BỘ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG VĂN ÂN
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC
GIẢNG DẠY TIN HỌC Ở CÁC KHOA KHÔNG
CHUYÊN TRƯỜNG CAO ĐANG SƯ PHẠM BÌNH
DƯƠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC GIÁO DỤC
MÃ SỐ : 60 14 05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. TS : BÙI NGỌC OANH.
TP. HỒ CHÍ MINH – 2004
MỤC LỤC
4TMỤC LỤC4T .................................................................................................. 3
4TPHẦN MỞ ĐẦU4T ........................................................................................ 7
4T1.Lý do chọn đề tài:4T ........................................................................................ 7
4T2.Mục đích nghiên cứu :4T ................................................................................. 8
4T3.Nhiệm vụ nghiên cứu :4T ................................................................................ 9
4T4.Khách thể và đối tượng nghiên cứu:4T ............................................................ 9
4T4.1.Khách thể nghiên cứu :4T ......................................................................... 9
4T4.2.Đối tượng nghiên cứu :4T....................................................................... 10
4T5.Giả thuyết nghiên cứu :4T .............................................................................. 10
4T6.Phương pháp nghiên cứu :4T ......................................................................... 10
4T6.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận4T ........................................................ 10
4T6.2.Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến và xử lý số liệu4T .. 10
4T6.4.Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng4T .............. 12
4T6.5.Phương pháp thực nghiệm :4T ............................................................... 12
4T6.6.Phương pháp toán thống kê :4T .............................................................. 12
4T7.Phạm vi nghiên cứu :4T ................................................................................. 13
4T7.1.Phạm vi nghiên cứu :4T .......................................................................... 13
4T7.2.Địa bàn nghiên cứu :4T .......................................................................... 13
4TCHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC MỘT SỐ NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN
CỨU VẤN ĐỀ.4T ........................................................................................ 14
4TCHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI4T ................................... 18
4T2.1.Vị trí của giáo dục trong sự nghiệp đổi mới4T ........................................... 18
4T2.2.Nhiệm vụ của trường cao đẳng sư phạm trong giai đoạn đổi mới.4T ........ 19
4T2.3.Vai trò của công nghệ thông tin trong sự nghiệp đổi mới giáo dục.4T ...... 21
4T2.4.Quan điểm của Đảng về phát triển công nghệ thông tin trong nhà trường. 4T
4T2.5.Hoạt động quản lý4T ................................................................................... 27
4T2.5.1.Khái niệm quản lý:4T .......................................................................... 28
4T2.5.2.Giải pháp quản lý:4T ........................................................................... 28
4T2.5.3.Quản lý giáo dục :4T ........................................................................... 29
4T2.5.4.Quản lý nhà trường :4T ....................................................................... 29
4T2.6.Nội dung quản lý hoạt động giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên
...................................................................................................................... 23
4T2.6.1.Quản lý mục tiêu giáo dục :4T ............................................................ 30
4T2.6.2.Quản lý nội dung chương trình dạy học :4T ........................................ 32
4T2.6.3.Quản lý việc giảng dạy của thầy và việc học của trò :4T .................... 32
4T2.6.4.Quản lý trình độ đội ngũ giáo viên4T .................................................. 34
4T2.6.5.Quản lý cơ sở vật chất:4T .................................................................... 35
4T2.6.6.Quản lý việc thực hiện các phương pháp dạy học.4T ......................... 36
4T6.7.Quản lý kết quả học tập của sinh viên4T ................................................ 37
4TCHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU4T ............................................. 39
4T3.1.Thực trạng công tác quản lý giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên
trường cao đẳng.4T ........................................................................................... 30
4T3.1.1.Thực trạng việc quản lý nội dung chương trình4T .............................. 39
4T3.1.2.Thực trạng việc quản lý mục tiêu.4T ................................................... 43
4T3.1.3.Thực trạng quản lý cơ sở vật chất phục vụ việc dạy học bộ môn4T ... 47
4T3.1.4.Thực trạng việc quản lý đội ngũ và trình độ giáo viên.4T .................. 54
4T3.1.5.Thực trạng quản lý việc thực hiện phương pháp giảng dạy của giáo
trường cao đẳng sư phạm Bình Dương.4T ........................................................ 39
4T3.1.6.Thực trạng quản lý việc giảng dạy.4T ................................................. 59
4T3.1.7.Thực trạng quản lý việc học tập của sinh viên.4T ............................... 62
4T3.1.8.Thực trạng quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh
viên.4T .......................................................................................................... 55
4T3.2.Phân tích nguyên nhân dẫn đến thực trạng.4T ............................................ 72
4T3.2.1.Nguyên nhân từ công tác quản lý việc giảng dạy bộ môn.4T ............. 72
4T3.2.2.Nguyên nhân từ cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy học bộ môn .4T ... 76
4T3.2.3.Nguyên nhân từ công tác quản lý, chỉ đạo học tập của sinh viên.4T .. 78
4T3.3.Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý việc giảng dạy tin
viên.4T .......................................................................................................... 65
4T3.3.1.Cải tiến nội dung, chương trình bộ môn tin học cho đối tượng không
học ở các khoa không chuyên trường cao đẳng sư phạm Bình Dương.4T ....... 84
4T3.3.2.Tăng thời lượng môn học tin học cho đối tượng không chuyên.4T .... 85
4T3.3.3.Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo chuyên môn đối với tổ bộ
chuyên.4T ..................................................................................................... 84
4T3.3.4.Nâng cấp, bổ sung cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ dạy
môn.4T .......................................................................................................... 88
4T3.3.5.Tăng cường cải tiến phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp tích
học4T ............................................................................................................ 89
4T3.3.6.Tăng cường kiểm tra, đánh giá và hướng dẫn hoạt động học tập của
cực.4T ........................................................................................................... 90
4T3.3.7.Nâng cao trình độ, năng lực của giảng viên trong tổ bộ môn4T ......... 92
4T3.4.Thực nghiệm đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học
sinh viên4T ................................................................................................... 91
4T3.4.1.Mục đích thực nghiệm:4T ................................................................... 94
theo hướng giao tiếp tích cực phát huy năng lực học sinh.4T .......................... 94
4T3.4.2.Cách tiến hành thực nghiệm:4T ........................................................... 94
4T3.3.3.Kết quả thực nghiệm.4T ...................................................................... 96
4T3.3.4.Kết luận về thực nghiệm4T ............................................................... 110
4TPHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ4T.................................................. 111
4T1.Kết luận4T .................................................................................................... 111
4T1.1- Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tin học ở các lớp không
4T-Thực trạng việc quản lý tổ chức giảng dạy4T ........................................... 112
4T1.2- Nguyên nhân của thực trạng4T ........................................................... 114
4T1.3- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy
chuyên trường Cao Đẳng Sư Phạm Bình Dương.4T .................................. 111
tin học ở các lốp không chuyên trường Cao đẳng sư phạm Bình Dương.4T
4T2- Kiến nghị4T ................................................................................................ 117
4T2.1- Đối với Bộ giáo dục và Đào tạo.4T ..................................................... 117
4T2.2- Đối với trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương.4T ........................... 118
4TTÀI LIỆU THAM KHẢO4T .................................................................... 120
4TPHỤ LỤC4T ............................................................................................... 124
................................................................................................................ 115
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và sự
hội nhập của nền kinh tế tri thức, lượng tri thức tăng lên theo cấp số nhân, nhu
cầu học tập của con người được nâng cao, nhu cầu về chất lượng tri thức mới,
hiện đại, phong phú đã trở nên bức thiết. Xã hội hoa giáo dục và phổ cập giáo
dục đi cùng với xã hội hoa tin học, phổ cập tin học cho mọi người đã trở thành
phương châm của giáo dục thời đại. Tin học có thể giúp cho mọi người học hỏi
nhiều thứ trong nhiều lĩnh vực khác nhau của văn hoa, khoa học, kỹ thuật, ở
mọi nơi, mọi lúc, bằng nhiều hình thức học tập trong khoảng thời gian nhất
định và chi phí ít nhất.
