TP.
HCM, 2000. Sách có các phần: giới thiệu về tác gia, tác phẩm, chú giải các trích đoạn 23T26TTruyện
Kiều, 23T26Tcác bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du ở chương trình phổ thông cùng một số luận đề về
Nguyễn Du, 23T26TTruyện Kiều.
11
14. 26TBình giảng 10 trích đoạn trong Truyện Kiều, 23T26TTrương Xuân Tiếu, NXB Giáo dục,
2001. Nét mới trong cuốn sách này là trong phần giới thiệu, tác giả trích dẫn cả những đoạn
trích trong 23T26TKim Vân Kiều truyện 23T26Tcủa Thanh Tâm Tài Nhân để giáo viên, học sinh tiện so sánh,
đối chiếu. .
15. 26TTác phẩm văn chương trong nhà trường - Những con đường khám phá, 23T26Ttập I, Vũ
Dương Quỹ, Lê Bảo, NXB Giáo dục, 2002. Với mỗi bài học về Nguyễn Du và 23T26TTruyện
Kiều, 23T26Ttác giả đều trình bày thành ba phần: điểm qua một vài hướng phân tích, bình giảng đã
xuất hiện trong giảng dạy, trong các tài liệu, sách báo trước kia và hiện nay; đề xuất một vài
hướng phân tích, bình giảng; bình giảng các đoạn trích, bài thơ và xem đó như một sự thử
31T16. 26T31TNguyễn Du - Truyện Kiều, một hướng cảm, luận và dạy học mới, 23T26THoàng Dân -
nghiệm của bản thân người viết.
Đường Văn, NXB Thanh niên, 2002. Cuốn sách là hợp tuyển của một số bài tiểu luận, nghiên
cứu, bài giảng, thiết kế giáo án và sáng tác thơ, truyện của những nhà giáo đã nhiều năm gắn
bó với việc dạy học 23T26TTruyện Kiều. 23T26TPhần thứ II của cuốn sách là phần rất đáng chú ý vì đây là
những thiết kế bài dạy học các trích đoạn 23T26TTruyện Kiều 23T26Tvà các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du
23T17. Một số lượng khá phong phú các sách 23T26THọc tốt văn 10RrR Sách tham khảo. 23T26T(Ví
trong chương trình Văn 9, Văn 23T31T10 23T31Thiện hành theo hướng tích cực và tích hợp.
dụ: 23T26TNhững 26T43Tbài 26T43Tlàm văn chọn lọc 26T43Tlớp 10, 23T43TTrần Đồng Minh - Hà Bình Trị (Tuyển chộn), NXB
Giáo dục; 23T26THọc tốt Văn học 10, 23T26TNguyễn Thị Kim Dung, Lê Minh Thanh, Nguyễn Thị Bích
Hòa, NXB Trẻ...). Nhìn chung, tác giả những cuốn sách này thường dựa vào những gợi ý có
tính chất định hướng trong 23T26TSách giáo viên để 23T26Tcụ thể hóa nội dung giảng dạy những bài về
23TNhìn một cách tổng thể, từ các công trình nghiên cứu có tính chất chuyên sâu cho đến
Nguyễn Du, 23T26TTruyện Kiều 23T26Thay gợi ý học sinh trả lời những câu hỏi trong SGK...
những bài báo, bài trao đổi xung quanh vấn đề giảng dạy "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều", 23T26Ttất cả
đều thể hiện sự đa dạng, sáng tạo trong tiếp nhận đồng thời là những tìm tòi đáng trân trọng
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Văn. Một số tác giả còn có ý tranh luận với tác giả khác
về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy chuyên mục này. Sự phong phú về tài liệu trên
đây đã giúp ích rất nhiều cho giáo viên, học sinh trong quá trình dạy học "Nguyễn Du
23TTuy nhiên, phần lớn các công trình nói trên mới chỉ nghiêng về nghiên cứu hoạt động
và 23T26TTruyện Kiều” 23T26Tcũng 23T27Tnhư 23T27Tcho chúng tôi khi thực hiện luận văn.
giảng dạy của giáo viên. Hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể và đầy
đủ về thực trạng, thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân, triển vọng và cả những giải pháp của việc
dạy và học "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Ttrong nhà trường THPT hiện nay.
6. Đóng góp của luận văn
- 23TQua việc điều tra, thống kê một cách nghiêm túc, chúng tôi nghĩ rằng luận văn có thể
góp phần hình dung thực trạng dạy học "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Ttrong nhà trường THPT
hiện nay.
- 23TThử đề xuất một số ý kiến hi vọng giúp ích cho việc dạy học "Nguyễn Du và 23T26TTruyện
Kiều" 23T26Tcũng như dạy học văn học trung đại trong trường THPT.
23TNgoài các phần "Mở 23T26Tđầu" ; "Kết luận"; "Tài liệu tham khảo" 23T26Tvà 23T26T"Phụ lục", 23T26Tluận văn
7. Kết cấu của luận văn
23TChương 23T24TI 23T24T(16 trang): Ý nghĩa văn hóa và giáo dục phổ thông của chuyên mục "Nguyễn
gồm 3 chương :
23TChương II (39 trang): Thực trạng dạy học "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Ttrong nhà
Du và 23T26TTruyện Kiều" trong 23T26Tchương trình môn Văn ở trường THPT.
23TChương III (33 trang): Một số giải pháp và kiến nghị.
trường THPT - Những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và triển vọng.
13
CHƯƠNG 1: Ý NGHĨA VĂN HÓA VÀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA CHUYÊN
MỤC “NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU” TRONG CHƯƠNG TRÌNH MÔN VĂN Ở
TRƯỜNG THPT.
1.1. Vị trí của Nguyễn Du và Truyện Kiều trong đời sống của dân tộc.
1.1.1. Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều của ông có một vị trí to lớn trong lịch sử
23TNguyễn Du là một danh nhân văn hóa thế giới, là tác gia quan trọng vào bậc nhất của văn
văn học và trong đời sống văn hóa của con người Việt Nam.
học trung đại cũng như của nền văn học dân tộc Việt Nam. Các tác phẩm của ông, đặc biệt
là 23T26TTruyện Kiều, thấm 23T26Tnhuần tinh thần nhân đạo cao quý và kết tinh nhiều giá trị nghệ thuật đặc
sắc. GS Đặng Thai Mai đã nhận xét: "Không ai có thể phủ nhận rằng; trong toàn bộ văn học
Việt Nam ngày xưa, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tlà một thành công vĩ đại nhất, là áng văn chương tiêu biểu
23TMặc dù được sáng tác dựa trên 23T26TKim Vân Kiều truyện của 23T26TThanh Tâm Tài Nhân (Trung
hơn hết" [80, 1027].
Quốc) nhưng 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcủa Nguyễn Du thực sự là một sáng tạo phi thường của đại thi hào.
3254 câu thơ lục bát với "con mắt trông thấy sáu cõi", "tấm lòng nghĩ tới muôn đời" (Mộng
23TTrên thế giới, có lẽ ít tác phẩm nào có được một số phận gắn bó máu thịt với đời sống
Liên Đường chủ nhân) từ lâu đã trở thành niềm tự hào của mọi người dân Việt Nam .
của nhân dân như 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcủa Nguyễn Du. Khó có thể thống kê hết từ Nam ra Bắc, có
bao nhiêu người Việt Nam (trong đó có cả những người chưa biết chữ) thuộc lòng nhiều câu,
nhiều đoạn, thậm chí cả 23T26TTruyện Kiều. 23T26TNgười dân Việt Nam yêu thích 23T26TTruyện Kiều 23T26Tvì trước hết
Nguyễn Du đã sử dụng một cách điêu luyện thể thơ lục bát quen thuộc của nhân dân, khiến
23T Song điều quan trọng hơn là họ đã tìm thấy ở 23T26TTruyện Kiều 23T26Tmột mối đồng cảm sâu xa,
cho truyện trở nên dễ thuộc, dễ nhớ.
một sự gần gũi đến kỳ lạ. Đối với người Việt Nam trước kia, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tchính là tấm gương
phản chiếu những nỗi đau khổ của bản thân họ và của những cuộc đời đau khổ xung quanh họ.
Dường như Nguyễn Du đã thấu suốt cảnh ngộ của họ, đã nói hộ họ bao nhiêu uất ức ghìm nén
trong lòng. Câu chuyện về cuộc đời chìm nổi lênh đênh của một nàng Thúy Kiều bên Trung
Quốc bỗng không còn xa lạ mà đã trở thành một câu chuyện ứng hợp lạ lùng với thời đại và
con người Việt Nam lúc ấy.
23TBao nhiêu năm trôi qua, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tđã "đi vào bước ngoặt của thời đại ngày nay mà
không tổn thất gì" [J. BuĐaRen, 43, 1001]. Tiếng nói phê phán, tố cáo xã hội và đặc biệt là
chất nhân đạo ngời sáng thấm đẫm trong những câu thơ 23T26TTruyện Kiều 23T26Tđã khơi đúng mạch
nguồn truyền thống nhân đạo thiêng liêng của dân tộc. 23T26TTruyện Kiều 23T26Ttrở thành nơi gặp gỡ của
những tấm lòng, và nói như nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tmãi mãi "không hề
23TTrong đời sống văn học và văn hóa của dân tộc ta, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tquả là một hiện tượng
biết già" trước thử thách của thời gian.
độc đáo. Rất nhiều hình thức sáng tạo văn học và nghệ thuật khác nhau đã được nảy sinh từ
kiệt tác này. Ngay từ khi mới ra đời, 23T26TTruyện Kiều đã 23T26Tlà mối quan tâm, trở thành đề tài cho các
nhà nho ngâm vịnh. Từ đó đến nay, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tluôn là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi
cạn cho nhiều thế hệ nhà thơ. 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcòn gắn với nhiều dạng thức của văn hóa dân gian,
góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự giao lưu văn hóa trong
cộng đồng. Các hình thức diễn 23T26TKiều, tập Kiều, 23T26Tlẩy 23T26TKiều, 23T26Tđố 23T26TKiều, 23T26Tbói 23T26TKiều... 23T26Tđã ra đời và tồn
tại trong đời sống của người Việt Nam hàng trăm năm nay. 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tnhư thế, trở thành
23TNói tới vị trí của Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều 23T26Ttrong đời sống của dân tộc, không thể
một nét văn hóa không thể thiếu, trở thành một phần trong đời sống của người Việt Nam.
không nổi tới một khối lượng to lớn những bài phê bình, những công trình nghiên cứu liên
quan đến Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều 23T26Ttừ xưa đến nay. Theo lý thuyết tiếp nhận, có thể thấy đây
là một hiện tượng lý thú và hết sức phức tạp vì nó phản ánh quan điểm thẩm mĩ của công
chúng qua những thời đại khác nhau. GS Nguyễn Lộc trong 23T26TLịch sử vấn đề nghiên cứu Truyện
Kiều 23T26Tnhận định : "Trong lịch sử nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam không có một tác
phẩm thứ hai nào được các nhà nghiên cứu phê bình cũng như đông đảo công chúng quan tâm
đến như vậy" [64, 23]. Nhà nghiên cứu Trịnh Bá Đĩnh khi bàn về vấn đề di sản của Nguyễn
Du đã có một ý tưởng thú vị. Theo ông, để thấy rõ vị trí và ý nghĩa di sản của Nguyễn Du, tốt
nhất chúng ta hãy hình dung giả định những sáng tác của Nguyễn Du không được viết ra, và vì
thế cũng không có những sáng tạo văn hóa văn học lấy cảm hứng từ đó "Ta sẽ thấy ngay một
khoảng trống vắng lớn trong đời sống lịch sử văn học và văn hóa dân tộc" [27, 25].
1.1.2. Trong nhà trường phổ thông, việc dạy học "Nguyễn Du và Truyện Kiều"
23TTừ trước Cách mạng Tháng Tám, trong nhà trường Pháp - Việt, chuyên mục "Nguyễn
được đặc biệt chú ý.
Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Tđã có một vị trí xứng đáng. Bọn thực dân Pháp, dù với dã tâm đặt ách đô
15
hộ lâu dài lên đất nước ta, vẫn phải thừa nhận 23T26TTruyện Kiều 23T26Tlà tác phẩm văn học dùng để giảng
26TTruyện Kiều 23T26Tđược in bằng chữ quốc ngữ, được dịch ra bằng tiếng Pháp và chính thức có
dạy trong nhà trường.
mặt trong bộ sách giáo khoa (xuất bản năm 1943) của nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học
Dương Quảng Hàm. Tác giả đã dày công biên soạn bộ sách này (bao gồm hai cuốn: 23T26TViệt Nam
văn học sử yếu và Việt Nam thi văn hợp tuyển) 23T26Tvới quan niệm đúng đắn: "Việc học văn học sử
phải căn cứ vào tác phẩm. Học trò không những cần biết những điều cốt yếu về thân thế và
văn nghiệp của mỗi tác giả, lại cần đọc nhiều thơ văn của tác giả ấy mới có thể lĩnh hội được
cái khuynh hướng về tư tưởng và cái đặc sắc về văn từ của tác giả ấy", [33, 4]. Tác giả đã dành
hẳn một chương để viết về 23T26TTruyện Kiều 23T26Ttrong đó nhấn mạnh đến phần sáng tạo của Nguyễn
Du so với Thanh Tâm Tài Nhân. Cũng vào năm Ị943, tập hợp những bài giảng của mình
về 23T26TTruyện Kiều, 23T26TĐào Duy Anh biên soạn 23T26TKhảo luận về Kim Vân Kiều 23T26Tđể "tặng riêng cho các
học sinh trường Thuận Hóa và rộng hơn, cho các học sinh đương muốn tìm cái hứng thú để
nghiên cứu quốc văn" [4, 324]. Tác giả nghiên cứu khá toàn diện từ tiểu sử Nguyễn Du, lai
lịch của 23T26TTruyện Kiều, 23T26Ttư tưởng của tác giả, nghệ thuật văn chương đến địa vị quan trọng của
tác phẩm trong đời sống tinh thần và văn học của dân tộc. Căn cứ vào những tư liệu trên, ta
biết được chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Tđược đưa vào chương trình của năm thứ
nhì ban Trung học Việt Nam. Học sinh được học về Nguyễn Du, về 23T26TTruyện Kiều 23T26Tvới một số
lượng tương đối lớn các trích đoạn (bao gồm các trích đoạn riêng lẻ và các trích đoạn được tập
hợp theo chủ đề) như: 23T26TĐạm Tiên ứng mộng cho Kiều, Tú bà dỗ Kiều, Kiều gặp Thúc sinh, Kiều
gảy đàn, Kiều nhớ nhà 23T26T. Mặc dù được đem vào dạy học trong khuôn khổ nhà trường Pháp -
Việt nhưng những vấn đề mà các cuốn sách giáo khoa nói trên đặt ra có một ý nghĩa quan
23TSau Cách mạng Tháng Tám, việc dạy học "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Tcó tính chất
trọng 23T26Ttrong 23T26Tviệc giúp học sinh quay về với cội nguồn, với truyền thống của dân tộc.
toàn diện hơn so với việc học chuyên mục này ở thời kỳ trước. Học sinh không chỉ được
học 23T26TTruyện Kiều 23T26Tmà còn được học cả những bài thơ chữ Nôm, chữ Hán khác của Nguyễn Du.
Việc thẩm thấu các giá trị văn chương cũng như việc đánh giá Nguyễn Du của người học,
người dạy vì thế cũng sâu sắc và toàn diện hơn. Chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện
Kiều" 23T26Tđược đưa vào chương trình môn Văn ở nhiều cấp học, từ cấp phổ thông đến bậc đại học
và luôn luôn là mối quan tâm, là niềm say mê của giáo viên cũng như học sinh nhiều thế hệ.
Nhiều công trình nghiên cứu về việc dạy học chuyên mục này ra đời đã phản ánh vị trí quan
trọng của nó trong chương trình (xin xem phần Lịch sử vấn đề).
23TỞ nhà trường phổ thông, chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" được 23T26Tđưa vào
23THiện nay, ở cấp THCS, học sinh được học về Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều 23T26Ttrong chương
chương trình môn Văn ở cấp THCS và cấp THPT.
trình môn Văn lớp 9. Các em được học tương đối kỹ về tác gia Nguyễn Du, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tvới
bốn trích đoạn trong 23T26TTruyện Kiều (Chị em Thúy Kiều, Mã Giám Sinh mua Kiều, Kiều ở lầu
Ngưng Bích, Kiều gặp Từ Hải); 23T26Tbài thơ chữ Hán: 23T26TQuỷ môn quan 23T26Tvà một số bài đọc thêm. Thời
23TỞ cấp THPT, Nguyễn Du là một trong số chín tác gia tiêu biểu của văn học dân tộc được
gian quy định: 6 tiết.
đưa vào chương trình. Học sinh tiếp tục được học về Nguyễn Du, 23T26TTruyện Kiều 23T26Ttrong chương
trình Văn lớp 10 với bài học về tác gia, ba trích đoạn trong 23T26TTruyện Kiều (Trao duyên, Những
nỗi lòng tê tái, Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều 23T26T); bài thơ chữ Hán: 23T26TĐộc Tiểu Thanh Kí 23T26Tvà một số
23TNếu so sánh về thời lượng mà chương trình quy định cho việc dạy và học với từng tác
bài đọc thêm. Thời gian quy định: 8 tiết.
gia ở cấp THPT (Nguyễn Trãi: 7 tiết, Nguyễn Đình Chiểu: 5, Nguyền Khuyến: 5, Xuân Diệu:
5, Nam Cao: 6, Hồ Chí Minh: 9, Tố Hữu: 5, Nguyễn Tuân: 3), ta thấy thời gian quy định cho
việc dạy học về tác gia Nguyễn Du đứng thứ hai, chỉ sau tác gia Hồ Chí Minh (9 tiết). Điều
này cũng nói lên vị trí đặc biệt quan trọng của chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện
Kiều" 23T26Ttrọng chương trình THPT.
1.2. Tầm quan trọng, ý nghĩa văn hóa và giáo dục phổ thông của chuyên mục “Nguyễn
Du và Truyện Kiều” trong chương trình Văn ở trường THPT.
23TChuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Tmang đến cho học sinh những hiểu biết cần
1.2.1. Bài học về nhân cách lớn Nguyễn Du.
thiết về con người và xã hội ở một thời kỳ lịch sử mà trước hết là những hiểu biết về một nhà
23TNguyễn Du sống trong một thời đại lịch sử đầy biến động. Chế độ phong kiến Việt Nam
thơ lớn của dân tộc.
đang khủng hoảng một cách sâu sắc. Phong trào nông dân khởi nghĩa nổi dậy khắp nơi...
Nguyễn Du đã phải tận mắt chứng kiến "thời đại của "những cuộc bể dâu", những "phen thay
đổi sơn hà" dữ dội [Lê Thu Yến, 119, 5], đã nhìn thấy mặt trái của xã hội phong kiến với tất cả
sự xấu xa tàn ác của giai cấp thống trị cũng như sự cơ cực đói nghèo của nhân dân. Là một trí
thức xuất thân trong tầng lớp đại quý tộc phong kiến, Nguyễn Du không khỏi hoang mang,
17
dao động, thậm chí rơi vào bế tắc. Một mặt, ông vẫn bảo vệ chính kiến của giai cấp mình, mặt
khác, Nguyễn Du lại không thể chối bỏ được cái hiện thực "chói chang, sừng sững" (Nguyễn
Huệ Chi) của cuộc sống. Các sáng tác của ông, đặc biệt là thơ chữ Hán, chính là nơi mà
Nguyễn Du gửi gắm vào đó những tâm sự, giãi bày của mình trước thời cuộc. Quạ những bài
thơ chữ Hán này, có thể thấy được "phẩm cách phức tạp và sinh hoạt bi đát" (Đào Duy Anh)
23TTrong khuôn khổ thời đại mình, Nguyễn Du không thể không có những hạn chế về mặt
của nhà thơ.
tư tưởng. Ông không thể thấy rõ xu thế của thời đại cũng như không thể lý giải được những
mâu thuẫn phức tạp trong cuộc sống. Trước 23T26T"câu hỏi lớn" 23T26Tcủa cuộc đời, Nguyễn Du chỉ còn
biết hướng “23T26Tlời đáp” 23T26Tvào những lực lượng siêu hình. Theo ông, tất cả là do sự sắp đặt của số
23TTrong hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương, phức tạp, bản thân lại đang phải chịu những mâu
mệnh.
thuẫn, giằng xé và bế tắc, Nguyễn Du vẫn giữ được một "trái tim rực cháy những tình cảm
lớn" (Nguyễn Huệ Chi). Đó là tấm lòng xót thương vô cùng trước những cuộc đời bất hạnh.
Tuy xuất thân từ tầng lớp quý tộc nhưng cuộc sống long đong, vất vả đã khiến nhà thơ có cơ
hội gần gũi, thấu hiểu được cảnh ngộ của nhân dân: "Trên con đường gập ghềnh "bụi bay mờ
mịt" của đời ông, cõi lòng nhà thơ vẫn mở ra để đón lấy mọi niềm vui nỗi buồn của con người
23TM. Gócrki nói "Văn học là nhân học". Tác phẩm văn học chính là một tấm gương soi để
và tạo vật quanh mình" [Nguyễn Huệ Chi, 8, 65].
nhà văn thể hiện thế giới tinh thần của minh. Thông qua bài học về cuộc đời Nguyễn Du và
các tác phẩm của ông như 23T26TTruyện Kiều, Văn chiêu hồn, Sở kiến hành, Độc Tiểu Thanh kí...,
các 23T26Tem học sinh hiểu được tấm lòng nhân đạo cao quý của ông. Tấm lòng ấy23T26T 23T26Tkhông chỉ là
một 23T26T''ánh trăng soi" 23T26Tgiữa 23T26T"buổi tối tăm trời đất" 23T26T(Huy Cận) thời cuối Lê đầu Nguyễn mà mãi
mãi vẫn sẽ là một thứ ánh sáng trong trẻo, thanh cao giúp con người Việt Nam chúng ta hôm
nay và cả mai sau sống đẹp hơn, sống tốt hơn. Đối với học sinh, bài học về Nguyễn Du trước
hết là bài học về nhân cách làm người. Nếu cuộc đời Nguyễn Trãi là bài học về người anh
hùng góp phần vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc thì bài học về Nguyễn Du lại chính là
bài học về tấm lòng thương yêu con người. Những tên tuổi lớn trong nền văn học nước nhà
được đưa vào chương trình môn Văn ở trường phổ thông như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,
Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh.,, đồng thời cũng là những nhân cách lớn. Học sinh không
chỉ được học và thẩm thấu giá trị văn chương trong tác phẩm của các tác gia này mà bản thân
nhà văn, cuộc đời và nhân cách của họ cũng là một bài học có giá trị giáo dục tích cực đối với
các em. Những tên tuổi lớn ấy sẽ là những tấm gương sáng về đạo đức, về nhân cách để các
em noi theo trong suốt cuộc đời.
1.2.2. Học “Nguyễn Du và Truyện Kiều”, học sinh thấy được những thành tựu của
23TNguyễn Du là một tác gia có một vị trí lớn trong nền văn học dân tộc và đặc biệt trong
một giai đoạn văn học cụ thể thông qua một tác gia cụ thể.
giai đoạn văn học viết từ cuối thế kỷ 23T29TXVIII 23T29Tđến nửa đầu thế kỷ XIX. Đây là giai đoạn văn học
phát triển rực rỡ, đạt được nhiều thành tựu nhất trong văn học quá khứ nước nhà. Các tác giả
thời kỳ này chẳng những vẽ nên bức tranh sống động về một thời kỳ lịch sử có nhiều biến
động, cất lên tiếng nói chứa chan tinh thần nhân đạo mà còn góp phần đưa tiếng Việt trở thành
23TChuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Tgiúp các em thấy được những thành công về
ngôn ngữ văn học điêu luyện.
mặt nội dung, nghệ thuật và cả hạn chế về mặt tư tưởng của Nguyễn Du trong các sáng tác của
26TTruyện Kiều, 23T26Ttrước hết là một bản cáo trạng bằng thơ đối với xã hột phong kiến đang trên
ông, đặc biệt là 23T26TTruyện Kiều.
đà mụUc ruỗngU. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Du lại chọn 23T26TKim Vân Kiều truyện 23T26Tcủa
Thanh Tâm Tài Nhân để sáng tác nên thiên tuyệt bút 23T26TTruyện Kiều 23T26Tnhằm ký thác tâm sự của
mình. Với 23T26TKim Vân Kiều truyện, 23T26TNguyễn Du đã "tìm thấy hình ảnh của cuộc đời trước mắt,
của vận mệnh con người" [Lê Đình Kỵ, 49, 668]. Viết 23T26TTruyện Kiều, 23T26TNguyễn Du viết
về 23T26T“Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” ở 23T26Tngay chính thời đại mà ông đang sống. Một xã
hội phong kiến Việt Nam "mục nát đến tận xương" (Hoài Thanh) được phơi bày lồ lộ
trong 23T26TTruyện Kiều. 23T26TTừ quan lớn, quan bé, lũ sai nha cho đến bọn buôn thịt bán người... tất thảy
đều vô cùng tàn ác, xấu xa, vô nhân đạo. Đồng tiền trở thành thế lực có sức mạnh vạn năng có
thể làm 23T26T"đổi trắng thay đen", 23T26Tchi phối toàn bộ đời sống xã hội, con người, sống trong xã hội
thối nát ấy, con người làm sao có được hạnh phúc, tự do? Thúy Kiều chính là hình ảnh đau
thương nhất, là "mẫu người bị xã hội dồn lên đầu tất cả những nhục nhã ê chề mà người đàn bà
thời trước phải chịu đựng" [Lê Đình Kỵ, 49, 670]. Người con gái tài sắc và 23T26T"hiếu nghĩa đủ
đường" 23T26Tấy đã phải chịu bao nhiêu chìm nổi đắng cay. Xã hội phong kiến với những bất công,
hà khắc đã đẩy nàng, từ một cô gái trắng trong, hai lần phải làm gái lầu xanh, làm người hầu,
làm lẽ... Sau mười lăm năm lưu lạc, nàng mới được đoàn tụ với gia đình nhưng chính màn
"đoàn viên" này cũng lại là tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến cuối cùng trong 23T26TTruyện Kiều.
19
26TTruyện Kiều 23T26Tlà "đại dương mênh mông của chủ nghĩa nhân đạo" (Mai Quốc Liên). Cảm
hứng chủ đạo trong tác phẩm chính là cảm hứng về thân phận con người. Lời thơ xót thương
kiếp người tài hoa bạc mệnh trong 23T26TTruyện Kiều tha 23T26Tthiết đến nỗi người đọc như thấy có "máu
chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy" [Mộng Liên Đường chủ nhân, 28, 168].
Thế nhưng Thúy Kiều không chỉ là hiện thân của sự khổ đau, Thúy Kiều còn là hiện thân của
những khát vọng hạnh phúc mãnh liệt. Chưa bao giờ trong văn học trung đại lại xuất hiện kiểu
nhân vật tự ý thức về thân phận mình sâu sắc như nhân vật Thúy Kiều của Nguyễn Du. Trong
suốt quãng đời mười lăm năm lưu lạc, chưa bao giờ Kiều thôi ý thức về sự 23T26T"đoạn trường" 23T26Tcủa
mình. Nhưng càng thương thân, càng ý thức về những cô đơn, buồn tủi của mình bao nhiêu thì
khát vọng hạnh phúc trong Kiều lại càng trở nên mãnh liệt bấy nhiêu, ở phương diện này,
Kiều đã không còn là hình ảnh cam chịu nhẫn nhục của người phụ nữ Việt Nam thời trước.
Nhà phê bình Hoài Thanh đã nhận xét: "Sức sống của con người Kiều đã làm rạn nứt cái
23TXuất thân từ giai cấp phong kiến, Nguyễn Du không thể không bị ảnh hưởng bởi hệ tư
khuôn chật hẹp của phong kiến" [102, 458].
tưởng phong kiến. Thế nhưng, trong 23T26TTruyện Kiều, 23T26TNguyễn Du đã thể hiện một quan niệm mới
mẻ, tiến bộ, gần với nhân dân về đạo đức, về giá trị của người phụ nữ trong xã hội xưa.
Nguyễn Du để cho Kiều "xăm 23T26Txăm băng lối vườn khuya một mình" 23T26Tđến với Kim Trọng.
Nguyễn Du không giấu thái độ thương cảm, mến phục trước một Thúy Kiều tuy phải sống
trong cảnh nhuốc nhơ mà vẫn giữ được nhân phẩm của mình. Và cũng chính Nguyễn Du đã
23TNhà nghiên cứu văn học người Nga N. 23T24TI 23T24TNiculin có một nhận xét xác đáng: "Trong tác
mượn lời Kim Trọng để khẳng định "Chữ 23T26Ttrinh kia cũng có ba bảy đường"...
phẩm của Nguyễn Du có nhiều điều mà những kẻ bảo vệ đạo đức thời trung cổ không thể chấp
nhận được. Việc đánh giá lại những giá trị của xã hội phong kiến ở đây có ý nghĩa như một lời
thách thức, như một điều ngang trái đối với họ; những kẻ đáng khinh nhất, theo quan điểm của
lễ giáo phong kiến, lại hóa thành những nhân vật đẹp nhất, cao thượng nhất - đó là nàng Kiều
ở lầu xanh và Từ Hải thủ lĩnh nghĩa quân, một kẻ mà triều đình cho là giặc" [76, 1002]. Xây
dựng nhân vật lý tưởng Từ Hải, Nguyễn Du đã đưa đến cho những con người khốn cùng thời
đó mơ ước, niềm tin đẹp đẽ về một xã hội công bằng, hạnh phúc và tự do. Đây cũng là một
23TThành công về mặt sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du là một trong những thành công
khía cạnh nhân đạo trong tác phẩm.
nổi bật nhất trong nghệ thuật 23T26TTruyện Kiều. 23T26TNhà thơ đã kết hợp một cách tài tình giữa ngôn ngữ
bác học và ngôn ngữ bình dân, đã nhào nặn lại và nâng cao nó. Cuộc sống vất vả, gần gũi với
nhân dân đã khiến cho tác giả 23T26TTruyện Kiều 23T26Tđến được với nguồn mạch phong phú và đẹp đẽ của
ngôn ngữ bình dân. Trong 23T26TKhảo luận về Kim Vân Kiều, 23T26TĐào Duy Anh nhận xét rằng 23T26TTruyện
Kiều 23T26Tlà tác phẩm đầu tiên đã xóa đi được "cái trạng thái chia rẽ" giữa văn chương bác học và
bình dân; là tác phẩm có thể dùng chung cho tất cả mọi người trong xã hội. Chính "âm điệu
nhịp nhàng của câu văn êm dịu như bài hát" [Đào Duy Anh, 5, 404] đã khiến người
đọc 23T26TTruyện Kiều 23T26Tbao nhiêu thế hệ say mê. Với 23T26TTruyện Kiều, 23T26TNguyễn Du có công lớn trong
việc xây dựng và phát triển ngôn ngữ của dân tộc. 23T26T"Truyện Kiều của 23T26TNguyễn Du đánh dấu một
giai đoạn quan trọng trong lịch sử tiếng Việt. Nó đã góp phần làm cho tiếng Việt thêm giàu,
23TRa đời trong một thời đại lịch sử cụ thể, 23T26TTruyện Kiều của 23T26TNguyễn Du, như bất cứ tác
thêm uyển chuyển và 23T26Ttrở 23T26Tnên chính xác, súc tích lạ thường" [Nguyễn Khắc Viện, 112, 53]
phẩm văn học của một giai đoạn cụ thể nào, chịu sự chi phối và thể hiện những đặc trưng thẩm
mĩ của văn học giai đoạn này. Lịch sử văn học dân tộc là một quá trình phát triển liên tục các
giai đoạn văn học kế tiếp nhau. Do điều kiện cụ thể về lịch sử, xã hội mà văn học mỗi giai
đoạn có diện mạo riêng, có những đặc trưng thẩm mĩ riêng, có vị trí và đóng góp nhất định
trọng lịch sử văn học dân tộc. Chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều", ở 23T26Tgóc độ này, có vai
trò quan trọng trong việc giúp học sinh có một cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về một giai đoạn
văn học cụ thể cũng như về tiến trình lịch sử văn học Việt Nam.
1.2.3. Học chuyên mục “Nguyễn Du và Truyện Kiều” trong nhà trường THPT, học
sinh được bồi dưỡng những cảm xúc thẩm mĩ, từ đó góp phần vào việc hình thành nhân
23TMục đích của nền giáo dục phổ thông là đào tạo những con người phát triển toàn diện, có
cách của bản thân.
tâm hồn phong phú, có sự phát triển hài hòa về trí tuệ và tình cảm. Để hướng đến mục đích cao
cả này, môn Văn trong nhà trường có những ưu thế mà không môn học nào có thể so sánh
23TTác phẩm văn học là một thông tin thẩm mĩ mà nhà văn gửi đến bạn đọc, giúp người đọc
được.
thỏa mãn nhu cầu tinh thần cao đẹp của mình. Nguồn tác động thẩm mĩ đối với người đọc ở
đây chính là những hình tượng văn học được nhà văn xây dựng lên thông qua tưởng tượng và
lý tưởng thẩm mĩ của mình. Được lựa chọn để đáp ứng những yêu cầu giáo dục, các tác phẩm
văn học trong nhà trường THPT có tác dụng to lớn trong việc giáo dục thị hiếu thẩm mĩ lành
mạnh cho học sinh, lứa tuổi đang trong giai đoạn phát triển trí tuệ, tâm hồn và nhân cách.
21
23TChuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều", 23T26Tđặc biệt là 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tchứa dựng một
thông tin thẩm mĩ to lớn. Học 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tcác em lĩnh hội được nội dung thẩm mĩ của tác
phẩm. Giá trị hiện thực và nhân đạo cao quý kết tinh trong tác phẩm chính là thái độ thẩm mĩ,
cảm xúc thẩm mĩ của Nguyễn Du trước hiện thực. Qua 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tcác em không chỉ thấy
được bức tranh suy tàn của xã hội phong kiến Việt Nam từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ
XIX mà còn thấy được thái độ bất bình, căm ghét của nhà thơ trước những thế lực chà đạp con
người. Lòng thương cảm, sự ngợi ca đối với nhân vật Thúy Kiều giúp học sinh thấy được lý
tưởng thẩm mĩ - mà cụ thể là những quan niệm tiến bộ của ông về đạo đức, về giá trị người
23TThiên nhiên trong 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcũng là một "nhân vật", một "nhân vật" luôn được miêu
phụ nữ trong một xã hội phong kiến vô nhân đạo.
tả để thể hiện tâm trạng con người. Những câu tuyệt bút miêu tả thiên nhiên trong 23T26TTruyện
Kiều 23T26Tchắc chắn sẽ tác động mạnh đến tình cảm của người đọc - học sinh. "Cảm giác của chúng
ta dồi dào và sắc sảo hẳn lên với những cảm giác phức tạp, nhiều vẻ, nhiều màu mà thi sĩ đã
lượm nhặt lại và cung cấp cho ta như những bó hoa đầy vật sắc. Tập thơ của Nguyễn Du quả
đã mở rộng tầm con mắt người Việt Nam ngày trước và cả ngày nay nữa, cho nó chú ý đến
một thị dã mới mẻ, muôn màu của vật giới và tâm giới" [Đặng Thai Mai, 74, 532]. Nội dung
thẩm mĩ của 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tnhư vậy, chứa đựng những tình cảm cao đẹp có tác dụng bồi đắp
tâm hồn cho học sinh, để các em "không bao giờ nguội lạnh, thờ ơ với số phận con người, luôn
luôn căm phẫn, đau đớn, xót xa vì cái xấu, cái ác và thiết tha yêu thương, hướng về cái tốt, cái
23TBên cạnh nội dung thẩm mĩ, học sinh còn được tiếp xúc với một thế giới đẹp đẽ đến kỳ lạ
đẹp" [Lê Ngọc Trà, 105, 113].
của nghệ thuật ngôn từ trong 23T26TTruyện Kiều. 23T26TLà truyện thơ nên 23T26TTruyện Kiều 23T26Tvừa có yếu tố tự sự
lại vừa thấm đẫm chất thơ. Nguyễn Du, cũng như các nhà thơ lớn khác đã "biết chuyển những
suy nghĩ, cảm xúc của mình về cuộc sống và con người thành những hình tượng nghệ thuật
ngôn ngữ mà lại là thứ hình tượng nghệ thuật ngôn ngữ ngân nga âm hưởng của âm thanh, vần
luật, nhịp điệu" (Trần Thanh Đạm, 19, 44). Tính nhạc điệu - đặc trưng quan trọng của thơ,
cùng với một hệ thống hình ảnh, ngôn từ vừa thanh tao, cao nhã vừa mộc mạc, bình dân đã
làm nên những câu thơ "đẹp như châu ngọc" 23T26Tcủa Truyện Kiều. 23T26TNhững yếu tố ngôn ngữ này
vừa có tác động đến tình cảm thẩm mĩ của học sinh như là một yếu tố hình thức nhưng chúng
lại gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời với nội dung thẩm mĩ của tác phẩm như đã nói ở trên.
1.2.4. Việc dạy học “Nguyễn Du và Truyện Kiều” có một ý nghĩa đặc biệt trong việc
23TTrong nhà trường THPT, văn học trung đại là bộ phận văn chương có nhiều khả năng
giáo dục truyền thống cho học sinh.
trực tiếp làm nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những truyền thống tốt đẹp của dân
tộc. Nhiệm vụ này rất quan trọng bởi vì nó góp phần đào tạo những con người "kết tinh và
phát triển những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn và cốt cách Việt Nam hun đúc qua bốn nghìn
năm lịch sử" [Nguyễn Sĩ Cẩn, 7, 13]. Tại hội thảo khóa học 23T26T"Con người Việt Nam và công
cuộc đổi mời" 23T26T(thuộc đề tài 23T26T"Con người - mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội" 23T26Tdo GS.
TS Phạm Minh Hạc chủ nhiệm) được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, nhiều báo cáo đã
khẳng định một tư tưởng chung: "Thước đo giá trị và nhân phẩm con người Việt Nam hiện
nay là các giá trị nhân văn truyền thống dân tộc như lòng tự hào dân tộc, bản sắc văn hóa dân
tộc, trung với nước, hiếu với dân, cần cù thông minh, năng động sáng tạo" [Hà Nhật Thăng,
23TThế nhưng, trong tình hình hiện nay, việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục truyền thống
103, 64].
đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Đây cũng là những khó khăn, thách thức của
23TCách đây khoảng nửa thế kỷ, khoa học giáo dục nhân văn chiếm một vị trí chủ đạo trong
khoa học giáo dục nhân văn không riêng gì ở nước ta mà còn ở các nước khác trên thế giới.
hệ thống nhà trường Việt Nam và các nước trên thế giới. Nhưng từ giữa thế kỷ XX trở lại đây,
khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai nổ ra thì nền giáo dục trong nhà trường có
sự thay đổi lớn. Xu hướng giáo dục khoa học thực nghiệm càng ngày càng chiếm địa vị thống
lĩnh. Học sinh chỉ chú ý học các môn khoa học tự nhiên, ít hứng thú đối với các môn khoa học
nhân văn. Đối với nền giáo dục Việt Nam cũng như một số nước thì đây là một bước phát triển
nhưng chính sự phát triển không cân đối này đã phải trả giá. Đó chính là sự tụt hậu, sự tàn lụi
của các giá trị nhân văn, các giá trị cổ điển. Nền giáo dục của nhiều nước trên thế giới đã
chứng kiến những biểu hiện sa sút về các giá trị đạo đức ở thế hệ trẻ trong nhà trường. Ta thử
lấy một ví dụ minh họa. Trong một thời gian dài, nước Mĩ vì quá chú trọng giáo dục công
nghệ, trí tuệ, sao lãng việc giáo dục nhân văn cho nên họ đã phải gánh chịu một hậu quả nặng
nề. Đó là sự băng hoại đạo đức, là hiện tượng bạo lực xã hội tràn ngập vào nhà trường đến
mức khó kiểm soát, đe dọa sự an toàn của học đường. "Theo thông báo của Bộ Giáo dục Mĩ
thì cứ 10 trường ở Mĩ có một trường đang đối mặt với tình hình bạo lực hết sức đáng lo ngại.
Riêng năm 1996 - 1997 trong 1.200 trường công ở 50 bang đã có tới 11.000 vụ tấn công bằng
vũ khí, 4.000 vụ lợi dụng tình dục" [Hà Nhật Thăng, 103, 40]. Thực trạng này đã khiến cho
23
chính phủ Mĩ phải thay đổi trong những chủ trương, chính sách giáo dục vào đầu thế kỷ XXI
này. Chưa bao giờ nền giáo dục của Mĩ lại chú trọng đến việc giáo dục thế hệ trẻ tính trung
thực, tính hướng thiện, tính nhân văn, ý thức công dân nhiều như hiện nay. Xu hướng quay về
với khoa học giáo dục nhân văn ở nước Mĩ những năm đầu thế kỷ XXI này là xu hướng có
tính chất thời đại. Nhiều nước trong đó có Việt Nam đang rất quan tâm tới giáo dục đạo đức,
chứ trọng đến các bộ môn khoa học nhân văn như Văn, Sử, Giáo dục công dân... trong nhà
23TViệc dạy học "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Tnhư vậy không chỉ nằm trong phạm vi nhà
trường.
trường THPT mà còn nằm 23T26Ttrong 23T26Tmột bối cảnh rộng hơn của thời đại khoa học kỹ thuật, của sự
hội nhập, toàn cầu hóa... Người giáo viên dạy Văn hơn bao giờ hết càng ý thức được tầm quan
trọng cũng như những khó khăn, thách thức của vấn đề giáo dục truyền thống trong nhà
23TNền văn học dân tộc Việt Nam ta, qua những tác phẩm ưu tú của mình, đã kết tinh đầy
trường THPT hiện nay.