Đảng và nhà nước ta rất quan tâm và coi trọng vai trò của tin học, công
nghệ thông tin trong sự nghiệp công nghiệp hoa, hiện đại hoa đất nước. Đặc
biệt, việc ứng dụng và phát triển tin học, công nghệ thông tin trong giáo dục ở
mọi ngành, mọi cấp và mọi bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trong
những năm qua, nhiều trường lớp đào tạo tin học được mở ra phục vụ cho
nhiều đối tượng trong xã hội. Trong hệ thống đa dạng các loại hình đào tạo về
tin học, thì đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng giữ vai trò then chốt, có khả năng
đóng góp một cách hiệu quả vào sự phát triển kinh tế, khoa học- kỹ thuật và
giáo dục của đất nước. Hiện nay, hầu hết các trường cao đẳng đều có bộ môn
tin học với sự thành lập các khoa, tổ bộ môn tin học tương đối hoàn chỉnh, đã
góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy học hết sức đa dạng, phong phú và hỗ trợ
một cách có hiệu quả cho các phương thức học chính quy, phi chính qui, học
trong trường lớp, tự học, học từ xa.
Trường Cao đẳng sư phạm Bình Dương, một trong những trung tâm giáo
dục lớn của tỉnh, đã đưa giáo dục tin học vào nhà trường với nhiều hình thức
đào tạo khác nhau. Trong các loại hình đào tạo tin học, đối tượng tập trung
đông đảo và đáng kể nhất là sinh viên các khoa không chuyên. Mục tiêu chung
của giáo dục tin học trong nhà trường là nhằm trang bị những kiến thức tin học
cơ bản theo chương trình của Bộ giáo dục- đào tạo qui định, nhằm đào tạo ra
đội ngũ giáo viên có trình độ Cao đẳng có thể giảng dạy tin học ở các trường
phổ thông học cơ sở trong tỉnh; bên cạnh đó, giúp các em có điều kiện tiếp cận
với công nghệ hiện đại ngay trong quá trình học tập, trong việc tra cứu, khai
thác thông tin, cơ sở dữ liệu, và có thể sử dụng kiến thức tin học ương thực tiễn
xã hội sau khi tốt nghiệp ra trường trong lĩnh vực nghiên cứu và công tác
chuyên môn. Song, qua thực tế giảng dạy cho thấy, do tính đặc thù của bộ môn,
còn mới mẻ so với các ngành khoa học khác trong nhà trường nên việc kết cấu
nội dung, chương trình đào tạo cũng có nhiều biến động, vẫn chưa được điều
chỉnh, cải tiến và bổ sung một cách cơ bản, chưa theo kịp trình độ chung về
giáo dục đào tạo Công nghệ thông tin; việc bố trí thời lượng giảng dạy cho bộ
môn chưa sát mục tiêu đào tạo và thực tế của sự phát triển xã hội; tài liệu, sách
giáo khoa phục vụ cho môn học còn hạn chế; phương pháp giảng dạy, giáo
trình bộ môn do giáo viên tự biên, tự diễn, chưa có sự thống nhất. Bên cạnh đó,
công tác quản lý việc giảng dạy, quản lý cơ sở vật chất phục vụ học tập chưa
được quan tâm đúng mức và còn nhiều bất cập. Hậu quả là sau khi tốt nghiệp,
khả năng ứng dụng tin học của đa số sinh viên vào thực tế công tác còn nhiều
hạn chế. Do đó, để đạt được hiệu quả cao trong giảng dạy tin học và đem lại lợi
ích thiết thực cho sinh viên, nhất thiết phải có những giải pháp quản lý một
cách sâu sát và toàn diện đối với việc dạy học bộ môn.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng công tác quản lý việc
giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên trường Cao Đẳng Sư phạm Bình
Dương và một số giải pháp" là vấn đề mang tính cấp thiết. Thông qua đề tài
này, sẽ là một số cải tiến quan trọng trong công tác quản lý, nội dung, chương
trình, phương thức dạy học bộ môn, giúp cho sinh viên có đủ điều kiện phát
huy khả năng của mình trong học tập, trong nghiên cứu và đáp ứng nhu cầu của
các em trong thực tiễn công tác.
2.Mục đích nghiên cứu :
2.1.Điều tra và nắm rõ thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tin học
ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương.
2.2.Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng.
2.3.Kiến nghị và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý việc
giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình
Dương.
3.Nhiệm vụ nghiên cứu :
3.1.Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Vị trí của Giáo dục- Đào tạo trong sự nghiệp đổi mới
- Vị trí, nhiệm vụ của nhà trường cao đẳng trong công cuộc đổi mới
- Vai trò của Công nghệ thông tin ương sự nghiệp đổi mới giáo
- Quan điểm của Đảng về phát triển Công nghệ thông tin trong giáo dục
- Hoạt động quản lý và một số khái niệm có liên quan.