đủ nhất những truyền thống đáng quý của dân tộc. Trong các truyền thống tốt đẹp ấy, tinh thần
yêu nước và tinh thần nhân đạo giống như hai sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử văn học nước ta.
Trong các nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc ta, đại thi hào Nguyễn Du là người đã kế thừa một
cách xuất sắc truyền thống nhân đạo ngời sáng của cha ông. Có thể nói 23T26TTruyện Kiều 23T26Tlà tác
phẩm văn học đã thể hiện tập trung và sinh động nhất tinh thần 23T26T"Thương người như thể
thương thân" 23T26Tcủa nhân dân ta từ ngàn xưa. Trên cơ sở lĩnh hội được nội dung tư tưởng của tác
phẩm, học sinh sẽ thấy được những biểu hiện xiết bao đẹp đẽ của tinh thần nhân đạo Việt
Nam. Giữa một xã hội đầy rẫy khổ đau và bế tắc, tiếng thơ nhân đạo vẫn vút cao bênh vực con
người bị đọa đày, đem đến cho họ niềm tin và ước mơ về những gì tốt đẹp, giúp họ có thêm
nghị lực để vững vàng hơn trong cuộc sống. Có lẽ vì thế mà mặc dầu trong 23T26TTruyện Kiều
"có 23T26Thàng trăm nỗi buồn", chúng ta vẫn thấy được vẻ đẹp trong sáng, sức sống mãnh liệt trong
tâm hồn con người Việt Nam. Học 23T26TTruyện Kiều, 23T26Thọc sinh tự hào trước vẻ đẹp, sức sống diệu
23THọc 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tcác em được đến với một dòng phù sa màu mỡ, tốt lành của ngôn ngữ,
kỳ đó. Và hơn hết, tự hào mình là người Việt Nam.
của tiếng nói Việt Nam. Thể thơ lục bát dân dã cùng với lời ăn tiếng nói mộc mạc của nhân
dân đã 23T27Tđược 23T27Tthiên tài Nguyễn Du nâng lên thành một thứ ngôn ngữ văn học điêu luyện, hết
sức gợi cảm và tinh tế. Thậm chí những điển cố, điển tích, từ Hán Việt ít nhiều xa lạ với cuộc
sống của nhân dân cũng đã được nhà thơ vận dụng một cách sáng tạo khiến cho người đọc dễ
dàng hiểu được ý nghĩa câu thơ. Điều quan trọng là qua việc sử dụng ngôn ngữ, Nguyễn Du đã
thổi vào đó lối nói, cách nghĩ, cách cảm của người Việt Nam, tóm lại là tâm hồn, bản sắc con
người Việt Nam, Tìm hiểu ngôn ngữ 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tcác em học sinh thêm hiểu, thêm yêu tiếng
Việt đồng thời có nhiều cơ hội trau dồi, rèn luyện kỹ năng nói và viết tiếng Việt thân yêu của
23TGS Trần Văn Giàu đã nhận định "Giá trị truyền thống là một sức mạnh vĩ đại không thể
mình. Đây cũng là một cách gìn giữ, phát huy một cách hiệu quả bản sắc văn hóa Việt Nam.
xem thường" [32, 62]. Nhưng các giá trị truyền thống chỉ có tác dụng khi chúng ta khơi dậy
được ở nó ý nghĩa tích cực đối với hiện tại. Xu thế hội nhập cùng với nếp sống hiện đại của
ngày hôm nay tác động không nhỏ đến sự phát biển tâm hồn, tính cách của học sinh trong nhà
trường. Tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân hậu, sự bao dung... mà học sinh học được ở
những tác phẩm văn học quá khứ như 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcần phải được tiếp tục phát huy để biến
23TTóm lại, chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Tđang giữ một vai trò đặc biệt quan
thành những đức tính tốt đẹp ở những con người Việt Nam mới.
trọng trong việc giáo dục các em học sinh "có một tâm hồn, một tính cách Việt Nam, làm cho
các em biết thiết tha gắn bó với quê hương, đất nước, biết từ trong quá khứ mà hiểu được hiện
tại và tin tưởng vào tương lai của tổ quốc" [Trần Thanh Đạm, 18,15].
25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC “NGUYỄN DU VÀ
TRUYỆN KIỀU” TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT HIỆN NAY -
NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN, NGUYÊN NHÂN VÀ TRIỂN
VỌNG
23TĐể tìm hiểu thực trạng cũng như những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và triển vọng
của việc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Ttrong nhà trường THPT, chúng
23T85 giáo viên dạy Văn.
tôi đã tiến hành khảo sát, điều tra, phỏng vấn các đối tượng sau:
23T550 học sinh lớp 23T31T10.
-
23T200 học sinh lớp 11.
-
23T200 học sinh lớp 12.
-
23TCác giáo viên và học sinh nói trên thuộc 12 trường THPT ở địa bàn thành phố Hồ Chí
-
Minh (Trưng Vương, Trần Khai Nguyên, Ten lơ man, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Mạc Đĩnh
Chi, Phan Đăng 23T27TLưu, 23T27TLê Thánh Tôn, Nguyễn Huệ, 23T31Tcấp 23T31TII - III Thủ Thiêm, Củ Chi, dân lập
Nguyễn Khuyến). Đối tượng học sinh tham gia cuộc điều tra, phỏng vấn tương đối toàn diện,
bao gồm học sinh ở nội, ngoại thành, ở các hệ công lập, bán công, dân lập và ở cả bốn trình độ:
23TChúng tôi đã đặt ra trên 30 câu hỏi trắc nghiệm cho giáo viên và học sinh cũng như tiến
giỏi, khá, trung bình, yếu.
hành dự 38 tiết dạy của giáo viên. Đối với học sinh lớp 23T31T10, 23T31Tchúng tôi đặt ra các câu hỏi để các
em trả lời trong nhiều thời điểm: trước khi học chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện
Kiều", 23T26Ttrong khi học và sau khi học xong chuyên mục này. Ngoài các đối tượng trên, chúng tôi
còn điều tra, phỏng vấn một số học sinh đã tốt nghiệp cấp THPT, sinh viên khoa Ngữ văn
thuộc trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
2.1. Những thuận lợi, khó khăn của giáo viên và học sinh khi tiếp cận những bài
học về “Nguyễn Du và Truyện Kiều”.
23TTìm hiểu những thuận lợi của giáo viên và học sinh khi tiếp cận bài học về "Nguyễn Du
2.1.1. Những thuận lợi
và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Ttrước hết phải nói tới một thuận lợi thuộc dạng "tiềm năng". 23T26TTruyện Kiều 23T26Tlà
một kiệt tác nghệ thuật có một không hai trong lịch sử văn học nước ta đã trở nên hết sức quen
thuộc, gắn bó với đời sống của con người Việt Nam. Tình yêu đối với 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcủa người
dân Việt Nam là một thứ tình cảm cao quý luôn được bồi đắp và lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Trước khi tiếp cận với bài học về "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Ttrong nhà trường, các em học
sinh của chúng ta đã làm quen, đã yêu mến 23T26TTruyện Kiều 23T26Tqua lời ru của bà, của mẹ. Thứ tình
cảm bền vững ấy chính là một tiền đề quan trọng tạo thuận lợi cho các em học sinh đi vào thế
23TĐối với phần lớn giáo viên Văn, việc được dạy, được hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu
giới nghệ thuật 23T26TTruyện Kiều.
cái hay cái đẹp của những tác phẩm cổ điển như 23T26TTruyện Kiều 23T26Tlà một niềm tự hào, một hạnh
phúc lớn lao. Nhờ những giờ học như thế này, người thầy giáo dạy Văn thể hiện và phát huy
được những khả năng sư phạm của mình đồng thời truyền lại cho học sinh một cách hiệu quả
23TVới chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều", 23T26Tchắc chắn giáo viên và học sinh sẽ gặp
nhất tình yêu, lòng say mê 23T26Tđối với Truyện Kiều.
phải một số khó khăn vì đây là tác giả, tác phẩm văn học trung đại, chịu ảnh hưởng sâu sắc của
phong cách văn học trung đại. Nhưng 23T26TTruyện Kiều, 23T26Ttự bản thân nó cũng hàm chứa những yếu
tố tạo thuận lợi cho người dạy và người học. Ngoài một nội dung sâu sắc gây xúc động lòng
người, đây còn là một tác phẩm rất giàu hình ảnh và nhạc điệu. Nếu 23T30Tđược 23T30Tchú ý đúng mức, các
23TTrước khi lên lớp 10, học sinh đã được học khá kỹ về tác gia Nguyễn Du 23T26Tvà Truyện Kiều
yếu tố này sẽ có tác động tích cực đến cảm xúc và trí nhớ của học sinh.
ở 23T26Tlớp 9. Chúng tôi nhận thấy trước khi học chuyên mục này ở lớp 10, học sinh còn nhớ tương
23TNhớ được nguồn gốc, lai lịch 23T26TTruyện Kiều: 23T26T531 học sinh trả lời đúng (Nguyễn Du
đối chính xác một số kiến thức cơ bản về tác phẩm 23T26TTruyện Kiều. 23T26TCụ thể:
•
sáng tác 23T26TTruyện Kiều 23T26Tdựa trên cốt truyện 23T26TKim Vân Kiều truyện 23T26Tcủa Thanh Tâm Tài Nhân),
23TNắm được cốt truyện: 395 học sinh xếp đúng thứ tự diễn biến 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tchiếm tỉ
chiếm tỉ lệ 96.5%.
•
23TXác định đúng 23T26TTruyện Kiều 23T26Tđược viết bằng chữ Nôm: 418 học sinh trả lời đúng,
lệ 71.8%.
•
23TNhớ được nội dung 23T26TTruyện Kiều (Truyện Kiều 23T26Tlà bản án đanh thép tố cáo xã hội
chiếm tỉ lệ 76%.
•
phong kiến và là tiếng nói bênh vực con người): 303 học sinh trả lời đúng, chiếm tỉ lệ 55.1%.
27
23TRõ ràng, đây là một thuận lợi lớn đối với học sinh và cả giáo viên. Trên cơ sở những điều
học sinh đã học ở lớp 9, giáo viên có điều kiện củng cố kiến thức cho học sinh cũng như giúp
23TTrước khi học chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều", 23T26Thọc sinh cũng đã được học,
các em hiểu sâu hơn, hiểu kỹ hơn về tác gia Nguyễn Du và kiệt tác 23T26TTruyện Kiều,
được làm quen với một số tác giả tiêu biểu của văn học trung đại như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân
Hương, Nguyễn Khuyến... Các tác phẩm của các tác giả này đồng thời cũng là những tác
phẩm tiêu biểu cho phong cách văn học trung đại với những đặc trưng ngôn ngữ, thi pháp
riêng. Việc học và làm quen với các tác giả, tác phẩm thuộc văn học trung đại trước khi học
chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26Tsẽ giúp các em dễ dàng hơn trong việc nắm được
23TNgoài ra cũng cần phải nói tới những thuận lợi khác có tính chất chung cho việc dạy học.
nội dung bài học.
Giáo viên và học sinh hiện nay có nhiều điều kiện thuận lợi để giảng dạy và học tập. Sự giúp
sức của các phương tiện nghe nhìn, sự đầy đủ về sách vở, đặc biệt là sách tham khảo giúp giáo
viên và học sinh có thêm cơ hội tìm hiểu, đào sâu hơn nội dung giảng dạy và học tập.
23T Tiếp cận những bài học về "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều", 23T26Tgiáo viên và học sinh phải đối
2.1.2. Những khó khăn
23TGiáo sư Đặng Thanh Lê (trong cuốn 23T26TGiảng văn Truyện Kiều) 23T26Tđã dùng nhóm từ
diện với không ít khó khăn, thử thách.
"sự 23T24Tchuyên chế của những khoảng cách" 23T24Tđể chỉ những khó khăn của giáo viên và học sinh
khi tiếp cận bài học 23T26Tvề Truyện Kiều 23T26Tcũng như các tác phẩm văn học cổ điển khác. Đó là
khoảng cách về không gian, thời gian lịch sử, về tâm lí học và khoảng cách được tạo nên bởi
23TChúng tôi tán thành ý kiến của GS Đặng Thanh Lê khi bà cho rằng "Không riêng gì các
sự khác biệt trong phong cách nghệ thuật.
em, người đọc hiện đại ở tất cả các lứa tuổi khi trở về với cội nguồn đã bị chia cắt với tác phẩm
của quá khứ theo chiều dài của năm tháng" [53, 6]. 23T26TTruyện Kiều 23T26Tlà một di sản văn học quá
khứ, ra đời trong một bối cảnh xã hội với những nếp nghĩ, lối sống, sinh hoạt ít nhiều đã trở
thành xa lạ với cuộc sống ngày hôm nay. Sự khác biệt "của những loại hình xã hội" cùng với
"sự biến đổi mãnh liệt, sâu sắc" [Đặng Thanh Lê, 53, 6] của lịch sử đã tạo ra một khoảng chia
cách giữa giáo viên, học sinh với 23T26TTruyện Kiều.
23TCùng với khoảng cách về không gian và thời gian lịch sử là khoảng cách về tâm lí học.
Nhịp sống hiện đại với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, của công nghệ thông
tin đã thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của thế hệ trẻ trong nhà trường, khiến họ trở nên bận rộn
hơn và ít hứng thú trước những tác phẩm văn học của quá khứ. Vì vậy "Những câu thơ cổ điển
23TVăn học Việt Nam thời trung đại là bộ phận văn học tồn tại và phát triển trong khuôn
đi vào trường phổ thông có thể đã bị "chặn đứng" trước tâm thế đó" [Đặng Thanh Lê, 53, 6].
khổ xã hội phong kiến có nền văn hóa riêng, có tư tưởng mĩ học riêng, vì thế có rất nhiều điểm
khác biệt với văn học hiện đại về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật. Theo tác giả Đặng
Thanh Lê, khi đến với 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcũng như đến với các tác phẩm văn học trung đại khác;
học sinh "vấp phải hàng rào của những từ ngữ, địa danh, nhân danh, điển cố, thi liệu... xa lạ,
khó hiểu" [53, 7]. Những "hàng rào" ngăn cách này đã làm hạn chế không ít hứng thú học tập
23TChúng tôi cũng đồng ý với quan điểm của tác giả Lê Xuân Lít trong bài viết 23T26TCái khó khi
của học sinh, đặc biệt trong bước đầu tiên tri giác văn bản.
dạy và học Truyện Kiều 23T26T(đã đăng trên tạp chí 23T26TGiáo dục và Thời đại). 23T26TÔng cho rằng "cái khó
nhất trong dạy và học 23T26TTruyện Kiều" 23T26Tchính là việc dạy học 23T26TTruyện Kiều 23T26Ttrong sự so sánh đối
chiếu với 23T26TKim Vân Kiều truyện 23T26Tcủa Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Chúng tôi nhận thấy
rằng, từ trước đến nay, học sinh chỉ tiếp xúc với văn bản 23T26TTruyện Kiều 23T26T(nói một cách chính xác
hơn là những trích đoạn trong 23T26TTruyện Kiều) 23T26Tvới tư cách là một sáng tác của Nguyễn Du. Các
em chưa được hướng dẫn và cũng chưa có điều kiện để tiếp xúc với 23T26TKim Vân Kiều truyện 23T26Tđể
23TĐối với học sinh lớp 23T31T10, 23T31Tviệc đã học Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều 23T26Tở lớp 9 là một thuận lợi
tự mình kiểm chứng những điều được học trên lớp.
nhưng chính thuận lợi này cũng có thể sẽ biến thành khó khăn cho học sinh và cả giáo viên
nếu quá trình học tập không mang lại cho các em niềm hứng 23T31Tthú, 23T31Tsay mê. Những 23T31Tgiờ 23T31Thọc về
Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều 26T31Tở lớp 10 23T31Trất có thể sẽ trở thành nặng nề, kém hiệu quả bởi nỗi "ám
23TChương trình môn Văn trong nhà trường THPT, với những định hướng giáo dục, đã lựa
ảnh" có sẵn từ trước.
chọn có tính chất áp đặt những tác phẩm, tác giả văn học của nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn
văn học. Dạy học chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều", 23T26Tgiáo viên và học sinh đương
nhiên cũng phải chịu sự áp đặt ấy. Họ bắt buộc phải dạy, phải học những trích đoạn đã 23T24Tđược
lựa chọn sẵn 23T24Ttrong 23T26TTruyện Kiều 23T26Tvà bài thơ 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí. 23T26TCác trích đoạn được lựa chọn
và bài thơ 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí 23T26Tđều hết sức đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, có tác dụng giáo
29
dục lớn nhưng chưa hẳn đã phù hợp với "sở trường" của người dạy và đặc biệt với tâm lí, với
lứa tuổi mới lớn của học sinh lớp 23T31T10. 23T31TĐây cũng là một khó khăn trong sự nỗ lực của người dạy
và người học, để có thể biến sự áp đặt của chương trình thành một sự lựa chọn tự nguyện của
23TĐề cập đến những khó khăn của giáo viên và học sinh trong dạy học "Nguyễn Du
bản thân.
và 23T26TTruyện Kiều", có 23T26Tlẽ cũng cần nhắc đến một vấn đề khác thuộc chương trình và SGK. Với
chương trình môn Văn lớp 1023T31T 23T31Thiện nạy, học sinh đang phải chịu một sự quá tải về kiến thức.
Đó là chưa kể đến 23T24Tsự quá tải về kiến thức 23T24Tở các môn học khác. Chắc chắn sự quá tải này sẽ
23TTheo quy định chung, hiện nay học sinh lớp 10 được học 4 tiết Văn/ tuần (tổng số là 132
gây ra tâm lí mệt mỏi, nặng nề23T26T 23T26Tgiảm bớt hứng thú học tập ở học sinh.
tiết với các phân môn Giảng văn, Tiếng Việt và Tập làm văn). Những tiết học về tác gia
Nguyễn Du, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tvà bài thơ 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí 23T26Tcủa ông được xếp ở học kỳ 23T29TII. 23T29TTổng số
tiết học được quy định: 8 tiết, cụ thể:
• 23TBài văn học sử về tác gia Nguyễn Du: 2 tiết
• 26TTrao duyên: 2 23T26Ttiết
• 26TNhững nỗi lòng tê tái: 2 23T26Ttiết
• 26TThúc Sinh từ biệt Thúy Kiều: 1 tiết
23TKết quả thăm dò, phỏng vấn 85 giáo viên dạy Văn của 12 trường trong địa bàn thành phố
• 26TĐộc Tiểu Thanh kí: 23T26T1 tiết
Hồ Chí Minh cho thấy có tới 80 giáo viên trả lời 23T24Tkhông đủ thời gian 23T24Tđể 23T24Tdạy 23T24Tnhững bài học về
Nguyễn Du, 23T26TTruyện Kiều và 23T26Tbài thơ 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí 23T26T(chiếm 94.1%). Trong thực tế, giáo
viên đang phải làm một công việc tựa như 23T26T"gói voi bỏ giỏ". 23T26TLàm sao để học sinh hiểu 23T26TTruyện
Kiều, 23T26Tyêu 23T26TTruyện Kiều 23T26Tqua một số ít trích đoạn và trong khuôn khổ những tiết học đã được
quy định sẵn? Với cách học như hiện nay, học sinh được tiếp cận với văn bản, có điều kiện
đọc kĩ, nghĩ sâu một số trích đoạn của 23T26TTruyện Kiều. 23T26TNhưng với cách học này, các em chỉ
biết 23T26TTruyện Kiều 23T26Tqua một số mẫu trích, dù được chọn kĩ đến đâu cũng chưa hẳn đã tiêu biểu
cho nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Việc giảng dạy các trích đoạn này sao cho các em
học sinh thấy đây mới chỉ là một sự "dẫn nhập", một sự khởi đầu để đi tiếp vào thế giới rộng
lớn 23T26TTruyện Kiều 23T26Tlà một thách thức và khó khăn đối với giáo viên.
23TNgoài ra, trong quá trình giảng dạy, giáo viên thường bắt buộc phải bám sát vào 23T26TSách
giáo viên - 23T26Tcuốn sách "cẩm nang" cho tất cả giáo viên Văn hiện nay. Điều vướng mắc là không
phải lúc nào giáo viên cũng đồng tình với những hướng dẫn, gợi ý đó.
2.2. Thực trạng dạy học chuyên mục “Nguyễn Du và Truyện Kiều”.
23TChuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện 23T26Ttrong chương trình môn Văn ở trường THPT có
một ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt, thu hút sự quan tâm và sự đầu tư công sức của các nhà
sư phạm cũng như của những giáo viên dạy Văn. Tuy nhiên, ở đây lại 23T24Tđang tồn tại những
nghịch lí; 23T24Tphản ánh thực trạng dạy học chuyên mục này cũng như thực trạng dạy học Văn ở
trường phổ thông hiện nay.
2.2.1. Về phía người học.
2.2.1.1. Học sinh chưa nắm được những kiến thức cơ bản ở bài học về tác gia
23TBài học về tác gia Nguyễn Du nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về cuộc đời cũng
Nguyễn Du.
như sự nghiệp sáng tác của nhà thơ. Thông qua bài học này, học sinh thấy được thiên tài
Nguyễn Du đã được hình thành trong những điều kiện xã hội như thế nào, những đóng góp
quan trọng của nhà thơ đối với nền văn học dân tộc và qua đó thấy được nhân cách lớn
Nguyễn Du. Từ bài học về tác gia, các em sẽ 23T27Tđược 23T27Thình thành và củng cố những kiến thức
23TThực tế cho thấy, sau khi học xong chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều", 23T26Thọc sinh
quan trọng về lý luận văn học.
lớp 10 không nắm được một cách chắc chắn những kiến thức quan trọng của bài học, đặc biệt
là vấn đề tiểu sử và mối quan hệ giữa nhà thơ với thời đại của ông. Sau đây là một vài ghi nhận
34TNội đung điều tra
34TKết quả trả lời
34TSố lượng
35T%
33TXác 23T33Tđịnh Nguyễn Du là tác giả thuộc giai 23TĐúng
23T297
23T54
23Tđoạn từ cuối TK XVIII đến nửa đầu TK
23TSai
23T218
23T39.6
23TXIX
23TKhông có ý kiến
23T35
23T6.4
của chúng tôi về thực trạng này:
31
23TXác định đúng tiểu sử Nguyễn Du
23TĐúng
23T138
23T25.1
23TChưa đủ
23T282
23T51.3
23TSai
23T130
23T23.6
23TBảng thống kê cho thấy có 54% học sinh xác định đúng thời đại mà Nguyễn Du
sống. 23T31Tsố 23T31Tcòn lại (46%) trả lời sai hoặc không có ý kiến (không biết hoặc không chắc chắn). Có
nhiều em cho rằng Nguyễn Du là tác giả thuộc giai đoạn văn học từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ
XV hoặc cuối thế kỷ XIX. Ở câu hỏi trắc nghiệm về tiểu sử Nguyễn Du (về tiểu sử Nguyễn
Du, chúng tôi căn cứ vào SGK văn học 23T31T10 23T31Thiện hành), chỉ có 25.1% học sinh trả lời đúng. Hơn
nửa số học sinh chỉ nhớ được vài điểm như Nguyễn Du quê ở Nghi Xuân - Hà Tĩnh, từng sống
long đong, vất vả. Nhiều học sinh (130 em) trả lời sai khi cho rằng Nguyễn Du quê ở Thăng
23TChúng tôi cũng tiến hành điều tra về thực trạng này ở học sinh lớp l1, 12. Trước yêu cầu
Long hay xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo ...
(xác định xem đâu là tác phẩm của Nguyễn Du) của chúng tôi, có 60 trong số 200 học sinh lớp
l1 xác định đúng, chiếm tỉ lệ 30%. ở học sinh lớp 12, tỉ lệ này chỉ là 23T24T6.5% 23T24T(có 13 trong 200 học
sinh trả lời chính xác). Phần lớn các em chỉ nhận diện được 23T26TTruyện Kiều là 23T26Ttác phẩm của
Nguyễn Du. Đặc biệt có 20% học sinh 23T24Tlớp 1 1 23T24Tvà 27.5% học sinh 23T24Tlớp 23T24T12 23T24Tđã nhầm lẫn nghiêm
trọng 23T24Tkhi cho rằng 23T26TCung oán ngâm khúc, Quốc âm thi tập, Văn tế nghĩa sĩ 26T36TCần 26T36TGiuộc... 23T26Tlà tác
phẩm của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Như vậy, sau một thời gian không học, không quan
tâm đến Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều, ở 23T26Thọc sinh lớp l1, 12, những kiến thức cơ bản về tác gia
23TNhìn chung, 23T24Thọc sinh có tâm lí coi nhẹ 23T24Tbài văn học sử rất quan trọng này.
24T2.2.1.2. Học sinh ít hứng thú, chưa có tâm thế khi học tập.
23TTrong quá trình tìm hiểu thực trạng dạy học chuyện mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện
hết sức quan trọng này đã bị rơi rụng đi gần hết.
Kiều", 23T26Tchúng tôi đã được dự một số giờ đăng kí giáo viên dạy giỏi. Giờ dạy của các giáo viên
như Nguyễn Thị Mai Hồng (Cấp II III Thủ Thiêm),Nguyễn Trần Hạnh Nguyên (Trưng
Vương), Nguyễn Thị Ngọc Lan (Mạc Đĩnh Chi) với sự chuẩn bị công phu của thầy và trò, đã
mang lại được ít nhiều hứng thú23T38T 23T38Tcho học sinh. Giờ học trở nên sinh động hơn nhờ sự hỗ trợ có
hiệu quả của màn hình vi tính, tranh ảnh... Nhưng những giờ học có tính thể nghiệm, tìm tòi
như thế này lại không nhiều.
23TKhảo sát những giờ học khác, chúng tôi rút ra một kết luận: nhìn chung, 23T24Thọc sinh ít
hứng thú, không hào hứng 23T24Ttrong học tập. Điều này được thể hiện ở thái độ thờ ơ, thụ động,
ít phát biểu xây dựng bài, hầu như không thắc mắc ở học sinh trong các giờ học. Giờ học vì thế
23TChúng tôi đã tiến hành phát các phiếu thăm dò, điều tra ngay sau khi 550 học sinh lớp 10
khá đơn điệu và tẻ nhạt, hầu như chỉ có giáo viên hoạt động.
học xong các bài học về chuyên mục này. Trước câu hỏi của chúng tôi (Em không thích học
bài, đoạn trích nào ? ), phần lớn các em đều trả lời "không thích" bài học về Nguyễn Du
23TTên bài học
23THS không thích học
23T%
23TNguyễn Du
23T98
23T17.8
23TTrao duyên
23T97
23T17.6
23TNhững nỗi lòng tê tái
23T220
23T40
23TThúc Sinh từ biệt Thúy Kiều
23T102
23T18.5
23TĐộc Tiểu Thanh Kí
23T131
23T23.8
23TTổng hợp kết quả:
23THọc sinh trả lời không thích học
23T479
23T87.1
23THọc sinh trả lời thích học
23T71
23T12.9
23TBảng thống kê trên cho thấy một tỉ lệ lớn học sinh (87,1%) đã trả lời không thích học
và23T 26TTruyện Kiều 2326T26TT26Tcũng như bài thơ 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí. 2326T26TT26TKết quả cụ thể như sau:
những bài học về Nguyễn Du và Truyện Kiều. Chỉ có 71 trong số 550 em không có ý kiến ( có
thể hiểu là thích học), chiếm một tỉ lệ ít ỏi 12,9%. Trong các bài học về Nguyễn Du và 23T26TTruyện
Kiều, 23T26Tsố học sinh trả lời không thích học đoạn trích 23T26TNhững nỗi lòng tê tái 23T26Tnhiều nhất (chiếm tỉ
lệ 40%). Đặc biệt có một số học sinh đã không ngần ngại trả lời: 23T24Tkhông thích học 23T24Ttất cả
23TChính vì không có hứng thú, chưa có tâm thế học tập mà phần đông học sinh thiếu tích
những bài học về chuyên mục này. Đây thực sự là những con số đáng lo ngại.
cực và tự giác trong học tập. Ở nhiều em, việc học và soạn bài đối với chuyên mục "Nguyễn
Du và 23T26TTruyện Kiều" chỉ 23T26Tlà để đối phó với giáo viên và các kì kiểm tra. Đây cũng là tình trạng
chung trong học Văn hiện nay ở nhiều học sinh. Trả lời phỏng vấn của chúng tôi, không ít học
33
sinh đã thú nhận rằng "Vì không có thời gian, vì bài soạn khó quá nên chép trong các sách học
tốt cho nhanh" mà không tự mình soạn. Có những em dù có chuẩn bị bài nhưng lại không thực
hiện đầy đủ những yêu cầu cần thiết 23T27Tnhư 23T27Tphải đọc các chú thích vốn rất quan trọng trong
SGK... Rất ít học sinh thuộc lòng cả đoạn trích 23T26TTrao duyên 23T26Thay 23T26TNhững nỗi lòng tê tái. 23T26TMột số
em thừa nhận đã học được một đoạn thơ dài (vì giáo viên yêu cầu) nhưng lại "quên mất vì khó
nhớ quá".
2.2.1.3. Học sinh chưa vượt qua được "rào chắn" của từ ngữ, vì thế chưa thực sự
23TTrong phần viết về những khó khăn của học sinh khi tiếp cận bài học về Nguyễn Du
hiểu và rung cảm với bài học.
và 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tchúng tôi đã đề cập đến một khó khăn có tính chất khách quan. Đó là sự khác
biệt về phong cách ngôn ngữ ở 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcũng như các tác phẩm văn học trung đại so với
các tác phẩm Văn học hiện đại. Là một tác phẩm văn học trung đại, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcủa Nguyễn
Du có nhiều từ Hán Việt, điển cố, điển tích... xa lạ, khó hiểu đối với học sinh. Đây là một khó
23TTuy nhiên, ngay cả sau khi đã học xong những bài học về Nguyễn Du và 23T26TTruyện
khăn mà các em chắc chắn sẽ gặp phải trong quá trình tri giác văn bản.
Kiều 23T26Ttrên lớp, vẫn còn rất nhiều học sinh thừa nhận rằng mình chưa hiểu nhiều từ ngữ trong
bài học. Để tìm hiểu về thực trạng này, trước tiên chúng tôi lựa chọn một cách ngẫu nhiên 9 từ
ngữ khó (là các từ Hán Việt hay những điển cố, điển tích: 23T26Tmưa Sở mây Tần, cung cầm, hồng
nhan, chín chữ cao sâu, trân cam, song sa, giấc hương quan, đoạn tràng, liễu Chương
Đài) 23T26Ttrong trích đoạn 23T26TNhững nỗi lòng tê tái 23T26Tsau đó yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: "Em còn
34TSố lượng từ ngữ
34TS ố H S không hiểu
40T%
23TTừ 1 đến 3 23TTừ 4 đến 5
23T54.7 23T22.9
23T301 23T126
23TTừ 6 đến 8
23T8.9
23T49
23TCả 9
23T5.8
23T32
23TTổng hợp kết quả :
23THS không hiểu từ 1 đến 9 từ ngữ
23T92.4
23T508
chưa hiểu từ ngữ nào trong các từ ngữ dưới đây?". Sau đây là kết quả điều tra:
23THS hiểu cả 9 từ ngữ (không có ý kiến)
23T42
23T7.6
23TNhìn vào kết quả điều tra, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng vì có tới23T 24T92.4% 2324T24TT24Thọc sinh
thừa nhận mình đã không hiểu các từ Hán Việt, các điển tích, điển cố trong một bài học cụ
thể.23T 31TSố 2331T31TT31Thọc sinh không hiểu từ 1 đến 3 từ chiếm tỉ lệ cao nhất (54.7%). Đặc biệt nghiêm trọng
là đã có 32 học sinh trả lời không hiểu cả 9 từ ngữ khi được hỏi. Trong số 550 học sinh tham
gia cuộc điều tra, chỉ có 42 em trả lời là hiểu hết 9 từ ngữ được nêu ra, chiếm tỉ lệ ít
ỏi23T 24T7.6%. 2324T24TT24TThực trạng này chắc chắn cũng sẽ xảy ra đối với các bài học khác trong chuyên mục
này. ở đây xuất hiện một23T 24Tmâu thuẫn: 2324T24TT24Tmặc dù chưa hiểu cặn kẽ từ ngữ trong các trích đoạn,
41TNội dung cần xác định
41TSố HS 34T41Ttrả 34T41Tlời đúng
42T%
23TTâm trạng của Kiều trong 23T26TTrao duyên
23T538
23T97.8
23TNhững phẩm chất của Kiều trong 23T26TNhững
23T530
23T96.4
học sinh vẫn trả lời đúng một số nội dung chính của bài học. Ví dụ:
23T537
23T97.6
23TNghệ thuật miêu tả nhân vật Kiều
nỗi lòng tê tái
23TKhi được hỏi về tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích 23T26TTrao duyên, 23T26Tchỉ có 12 em
trong 23T26TNhững nỗi lòng tê tái
trong tổng số 550 học sinh trả lời không chính xác (ví dụ: Thúy Kiều rất vui mừng sau khi đã
trao duyên cho em), số còn lại (538 em) tỏ ra hiểu đúng tâm trạng của Kiều trong đoạn trích
(Kiều vô cùng đau khổ khi phải trao duyên cho em), chiếm 97.8%. Có tới 96.4% học sinh đã
xác định được những phẩm chất cao quý của Kiều trong 23T26TNhững nỗi lòng tê tái 26T27T(Vẫn 23T27Tgiữ được
nhân cách trong cảnh sống nhuốc nhơ; rất có hiếu với cha mẹ; đầy ân tình với Kim Trọng).
Tương tự như vậy, 97.1% học sinh cũng đã xác định được nghệ thuật miêu tả nhân vật Kiều
23TChúng tôi không cho rằng đây là những biểu hiện thành công của những giờ dạy và
trong 23T26TNhững nỗi lòng tê tái 23T26T(nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật).
học 23T26TTruyện Kiều. 23T26TNhững kiến thức mà học sinh có được sau giờ học như thế này phải chăng là
những kiến thức bị áp đặt ? Quá trình cảm thụ văn học phải là quá trình đi từ hiểu đến cảm. Lẽ
đương nhiên muốn lĩnh hội được nội dung tác phẩm, trước hết phải hiểu cho được lớp từ ngữ
35
vốn là thứ công cụ vô cùng quan trọng để nhà văn thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình. Các
em còn chưa hiểu một cách thấu đáo từ ngữ trong tác phẩm thì làm sao có thể hiểu thấu đáo
nội dung của nó? Giờ dạy của giáo viên trên lớp cũng đã bộc lộ điều này: hầu hết giáo viên
dạy theo lối 23T24Táp đặt kiến thức 23T24Tvà học sinh buộc phải ghi nhớ những đơn vị kiến thức cần thiết
để có điểm khi kiểm tra. Cách học áp đặt và máy móc này làm các em mau chóng quên đi
những kiến thức mà lẽ ra sẽ trở thành thứ của cải quý giá làm giàu cho bản thân khi bước vào
23TThực trạng học sinh chưa vượt qua "rào chắn" của từ ngữ để hiểu và rung cảm với bài
đời.
23TLàm văn là một công việc có tính chất thực hành, là kết quả của quá trình vận dụng tri
học còn được thể hiện qua 23T24Tkết quả bài làm 23T24Tcủa học sinh.
thức trong giờ Giảng văn và Tiếng Việt của học sinh. Bài làm văn là nơi học sinh thể hiện rõ
nhất năng lực cảm thụ văn chương cũng như kĩ năng viết tiếng Việt của mình. Khảo sát bài
làm văn của học sinh lớp 10 (đề yêu cầu phân tích một đoạn thơ trong các trích đoạn 23T26TTruyện
Kiều 23T26Thoặc bài 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí), 23T26Tchúng tôi nhận thấy nhiều học sinh tỏ ra không hiểu từ ngữ
trong các trích đoạn 23T26TTruyện Kiều 23T26Tvà bài thơ 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí. 23T26TKhi phân tích các trích đoạn
(hoặc bài 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí), 23T26Tnhiều em đã diễn giải rất thiếu căn cứ ý nghĩa của từ ngữ, và vì
vậy, hiểu sai ý thơ, suy diễn một cách tùy tiện nội dung.câu thơ. Việc 23T24Thiểu sai, suy diễn tùy
tiện 23T24Tnày xảy ra nhiều nhất ở những bài làm có liên quan đến trích đoạn 23T26TNhững nỗi lòng tê
tái 23T26Tvà bài thơ 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí. 23T26TĐiều này rất phù hợp với kết quả điều tra: đây là hai bài các
23TĐọc những bài làm văn của học sinh, chúng tôi thây có một mâu thuẫn. Phần lớn các em
em học sinh trả lời "không thích" học nhiều nhất.
phát biểu được nội dung chính bao trùm toàn đoạn thơ hay bài 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí. 23T26TTuy nhiên,
khi đi vào phân tích cụ thể các từ ngữ hay câu thơ, các em lại bộc lộ nhiều thiếu sót, nhất là
23TKhi phân tích đoạn 23T26TNhững nỗi lòng 26T43Ttê tái 23T43Tcó học sinh đã giải thích nhóm từ 23T26T"mưa Sở,
hiểu sai, suy diễn ý thơ như đã nói ở ữên.
mây Tần" 23T26Tmột cách ngây ngô như sau: 23T26T"mưa Sở mây Tần" có 23T26Tnghĩa là Thúy Kiều rất đau khổ
cho nên không biết gì đến những việc bên ngoài, đến nỗi trời mưa mà Kiều vẫn không hề hay
biết". Một học sinh đã hiểu sai nội dung câu thơ 23T26T"Thân sao bướm chán ong chường bấy
thân" 23T26Tđến mức cho rằng: "Câu thơ nói về thân phận Kiều. Khi Kiều không còn sắc sảo như
xưa thì ngay cả những con ong, con bướm cũng cảm thấy chán". Có em suy diễn: "Nguyễn Du
đã miêu tả Kiều như một con ong con bướm muốn bay đi để thoát khỏi sự giày vò ở lầu xanh".
Tương tự như vậy, câu thơ 23T26T"Riêng mình nào biết có xuân là gì" 23T26Tcũng bị học sinh gán cho
những ý nghĩa xa lạ, ví dụ: "Câu thơ này thể hiện nỗi buồn của Kiều khi nàng không được trở
về gia đình trong mùa xuân"...Tình trạng học sinh hiểu sai ý nghĩa của từ ngữ hay câu thơ
trong bài 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí còn 23T26Tnhiều hơn. Rất nhiều em giải thích một cách thiếu căn cứ về
nhóm từ 23T26T"mảnh giấy tàn" 23T26Ttrong câu thơ dịch 23T26T"Thổn thức bên song mảnh giấy tàn". 23T26TMột số em
cho rằng 23T26T"mảnh giấy tàn" 23T26Ttượng trưng cho sự nghiệp thơ văn của Tiểu Thanh vừa mới chớm
nở song đã tàn phai" hoặc "Nguyễn Du ví Tiểu Thanh như mảnh giấy tàn, tàn đi vì xã hội hà
khắc". Có học sinh thậm chí còn viết: 23T26T"mảnh giấy tàn" 23T26Tý nói Nguyễn Du đã làm thơ về Tiểu
Thanh với những tờ giấy không được tốt nhưng với lòng say mê, ông vẫn cứ làm thơ về Tiểu
Thanh". Một em học sinh khác lại hiểu rằng: "Ba trăm năm sau, Nguyễn Du khi đến Tây Hồ
đã nhặt được những mảnh giấy tàn". Câu thơ 23T26TThổn thức bên song mảnh giấy tàn 23T26Tđược một học
sinh phân tích: 23T26T"Song 23T26Tlà song cửa. Câu thơ gợi lên cho chúng ta hình ảnh Tiểu Thanh có nhiều
đêm phải thổn thức bên song cửa, suy gẫm về cuộc đời sao mà trớ trêu và cay đắng". Cũng em
học sinh này đã lí giải về nhóm từ 23T26T"son phấn có thần" 23T26Ttrong câu thơ dịch Son 23T26Tphấn có thần
chôn vẫn hận 23T26Tnhư sau: "Nguyễn Du muốn nói trong son phấn trang điểm có thần thánh". Cũng
không hiếm trường hợp học sinh giải thích “kí” là kí ức hay "Tây Hồ là một cảnh đẹp ở Thăng
Long"... Chính vì không hiểu chữ Hán cho nên có nhiều học sinh đã "đoán chữ" theo bản dịch.
Hiện tượng này là khá phổ biến. Một em học sinh viết: 23T26T"tẫn thành khứ” 23T26Tlà 23T26T"hóa gò hoang"
- 23T26Tmột nơi tĩnh lặng, thơ mộng, mơ màng", ở một bài khác, từ "ngã" được lí giải: "ngã" tức là
23THiện tượng trên cũng xảy ra ở những bài làm văn phân tích đoạn trích 23T26TTrao duyên, Thúc
khách, những người đang phải chịu án oan...
Sinh từ biệt Thúy Kiều của 23T26Thọc sinh. Rất nhiều em viết sai câu thơ 23T26TNửa in gối chiếc, nửa soi
dặm trường 23T26Tthành 23T26TNửa in gối chiếc, nửa soi 24T26Tdặm đường. 23T24TCó em viết: "Màu 23T26Tquan san" là 23T26Tthứ
màu của tình cảm mãnh liệt, 23T26T"chinh an" 23T26Tlà chinh chiến. Thúy Kiều đang tiễn chồng là Thúc
23TTrên đây chỉ là một số ví dụ tiêu biểu trong nhiều ví dụ chứng minh rằng việc học
Sinh đi chinh chiến nơi xa"...
chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" ở 23T26Thọc sinh THPT hiện nay chưa đạt kết quả như
mong muốn.
2.2.2. Về phía người dạy.
23TĐây là nhận xét có tính chất khái quát của chúng tôi khi dự một số giờ dạy của giáo viên.
2.2.2.1. Thực trạng chung: màn "độc diễn'' khi giảng dạy.
37
23TMột giờ dạy học Văn thực sự mang lại hiệu quả phải là giờ học có sự tham gia tích cực
của học sinh dưới sự gợi ý, hướng dẫn của người thầy. Học sinh phải tìm thấy ở giờ học sự
hứng thú, niềm say mê, kích thích tìm tòi và sáng tạo. Với quan niệm như vậy, giờ dạy học
Văn sẽ không bao giờ bị bó buộc trong khuôn khổ cứng nhắc mà chính là điểm khởi đầu để
23TĐể khơi dậy được niềm yêu thích ở học sinh, người thầy cần phải biết phối hợp nhiều
học sinh bước vào một chân trời rộng mở của tri thức, của hứng thú và khám phá.
phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng và nội dung giảng dạy. Những bài học về
Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tvới những thuận lợi và khó khăn rất đặc trưng của nó, lại càng
cần đến sự vận dụng các phương pháp để làm sao khắc phục khó khăn, phát huy thuận lợi,
23TKhi dự một số giờ dạy của giáo viên, chúng tôi nhận thấy một sự trái ngược: trong khi
mang lại hứng thú cho người học.
phần đông giáo viên tỏ ra say sưa, tâm đắc với nội dung giảng dạy "Nguyễn Du
và 23T26TTruyện 26T45TKiều" 23T45Tthì học sinh lại không mấy hứng thú trong việc học. Các em ít phát biểu ý
kiến xây dựng bài và hầu như không có những ý kiến thắc mắc trong giờ học. Ngoài việc phát
vấn, phương pháp chủ yếu mà giáo viên áp dụng hiện nay vẫn là 23T24Tphương pháp thuyết
trình. 23T24TCác hình thức và hoạt động hỗ trợ cho việc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du
và 23T26TTruyện Kiều" 23T26T(tranh ảnh, băng hình, diễn ngâm, ngoại khóa...) rất ít được giáo viên sử
dụng, nếu có thì cũng chỉ ở những giờ đăng kí giáo viên dạy giỏi. Có 67 trên tổng số 85 giáo
viên khỉ được hỏi đã trả lời 23T24Tkhông 23T24Tsử 23T24Tdụng bất cứ hình thức hỗ trợ việc dạy học nào, 23T24Tchiếm
23TNgười thầy, như vậy đã làm công việc truyền thụ kiến thức một chiều và vì học sinh
tỉ lệ 23T24T78.8%. 23T24TTrên thực tế, theo chúng tôi tỉ lệ này còn lớn hơn nhiều.
không tích cực tham gia hoạt động học tập nên không hứng thú, không thực sự hiểu bài. Trước
câu hỏi (Em có cảm tưởng gì sau giờ học bài 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí ?) 23T26Tcủa chúng tôi, một học
sinh đã trả lời: "Cô dạy hay nhưng em không hiểu bài thơ". Chúng tôi cho rằng đây là câu trả
lời rất thật mặc dù nó chứa đựng ít nhiều mâu thuẫn. Phải chăng việc "dạy hay" này có liên
24T2.2.2.2. Ở bài học về tác gia Nguyễn Du.
24TDạy bài nào biết bài nấy, 23T24Tít chú ý đến những vấn đề khác có liên quan đến bài học (như
quan đến vấn đề giáo viên chỉ chú ý "biểu diễn” kiến thức mà ít chú ý đến đối tượng học sinh.
học sinh đã biết cái gì, đã được học cái gì) là một thực tế khá phổ biến ở giáo viên dạy Văn
hiện nay.
23TTrước 23T31Tkhi 23T31Tlên 23T31Tlớp 10, 23T31Thọc sinh 23T31Tđã 23T31Tđược học về Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều 23T26Ttrong đó có
những phần được học khá kĩ. Trong bài khái quát về 23T26TTruyện Kiều ở 23T26Tlớp 9, SGK đã dành tới 8
trang để tóm tắt truyện. So sánh với SGK văn lớp 23T31T10, 23T31Tchúng tôi thấy các nhà biên soạn rất có
lí khi chỉ dành một số dòng hạn chế để nhắc lại nội dung cốt truyện, Nhiều giáo viên có lẽ vì
không hiểu dụng ý củaSGK mà dành khá nhiều thời gian để hướng dẫn học sinh tóm
tắt 23T26TTruyện Kiều. 23T26TVới thời lượng 2 tiết cùng nhiều nội dung quan trọng khác phải hướng dẫn
23TTương tự như vậy, giáo viên rất quan tâm hướng dẫn học sinh vấn đề lai lịch của 23T26TTruyện
cho học sinh, việc làm này gây lãng phí thời gian, công sức của giáo viên, học sinh.
Kiều 23T26T- đơn vị kiến thức học sinh đã biết ở lớp dưới mà ít chú ý đến một vấn đề quan trọng hơn:
sự sáng tạo của Nguyễn Du. ở điểm này, giáo viên thường 23T24Thướng dẫn chung chung, 23T24Tchẳng
hạn: so với 23T26TKim Vân Kiều truyện 23T26Tcủa Thanh Tâm Tài Nhân, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcủa Nguyễn Du có
nhiều sáng tạo. Nhưng 23T26TTruyện Kiều 23T26Tsáng tạo ở chỗ nào thì giáo viên ít đề cập đến. Trong quá
trình làm việc, chúng tôi đã ghi nhận một số ý kiến của giáo viên về vấn đề này. Không ít
người cho rằng, SGK đã nói kĩ về những sáng tạo của Nguyễn Du, vì vậy không cần nhắc lại
mà chỉ yêu cầu học sinh về nhà đọc là đủ. 23T26TCó 23T26Tlẽ từ chỗ coi nhẹ này mà có học sinh đã viết
"Nguyễn Du là một nhà thơ tài năng vì ông đã tạo nên được một cốt truyện hay, lạ và hấp dẫn"
23TKhi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du, 23T24Tgiáo
(trích bài làm của học sinh).
viên ít chú ý tới mối quan hệ giữa nhà thơ với thời đại mà ông sống. 23T24TKết quả điều tra cho
thấy mặc dù mới vừa học xong, nhiều học sinh vẫn lúng túng trước câu hỏi: Nguyễn Du là tác
giả thuộc giai đoạn văn học nào? (gần 50% trả lời không chính xác). Đa số giáo viên chưa liên
hệ, vận dụng những kiến thức học sinh đã học - trong bài khái quát giai đoạn văn học - để giúp
học sinh khắc sâu được mối quan hệ này. Chưa chú ý đúng mức tới mối quan hệ của Nguyễn
Du với thời đại mình (bao gồm thái độ ứng xử cửa nhà thơ trong nhiều mối quan hệ: với thời
cuộc, với nhân dân và danh lợi...), người thầy như vậy chưa khắc sâu được cho học sinh bài
học về nhân cách Nguyễn Du. Với cách dạy như thế này, học sinh mới chỉ biết Nguyễn Du với
tư cách là một nhà thơ lớn của dân tộc, là tác giả của kiệt tác 23T26TTruyện Kiều. 23T26TẤn tượng về
Nguyễn Du như một nhân cách lớn - một niềm tự hào có tác dụng giáo dục đạo đức cho thế hệ
23TGiờ dạy về tác gia văn học là giờ dạy mà người thầy phải huy động nhiều kiến thức cũng
trẻ chưa thật sâu đậm trong học sinh.
như năng lực sư phạm của mình. Khảo sát một số giờ dạy tác gia Nguyễn Du, chúng tôi có
cảm nhận rằng những 23T24Tgiờ dạy này còn khô khan, thiếu những minh họa cần thiết 23T24Tđể cụ thể
39
hóa những kiến thức khái quát trong bài học. Những tư liệu về cuộc đời, về tác phẩm hoặc
những nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu có uy tín về Nguyễn Du, về 23T26TTruyện
Kiều 23T26Tchưa được giáo viên chú ý khai thác để giờ học trở nên sinh động hơn. Tình trạng 23T24Tgiáo
viên coi nhẹ bài văn học 23T24Tsử này cũng là một thực tế mà chúng tôi ghi nhận được.
23TỞ những bài học này, nhìn chung giáo viên đã phát huy được ưu thế của giờ giảng văn.
2.2.2.3. Ở bài học về các trích đoạn trong Truyện Kiều.
Giờ học trở nên hấp dẫn hơn, có nhiều chất văn hơn so với bài văn học sử về tác gia Nguyễn
23TTrong quá trình giảng dạy, phần lớn giáo viên đã chú ý đúng mức tới vấn đề 23T24Tvị trí của
Du và 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí.
đoạn trích 23T24T(Khi được hỏi, 85.2% học sinh xác định đúng vị trí đoạn 23T26TTrao duyên). 23T26THầu hết
giáo viên đều yêu cầu học sinh đọc hoặc tóm tắt vị trí của đoạn trích từ phần 23T26TTiểu dẫn 23T26Tcủa
SGK. Việc chú ý đến vị trí đoạn trích trong hệ thống cốt truyện là một việc làm rất cần thiết và
26TTruyện Kiều 23T26Tlà một tác phẩm tự sự được xây dựng trên cơ sở những biến cố, sự kiện
có ý nghĩa trong việc hướng dẫn học sinh lĩnh hội nội dung bài học.
lớn: 23T26TGặp 23T26Tgỡ, 23T26Tđính ước - Gia biến, lưu lạc - Đoàn tụ. 23T26TTheo GS Đặng Thanh Lê, việc xác định vị
trí đoạn trích trong hệ thống cốt truyện "không chỉ có ý nghĩa để người thầy giáo giới thiệu
"xuất xứ đoạn trích", "vị trí đoạn trích", Nó còn có ý nghĩa xác định những phương hướng
khám phá, lĩnh hội tinh thần chung của đoạn thơ" [Đặng Thanh Lê, 53, 9]. Việc gắn vị trí đoạn
trích với nội dung giảng dạy như vậy có một ý nghĩa "chiều sâu". Mỗi đoạn trích đều nằm
trong hệ thống các sự kiện, biến cố của truyện cho nên một cách tự nhiên sẽ quy định cách
khai thác các hình tượng nghệ thuật, các yếu tố ngôn ngữ. Các trích đoạn 23T26TTrao duyên, Những
nỗi lòng tê tái, Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều đều 23T26Tnằm trong biến cố 23T26TGia biến và lưu lạc 23T26Tcủa
23TGiáo viên cũng đã chú trọng đến việc 23T24Tphân tích những diễn biến nội tâm của nhân
truyện, vì thế, giọng điệu chủ yếu là buồn đau, tê tái.
vật 23T24TThúy Kiều trong các trích đoạn 23T26TTrao duyên, Những nỗi lòng tê tái. 23T26TĐây là cách giảng dạy
đúng hướng. 23T26TTruyện Kiều 23T26Tlà một tác phẩm tự sự, do đó hình tượng nhân vật luôn gắn liền với
một chuỗi những sự kiện, biến cố làm nên cốt truyện. Tính cách nhân vật trong
Truyện 23T26TKiều 23T26Tcũng giống như các tác phẩm tự sự khác, luôn là sự thể hiện toàn diện của con
người từ diện mạo bên ngoài đến suy nghĩ bên trong. Nhưng điểm khác biệt giữa 23T26TTruyện
Kiều 23T26Tcủa Nguyễn Du và 23T26TKim Vân Kiều truyện 23T26Tcủa Thanh Tâm Tài Nhân lại chính là ở chỗ này.
Tuy dựa khá sát vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng Nguyễn Du đã lược bỏ đi rất
nhiều chi tiết để chú ý khai thác tối đa nội tâm nhân vật, đặc biệt là nội tâm nhân vật Thúy
23TĐối với trích đoạn 23T26TThúc Sinh từ biệt Thúy Kiều, 23T26Tphần lớn giáo viên đã chú ý hướng dẫn
Kiều. Đây chính là một trong những đặc điểm thi pháp nổi bật của kiệt tác 23T26TTruyện Kiều.
học sinh đi vào tìm hiểu nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích đặc sắc này. Nằm trong
hệ thống thi pháp chung của tác phẩm, mỗi trích đoạn 23T26TTruyện Kiều 23T26Tđồng thời lại có những đặc
điểm riêng, có những hình thái ngôn ngữ riêng đòi hỏi người dạy và người học phải chịu khó
tìm tòi, khám phá. Các giờ dạy của giáo viên đối với các trích đoạn 23T26TTruyện Kiều 23T26Tđã phần nào
23TNgoài những ưu điểm nói trên, chúng tôi nhận thấy còn một số hạn chế ở những giờ dạy
làm bật lên được đặc điểm riêng, hình thái ngôn ngữ riêng này.
23TTrước hết, có thể thấy rằng 23T24Tgiáo viên chưa khai thác được một cách hiệu quả tính
các trích đoạn 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcủa giáo viên.
27TỞ 23T27TViệt nam ta, ngay từ khi mới ra đời, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tđã là một tác phẩm văn chương có
nhạc điệu 23T24Tcủa những câu thơ trong 23T26TTruyện Kiều.
sức hấp dẫn kì lạ đối với mọi người, mọi lứa tuổi. 23T26TTruyện Kiều 23T26Tsở dĩ dành được tình cảm trọn
vẹn của mọi người dân Việt Nam là bởi vì trước hết nó rất giàu hình ảnh và nhạc điệu. "Những
âm thanh êm dịu như lời hát" của 23T26TTruyện Kiều 23T26Tchính là tinh hoa của âm điệu, nhạc điệu tiếng
Việt. Chưa thể hiện được tính nhạc điệu 23T26Tcủa Truyện Kiều 23T26Ttrong giờ dạy cũng có nghĩa là người
thầy chưa phát huy được thuận lợi của việc dạy học 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcũng như chưa chuyển tải hết
đặc sắc của kiệt tác này. Những giờ học có tính chất nghiên cứu khô khan về 23T26TTruyện
Kiều 23T26Ttrong trường THPT hiện nay đã khiến cho học sinh không tiếp xúc được với yếu tố nhạc
điệu của tác phẩm. Trong khuôn khổ chật hẹp của giờ dạy, người thầy thường chỉ cố gắng
hoàn tất nội dung bài học. 23T27TVấn 23T27Tđề đọc diễn cảm các trích đoạn cũng được chứ ý nhưng chưa
thể thể hiện hết nhạc điệu của 23T26TTruyện Kiều. 23T26TDiễn 23T26TKiều, 23T26Tngâm 23T26TKiều, 23T26Tlẩy 23T26TKiều... 23T26Tlà những hình
thức rất có hiệu quả thể hiện nhạc điệu của 23T26TTruyện Kiều 23T26Tlại chưa được giáo viên mạnh dạn đưa
vào giờ dạy chính khóa cũng như ngoại khóa theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học
23TTính chất dàn đều và sự hạn chế về thời lượng các giờ học không cho phép giáo viên đi
hiện nay.
vào phân tích cặn kẽ tất cả những từ ngữ khó. Để giúp học sinh vượt qua được lớp "rào chắn"
từ ngữ trong các trích đoạn 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tngười thầy phải có một cách thức, một phương pháp
nào đó. Trên thực tế, 23T24Tgiáo viên ít giảng giải từ ngữ khó 23T24Tcho học sinh cũng như 23T24Tkhông
thường xuyên kiểm tra việc đọc các chú thích trong SGK 23T24Tcủa các em. Có lẽ vì vậy mà học
41
sinh, với sự áp đặt của người thầy, chỉ nắm được bài học trên những nét lớn chứ không thực sự
hiểu và "cảm" được cái hay, cái đặc sắc của câu thơ 23T26TKiều. 23T26TMang dấu ấn thi pháp văn học trung
đại, 23T26TTruyện Kiều 23T26Tcó sự hiện diện của nhiều từ Hán Việt, nhiều điển cố, thi liệu... xa lạ, khó
hiểu đối với học sinh: "Theo thống kê của tổ tư liệu Viện Ngôn ngữ thì trong số 3412 từ
của 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tcó 1310 từ Hán Việt, tức là từ Hán Việt chiếm tỉ lệ 35% trong tổng số từ của
tác phẩm" [Nguyễn Lộc. 65, 768]. 23T46TNhưng 23T46TNguyễn Du, với tài năng của mình, đã sử dụng sáng
tạo những yếu tố ngôn ngữ trên, khiến người đọc, cho dù không thật hiểu những từ Hán Việt,
điển cố, điển tích thì cũng có thể hiểu được nội dung câu thơ. Tuy nhiên, những số liệu chúng
tôi đã trình bày trong phần viết về học sinh (kể cả trong bài làm văn của các em), đã chứng
minh rằng có rất nhiều học sinh chẳng những không hiểu từ ngữ mà còn không hiểu cả nội
dung câu thơ 23T26TKiều. Là 23T26Tmột tác phẩm tự sự nhưng ngôn ngữ của 23T26TTruyện Kiều 23T26Tlại là ngôn ngữ
thơ ca hết sức tinh tế và giàu cảm xúc. Sẽ thật lãng phí nếu như giáo viên Văn của chúng ta
không biết mang lại những rung động cho học sinh qua việc lựa chọn để tập trung phân tích
23TChúng tôi cũng ghi nhận một thực tế đồng thời cũng là vướng mắc của nhiều giáo viên
cái đẹp của một số từ ngữ, câu thơ 23T26TTruyện Kiều.
văn về việc giảng dạy một chi tiết trong đoạn trích 23T26TTrao duyên, 23T26TĐó là chi tiết 23T41T"chiếc thoa" 23T41Tkỷ
26TChiếc thoa với bức tờ mây
26TDuyên này thì giữ, vật này của chung.
23T(Trích 23T26TTrao duyên - Truyện Kiều)
29TVề 23T29Tchi tiết này, SGK giải thích như sau: 23T26T"Chiếc thoa: 23T26Tđồ trang sức cài đầu của phụ nữ
vật của Kim - Kiều trong câu hai thơ:
xưa kia. Khi Kiều nhận lời yêu Kim Trọng, nàng tặng Kim Trọng chiếc thoa. Kim Trọng tặng
lại nàng chiếc khăn hồng: 23T26T"Được lời như cởi tấm lòng. Giở kim thoa với khăn hồng trao tay".
Tờ mây: tờ 23T26Tgiấy có vẽ mây ghi lời thề nguyền của hai người trong đêm gặp gỡ tình tự trước
đây" [11, 169]. Nhiều giáo viên thừa nhận rằng đây là một vướng mắc khiến họ rơi vào tình
trạng lúng túng khi giảng dạy. Một số giáo viên không đồng tình với cách giải thích trong
SGK, họ cho rằng giải thích như vậy là mâu thuẫn với câu thơ của 23T26TTruyện Kiều. 23T26TNếu căn cứ
vào hai câu thơ: 23T26T"Chiếc thoa với bức tờ mây - Duyên này thì giữ, vật này của chung", 23T26Tcó thể
hiểu rằng 23T26Tchiếc thoa, bức tờ mây 23T26Tlà những kỉ vật mà Kiều đã đau xót, luyến tiếc trao lại cho
Thúy Vân. Còn nếu căn cứ vào chú thích của SGK, thì giáo viên và học sinh phải hiểu rằng
Kiều đã tặng chiếc thoa cho Kim Trọng rồi, đâu còn nữa để trao lại cho em ? Một số giáo viên
khác lại cho rằng: khi phải trao duyên cho em, Kiều đã quá đau khổ. 23T26TVì thế, "chiếc thoa", "bức
tờ mây", "phím đàn", "mảnh hương nguyền” 23T26Tđược nhắc đến trong đoạn thơ là những kỉ vật của
tình yêu ở cả hiện tại lẫn quá khứ, không nên tách bạch ra... Tuy nhiên, vì nhiều lí do (hoặc
không có thời gian, hoặc chưa hiểu tường tận và không thấy 23T26TSách giáo viên đề 23T26Tcập đến), nhìn
chung giáo viên chỉ giảng đại khái: đó là kỉ vật tình yêu của Kim - Kiều. Cách xử lí này, theo
chúng tôi là chưa thỏa đáng. Chúng tôi xin được trở lại vấn đề này ở chương sau của luận văn.
26TĐộc Tiểu Thanh kí 23T26Tlà bài thơ chữ Hán đặc sắc của Nguyễn Du được đưa vào chương
2.2.2.4. Về tình hình giảng dạy bài thơ Độc Tiểu Thanh kí.
trình chính khóa môn Văn lớp 10 hiện nay. GS Nguyễn Khắc Phi, trong một bài viết trên tạp
chí 23T26TGiáo dục và Thời đại 23T26Tđã nhận định rằng đây là một tác phẩm 23T24T"hay mà khó". 23T24TCó lẽ vì tính
chất này mà tạp chí 23T26TGiáo dục và Thời đại 23T26Tđã tổ chức diễn đàn bình giảng 23T26TĐộc Tiểu Thanh
kí 23T26Tvào tháng 7 năm 2001 và đã thu hút được đông đảo các ý kiến tranh luận của các nhà nghiên
cứu, các nhà sư phạm và giáo viên dạy Văn trên khắp các miền đất nước.Có một khó khăn
chung cho việc dạy học bài thơ 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí. 23T26TĐó là việc cả thầy và trò phải dạy, phải học
bài thơ qua bản dịch - tất nhiên sẽ có những hạn chế nhất định, trong khi bản thân lại biết rất ít
hoặc không biết chữ Hán. Khó khăn này đã hạn chế đáng kể sự cảm thụ các giá trị đích thực
của tác phẩm. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho giáo viên "ngại" dạy bài 23T26TĐộc Tiểu Thanh
Kí 23T26Tnhất so với các bài khác trong chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều" 23T26T(Theo kết quả
23TKhảo sát các giờ dạy, chúng tôi thấy rằng hầu hết giáo viên lấy những gợi ý trong 23T26TSách
điều tra, có 35/85 giáo viên thừa nhận đây là bài khó dạy nhất, chiếm 41.2%).
giáo viên 23T26Tlàm cơ sở cho bài giảng của mình nhưng cũng có giáo viên lại không thỏa mãn với
sự gợi ý này. Do vậy, 23T24Tquan điểm giảng dạy bài 24T34TĐộc Tiểu Thanh kí 24T34Trất không thông
nhất. 23T24TĐiều này hoàn toàn phù hợp với tình hình chung: đây là bài thơ còn đang gây nhiều
47TUVề U34T47TUhoàn cảnh sáng tác U34T47TUbài thơ:U 23T47Tmặc dù có nhiều ý kiến khác nhau, nhìn chung giáo viên
tranh luận, chưa có sự thống nhất về nhiều phương diện.
vẫn hướng dân học sinh theo quan điểm trong 23T26TSách giáo viên. 23T26TỞ bài hướng dẫn này, GS
Nguyễn Lộc viết: 23T26T"Độc Tiểu Thanh kí 23T26Tnằm trong tập thơ 23T26TThanh Hiên thi tập 23T26Tviết vào những
năm tháng trước khi Nguyễn Du ra làm quan cho triều Nguyễn, chứ không phải viết khi ông đi
47TUVề U34T47TUbốn câu đầu của U34T47TUbài thơU: 23T47Ttrong nhà trường THPT hiện nay 23T24Ttồn tại nhiều cách
sứ Trung Quốc" [12, 129].
hiểu, 23T24Tgây không ít khó khăn và thắc mắc cho giáo viên và học sinh. Chỉ riêng cụm từ 23T26T“nhất
chỉ 26T43Tthư” 23T43Tở câu thơ thứ hai đã được giáo viên giải thích bằng nhiều cách khác nhau. Chúng tôi
43
tạm chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất đông hơn cả, giải nghĩa câu thơ thứ hai như hướng
dẫn trong 23T26TSách giáo viên: 23T26T"Nhà thơ nói ông viếng người đã mất bằng cách đọc tập thơ còn sót
lại của nàng" [12, 130]. Ở phần 23T26TTiểu dẫn 23T26Ttrong SGK, GS Nguyễn Lộc cũng xác định 23T26T"Tiểu
Thanh kí 23T26Tlà tập thơ của Tiểu Thanh" [11, 176]. Trên cơ sở đó, 23T26T"phần dư" 23T26Ttrong câu thơ thứ tư
cũng được hiểu là phần còn lại của tập 23T26TTiểu Thanh kí 23T26Tsau khi bị đốt. Chúng tôi xin trích dẫn
một chú thích có liên quan đến chữ 23T26T"phần dư” 23T26Tcủa SGK: "đốt còn vương: (dịch chữ 23T26T"phần dư”
, 23T26Ttức 23T26T"phần dư cảo") 23T26Ttập thơ bị đốt còn sót lại, cũng chỉ tập 23T26TTiểu Thanh kí. 23T26TNàng Tiểu Thanh có
viết một tập thơ nói về tâm sự của mình. Lúc nàng chết rồi, người vợ cả vẫn còn ghen lấy đốt
đi, chỉ sót lại một số bài người ta 23T51Tsưu 23T51Ttập lại gọi là 23T26T"phần dư cảo" 23T26T..." [11, 178]. Căn cứ vào
hướng dẫn này, giáo viên đã giảng nghĩa cho học sinh phần 23T26T“dư cảo” 23T26Ttức phần thơ (trong tập
thơ của Tiểu Thanh) bị người vợ cả đốt còn sót lại. Tập thơ mà Nguyễn Du đọc 23T26T"bên
23TNhóm thứ hai cho rằng 23T26T“nhất chỉ thư” 23T26Tchỉ một tập truyện viết về Tiểu Thanh. Nguyễn
song" 23T26Tchính là phần thơ bị đốt còn sót lại này..
Du đọc tập 23T26TTiểu Thanh kí 23T26Ttức là đọc tập truyện này. Đây là nhóm giáo viên không đồng tình
với quan điểm của SGK. 23T31TSố 23T31Tgiáo viên này khẳng định họ dạy theo một số sách tham khảo
đáng tin cậy. Từ 23T26T“phần 26T43Tdư” 23T43Ttrong câu thơ 23T26TVăn chương vô mệnh lụy phần dư 23T26Tcũng được những
giáo viên này giải thích theo một cách khác: sau khi Tiểu Thanh chết, người ta đã tìm thấy
những bài thơ còn sót lại của nàng, có người đã tập hợp lại và gọi là 23T26T“phần 26T43Tdư”. 23T43TCách hiểu này
23TCách giảng dạy hai câu thực (câu ba và bốn) của bài thơ cũng rất khác nhau. Phần đông
không phải là không có cơ sở. Chúng tôi xin phép được trình bày kĩ hơn ở phần sau.
giáo viên 23T24Ttỏ ra lúng túng 23T24Tkhi giảng giải cho học sinh hai câu thơ này. Một mặt, giáo viên vẫn
bám sát vào những gợi ý trong 23T26TSách giáo viên, 23T26Tmột mặt lại cho rằng sách viết chưa thật dễ
hiểu, SGK dịch nghĩa hai câu thơ này như sau: 23T26T"Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những
việc sau khi chết. Văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở" 23T26T[11, 177]. 23T26TSách giáo
viên, 23T26Ttrên cơ sở đó, gợi ý cho giáo viên: "Câu 3, bản dịch văn xuôi là 23T26T"Son phấn có thần chắc
phải xót xa vì những việc sau khi chết". 23T26TNhững việc sau khi chết là những việc gì? Có thể hiểu
là những việc liên quan đến Tiểu Thanh, như sau khi nàng chết rồi người vợ cả vẫn còn ghen,
vẫn còn tìm cách tiếp tục trả thù nàng như đốt tập thơ của nàng. Nhưng cũng có thể hiểu rộng
ra, đó là những việc ngang trái của cuộc đời nói chung, nó không phải kết thúc với cái chết của
nàng, mà nó vẫn cứ tồn tại cả sau khi nàng chết. Câu thứ 4 cũng có thể hiểu như thế" [12, 130
- 131]. Từ gợi ý này, giáo viên thường hướng dẫn học sinh một cách dễ hiểu hơn: 23T26T"Son
phấn" 23T26T(tức Tiểu Thanh) chết đi còn ôm mối hận vì sau khi - nàng chết mà người vợ cả còn
ghen đến độ đốt tập thơ của nàng. 23T26T"Văn chương" 23T26T(chỉ tập thơ của nàng) không có số mệnh như
23TKhông đồng tình với cách hiểu trên, một số giáo viên (thuộc nhóm thứ hai) đã giảng dạy
con người mà cũng bị đốt, chỉ sót lại 23T26T“phần dư”.
theo cách khác. Họ đã phân tích, hướng dẫn học sinh theo hướng: Tiểu Thanh 23T26T(son phấn) 23T26Tdù
có chết đi nhưng nàng vẫn để lại nỗi tiếc thương cho người đời sau. Văn chương của nàng
không có số mệnh nhưng những bài thơ còn sót lại của nàng vẫn làm cho mọi người phải rung
động. Nhóm giáo viên này, trong khi giảng dạy đã đề cập đến tình tiết về ba bức tranh trong
câu chuyện về Tiểu Thanh (Về tình tiết nay, nhiều sách viết rằng trước khi chết, Tiểu Thanh
có cho mời một họa sĩ đến vẽ chân dung cho nàng. Hai bức đầu đều không đạt, bức thứ ba đạt
hơn cả vì đã thể hiện được thần thái của nàng. Sau đó Tiểu Thanh tự tế mình trước bức tranh
rồi vì xúc động quá mà qua đời. Vợ cả biết được, đốt hết mất hai bức, còn sót lại bức vẽ thứ
ba). Những giáo viên này cho rằng câu thơ 23T26TSon phấn hữu thần liên tử hậu 23T26Tlà câu thơ có liên
quan chặt chẽ đến ba bức họa kia. Người đời sau khi ngắm nhìn bức họa duy nhất còn lại của
23TCũng về hai câu thơ này, GS Mai Quốc Liên, trong bài viết 23T26TNhững bí ẩn và rắc rối trong
Tiểu Thanh mà thương cảm cho nàng.
bài Độc Tiểu Thanh kí 23T26T(đăng trên báo 23T26TVăn nghệ) 23T26Tđã đề nghị: "Để hiểu được nghĩa đen của câu
thơ, trước hết phải hiểu được nhóm từ “23T26Tliên tử hậu” 23T26Tvà 23T26T“lụy phần dư”. Liên 23T26Tlà động từ, nhưng
ở đây là một động từ trí sử, một động từ sai khiến... và 23T26Tliên 23T26Tphải được dịch thành: khiến cho
người ta thương" [54]. Ý kiến của GS Mai Quốc Liên đã gợi ra cho chúng tôi thấy hạn chế lớn
nhất ở trong những giờ dạy học bài 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí 23T26Tchính là ở chỗ cả thầy và trò, 23T24Tvì không
có vốn chữ Hán 23T24Tcho nên đã dạy, đã học một cách máy móc, có phần cảm tính chứ chưa chủ
23TSự thiếu hiểu biết về chữ Hán của người dạy, người học là một yếu tố 23T24Tcần 23T24Tđược tính đến
động khai thác được nội dung của các từ ngữ trong nguyên tác.
trong quá trình biên soạn SGK. Chúng tôi nhận thấy rằng SGK chưa thật chú ý đến vấn đề
này. Trong phần 23T26THướng dẫn học bài, 23T26TSGK đã yêu cầu học sinh: "Hãy đọc kĩ nguyên văn và
bản dịch nghĩa câu thơ để hiểu chính xác bài thơ vì bài thơ địch có đôi chỗ nghĩa không được
rõ" [l1, 178]. Theo chúng tôi, đây là yêu cầu quá cao đối với các em. Làm sao học sinh có thể
hiểu được nguyên văn câu thơ khi bản thân các em không biết chữ Hán? Yêu cầu này của
SGK chắc chắn sẽ bị các em bỏ qua hoặc thực hiện một cách máy móc trong khâu chuẩn bị bài
ở nhà.
45
23TTóm lại, cách hiểu, cách giảng dạy rất khác nhau về bài thơ 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí 23T26Tlà một
thực tế đang tồn tại trong nhà trường THPT hiện nay. Chính thực tế này đã gây ra không ít
lúng túng và hoang mang cho cả người dạy và học.
23TNhững bài 23T26TĐọc thêm về Nguyễn Du 23T26Tđược đưa vào SGK lớp 10 hiện nay gồm: 23T26TLong
2.2.2.5. Giáo viên và học sinh chưa chú ý tới những bài Đọc thêm về Nguyễn Du.
thành cầm giả ca; Phản chiêu hồn; Văn chiêu hồn 23T26T(trích). Trong chương trình chính khóa, học
sinh được tiếp xúc nhiều hơn cả với những trích đoạn 23T26TTruyện Kiều. 23T26TĐiều này cũng là hợp lí
bởi vì đây là kiệt tác nghệ thuật vĩ đại nhất của đại thi hào, là nơi thể hiện sâu đậm nhất tình
thương yêu bao la đối với con người của Nguyễn Du. Tuy nhiên, ở các tác phẩm khác của
Nguyễn Du, đặc biệt là thơ chữ Hán, người đọc có thể nhận ra "nỗi u uất trong tâm hồn riêng"
(Xuân Diệu) của nhà thơ. Đây thực sự là mảng thơ còn ít được học sinh biết đến nhưng đó
thực sự lại là một "tòa lâu đài" (chữ dùng của GS Mai Quốc Liên) còn rất nhiều điều cần khám
phá để học sinh hiểu thêm về thế giới tâm hồn của đại thi hào. Tác phẩm của Nguyễn Du, chữ
Nôm cũng như chữ Hán, đều được viết ra 23T27T"dưới 23T27Tsự thôi thúc của những nỗi niềm không nói ra
không 23T27Tđược" 23T27T(Hoài Thanh). Nhưng khác với 23T26TTruyện Kiều, 23T26Tnhững bài thơ chữ Hán của Nguyễn
Du là những lời giãi bày trực tiếp tâm tình của ông. Việc được đọc, được tiếp xúc với những
bài thơ chữ Hán, chữ Nôm khác của Nguyễn Du ngoài chương trình chính khóa là một cơ hội
để học sinh hiểu thêm về Nguyễn Du. Nếu 23T26TPhản chiêu hồn 23T26Tlà "một cái nhìn bi đát và phẫn uất
đối với cuộc đời" (Hoài Thanh) thì 23T26TLong Thành cầm giả ca, đ ặ c 23T26Tbiệt 23T26TVăn chiêu hồn 23T26Tlại là lời
thương xót chân thành, thấm thía của nhà thơ đối với mọi kiếp đời bất hạnh. Cả ba bài thơ này
23TPhỏng vấn một số giáo viên, chúng tôi được biết họ không có thì giờ dành cho việc
đều hết sức tiêu biểu cho nội dung tư tưởng trong tác phẩm của Nguyễn Du.
hướng dẫn học sinh đọc thêm. Điều này có nguyên nhân từ phía chương trình. Thực tế, với
thời gian eo hẹp (8 tiết), giáo viên phải rất cố gắng mới hoàn tất được bài dạy về tác gia
Nguyễn Du, ba trích đoạn 23T26TTruyện Kiều 23T26Tvà bài thơ 23T26TĐộc Tiểu Thanh kí. 23T26THọ hầu như không quan
tâm đến việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu một số bài thơ của Nguyễn Du trong phần 23T26TĐọc
thêm 23T26Tnày.
2.2.3. Từ thực trạng dạy học chuyên mục “Nguyễn Du và Truyện Kiều”, nghĩ về
23TThực trạng dạy học chuyên mục "Nguyễn Du 23T26Tvà Truyện Kiều" 23T26Tđã phản ánh được phần
thực trạng dạy học văn học trung đại ở nhà trường THPT hiện nay.
nào thực trạng dạy học văn học trung đại ở nhà trường THPT hiện nay.
23TNhìn chung, phần lớn giáo viên thường có 23T24Ttâm lí ngán ngại 23T24Tđối với việc giảng dạy văn
học trung đại. Đây là mảng văn học đòi hỏi giáo viên Văn phải có một sự hiểu biết rộng rãi,
đặc biệt là những kiến thức văn hóa, văn học cổ. 23T31TSố 23T31Tlượng giáo viên thông thạo chữ Hán càng
ngày càng trở nên hiếm hoi. Những giáo viên trẻ, bên cạnh những ưu thế nhất định, lại chưa
kịp trang bị cho mình những hiểu biết, những kiến thức cần thiết để có thể giảng dạy tốt bộ
phận văn học rất quan trọng này. So với tình hình giảng dạy văn học cổ từ những năm 1980
(theo kết quả điều tra của khoa Ngữ văn, ĐHSP Vinh, có tới 92.4% giáo viên cấp III thừa nhận
không thích giảng dạy văn học cổ) [dẫn theo Nguyễn Sĩ 23T31TCẩn, 23T31T7, 11], tình hình giảng dạy mảng
văn học này trong nhà trường THPT hiện nay dường như vẫn không mấy khả quan. Hầu như
tất cả giáo viên đều nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc giảng dạy văn học trung
đại nhưng lại ít chú ý đầu tư cho giờ dạy của mình. 23T24TGiáo viên ít chịu nghiền ngẫm, tìm
23TGiờ dạy văn học trung đại của nhiều giáo viên hiện nay chưa gây được hứng thú cho học
tòi 24T30Ttư 24T30Tliệu 23T24Tđể hiểu một cách thấu đáo nội dung giảng dạy.
sinh. Phương pháp chủ yếu mà giáo viên sử dụng trong những giờ dạy văn học trung đại vẫn là
phương pháp thuyết trình. Các dụng cụ học tập, các hoạt động, hình thức hỗ trợ việc dạy học
có nhiều khả năng tạo ra sự sinh động cho giờ học chưa được giáo viên chú ý. Trong các lí do
khiến học sinh không thích học 23T26TTruyện Kiều 23T26Tvà văn học trung đại mà chúng tôi thống kê được,
rất tiếc có cả lí do "giáo viên dạy không hay". Tỉ lệ học sinh phát biểu không thích học văn học
trung đại vì lí do "giáo viên dạy không hay" tuy không cao (5.1% ở lớp 10 và 7.5% 23T26Tở 23T26Tlóp 11 )
23TỞ học sinh, tình trạng 23T24Tít hứng thú 23T24Ttrong học tập là rất phổ biến. Giống như việc học
nhưng vẫn là những con số có ý nghĩa và đáng suy gẫm.
chuyên mục "Nguyễn Du và 23T26TTruyện Kiều", 23T26Tphần lớn các em chưa vượt qua được lớp "rào
chắn" của các từ ngữ để đến được với nội dung tác phẩm. Những kiến thức mà các em có được
sau giờ học vì vậy có tính chất bề mặt hơn là chiều sâu. Giờ dạy học văn học trung đại nhìn
chung 23T24Tchưa tạo ra được "dư ba" 23T24Tđể học sinh sau khi học xong vẫn còn có nhu cầu tìm hiểu
và khám phá. Thực tế cho thấy, ở những học sinh lớp l1, 12, kiến thức về văn học trung đại bị
rơi rụng đi rất nhiều. Trong tổng số 200 học sinh lớp 11, có 40 em xác định sai tác phẩm của
Nguyễn Du, chiếm tỉ lệ 20%. ở lớp 12, tỉ lệ này là 27.5%. Đây chính là số học sinh đã nhầm
lẫn nghiêm trọng khi cho rằng 23T26TQuốc âm thi tập, Cung oán ngâm khúc, Bạch Đằng giang
phú... 23T26Tlà tác phẩm của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Trong quá trình tìm hiểu về thực trạng
dạy học văn học trung đại, chúng tôi nhận thấy còn có hiện tượng học sinh 23T24Tcoi nhẹ văn học
47
trung đại, 23T24Tthậm chí cho rằng văn học trung đại là không cần thiết đối với bản thân. Sau đây là
34TLớp 1 1
34TLớp 26T34T12
34TNội dung điều tra
34THọc sinh trả lời
34TS L
52T%
34TSL
52T%
23THọc văn học trung
23TCần
23T180
23T90
23T171
23T85.5
23Tđại có cần thiết?
23TKhông cần
23T20
23T10
23T29
23T14.5
23TVị trí, tầm quan trọng 23TCó vị trí to lớn trong nền
23T168
23T84
23T165
23T82.5
23Tcủa văn học trung
23Tvăn học dân tộc
23Tđại?
23TKhông quan trọng bằng văn
23T15
23T7.5
23T16
23T8
kết quả điều tra ở 200 học sinh lớp l1 và 200 học sinh lớp 12:
23TKhông hay bằng văn học
23T17
23T8.5
23T19
23T9.5
học hiện đại
23TBảng thống kê trên cho thấy: một số lượng khá lớn học sinh nhận thức được rằng học
hiên đại
văn học trung đại là cần thiết cho bản thân và chiếm vị trí to lớn trong nền văn học dân tộc.
Tuy nhiên, có 10% học sinh lớp 11 và 14.5% học sinh lớp 12 cho rằng việc học văn học trung
đại là không cần thiết. Tương tự như vậy, đã có 7.5% học sinh lớp 11, 8% học sinh lớp 12
khẳng định 23T24Tvăn học trung đại không quan trọng bằng văn học hiện đại... 23T24TKhi được hỏi:
"Có muốn bổ sung văn học trung đại vào kì thi tú tài không?". Có tới 83% học sinh lớp 12 trả
lời "không". Những con số không mong đợi này đã phản ánh phần nào những tồn tại cần khắc
phục của việc dạy học một bộ phận văn học quan trọng vào bậc nhất của dân tộc ta.