- Nội dung công tác quản lý việc giảng dạy tin học
3.2.Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tin học ở các khoa không
chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương.
3.3.Phân tích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng.
3.4.Kiến nghị và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý việc
giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình
Dương.
3.5.Một số thực nghiệm cải tiến quản lý về nội dung, chương trình,
phương pháp giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng
sư phạm Bình Dương.
4.Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
4.1.Khách thể nghiên cứu :
- Hoạt động của tổ tin học nói chung
- Hoạt động quản lý việc giảng dạy của giáo viên tin học ở các khoa
không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương.
- Sinh viên của các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm
Bình Dương.
4.2.Đối tượng nghiên cứu :
- Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tin học
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý việc giảng dạy tin học ở các
khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương.
5.Giả thuyết nghiên cứu :
Công tác quản lý việc giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại
trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương đã thực hiện tương đối tốt ở một số mặt
và đạt được một số kết quả kết quả nhất định. Tuy nhiên, hiệu quả của việc
giảng dạy vẫn chưa cao, còn những tồn tại cần khắc phục. Nếu khắc phục được
những tồn tại này và áp dụng các giải pháp đề xuất một cách khoa học thì hiệu
quả quản lý và chất lượng giảng dạy sẽ tăng lên rất nhiều, đáp ứng được nhu
cầu của sinh viên khi ra trường giảng dạy và yêu cầu cấp thiết của xã hội.
6.Phương pháp nghiên cứu :
6.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên
quan tới đề tài.
6.2.Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến và xử lý
số liệu
-Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến:
- Phiếu trưng cầu ý kiến được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận, mục đích,
nhiệm vụ nghiên cứu và tham khảo những đề tài liên quan đã có trước đây.
- Phiếu trưng cầu ý kiến có hai loại:
-Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho giáo viên :
- Gồm 21 câu hỏi được soạn thảo với nhiều mục nội dung và hình thức
khác nhau: trong mục công tác quản lý có 4 câu hỏi; mục nội dung chương
trình có 2 câu hỏi; mục thời lượng môn học có 3 câu hỏi; mục phương pháp
giảng dạy có 2 câu hỏi; mục trình độ sinh viên có 5 câu hỏi; mục hướng dẫn
học tập có 1 câu hỏi; mục phương tiện kỹ thuật có 2 câu hỏi; mục đánh giá sinh
viên có 2 câu hỏi. Có loại câu hỏi gồm 3 đến 4 lựa chọn và giáo viên chỉ được
chọn duy nhất một lựa chọn, có loại câu hỏi với nhiều lựa chọn và giáo được
quyền chọn những lựa chọn nào mà họ cảm thấy phù hợp với ý kiến của mình.
-Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho sinh viên:
- Gồm 17 câu hỏi cũng được soạn thảo với nhiều hình thức khác nhau:
trong mục nội dung, chương trình có 3 câu hỏi; mục thời lượng môn học có 2
câu hỏi; mục nhu cầu, hứng thú học tập có 6 câu hỏi; mục đánh giá khả năng
học tập và ứng dụng tin học có 3 câu hỏi; mục trang thiết bị có Ì câu hỏi; mục
phương pháp có 2 câu hỏi. Có loại câu hỏi gồm 3 đến 4 lựa chọn và giáo viên
chỉ được chọn duy nhất một lựa chọn, có loại câu hỏi với nhiều lựa chọn và
giáo được quyền chọn những lựa chọn nào mà họ cảm thấy phù hợp với ý kiến
của mình.
- Cách tiến hành :
+ Giai đoạn 1: Gặp gỡ các giảng viên trong tổ bộ môn tin học để thực
hiện phiếu trưng cầu ý kiến. Tiến hành phân loại, xử lý số liệu, và bình luận
từng vấn đề.
+ Giai đoạn 2 : Liên hệ và gặp gỡ sinh viên để thực hiện phiếu trưng cầu
ý kiến. Tiến hành phân loại, xử lý số liệu,và bình luận từng vấn đề trên. 6.3-
Phương pháp quan sát & phỏng vấn:
- Quan sát giờ học thực hành tin học của sinh viên các lớp ở phòng máy vi
tính. Ghi chép và nhận xét các mặt: kiến thức, kỹ năng, trình độ, thái độ học tập
của sinh viên.
Phỏng vấn và ghi nhận ý kiến của một số lãnh đạo, phòng đào tạo, và các
chủ nhiệm khoa về nội dung, chương trình, thời lượng môn học, cơ sở vật chất
phục vụ dạy học bộ môn.
6.4.Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng
- Tổng kết điểm số đạt được về bộ môn tin học của sinh viên mỗi khoa
Ương từng năm học từ 1999- 2000 đến năm học 2003- 2004. Phân loại: giỏi,
khá, trung bình, yếu. Thống kê tần số, tính tỉ lệ phần trăm (PL4)
- Nắm rõ kết quả học tập bộ môn tin học của sinh viên ở các khoa không
chuyên trường Cao Đẳng Sư phạm Bình Dương, theo từng năm học từ 1999-
2000 đến năm học 2003- 2004. Thống kê tần số, tính tỉ lệ phần trăm và nhận
xét kết quả học tập của sinh viên.
6.5.Phương pháp thực nghiệm :
Đây là phương pháp chủ yếu để tìm hiểu hiệu quả của những giải pháp tác
động nhằm nâng cao hiệu quả việc quản lý giảng dạy tin học ở các khoa không
chuyên trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương.
-Mục đích: Tiến hành thực nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả việc quản lý
giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình
Dương.
-Cách tiến hành thực nghỉệm: Chọn ra hai nhóm, nhóm thực nghiệm và
nhóm đối chứng để nhận xét, so sánh giữa hai nhóm sinh viên để tìm ra sự khác
biệt giữa hai nhóm, kiểm định hiệu quả các giải pháp tác động
6.6.Phương pháp toán thống kê :
Để tiến hành phân tích, xử lý số liệu điều tra nhằm định lượng kết quả
nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS for WIN 10.5 để tính trị số
trung bình M, độ lệch chuẩn P.