2.3. Đi tìm những nguyên nhân.
23TViệc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du và 23TTruyện Kiều" 23Tcũng như văn học trung đại
2.3.1. Nguyên nhân khách quan
trong nhà trường THPT hiện nay không đạt kết quả như mong muốn có nguyên nhân từ "sự
chuyên chế của những khoảng cách" như đã trình bày ở trên. 23T24TSự khác biệt về phong cách
nghệ thuật, về không gian, thời gian lịch sử và đặc biệt về tâm lí 23T24Tgiữa người dạy, người
học ngày hôm nay với các tác giả, tác phẩm văn học quá khứ vừa là những khó khăn lại vừa là
những nguyên nhân có tính chất khách quan dẫn đến thực trạng này. Những vấn đề đặt ra
trong bài thơ Độc 23TTiểu Thanh kí 23Tvà các trích đoạn 23TTruyện Kiều 23T(ví dụ chuyện trao duyên, kỉ
vật tình yêu của nam nữ ngày xưa, lầu xanh và những sinh hoạt ở lầu xanh...) nhìn chung là xa
lạ, không gần gũi với cuộc sống của các em. Học sinh không thể hiểu một cách sâu sắc nội
dung các trích đoạn 23TTruyện Kiều bởi 23Tvì các em chưa đủ vốn sống, chưa có những trải nghiệm
về cuộc sống. Có học sinh đã phát biểu sau giờ học đoạn trích 23TNhững nỗi lòng tê tái: 23T"Em thấy
Nguyễn Du đã nói quá cho Thúy Kiều. Làm sao Kiều còn nhớ đến Kim Trọng nhiều như vậy
được" (trích phần trả lời một số phiếu thăm dò của học sinh). Đừng vội ngỡ ngàng và thất
vọng trước những lời phát biểu như thế này. Cuộc sống hiện đại với những những biểu hiện
của lối sống thực dụng ít nhiều đã có ảnh hưởng tới học sinh ngày hôm nay, khiến các em
không dễ chấp nhận cách nghĩ, cách cảm của người xưa. Chúng tôi nghĩ rằng người thầy cần
phải tạo ra được một không khí gần gũi với các em để có thể nắm bắt được những suy nghĩ mà
học sinh không dễ bộc lộ như trong trường hợp này. Không quan tâm đến việc học sinh nghĩ
gì, hiểu như thế nào trước những vấn đề đặt ra trong bài học, người thầy dù có cố gắng bao
23TĐó là chưa kể đến khuynh hướng ngày càng có nhiều học sinh chạy theo các môn học tự
nhiêu chăng nữa cũng không thể đạt được mục tiêu giáo dục.
23TThực trạng dạy học "Nguyễn Du và23T Truyện Kiều" 23Thiện nay còn có23T 24Tnguyên nhân từ phía
nhiên, coi nhẹ môn Văn cũng như các môn học nhân văn khác.
chương trình và SGK. 2324T24TT24TPhải học những trích đoạn23T 27Tđược 2327T27TT27Tlựa chọn theo định hướng của
chương trình, phải dạy theo những gợi ý trong23T Sách giáo viên, 23Tphải hoàn tất bài học trong
khuôn khổ những tiết học được quy định sẵn..., tất cả những điều này đã ngăn trở phần nào
hứng thú cũng như hiệu quả của việc dạy học Nguyễn Du và23T Truyện Kiều 23Tcủa giáo viên và học
sinh. Tiến hành điều tra về nguyên nhân khiến cho học sinh23T 31Tlớp 10 2331T31TT31Tkhông thích học23T Truyện
23TNguyên nhân
23TSố lượng
23T%
23TVì có nhiều từ ngữ khó hiểu
23T256
23T46.5
23TVì có đoạn trích quá dài
23T225
23T40.9
23TVì câu chuyện xa lạ, không gần gũi với cuộc sống hiện nay
23T87
23T15.8
Kiều, 23Tchúng tôi thu được kết quả :
23TVì đã được học kỹ ở lớp 9
23T30
23T5.5
của em
49
23TVì giáo viên dạy không hay
23T28
23T5.1
23TChúng tôi nhận thấy hai nguyên nhân liên quan đến đặc trưng ngôn ngữ truyện Kiều -
cũng là đặc trưng thi pháp của văn học trung đại ( có nhiều từ ngữ khó hiểu) và chương trình
(đoạn trích dài quá) là hai nguyên nhân chiếm tỉ lệ lớn nhất trong các nguyên nhân khiến học
sinh không thích học 23TTruyện Kiều 23Thiện nay. Phải học thuộc lòng đoạn trích 23TTrao
duyên 23Thay 23TNhững nỗi lòng tê tái 23Tđể làm bài kiểm tra trong khi bản thân lại chưa hiểu thấu đáo
24TTính chất dàn đều và hạn chế về thời lượng 23T24Tcủa những tiết học về Nguyễn Du
từ ngữ quả tình là một công việc quá sức đối với các em.
và 23TTruyện Kiều đã 23Tkhiến cho người thầy không có cơ hội thực hiện một số công việc nhằm
kích thích hứng thú học tập ở học sinh. Một số giáo viên rất muốn thực hiện những giờ ngoại
khóa về 23TTruyện Kiều 23Tnhưng không thực hiện được vì những giờ học này 23T24Tkhông được quy
định trong chương trình. 23T24TChính vì hạn chế về thời lượng mà những bài đọc thêm về tác gia
23TMôn Văn trong nhà trường THPT không chỉ cung cấp tri thức mà phải là một môn học
Nguyễn Du trong SGK không được hầu hết học sinh và giáo viên chú ý tới.
cung cấp, hướng dẫn về phương pháp để học sinh biết cách đọc văn, từ đó làm chủ được kiến
thức của mình. Chúng tôi rất tâm đắc với nhận xét của GS Trần Đình Sử trong một bài viết của
ông: "Hiện tại học sinh học Văn theo kiểu học thuật kết quả phân tích của thầy chứ chưa ý
thức học cách đọc" [91]. Để học sinh biết cách đọc văn cần có sự phối hợp của nhiều yếu tố
trong đó SGK đóng một vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên ở SGK hiện nay, chúng tôi nhận
thấy: "Nội dung cách đọc cũng đã được chú ý qua một số câu hỏi gợi ý hướng dẫn học bài
nhưng chưa thành hệ thống, chưa có câu hỏi kiểm tra sự hiểu của học sinh" [Trần Đình Sử,
23TCuối cùng cũng cần đề cập đến những 23T24Tđiều kiện cơ 23T24Tsở 23T24Tvật chất 23T24Tphục vụ cho việc dạy
98].
học Nguyễn Du và 23TTruyện Kiều. 23TNhững năm gần đây, các phương tiện nghe nhìn hiện đại đã
được đem vào sử dụng trong các giờ học Văn nhưng chưa được áp dụng một cách rộng
rãi. 23T31TSố 23T31Tlượng băng hình dành riêng cho việc dạy học Nguyễn Du và 23TTruyện Kiều 23Tcòn rất hạn
chế chưa đáp ứng được nhu cầu của giáo viên và học sinh. Một số giáo viên phát biểu rằng
không phải họ không muốn sử dụng các hình thức hỗ trợ dạy học dành cho chuyên mục
"Nguyễn Du và 23TTruyện Kiều" 23Tmà vì chưa có đủ điều kiện cơ sở, vật chất. Chúng tôi được biết
có nhiều trường THPT chưa chú ý đúng mức đến việc trang bị một cách có hệ thống đồ dùng
học tập cho môn Văn trong đó có chuyên mục này. Một số giáo viên khác nói rằng họ chỉ sử
dụng tranh ảnh, tư liệu... để minh họa cho việc dạy học "Nguyễn Du và 23TTruyện Kiều" khi 23Ttham
gia thao giảng. Những tư liệu, tranh ảnh này là do họ tự tìm lấy chứ không có sự hướng dẫn cụ
23TBên cạnh đó, 23T24Tđời sống còn nhiều khó khăn của 23T24Tgiáo viên cũng là một nguyên nhân
thể về vấn đề này.
khiến cho họ ít có điều kiện đầu tư vào việc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du và 23TTruyện
Kiều".
23TTrong dạy học Văn, người thầy là chiếc cầu nối không thể thiếu để học sinh đến được
2.3.2. Nguyên nhân chủ quan
với giá trị đích thực của tác phẩm văn học. Bằng kiến thức và khả năng sư phạm của mình,
người thầy mang lại cho học sinh những điều mới mẻ, khơi gợi sự hứng thú và niềm yêu mến
23TMuốn học sinh yêu mến, say mê 23TTruyện Kiều, 23Tbản thân người thầy phải có được niềm
văn chương ở các em.
say mê, yêu mến đó. Đây là thứ tình cảm được xây đắp trên cơ sở người thầy giáo dạy Văn
cảm hiểu một cách sâu sắc kiệt tác nghệ thuật này. Nhưng, muốn đến được với thế giới kì diệu
của 23TTruyện Kiều, 23Tngười thầy phải trải qua một quá trình khổ luyện để học hỏi, để hiểu biết và
khám phá. Không có được những hiểu biết và niềm say mê đối với 23TTruyện Kiều, 23Tgiờ dạy học
Văn sẽ không tránh khỏi sự giả tạo và gượng ép. PGS Trần Thanh Đạm viết: "Văn học cổ điển
và cận đại chỉ rung động được sâu sắc tâm hồn học sinh khi chính tâm hồn thầy giáo đã được
nền văn học đó giáo dục sâu sắc" [18, 33]. Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng dạy học
Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều 23T33Tnhư hiện nay, chúng tôi nhận thấy một thực tế: sự 23T24Tthiếu hụt về
33TTruyện Kiều 23T33Tcũng như các tác phẩm khác của Nguyễn Du là những tác phẩm văn học
kiến thức, 23T24Tnhất là những kiến thức văn hóa, văn học cổ 23T33Tở 23T33Tgiáo viên.
của quá khứ, lẽ đương nhiên chứa đựng trong nó những dấu ấn về ngôn ngữ, về văn hóa của
một thời. Muốn cho việc giảng dạy 23T33TTruyện Kiều 23T33Thay 23T33TĐộc Tiểu Thanh kí 23T33Tđạt được hiệu quả,
giáo viên phải được trang bị vốn hiểu biết sâu rộng mà trước hết là kiến thức về văn hóa, văn
học cổ. 23T27TVề 23T27Tvấn đề dạy học văn thơ cổ, GS Đặng Đức Siêu đã tổng kết: "Đối với thơ văn cổ,
quá trình tiếp 23T64Tcận, 23T64Ttìm hiểu, cảm nhận và bình giá 23T27Tđược 23T27Ttiến hành trên cơ sở động viên rất
nhiều kiến thức chuyên ngành, liên ngành: ngôn ngữ học, cổ ngữ học, văn học, lịch sử, văn
hóa học v.v... Thực tế "văn sử triết bất phân" và quan niệm nghệ thuật tổng hợp (trong thơ có
51
họa, thơ ca, âm nhạc, vũ đạo, thư pháp gắn bó với nhau...) đòi hỏi người giảng dạy thơ văn cổ
phải có một vốn kiến thức khá sâu rộng "về thế giới cổ đại phương Đông" [82, 133]. Điều tra
về thực trạng thiếu hụt kiến thức của giáo viên, chúng tôi thu được kết quả: có 35 trên tổng số
85 giáo viên thừa nhận vốn tri thức về văn hóa trung đại còn hạn chế (chiếm 41.2%); 36 giáo
viên (42.4%) cũng thừa nhận sự hiểu biết về chữ Hán của bản thân còn ít. Con số này, theo
23TThực trạng này có nguyên nhân từ trước (trong trường đại học Sư phạm, sinh viên học
chúng tôi còn khiêm tốn so với thực tế.
chữ Hán - Nôm chưa đến đầu đến đũa) nhưng chủ yếu là do giáo viên chưa thực sự cố gắng
học hỏi và tìm hiểu. Trong việc giảng dạy chuyện mục này, nhìn chung giáo viên chưa đạt đến
độ 23T33T"Thâm nhập, thiển xuất” 23T33Ttheo cách nói của người xưa. 23T24TTình trạng ít chịu tra cứu, nghiền
ngẫm nội dung giảng dạy 23T24Tkhiến cho người thầy trở nên bị động, lúng túng trước những tình
huống phức tạp nảy sinh trong giờ học (ví dụ phải xử lí như thế nào trước những cách hiểu
khác nhau đối với bài 23T33TĐộc Tiểu Thanh kí). 23T33TPhỏng vấn một số sinh viên của trường Đại học Sư
phạm thành phố Hồ Chí Minh và cả một số giáo viên mới ra trường, chúng tôi được biết có
nhiều người còn chưa đọc hết 23T33TTruyện Kiều! 23T33TKhi trò chuyện với một số giáo viên đang tham
gia giảng dạy môn Văn lớp 10, chúng tôi còn được biết họ chưa từng đọc qua 23T33TKim Vân Kiều
truyện 23T33Tcủa Thanh Tâm Tài Nhân. Trước câu hỏi của chúng tôi (Có sẵn sàng tham gia các lớp
24TSự lúng túng về phương pháp 23T24Tcủa giáo viên cũng là một nguyên nhân khiến cho những
bồi dưỡng kiến thức về văn hóa, văn học trung đại không ?), đã có 4 giáo viên trả lời "không"!
giờ dạy học Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều 23T33Tchưa đạt kết quả. Theo chúng tôi, đây là một nguyên
nhân vừa có tính chất khách quan lại vừa chủ quan. Trên thực tế, giáo viên chưa được hướng
dẫn một cách kĩ càng về phương pháp dạy học chuyên mục này. Chính vì vậy, những bài học
về "Nguyễn Du và 23T33TTruyện 33T54TKiều” 23T54Tcũng được giáo viên áp dụng giảng dạy theo phương pháp
giống như các nội dung khác trong chương trình. Và cũng vì chưa được định hướng cho nên
mới xảy ra tình trạng giáo viên mất nhiều thời gian hướng dẫn, dạy lại những kiến thức mà
23TQua tìm hiểu một số tiết dạy cũng như xem giáo án giảng dạy của số giáo viên, chúng tôi
học sinh đã học kĩ ở lớp 9.
thấy họ chưa mạnh dạn đầu tư vào giờ dạy những phương pháp mới để kích thích hứng thú
học tập của học sinh. Thực ra, đây là một vấn đề không dễ giải quyết trong tình hình hiện nay.
Nhiều giáo viên cũng muốn áp dụng những phương pháp mới như kết hợp bài giảng với các
phương tiện nghe nhìn, hoặc kết hợp với các giờ ngoại khóa văn học... nhưng không có đủ
điều kiện vật chất, thời gian. Theo chúng tôi được biết, hầu hết các trường THPT trong thành
phố Hồ Chí Minh (một nơi vốn được coi là có nhiều điều kiện cơ sở vật chất so với những địa
phương khác), cũng chỉ mới trang bị được một vài phòng học với các trang thiết bị hiện đại.
Ngoài những giờ thao giảng của giáo viên, các giờ học đại trà vẫn diễn ra ở những điều kiện
học tập bình thường như trước đây. Ngoài ra, do phải dạy cho kịp chương trình, giáo viên
không thể dừng lại lâu hơn ở những tiết học thuộc chuyên mục "Nguyễn Du và 23T33TTruyện
Kiều". 23T33TĐó là những lí do khiến giáo viên vẫn phải áp dụng kiểu dạy học 23T33Tcũ - 23T33Tkiểu dạy nhồi
nhét kiến thức. Màn "độc diễn" khi giảng dạy các trích đoạn 23T33TTruyện kiều 23T33Tvà 23T33TĐộc Tiểu Thanh
kí vẫn 23T33Tcứ tồn tại, và thực tế đã tạo ra những giờ học tẻ nhạt, kém hiệu quả, phản ánh sự lúng
23TNgoài ra, tình trạng 23T24Thọc sinh thiếu cố gắng, 23T24Tý 23T24Tthức học tập chưa cao 23T24Tở môn Văn cũng
túng của người thầy trong việc tìm ra phương pháp tối ưu.
là nguyên nhân gây khó khăn cho việc dạy học. Đây là một vấn đề cần được sự quan tâm, chú
ý đúng mức không chỉ của nhà trường mà còn của gia đình và toàn thể xã hội.
2.4. Triển vọng của việc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du và Truyện Kiều" trong
nhà trường THPT.
23TTrong thư chúc mừng gửi các thầy cô giáo và học sinh, sinh viên cả nước nhân dịp khai
giảng năm học mới 2003 - 2004, chủ tịch nước Trần Đức Lương chỉ thị: "Các cấp ủy Đảng,
chính quyền, các đoàn thể chính trị-xã hội và toàn thể đồng bào, đồng chí quan tâm, chăm lo
hơn nữa sự nghiệp phát triển giáo dục, dành những điều kiện tốt nhất cho việc học tập, rèn
luyện, phấn đấu của con em chúng ta" [dẫn theo báo 23T33TTuổi trẻ 23T33T- ra ngày 1/9/2003]. Chỉ thị của
chủ tịch nước Trần Đức Lương đã cho thấy sự quan tâm sâu sắc đối với sự nghiệp giáo dục
của Đảng và nhà nước ta. Việc dạy học Văn cũng như dạy học chuyên mục "Nguyễn Du
và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Ttrong nhà trường THPT đang diễn ra trong điều kiện thuận lợi to lớn như
23TVấn đề bảo vệ di sản văn hóa, phát huy bản sắc, giáo dục truyền thống của dân tộc cũng
vậy.
đang là vấn đề được đặc biệt coi trọng trong bối cảnh giao lưu và hội nhập của đất nước ta hiện
nay. Việc dạy học một áng thơ văn cổ đặc sắc kết tinh nhiều giá trị truyền thống như 23T33TTruyện
Kiều 23T33Tcó một ý nghĩa lớn lao. Không chỉ là một tác phẩm văn học dùng để giảng dạy trong nhà
trường, 23T33TTruyện Kiều 23T33Tvới tư cách là một di sản vô giá của dân tộc chắc chắn sẽ được gìn giữ,
được quan tâm chú ý đúng mức để phát huy cao độ những giá trị tích cực có tác dụng bồi
dưỡng, xây đắp tâm hồn con người Việt Nam đặc biệt là thế hệ trẻ.
53
23TTriển vọng tốt đẹp của việc dạy học chuyện mục "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Tcũng
được tạo ra bởi vị trí nổi bật của chính Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều 23T33Ttrong nền văn học dân tộc.
Như chúng tôi đã đề cập ở phần đầu chương II, đây là một thuận lợi thuộc dạng "tiềm năng"
của việc dạy học chuyên mục này. Theo chúng tôi, việc dạy học Nguyễn Du và 23T33TTruyện
Kiều 23T33Thiện nay còn nhiều tồn tại song cũng cần phải nhìn thấy được triển vọng to lớn của nó.
Dù kết quả học tập chuyên mục này còn hạn chế, học sinh vẫn có một nhận thức đúng đắn về
vai trò, vị trí của Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều 23T33Tđối với nền văn học nước nhà. Kết quả thống kê
cho thấy 23T24TNguyễn Du vẫn là tác giả 24T61Tđược 24T61Thọc sinh yêu thích nhất 23T24Ttrong các tác giả văn học
trung đại (có 47.5% học sinh lớp 11 và 43.5% học sinh lớp 12 trả lời thích tác giả Nguyễn Du
nhất). Chúng tôi không cho rằng những câu trả lời này mâu thuẫn với kết quả học tập của các
em. Là người Việt Nam, các em có quyền tự hào trước những gì đáng yêu, đáng quý của dân
tộc. Quá trình học tập không đạt được kết quả như mong muốn là bởi vì các em chưa được
khơi gợi đúng mức niềm yêu thích tiềm ẩn đó. Một tỉ lệ lớn học sinh trả lời không thích học
các trích đoạn trong 23T33TTruyện Kiều 23T33Tvà bài thơ 23T34TĐộc 33T34TTiểu Thanh kí 23T33Tở lớp 23T31T10 24T31Tkhông có nghĩa là
các em không yêu mến 24T34TTruyện Kiều. 23T34TTrong các lí do khiến học sinh thích học 23T33TTruyện
Kiều, 23T33Tcó 57.3% học sinh lớp 10 cho rằng 23T33TTruyện Kiều 23T33Tcó cốt truyện hay, hấp dẫn; 44.2% cho
rằng 23T33TTruyện Kiều 23T33T"giúp em hiểu về tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du". Một số học sinh
khác lại thích học 23T33TTruyện Kiều 33T34Tvì 23T34Tlí do "giáo viên dạy hay", hoặc "vì thích nhân vật Thúy
Kiều". Có thể coi đây là những yếu tố thuận lợi góp phần tạo nên triển vọng của việc dạy học
23TMuốn nói tới triển vọng của việc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du và 23T33TTruyện
chuyên mục này.
Kiều" 23T33Tphải căn cứ vào những "dấu hiệu" có tính khả thi. Vài giờ học có tính chất "thao giảng"
mà chúng tôi được dự chưa đủ để đi đến một kết luận nhưng đã tạo ra được những "dấu hiệu"
cho phép chúng ta nghĩ đến triển vọng tốt đẹp của việc dạy học chuyên mục này. Thành công
lớn nhất ở những giờ học này, theo chúng tôi, không phải là ở số lượng học sinh hiểu bài nhiều
hay ít mà chính là đã 23T24Tkhơi dậy cho các em hứng thú và niềm say mê. 23T24TMột giọng đọc thật
diễn cảm đoạn trích 23T33TTrao duyên, 23T33Thay một giọng ngâm 23T33TKiều 23T33Tthực sự đã làm thay đổi không khí
giờ học, mang đến cho học sinh ấn tượng sâu sắc về nhạc điệu 23T33TTruyện Kiều 23T33Tmà những giờ học
khác không có được. Bức tranh một học sinh vẽ được sau giờ học 23T33TThúc Sinh từ biệt Thúy
Kiều 23T33Tở trường THPT Trưng Vương tuy chưa thật đẹp nhưng lại là sự cảm nhận riêng đầy thú
vị mà giờ dạy của giáo viên đã khơi gợi cho em. Mới đây, một thầy giáo ở trường Cấp 23T24TII - III23T24T
dân lập Nguyễn Khuyến khi dạy bài 23T33TQua đèo Ngang 23T33Tđã sử dụng những hình ảnh minh họa về
đèo Ngang (với sự hỗ trợ của máy vi tính) khiến học sinh rất thích thú và dễ tiếp thu bài học.
Những giờ học dù mang tính thể nghiệm và ít nhiều có tính chất phong trào như thế này theo
chúng tôi vẫn rất đáng quý vì nó thể hiện sự đầu tư, sự tìm tòi của giáo viên trong việc mang
23TNhư vậy, mặc dù đang còn nhiều tồn tại và vướng mắc, chúng ta vẫn cớ quyền nghĩ đến
lại hứng thú học tập cho học sinh.
một 23T24Ttriển vọng to lớn và đẹp đẽ 23T24Tcủa việc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều"
ở 23T33Tnhà trường THPT hiện nay.
55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Giải pháp.
3.1.1. Giải pháp chung .
3.1.1.1. Cần xuất phát từ yêu cầu của giáo dục phổ thông để xác định một quan
23TMục tiêu cao cả của nền giáo dục phổ thông hiện nay ở nước ta không thể tách rời với
niệm đứng đắn trong việc dạy học “Nguyễn Du và Truyện Kiều”.
việc hình thành nhân cách cho học sinh. Con người mới Việt Nam hôm nay, ngoài việc trang
bị cho mình những kĩ năng cần thiết để có thể hòa nhập với một xã hội khoa học kĩ thuật phát
triển cao, vẫn rất cần rèn luyện, học tập để không quên đi nguồn cội, bản sắc của dân tộc mình.
Việc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du 23T33Tvà Truyện Kiều" 23T33Tnhư thế có một vai trò hết sức quan
trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng cho các em học sinh lòng tự hào đối với những gì thuộc
về tinh hoa của dân tộc. Dạy học tốt chuyên mục này cũng là một cách giữ gìn và phát huy có
23TChuyên mục "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Tcung cấp cho học sinh những tri thức văn
hiệu quả di sản tinh thần quý báu mà cha ông để lại.
học quan trọng về tác gia và tác phẩm. Qua đó, học sinh trưởng thành hơn về phương điện
nhận thức và tình cảm, đặc biệt thấm nhuần tinh thần nhân đạo cao quý kết tinh trong cuộc đời
23TViệc dạy học "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Ttrong nhà trường THPT cần phải xây dựng
và tác phẩm của đại thi hào.
được một quan điểm giáo dục toàn diện, 23T24Ttránh phiến diện và cực đoan. 23T24TTrước hết, người
thầy giáo dạy Văn cần phải ý thức được tầm quan trọng, ý nghĩa văn hóa và giáo dục phổ
thông của chuyên mục này để tránh quan niệm cho rằng 23T33TTruyện Kiều chỉ 23T33Tlà một thứ "xa xỉ
phẩm" không có tác dụng gì đối với cuộc sống hiện tại. Chuyên mục này 23T24Tcần phải được xây
dựng thành một chủ 23T24Tđiểm quan trọng trong chương trình môn Văn cấp THPT để giáo dục
23TCũng không nên có tinh thần "bi quan chủ nghĩa" trong việc dạy học chuyên mục
truyền thống, giáo dục đạo đức cho học sinh.
"Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều". 23T33THiện nay, việc dạy học chuyên mục này đang có nhiều tồn tại
nhưng không phải vì thế mà bi quan, chán nản. Người giáo viên cần phải có một cách nhìn tự
phê phán và xây dựng đối với thực trạng này cũng như nhìn thấy được triển vọng của việc dạy
học "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều".
23TLại cũng cần tránh một quan niệm xuất phát từ tham vọng quá cao đối với việc dạy học
chuyên mục này. Trong thực tế, không ít giáo viên có một niềm say mê thực sự đối vơi
Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều. 23T33TChính vì vậy23T33T 23T33Thọ yêu 23T55Tcầu 23T55Thọc sinh phải hiểu, phải biết một cách kĩ
lưỡng 23T33TTruyện Kiều 23T33Tvà khi yêu cầu này không thực hiện được, họ dễ rơi vào tâm trạng thất
23TCũng như các chuyên mục khác trong chương trình môn Văn ở cấp THPT, việc dạy học
vọng.
"Nguyễn Du 23T34Tvà 33T34TTruyện Kiều" 23T33Tđương nhiên phải chú ý đến tính "vừa sức" của đối tượng người
học. Chương trình môn Văn ở trường THPT không nhằm tới việc đào tạo những con
người 23T33T"thông kim 33T34Tbác cổ" 23T34Tmà hướng tói việc xây đắp tâm hồn, tình cảm cho học sinh. Nhưng
công việc cao cả này làm sao thực hiện được khi các em không có niềm rung cảm, sự say mê?
Cách dạy học chuyên mục “Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều” 23T33Tmang tính chất lí luận hay học thuật
- yêu cầu quá cao với học sinh, chắc chắn sẽ làm hạn chế sự rung cảm, niềm say mê này ở các
23TViệc dạy học "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Tnhư vậy vừa phải xuất phát từ yêu cầu thích
em.
đáng của giáo dục phổ thông vừa phải xuất phát từ thực tế và triển vọng của nó. Người giáo
viên dạy Văn cuối cùng cần phải đặt niềm tin vào triển vọng to lớn của việc dạy học chuyên
mục quan trọng này. Là người Việt Nam, học sinh của chúng ta rồi sẽ hiểu, sẽ yêu 23T33TTruyện
Kiều. Vấn 23T33Tđề là làm sao để từ những giờ học về 23T33TTruyện Kiều 23T33Ttrong nhà trường, các em có
được niềm thích thú, sự say mê và khao khát tìm hiểu, khám phá những tác phẩm văn học cổ
điển, kết tinh nhiều giá trị truyền thống của dân tộc.
23TTâm thế là một khái niệm thuộc lĩnh vực tâm lí học. Đây là khái niệm chỉ sự sẵn sàng
3.1.1.2. Cần tạo ra được hứng thú, tâm thế học tập cho học sinh.
23TTrong dạy học Văn, tâm thế là một vấn đề có ý nghĩa lớn, ảnh hưởng tới hiệu quả của
đón nhận trên cơ sở hứng thú và sự quan tâm của con người trước một vấn đề nào đó.
quá trình lĩnh hội và cảm thụ của học sinh. Đây cũng là vấn đề có liên quan trực tiếp đến cơ
23TCơ chế dạy học Văn bao gồm mối quan hệ biện chứng giữa giáo viên - học sinh - tác
chế dạy học Văn.
phẩm (chủ thể nhà văn thể hiện qua văn bản). Theo GS Phan Trọng Luận: "Sai lầm phổ biến,
cơ bản của quan điểm giảng dạy Văn học truyền thống là nhận thức phiến diện mất cân đối về
các yếu tố và những liên hệ giữa các yếu tố đó trong cơ chế dạy học Văn" [72, 58]. Trong dạy
học Văn truyền thống, chỉ có giáo viên "tiếp xúc" với văn bản rồi sau đó truyền đạt lại cho học
57
sinh. Đây là kiểu truyền thụ kiến thức một chiều, người thầy chưa chú ý tới mối quan hệ giữa
bạn đọc - học sinh và tác phẩm cũng như những phản ứng tâm lí của học sinh. 23T29TVà 23T29Tvì thế "chưa
23TCơ chế dạy học Văn mới là cơ chế được xác lập bởi mối quan hệ tương tác giữa các yếu
có quá trình dạy học tác phẩm một cách đích thực" [Phan Trọng Luận, 72, 58].
tố: tác phẩm - giáo viên - học sinh. Người thầy, trên cơ sở một nhận thức mới về cơ chế dạy
học và bằng tài năng của mình, phải làm sao biến tác phẩm vốn xa lạ với học sinh, trở thành
đối 23T27Ttượng 23T27Tđể học sinh quan tâm và hứng thú, từ đó có nhu cầu khám phá và chiếm lĩnh. Tác
phẩm văn chương một khi đã đi vào "quỹ đạo" cảm xúc của học sinh, sẽ không còn tồn tại như
một thứ "văn bản chết" đối với các em. Để làm được điều này, người giáo viên Văn phải vượt
qua rất nhiều khó khăn và thử thách. Lí thuyết tiếp nhận đã chỉ ra một quy luật: quá trình tiếp
nhận là quá trình mang tính chủ quan sâu sắc. Hứng thú trong tiếp nhận phụ thuộc vào kinh
nghiệm, vốn sống và cảm xúc cá nhân... Dạy học Văn trong nhà trường, một mặt tuân theo
quy luật chung của tiếp nhận văn chương, mặt khác lại có những quy luật riêng. Quy luật ấy
được tạo thành bởi những đặc trưng của mỗi nhân tố trong cơ chế dạy học Văn. Trong nhà
trường THPT, học sinh là một đối tượng bạn đọc đặc biệt. Đây là đối tượng bạn đọc đang có
sự hoàn thiện về nhân cách, khao khát hiểu biết và rất năng động, sáng tạo. Khi đến với tác
phẩm văn chương, học sinh không "tiếp xúc" với thế giới tinh thần của nhà văn một cách trực
tiếp mà thông qua vai trò trung gian là người thầy. Tác phẩm văn chương trong nhà trường
THPT, với những định hướng giáo dục, là những tác phẩm được lựa chọn sẵn, nhiều khi chưa
23TCó một thời gian, quan điểm "học sinh là trung tâm" rất được nhấn mạnh. Đây là quan
hẳn đã phù hợp với lứa tuổi của học sinh ở cấp học này. ..
điểm có phần phiến diện vì quá chú ý tới người học mà coi nhẹ vai trò của người dạy. Thực ra,
trong cơ chế dạy học Văn mới, vai trò và công việc của giáo viên trở nên nặng nề và phức tạp
hơn rất nhiều. Người thầy, chẳng những phải có sự am hiểu tường tận về tác phẩm mà còn
phải nắm được phương pháp dạy học, nắm được diễn biến tâm lí của học sinh trong quá trình
học tập. Phương pháp, dù bằng bất kì hình thức nào, cũng phải là một hoạt động song phương
giữa thầy và trò. Người giáo viên "phải có tài năng tổ chức hướng dẫn học sinh không phải
bằng những lời chỉ dẫn hay khuyên bảo trừu tượng mà mà phải biết vật chất hóa hoạt động của
học sinh bằng một hệ thống thao tác cụ thể để các em từng bước thâm nhập tác phẩm" [Phan
Trọng Luận, 72, 67]. Để tạo ra hứng thú học tập cho học sinh, người thầy phải biết cách lựa
chọn, phối hợp nhiều phương pháp cho phù hợp với nội dung dạy học và đối tượng học 23T51Tsinh.
23TViệc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Tphải được tiến hành với nhận
thức đầy đủ của giáo viên về cơ chế dạy học Văn mới, về những đặc trưng riêng của nội dung
này trong nhà trường THPT hiện nay (bao gồm những khó khăn, thuận lợi, những thực trạng,
nguyên nhân và triển vọng của nó). Người thầy giáo dạy Văn cần phải biết phát huy những
thuận lợi, tìm cách khắc phục những khó khăn của việc dạy học chuyên mục này trong tình
hình hiện nay để mỗi bài học về Nguyễn Du, 23T33TTruyện Kiều 23T33Ttrở thành mối quan tâm, thành niềm
23TTrong cuốn 23T33TMấy vấn đề phương pháp dạy thơ văn cổ Việt Nam 23T33T(NXB Giáo dục, 1984)
hứng thú của học sinh.
tác giả Nguyễn Sĩ 23T27TCẩn 23T27Tcho rằng: "Về nguyên tắc, phương pháp dạy thơ văn cổ phải phù hợp
với quy luật cảm thụ của người học sinh hiện đại đối với văn chương cổ" [7, 12]. Đây cũng là
nguyên tắc cần phải được áp dụng trong việc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du và 23T33TTruyện
Kiều". 23T33TLứa tuổi học sinh ở cấp THPT là lứa tuổi rất 23T24Tnhạy cảm với những cái mới, cái hiện
đại. 24T27TSống 23T27Ttrong một xã hội hiện đại , các em tất nhiên sẽ có những yêu cầu thẩm mĩ hiện đại.
Vì vậy, những áng thơ văn cổ, kể cả 23T33TTruyện Kiều 23T33Tthường ít được các em quan tâm, chú ý tới.
Nhưng như thế không có nghĩa là không thể tạo ra được cho các em niềm hứng thú, say mê đối
với những tác phẩm văn học của quá khứ. Với sự nhạy cảm, ham hiểu biết và "thông minh lạ
lùng" (Phạm Văn Đồng) ở lứa tuổi này, các em học sinh vẫn có thể rung cảm, thậm chí có
những phát hiện bất ngờ trước vẻ đẹp của tác phẩm. Người thầy 23T24Tcần phải nắm được đặc
điểm tâm sinh lý 23T24Tnày ở học sinh để tìm ra những phương pháp dạy học phù hợp. Cách dạy
học cũ với những kiến thức có tính chất áp đặt chắc chắn sẽ không còn phù hợp với đặc điểm
cảm thụ của học sinh hiện nay. Học sinh sẽ nhớ lâu hơn nhận định "Mặc dù xuất thân từ
tầng 23T27Tlớp 23T27Tđại quý tộc nhưng Nguyễn Du có cuộc sống long đong, vất vả" nếu các em được thầy
23TNiềm say mê, sự hứng thú chỉ có thể xuất hiện một khi các em xóa đi được những
giáo cung cấp những tư liệu cần thiết về vấn đề này.
khoảng cách to lớn giữa bản thân với không gian, thời gian lịch sử, với văn hóa, ngôn ngữ của
một thời quá khứ để đến được với tác phẩm của Nguyễn Du. Việc tái hiện lại không gian lịch
sử, đời sống văn hóa hay ngôn ngữ của nhân vật 23T33TTruyện Kiều 23T33Tsẽ góp phần rút ngắn những
khoảng cách đó và tạo ra được hứng thú học tập cho học sinh. 23T24TChuyên mục "Nguyễn Du
và 24T34TTruyện Kiều" 24T34Tlà một chuyên mục rất cần có 23T24Tsự 23T24Tkết hợp giữa nội và ngoại khóa, một
vấn đề mà chương trình hiện nay chưa chứ ý đến một cách đúng mức. 23T24TĐây là một chuyên
mục có khả năng mở ra cả một chương trình ngoại khóa phong phú. Theo chúng tôi, có thể sử
dụng những hình thức ngoại khóa sau:
59
• 23T Tổ chức cho học sinh 23T51Tsưu 23T51Ttầm những câu thơ tập 23T33TKiều, 23T33Tnhững bài vịnh 23T33TKiều, 23T33Tnhững
sáng tác thơ lấy cảm hứng từ Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều, 23T33Tnhững ý kiến phê bình, đánh giá của
23TTổ chức những buổi giới thiệu sách mới về Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều; 23T33Tcho học sinh
các nhà nghiên cứu, phê bình văn học nổi tiếng.
•
23TTổ chức cho học sinh những cuộc thi viết, vẽ tranh, kể 23T33TTruyện Kiều; 23T33Tngâm 23T33TKiều, 23T33Thát
tìm hiểu cách lẩy 23T33TKiều, kể Kiều, bói Kiều, 23T33Tđố 23T33TKiều 23T33Ttrong nhân dân.
•
23TCho học sinh xem băng hình về quê hương Nguyễn Du, các vở diễn 23T33TKiều 23T33Tcủa các
thơ, đóng kịch các trích đoạn 23T33TTruyện Kiều.
•
nghệ sĩ sân khấu; trưng bày những 23T27Tbức thư 23T27Tpháp 23T33TTruyện Kiều, 23T33Tnhững bức tranh vẽ minh
họa 23T33TTruyện Kiều, 23T33Tbản đồ quê hương Nguyễn Du, bản đồ ghi các nơi Nguyễn Du đã qua trên
23TMời các nghệ sĩ 23T33Ttới 23T33Tdiễn, ngâm 23T33TKiều, 23T33Tmời các nhà 23T33TKiều 23T33Thọc đến nói chuyện, giải đáp
đường đi sứ, bản đồ ghi các nơi Thúy Kiều lưu lạc ...
•
23TTổ chức cho học sinh đi xem các vở cải lương về 23T33TTruyện Kiều, 23T33Tca kịch, nhạc giao
thắc mắc, giao 23T27Tlưu 23T27Tvới giáo viên và học sinh.
•
hưởng về 23T33TTruyện Kiều 23T33T(ví dụ: Liên khúc 23T33TKiều ca - Một xe trong cõi hồng trần 23T33Tcủa nghệ sĩ, bác
sĩ Trương Thìn; ca kịch 23T33TKim Vân Kiều 23T33Tcủa nhạc sĩ Đan Phú; chương trình nhạc giao
23T Nếu có điều kiện, tổ chức cho học sinh những chuyến tham quan, dã ngoại (ví dụ về
hưởng 23T33TChuyện nàng Kiều 23T33Tcủa nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam – Dẫn theo TS Lê Thu Yến).
•
23TCác trường THPT mang tên Nguyễn Du có thể tổ chức những buổi tọa đàm, nói
tham quan quê hương, viếng mộ Nguyễn Du).
•
chuyện chuyên đề về Nguyễn Du, 23T33TTruyện Kiều 23T33Tnhân dịp kỉ niệm năm sinh, năm mất của đại
thi hào, thảo luận về tác dụng giáo dục của những tác phẩm như 23T33TTruyện Kiều 23T33Tđối với thanh
23TĐể có thể tổ chức được cho học sinh những giờ ngoại khóa như trên, bản thân người thầy
niên hiện nay vv...
rất cần phải được trang bị vốn hiểu biết sâu rộng về nội dung dạy học. Hiện nay, 23T24Tgiáo viên
chưa được hướng dẫn một cách thống nhất và cụ thể về phương pháp tổ chức một giờ,
một buổi ngoại khóa văn học. Đây là một 23T24Tnội dung cần được đưa vào chương trình bồi
dưỡng thường xuyên cho giáo viên. Tài liệu phục vụ cho việc dạy học "Nguyễn Du và 23T33TTruyện
Kiều" 23T33Thiện nay hết sức phong phú. Giáo viên cần tận dụng, phát huy thế mạnh này để thực
hiện tốt hoạt động ngoại khóa hoặc kết hợp nội với ngoại khóa. Để có thêm tư liệu cho việc
dạy học "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều", 23T33Tgiáo viên có thể tìm đọc những tài liệu sau:
- 33TBình Kiều, bói Kiều, vịnh Kiều, 23T33TPhạm Đan Quế, NXB Hà Nội, 1991.
- 33TTruyện Kiều đối chiếu, 23T33TPhạm Đan Quế, NXB Hà Nội, 1991.
- 33TTập Kiều một thú chơi tao nhã, 23T33TPhạm Đan Quế, NXB Văn hóa, 1994.
- 33TNguyễn Du 23T33T(Nhà văn trong nhà trường), Lê Thu Yến, NXB Giáo dục, 2001.
- 33TNguyễn Du trong cảm hứng thơ người đời sau, 23T33TLê Thu Yến, NXB Giáo dục.
- 33TTruyện Kiều bằng tranh, 23T33TTrần Kim, Lý Thái Thuận (lời), Trương Quân (tranh), NXB
Văn hóa dân tộc, 2000.
- 33THoạt động ngoại khóa văn học trong nhà trường, Vũ Thị Quỳnh, NXB Thuận Hóa,
2002 v.v. ..
3.1.2. Một số giải pháp cụ thể.
23TTrong chương trình môn Văn ở cấp THPT, những bài học về tác gia có một vị trí và vai
3.1.2.1. Đối với bài văn học sử về tác gia Nguyễn Du.
trò đặc biệt quan trọng. Mỗi tác gia là một "đỉnh cao" của một giai đoạn văn học, là kết tinh tất
yếu quá trình phát triển của một chặng đường văn học. Mỗi tác gia văn học đồng thời cũng là
một cá tính sáng tạo, là một nhân cách lớn, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của nền văn
học dân tộc về nhiều phương diện. Muốn có một cái nhìn tổng thể về tiến trình văn học của
23TTrên cơ sở đó, bài học cần cung cấp cho học sinh những kiến thức về cuộc đời, sự nghiệp
dân tộc, không thể không tìm hiểu về tác gia văn học.
sáng tác của tác gia để giúp học sinh thấy được những đóng góp to lớn của tác gia đối với nền
văn học dân tộc cũng như rút ra được bài học về nhân cách làm người. Bài học về tác gia cần
phải góp phần hình thành, củng cố những kiến thức lí luận văn học cho học sinh qua mối quan
hệ phức tạp của tác gia với thời đại, với giai đoạn văn học và với các tác giả cùng thời... Bài
học về tác gia, với mục tiêu như vậy, có tác dụng lớn lao trong việc giáo dục học sinh, "xây
dựng cho các em niềm tự hào chính đáng về dân tộc và lòng yêu thích văn chương cho mình"
23TMột nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, yêu cầu của bài học về tác gia sẽ góp phần
[Phan Trọng Luận, 72, 265].
giúp giáo viên tìm ra những phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm của nó và đối tượng
61
học sinh. Bài học về tác gia là loại bài mà giáo viên có thể vận dụng tổng hợp nhiều phương
pháp giảng dạy như phương pháp nghiên cứu gợi mở, nêu vấn đề kể cả phương pháp thuyết
trình... Giờ dạy học về tác gia, với đặc trưng của nó, rất cần có sự vận dụng phương pháp 23T24Tkết
hợp giữa kiến thức khái quát với kiến thức cụ thể. 23T24TChính phương pháp này, theo chúng tôi,
23TĐối chiếu với vị trí, tầm quan 23T33Ttrọng 23T33Tcũng như thực trạng dạy học bài văn học sử về tác
sẽ tạo nên sự sinh động cho bài học và sự hứng thú cho học sinh.
gia Nguyễn Du trong nhà trường THPT hiện nay, chúng tôi thấy rằng cần có những giải pháp
để có thể nâng cao hiệu quả của việc dạy học chuyên mục này. Sau đây là một số ý kiến mà
23T- Để tránh tình trạng giáo viên phải mất công dạy lại những kiến thức học sinh đã học
chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất:
kĩ ở lớp 9 (như phần tóm tắt truyện, lai lịch truyện), 23T33TSách giáo viên 23T33Tnên có định hướng cho
người dạy (ví dụ: ở phần này, học sinh đã được học kĩ ở lớp 9, giáo viên chỉ cần nhắc lại một
cách sơ lược là đủ). Việc nhắc lại này, dù là sơ lược cũng rất cần thiết, một mặt vừa củng cố
kiến thức học sinh đã học ở lớp 9, mặt khác lại có liên quan trực tiếp đến bài học của các em ở
lớp 23T31T10. 23T31TĐể việc nhắc lại này có hiệu quả và nhanh gọn, có thể nghĩ đến giải pháp dùng sơ đồ
41T-
23T41TĐể khắc sâu cho học sinh bài học về nhân cách lớn Nguyễn Du, giáo viên cần 23T24Tkết
để 23T24Ttóm tắt 24T41TTruyện Kiều.
hợp với nội dung bài khái quát giai đoạn văn học 23T24Tđã học trước đó để giúp các em thấy được
mối quan hệ giữa nhà thơ với thời đại mà ông sống. Việc giảng dạy tiểu sử Nguyễn Du cũng
nên nhấn mạnh vào cuộc sống trôi nổi, vất vả của nhà thơ... Đây chính là cơ sở, là điều kiện để
24T- Cần tránh thái độ thiếu khách quan 23T24Tkhi nhận xét, đánh giá về sáng tạo của Nguyễn
trái tim nhân đạo Nguyễn Du hòa cùng nhịp đập với những kiếp người bị đọa đày.
Du trong 23T33TTruyện Kiều 23T33Tso với 23T33TKim Vân Kiều truyện 23T33Tcủa Thanh Tâm Tài Nhân. Nhìn chung, khi
giảng dạy phần này giáo viên thường có khuynh hướng đánh giá theo kiểu hạ thấp tác phẩm
của Thanh Tâm Tài Nhân để đề cao Nguyễn Đu. Muốn có cái nhìn khách quan về sự sáng tạo
của Nguyễn Du, người giáo viên Văn cần tìm đọc 23T33TKim Vân Kiều truyện 23T33Tđể so sánh, đối chiếu
với 23T33TTruyện Kiều. 23T33TTheo nhà nghiên cứu, phê bình văn học Hoài Thanh: "Cần phải nhớ rằng
không có 23T33TKim Vân Kiều truyện 23T33Tcủa Thanh Tâm Tài Nhân không thể có 23T33TTruyện Kiều 23T33Tcủa
Nguyễn Du. Thanh Tâm Tài Nhân đã gợi ý cho Nguyễn Du nhìn thêm rõ, cảm nghĩ thêm sâu,
và đã giúp cho Nguyễn Du một câu chuyện có thể dựa vào đó mà nói lên những xót xa, căm
giận, mơ ước, băn khoăn không thể nói bằng cách nào khác trong hoàn cảnh đương thời" [Dẫn
24T- Cần kết hợp kiến thức khái quát với kiến thức cụ thể: 23T24TKiến thức khái
theo 11, 112].
quát 23T33Ttrong 23T33Tbài văn học sử về tác gia Nguyễn Du bao gồm những nhận định về con người, cuộc
đời, về tác phẩm của đại thi hào. Bài học sẽ trở nên dễ hiểu, sinh động và tạo ra được hứng thú
học tập cho học sinh nếu giáo viên biết minh họa những kiến thức khái quát đó bằng những
kiến thức cụ thể. Đó có thể là việc cung cấp thêm cho học sinh những tư liệu về cuộc sống cơ
cực của Nguyễn Du, về thái độ ứng xử của ông đối với việc triều chính hay những ví dụ chứng
minh cho phong cách ngôn ngữ độc đáo của nhà thơ. Giáo viên và học sinh có thể sử dụng
cuốn 23T33TNguyễn Du - Con người và cuộc đời 23T33Tcủa GS Nguyễn Lộc để làm tư liệu cho việc dạy học
33TUVí dụ 1:U 31T33TVề 23T31Tcuộc sống cơ cực của Nguyễn Du: "Gia phả chép ông có ba vợ, bà vợ cả sinh
hoặc tìm thêm những dẫn chứng ở các sách khác, ví dụ:
được một con trai, bà vợ kế cũng sinh được một con trai còn bà vợ 23T31Tthiếp thì 23T31Tsinh 23T31T10 23T31Ttrai, 23T31T6
gái. 23T31TNguyễn Du mới hơn 23T31T30 23T31Ttuổi mà tóc 23T31Tđã 23T31Tbạc trắng, bệnh tật. Trong bài 23T33TDạ tọa, 23T33Tnhà thơ than
thở: 23T33TBạch đầu sờ kế duy y thực (Đầu 23T33Tbạc chỉ mải lo chuyện cơm áo). Có lúc ông đau mấy
tháng liền chỉ nằm chờ chết, trong nhà bếp lạnh tanh. Khi ra làm quan rồi, năm mất mùa, trong
45TCố 33T45Thương cang hạn cửu phương nông
33TThập khẩu hài nhi thái sắc đồng.
23T(Nơi quê hương nắng hạn lâu ngày, làm hại việc nông
23TNhà mười miệng trẻ đói xanh như rau)
23TBài 23T33TNgẫu đề (Nam trung tạp ngâm) 23T33Tcó câu:
33TThập khẩu đề cơ Hoành lĩnh bắc
33TThất nhân ngoa bệnh, đế thành đông
23T(Nhà mười miệng ăn đang kêu đói ở bắc thành Hoành sơn
23TTa một mình nằm ốm ở phía đông đế thành)
23TGia phả chép: "Dù làm quan đến chức Á khanh (tham tri) mà vẫn giữ vẻ thanh nhã đơn
nhà con cái vẫn ăn đói. Bài 23T33TNgẫu hứng IV (Nam trung tạp ngâm) 23T33Tcó câu:
giản như một người học trò nghèo" [Theo Tạ Phong Châu, 18, 90 - 91] .
63
33TUVí du U33TU2:U 31TVề 23T31Tnhững đặc sắc ngôn ngữ 23T33TTruyện Kiều: "Vốn 23T33Ttừ của Nguyễn Du rất phong
23TTrong 23T33TTruyện Kiều, 23T33Ttổng số từ tác giả đã dùng là: 3412 từ.
23TTrong 23T33TQuốc âm thi tập 23T33Tcùa Nguyễn Trãi có: 2215 từ
23TTrong 23T33TLục Vân Tiên 23T33Tcủa Nguyễn Đình Chiểu có: 2499 từ
23TTrong 23T33TTruyện Kiều, 23T33Ttừ Hán Việt có 1310 từ, chiếm 35% tổng số từ nhưng nhiều từ đã
phú:
23TNguyễn Du sử dụng một cách sáng tạo những tục ngữ, thành ngữ, khẩu ngữ, ca dao của
được Việt hóa.
33T- Hở 33T34Tmôi 33T34Tra cũng thẹn thùng
33T Để lòng thì phụ tấm lòng với ai!
33TNghĩ rằng: 33T34Tngứa ghẻ hờn ghen,
nhân dân và ngược lại nhân dân sử dụng thơ 23T33TKiều 33T57Trất 23T57Ttài tình:
33TXấu chàng mà có ai khen chi mình!
33TCa dao
-
33TAi đi muôn dặm non sông
33T58TSầu 34T58Tđông càng lắc càng đầy
33T Để ai chất chứa 33T34Tsầu đong vơi đầy
33T34TBa thu dồn lại một ngày dài ghê.
33TThức khuya dậy sớm chuyên cần
Truyện Kiều
34TQuạt nồng ấp lạnh 33T34Tgửi phần làm con. 33T34TQuạt nồng ấp lạnh, 33T34Tnhững ai đó giờ?
23T[Theo Tạ Phong Châu, 18, 104 -105]
Xót người tựa cửa hôm mai
23TCác trích đoạn 23T33TTruyện Kiều 23T33Tđược đưa vào chương trình Văn THPT hiện nay là những
3.1.2.2. Đối với bài học về các trích đoạn trong Truyện Kiều.
trích đoạn đặc sắc, tiêu biểu cho nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Kiến thức cụ thể trong
giờ học về các trích đoạn trong 23T33TTruyện Kiều 23T33Tchính là sự minh họa cho kiến thức khái quát ở
bài học về tác gia Nguyễn Du. Những giờ giảng văn với đặc trưng, sức mạnh riêng của nó dễ
gây cho người dạy, người học nhiều hứng thú. Người thầy cần phải biết phát huy thế mạnh
của giờ giảng văn cũng như biết cách vận dụng những phương pháp có hiệu quả để đạt được
mục tiêu giáo dục, đặc biệt là khơi dậy cho học sinh sự hào hứng, say mê đối với Nguyễn Du
và 23T33TTruyện Kiều.
23TChương trình môn Văn trong nhà trường THPT hiện nay đang tiến tới một cách thức dạy
học nhiều triển vọng. Đó là việc 23T24Tdạy học theo hướng tích hợp. 24T33TDự thảo chương trình
THPT 23T33Tcủa Bộ Giáo dục và đào tạo nêu rõ: "Tích hợp là sự phối hợp các tri thức gần gũi, có
quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau nhằm tạo nên
kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc. Đó là quan điểm đã được hầu hết các nước trên
thế giới vận dụng từ lâu và hiệu quả đã được kiểm nghiệm. Ở Việt Nam, do đã có sự tách bạch
các phân môn trong một thời gian dài, chưa có sự chuẩn bị cần thiết, đầy đủ, nên đang được
thực hiện từng bước, dần dần". Theo hướng dạy học tích hợp, ba phân môn Giảng văn, Tiếng
Việt, Tập làm văn sẽ được hợp làm một bởi Ngữ văn là môn dạy đọc, nghe, nói, viết trên cơ sở
23THướng dạy học tích hợp các trích đoạn trong 23T33TTruyện Kiều 23T33Tvà bài thơ 23T33TĐộc Tiểu Thanh
cho học sinh nắm chắc tri thức về tiếng Việt, văn bản và lịch sử văn học.
kí 23T33Tcủa Nguyễn Du theo chúng tôi được thể hiện trong việc giáo viên hướng dẫn học sinh 23T24Tđọc
sáng tạo, cắt nghĩa, giải thích từ ngữ, điển cố, phân tích ngữ pháp, các biện pháp tu
từ... 23T24Tđể các em chẳng những hiểu được nội dung tư tưởng của văn bản mà còn thiết thực rèn
23TXuất phát từ những nhận thức trên cùng với thực trạng dạy học "Nguyễn Du và 23T33TTruyện
luyện những kĩ năng nói, viết, làm văn.
Kiều" 23T33Ttrong nhà trường THPT hiện nay, chúng tôi xin mạnh dạn góp một số ý kiến có liên
34TUThứ nhấtU: 24T34TTăng cường các dụng cụ trực quan, kết hợp nội và ngoại khóa trong giờ
quan đến việc dạy học các trích đoạn trong 23T33TTruyện Kiều:
dạy học. 23T24TTheo chúng tôi, đây là một công việc thiết thực rất có tác dụng nhằm tạo nên hứng
23TGS Mai Quốc Liên trong một đề tài nghiên cứu mới đây 23T33T(Những vấn đề của phương
thú học tập cho học sinh.
pháp giảng dạy thơ trong nhà trường) 23T33Tđã khẳng định: "Một hướng cải tiến, nâng cao chất
lượng giờ dạy thơ là kết hợp với âm nhạc, sân khấu, với các loại hình nghệ thuật khác... Đó
cũng là một hướng mở thêm cánh cửa dạy thơ ở phổ thông: thơ trong tổng thể nghệ thuật" [59,
23TĐến với 23T33TTruyện Kiều 23T33Tcũng có nghĩa là học sinh đến với một nền văn hóa có rất nhiều
30].
khác biệt. 23T33TTruyện Kiều 23T33Tdù được viết bằng thứ tiếng của dân tộc, vẫn còn khó hiểu đối với
nhiều người trong đó có học sinh bởi vì đó là thứ tiếng Việt cổ, lại sử dụng nhiều điển cố, điển
tích xưa cũ... Chính vì thế trong những giờ học các trích đoạn 23T33TTruyện Kiều, 23T33Tsự tham gia của
những dụng cụ trực quan là hết sức cần thiết để các em bước đầu hiểu được nền văn hóa, ngôn
65
ngữ, nhân vật... Có thể sử dụng màn hình để cho học sinh xem một vài trích đoạn sân khấu
về 23T33TTruyện Kiều. 23T33TTrong những trích đoạn sân khấu này, học sinh có thể thấy được cách ăn mặc,
cử chỉ, điệu bộ, ngôn ngữ của nhân vật có liên quan đến bài học. Hiện nay, các bức tranh vẽ
về 23T33TTruyện Kiều 23T33Ttuy chưa thật in ấn một cách rộng rãi 23T60Tnhưng giáo viên có thể sưu tầm được
một cách dễ dàng trong nhiều cuốn sách 23T60Tlàm dụng cụ phục vụ cho việc dạy học (như những
cuốn sách chúng tôi đã giới thiệu). Bài học 23T33TChị em Thúy Kiều 23T33Tở lớp 9 hay bài học 23T33TThúc Sinh
từ biệt Thúy Kiều ở 23T33Tlớp 10 sẽ trở nên dễ hiểu và sinh động hơn nếu học sinh được quan sát một
bức tranh vẽ Thúy Vân, Thúy Kiều hay một bức ảnh về rừng phong lá đỏ mà Nguyễn Du nhắc
đến trong đoạn thơ thay vì chỉ nghe giáo viên diễn giảng. Hiện nay, SGK mới chỉ giới thiệu
được một bức ảnh 23T60Tvề 23T60Tphần mộ Nguyễn Du ở quê hương ông. Theo chúng tôi, SGK nên bổ
23TViệc dạy học các trích đoạn 23T33TTruyện Kiều 23T33Trất cần có sự kết hợp giữa nội và ngoại khóa.
sung thêm một số tranh ảnh minh họa cho những trích đoạn 23T33TTruyện Kiều.
Trước khi học sinh được học về các trích đoạn này, giáo viên nên cho học sinh tham gia một
vài buổi ngoại khóa (có thể theo những hình thức ngoại khóa rất phong phú mà chúng tôi đã
trình bày ở trên). Chúng tôi được biết hiện nay đã có một số giáo viên mạnh dạn áp dụng hình
- thức đóng kịch, kể chuyện, diễn ngâm 23T33TKiều 23T33Tngay tại giờ học chính khóa và đã tạo được
không khí sôi nổi, hào hứng cho học sinh. Đóng kịch, diễn ngâm các trích đoạn 23T33TTruyện
Kiều 23T33Tsẽ không đơn giản vì cần có sự chuẩn bị chu đáo về trang phục, thời gian... nhưng đây là
34TUThứ haiU: 28T34TCần 24T28Txuất phát từ đặc trưng thể loại để dạy học các trích đoạn 24T34TTruyện
một hướng dạy học tích cực cần được phát huy.
Kiều. 33T34TTruyện Kiều 23T33Tlà một tác phẩm tự sự được viết bằng thơ. Như vậy, 23T33TTruyện Kiều 23T33Tlà một tác
phẩm vừa có 23T33Ttruyện 23T33Tlại vừa có 23T33Tthơ. 23T33TTheo chúng tôi, đây là một vấn đề cần được lưu ý trong
23TTrong công trình 23T33T"Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể", 23T33TPGS. Trần Thanh
dạy học 23T33TTruyện Kiều.
Đạm đã tổng kết "Nếu là tác phẩm thuộc loại tự sự thì người giảng phải nắm cho được và nêu
cho được tình tự diễn biến, lô gích phát triển của câu chuyện với các sự biến, các nhân vật qua
các chặng thời gian với các lớp không gian. Nếu là tác phẩm thuộc loại trữ tình thì nắm cho
được và nêu cho được trình tự diễn biến, lô gích phát triển của tâm tư tác giả hay của nhân vật
trữ tình với mọi sắc thái và mọi biểu hiện của nó qua các chặng thời gian cũng như qua các lớp
không gian" [19, 34].
33TTruyện Kiều 23T33Ttrước hết là một tác phẩm tự sự, vì vậy 23T24Tviệc dạy các trích đoạn 24T34TTruyện
Kiều 24T34Tphải được đặt trong hệ thông cốt truyện, hệ thống biến cố của truyện. 23T24TKhảo sát một
số giờ dạy học về các trích đoạn trong 23T33TTruyện Kiều 23T33T(rõ nhất là trích đoạn 23T33TNhững nỗi lòng tê
tái), 23T33Tchúng tôi thấy rằng có không ít giờ dạy học sinh chỉ được giáo viên hướng dẫn học như
một đoạn thơ độc lập. Như chúng tôi đã trình bày, vị trí đoạn trích có một ý nghĩa đặc biệt vì
chính nó, trong mối liên hệ với toàn bộ biến cố, toàn bộ cốt truyện, sẽ quy định phần nào cách
thức tìm hiểu, khám phá nhân vật. Nếu chú ý đúng mức tới yếu 23T33Ttố truyện, 23T33Tngười dạy và học sẽ
thấy được tính nhất quán của hình tượng nhân vật Thúy Kiều qua các đoạn trích các em được
học từ cấp THCS đến cấp THPT. Với các đoạn trích này, con người 23T33Ttài hoa mệnh bạc 23T33TThúy
Kiều được nhà thơ chú ý khắc họa từ hình dáng cho đến nội tâm. Sức lay động, ấn tượng về
23TXuất phát từ đặc trưng thể loại 23T33TTruyện Kiều, 23T33Ttrong 23T33TTác phẩm văn chương trong nhà
nhân vật Thúy Kiều ở học sinh sẽ mạnh mẽ hơn.
trường phổ thông - Những con đường khám phá, tác 23T33Tgiả Lê Bảo đã đề nghị một hệ thống tiêu
đề khác với 23T33TSách giáo viên 23T33Tcho bài dạy học đoạn trích 23T33TTrao duyên. 23T33TTheo ông, hệ thống tiêu đề
hợp lí mà "cơ sở của nó dựa vào cốt truyện" và đằng sau hệ thống tiêu đề này là mạch cảm
hứng, "là phép biện chứng tâm hồn của nhân vật" [93, 154]. Hệ thống tiêu đề đó như sau:
1. 23THoàn cảnh éo le mà Kiều phải nhờ em thay lời trả nghĩa.
2. 23TLời căn dặn của Kiều khi trao kỉ vật cho em.
23TChúng tôi nghĩ rằng, với một trích đoạn 23T33TTruyện Kiều 23T33Tnhư 23T33TTrao duyên, 23T33Tđây là một cách
3. 23TNỗi niềm của Kiều sau lúc trao duyên khi đối diện với một tình yêu đã mất.
khai thác hợp lí. 23T33TTrao duyên 23T33Tlà một trích đoạn mà phong cách nổi bật vẫn là phong cách tự sự
với đầy đủ lớp lang như một hoạt cảnh sân khấu. Trong bài giảng, người thầy cần phải hướng
dẫn học sinh nắm chắc trình tự diễn biến, lô gích phát triển của đoạn trích trước khi hướng dẫn
học sinh tìm hiểu những "biến tấu" tâm trạng của Thúy Kiều. 23T33TTrao Duyên 23T33Thay những trích
đoạn khác trọng 23T33TTruyện Kiều 23T33Tnhư 23T33TNhững nỗi lòng tê tái, Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều 23T33Tcó thể
nói đều là những "bản song tấu tự sự và trữ tình" tuyệt diệu, vì vậy, việc dạy học những trích
33TTruyện Kiều 23T33Tlà một kiệt tác nghệ thuật bằng thơ. Là một tác phẩm thơ cho nên 23T33TTruyện
đoạn này cần làm bật lên được đặc trưng thể loại 23T33TTruyện Kiều.
Kiều 23T33Tthể hiện rõ nhất chất trữ tình, tính nhạc điệu - một đặc trưng quan trọng vào bậc nhất của
thơ. Trong 23T33TTruyện Kiều, 23T33Tcó nhiều đoạn, theo 23T27TGS 23T27TTrần Thanh Đạm "nếu lấy riêng ra, đều là
áng thơ trữ tình thiết tha, thấm thía nhất trong thơ ca Việt Nam xưa nay" [19, 16]. Các yếu tố
67
âm thanh, vần luật, tiết tấu... trong thơ tạo nên một thứ ngôn ngữ "vừa lắng đọng vừa ngân
vang", "vừa có hình vừa có nhạc" (Trần Thanh Đạm). Việc dạy học 23T33TTruyện Kiều 23T33Ttrong nhà
trường THPT của chúng ta hiện nay còn hạn chế ở chỗ chưa làm bật lên được tính nhạc điệu
của những câu thơ 23T33TTruyện Kiều. 23T33TMuốn cho giờ dạy học 23T33TTruyện Kiều 23T33Tđúng với đặc trưng thể
loại, cần phải khắc phục 23T27Tđược 23T27Tvấn đề này. Theo chúng tôi, giáo viên cần 23T24Ttăng cường phần
đọc diễn cảm 23T24Tcác đoạn trích 23T33TTruyện Kiều 23T33Ttrong giờ học. Cũng có thể nghĩ đến một hướng giải
quyết khác rất khả thi: cho học sinh tiếp xúc với nhạc điệu 23T33TTruyện Kiều 23T33Tbằng việc 23T24Tcho các em
nghe ngâm 24T34TKiều, 24T34Tlẩy 24T34TKiều... 24T34Tngay trong giờ học chính khóa. 23T24TNgoài ra, các trường học nên
xây dựng một chương trình ngoại khóa văn học theo từng chủ điểm. Theo chúng tôi, thành
phố Hồ Chí Minh là nơi rất thuận lợi để tổ chức ngoại khóa cho học sinh dưới hình thức cho
các em xem những vở diễn 23T33TKiều, 23T33Tnghe nghệ sĩ ngâm 23T33TKiều. 23T33TTrong điều kiện số lượng băng
hình dành cho việc dạy học "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Tcòn rất hạn chế như hiện nay, mỗi
giáo viên cần phải đóng vai trò là một "nghệ sĩ" trong việc chuyển tải yếu tố nhạc điệu 23T33TTruyện
34TUThứ baU: 28T34TCần 24T28Txuất phát từ những đặc trưng thi pháp của 24T34TTruyện Kiều 24T34Tđể dạy học
Kiều 23T33Tcho học sinh qua việc đọc diễn cảm, ngâm thơ...
các trích đoạn 24T34TTruyện Kiều. 23T34TĐặc trưng thi pháp 23T33TTruyện Kiều 23T33Tlà một vấn đề khoa học tầm cỡ
(Phan Ngọc có 23T33TTìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều; 23T33TGS, TS Trần Đình Sử có
cả một công trình nghiên cứu - cuốn 23T33TThi pháp Truyện Kiều), 23T33TTrong khuôn khổ của luận văn,
chúng tôi không có tham vọng đi sâu vào tìm hiểu đặc trưng thi pháp 23T33TTruyện Kiều 23T33Tmà xin
23TNói tới thi pháp là nói tới mối quan hệ không thể tách rời giữa nội dung và hình thức của
được đề cập đến vấn đề dưới góc độ của phương pháp dạy học Văn.
tác phẩm văn chương. Nghiên cứu thi pháp là nghiên cứu phương tiện, cách biểu hiện của
nghệ thuật trong tính hoàn thiện, chỉnh thể của nội dung. Theo GS Trần Đình Sử "Thi pháp là
câu chuyện về hình thức bên trong, hình thức mang tính quan niệm, có tác dụng mở đường
cho những cách nhìn, cách biểu hiện và sáng tạo ngôn ngữ". Như vậy, thi pháp là một phạm
trù mà ở đó người đọc có thể nhận thấy sự sáng tạo độc đáo của nhà văn. Nhà nghiên cứu Phan
Ngọc trong 23T33TTìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều 23T33Tđã chỉ ra rằng với 23T33TTruyện
Kiều, 23T33TNguyễn Du đã "sử dụng một phương pháp tự sự riêng, không có trong 23T33TKim Vân Kiều
truyện” 23T33Tcũng như trong truyện Nôm Việt Nam trước ông" để tạo ra "một thế giới khác hẳn...
đối lập với truyền thống tiểu thuyết Trung Quốc" [Phan Ngọc, 80, 812 - 813]. Theo nhà
nghiên cứu, Nguyễn Du đã rút gọn sự việc đến mức tối thiểu, lược bỏ nhiều chi tiết không cần
thiết trong 23T33TKim Vân Kiều truyện 23T33Tđể chú ý nhiều hơn đến việc xây dựng và thể hiện "con người
cô độc". 23T33TTruyện Kiều 23T33Tchính là một "tiểu thuyết phân tích tâm lí". GS Trần Đình Sử trong 23T33TThi
pháp Truyện Kiều 23T33Tđã nhấn mạnh đến một "quan niệm mới về nhân vật và cách kể". Theo GS
Trần Đình Sử "Nguyễn Du không đặt trọng tâm ở 23T33Tviệc 23T33Tmà ở 23T33T"khúc đoạn trường". 23T33TChính vì
thế, nhà thơ đã làm cho "tấm lòng nhân vật nổi lên ở bình diện thứ nhất" và lược bỏ bớt nhiều
chi tiết so với 23T33TKim Vân Kiều truyện. 23T33TSáng tạo của Nguyễn Du, theo ông chính là ở chỗ
Nguyễn Du "đã biến nhân vật chính từ con người đạo lí sang con người tâm lí". Chính điều
này đã khiến cho Nguyễn Du thay đổi "điểm nhìn trần thuật". Nguyễn Du không kể lại sự việc
từ bên ngoài mà từ bên trong nhân vật, từ nhân vật. Là một loại truyện tâm lí độc đáo "Nguyễn
Du đã tạo điều kiện cho nhân vật bộc lộ đầy đủ tâm trạng của mình như là những con người cá
nhân phổ biến". Bên cạnh đó việc lược bỏ nhiều chi tiết, Nguyễn Du đồng thời dừng lại khai
thác triệt để các tình tiết và biến cố để có thể bộc lộ tối đa tình cảm nhân vật. Nguyễn Du đã
"khai thác cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thành cốt truyện tâm lí", cốt truyện mà ở đó
người ta có thể thấy 23T60Tđược "quá trình phát sinh, phát triển và thay thế nhau của các trạng thái
23TNhững sáng tạo của Nguyễn Du trong 23T33TTruyện Kiều 23T33Tso với 23T33TKim Vân Kiều truyện 23T33Tcủa
tình cảm, 23T60Tý nghĩ của con người" [Trần Đình Sử, 80, 883].
Thanh Tâm Tài Nhân là rất lớn. Tuy nhiên, ra đời trong thời kì văn học trung đại, 23T33TTruyện
Kiều 23T33Tcủa Nguyễn Du không thể không chịu 23T60Tsự 23T60Tchi phối của thi pháp văn học trung đại. Cũng
giống các tác phẩm văn học trung đại khác, 23T33TTruyện Kiều 23T33Tcủa Nguyễn Du có sự tham gia của
nhiều điển cố, điển tích, từ Hán Việt... xa lạ, khó hiểu với người đọc hiện nay. Theo GS Đặng
Thanh Lê "Việc phân tích những đặc điểm thi pháp 23T33TTruyện Kiều 23T33Tcần được đặt trong mối quan
hệ giữa ba "cấp độ" thi pháp: thi pháp tác phẩm tự sự, thi pháp cổ điển và thi pháp 23T33TTruyện
Kiều. 23T33TNhìn nhận như vậy, chúng ta có thể khám phá được nét chung và nét riêng truyền thống
cộng đồng và cá tính sáng tạo, đó là quy luật phát triển của văn học cũng như là một cơ sở tạo
nên thiên tài Nguyễn Du và kiệt tác 23T33TTruyện Kiều" 23T33T[53, 12]. Đây cũng là một điểm quan
23TTheo chúng tôi, khi dạy học những trích đoạn 23T33TTruyện Kiều, 23T33Tgiáo viên đã chú ý đến việc
trọng 23T33Ttrong 23T33Tdạy học 23T33TTruyện Kiều.
phân tích tâm lí nhân vật Thúy Kiều với mọi sắc thái, biểu hiện của nhân vật trong "các chặng
thời gian và không gian". Tuy nhiên, việc giảng dạy các trích đoạn 23T24Tphải chú 23T24Tý 23T24Tđúng mức tới
việc giảng giải những từ ngữ khó cho học sinh. 23T24TVậy những từ ngữ nào được coi là khó hiểu
đối với các em ? Theo chúng tôi, đó là những từ Hán Việt, những điển cố, điển tích, những từ
cổ được nhắc đến trong các trích đoạn 23T33TTruyện Kiều. 23T33TThời lượng hạn chế của những giờ dạy
học các trích đoạn không cho phép giáo viên đi vào giải nghĩa từng từ ngữ khó nhưng người
69
thầy cần phải biết được mức độ học sinh hiểu những từ ngữ ấy như thế nào. Việc kiểm tra học
sinh đọc những chú thích trong SGK là rất cần thiết. 23T24TGiáo viên có thể yêu cầu học sinh kể lại
đoạn trích 24T61Tdưới 24T61Tdạng văn xuôi 23T24Tđể kiểm tra "sự hiểu" của các em, từ đó có những điều chỉnh
cho phù hợp. Giáo viên có thể cho học sinh thực hiện yêu cầu này sau giờ học. Có như vậy
mới tránh được tình trạng sau khi học, học sinh vẫn hiểu câu thơ 23T33T"Thân sao bướm chán ong
chường bấy thân" 23T33Tmột cách ngây ngô: "Nguyễn Du miêu tả Kiều như những con ong con
bướm bay đi để thoát khỏi lầu xanh" (trích bài làm của học sinh). Để giảng giải được những từ
ngữ khó cho học sinh một cách hiệu quả, người thầy cũng cần được trang bị kiến thức về ngôn
ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ mang phong cách văn học trung đại. Giáo viên nắm vững các khái
niệm về từ Hán Việt, điển cố, điển tích, ước lệ, tượng trưng... cũng như nắm được cách thức
23TTác giả Nguyễn Sĩ 23T28TCẩn 23T28Ttrong cuốn 23T33TMấy vấn đề về phương pháp dạy thơ văn cổ Việt
sử dụng những từ ngữ này của Nguyễn Du để có một cách giảng dạy phù hợp.
Nam 23T33Tđã đúc kết một số thao tác giảng dạy thơ theo đặc điểm ngôn ngữ của văn học trung đại,
Theo ông, thơ cổ thường sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ, tượng trưng, nhiều điển cố, từ Hán
Việt, từ cổ. Nhà nghiên cứu đã định nghĩa: 23T34T"Ước lệ 23T34Tlà biện pháp diễn đạt bằng hình ảnh có
tính chất quy ước thường được dùng trong văn chương cổ như hình ảnh tuyết rơi để tả mùa
đông, lá vàng rụng để chỉ mùa thu v,v... 23T34TTượng trưng 23T34Tlại là biện pháp diễn đạt cái trừu tượng
bằng một hình ảnh cụ thể thường lấy từ cây cỏ, chim muông. Ước lệ và tượng trưng giống
nhau ở chỗ cả hai đều là hình ảnh ẩn dụ và khác nhau 23T33Tở 23T33Tchỗ tượng trưng là một hình ảnh hoàn
chỉnh, ước lệ phần nhiều chỉ là một chi tiết của hình tượng" [7, 106]. Xuất phát từ khái niệm
này, người dạy "không nên coi ước lệ, tượng trưng là hoàn toàn hình thức nhưng không nên
coi đó là những chi tiết chân thực, cụ thể .... Giảng ước lệ, tượng trưng phải đặt vào trong văn
34TĐiển cố 23T34Tlà biện pháp lấy những truyện chép trong sách vở xưa để nói nay. Điển cố khiến
cảnh, gắn nó với câu văn câu thơ" [7, 110]
lời văn trở nên hàm súc và uyên bác hơn theo quan niệm của người xưa. Tác giả Nguyễn
Sĩ 23T28TCẩn 23T28Tcho rằng việc dạy điển cố phải được tiến hành theo hai bước: bước giải thích nghĩa đen
và bước phân tích giá trị thẩm mĩ. Giải nghĩa đen là cho học sinh biết sự tích của điển cố, phân
tích giá trị thẩm mĩ là đặt điển cố vào văn cảnh làm sáng tỏ ý nghĩa của văn cảnh. Tuy nhiên
cần phải tránh khuynh hướng "tầm chương trích cú" rơi vào tình trạng học điển cố chứ không
phải học văn hoặc ngược lại, tức chỉ cho học sinh biết nghĩa câu văn một cách đại khái, chung
chung, không xuất phát từ nghĩa đen của điển cố. Việc dạy điển cố phải kết hợp với sự chuẩn
bị bài của học sinh (đọc chú thích trong SGK). Cách thức dạy các từ Hán Việt cũng được tác
giả chú ý. Phương pháp dạy từ Hán Việt tốt nhất theo ông là "tách ra từng tiếng mà giảng
nghĩa rồi tổng hợp lại" và phải đặt vào câu văn vì mỗi từ trong văn cảnh lại có sắc thái khác
23TTrong các trích đoạn 23T33TTruyện Kiều, 23T33TNguyễn Du một mặt ảnh hưởng sâu sắc cách thức sử
nhau.
dụng ngôn ngữ của thơ ca trung đại, mặt khác lại có những sáng tạo riêng, rất tài tình. Việc
dạy học phải làm sao 23T24Tbật lên được những sáng tạo tài tình của Nguyễn Du 23T24Ttrên những căn
cứ này. Ví dụ: Nguyễn Du sử dụng nhiều điển cố Trung Quốc trong đoạn 23T33TTrao duyên: ( Keo
loan, Chín suối, Bồ liễu, Trúc mai, Trâm gãy gương tan 23T33T) nhưng không phải điển cố nào giáo
viên cũng phải giải thích cho học sinh một cách cặn kẽ. Chẳng hạn từ 23T33T"dạ đài" 23T33Ttrong câu
"Dạ 23T33Tđài cách mặt khuất lời" 23T33Tlà một từ gây khó hiểu với học sinh nhưng nếu giáo viên không
có điều kiện giảng nghĩa, các em vẫn có thể hiểu được ý thơ nhờ Nguyễn Du đã "giải thích" ở
câu bát phía dưới 23T33T"Rảy xin chén nước cho người thác oan". 23T33THoặc nhóm từ 23T33T"ngậm cười chín
23TBiện pháp ước lệ phong kiến cũng được nhà thơ sử dụng với một sắc thái riêng. Trong
suối" 23T33Tđược giải thích ngay ở vế tiếp theo của câu thơ 23T33T"hãy còn thơm lây"...
đoạn 23T33TNhững nỗi lòng tê 33T43Ttái 23T43Tnhà thơ dùng nó để miêu tả cảnh sống ở lầu xanh của Thúy Kiều.
Lối dùng 23T24T"nhã ngữ" 23T24Tnày là một đặc điểm của Nguyễn Du khi nhà thơ phải nói tới những sự
việc tầm thường, dung tục. Trong 23T33TTruyện Kiều, 23T33Tkhi Kiều thất thân với Mã Giám Sinh, Nguyễn
33TTiếc thay một đóa trà mi, 33TCon ong đã tỏ đường đi lối về.
23TTrong đoạn 23T33TNhững nỗi lòng tê tái, 23T33TNguyễn Du đã dùng một loạt những hình ảnh ước lệ
Du viết:
hoa mĩ để miêu tả cuộc sống nhơ nhớp chốn lầu xanh:
33TNửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu.
23THay:
23T33TĐòi phen nét vẽ câu thơ,
33TCung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa.
23TĐể tránh cho học sinh sự hiểu nhầm (thực tế có học sinh đã cho rằng lầu xanh là một nơi
33TĐòi phen gió tựa hoa kề,
"rất đáng sống vì 23T81Trất 23T81Tvui và nhiều cảnh đẹp" - trích bài làm của học sinh), giáo viên cần giảng
giải cho học sinh biết cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du ở phương diện này. Ngoài ra,
cũng cần đặt trong văn cảnh câu thơ để giải thích cho học sinh cả ý nghĩa những thành ngữ
71
cũng như cách thức mà nhà thơ sáng tạo nó: 23T33Tthịt nát xương mòn, phận bạc như vôi, nước chảy
bèo trôi... ( Trao duyên ), Dày gió dạn sương 23T33T(từ thành ngữ 23T33TMặt dày mày dạn ) ( Những nỗi
34TUThứ tưU: 23T34TĐối với những đoạn trích có dung lượng câu thơ lớn như 23T33TTrao duyên, Những
lòng tê tái), chiếc bóng năm canh (Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều)...
nỗi lòng tê tái, 23T33Ttrong khuôn khổ của giờ học hiện nay, giáo viên nên 23T24Tchọn một đoạn ngắn để
giảng sâu, giảng kĩ 23T24Tchứ không nên giảng một cách dàn trải tất cả đoạn thơ. Có như vậy học
sinh mới có thể thẩm thấu được giá trị văn chương của câu thơ 23T33TKiều, 23T33Tmới cảm nhận được sự
sâu sắc, tinh tế trong cảm nhận của Nguyễn Du. Thực ra 23T33TSách giáo viên 23T33T(bài 23T33TTrao duyên) 23T33Tcũng
đã định hướng cho giáo viên song trong thực tế hầu hết giáo viên không chú ý tới. GS Đặng
Thanh Lê đã lưu ý giáo viên khi dạy học đoạn 23T33TTrao duyên: 23T33T"có thể tập trung giảng từ
câu 23T33T"Ngày xuân em hãy còn dài" 23T33Tcho đến hết" [12, 113]. 23T33TSách giáo viên 23T33Tcũng nên có một định
hướng như vậy đối với đoạn 23T33TNhững nỗi lòng tê tái. 23T33TTheo chúng tôi, giáo viên có thể chọn đoạn
thơ từ câu 23T33T“Nhớ ơn chín chữ cao sâu” 23T33Tcho đến hết đoạn trích để tập trung giảng kĩ, giảng sâu
đoạn thơ được chọn. Phần còn lại, giáo viên hướng dẫn trên những nét lớn để học sinh tự tìm
34TUThứ năm U:
31T34Tvề
24T31Tchi tiết "chiếc thoa" trong đoạn trích Trao
24T34Tduyên:
23T34Tở
hiểu ở nhà.
chương 23T31T2, 23T31Tchúng 23T31Ttôi đã 23T31Tcó 23T31Tdịp 23T31Tnói 23T31Ttới 23T31Tmột thực 23T31Ttế 23T31Tcòn vướng mắc trong 23T31Tdạy 23T31Thọc đoạn
trích 23T33TTrao duyên. 23T33TĐó là chi tiết 23T33T"chiếc thoa" mà 23T33Tđa số giáo viên đều tỏ ra lúng túng khi giảng
dạy. Điều này có liên quan đến chú thích số 6 trong SGK mà chúng tôi đã đề cập. Nhiều nhà
23TTrở lại với câu chuyện về 23T33Tcành kim thoa 23T33Ttrong 23T33TTruyện Kiều, 23T33Tchẳng ai nghi ngờ rằng nó
nghiên cứu đã thừa nhận đây là một trong những điều khó giải thích của 23T33TTruyện Kiều.
chính là một vật khắc ghi dấu ấn mối tình đầu lãng mạn của Kim - Kiều. Trước tiên, Kim
33TLần theo tường gấm dạo quanh 33TTrên đào nhấc thấy một cành kim thoa.