- Số liệu được quy ước sau:
+ Đối với câu hỏi có 4 khả năng trả lời
a = 4;b = 3;c=,2;d= 1
+ Đối với câu hỏi có 3 khả năng trả lời a = 3; b = 2; c = 1
7.Phạm vi nghiên cứu :
7.1.Phạm vi nghiên cứu :
- Việc quản lý giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao
Đẳng sư phạm Bình Dương.
7.2.Địa bàn nghiên cứu :
- Hoạt động giảng dạy của tổ tin học ở các khoa không chuyên tại trường
Cao Đẳng sư phạm Bình Dương.
- Sinh viên ở các khoa không chuyên : Anh văn, sử, địa, giáo dục công
dân, thể dục - công tác đội, cao đẳng tiểu học chuyên tu, cao đẳng mầm non,
cao đẳng nhạc, cao đẳng mỹ thuật...
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC MỘT SỐ NÉT VỀ LỊCH SỬ
NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ.
Khi xã hội càng phát triển thì vai trò của giáo dục càng trở nên quan
trọng, vì giáo dục luôn gắn với sự nghiệp phát triển của một quốc gia. Ngày
nay, trong xu thế chuyển đổi tới xã hội thông tin và kinh tế tri thức, chất lượng
giáo dục và quản lý chất lượng giáo dục trở thành yêu cầu cấp bách của nền
giáo dục tiên tiến. vấn đề quản lý chất lượng giáo dục- đào tạo ở nước ta trong
thời kỳ chuyển đổi đang là vấn đề được toàn ngành và xã hội quan tâm. Có rất
nhiều đề tài, bài viết của nhiều tác giả đề cập đến chất lượng giáo dục, quản lý
giáo dục - đào tạo, vấn đề quản lý công tác dạy và học nói chung. Riêng trong
lĩnh vực tin học, cũng có nhiều chuyên gia, đã đề cập đến nhiều vấn đề chuyên
sâu của máy tính (sự phát triển phần cứng, phần mềm). Đặc biệt, vấn đề ứng
dụng của tin học trong giáo dục và dạy học cũng được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm.
- " Ứng dụng công nghệ thông tin và những vấn đề cần xem xét đổi mới
trong hệ thống phương pháp dạy học môn toán " của Tiến sĩ Đào Thái Lai
(Viện khoa học giáo dục). Đã nêu lên vai trò của công nghệ thông tin trong
việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học toán, xây dựng môi trường
dạy học đa phương tiện: máy tính, video, máy chiếu đa năng, mạng internet,
website giáo dục, phát huy tính tích cực của học sinh; " Công nghệ thông tin và
truyền thông với giáo dục ở Việt Nam" của PSG-TS Lê Hồng Sơn. Đã nếu việc
ứng dụng của công nghệ thông tin trong sự nghiệp cải cách giáo dục, đóng góp
như một phương thức và các giải pháp hữu hiệu cho việc thực hiện những đổi
mới về nội dung, phương thức giáo dục, các hình thức dạy và học đa dạng,
phong phú: tự học, học từ xa, chính qui, phi chính qui...
- " Một số vấn đề về sử dụng phần mềm ( SOFTWARE ) trong giảng dạy
hoa học" của nhóm tác giả (Hà thị Lan Hương, Lê trọng Tín, Nguyễn Đức
Chùy) khoa hoa Đại học sư phạm Hà nội. Nêu lên các công dụng hỗ trợ của
máy tính trong việc sử dụng phần mềm ghi trên đĩa CD trong giảng dạy môn
hoá.
- "Sử dụng hệ thống mạng đào tạo đa phương tiện trong dạy học"- Ths.
Vương Đình Thắng ( Đại học sư phạm - Đại học Huế). Nêu lên vai trò tác dụng
của hệ thống phương tiện HiClass, như một mạng máy tính giao tiếp hai chiều,
với khả năng truyền thông đa phương tiện, với sự hấp dẫn của âm thanh, hình
ảnh tạo nên môi trường dạy học tương tác mạnh mẽ. Người dạy luôn giữ vai trò
chủ thể, thiết kế, tổ chức, giám sát, điều khiển và điều chỉnh hoạt động nhận
thức của người học, người học có điều kiện phát huy sáng tạo trong hoạt động
nghiên cứu vấn đề. Hiệu suất học tập của học sinh sẽ được tăng cường trong
môi trường học tập
- "Sử dụng hiệu quả phần mềm Powerpoint để làm cho phương pháp
thuyết trình trở thành phương pháp dạy học tích cực" của Thạc sĩ Ngô Quang
Sơn (Viện khoa học giáo dục). Nêu lên tác dụng tích cực của phần mềm
Povverpoint, làm thay đổi môi trường học tập. Giúp giáo viên chủ động trong
quá trình giảng dạy, giáo viên có thể chia nhỏ bài giảng, nhấn mạnh các nội
dung chính, quan trọng và sinh viên có thể chú ý cao hơn, hoạt động nhiều hơn,
và có thể tự tóm tắt nội dung bài giảng dễ dàng hơn
- "Thiết kế bài học môn Công nghệ thông tin theo hướng dạy học tích cực
và tương tác" của TS - Nguyễn Văn Khôi và Ths - Lê Huy Hoàng -Trường Đại
học sư phạm Hà Nội. Đã nêu lên đặc điểm của dạy học tích cực và tương tác,
quá trình học tập hướng vào học sinh, tăng cường sự hứng thú, giảm việc trình
bày những tri thức sẩn có, áp đặt, mà chủ yếu trình bày thông tin và gợi ý các
phương án xử lý thông tin.
- " Khai thác phần mềm PCFACT trong dạy - học địa lý" của tác giả
Nguyễn Trọng Phúc - Đại học sư phạm Hà Nội. Nêu lên việc ứng dụng công
nghệ thông tin vào dạy học địa lý bằng phần mềm PCFACT góp phần làm thay
đổi các phương pháp dạy - học truyền thống và tạo tiền đề cho đổi mới cho
việc cải tiến nội dung dạy học và thiết kế bài giảng địa lý.
- "Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng công nghệ thông tin- xu thế của
thời đại" của tác giả Quách Tuấn Ngọc (Trung tâm Công nghệ thông tin, Bộ
giáo dục và đào tạo). Nêu lên quá trình dạy và học thực chất là quá trình phát
và thu thông tin, muốn thu nhận số lượng lớn thông tin phải biết tận dụng các
phương tiện truyền thông để đưa thông tin vào ở nhiều cửa và nhiều dạng khác
nhau. Phương pháp dạy theo Công nghệ thông tin dựa vào công nghệ mới như
phim chiếu, đèn Overhead, phần mềm hỗ trợ bài giảng, máy chiếu đa năng
prọịector, phần mềm tự học,, tự kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy
tính, trao đổi qua mạng Internet...làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin
nhanh, nhiều hơn và hiệu quả hơn.