33T"Sinh đà có ý đợi chờ" để 23T33Ttrả lại 23T33Tcành kim thoa 23T33Tcho Kiều, và cơ hội ấy đã đến. Chàng lên
Trọng bắt được 23T33Tcành kim thoa 23T33Tcủa Kiều:
33T
tiếng ướm hỏi:
33T Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về
27TĐược 23T27TKiều đồng 23T33Tý "dừng chân" 23T33Tđể chàng 23T33T"ngỏ chút niềm tây gọi 23T33Tlà", Kim đã :
Thoa này bắt được như không!
33TVội về thêm lấy của nhà
33TXuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông.
23TCòn Kiều, sau khi nghe Kim Trọng thổ lộ nỗi niềm, nàng đã xúc động và không ngần
ngại bày tỏ: "Một 23T33Tlời vâng tạc đá vàng thủy chung". 23T33TViệc trao kỉ vật đã diễn ra, Kim Trọng đã
33TĐược lời như cởi tấm lòng 33TGiở kim thoa với khăn hồng trao tay.
23TCòn Kiều tặng lại Thúc Sinh:
33TSẵn tay, khăn gấm quạt quỳ
33TVới cành thoa ấy tức thì đổi trao.
23TNhà giáo Lê Xuân Lít - một người rất quan tâm đến việc dạy học 23T33TTruyện Kiều 23T33Tcho
tặng Kiều tặng vật mà chàng gọi là 23T33T"của tin":
rằng: " Cái khó nằm ở câu thơ tám chữ này. 23T33TVới cành thoa ấy 23T33Tcó thể hiểu việc 23T33Tđổi trao 23T33Txảy ra
một trong hai trường hợp: Kiều lấy chiếc quạt trong tay cùng với 23T33Tcành kim thoa mà 23T33TKim
Trọng đã đưa, 23T33Tđổi trao, 23T33Tnhận tặng vật của chàng. Tức Kiều nhận của 23T33TKim 23T33Tnhư đã nói ở trên và
trao 23T33Tcành kim thoa 23T33Tvới chiếc quạt cho Kim. Trường hợp thứ hai: Kim Trọng trao 23T33Tkim
thoa, 23T33TKiều nhận lấy và tặng chiếc quạt. Hai kỉ vật ấy đổi trao cho nhau" 23T33T[Dạy và học Truyện
Kiều - những điều cần bàn, 23T33Ttài liệu sắp xuất bản, trang 71 - 72]. Sau này, khi trở lại, Kim
33TThề xưa giở đến kim hoàn
33TCửa xưa lại giở đến đàn với hương.
23TMột điều rất đáng chú ý: một số bản Kiều cổ có chép:
33TChiếc vành với bức tờ mây
33TDuyên này thì giữ, vật này của chung.
23TChứ không giống như trong SGK hiện nay: 23T33T(Chiếc thoa với bức tờ mây - Duyên này thì
Trọng đã nhận đủ kỉ vật mà Kiều trao lại cho Thúy Vân:
giữ, vật này của chung), 31T33Tvề 23T31Tchi tiết chiếc 23T33Tthoa 23T33Thay chiếc 23T33Tvành, 23T33Tcũng có nhiều ý kiến khác
nhau. Trong 23T33TVương Thúy Kiều - chú giải tân truyện, 23T33TTản Đà Nguyễn Khắc Hiếu viết:
"chữ 23T33Tthoa 23T33Tđây, tức là chữ 23T33Tthoa 23T33Ttrong câu 23T33T“Giở kim thoa với khăn hồng trao tay”. Có 23T33Tbản đổi
làm chữ 23T33Tvòng 23T33Thay chữ 23T33Tvành, 23T33Tthêm việc mà mất cả âm hưởng" [36, 64]. Bản 23T33TTruyện Kiều 23T33Tcủa
33TĐược lời như cởi tấm lòng
33TGiở kim hoàn với khăn hồng trao tay
GS Nguyễn Thạch Giang (NXB Giáo dục, 1996) chép:
73
23TGS Nguyễn Thạch Giang chú thích: 23T33T"Kim hoàn: 23T33Tvòng vàng, tức chỉ 23T33Txuyến vàng đôi
23TTheo chúng tôi, với một trường hợp còn chưa xác định được rõ ràng như chi tiết 23T33Tchiếc
chiếc...” 23T33T[trang 46].
thoa 23T33Ttrong đoạn trích 23T33TTrao duyên, 23T33TSGK không nên chỉ đưa ra một lí giải như hiện nay (chú
thích số 6, SGK, trang 169: 23T33T"Chiếc thoa: 23T33Tđồ trang sức cài đầu của phụ nữ xưa kia. Khi Kiều
nhận lời yêu Kim Trọng, nàng tặng Kim Trọng chiếc thoa. Kim Trọng tặng lại nàng chiếc
khăn hồng: 23T33T"Được lời như cởi tấm lòng. Giở kim thoa với khăn hồng trao tay") 23T33Tmà 23T24Tcần giới
thiệu thêm một vài cách giải thích khác 23T24Tđể giáo viên và học sinh cùng tham khảo.
23TTình hình dạy học bài thơ 23T33TĐộc Tiểu Thanh kí 23T33Thiện nay trong nhà trường THPT đang đặt
3.1.2.3. Đối với việc dạy học bài Độc Tiểu Thanh kí.
ra một vấn đề: cần phải nhanh chóng có một giải pháp để giải quyết những băn khoăn, vướng
mắc của người học, người dạy, Điều đó cũng có nghĩa là phải xuất phát từ thực tế để 23T24Txây dựng
23TTrước hết cần phải thấy rằng, việc dạy học những bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du là hết
một quan điểm giảng dạy thống nhất đối 23T24Tvới nội dung này.
sức cần thiết. Bên cạnh kiệt tác 23T33TTruyện Kiều, 23T33Tthơ chữ Hán của Nguyễn Du thực sự là một "tòa
lâu đài" (Mai Quốc Liên) mà chúng ta cần bước vào để khám phá, để hiểu thế giới tâm trạng
23TThơ vốn bao hàm trong nó sự đa thanh, đa nghĩa. Nhà nghiên cứu thi pháp học Jacobson
của nhà thơ, từ đó thêm yêu quý và kỉnh trọng đại thi hào của dân tộc.
đã có một nhận xét xác đáng về đặc trưng này của thơ khi ông cho rằng thơ lạ "sự phân vân
kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa". Một tác phẩm có giá trị bao giờ cũng là một tác phẩm gợi
lên những liên tưởng phong phú nơi người đọc. Những cách hiểu khác nhau đối với bài
thơ 23T33TĐộc Tiểu Thanh kí 23T33Tâu cũng là một hiện tượng thú vị, hoàn toàn không có tính chất cá biệt
trong tiếp nhận văn chương. Điều quan trọng là những dư ba, những ấn tượng sâu sắc mà bài
thơ để lại trong lòng người đọc. Đó là tâm hồn đa cảm, lòng nhân ái, sự xót thương mà
Nguyễn Du dành cho tất cả những kiếp người bị đọa đày trên trái đất này. Tác dụng giáo dục
to lớn của bài học chính là ở chỗ khắc sâu được cho học sinh lòng nhân ái cao quý của Nguyễn
23TViệc dạy học bài thơ 23T33TĐộc Tiểu Thanh kí 23T33Tchỉ phát huy được tác dụng giáo dục của nó khi
Du.
cả người học và người dạy đến được với ý nghĩa đích thực của bài thơ. Điều này cũng có nghĩa
là họ phải vượt qua được lớp từ ngữ vốn là một "rào chắn" đối với người đọc thời hiện đại. Sự
giúp sức của bản dịch, của những chú thích cũng như những hướng dẫn trong SGK, 23T33TSách giáo
viên là 23T33Tkhông thể thiếu trong quá trình dạy học, Đối với người giáo viên, những định hướng
trong 23T33TSách giáo 33T64Tviên 23T64Tvẫn được coi là "pháp lệnh", là những căn cứ quan trọng để họ tiến hành
bài giảng trên lớp. Nhưng sự tồn tại của những cách hiểu khác với quan điểm của SGK, 23T33TSách
23TNhư chúng tôi đã trình bày ở chương thứ 23T29T2 23T29Tcủa luận văn, 23T33Ttrong 23T33Tnhà trường hiện nay đang
giáo viên 23T33Tvề nội dung bài học này trọng nhà trường hiện nay là một thực tế.
tồn tại ít nhất hai cách hiểu về bốn câu đầu bài thơ. Một số giáo viên (chúng tôi gọi là nhóm
thứ hai), đã giảng dạy không theo quan điểm của SGK. Cách hiểu này có cơ sở vì nó dựa trên
23TNhóm từ 23T33T“nhất chỉ 33T45Tthư” 23T45Ttheo đó được hiểu là tập truyện viết về Tiểu Thanh chứ không
những kết quả nghiên cứu và chính văn bản của tác phẩm.
phải tập thơ của nàng Tiểu Thanh. Như vậy, Nguyễn Du đã đọc tập truyện (kí) người ta viết về
Tiểu Thanh chứ không phải đọc tập thơ của nàng. GS Mai Quốc Liên trong 23T33TNguyễn Du toàn
tập 23T33Tkhẳng định: "Truyện kể về nàng Tiểu Thanh gọi là Tiểu Thanh kí" [55, 187]. Nhiều giáo
viên không biết rằng 23T33TTiểu Thanh truyện - 23T33Ttác pháp văn học khuyết danh được sáng tác từ cuối
đời Minh (Trung Quốc), đã được GS Nguyễn Khắc Phi, người nghiên cứu rất sâu về văn học
Trung Quốc, dịch và giới thiệu trên tạp chí 23T33TVăn học nước ngoài 23T33Ttừ 1997. Theo GS Nguyễn
Khắc Phi: "Ở đời Minh và Thanh, kí luôn gắn với truyện, kí tự văn hoặc tự kí văn cơ bản thuộc
thể loại tự sự nên nói 23T33TTiểu Thanh kí và Tiểu Thanh truyện 23T33Tlà một, không phải là không có cơ
sở" [85, 11]. Trong phần giới thiệu 23T33TTiểu Thanh truyện trên 23T33Ttạp chí 23T33TVăn học nước ngoài, 23T33TGS
Nguyễn Khắc Phi đã trích dẫn một tư liệu quý (cuốn 23T33TTừ điển Từ Hải) 23T33Ttrong đó có viết về Tiểu
Thanh: "TIỂU THANH: Tên người, một cô gái ở Giang Đô đời Minh, vốn tên là Huyền
Huyền, họ Phùng, gả làm thiếp cho Phùng sinh ở Hàng Châu; tránh cùng họ nên chỉ gọi tên
chữ. Giỏi thơ từ, hiểu âm luật. Vì không được vợ cả bao dung, dời đến ở một biệt thự trên núi
Cô Sơn. Có người bà con là Dương phu nhân lấy làm thương, dừng lời nói bóng bẩy khuyên
lấy chồng khác nhưng Tiểu Thanh không nghe. Buồn giận đổ bệnh, bảo một họa sĩ vẽ tranh
chân dung, tự tế mình rồi chết. Năm đó mới mười tám tuổi. Chôn ở Hàng Châu. Có người bà
con thu thập thơ từ của nàng thành sách gọi là phần DƯ CẢO" [85, 99 -100]. Tiểu Thanh là
một nhân vật có thật hay không? 23T33TPhần dư có 23T33Tphải là tác phẩm của nàng?... Tất cả những vấn
đề này, theo GS Nguyễn Khắc Phi là rất khó xác định, cho nên chú thích rằng Tiểu Thanh là
một con người có thật và có mộ ở Cô Sơn như trong SGK là "không thật phù hợp với bản thân
tác phẩm của Nguyễn Du, với Tiểu Thanh truyện cũng như chưa phản ánh được đầy đủ những
ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc về vấn đề này" [85, 100]. Nhà nghiên
cứu Nguyễn Quảng Tuân trong cuốn 23T33TTìm hiểu Nguyễn Du và Truyện Kiều cũng 23T33Tđã cho rằng:
75
"Có thể Nguyễn Du đã viết bài thơ này trong thời kì đi sứ Trung Quốc, nhân khi được đọc bài
kí viết về Tiểu Thanh, chứ không phải nhân khi đi qua mộ Tiểu Thanh. Bài kí ấy có thể đã
được chép trong bộ 23T33TTình sử 23T33Thoặc trong bộ 23T33TNữ Liêu trai chí dị (do 23T33TQuảng Ích thư cục xuất bản
và không có ghi tên tác giả). Và Nguyễn Du có thể cũng đã đồng thời xem thấy trong
quyển 23T33TKim Vân Kiều truyện 23T33Tcủa Thanh Tâm Tài Nhân đoạn 23T33Tlời bàn 23T33Tcủa Thánh Thán ở hồi thứ
23TChúng tôi cũng đồng tình với cách hiểu của nhóm giáo viên thứ hai về câu ba và bốn của
nhất nói về Tiểu Thanh mà sinh lòng thương cảm mới viết nên bài thơ điếu nàng" [109, 89].
33TSon phấn hữu thần liên tử hậu
33T Văn chương vô mệnh lụy phần dư.
23TĐây là nhóm giáo viên đã hướng dẫn học sinh hiểu theo hướng: Tiểu Thanh dù có chết đi
bài thơ:
nhưng nàng để lại nỗi tiếc thương cho đời sau. Văn chương của nàng không có số mệnh nhưng
những bài thơ còn sót lại của nàng vẫn làm cho mọi người phải rung động. Khi đọc bài
viết 23T33TNhững bí ẩn và rắc rối trong bài Độc Tiểu Thanh kí 23T33Tcủa GS Mai Quốc Liên đăng trên
báo 23T33TVăn nghệ, chúng 23T33Ttôi đoán rằng những giáo viên nói trên đã căn cứ vào bản dịch của Bùi
Kỉ - Phan Võ 23T33T(Son phấn như có thần, sau khi chết, người ta còn thương tiếc. Văn chương còn
có số mệnh gì mà làm cho người ta phải bận lòng đến những bài thơ còn sót lại sau khi
đốt) 23T33Tvà cả bản dịch của Đào Duy Anh 23T33T(Son phấn có thần nên để lại xót thương sau khi chết.
Văn chương không có duyên phận nên đốt rồi mà lụy còn sót lại) 23T33T[dẫn theo bài viết của GS
27TNhư 23T27Tvậy, những bản dịch này cùng với những 23T27Ttư 23T27Tliệu về 23T33TTiểu Thanh truyện 23T33Tcho phép ta
Mai Quốc Liên].
hiểu sâu hơn ý nghĩa hai câu thơ trên. Câu thơ thứ ba như vậy hẳn là có liên quan đến bức chân
dung của Tiểu Thanh. "Son 23T33Tphấn có thần" 23T33Tchính là nói tới thần thái của Tiểu Thanh trong bức
tranh. Còn 23T33T“phần dư” 23T33Tcó phải là những bài thơ còn sót lại của Tiểu Thanh trong tập thơ mà
người vợ cả vì ghen đốt đi như SGK hướng dẫn? Trong 23T33TTiểu Thanh truyện 23T33T(GS Nguyễn Khắc
Phi dịch) có đoạn kể người chồng khi nghe tin Tiểu Thanh mất, đã hốt hoảng chạy tới, khóc
thương và "lục tìm hồi lâu, thấy được một quyển thơ, một bức tranh chân dung để lại và một
bức thư gửi cho một phu nhân nào đó. Mở thơ xem, thấy lời lẽ cực kì ai oán, cuối thư có một
bài thơ tuyệt cú. Người chồng lại đau đớn gào lên: "Ta đã phụ nàng! Ta đã phụ nàng!". Hay
tin, người vợ cả nổi giận lôi đình, chạy đến đòi bức tranh. Người chồng giấu bức tranh thứ ba
mà đưa bức thứ nhất để đánh tráo. Người vợ cả liền đem đốt đi. Bà ta lại hạch tập thơ, khi lấy
được, cũng đem đốt nốt. Thế là từ nay khúc Quảng Lăng không còn vang lên nữa!... Lại lục
tìm bản thảo nhưng đã thất lạc hết. May mà lúc lâm chung, Tiểu Thanh có tặng mấy thứ đồ
trang sức cài đầu cho cô gái con u già, hai trang giấy dùng để lót dưới đồ trang sức chính là
bản di cảo thơ của nàng. Có 9 bài tuyệt cú, một bài cổ thi, một bài từ, một bài tuyệt cú kèm
theo thư gửi cho phu nhân nào đó, tổng cộng là 12 bài thơ và từ" [85, 103 -104]. Tác giả
Nguyễn Quảng Tuân cũng đưa ra tư liệu: "Sách 23T33TNữ Liêu trai chí dị 23T33Tcó chép rằng: "May khi
nàng sắp mất có mấy chiếc xuyến hoa, tặng cho con gái nhỏ của nàng, bọc vào hai tờ giấy.
Chính ở những tờ giấy ấy, người ta thấy có thi cảo của nàng gồm 12 bài" [109, 93 - 94].
24TDịch nghĩa:
23TĐọc bài ký truyện nàng Tiểu Thanh
23TVườn cảnh ở Tây Hồ đã trở thành gò hoang.
23TTrước song cửa một mình đọc một trang sách viết để viếng nàng.
23TBức vẽ có thần, sau khi chết, còn để lại niềm thương tiếc.
23TVăn chương không có số mệnh lại mang lụy đến tập thơ bị đốt còn sót lại.
23TMối hận xưa nay khó hỏi trời,
23TTa tự coi mình như người cùng chịu nỗi oan lạ lùng của người phong nhã.
23TChẳng biết hơn ba trăm năm sau này nữa,
23TThiên hạ có ai người khóc Tố Như chăng?
24TDịch thơ:
23TBản dịch 1:
33TVườn cũ Tây Hồ mai xác xơ,
33TViếng ai, song vắng một vần thơ.
33TPhấn son lấp đất thương còn để
33TBút mực tro tàn lụy vẫn lưa
33TViệc lỡ xưa nay trời khó hỏi,
33TNiềm oan phong vận tớ còn vơ!
33TBa trăm năm nữa người thiên hạ,
Trong 23T33TNguyễn Du toàn tập, 23T33TGS Mai Quốc Liên đã đưa ra một cách dịch nghĩa, dịch thơ khác:
77
33TChả biết còn ai khóc Tố Như?
23T(Giản Chi)
23TBản dịch 2:
33TTây Hồ vườn cảnh thảy hoang vu,
33TRiêng viếng bên song giấy một tờ.
33TNhan sắc có thần thương lúc mất,
33TVăn chương không mệnh tội phần dư.
33TCổ kim hận sự trời khôn hỏi,
33TPhong vận niềm oan khách khó trừ.
33TBa trăm năm lẻ sau này nhỉ,
33TThiên hạ ai người khóc Tố Như?
23T(Nguyễn Quảng Tuân)
23TXuất phát từ tình hình nghiên cứu và dạy học bài thơ 23T33TĐộc Tiểu Thanh kí 23T33Thiện nay, theo
chúng tôi, SGK và nhất là 23T33TSách giáo viên 24T33Tcần giới thiệu thêm những bản dịch nghĩa, dịch
thơ khác 23T24Tchứ không nên chỉ căn cứ vào một bản dịch của Vũ Tam Tập như hiện nay. Bên
cạnh đó, bản dịch 23T33TTiểu Thanh truyện 23T33T(của GS Nguyễn Khắc Phi) cần phải được in ấn rộng rãi
23TViệc dạy học bài thơ 23T33TĐộc Tiểu Thanh kí trong 23T33Ttình hình hiện nay cần hướng tới một mục
hơn nữa để giúp giáo viên, học sinh có thêm tài liệu phục vụ cho việc dạy học bài thơ này.
tiêu chung quan trọng hơn những cuộc tranh luận với những cách hiểu khác nhau. Chúng tôi
xin phép được trích dẫn ý kiến của GS Nguyễn Khắc Phi về vấn đề này: "Không riêng gì
với 23T33TĐộc Tiểu Thanh Kí, 23T33Tvới bất cứ mọi tác phẩm, lúc giảng dạy, ta đều cần biết gạt ra những
vấn đề không nên nói hoặc chưa có đủ điều kiện để nói, lướt qua những vấn đề thứ yếu, xoáy
sâu vào vấn đề cốt lõi. Với suy nghĩ như vậy, tôi hoàn toàn tán thành quan niệm và cách xử lí
sau của nhà thơ Dương Thuấn: "Khi bình bài thơ này, ta hãy quên đi Nguyễn Du đã đến hay
chưa đến Tây Hồ, cũng như nàng Tiểu Thanh có thật hay là huyền thoại. Ta chỉ nhớ có một
Tiểu Thanh đang sống trong thơ Nguyễn Du... Cảm hứng về bi kịch cuộc đời của người phụ
nữ luôn là cảm hứng chủ đạo trong thơ ông" [87, 11].
3.2. Một số kiến nghị.
3.2.1. Cần tăng thêm số tiết dạy học cho chuyên mục "Nguyễn Du và Truyện Kiều"
23TĐây là kiến nghị dựa trên thực tế dạy học Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều. 23T33TVới thời lượng (8
trong nhà trường THPT.
tiết) như hiện nay, việc dạy học chuyên mục này gặp rất nhiều khó khăn. "Nguyễn Du
và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Tlà một chuyên mục rất cần đến sự hỗ trợ của những tiết ngoại khóa văn học
để tạo ra hứng thú học tập cho học sinh. Theo chúng tôi, cần tăng thêm ít nhất 2 đến 23T24T4 23T24Ttiết
ngoại khóa, hướng dẫn 23T33TĐọc thêm 23T33Tcho chuyên mục này.
3.2.2. Cần xây dựng một chương trình ngoại khóa văn học cho các chuyên mục lớn
23TTheo chúng tôi, hoạt động ngoại khóa văn học là hoạt động không thể thiếu nhằm tạo ra
trong chương trình, đặc biệt là chuyên mục “Nguyễn Du và Truyện Kiều”.
hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học Văn. Nhưng trong tình hình hiện nay, hoạt động
này còn rất mờ nhạt, chưa được chú trọng như một cách thức, một phương pháp dạy học có
hiệu quả. Hoạt động ngoại khoá cần phải được xây dựng thành một chương trình và được
thống nhất thực hiện. Muốn thực hiện được điều này, phải có sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều
yếu tố, mà trước hết là sự định hướng của chương trình, sự đầu tư cơ sở vật chất từ các cấp
trung ương đến địa phương (ví dụ đầu tư cho các thiết bị, đồ dùng dạy học: băng hình, tranh
ảnh...).
3.2.3. Nên đưa một số lượng hạn chế giờ dạy chữ Hán vào chương trình cho học
23TMột nguyên tắc cho người dạy và học thơ văn chữ Hán là phải biết chữ Hán. Nếu không
sinh THPT.
biết chữ Hán, việc dạy học sẽ không tránh khỏi sự cảm tính, chủ quan, không xuất phát từ
chính văn bản tác phẩm. Điều đó cũng có nghĩa là không thể cảm, hiểu một cách sâu sắc tác
23TDo điều kiện lịch sử, bộ phận văn học trung đại của dân tộc ta có sự gắn bó mật thiết với
phẩm văn học viết bằng chữ Hán chỉ qua bản dịch.
chữ Hán. Rất nhiều tác phẩm có giá trị được sáng tác bằng chữ Hán phản ánh tâm hồn, cốt
cách của dân tộc trong một thời kì lịch sử. Tất cả những sáng tác đó đã trở thành một thứ di sản
tinh thần quý báu của dân tộc và không thể vắng bóng trong việc xây đắp tâm hồn cho thế hệ
trẻ trong nhà trường. Việc đưa một số ít giờ dạy chữ Hán cho học sinh THPT nhằm phục vụ
cho việc dạy học văn thơ chữ Hán trong nhà trường là rất cần thiết và có thể thực hiện được.
79
3.2.4. Nên bổ sung thêm bộ phận văn học trung đại, đặc biệt chuyên mục “Nguyễn
23THiện nay, nội dung thi tú tài và đại học (chỉ bao gồm văn học hiện đại) theo chúng tôi là
Du và Truyện Kiều” vào nội dung thi tú tài và đại học.
chưa cân đối và toàn diện. Trong nền văn học của dân tộc Việt Nam, không ai có thể phủ nhận
được vị trí cực kì quan trọng của bộ phận văn học trung đại. Đó là bộ phận văn học phản ánh
cuộc sống, tâm hồn, cốt cách của con người Việt Nam trong cả một giai đoạn lịch sử đau
thương mà hào hùng của dân tộc. Đây cũng là bộ phận văn học hiện diện đầy đủ và cảm động
nhất những truyền thống đạo đức tốt đẹp hun đúc nên tâm hồn con người Việt Nam, trong đó
không thể không kể đến một hiện 23T27Ttượng 23T27Tđỉnh cao: 23T33TTruyện Kiều 23T33Tcủa Nguyễn Du. Theo chúng
tôi, nội dung thi tú tài và đại học phải được bổ sung các tác phẩm văn học trung đại (trong đó
đặc biệt nhấn mạnh 23T33TTruyện Kiều) 23T33Tđể đảm bảo sự cân đối, hài hòa đồng thời kiểm tra được kiến
thức văn học toàn diện ở học sinh.
3.2.5. Nên mở các lớp dạy chữ Hán, các lớp bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên
23TThực tế cho thấy, có nhiều giáo viên biết rất ít về chữ Hán. Điều này đã làm cản trở đáng
về văn học, văn hóa thời trung đại.
kể quá trình dạy học những tác phẩm văn học viết bằng chữ Hán, gây nên tâm lí ngán ngại,
thiếu tự tin ở giáo viên. Sợ thiếu hụt kiến thức về chữ Hán, về văn hóa, văn học cổ ở giáo viên
THPT hiện nay là một thực tế cần phải được quan tâm, chú ý kịp thời và đúng mức. Nên đưa
nội dung này vào một chương trình bồi dưỡng thường xuyên như một yêu cầu bắt buộc đối với
giáo viên.
3.2.6. Cần có một quan điểm "động" hơn đối những tác phẩm còn gây nhiều tranh
23THiện nay, vấn đề dạy học bài thơ Độc Tiểu Thanh Kí là một vấn đề phức tạp, chưa có
luận, chưa có sự thống nhất như bài Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du.
được sự thống nhất giữa các nhà sư phạm, các nhà nghiên cứu ở nhiều phương diện. Theo
chúng tôi, chưa nên đưa một tác phẩm văn học như thế vào chương trình vì sẽ gây nên tâm lí
hoang mang cho người dạy và cả người học. Nếu vẫn giữ bài thơ trong chương trình (như
trong bản dự thảo của Bộ Giáo dục và Đào tạo), cần phải có một quan điểm "động" hơn trong
việc hướng dẫn giảng dạy cho giáo viên. Không nên chỉ giới thiệu một cách hiểu bài thơ của
bản thân người biên soạn
KẾT LUẬN
23TKết thúc 23T33TTruyện Kiều, 23T33TNguyễn Du viết:
33TLời quê chắp nhặt dông dài
33TMua vui cũng được một vài trống canh.
23TKhi viết những dòng thơ này, chắc hẳn nhà thơ không thể ngờ những 23T33T"lời quê chắp nhặt
dông dài" 23T33Tcủa mình lại có thể trở thành mối quan tâm của bao nhiêu con người trong bao
nhiêu thế hệ. Trong đời sống văn hóa của dân tộc, 23T33TTruyện Kiều 23T33Tđã trở thành một hiện tượng
độc đáo, không bao giờ vơi cạn tác dụng giáo dục về lòng nhân ái, trở thành nguồn sức mạnh
23TChuyên mục "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Ttừ lâu đã được đưa vào chương trình môn
tinh thần cao quý của. mỗi con người Việt Nam.
Văn ở nhiều bậc học, phản ánh vị trí quan trọng của nó trong nền văn học dân tộc. Ở cấp
THPT, chuyên mục "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Tcó một ý nghĩa đặc biệt trong việc giáo dục
nhân cách cho học sinh. Bài học về nhân cách lớn Nguyễn Du, bài học về lòng yêu thương con
người kết tinh trong những tác phẩm của ông, chữ Nôm cũng như chữ Hán, sẽ luôn là lời nhắc
nhở các em về truyền thống nhân đạo đức ngời sáng của dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, khi
mà vấn đề hội nhập, toàn cầu hóa đang trở thành mối quan tâm của toàn thể xã hội và đang có
những tác động nhiều chiều thì việc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều" ở 23T33Tnhà
trường THPT lại càng có một ý nghĩa lớn trong việc bồi đắp cho học sinh bản sắc, tâm hồn dân
23TNhưng vấn đề dạy học "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Tlại đang có nhiều tồn tại, phản ánh
tộc.
thực trạng dạy học mảng văn học trung đại nói riêng cũng như thực trạng dạy học Văn nói
chung trong nhà trường THPT hiện nay. Thuộc bộ phận văn học trung đại, chuyên mục
"Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Tcó những thuận lợi và khó khăn riêng chi phối quá trình dạy
học. Qua khảo sát việc dạy học chuyên mục này ở các trường THPT trong địa bàn thành phố
Hố Chí Minh, chúng tôi thấy nổi lên một số vấn đề mà đáng kể nhất là sự ít hứng thú học tập
của học sinh, sự lúng túng trong phương pháp giảng dạy của giáo viên... Với cách dạy học như
hiện nay, học sinh chưa thẩm thấu hết giá trị to lớn chứa đựng trong các bài học về "Nguyễn
Du và 23T33TTruyện Kiều". 23T33TCác em chưa vượt qua được "rào cản" của từ ngữ do đó không thể rung
cảm thực sự với những câu thơ của đại thi hào. Những con số không mong đợi mà chúng tôi
thu nhận được trong kết quả điều tra đã phản ánh phần nào thực trạng này.
81
23TCó nhiều nguyên nhân khiến cho việc dạy học không đạt kết quả như mong muốn. Đó là
sự ngăn trở của nhiều khoảng cách (không gian, thời gian, tâm lí, phong cách ngôn ngữ...)
giữa người dạy, người học thời hiện đại với những tác phẩm của quá khứ. Đó là sự thiếu hụt
về kiến thức văn hóa trung đại của giáo viên, là sự hạn chế về thời lượng những tiết học và sự
23TMột cái nhìn toàn diện từ thực trạng, thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và cả triển vọng
lúng túng của giáo viên trong việc phối kết hợp các phương pháp, phương tiện dạy học...
của việc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Tsẽ góp phần giúp người thầy giáo
dạy Văn tìm ra những giải pháp có tính khả thi. Theo chúng tôi, để việc dạy học chuyên mục
quan trọng này đạt được hiệu quả, cần có sự phối hợp đồng bộ của nhiều yếu tố: chương trình,
SGK, phương pháp dạy học, giáo viên và học sinh... Trong tất cả những giải pháp trình bày
trong luận văn, chúng tôi, bằng chút ít kinh nghiệm và suy nghĩ chủ quan của mình, nhấn
mạnh vào một vấn đề: 23T24TLàm sao tạo ra được sự hứng thú trong học tập cho học sinh. 23T24TGiải
pháp kết hợp nội và ngoại khóa trong những giờ học "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều", 23T33Tkết hợp
giữa kiến thức khái quát và cụ thể trong bài học về tác gia Nguyễn Du, việc dạy học các trích
đoạn 23T33TTruyện Kiều 23T33Tphải được xuất phát từ những đặc trưng thể loại và thi pháp 23T33TTruyện
Kiều 23T33T(như việc chú ý yếu 23T33Ttố truyện,thơ, 23T33Tgiải nghĩa từ ngữ khó)... là những giải pháp theo
23TViệc dạy học chuyên mục "Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều" 23T33Tsẽ đạt hiệu quả nếu có được sự
chúng tôi có thể cải thiện được tình hình dạy học chuyên mục này.
hỗ trợ, sự quan tâm đồng bộ từ nhiều phía, 23T28Tcần 23T28Ttăng thêm số tiết học đối với chuyên mục này,
đặc biệt là bổ sung thêm một số tiết học ngoại khóa nhằm giúp giáo viên và học sinh có cơ hội
hiểu kĩ, khắc sâu được nội dung tư tưởng và giáo dục của bài học. Từ việc dạy học "Nguyễn
Du và 23T33TTruyện Kiều"R R) 23T33Tcần xây dựng một chương trình ngoại khóa văn học để tạo ra được hứng
thú học tập, kích thích sự năng động học tập ở học sinh. Cũng cần bổ sung vào nội dung thi tú
tài và đại học bộ phận văn học trung đại (trong đó nhấn mạnh "Nguyễn Du và 23T33TTruyện
Kiều") 23T33Tđể đảm bảo tính cân đối và kiểm tra kiến thức văn học của học sinh một cách toàn diện.
Để có thể dạy học tốt bộ phận văn học trung đại, cần đưa vào chương trình một số ít giờ học
chữ Hán cho học sinh cũng như mở những lớp bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên về văn
23TTất cả rồi sẽ trôi đi theo dòng chảy của thời gian nhưng những giá trị tinh thần truyền
hóa, văn học trung đại... Đó là một số đề xuất của chúng tôi trong luận văn.
thống cao quý của dân tộc sẽ trường tồn mãi mãi. Bước sang thế kỉ XXI, thế hệ trẻ Việt Nam
sẽ năng động, tự tin hơn để hòa nhập với xu thế phát triển của thời đại nhưng cũng không bao
giờ quên đi nguồn cội, quên đi bản sắc của dân tộc mình. Đây là một vấn đề tưởng chừng đơn
giản song lại cần rất nhiều công sức trong đó không thể thiếu vai trò của người thầy giáo dạy
Văn trong nhà trường. Lòng yêu nghề, yêu trẻ sẽ giúp họ vượt qua được khó khăn trước mắt
để hoàn thành sứ mệnh "trồng người" cao quý mà xã hội đã giao cho.
83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
23TNguyễn An (1999), 23T33TTrên đỉnh Trường Sơn kể "Truyện Kiều", 23T33TNXB thanh niên.
23TNguyễn Đức Ân (2000), 23T33TĐổi mới dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT, 23T33TĐề
1.
2.
23TNguyễn Đức Ân (1997), 23T33TDạy học giảng văn ở trường THPT.
cương BDGV văn.
23TĐào Duy Anh (1987), 23T33TTừ điển Truyện Kiều 23T33T(Tái bản lần thứ 1), NXB Khoa học xã hội.
3.
23TĐào Duy Anh, 23T33TKhảo luận về Kim Vân Kiều, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du, về 33T65Ttác 33T65Tgia và tác
4.
5.
23TNguyễn Sĩ Bá, Nguyễn Quốc Văn, Nguyễn Quang Trung (1995), 23T20 33Tbài giảng văn chọn
phẩm, 23T33Ttr. 324 - 409.
6.
23TNguyễn Sĩ 23T28TCẩn 23T28T(1984), 23T33TMấy vấn đề về phương pháp dạy thơ văn cổ Việt Nam, 23T33TNXB
tuyển 33T43T10, 23T43TNXB Giáo dục.
7.
23TNguyễn Huệ Chi, 23T33TNguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán, 23T33TTheo Vũ
Giáo dục.
8.
Tiến Quỳnh, Phê bình và bình luận văn học: 23T33TNguyễn Du, 23T33TNXB Văn nghệ Tp. HCM, tr.
23TTrương Chính, 23T33TTâm sự của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về tác gia
130 - 143.
9.
23TTrương Chính, 23T47TVề 33T47Tbài Độc Tiểu Thanh kí, 23T33TTheo Nguyễn Văn Tùng, 23T33TTác phẩm văn học
và tác phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr.89-111.
10.
23TNguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc (chủ biên), 23T33TVăn học 33T43T10, 23T43TTập một (sách chỉnh lí hợp
trong nhà trường, những vấn đề trao đổi, 23T33TTập 1, tr.126-129.
11.
23TNguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc (chủ biên), 23T33TVăn học 23T33T10, Tập một, 23T33TSách giáo viên 23T33T(sách
nhất năm 2000), NXB Giáo dục.
12.
23TMai Cao Chương, Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Văn 23T33Thọc Việt Nam thế kỉ X đến nửa
chỉnh lí hợp nhất năm 2000), NXB Giáo dục.
13.
23THoàng Dân, Đường Văn (2002), 23T33TNguyễn Du - Truyện Kiều một hướng cảm, luận và dạy
đầu thế kỉ XVIII 23T33T(Tái bản lần thứ 2 có chỉnh lí bổ sung), NXB Giáo dục, 1997.
14.
23TXuân Diệu (1966), 23T33TThi hào dân tộc Nguyễn Du, 23T33TNXB Văn học, H.
học mới, 23T33TNXB Thanh niên.
23TNguyễn Thị Kim Dung, Lê Minh Thanh, Nguyễn Thị Bích Hòa, 23T33THọc tốt văn 33T10, 23TNXB
15.
16.
Trẻ.
23TNguyễn Hữu Dũng (1988), 23T33TMột số vấn đề cơ bản về giáo dục THPT 23T33T(Sách bồi dưỡng
17.
23TTrần Thanh Đạm, Bùi Văn Nguyên, Tạ Phong Châu (1966), 23T33TGiảng dạy văn học Việt
thường xuyên chu kỳ 1997 - 2000 cho GV).
18.
23TTrần Thanh Đạm (1978), 23T45TVấn 33T45Tđề giảng dạy văn học theo loại thể, 23T33TNXB Giáo dục.
Nam 23T33T(phần cổ điển và cận đại ở trường phổ thông cấp 23T29TIII ), 23T29TNXB Giáo dục.
23TTrần Thanh Đạm (1995), 23T33TDẫn luận văn học so sánh, 23T33TTủ sách Đại học Tổng hợp Tp.
19.
20.
23TTrần Thanh Đạm (chủ biên), 23T33TLàm văn 33T43T10 23T43T(sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000), NXB Giáo
HCM.
21.
23TTrần Thanh Đạm (ch), 23T33TDàn bài tập làm văn 33T43T10 23T43T(sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000), NXB
dục.
22.
23TTrần Thanh Đạm (chủ biên), 23T33TLàm văn 33T43T10, 33T43TSách giáo viên 23T33T(sách chỉnh lí hợp nhất năm
Giáo dục.
23.
23TTrần Thanh Đạm (2000), 23T33TSuy nghĩ về "Trên đỉnh Trường Sơn kể Truyện Kiều", Trên
2000), NXB Giáo dục.
24.
23TTrần Thanh Đạm, 23T33TĐể dạy tốt phần làm văn, 23T33TTài liệu giảng dạy dành cho học viên cao
đỉnh Trường Sơn kể Truyện Kiều, 23T33TNXB Thanh niên tái bản.
25.
23TCao Huy Đỉnh (1976), 23T33TTìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, 23T33TNXB Khoa học
học, 2001.
26.
23TTrịnh Bá Đĩnh, 23T33TDi sản của Nguyễn Du và thời gian, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác
xã hội.
27.
23TMộng Liên Đường chủ nhân, 23T33TBài tựa 23T33T(Bùi Kỷ dịch), Theo 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác
phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr. 11 - 25.
28.
23TLưu Thế Đức, Lý Tu Chương, 23T33TNguyễn Du nhà thơ kiệt xuất Việt Nam và Truyện Kiều
phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr. 166 - 169.
29.
của ông 23T33T(Cao Hữu Lạng dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc), Theo 23T33TNguyễn Du 23T33Tvề 23T33Ttác
23TPhạm Văn Đồng (1973), 23T33TDạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, 23T33TTạp chí 23T33TNghiên
gia và tác phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr. 1019 - 1027.
30.
23TNguyễn Thạch Giang, Triệu Ngọc Lan, Lô Uý Thu, 23T33TMột số nhận xét về Kim Vân Kiều
cứu giáo dục, 23T33Tsố 11.
31.
truyện 23T33Tvới 23T33TĐoạn trường tân thanh, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du, về tác gia và tác phẩm, 23T33TNXB Giáo
dục, 1999.
85
23TTrần Văn Giàu (1993), 23T33TGiá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam 23T33T(tái bản có
32.
23TDương Quảng Hàm (1968), 23T33TViệt Nam văn học sử yếu, 23T33TBộ Giáo dục, Trung tâm Học liệu
bổ sung và sửa chữa), NXB Tp. HCM.
33.
23TDương Quảng Hàm (1968), 23T33TViệt Nam thi văn hợp tuyển, 23T33TBộ Giáo dục, Trung tâm Học
xuất bản (in lần thứ 10), tr. 377 - 385.
34.
23THoàng Ngọc Hiến, 23T33TTriết lý Truyện Kiều, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác phẩm, 23T33TNXB
liệu xuất bản (in lần thứ 9), tr. 107 - 125.
35.
23TTản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, 23T33TVương Thúy Kiều - chú giải tân truyện, 23T33TNXB tổng hợp
Giáo dục, 1999, tr. 546 - 550.
36.
23TĐỗ Đức Hiểu (2000), 23T33TThi pháp hiện đại, 23T33TNXB Hội nhà văn.
Đồng Nai.
23TTrần Đình Hượu (1998), 23T33TNho giáo và văn học Việt Nam thời trung đại, 23T33TNXB Giáo dục.
37.
23TNguyễn Thị Thanh Hương (2001), 23T33TDạy học văn ở trường phổ thông, 23T33TNXB Đại học quốc
38.
39.
33THướng dẫn điều chỉnh nội dung giảng dạy môn Văn -Tiếng Việt THPT 23T33Ttheo SGK chỉnh
gia Hà Nội.
40.
23TTrần Ngọc Hưởng, 23T33TLuận đề về Nguyễn Du và Truyện Kiều, 23T33TNXB Văn nghệ Tp.HCM.
lí và hợp nhất năm 2000, Bộ Giáo dục và đào tạo.
23TNguyễn Thanh Hùng (2000), 23T33THiểu văn dạy văn, 23T33TNXB Giáo dục.
41.
23TJoocjơ BuĐaRen, Nguyễn Du và 23T33T"Đoạn trường tân thanh", 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về tác gia
42.
43.
23TVũ Văn Kính (hiệu khảo), 23T33TTìm nguyên tác Truyện Kiều, 23T33TNXB Văn nghệ TP. Hồ Chí
và tác phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr. 998 - 1001.
44.
23TNgô Đức Kế, 23T33TLuận về chính học cùng tà thuyết quốc văn Kim Vân Kiều - 23T33TNguyễn Du,
Minh - Trung tâm nghiên cứu quốc học, 1998.
45.
23TPhan Công Khanh (2001), 23T33TLịch sử tiếp nhận Truyện Kiều, 23T33TLuận án tiến sĩ ngữ văn,
Theo 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr. 259-264.
46.
23TVũ Ngọc Khánh, 23T33TNguyễn Du đại thi hào dân tộc, 23T33TTheo Vũ Tiến Quỳnh, 23T33TNguyễn 23T33TDu
Trường đại học Sư phạm Tp.HCM.
47.
23THuỳnh Tấn Kim Khánh, 23T33TĐể học tốt văn học 33T10, 23TNXB Trẻ (in lần 4)
(Phê bình và bình luận văn học), NXB Văn nghệ Tp. HCM, tr.7-11.
23TLê Đình Kỵ (1972), 23T33TTruyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, 23T33TNXB Khoa
48.
49.
học xã hội.
23TTrần Kiều (chủ biên), (1997), 23T33TĐổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS, 23T33TTài liệu
50.
23TTrần Kim, Ly Thái Thuận (lời), Trương Quân, (tranh), (2000), 23T33TTruyện Kiều bằng
tham khảo cho giáo viên, Viện Khoa học giáo dục.
51.
23TĐặng Thanh Lê (1979), 23T33TTruyện Kiều và thể loại truyện Nôm, 23T33TNXB Khoa học xã hội.
tranh, 23T33TNXB Văn hóa dân tộc.
23TĐặng Thanh Lê, Giảng 23T33Tvăn Truyện Kiều, 23T33TNXB Giáo dục (tái bản lần 2).
52.
23TMai Quốc 23T33TLiên, Những bí ẩn và rắc rối trong bài Độc Tiểu Thanh kí, 23T33Tbáo 23T33TVăn nghệ, 23T33Tsố
53.
54.
23TMai Quốc Liên (phiên âm, dịch nghĩa, chú thích với sự cộng tác của Nguyễn Quảng
34, ra ngày 21/8/1993.
55.
Tuân, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu Yên), 23T33TNguyễn Du toàn tập, 23T33Ttập 1, NXB Văn học- Trung
23TMai Quốc Liên (1998), 23T33TTạp luận, 23T33TNXB Hội nhà văn và trung tâm nghiên cứu quốc học
tâm nghiên cứu quốc học.
56.
23TMai Quốc Liên (1998), 23T33TĐôi lời thưa lại Đào Quân, 23T33TTheo 23T33TTạp luận, 23T33TNXB Hội nhà văn
(in lần thứ 2).
57.
23TMai Quốc Liên, 23T33TThơ chữ Hán của Nguyễn Du, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác
và Trung tâm nghiên cứu quốc học,23T33T 23T33Ttr. 192 - 203.
58.
23TMai Quốc Liên (chủ nhiệm), (2002), 23T33TNhững vấn đề của phương pháp giảng dạy thơ
phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr.120 - 131.
59.
23TLê Xuân Lít (Tổ chức và tuyển chọn), Đến 23T33Tvới những bài văn hay lớp 9, 23T33Ttập 1, NXB Trẻ.
trong nhà trường, Tạp chí Khoa học, 23T33Ttrường Đại học Sư phạm Tp. HCM, tập 29, số l.
23TLê Xuân Lít (2001), 23T33TCảm nhận và phê bình văn học, 23T33TNXB Đại học quốc gia Hà Nội.
60.
23TLê Xuân Lít (2001), 23T33TTìm hiểu từ ngữ Truyện Kiều, 23T33TNXB Đại học quốc gia Tp.HCM.
61.
23TLê Xuân Lít, 23T33TCái khó khi dạy và học Truyện Kiều, Giáo dục và Thời đại chủ 23T33Tnhật, tháng
62.
63.
23TNguyễn Lộc, 23T33TLịch sử vấn đề nghiên cứu Truyện Kiều, 23T33TTheo Vũ Tiến Quỳnh, 23T33TNguyễn
12/2001.
64.
23TNguyễn Lộc, 23T33TNghệ thuật điển hình hóa và ngôn ngữ Truyện Kiều, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về
Du 23T33T(Phê bình và bình luận văn học), NXB Văn nghệ Tp. HCM, tr. 22 - 54.
65.
23TNguyễn Lộc (1990), 23T33TNguyễn Du con người và cuộc đời, 23T33TNXB Đà Nẵng.
tác gia và tác phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr. 744 - 785.
23TNguyễn Lộc (chủ biên), (1990), 23T33TSách Văn học 33T43T10 33T43T(Sách giáo viên), 23T33TNXB Giáo dục.
66.
23TVũ Đình Long, 23T33TVăn chương Truyện Kiều, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác
67.
68.
phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr. 215 - 258.
87
23TPhan Trọng Luận (chủ biên), (1999), 23T33TThiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà
69.
23TPhan Trọng Luận (1983), 23T33TCảm thụ văn học giảng dạy văn học, 23T33TNXB Giáo dục.
trường phổ thông, 23T33TTập 1 - 2, NXB Giáo dục.
23TPhan Trọng Luận, 23T33TXã hội - văn học - nhà trường, 23T33TNXB Đại học quốc gia Hà Nội (in lần
70.
71.
23TPhan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt (1999), 23T33TPhương
thứ 2), 1998.
72.
23TĐỗ Quang 23T27TLưu 23T27T- Nguyễn Lộc - Nguyễn Sĩ 23T27TCẩn 23T27T(biên soạn), 23T33TĐỗ 23T33TBình Trị - Bùi Duy Tân
pháp dạy học văn, 23T33TNXB Đại học quốc gia Hà Nội.
73.
23TĐặng Thai Mai, 23T33TĐặc sắc của văn học cổ điển Việt Nam qua nội dung Truyện
(chỉnh lí), 23T33TVăn học 9, 23T33TTập một (tái bản lần thứ 10), NXB Giáo dục.
74.
23TTrần Đồng Minh (chủ biên), (2000), Học 23T33Ttốt văn học 33T10, 23TNXB Đại học quốc gia Tp.
Kiều, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác phần, NXB 23T33TGiáo dục, 1999, tr. 522 - 534.
75.
23TN. 23T24TI. 23T24TNiculin, 23T33TNguyễn Du nhà thơ nhân đạo lỗi lạc, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác
HCM.
76.
33TNgành Giáo dục - Đào tạo thực hiện nghị quyết trung ương 33T2 33T(khóa VIII) và nghị quyết
phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr. 1009- 1018.
77.
23TPhan Ngọc (2001), 23T33TTìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, 23T33TNXB Thanh
đại hội Đảng lần thứ 23T33TIX, NXB Giáo dục.
78.
23TNhiều tác giả (1998), 23T33TGiảng văn văn học Việt Nam, 23T33TNXB Giáo dục.
niên. (in theo bản đã công bố năm 1985).
23TNhiều tác giả (1999), 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác phẩm, 23T33TNXB Giáo dục.
79.
23TNhiều tác giả (1984), 23T33TTừ điển văn học 23T33T(Tập 1 .2), NXB Giáo dục.
80.
23TNhiều tác giả, 23T33TCác tác phẩm văn chương cổ và văn chương nước ngoài dạy ở lớp 8,9
81.
82.
C.C.G.D 23T33T(Tài liệu dùng cho chương trình bồi dưỡng thay sách C.C.G.D - Bồi dưỡng
23TNhiều tác giả (1967), 23T33TKỷ niệm 33T200 33Tnăm năm sinh Nguyễn Du, 23T33TNXB Khoa học.
thường xuyên 1989 - 1990).
33TPhân phối chương trình môn Văn - Tiếng Việt 23T33T(2000), Tài liệu chỉ đạo chuyên môn, lưu
83.
84.
23TNguyễn Khắc Phi (1997), dịch và giới thiệu : 23T33TTiểu Thanh truyện, Tạp chí văn học nước
hành nội bộ, Bộ Giáo dục và đào tạo.
85.
23TNguyễn Khắc Phi (chủ biên), (1999), 23T33TPhân tích, bình giảng tác phẩm văn học 33T10, 23TNXB
ngoài, 23T33Tsố 5.
86.
Giáo dục.
23TNguyễn Khắc Phi, 23T33TBàn thêm về cách hiểu Độc Tiểu Thanh kí, Giáo dục và Thời đại,
87.
23TLâm Quế Phong, 23T33TNguyễn Du, 23T33T(Tủ sách văn học trong nhà trường), NXB Văn nghệ Tp.
số 23T33T89, ngày 12/7/ 2001, tr. 8 - 11.
88.
23TNguyễn Ngọc Quang (1989), 23T33TLý luận dạy học đại cương, 23T33Ttập 2, Trường cán bộ quản lý
HCM.
89.
23TPhạm Đan Quế (1991), 23T33TBình Kiều, vịnh Kiều, bói Kiều, 23T33TNXB Hà Nội.
giáo dục trung ương 23T24TI.
23TPhạm Đan Quế (1994), 23T33TTập Kiều một thú chơi tao nhã, 23T33TNXB Văn hóa.
90.
23TPhạm Đan Quế (2000), 23T33TTruyện Kiều 23T33Tvà 23T33TKim Vân Kiều truyện. 23T33TNXB Văn học.
91.
23TVũ Dương Quỹ, Lê Bảo (2002), 23T33TTác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông,
92.
93.
23TVũ Tiến Quỳnh (1997), 23T33TNguyễn Du 23T33T(Phê bình và bình luận văn học), NXB Văn nghệ
những con đường khám phá, 23T33TTập 1, NXB Giáo 23T33Tdục.
94.
23TĐặng Đức Siêu (2001), 23T33TDạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông, 23T33TNXB Giáo dục.
Tp. HCM.
23TLa Sơn Nguyễn Hữu Sơn, 23T33TTiếp nhận Truyện Kiều của Nguyễn Du trong sự so sánh với
95.
96.
Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác
23TLa Sơn Nguyễn Hữu Sơn, 23T33TNiên biểu Nguyễn Du, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác
phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr. 933 -936.
97.
23TTrần Đình 23T31TSử 23T31T(1998), 23T33TMôn văn, thực trạng và giải pháp, Báo văn nghệ, 23T33Tsố 7, tr.5-11.
phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr. 27 - 30.
23TTrần Đình Sử, 23T33TĐộc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác
98.
99.
phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr. 82 - 88.
100. 23TTrần Đình Sử (2001), 23T33TĐọc văn học văn, 23T33TNXB Giáo dục.
23T33TQuyền sống cửa con người trong Truyện Kiều của Nguyễn
101. 23TTrần Đình Sử (2002), 23T33TThi pháp Truyện Kiều, 23T33TNXB Giáo dục.
102. 23THoài Thanh,
Du, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác phẩm, NXB 23T33TGiáo dục, 1999, tr. 452- 498.
103. 23THà Nhật Thăng, 23T33TGiáo dục hệ thống giá trị đạo đức - nhân văn 23T33T(Giáo trình đào tạo GV
THCS và hệ CĐSP, NXB Giáo dục (tái bản lần thứ 2).
104. 23TTrương Xuân Tiếu (2001), 23T33TBình giảng 33T43T10 33T43Ttrích đoạn trong Truyện Kiều, 23T33TNXB Giáo
dục.
105. 23TLê Ngọc Trà (1990), 23T33TLý luận và văn học, 23T33TNXB Trẻ Tp. HCM.
89
106. 23TLê Ngọc Trà (2002), 23T33TVẩn chương và vấn đề dạy văn trong trường phổ thông, Tạp chí
KH, 23T33TĐại học Sư phạm Tp. HCM, tập 29, số 1.
107. 23TĐỗ Bình Trị (chủ biên), 23T33TVăn học 23T33T9, Tập l (Tái bản lần thứ 10), NXB Giáo dục.
23TNguyễn Quảng Tuân, Tìm 23T33Thiểu Nguyễn Du và Truyện Kiều, 23T33TNXB Khoa học xã hội -
108. 23TNguyễn Nguyên Trứ (1990), 23T33TThơ và thẩm bình thơ, 23T33TNXB Giáo dục.
109.
23TNguyễn Văn Tùng (2002),
23T33TTác phẩm văn học trong nhà trường, những
Trung tâm nghiên cứu quốc học.
110.
23TĐoàn Thị Thu Vân, Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình 23T29TSử, 23T29THuyền Giang, Trần Ngọc
vấn 33T43Tđề 33T43Ttrao 33T43Tđổi 23T43Ttập 1, NXB Đại học quốc gia Hà Nội (in lần thứ 2).
111.
23TNguyễn Khắc Viện, 23T33TGiới thiệu Truyện Kiều, 23T33TTheo 23T33TNguyễn Du về tác gia và tác
Vượng, Trần Nho Thìn, 23T47TVề 33T47Tcon người cá nhân trong văn học cổ, 23T33TNXB Giáo dục, 1998.
112.
23TLê Trí Viễn (1982), 23T33TNhững bài giảng văn ở đại học, 23T33TNXB Giáo dục.
phẩm, 23T33TNXB Giáo dục, 1999, tr. 535 - 545.
23TLề Trí Viễn (1999), 23T33TQuy luật phát triển lịch sử văn học Việt Nam, NXB 23T33TGiáo dục (Tái
113.
114.
23TTrịnh Xuân Vũ, 23T33TPhương pháp dạy học văn ở bậc trung học, 23T33TNXB Đại học Quốc gia Tp
bản lần thứ 1).
115.
23TTrần Thanh Xuân (1987), 23T33TMột vài đặc điểm của phong cảnh thiên nhiên trong Truyện
HCM.
116.
23TLê Thu Yến, 23T33TĐặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du, 23T33TNXB Thanh niên.
Kiều, Tạp chí văn học, 23T33Tsố 6.
23TLê Thu Yến (chủ biên), (2000), Văn 23T33Thọc Việt Nam - Văn học trung đại, những công
117.
118.
23TLê Thu Yến (2001), 23T33TNguyễn Du 23T33T(Nhà văn trong nhà trường), NXB Giáo đục.
trình nghiên cứu, 23T33TNXB Giáo dục.
23T120. Lê Thu Yến, 23T33TNguyễn Du và Truyện Kiều trong cảm hứng thơ người đời sau, 23T33TNXB
119.
Giáo dục.
PHỤ LỤC
24TPHIẾU ĐIỀU TRA ( Dành cho học sinh lớp 24T78T10 )
23T(Hãy đánh dấu 23T24TX 23T24Tvào các ô mà em cho là đúng)
23TUCâu 1U: Trong các tác giả sau đây, tác giả nào thuộc giai đoạn văn học trung đại (từ TK X đến
PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐIỀU TRA, KẾT QUẢ ĐIỀU TRA
hết TK XIX).
□ 23TBà Huyện Thanh Quan □ 23TNguyễn Du □ 23TNguyễn Trãi
□ 23TPhạm Tiến Duật □ 23TTrần Tế Xương □ 23TThanh Hải
23TUCâu 2U: Nguyễn Du là tác giả thuộc giai đoạn văn học nào dưới đây?
□ 23TKim Lân □ 23TNguyễn Khuyến □ 23THồ Xuân Hương
□ 23TTừ thế kỷ X đến thế kỷ XV.
□ 23TNửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu TK XIX.
□ 23TTừ thế 23T29Tkỷ XVI 23T29Tđến nửa đầu thế kỷ XVIII.
23TUCâu 3U: Hãy đánh dấu X vào những ô em cho là đúng về tiểu sử Nguyễn Du :
□ 23TCuối thế kỷ XIX.
□ 23TSinh năm 1766- mất 1820. □ 23TNăm 1810 ra làm quan với triều Nguyễn
□ 23TQuê ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh. □ 23TSinh ở Thăng Long
□ 23TXuất thân trong một gia đình nhà nho □ 23TTừng sống long đong vất vả
23TUCâu 4U: Hãy xếp theo thứ tự diễn biến của 23T33TTruyện Kiều:
nghèo □ 23TQuê ở Thăng Long
□ Kiều bị mắc lừa Sở Khanh □ 23TThúy Kiều bán mình chuộc cha và em.
□ Kiều đính ước với Kim Trọng □ 23TKiều gặp Từ Hải
□ Kiều đoàn tụ với gia đình. □ 23TKiều gặp Thúc Sinh
23TUCâu 5U: Theo em, Nguyễn Du sáng tác 23T33TTruyện Kiều:
□ 23TKiều trầm mình ở sông Tiền Đường
□ 23T Không dựa vào cốt truyện nào.
23TUCâu 6U: 23T33TTruyện Kiều 23T33Tcủa Nguyễn Du được viết bằng thứ chữ nào dưới đây?
23TChữ Nôm
□ 23T Dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân.
23TUCâu 7U: Em hãy viết ngắn gọn giá trị nội dung của tác phẩm 23T33TTruyện Kiều.
□ 23TChữ Quốc ngữ □ 23TChữ Hán □
91
23TUCâu 8U: Hãy cho biết đoạn trích 23T33TTrao duyên 23T33Ttrong 23T33TTruyện Kiều 23T33Tnằm ở vị trí nào trong 23T33TTruyện
Kiều?
□ 23TLà một trong những đoạn mở đầu cuộc đời đau khổ của Kiều
□ 23TSau khi gia đình gặp nạn, Kiều đã quyết định bán mình chuộc cha và em.
23TUCâu 9U: Đoạn trích 23T33TTrao duyên 23T33Tthể hiện tâm trạng nào của Kiều dưới đây:
□ 23TSau khi Kiều đã vào lầu xanh
□ 23TNỗi đau xót của Kiều khi phải trao duyên cho em.
23TUCâu 10:U Sau khi học xong đoạn trích 23T33TNhững nỗi lòng tê tái 23T33Tem thấy Kiều có những phẩm chất
□ 23TKiều vui mừng vì đã trao duyên cho em.
đáng quí nào dưới đậy?
□ 27TVẫn 23T27Tgiữ được nhân cách trong cảnh sống nhuốc nhơ.
□ 23TRất yêu thương hai em.
□ 23TRất có hiếu với cha mẹ
23TUCâu l1U: Nguyễn Du đã sử dụng nghệ thuật nào dưới đây khi thể hiện nhân vật Thúy Kiều trong
□ 23TĐầy ân tình với Kim Trọng.
đoạn trích 23T33TNhững nỗi lòng tê tái ?
23TUCâu 12U: Trong đoạn trích 23T33TNhững nỗi lòng tê 33T66Ttái 23T66Tem còn chưa hiểu những từ ngữ nào trong các
□ Miêu tả ngoại hình nhân vật □ 23TMiêu tả nội tâm nhân vật.
từ ngữ dưới đây ?
□ 33TMưa Sở mây Tần □ 33TChín chữ cao sâu □ 33TGiấc hương quan
□ 33TCung cầm □ 33TTrân cam □ 33TĐoạn tràng
23TUCâu 13:U 23T33T"Màu quan 23T33Tsan" trong đoạn trích 23T33TThúc sinh từ biệt Thúy Kiều 23T33Tlà :
□ 33THồng nhan □ 33TSong sa □ 33TLiễu Chương Đài
23TUCâu 14:U Tiểu Thanh trong bài thơ 23T33TĐộc Tiểu Thanh 33T45Tk í :
□ 23T Màu sắc trong hội họa. □ Màu sắc tâm lí. □ Màu không có thật.
□ 23T Cô gái sống cùng thời với Nguyễn Du.
23TUCâu 15:U Trong các đoạn trích 23T33TTrao duyên, Những nỗi lòng tê tái, Thúc Sinh từ biệt Thúy
□ 23T Sống ở nước ngoài ( Trung Quốc ) cách Nguyễn Du 300 năm trước.
Kiều 23T33Tvà bài 23T33TĐộc Tiểu Thanh Kí, 23T33Tem không thích học đoạn, bài nào?
23TUCâu 16U: Em có thích học 23T33TTruyện Kiều 23T33Tvà tác giả Nguyễn Du không?
23TCó
□ 33TTrao duyên □ 33TThúc sinh từ biệt Thúy Kiều
23T Không
□ □
23TUCâu 17U: Em thích học 23T33TTruyện Kiều 23T33Tlà vì những lí do nào dưới đây?
□ 23T Nguyễn Du là một tác giả lớn □ 23T Giáo viên dạy hay
□ 23T Thích nhân vật Thúy Kiều □ 23T Cốt truyện hay, hấp dẫn
□ 23T Truyện Kiều giúp em hiểu về tài năng
23T23TUCâu 18:U Em không thích học 23T33TTruyện Kiều 23T33Tvì:
nghệ thuật của Nguyễn Du
□ 23TCó quá nhiều từ ngữ khó hiểu □ Vì đã được học kỹ 23T33Tở 23T33Tlớp 9.
□ Giáo viên dạy không hay. □ 23TCác đoạn trích dài quá
□ 23TCâu chuyện xa lạ, không gần gũi với đời sống hiện nay của em
93
24TPHIẾU ĐIỀU TRA (Dành cho học sinh lớp 11 và 12)
23T(Đánh dấu X vào các ô mà em cho là đúng)
23TUCâu 1U: Em thích nhất tác giả văn học trung đại (từ TK X đến hết TK XIX) nào dưới đây ?
□ Hồ Xuân Hương □ 23TNguyễn Trãi □ Nguyễn Du
23TUCâu 2U: Trong các tác phẩm văn học trung đại dưới đây, các tác phẩm nào là của
□ Nguyễn Công Trứ □ 23TNguyễn Khuyên □ Trần Tế Xương
đại thi hào dân tộc Nguyễn Du? (đánh dấu X vào các ô được chọn).
□ 23TQuốc âm thi tập □ 23TChinh phụ ngâm □ 23TVăn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc □ 23TThanh Hiên thi tập □ 23TBắc hành tạp lục
□ 23TCung oán ngâm khúc □ 23TBạch Đằng giang phú
□ 23TVăn tế thập loại chúng □ 23TTruyện Kiều
23TUCâu 3U: Em thấy việc học văn học trung đại có cần thiết đối với bản thân hay không?
sinh ( Văn chiêu hồn) □ 23TNam trung tạp ngâm
23TUCâu 4U: Theo em, bộ phận văn học trung đại:
□ Không. □ 23TCó.
□ 23TChiếm một vị trí to lớn trong nền văn học dân tộc
□ 23TKhông quan trọng bằng văn học hiện đại.
23TUCâu 5U: Em thích học văn học trung đại vì :
□ 23TKhông hay bằng văn học hiện đại.
□ 23TĐây là một bộ phận văn học quan trọng trong văn học dân tộc.
□ 23TGiúp ta hiểu nhiều về thời đại, cuộc sống của ông cha ta.
□ 23TCó nội dung sâu sắc
23TUCâu 6U: Em không thích học văn học trung đại vì:
□ 23TGiáo viên dạy hay
□ 23TNội dung các tác phẩm rất khó hiểu.
□ 23TQuá nhiều từ ngữ khó hiểu .
□ 23TGiáo viên dạy không hay
23TUCâu 7U: Trong kì thi tú tài, em có muốn bổ sung vào nội dung ôn thi một số tác phẩm, tác giả
□ 23TKhông gần gũi với cuộc sống hiện nay của em
văn học trung đại không ?
23TUCâu 8U: Theo em , chương trình văn học trung đại được học ở lớp nào dưới đây là thích hợp
□ Không. □ 23TCó.
nhất?
24T
□ Lớp 11 □ Lớp 12 □ 23TLớp 10
95
23TUCâu 1U: Khi giảng dạy Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều, 23T33Tanh (chị) thấy thời gian được quy định cho
PHIẾU ĐIỀU TRA ( Dành cho giáo viên )
23TNguyễn Du (2 tiết)
23TĐủ
23TKhông đủ
từng bài dưới đây là đủ hay chưa đủ?
23TĐủ
23TKhông đủ
□ □
23TTrao duyên (2 tiết)
23TĐủ
23TKhông đủ
□ □
23TNhững nỗi lòng tê tái (2 tiết)
23TĐủ
23TKhông đủ
□ □
23TThúc Sinh từ biệt Thúy Kiều (1 tiết)
23TĐủ
23TKhông đủ
□ □
23TĐộc Tiểu Thanh kí (1 tiết)
23TUCâu 2U : Nguyễn Du là một tác gia chiếm vị trí lớn trong chương trình văn học ở PTTH. Vậy
□ □
theo anh (chị) thời gian 8 tiết dạy và học về tác giả Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều 23T33Tlà đủ hay
không đủ?
23TUCâu 3U: Trong khi giảng dạy Nguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều, 23T33Tanh (chị) đã sử dụng các hoạt động
□ Không đủ □ 23TĐủ
và hình thức hỗ trợ hoạt động dạy và học nào dưới đây:
□ Vi tính □ Phim □ 23TTranh ảnh
□ Diễn ngâm □ Cho học sinh thuyết trình □ 23TNgoại khóa
23TUCâu 4U: Anh (chị) thường gặp phải những khó khăn nào dưới đây khi giảng dạy Nguyễn Du
□ 23TKhông sử dụng
và 23T33TTruyện Kiều?
□ 23TKhông đủ thời gian dạy trên lớp
□ 23TVốn chữ Hán còn ít
□ 23TVốn tri thức về văn hóa trung đại còn hạn chế
□ 23THS học yếu, chậm tiếp thu.
23TUCâu 5U: Anh (chị) thấy bài nào dưới đây là khó dạy nhất ?
□ 23TCòn lúng túng về phương pháp
□ 23TNguyễn Du □ 23TĐộc Tiểu Thanh kí
□ 23TTrao duyên □ 23TKhông bài nào khó dạy
□ 23TThúc Sinh từ biệt Thúy Kiều
23TUCâu 6U: Để tạo thuận lợi cho GV- HS trong quá trình dạy và học, theo anh (chị), có cần bổ sung
thêm sách vở, tài liệu và các chú thích trong SGK về những điển cố, điển tích, từ Hán
Việt...không?
23TUCâu 7 :U Nếu được Sở Giáo dục và Đào tạo mở lớp bồi dưỡng với nội dung cụ thể là cung cấp
□ Không cần □ 23TCần
thêm những hiểu biết về văn học, văn hóa thời trung đại, anh ( chị) có sẵn sàng tham gia
không?
□ Không. □ 23TCó.
96
24TKẾT QUẢ ĐIỀU TRA
24TUBẢNG IU : Dành cho HS lớp 24T78T10
23T(Tổng số phiếu điều tra : 55023T23T)
34THS trả lời
34TSTT 34T1
34TNội dung điều tra 23TXác định Nguyễn Du là tác 23Tgia thuộc giai đoạn cuối TK 23TXVIII đến đầu TK XIX.
23TĐúng 23TSai 23TKhông có ý kiến
34TSL 23T297 23T218 23T35
69T% 23T 54 23T39.6 23T6.4
23T2
23TXác định tiểu sử Nguyễn 23TDu
23TĐúng 23TChưa đủ 23TSai
23T138 23T282 23T130
23T25.1 23T51.3 23T23.6
23T3
31TXếp 23T31Tđúng diễn biến 23T33TTruyện 33TKiều
23TĐúng 23TSai 23TKhông có ý kiến
23T395 23T142 23T13
23T71.8 23T25.8 23T2.4
23T4
23TXác định nguồn gốc 23T33TTruyện 33TKiều
23TĐúng 23TSai 23TKhông có ý kiến
23T531 23T11 23T8
23T96.5 23T 2 23T1.5
23T5
23TXác định 23T33TTruyện Kiều 33T34Tđược 23Tviết bằng chữ Nôm
23TĐúng 23TSai 23TKhông có ý kiến
23T418 23T127 23T5
23T 76 23T23.1 23T0.9
23T6
23TXác định nội dung 23T33TTruyện 33TKiều
23TĐúng 23TSai 23TKhông có ý kiến
23T303 23T143 23T104
23T55.1 23T 26 23T18.9
23T7
23TXác định vị trí đoạn trích 33TTrao duyên
23TĐúng 23TSai 23TKhông có ý kiến
23T477 23T20 23T53
23T86.7 23T3.6 23T9.6
23T8
23TXác định tâm trạng của 23TKiều trong 23T33TTrao duyên
23TĐúng 23TSai
23T538 23T12
23T97.8 23T2.2
23T9
23T530 23T20
23T96.4 23T4.4
23T10
23T537 23T13
23T97.6 23T2.4
23TXác định được phẩm chất 23Tcủa Kiều trong 23T33TNhững nỗi 33Tlòng tê tái 33TXác 23T33Tđịnh nghệ thuật miêu 31Ttả 23T31Tnhân vật Kiều trong 33TNhững nỗi lòng tê tái
23TĐúng 23TSai 23TĐúng 23TSai
34THS trả lời
34TSTT 23T1 1
34TNội dung điều tra 23TChưa hiểu các từ Hán Việt 23Ttrong 23T33TNhững nỗi lòng tê tái
23T2-3 từ 23T4-5 từ 23T6-8 từ
70T% 23T54.7 23T22.9 23T8.9
34TSL 23T301 23T126 23T 49
97
23TCả 9 từ 23TKhông có ý kiến
23T 32 23T 42
23T5.8 23T7.6
23T12
23TXác định thời đại Tiểu 23TThanh sống
23TĐúng 23TSai
23T94.4 23T5.6
23T519 23T31
23T13
23TKhông thích học bài, đoạn 23Ttrích nào?
33TTrao duyên 33TNhững nỗi lòng tê tái 33TThúc Sinh từ biệt TKiều 33TĐộc Tiểu Thanh kí
23T17.6 23T 40 23T18.5 23T23.8
23T97 23T220 23T102 23T131
23T14
23T87.1 23T12.9
23T479 23T71
23TVấn đề hứng thú khi học 23Tcác trích đoạn trong 23T33TTruyện 33TKiều 23T33Tvà bài thơ 23T33TĐộc Tiểu 33TThanh kí
23TTrả lời không thích học 23TKhông có ý kiến.
23T15
23T 75 23T 47
23T13.6 23T26.7
23T243
23T44.2
23T315 23T100
23T57.3 23T18.2
23TCác lí do HS thích học 23TNguyễn Du và 23T33TTruyện Kiều
23TN.Du là một tác giả lớn 23TGiáo viên dạy hay 33TTruyện Kiều 23T33Tgiúp em 23Thiểu về tài năng của 23TNguyễn Du. 23TCốt truyện hay, hấp dẫn. 23TThích nhân vật Thúy 23TKiều.
23T16
23T256
23T46.5
23T225
23T40.9
23TCác lí do HS không thích 23Thọc Nguyễn Du, 23T33TTruyện 33TKiều và 23T33Tbài 23T33TĐộc Tiểu Thanh 33Tkí.
23TCó nhiều từ ngữ khó 23Thiểu. 23TCác đoạn trích dài quá. 23TCâu chuyện xa lạ, không 23Tgần gũi với em. 23TĐã được học kỹ ở lớp 9. 23TGiáo viên dạy không hay
23T87 23T30 23T28
23T15.8 23T5.5 23T5.1
98
24TUBẢNG IIU : Dành cho HS lớp 11
23TSố phiếu điều tra : 2023T23T0
34TSTT
41TNội 34T41Tdung điều tra
34THS trả lời
34TSL
71T%
41T1
23TThích tác giả VH 23Ttrung đại nào nhất ?
23TNguyễn Trãi 23TNguyễn Khuyến 23TNguyễn Du 23TTrần Tế 23T27TXương 23THồ Xuân Hương
23T39 23T12 23T95 23T30 23T15
23T19.5 23T6 23T47.5 23T15 23T7.5
23TXác định được các tác 23Tphẩm của Nguyễn Du
23TĐúng 23TSai 23TChưa đủ
23T60 23T40 23T100
23T30 23T20 23T50
23T3
23T180 23T20
23T90 23T10
23T4
2
23T84 23T7.5
23T17
23T8.5
23TViệc học VH trung đại 23Tcó cần thiết với bản 23Tthân 23TĐánh giá của bản thân 23Tvề vị trí, tầm quan 23Ttrọng của VH trung đại
23TCần 23TKhông cần 23TCó vị trí to lớn trong VH dân tộc 23TKhông quan trọng bằng VH hiện 23Tđại 23TKhông hay bằng văn học hiện 23Tđại
23T5
23T35
23T17.5
23T90
23T45
23TCác lí do khiến HS 23Tthích học VH trung đại
23TGiúp em hiểu về một bộ phận 23Tquan trọng của VH dân tộc 23TGiúp em hiểu về thời đại, cuộc 23Tsống của ông cha ta 23TCó nội dung sâu sắc 23TGiáo viên dạy hay
23T30 23T40
23T15 23T20
23T6
23TCác lí do khiến HS 23Tkhông thích học VH 23Ttrung đại
23TNội dung tác phẩm khó hiểu 23TGiáo viên dạy không hay 23TQuá nhiều từ ngữ khó hiểu 23TKhông gần gũi với em
23T30 23T15 23T80 23T75
23T15 23T7.5 23T40 23T37.5
23T7
23T15 23T85
23T30 23T170
23T8
23TCó muốn bổ sung VH 23Ttrung đại vào kì thi tú 23Ttài? 23THọc VH trung đại lớp 23Tnào thì thích hợp nhất?
23TCó 23TKhông 23TLớp 10 23TLớp 11 23TLớp 12
23T85 23T55 23T60
23T42.5 23T27.5 23T30
24T
23T168 23T15
99
UBẢNG U24T72TUIIIU 24T72T: Dành cho HS lớp 12 23TSố phiếu điều tra : 200
34TSTT
34TNội dung điều tra
34TKết quả trả lời của HS
34TSL
73T%
34T1
23TThích tác giả VH 23Ttrung đại nào nhất ?
23TNguyễn Trãi 23TNguyễn Khuyến 23TNguyễn Du 23TTrần Tế Xương 23THồ Xuân Hương
23T20 23T22 23T87 23T23 23T48
23T10 23T11 23T43,5 23T11,5 23T24
23TXác định được các tác 23Tphẩm của Nguyễn Du
23TĐúng 23TSai 23TChưa đủ
23T13 23T55 23T132
23T6,5 23T27,5 23T66
23T3
23T171 23T29
23T85,5 23T14,5
23TViệc học VH trung đại 23Tlà cần thiết với bản 23Tthân?
23TCần 23TKhông cần
23T4
23T165 23T16
23T82,5 23T8
23TĐánh giá của bản thân 23Tvề vị trí, tầm quan 23Ttrọng của VH trung đại
23TCó vị trí to lớn trong VH dân tộc 23TKhông quan trọng bằng VH hiện 23Tđại 23TKhông hay bằng VH hiện đại
23T19
23T9,5
23T20
23T10
23T5
23T126
23T63
23TCác lí do khiến HS 23Tthích học VH trung đại
23TGiúp em hiểu về một bộ phận 23Tquan trọng của VH dân tộc 23TGiúp em hiểu về thời đại, cuộc 23Tsống của ông cha ta 23TCó nội dung sâu sắc 23TGiáo viên dạy hay
23T58 23T9
23T29 23T4,5
23T6
23TLí do khiến HS không 23Tthích họcVH trung đại
23TNội dung tác phẩm khó hiểu 23TGiáo viên dạy không hay 23TQuá nhiều từ ngữ khó hiểu 23TKhông gần gũi với em
23T31 23T6 23T81 23T70
23T15,5 23T3 23T40,5 23T35
23T7
23T17 23T83
23T34 23T166
23T8
23TCó muốn bổ sung VH 23Ttrung đại vào kì thi tú 23Ttài 23THọc VH trung đại lớp 23Tnào thì thích hợp nhất?
23TCó 23TKhông 23TLớp 10 23TLớp 11 23TLớp 12
23T54 23T95 23T41
23T27 23T47 23T20
2
24T
100
UBẢNG IVU : Dành cho giáo viên
23TSố lượng phiếu : 85
34TSTT 34TNội dung điều tra
34TKết quả trả lời
34TSL
74T%
33T1
23TThời gian dạy từng bài
23TKhông đủ
23T41
23T48.2
33TTrao duyên
23TKhông đủ
23T27
23T31.8
33TNhững nỗi lòng tê tái 23TKhông đủ 33TThúc Sinh từ biệt Thúy Kiều 23TKhông đủ
23T31 23T39
23T36.5 23T45.9
trong chương trình: 23TNguyễn Du
23TThời gian 8 tiết có đủ để 23Tdạy không?
23TĐủ 23TKhông đủ
23T5 23T80
23T5.9 23T94.1
23T3
23TCó sử dụng các hình thức 23Thỗ trợ dạy và học không?
23TCó sử dụng 23TKhông sử dụng
23T18 23T67
23T21.2 23T78.8
23T4
23T79 23T35
23TNhững khó khăn GV gặp 23Tphải khi dạy Nguyễn Du 23Tvà 23T33TTruyện Kiều
23TKhông đủ thời gian dạy trên lớp 23TVốn tri thức về văn hóa trung 23Tđại còn hạn chế 23TVốn chữ Hán còn ít
23T36
23T92.9 23T41.2 23T42.4
23THS học yếu
23T41
23T48.2
23TCòn lúng túng về phương pháp
23T10
23T11.8
23T5
23TBài nào là khó dạy nhất?
33TTrao duyên 33TNhững nỗi lòng tê tái
23T7 23T14
23T8.2 23T16.4
33TThúc Sinh từ biệt Thúy Kiều 33TĐộc Tiểu Thanh kí 23TKhông bài nào khó dạy
23T5 23T35 23T24
23T5.9 23T41.2 23T28.2
23T6
23TCần phải bổ sung thêm
23TCần 23TKhông cần
23T76 23T9
23T89.4 23T10.6
23T55
23T64.7
23T7
23Tchú thích trong SGK, tài liệu tham khảo không? 23TCó sẵn sàng tham gia các 23Tlớp bồi dưỡng kiến thức
23T4.7
23T4
2
27TSẵn 23T27Tsàng 23TKhông 23TCó chất lượng mới tham gia
VH, văn hóa thời trung 10.6 9
75T
đại không ?
101
PHỤ LỤC 2 NHỮNG TRÍCH ĐOẠN TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU VÀ
24TĐoạn trích thứ nhất: 24T34TTrao duyên 24T34T(Trích 24T34TTruyện Kiều 24T34Tcủa Nguyễn Du)
33TCậy em, em có chịu lời
33TXót tình máu mủ, thay lời nước non.
33TNgồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
33TChị dù thịt nát xương mòn,
33TGiữa đường đứt gánh tương tư,
33TNgậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
33T Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
33TChiếc thoa với bức tờ mây,
33TKể từ khi gặp chàng Kim,
33TDuyên này thì giữ vật này của chung.
33TKhi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
33TDù em nên vợ nên chồng,
33TSự đâu sóng gió bất kì,
33TXót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!
33THiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
33TMất người còn chút của tin,
33TNgày xuân em hãy còn dài,
33TPhím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
33TMai sau dù có bao giờ, .
33TBây giờ trâm gãy bình tan,
33TĐốt lò hương ấy, so tơ phím này.
33TKể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
33TTrông ra ngọn cỏ lá cây,
33TTrăm nghìn gửi lạy tình quân,
33TThấy hiu hiu gió thì hay chị về.
33TTơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
33THồn còn mang nặng lời thề,
33TPhận sao phận bạc như vôi ?
33TNát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
33TĐã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
33TDạ đài cách mặt, khuất lời,
33TÔi Kim lang! Hỡi Kim lang!
33TRảy xin chén nước cho người thác oan.
33TThôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
33T(Văn học 33T1023T, Tập một, 23T33TSách chỉnh lí hợp nhất năm 33T2000, 23TNXB Giáo dục)
24TĐoạn trích trong 24T34TKim Vân Kiều truyện 24T34Tcủa Thanh Tâm Tài Nhân.
23TQuyển một (Hồi IV):
23TThúy Vân nói: Chị ạ! Em nghĩ cả nhà mình mắc nạn, sao lại để một mình chị lầm than!
KIM VÂN KIỀU TRUYỆN CỦA THANH TÂM TÀI NHÂN
Thúy Kiều nói: Việc đến nỗi này, không thể không đi theo con đường ấy. Em còn trẻ, làm gì
được việc này. Em là người lương thần hiếu thờ cha mẹ, chị là người trung thần giết mình
thành nhân vậy thôi! Huống chi, chị đã biết rõ thân này mệnh bạc, mặc cho đông tây đày đọa,
nhưng chỉ phụ lòng... Nói đến đó liền im bặt. Thúy Vân nói: Chị có điều gì không tiện nói ra,
đã đến lúc này còn không nói với em? Thúy Kiều nói: Chị có chút tâm sự muốn nói với em,
nhưng khó lòng mở miệng. Nếu không nói, thì lại phụ tấm lòng của một người chí thành.