-"Về việc ứng dụng công nghệ thông tin để dạy âm nhạc" của tác giả
Phan Quân- Nguyên giám đốc trung tâm tin học cơ sở Giáo dục -Đào tạo Hải
Phòng. Dùng phần mềm máy tính để dạy các phân môn của âm nhạc : Dạy hát,
dạy tập đọc nhạc, dạy thường thức âm nhạc, hô trợ việc sáng tác, phôi âm các
tác phàm âm nhạc, thưởng thức âm nhạc bằng máy tính.
Ngoài ra, còn nhiều đề tài, bài viết khác có liên quan đến việc ứng dụng
công nghệ thông tin như : Xây dựng phần mềm quản lý cán bộ, công chức
ngành giáo dục đào tạo (trung tâm Công nghệ thông tin Bộ giáo dục và đào
tạo); "ứng dụng của công nghệ thông tin trong giảng dạy Vật lý" của ( Viện Vật
lý Kỹ thuật, Đại học Bách khoa Hà nội); bài viết "Thực hành đổi mới phương
pháp dạy và học bằng Công nghệ thông tin" (của Phạm trường Lưu, phòng giáo
dục quận Hai Bà trưng ); bài " Một số hiệu quả bước đầu về việc ứng dụng
CNTT trong quản lý, giảng dạy các môn học tại trường THPT Phụng Hiệp"
(của Nguyễn Văn Ba, Hiệu trưởng THPT Phụng Hiệp cần Thơ ); " Một số công
tác đổi mới quản lý đào tạo sử dụng công nghệ thông tin tại trường Đại học sư
phạm Hà Nội" (của Nguyễn Văn Bính, Nguyễn Phú Thu , ĐHSP-HN); "
Những vấn đề về chương trình ứng dụng CNTT Và truyền thông trong nhà
trường phổ thông" (của Lê Thuận Vượng, Vụ giáo dục thường xuyên, Bộ giáo
dục); bài viết " Khai thác và tổ chức dữ liệu tri thức trong dạy- tự học môn toán
trong môi trường ÍT" (tác giả Trần Thái Hà, Viện Nghiên cứu phát triển giáo
dục); "Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng sử dụng phương tiện kỹ
thuật" ( Ths. Vũ Mạnh Xuân, ĐHSP Thái Nguyên )...
Nhìn chung, các đề tài, bài viết trên đã nghiên cứu nhiều vân đề, đề cập
nhiều mặt của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong nhiều lĩnh vực khác
nhau. Riêng trong lĩnh vực giáo dục thì công nghệ thông tin được xem như một
môn học vừa là phương tiện hỗ trợ hữu hiệu trong giáo dục - đào tạo, trong
việc thiết kế bài giảng, việc sáng tạo ra các phần mềm phục vụ cho giảng dạy
trong phạm vi của một môn học cụ thể nào đó để nhằm cải tiến phương pháp,
nội dung, hình thức dạy và học theo hướng tích cực, hiện đại và hiệu quả. Tuy
nhiên, ít có một đề tài nào nghiên cứu một cách xác thực về thực trạng của việc
dạy và học bộ môn tin học, cùng với việc đưa ra các giải pháp quản lý hiệu quả
để nâng cao chất lượng giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên ở trường
cao đẳng một cụ thể và sâu sắc.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.Vị trí của giáo dục trong sự nghiệp đổi mới
Trong thế kỷ 21, khoa học - công nghệ đã trở thành một lực lượng sản
xuất trực tiếp và nòng cốt, là lực lượng cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội,
đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và
phát triển kinh tế tri thức. Tri thức đã thật sự trở thành một yếu tố có sức sống
quan trọng nhất trong các yếu tố sản xuất, là hạt nhân kết nối và thúc đẩy các
yếu tố sản xuất khác. Ai nắm được tri thức thì sẽ ở vào địa vị chi phối kinh tế
xã hội; quốc gia nào nắm được nhiều tri thức sẽ chi phối kinh tế toàn cầu.
Chính tiền đề xán lạn đó đã làm cho các quốc gia phải nhanh chóng tranh thủ
tìm biện pháp thích ứng và cạnh tranh với kinh tế tri thức. Cũng từ đây các nền
giáo dục phải đổi mới theo chiều hướng của kinh tế tri thức.
Giáo dục trong xã hội học tập của thế kỷ 21 là giáo dục cho tất cả mọi
người, cho cuộc sống, trang bị cho cá nhân khả năng đối mặt với các thay đổi.
Trong xã hội học tập, mọi người được quyền học tập và không ngừng học tập,
suy luận, sáng tạo, học suốt đời. Với việc học suốt đời, mọi người được bồi
dưỡng các năng lực trí tuệ, được cung cấp đầy đủ kiến thức và có khả năng tìm
kiếm những tri thức cần thiết cho cuộc sống trong môi trường của nến kinh tế -
xã hội liên tục biến đổi và phát triển.
Do vậy, vấn đề cốt lõi nhất đối với giáo dục là phải đổi mới nội dung và
phương thức đạo tạo, nhằm tạo ra những con người mới, con người của một xã
hội tri thức, có năng lực tốt, làm việc chủ yếu với thông tin và tri thức. Con
người có năng lực tri thức phải biết tiếp thu một cách chủ động kiến thức qua
việc học, biết tự mình tìm ra những tri thức, có khả năng vận dụng tạo ra những
tri thức mới cần thiết cho cuộc sống và cho hoạt động của mình. Chính vì vậy,
việc giáo dục học sinh trong nhà trường cần lưu ý đến giai đoạn "học", giai
đoạn này là hết sức quan trọng để trang bị cho người học một vốn kiến thức cơ
bản và cần thiết ương suốt cả cuộc đời.
Chính giáo dục có vai trò quan trọng trong việc định hình xã hội học tập
và làm vững mạnh xã hội học tập. Vì vậy, xã hội cần đối xử với giáo dục, đặc
biệt là giáo dục đại học, cao đẳng như một ngành công nghiệp nặng của xã hội,
cần đầu tư lớn cho giáo dục và cần thực hiện công nghệ đào tạo mới cho giáo
dục, với nội dung giáo dục mới và phương pháp giáo dục mới, để sao cho giáo
dục thích nghi được với môi trường xã hội đang thay đổi và chuyển dịch mô
hình theo trục đo lường là chất lượng giáo dục con người chứ không phải là
bằng cấp.
2.2.Nhiệm vụ của trường cao đẳng sư phạm trong giai đoạn đổi mới.
Trường cao đẳng sư phạm Bình Dương là một trong những trung tâm giáo
dục lớn của tỉnh. Nhà trường được sự quản lý và chỉ đạo của Bộ giáo dục-đào
tạo, Sở giáo dục- đào tạo và ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương. Mục tiêu và
nhiệm vụ giáo dục của nhà trường luôn gắn với mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội đất nước và của tỉnh. Hiện nay, nhà trường quản lý và tổ chức đào tạo nhiều
ngành học với nhiều loại hình khác nhau, từ đào tạo chính quy đến không chính
quy, liên kết đào tạo. Trước yêu cầu đổi mới của giáo dục, trường Cao Đẳng sư
phạm Bình Dương đã thực hiện đổi mới phương thức giáo dục, đào tạo theo xu
thế mới của sự phát triển, trên cơ sở dân chủ hoá, hiện đại hoa giáo dục.
Nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường không chỉ đơn thuần đào tạo ra số
lượng cán bộ giảng dạy, khoa học kỹ thuật và quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế đất nước, mà còn có nhiệm vụ cung cấp cho sinh viên có đủ
úi thức, năng lực, kỹ năng nghề nghiệp, dạy cho họ phương pháp tự học và tự
nghiên cứu suốt đời; biết sử dụng các thành tựu của khoa học công nghệ mới,
biết giải quyết trúng, nhanh các vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
Trong đổi mới phương thức đào tạo và cải tiến phương pháp dạy học
nhằm nâng cao chất lượng của quá trình đào tạo, nhà trường thực hiện chức
năng: vừa đào tạo, vừa bồi dưỡng, vừa nghiên cứu khoa học. Nội dung dạy học
gắn chặt với khoa học- công nghệ hiện đại, tổ chức quản lý trường cao đẳng
theo kiểu mới, theo tinh thần dân chủ, công khai, mở rộng liên kết với các
trường đại học.
Nhà trường luôn coi trọng việc áp dụng Công nghệ thông tin và truyền
thông trong quản lý và đào tạo, quan tâm đến việc ứng dụng và phát triển tin
học cho đội ngũ giáo viên và sinh viên. Đối với sinh viên, việc học và sử dụng
tin học được xem là một nhu cầu quan trọng và rất cần thiết để truy cập thông
tin phục vụ cho học tập và nghiên cứu. Với sự trợ giúp của tin học, trình độ
chuyên môn, khả năng tư duy, sáng tạo và khả năng tự học của sinh viên sẽ
không ngừng được nâng cao. Đối với giảng viên, nhà trường đã tổ chức giảng
dạy tin học cho giảng viên (coi như một hình thức bắt buộc), đa số các giảng
viên của trường biết sử dụng công nghệ thông tin. Trình độ và hiệu quả sử
dụng tin học của cán bộ, giảng viên có nhiều tiến bộ đáng kể. Nhiều người đã
sử dụng máy tính thành thạo để soạn giáo án, giáo trình giảng dạy, làm đề thi,
lên điểm, lưu trữ tài liệu, lịch công tác và thời khoá biểu. Nhiều giảng viên ứng
dụng tin học, sử dụng thành thạo các phần mềm phục vụ trong giảng dạy và
nghiên cứu khoa học.
Nhìn chung trong những năm qua, nhà trường Cao đẳng sư phạm Bình
Dương đã thể hiện vai trò của mình trong việc thực hiện đường lối, chủ trương
của Đảng, Nhà nước về đổi mới giáo dục, đào tạo. Từng bước nâng cao chất
lượng đào tạo, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả sử dụng tin học trong giảng dạy,
khai thác tối ưu các hệ thống thiết bị máy tính, các phương tiện thông tin hiện
đại, luôn lấy nhiệm vụ đào tạo nhân lực chuyên môn làm trọng tâm, phát huy
đầy đủ tài năng và trí tuệ của giảng viên và sinh viên.
Trong thời gian tới, căn cứ vào chủ trương của Đảng, để nâng cao hiệu
quả ứng dụng tin học trong giáo dục, đào tạo, sử dụng một cách có kế hoạch
đội ngũ cán bộ tin học, khai thác hết công suất, tính năng, tác dụng của hệ
thống thiết bị máy tính trong nhà trường vào giảng dạy và nghiên cứu khoa
học, nhà trường cao đẳng sẽ không ngừng cải tiến phương thức đào tạo, và giải
pháp quản lý trong việc tổ chức dạy học tin học nhằm nâng cao hiệu quả giảng
dạy của giáo viên và chất lượng học tập tin học của sinh viên, đáp ứng yêu cầu
của Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 "Phổ cập kiến thức tin học cơ sở
trong nhà trường, đặc biệt chú trọng khả năng truy cập và xử lý thông tin trên
mạng", từ đó " Đảm bảo cho sinh viên sau khi tốt nghiệp sử dụng tốt máy tính
để thu thập và xử lý thông tin..., nâng cao năng lực hội nhập quốc tế".
Các đặc điểm và yêu cầu trên đây đã khẳng định vị trí, nhiệm vụ của nhà
trường cao đẳng có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ hệ thống tổ chức và phương
pháp đào tạo trong thời đại mới. Đòi hỏi tổ chức và phương pháp dạy học cao
đẳng phải gắn liền với ngành nghề, nghiên cứu khoa học, khoa học công nghệ
và thực tiễn xã hội.
2.3.Vai trò của công nghệ thông tin trong sự nghiệp đổi mới giáo dục.
Trong thiên niên kỷ mới, công nghệ và mạng thông tin sẽ làm thay đổi
cách thức thông tin giữa các nước. Các quốc gia sẽ có sự liên thông với nhau về
kinh tế, văn hoa, và mối liên kết này sẽ ngày càng phát triển trong tương lai.
Trong thế giới như vậy, tri thức và việc ứng dụng các tri thức thực sự trở thành
một tài sản quan trọng trong sự đi lên của kinh tế và xã hội. Giáo dục có nhiệm
vụ trang bị cho lực lượng lao động các kỹ năng và tri thức phù hợp với nền
kinh tế xã hội mới.