102
Thúy Vân ngạc nhiên nói: Gọi là người chí thành, phải chăng đó là chàng Thiên Kim Lý? Từ
trước đến nay chị chưa hề gặp mặt chàng, thì sao biết là người chí thành? Thúy Kiều than thở
và nói:
- 23TChị cùng chàng Kim đã thề thốt giai lão trăm năm. Ngày nay xảy ra việc bất trắc,
muốn vẹn hiếu thì không thể vẹn tình. Rồi đây thân chị không biết trôi dạt về đâu, lúc chàng
trở lại, thì trăm mối tơ lòng biết gửi cùng ai. Mời em ngồi yên cho chị lạy. Thúy Vân nói: Chị
lạy em là nghĩa làm sao? Thúy Kiều nói: Lạy đây chẳng việc gì khác, chỉ vì ân tình chưa vẹn
với chàng Kim, nhờ em đền bồi thay chị. Chị dù thịt nát xương mòn cũng sẽ ngậm cười nơi
chín suối! Nói đoạn, cất tiếng khóc lớn rồi ngất đi hồi lâu mới tỉnh. Thúy Vân nói: Lời chị dặn,
em xin vâng lĩnh. Mong chị giữ gìn thân thể. Thúy Kiều nói:
- 23TChàng Kim vừa đi Liêu Dương, việc cứu cha, chị không thể chần chừ giây lát. Công
việc khó liệu, nên không thể không nhờ đến em! chị với chàng Kim có một minh 23T27Tước, 23T27Tmột đôi
vòng bạc, xin đưa cả cho em, mong em giữ gìn, để làm mối ăn ở lâu dài về sau. Chị sợ người
tài tình như chàng Kim, khó lòng mà gặp, chị cùng chàng thề thốt bao nhiêu, tất cả nhờ em giữ
trọn vẹn. Sau này chồng quý vợ vinh, đừng có quên chị! Có lẽ bà mối sắp đến, e không kịp nói
nữa, vậy chị viết mấy chữ nhờ em trao lại chàng Kim. Nghĩ lại cuộc thề dưới trăng không bao
giờ được thấy lại nữa. Trước đây, chị nằm mộng thấy Lưu Đạm Tiên bảo chị đề khúc đoạn
trường, lại nói chị cùng là người trong hội, dự đoán 23T81Tcuộc 23T81Tđời chị sẽ không ra ngoài cảnh đoạn
trường. Trước đây, đối với chàng chị giữ mình kiên quyết theo lẽ thường, nay gặp biến lớn thế
này thì một đời sướng khổ, phó mặc ông xanh, mình còn làm chủ sao được! Sau này, vạn nhất
chàng Kim còn có tình, hoặc em còn nhớ đến, có lòng tốt tìm chị, thì đại khái cứ đến sông
Tiền Đường, ắt thấy tăm hơi. Cái triệu Tiền Đường, chị đã từng nghe trong giấc mộng, điềm
trước đã ứng rồi, việc sau tất nhiên cũng đúng. Nói xong, nàng dậm chân khóc và nói: Chàng
Kim! Chàng Kim! Thiếp đã phụ chàng rồi! Thiếp đã phụ chàng rồi! Nói xong, lại khóc nức nở
hồi lâu, rồi bỗng nhiên nín hẳn và nói với Thúy Vân:
- 23TEm ạ! Chị không khóc nữa đâu! Mẹ trở về, mụ mối tất cũng đến. Việc này 23T76Tliên can
đến chuyện trộm 23T76Tcướp, 23T76Tchắc rằng gần vùng không 23T76Tai 23T76Tdám 23T76Tcưới chị, nhất định phải là người xa.
Họ cưới rồi tất giục đi ngay, lúc bấy giờ gan ruột rối bời, dù muốn để lại nửa chữ cũng không
thể viết, chi bằng lấy bút ra đây, chị viết sẵn cho tử tế. Bèn mài mực vẽ bút, thở dài một tiếng,
châu lệ chứa chan, và nói: Chàng Kim! Chàng Kim! Trước đây thiếp cố giữ vẹn tấm thân,
không chiều ý chàng là vì sợ trong đêm hợp cẩn, không lấy gì làm tin. Nếu sớm biết biến ngày
nay như thế này, thì lúc ấy còn giữ làm chi". Bèn nín khóc mà cầm bút viết: 23T33T"Thúy Kiều mệnh
103
bạc, nhà xảy tai ương, không thể bắt chước Đỗ Oanh kêu oan cho cha, mà chỉ làm được như
Lý Lý bán mình để gỡ nạn nhà. Bán mình tức là làm nhục cho chàng. Đáng thẹn thay và đáng
giận thay! Nghĩ lại cái việc dưới đèn gieo thoi cự tuyệt bữa trước, lại thành ra bản án bạc
mệnh của thiếp vậy, chàng nhớ đến đấy há chẳng oán thiếp chăng? Thiếp nghĩ tình bạc,
không thể nối lại tơ duyên, nên xin nhờ cô em nhà nâng khăn sửa túi, nếu chàng không ruồng
bỏ mà dung nhận cho, thì như thế là thiếp cũng đền chút ân tình trong muôn một! Bên trời
góc biển, lặn lội nay mai, lời thề dưới trăng đã thành niềm tưởng hão. Một cây hồ cầm, một
tập oán khúc, một gói hương trầm để lại. Sau này có lúc chàng cùng em thiếp, vợ chồng đốt
hương ngâm vịnh, ca khúc dạo đàn, nếu thấy gió lạnh hiu hiu, khói hương quanh quất, thì
ấy là hồn thiếp ở đấy. Mong chàng sẽ lấy chén trà tưới viếng hồn oan thì thiếp được đội ơn
nhiều lắm! Sinh ly tử biệt, hết chuyện từ đây lời lắm tình dài, kể khôn xiết kể. Chỉ mong chàng
luôn gắng sức dưỡng thân, chớ cố nghĩ gì đến thiếp. Mấy lời dâng lên chàng Thiên Lý. Thiếp
33T(Tiếp theo đó là mụ mối Hàm đưa Mã Giám Sinh tới. Vương ông mở tiệc rượu, họ Mã
là Vương Thúy Kiều khép nép lạy".
định hôm sau đi ngay, Vương ông xin hoãn lại một ngày. Khách khứa ra về, mọi người đi
ngủ, Thúy Kiều sụt sùi nhớ chàng Kim, xé lụa cắn ngón tay lấy máu viết viết gửi Kim Trọng
23T... Chừng canh ba Thủy Kiều viết xong thơ, nước mắt cứ tuôn rơi lã chã. Thúy Vân bỗng
bức thư thứ hai và làm một bài thơ ly biệt)
tỉnh giấc, thấy Thúy Kiều chưa ngủ vội ngồi dậy, hỏi: Chị bây giờ chưa đi ngủ, còn làm gì
nữa? Thúy Kiều nói: Trong bụng ngổn ngang trăm mối, làm gì mà ngủ được! Em ạ! Đây hai
đoạn lại thêm một phong thư nữa, mong em giữ cả cho. Ngày nào chàng Kim về, em sẽ nói
33T(Nghe Thúy Vân hỏi, nàng nghẹn ngào kể lại rồi ngất đi. Đang đêm cả nhà tỉnh dậy
giúp với chàng là chị của em đã trái ước ôm cầm qua thuyền khác rồi...
33T(Truyện Kiều 23T33Tvà 23T33TKim Vân Kiều truyện, 23T33TPhạm Đan Quế, NXB Văn học, 2000).
cứu chữa cho nàng)
104
23TĐoạn trích thứ hai: 23T34TNhững nỗi lòng tê tái 23T34T(Trích 23T34TTruyện Kiều của 23T34T Nguyễn Du)
33TKhỉ tỉnh rượu, lúc tàn canh,
33T Một ngày một ngả bóng dâu tà tà.
33TGiật mình mình lại thương mình xót xa
33T Dặm nghìn nước thẳm non xa,
33TKhi sao phong gấm rủ là,
33T Nghĩ đâu thân phận con ra thế này.
33T Giờ sao tan tác như hoa giữa đường ?
33T Sân hoe đôi chút thơ ngây,
33T Mặt sao dày gió dạn sương,
33TTrân cam ai kẻ đỡ thay việc mình?
33TThân sao bướm chán ong chường bấy thân?
33T Nhớ lời nguyện ước ba sinh,
33T Mặc người mưa Sở, mây Tần
33T Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?
33T Riêng mình nào có biết xuân là gì!
33T Khi về hỏi liễu Chương Đài,
33TĐòi phen gió tựa hoa kề,
33T Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay!
33T Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu
33TCảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
33T Hoa kia đã chắp cành này cho chưa?
33TNgười buồn cảnh có vui đâu bao giờ!
33TMối tình đòi đoạn 33T77Tvò 33T77Ttơ,
33T Đòi phen nét vẽ câu thơ,
33T Giấc hương quan luống lần mơ canh dài.
33TCung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa.
33TSong sa vò võ phương trời,
33T Vui là vui gượng kẻo là,
33TNay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.
33TAi tri âm đó mặn mà với ai?
33TLần lần thỏ bạc ác vàng,
33TThờ ơ gió trúc, mưa mai,
33TXót người trong hội đoạn tràng đòi cơn.
33TNgẩn ngơ trăm nỗi dùi mài một thân.
33T Đã cho lấy chữ hồng nhan,
33TÔm lòng đòi đoạn xa gần,
33TLàm cho, cho hại, cho tàn, cho cân.
33TChẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!
33TĐã dày vào kiếp phong trần,
33TNhớ ơn chín chữ cao sâu,
33TSao cho sỉ nhục một lần mới thôi.
33T(Văn học 33T10, 23Ttập một, 23T33TSách chỉnh lí hợp nhất năm 33T2000, 23TNXB Giáo dục)
Tình sâu mong trả nghĩa dày,
105
24T23TĐoạn trích trong 24T34TKim Vân Kiều truyện 24T34Tcủa Thanh Tâm Tài Nhân.
23TQuyển ba (Hồi XI):
23T(Thúy Kiều nghĩ lại cuộc đời mình từ nhỏ đến nay phải sa vào nơi bể khổ, mới viết ra
33TKHỐC HOÀNG THIÊN
23T(Khóc trời xanh)
33TXót mệnh bạc gặp cơn biến cố
33TNgười lạ xa phải lựa tính tình,
33TLiều cứu cha mắc hố lửa hồng.
33TGặp phường lỗ mãng lưu manh,
33TMũi dao toan đã liều cùng,
33TCũng nên niềm nở tỏ tình mến yêu.
33TCam tâm chịu nhục thề không lẽ nào.
33TMá má chi ham nhiều tiền bạc,
33TBỗng đâu lại mắc vào gian kế,
33TXấu tốt đều nhất loạt hoan hô,
33TMiệng dù trăm khôn dễ biện minh.
33THoa tươi bao chắp cành khô,
33TXà cao đã bị treo mình,
33TMỹ nhân sánh với côn đồ cũng ưng.
33TThịt da bị đánh tan tành máu rơi!
33TGặp thối miệng vỗ răng khôn tránh,
33TTam tứ thứ, chết rồi sống lại,
33TLở ghẻ hay bệnh tật chẳng nề,
33TChẳng thương tình vẫn phải kêu van.
33THễ mà hơi tỏ ý chê,
33TDừng tay lại bắt cam đoan,
33TRa tay đánh mắng tức thì chẳng sai.
33TLàm tiền rước khách nồng nàn mới tha.
33TSống làm vợ muôn người chưa đủ,
33TThiếp vốn thị con nhà khuê các,
33TThác đi, mồ vô chủ ai hay,
33TNghề ăn chơi đạm bạc biết đâu,
33TSinh ra phận gái khổ thay,
33TNghe lời giáo huấn ban đầu,
33TGái mà kỹ nữ khổ rày gấp trăm.
33TThực vô liêm sỉ những câu ê chề!
33TPhận tỳ thiếp còn nhằm có chủ,
33TChăn gối bao học nghề ma mọi,
33TĐời ca nhi sinh tử chắc đâu,
33TPhấn son tô, đêm tối gạ người,
33TKhóc trời ta lại mấy câu,
33TKhách chưa ngủ vẫn phải ngồi,
33TNgậm lên một chữ dạ sầu muôn chung.
33TKhách đã ngủ kĩ im hơi đợi chờ.
33TNhắn nhủ bạn lầu hồng ai đó,
33TĐã sợ khách nghi ngờ bẽn lẽn,
33TLò lửa mau thoát chỗ hiểm nghèo,
33TLại đề phòng khách lẻn trốn ra,
33TĐợi khi ngoài cửa vắng teo,
33TBông đùa gặp kẻ tham hoa,
33TGió thu than khóc hồn tiêu đến ngày
33TCũng nên lăn lóc mặn mà hỏi han.
33TKhách quen thuộc lọ bàn chi nữa,
bài 23T33TKhốc Hoàng Thiên 23T33Tđể ghi lại nỗi bất bình)
106
23TBài ca này ai nghe cũng phải động mối thương tâm, mà người nào mục kích thì cũng sa
lệ. Thúy Kiều đem phổ nhạc vào khúc Hồ cầm, một khi dạo lên nghe càng ai oán não nuột.
Chẳng những chị em trong hành viện phải phải khóc nức nở, mà cả đến con heo dữ như mụ Tú
33T(Truyện Kiều 23T33Tvà 23T33TKim Vân Kiều truyện, 23T33TPhạm Đan Quế, NXB Văn học, 2000)
34TĐoạn trích thứ ba: Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều 24T34T(Trích 24T34TTruyện Kiều - 24T34TNguyễn Du)
33TNgười lên ngựa, kẻ chia bào
33TRừng phong, thu đã nhuộm màu quan san.
33TDặm hồng bụi cuốn chinh an,
33TTrông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
33TNgười về chiếc bóng năm canh,
33TKẻ đi muôn dặm một mình xa xôi,
33TVầng trăng ai xẻ làm đôi,
33TNửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường!
33T(Văn học 33T10, 23TTập một, Sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000, NXB Giáo dục)
24TĐoạn trích trong 24T34TKim Vân Kiều truyện 24T34Tcủa Thanh Tâm Tài Nhân :
23THồi XIII:
23T... Nàng muốn tiễn ra khỏi cửa, bỗng thấy Thúc ông và những người làm công cùng các
Bà cũng không ngăn nổi một vài giọt nước mắt hão.
23TChàng trao hành lí cho xe ngựa xong rồi mới quay lại bảo nàng: Thôi ta đi đây, nàng nên
bạn đến tiễn, chàng vội quay ra chào hỏi. Nàng phải đứng sau tấm bình phong.
bớt sự phiền não. Nàng cũng không đáp lại được một tiếng nào, hai bên chỉ trả lời nhau bằng
23TThúc Sinh quay ra bái biệt phụ thân và chúng bạn rồi lên ngựa đi về hướng Nam, tới Thổ
đôi dòng nước mắt mà thôi.
23T(Theo Trương Xuân Tiếu, 23T33TBình giảng 33T43T10 33T43Ttrích đoạn trong Truyện Kiều, 23T33TNXB Giáo dục,
Gia Đinh đến sông Hoàng Hà đáp thuyền sang huyện Vô Tích chỉ mất 6 ngày thì về đến nhà.
23T
2001)
107
UPHỤ LỤC 3 Thiết kế bài học TRAO DUYÊN
24TI. YÊU CẦU:
1. 24TKiến thức - t ư tưởng:
- 23TDiễn biên tâm trạng đầy mâu thuẫn phức tạp, bế tắc của Thúy Kiều trong đêm trao
duyên. Qua đó, thấy được sự đồng cảm mạnh mẽ, sâu sắc của Nguyễn Du đối với hoàn cảnh
đau khổ và phẩm chất cao quý của Kiều: đức hi sinh, vị tha.
- 23TMột phần chủ đề bi kịch tình yêu tan vỡ được thể hiện một cách thiên tài: tài "nhập
vai" rất sâu mà vẫn là Nguyễn Du (Hoài Thanh). Phân tích tâm lí tàn nhẫn, tinh tế (Phan
Ngọc), ngôn ngữ thơ điêu luyện, tuyệt vời.
2. 24TKĩ năng: 23T24TĐọc thơ trữ tình thể lục bát, chuyển thể văn bản; Phân tích tâm trạng nhân
vật trong thơ trữ tình; Trình bày miệng lời giảng, bình của bản thân học sinh.
3. 24TPhương 23T24Tpháp, 23T24Tbiện 23T24Tpháp 23T24Tthực hiện: 23T24TĐọc sáng tạo, liên tưởng, tưởng tượng về hoàn
cảnh của nhân vật; Tóm tắt, chuyển thể văn bản thơ thành văn bản văn xuôi nghệ thuật; Đàm
thoại gợi mở, trao đổi, thảo luận, tranh luận, tưởng tượng; Lời giảng, bình chọn lọc của giáo
33TGiờ học được tiến hành qua 33T34T3 33T34Tgiai đoạn: Đặt 23T33Tđoạn thơ vào toàn bộ 23T33TTruyện Kiều, 23T33Txác
viên, học sinh.
định vị trí, tìm hiểu khái quát; Phân tích, giảng, bình một cách chi tiết diễn biến tâm trạng của
Thúy Kiều; Khái quát chủ đề tư tưởng, cái "thần" của đoạn thơ. Đoạn thơ được khai thác theo
trật tự tuyến tính, từng câu diễn biến tâm trạng của Kiều. Các từ ngữ, hình ảnh đáng lưu
ý: 23T33T“cậy”, "chịu", "lạy", "người mệnh bạc", "của chung" 23T33Tvà hai câu cuối cùng.
4. 24THình thức hoạt động dạy học: 23T24TChọn một trong 2 hình thức: Hoặc lớp ngồi bình
thường, hoặc lớp ngồi kiểu bàn tròn để tạo thêm không khí thảo luận.
23TUTiết 1U: Giới thiệu, đọc, phân tích 10 câu đầu.
23TUTiết 2:U Phân tích đoạn còn lại, tổng kết.
5. 24TDự kiến thời gian trên lớp:
6. 24TĐồ dùng dạy học:
108
33TTruyện Kiều đối chứng 23T33Tvới 23T33TKim Vân Kiều Truyện, 23T33Tsách 23T33TVăn học 23T33T9, tập 1; tranh, ảnh,
cảnh trao duyên (ảnh sân khấu).
7. 24TChuẩn bị của học sinh: 23T24TĐọc thuộc lòng, diễn cảm đoạn thơ, tìm hiểu kĩ tất cả các chú
thích, trả lời các câu hỏi trong SGK 23T33TVăn 33T10; 23Txem lại bài tóm tắt 23T33TTruyện Kiều (Văn học 23T33T9, tập
1); đọc 23T33TTruyện Kiều 23T33Ttừ câu 695 đến 723, tóm tắt, chuyển thành văn bản văn xuôi; Mỗi tổ viết
24TII. THIẾT KẾ BÀI HỌC:
24TỔn định tổ chức và kiểm tra bài cũ 24T78T( 10 24T78Tphút).
33TCâu hỏi 33T1: 23TCảm hứng chủ đạo trong 23T33TTruyện Kiều 23T33Tlà gì? Nó được biểu hiện ở những khía
một đoạn lời bình ngắn 5, 6 câu về: 4 câu đầu, 23T33T"của chung", "người mệnh bạc", 23T33Thai câu cuối.
33TCâu hỏi 33T2: 23TTóm tắt ngắn gọn 23T33TTruyện Kiều 23T33Ttừ đầu đến đoạn Kiều theo Mã Giám Sinh ra
cạnh nào? Dẫn chứng minh họa?
24TBài mới (80 phút)
33TGiới thiệu đoạn thơ:
34TUViệc 1: U24T34TUHọc sinh giở SGK U24T34TUVăn U34T79TU1 0 U24T79TUđọc đoan U24T34TUTiểu dẫn
23TGiáo viên nói 23T33Tlời chuyển vào bài: 23T33T"Toàn 23T33Tbộ Truyện Kiều 23T33Tlà một bi kịch. Đây là một bi
đi.
kịch nhỏ trong bi kịch lớn ấy" (Lê Trí Viễn). Quyết định bán mình cứu cha, em, trong đêm
33TNỗi riêng, riêng những bàn hoàn,
33TDầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn.
23TChợt Thúy Vân tỉnh 23T33Tgiấc, “ghé đến ân cần hỏi han”, 23T33TKiều chợt nảy ra ý định trao duyên,
cuối cùng trước khi theo Mã Giám Sinh. Kiều vẫn canh cánh món nợ tình với Kim Trọng:
trao lại mối tình đầu dở dang cho em mình để trả nghĩa chàng Kim. Đoạn thơ tái hiện lại câu
23T- Chỉ cho học sinh vị trí đoạn thơ trong 23T33TTruyện Kiều 23T33Tvà đoạn tương ứng trong 23T33TKim Vân
chuyện đặc biệt ấy.
Kiều truyện (Truyện Kiều đối chứng, 23T33Ttrang 135, 137), đồng thời cho học sinh xem tranh, ảnh
33TTổ chức hướng dẫn học sinh tóm tắt mạch truyện, phân tích bố cục, độc diễn cảm đoạn
sân khấu cảnh này.
34TUViệc U34TU2: U34TUPhân tích mạch truyền, bố cục đoan thơ.
thơ.
109
33TGiáo viên nêu vấn đề: 23T33TTheo dõi đoạn thơ, có thể ngắt mạch tâm sự của Kiều làm mấy
chặng nhỏ để dễ phân tích? Có thể chuyển thành lời văn xuôi từng đoạn như thế nào? Học sinh
phát biểu, 23T33Ttrình bày đoạn tóm tắt 23T33Tý kiến của mình. 23T33TGiáo viên nhận xét, định hướng: 23T33TTheo
mạch truyện, dễ dàng nhận ra: 12 câu đầu (723 - 724): Kiều tìm cách thuyết phục, trao duyên
cho Vân. 15 câu tiếp (735 -749): Kiều trao kỉ vật và dặn thêm em. 8 câu cuối (750 - 757): Kiều
đau đớn đến ngất đi. Như vậy, mạch truyện diễn ra dưới hình thức tự sự nhưng nội dung là trữ
tình. Lời độc thoại thể hiện diễn biến nội tâm của nhân vật là chủ yếu. Xét về độ căng và cách
34TUViệc 3: Đọc diễn cảm đoan thơU.
33TGiáo viên nêu câu hỏi: 23T33TĐoạn thơ là lời của ai nói với ai? Trong tâm trạng thế nào? Vậy
giải quyết mâu thuẫn, có thể xem đây là một lớp bi kịch điển hình.
phải đọc với giọng điệu, nhịp điệu ra sao cho phù hợp? Học sinh phát biểu và đọc từng
đoạn. 23T33TGiáo viên nhận xét, định hướng cách đọc; 23T33TĐoạn thơ là lời dặn dò, tâm sự của Kiều đối
với Vân, nhờ em một việc thiêng liêng trong tâm trạng, đau đớn, tuyệt vọng. Bởi vậy cần đọc
với giọng điệu chậm, tha thiết. Càng về sau, Kiều như chỉ muốn nói với mình nên giọng các
đoạn sau càng khẩn thiết, não nùng hơn. Chú ý các câu thơ đổi nhịp. 23T33TTổ chức hướng dẫn học
sinh phân tích, giảng, bình chi tiết diễn biến tâm trạng đầy mâu thuẫn của Thúy Kiều trong
34TUViêc 4: Đọc, phân tích từ câu 723 - 734U.
33T1 . 23T33THọc sinh đọc 2 câu đầu, suy nghĩ , tìm hiểu 23T33Tvề cử chỉ bất bình thường 23T33Tcủa Kiều, tìm
đêm trao duyên.
cách lí giải?
2. 33TGiáo viên nêu câu hỏi: 23T33TTại sao Nguyễn Du dùng từ "cậy", 23T33T"chịu" ? Có 23T33Tnên thay bằng
các từ gần nghĩa khác, chẳng hạn 23T33T"nhờ", "nhận" ? 23T33TVì sao ?
3. 23THọc sinh đọc lại 4 câu đầu, thảo luận câu hỏi, 23T33Tđọc đoạn lời bình 23T33Tcủa bản thân.
33T23TĐang đắn đo: 23T33T" Hở môi ra, cũng thẹn thùng,
33T Để lòng, thì phụ tấm lòng với ai! "
23TKiều đột ngột yêu cầu Thúy Vân ngồi lên cho mình lạy rồi mới nói tiếp. Cử chỉ thật bất
4. 33TGiáo viên nhận xét, đọc lại 4 câu đầu, nói lời bình.
ngờ, bất bình thường cả với Kiều, (vì trước đó nàng chưa hề nghỉ tới), cả với Vân (dù tâm hồn
nàng đơn giản đến đâu!). Bởi việc sắp nói vô cùng quan trọng, thiêng liêng, ảnh hưởng
cả 23T81Tcuộc 23T81Tđời. Nguyễn Du dùng 23T33T"cậy" 23T33Tmà không dùng "nhờ", dùng 23T33T"chịu" 23T33Tmà không
110
dùng 23T33T“nhận”, 23T33Tvì giữa các từ đó có sự khác biệt tinh vi. Dùng 23T33T"nhờ" 23T33Tthay “cậy”, không những
thanh điệu câu thơ nhẹ đi, làm giảm phần nào cái quằn quại khó nói của Kiều, mà ý nghĩa hi
vọng tha thiết của một lời gửi gắm, nương tựa, trăng trối cũng mất gần hết. "Nhận" chỉ có
phần nào tự nguyện. 23T33T"Chịu" 23T33Thình như chỉ vì nài ép mà phải "nhận" , không nhận không được.
Tình thế của Vân lúc ấy chỉ có thể 23T80T"chịu" 23T80Tmà thôi! Còn 23T80T“lạy” 23T80Tvì đó là việc nhờ cậy rất quan
trọng. Thúy Kiều lạy Thúy Vân, chị lạy em sự việc bất ngờ, phi lí mà hợp lí biết bao. Bởi đây
là người chịu ơn, tỏ lòng biết ơn trước sự hi sinh to lớn và cao qúy của em mình. Thái
độ 23T81T"lạy" 23T81Trồi mới 23T80T"thưa", 23T80Tđầy kính cẩn, trang trọng của Kiều đã coi Vân là người ân nhân số
một của mình.
5. 23THọc sinh đọc tiếp 6 câu, 23T33Tthảo luận về lí lẽ trao duyên 23T33Tcủa Kiều? Nhận xét ngôn ngữ
của Nguyễn Du trong đoạn thơ có gì gần gũi với cách nói dân gian?
6. 33TGiáo viên định hướng : 23T33TGiải thích các cụm từ: 23T33T"keo loan", "tơ duyên", “chén
thề” 23T33T(Chú giải 1, 2, 3 - SGK). Hai câu 725 - 726 là lời trao duyên chưa chính thức nhưng đã ra
ý ràng buộc "mặc 23T34Tem", 23T34Ttùy em định liệu. 4 câu tiếp theo nhắc lại vắn tắt mối tình dở dang Kiều
- Kim. Kiều đành chọn cách hi sinh tình cho hiếu. Hai câu tiếp sau là lời yêu cầu chính thức
của Kiều với Vân. Lí lẽ cơ bản, duy nhất ở đây là tình cảm chị em máu mủ, ruột già. Ngôn ngữ
của Nguyễn Du có sự kết hợp hài hòa giữa cách nói trang trọng văn hoa và giản dị, nôm na của
cách nói dân gian. Các điển tích 23T33T"keo loan", “tơ duyên” 23T33Tđi với các thành ngữ 23T33T“Tình máu mủ”,
"lời nước non", “thịt nát”, "xương mòn", "ngậm cười chín suối". 23T33TTâm trạng Kiều: Biết ơn
chân thành, yên tâm, thanh thản, sung sướng vì mâu thuẫn đã được giải quyết. 23T33TNhưng tiếc
thay, đó mới chỉ là tạm thời. Khủng 23T33Thoảng tâm tư trong Kiều mới tạm giải tỏa. Mâu thuẫn bi
24T(Hết tiết 1, tiếp tiết 2)
34TUViệc 5: Tiếp tục tìm hiểu diễn biến tâm trang cửa Thúy Kiều trong 15 câu tiếp theo,
kịch thật sự trong lòng nàng, đến đây, lại bùng lên mãnh liệt.
33T1 . 23T33THọc sinh đọc diễn cảm 6 câu tiếp theo. Chú ý các ngữ: 23T33T"của chung", "của tin", "người
khi Kiều trao kỉ vật và dặn dò Thúy Vân (câu 735 - 749).
mệnh bạc".
2. 33TGiáo viên nêu vấn đề thảo luận: 23T33TKiều trao kỉ vật cho em trong tâm trạng thế nào ? Tại
sao Nguyễn Du dùng 23T33T"của chung" ? 23T33TRồi sau lại viết 23T33T"của tin"? "Người mệnh bạc" 23T33Tlà thế nào?
Tại sao Kiều lại tự xem mình như vậy? Trình bày các đoạn lời bình của em về ngữ 23T33T"của
chung", 23T33Tvà 23T33T"người mệnh bạc"?
111
3. 23THọc sinh thảo luận, tranh luận, 23T33Tnói lời bình 33T2 23Tcủa mình.
4. 33TGiáo viên định hướng và nói lời bình 33T2: 23TKhủng hoảng tạm lắng. Nuốt nước mắt, trao
lại cho Vân kỉ niệm, những "của 23T33Ttin" - 23T33Tvật làm tin - giữa Kim và Kiều hồi đính ước. Chiếc thoa
này là kỉ niệm khởi đầu trao duyên, tờ hoa tiên 23T33T(tờ mây) 23T33Tnày ghi lời thề ước. Hoài Thanh
bình: 23T33T"Của chung" 23T33Tlà của ai? Bao nhiêu đau đớn trong hai tiếng đơn sơ! Thế là duyên đã trao.
Cái điều duy nhất có thể làm để báo đáp ân tình trong muôn một, đã làm xong". "Đó là của
chung, của chàng, của chị, nay là của em. Thiêng liêng hơn, vì không những nó là vật chứng
giám như vầng trăng đêm nào, mà nó còn trong mùi hương thơm, trong tiếng đàn, tấm lòng
(1)
thành thiêng liêng nhất của 2 con người. Đó là của tin để lại cho nhau. Hồn chị gửi cả trong
P. Đến đây, Kiều tự coi mình là 23T33T"người mệnh bạc", 23T33Tngười có số mệnh bạc bẽo, không
ấy"P
may, đầy bất hạnh, không thoát ra được như một định mệnh. Tay Kiều trao kỉ vật cho em, mà
lòng Kiều thổn thức, não nề, tiếc nuối và đau xót lại dâng lên.
5. 23THọc sinh đọc diễn cảm 8 câu tiếp "Mai 23T33Tsau... thác oan"; 23T33TTưởng tượng, suy nghĩ về
cảnh Kiều hình dung ra trong tương lai; Thảo luận về tâm trạng và day dứt của Kiều.
6. 33TGiáo viên định hướng: 27T33Tvẫn 23T27Tnói với Vân, nhưng Kiều như đã quên sự có mặt của em,
chỉ nói với mình - dặn em mà như thầm thì với mình về tương lai mù mịt thê thảm. Kiều nghĩ
mình đã chết oan, hồn bay vật vờ trong gió, không siêu thoát được, vẫn mang nặng lời thề.
Mới giở lại kỉ niệm, để trí tưởng tượng bay không kìm giữ, là Kiều trở lại về với bao nỗi dằn
vặt, còn lâm li hơn trước. Phút bình yên tạm thời bay biến. Nửa tỉnh, nửa mê, lời nói của Kiều
phảng phất như từ cõi âm vọng về. Đoạn thơ cũng đổi giọng, âm điệu, hình ảnh như chập
chờn, thần linh, ma 23T33Tmị (gió hiu hiu, hương khói, ngọn cỏ, lá cây, hồn, oan). 23T33TMâu thuẫn chưa
(1)
82TP
PLê Trí Viễn. 82T83TNhững bài giảng văn ở đại học. 82T83TNXB Giáo dục, Hà Nội, 1982.
34TUViệc U33T34TU6: U33T34TUPhân tích, giảng bình U33T34TU8 U33T34TUcâu thơ cuối đoan ("Bây giờ... Từ đây").
33T1 .Giáo viên đọc 8 câu cuối, gọi 2 học sinh đọc lại 2 lượt. 27T33TLưu 23T27Tý học sinh các từ 23T33T"bây
hề được giải.
giờ", "lạy", "đã đành", 23T33Tnhịp thơ 2 câu cuối" 3/3, 2/4/2.
2. 33TGiáo viên nêu vấn đề thảo luận: 23T33TĐến đây, Kiều chủ yếu muốn nói với ai? Về ai? Vì
sao? Cái 23T33T"lạy" ở 23T33Tđoạn này có giống, khác gì với cái “lạy” ở 5 câu trên? Vì sao Nguyễn Du
chuyển nhịp thơ trong 2 câu cuối? Tâm trạng Kiều lúc ấy như thế nào?
112
3. 23THọc sinh tự do thảo luận rộng rãi về các câu hỏi trên.
4. 33TĐịnh hướng bằng lời bình 3 của giáo viên: 23T33TQuay về hiện tại, Thúy Kiều vẫn quanh
quẩn với nỗi đau mất mát, không thể hàn gắn: 23T33T"Trâm gãy bình tan". 23T33TThân phận Thúy
Kiều 23T33T"phận bạc như vôi", "nước chảy hoa trôi". Tất 23T33Tcả dang dở, đổ vỡ hết. Một lần nữa, Kiều
tự nhận mình là 23T33T"người phụ bạc" 23T33T- người có lỗi với chàng Kim. Bởi thế Kiều mới quay sang
nói với bóng hình người yêu - 23T33T"Trăm ngàn gởi lạy tình quân". 23T33TKiều nhận tất cả lỗi về mình;
đức hi sinh, khiêm nhường của nàng thật cao quý. Nỗi đau nhân lên hai lần, dồn lại sau một
đêm thức trắng, sức đâu chịu đựng nỗi mà không thét lên thảng thốt, ai oán? Hai lần Kiều gọi
33TCạn lời, hồn ngất máu say,
33TMột hơi lạnh ngắt, đôi tay lạnh đồng.
23TCâu thơ xếp lại nhịp chẵn, lẻ, biểu hiện phút giây uất hận, thê thiết đó. 23T33T(Lời bình của
tên Kim Trọng trong cơn mê sảng. Nỗi đau đã lên đến tột đỉnh:
Hoài Thanh: "Kim Vân Kiều truyện 23T33Tđại thể cũng viết như vậy. Nhưng với Thanh Tâm Tài
Nhân, hồn Kiều chỉ hiện về trong gió. Còn Nguyễn Du nhìn rõ Kiều hiện hồn oan, cay cực,
biết 2 em ngồi đó, mà âm dương cách trở, không được nói với nhau một lời cho thỏa. Cũng
một chén nước tẩy oan mà Nguyễn Du thêm tình nghĩa xiết bao". Tình cảm lâm li đến cực độ,
Kiều quên hẳn người đối thoại, nói một mình và nói hẳn với người yêu vắng mặt những lời
33TNợ tình chưa trả cho ai
33TKhối tình mang xuống truyền đài chưa tan.
33T 23T33TNhưng Kiều cồn khổ hơn Trương Chi - vì nàng không thể chết, 15 năm cay cực, lên thác
thống thiết, nghẹn ngào, ngất đi trong tâm trạng:
24THướng dẫn học sinh tổng kết
34TUViệc 7: Khái quát chủ đề tư tưởng, cái "thần " của đoan thơU.
xuống ghềnh còn đang đợi sẵn 23T33T"người mệnh bạc".
1. 33TGiáo viên nêu vấn đề thảo luận: 23T33TĐoạn thơ này mang nhan đề 23T33T"Trao duyên", 23T33Tnhưng
cuối cùng "duyên" có trao được không? Vì sao? Tìm các tên gọi khác? Tại sao nói đoạn thơ
như một bi kịch?
2. 23THọc sinh thảo luận.
3. 33TGiáo viên định hướng: 23T33T"Duyên" trao được. Nhưng tình không thể trao! Mâu thuẫn
giữa tình - nghĩa mới giải được 1/2 (phần nghĩa, bằng cuộc hôn nhân sắp tới Vân - Kim). Còn
113
phần tình thì vẫn bế tắc, nguyên vẹn. Các tên gọi khác: 23T33T“Thúy Kiều dặn dò Thúy Vân", "Tâm
sự Kiều - Vân", "Câu chuyện trong đêm", "Nợ tình chưa trả"... 23T33TĐoạn thơ như một bi kịch, vì
mâu thuẫn căng thẳng và bế tắc nội tâm của nhân vật chính mang tính chất bi kịch quá rõ (cái
mới, cái cao cả tạm thời chịu thất bại trước cái cũ còn mạnh hơn).
4. 33TGiáo viên hỏi: 23T33TViết đoạn 23T33T"Trao duyên", 23T33TNguyễn Du muốn nếu vấn đề gì? Thái độ của
ông ra sao?
5. 23THọc sinh thảo luận. 23T33TGiáo viên định hướng: 23T33TĐoạn thơ là một cơn khủng hoảng, bão tố
trong lòng con người tội nghiệp Thúy Kiều: lo âu, bứt rứt, nhờ cậy được em, tạm yên lòng,
nhưng rồi ôn lại tình xưa, nghỉ đến mai sau, trước mắt, lại thấy lỡ làng, tan nát, lại chập chờn,
quằn quại rồi ngất đi. Tất cả trái tim yêu thương của Kiều đều dành cho người yêu. Nguyễn
Du hết sức đồng cảm và ngợi ca lòng vị tha, đức hi sinh của người con gái họ Vương. Đoạn
thơ bi thương nhưhg không hề đen tối. Bởi từ 23T76Tcái 23T76Tbi thương toát phẩm chất cao đẹp của con
người, vang lên lời tố cáo tội ác xã hội bất nhân đã chồng chất khổ đau lên một kiếp người.
Cảm hứng nhân đạo sâu xa lồng trong cảm hứng hiện thực nghiêm ngặt làm nên linh hồn của
đoạn thơ này nói riêng, 23T33TTruyện Kiều 23T33Tnói chung.
6. 33TGiáo viên hỏi: 23T33TTài năng nghệ thuật của Nguyễn Du tạo nên cái "thần" của đoạn thơ
như thế nào?
7. 23THọc sinh thảo luận.
8. 23TGiáo viên định hướng: Tài miêu tả, phân tích tâm trạng phức tạp, mâu thuẫn của Thúy
Kiều một cách hết sức chân thật, tinh tế bằng ngôn ngữ biến hóa linh hoạt. Đoạn thơ đậm chất
trữ tình, bi kịch trong việc xây dựng và giải quyết mâu thuẫn nội tâm nhân vật bằng cách để
nhân vật ngồi nói một mình. Nguyễn Du nhập rất sâu vào nhân vật, như hòa làm một mà vẫn
rất Nguyễn Du trong từng câu, từng dòng, làm cho người đọc vô cùng lo lắng, cảm động,
thương xót. Ngôn ngữ thơ vừa trau chuốt, trong sáng hào hoa, vừa dung dị, dân gian trong sự
phối hợp các điển tích, từ cổ và các thành ngữ, từ ngữ dân gian. Cái 23T33T"thần" của đoạn thơ là ở
chỗ: 23T33TTrao duyên mà không trao được tình. Trao được duyên mà tình chẳng thể trao. Đau khổ
24THướng dẫn học sinh học 24T34Tở 24T34Tnhà:
23THọc thuộc lòng, đọc diễn cảm từng đoạn.
vô tận! Cao đẹp vô cùng!
23TViết một đoạn văn khoảng 10 câu tưởng tượng giấc mơ của Thúy Kiều, khi nàng bị
-
-
ngất đi trong đêm trao duyên,
114
23THọc thuộc lòng và soạn bài 23T33TThúc Sinh từ biệt Thúy Kiều.
23T(Nguyễn Văn Đường (CĐSP Hà Nội) - Trong sách 23T33TThiết kế bài học tác phẩm văn
-
chương ở nhà trường phổ thông, 23T33TPhan Trọng Luận (chủ biên), Tập 2, NXB Giáo dục,
1999).
24TMỘT SỐ CÂU ĐỐ KIỀU
33TLòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng?
23T(Cái máng xối)
- 33TTrên vì nước, dưới vì nhà
23T(Chữ thập)
- 33TNhớ ơn chín chữ cao sâu 33TDọc ngang nào biết trên đầu có ai?
33T Đố chàng kể được một câu hết Kiều?
23T(Trăm năm trong cõi người ta 23TMua vui cũng được một vài trống canh)
23T-23T33TTruyện Kiều chàng đã thuộc làu
33TĐố chàng đọc được một câu 5 người?
23T(Này chồng, này mẹ, này cha 23TNày là em ruột, này là em dâu)
- 33TTruyện Kiều chàng đã thuộc làu
- 33TTruyện Kiều chàng đã đọc thông 33TĐố chàng đọc được hai dòng toàn nho? 23T(Hồ công quyết kế thừa cơ 23TLễ tiên binh hậu khắc cờ tập công)
- 33TChập chờn cơn tỉnh cơn mê 33TNghe đâu Kiều có làm nghề tráng gương? 23T(Mười lăm năm bấy nhiêu lần 23TLàm gương... cho khách hồng quần thử soi)
23T33T(Giữa đường đứt gánh tương . .. tư
- 33TQuen hơi bén tiếng bấy lâu 33TQuê Kiều chàng biết ở đâu hỡi chàng? 33T
115
23TQuê Kiều nghe nói đâu như... Nam Đàn Bán tương nàng gánh hơi tham Gẫy triêng, bể bộng rõ ràng. . . tương tư.)
23T 23T
116
117
85TCậy em, em có chịu lời...
86T(Tranh: Nguyễn Thị Hợp - Nguyễn Đồng - trong sách: Nhà văn trong nhà trường: Nguyễn
Du, Lê Thu Yến - NXB Giáo dục)
118
119
85TThúy Kiều - Từ Hải
86T(Trong sách: Tìm hiểu Nguyễn Du và Truyện Kiều - Nguyễn Quảng Tuân NXB Khoa học Xã hội - trung tâm nghiên cứu Quốc học)
120
121