Đổi mới giáo dục bằng việc phát triển và ứng dụng Công nghệ thông tin
và truyền thông (CNTT và TT), là con đường, là giải pháp tất yếu và là quan
trọng nhất hiện nay, mà tất cả các nước đều quan tâm thực hiện. Cụ thể là đổi
mới về quản lý giáo dục, về chương trình đào tạo mọi ngành, về phương pháp
dạy học và sử dụng CNTT - TT, nhận thức và tư duy về CNTT và TT...
Trong cải cách giáo dục, CNTT có vai trò rất quan trọng, đã đóng góp các
công cụ, phương thức và các giải pháp hữu hiệu để hỗ trợ đắc lực cho việc thực
hiện những đổi mới về nội dung và phương thức giáo dục. Đối với giáo dục,
CNTT có một vai trò kép: vừa tạo ra một môi trường mới cung cấp những điều
kiện và phương tiện thuận lợi cho các hình thức dạy và học đa dạng, phong
phú, lại vừa là một ngành học với những quan điểm, nội dung, phương pháp
đặc thù đang được tiếp tục mở rộng và hoàn thiện và ngày càng chiếm một vị
trí quan trọng trong hệ thống tri thức của con người. Vì vậy, việc giáo dục- dạy
học CNTT trong nhà trường cũng cần phải chú trọng trên cả hai mặt: một mặt
là phổ cập tin học cho mọi người như một phương tiện để sống và làm việc
trong xã hội thông tin, biết sử dụng CNTT như một công cụ trong các hoạt
động của mình; mặt khác là nhằm đào tạo các chuyên gia trong các lĩnh vực
khác nhau của CNTT.
Nhìn chung, Công nghệ Thông tin và Truyền Thông (CNTT- TT) đã trở
thành một yếu tố then chốt làm thay đổi thế giới nói chung và đặc biệt cho giáo
dục. CNTT- TT đã làm nên một cuộc đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục, tạo ra
Công nghệ giáo dục (Education Technology ) với nhiều thành tựu rực rỡ :
* Công nghệ dạy và học ( Teachỉng and Learning Technology )
- Làm thay đổi phương pháp dạy và phương pháp học với nhiều hình thức
phong phú. Mối giao lưu giữa máy tính và người đã trở thành tương tác hai
chiều với nhiều phương tiện truyền thông (Mutimedia) là âm thanh, tiếng nói,
hình ảnh, phim,...mà đỉnh cao là mạng Internet (e-learning)
-Chính nhờ có công cụ mới mà giáo dục có thể thực hiện những tiêu chí
học tập mới: học mọi nơi (anyvvhere), học mọi lúc (anytime), học mọi thứ (ôn
anythings), học một cách mở và mềm dẻo, học suốt đời ( open and Hexible
lifelong learning). Bản chất của quá trình dạy và học là quá trình TT- TT :
(Thông Tin và Truyền Thông). Thông tin là nội dung bài giảng và tri thức cần
truyền đạt. Quá trình trao đổi thông tin (truyền thông ) là quá trình trao đổi giữa
thầy và trò, giữa người học và tư liệu học tập
* Công nghệ quản lý giáo dục (Education Managemant Technology )
-CNTT và TT làm thay đổi cung cách điều hành và quản lý giáo dục, hỗ
trợ công cuộc cải cách hành chính để làm việc hiệu quả hơn ( kinh tế, thời gian,
thông tin, tri thức ) và quản lý quá trình học tập ( Learning Management). Bản
chất quá trình quản lý giáo dục cũng là CNTT- TT. Công nghệ dạy và học sẽ
hỗ trợ trực tiếp quá trình học tập của người học, trong khi đó công nghệ quản lý
giáo dục là phần hỗ trợ gián tiếp cho quá trình học tập. Song, cả hai đều ảnh
hưởng đến kết quả của người học. Từ bản chất của CNTT chúng ta cũng phải
đổi mới nhận thức về vai trò của CNTT- TT đối với giáo dục : CNTT- TT
không chỉ đơn giản là một ngành học mà phải thấy rộng ra là công cụ cho mọi
cuộc đổi mới giáo dục, cho mọi ngành, mọi bậc học,(kể cả ngành xã hội nhân
văn và bậc học mẫu giáo), cho mọi người, mọi nơi, mọi lúc và mọi hình thức
giáo dục...Đó là các tiêu chí mới của giáo dục trong giai đoạn đổi mới.
-Tuy nhiên, có thêm nhiều công cụ, phương tiện hỗ trợ cho việc dạy học
thì không có nghĩa là người thầy bớt việc làm. Người thầy phải làm việc tốt
hơn vai trò của một người hướng dẫn cho học sinh qua các quá trình tìm kiếm
tri thức, gợi mở những con đường phát hiện tri thức, qua đó, trau dồi khả năng
độc lập tư duy và sáng tạo cho người học. Do vậy, để ứng dụng hiệu quả CNTT
trong giáo dục thì nhất thiết không thể thiếu vai trò của người thầy trong việc
sử dụng kỹ thuật của CNTT, tham gia phát triển các phần mềm dạy học thông
minh, soạn các bài giảng, các phương án, các mẫu đối thoại phục vụ cho người
học, tự học, tham gia các hoạt động tư vấn giáo dục,...phải làm sao cho khi sử
dụng một phần mềm dạy học thì không phải là dùng máy tính để thay thế một
thầy giáo mà là thay một người thầy bằng trí tuệ và kinh nghiệm tổng hợp của
nhiều thầy giỏi trong dạy học và giáo dục, còn máy tính chỉ là công cụ để thể
hiện.
-Việc nâng cao năng lực dạy học của người thầy thông qua trang bị đầy
đủ hiểu biết và kỹ năng về CNTT sẽ đóng vai trò quan trọng và hiệu quả trong
việc thực hiện đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục.
2.4.Quan điểm của Đảng về phát triển công nghệ thông tin trong nhà
trường.
-Sự đổi mới và phát triển giáo dục đang diễn ra ở qui mô toàn cầu tạo cơ
hội tốt cho giáo dục nước ta nhanh chóng tiếp cận với các xu thế mới, tri thức
mới; tiếp cận với những cớ sở lý luận, phương pháp tổ chức, nội dung hiện đại
và tận dụng các kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển. Quá trình hội
nhập quốc tế là một thời cơ cho giáo dục - đào tạo nước ta vươn lên đạt các
chuẩn mực khu vực và quốc tế, thúc đẩy chúng ta nhanh chóng nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, đồng thời tạo thêm cho chúng ta nguồn lực bổ sung về
thông tin, tri thức, chuyên gia, tài chính, để nhanh chóng nâng cao trình độ giáo
dục - đào tạo nước ta, rút ngắn gián cách với các nước tiên tiến. Con đường
nhanh chóng giúp nước ta sánh vai với các cường quốc là con đường phát triển
giáo dục và khoa học công nghệ. Trong sự nghiệp công nghiệp hoa, hiện đại
hoa đất nước Đảng và Nhà nước ta chủ trương : Cùng với giáo dục là quốc sách
hàng đầu, công nghệ thông tin là mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt, đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát
triển so với các nước đi trước.
-Có rất nhiều văn bản, nghị quyết của Đảng và Nhà nước chỉ đạo về việc
phát triển công nghệ thông tin và truyền thông ở nước ta, đặc biệt đưa công
nghệ thông tin vào môi trường giáo dục.
- Nghị quyết 26-NQ/TW, ngày 30/3/1991 của Bộ chính trị về khoa học và
công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu: "Tập trung sức phát triển một số
ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học,..."
- Nghị quyết 7 của BCHTW Đảng khoa VII, ngày 30/7/1994 xác định:
"Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như công nghệ thông
tin phục vụ yêu cầu điện tử hoa và tin học hoa kinh tế quốc dân"
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh: "
ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra
sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế...Hình thành
mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc tế"
- Nghị định số 49/CP ngày 4/8/1993 của Chính phủ về "Phát triển công
nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90"
- Nghị quyết 7/2000/NQ/CP ngày 5/6/2000 của Chính phủ về việc phát
triển công nghệ phần mềm 2000-2005..
-Mục tiêu đề ra đến năm 2010, Công nghệ thông tin Việt Nam phải đạt
được một số mục tiếu cơ bản sau đây:
+ Công nghệ thông tin phải được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, là
yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội, Công nghệ thông tin
trở thành mũi nhọn, có tỉ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước
+ Mạng thông tin quốc gia là kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng,
phải tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển và ứng dụng công nghệ
thông tin.
+ Phát triển nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin là yếu tố then chốt
có tính quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển.
+ Phát triển công nghệ thông tin thành một ngành kinh tế quan trọng, đặc
biệt là công nghệ phần mềm.
+ Ứng dụng rộng rãi có hiệu quả công nghệ thông tin trong toàn xã hội:
các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị đi đầu trong việc triển khai
và ứng dụng, theo phương châm thiết thực, có hiệu quả.
+ Tạo môi trường cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin .'trên
cơ sở an ninh, an toàn, tránh những rủi ro, tháo bỏ nhận thức và qui định không
phù hợp, phải có chế độ ưu đãi hợp lý.
+ Đẩy mạnh việc đào tạo nhân lực cho công nghệ thông tin: đẩy mạnh
xây dựng mạng thông tin quốc gia, hệ thống viễn thông và Internet Việt Nam.
Tăng cường giải pháp quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực công nghệ thông tin.
-Đối với giáo dục, có nhiều Nghị quyết, chỉ thị về việc ứng dụng công
nghệ thông tin trong giáo dục.
- Nghị quyết 4, BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam ( khoa VII) đã chỉ rõ:
“Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đó là một
động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản đảm bảo thực hiện những mục tiêu kinh
tế - xã hội”.
- Trong chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 17/10/2000 về việc đẩy
mạnh phát triển Công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp hiện đại hoa - công
nghiệp hoa và quyết định 81/2001/QĐ-TTg ngày 24/5/2001 đã chỉ rõ : "Trọng
tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực CNTT và đẩy mạnh ứng
dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở mọi cấp học, bậc học, ngành
học"
- Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ giáo dục : về việc Tăng cường giảng dạy, đào
tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2001-
2005. Đã chỉ đạo : Xây dựng hệ thống mạng thông tin trong ngành giáo dục, từ
cấp lãnh đạo đến cấp cơ sở, từ hệ thống mẫu giáo đến đại học. Nêu rõ, nhiệm
vụ của nhà trường đào tạo ra những công dân có trình độ, có năng lực sáng tạo,
biết áp dụng và sử dụng thành thạo thành tựu khoa học và công nghệ tin học,
tạo ra nguồn lực khoa học -công nghệ cho ngành và cho đất nước. Và vai trò
của nhà giáo dục không chỉ truyền đạt tri thức, mà chuyển sang cung cấp cho
người học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, tạo điều kiện tối
đa cho việc sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và trong học tập.
- Nhiệm vụ quan trọng nhất là đào tạo nhân lực, nâng cao trình độ dân trí
và phát triển nhân tài, đặc biệt là nhân tài cấp cao trên cơ sỏ phát triển và ứng
dụng công nghệ thông tin để rút ngắn khoảng cách với các nước khác.
- Cơ cấu lại hệ thống giáo dục từ nội dung, chương trình, phương pháp,
hình thức tổ chức, sách giáo khoa, các loại hình đào tạo theo hướng phát triển
khoa học công nghệ, tin học.
- Phải hướng mục tiêu giáo dục và đào tạo vào khoa học công nghệ, tin
học, mạng internet vào trường học từ mầm non đến đại học, hình thành cho các
em ngay từ đầu về khoa học công nghệ tuy theo cấp lớp mà có nội dung cho
phù hợp và thích ứng gồm cả lý thuyết và thực hành.
- Ngành giáo dục phải nối mạng máy tính với các cơ sở trường học, làm
việc, báo cáo qua hệ thống máy tính, tạo điều kiện cho sinh viên học qua mạng
internet.
- Trường học phải là nơi hướng mũi nhọn của công nghệ tin học, phải
thường xuyên tổ chức thi tài năng giỏi về khoa học công nghệ, tin học để phát
hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng trẻ.
- Trong giảng dạy và học tập, ngành giáo dục phải chỉ đạo cho các trường,
sở, hướng việc dạy học bằng phương pháp mới có sử dụng tin học và các thiết
bị của công nghệ thông tin như dạy bằng đèn chiếu, dạy qua mạng, dạy qua
màn hình máy vi tính, hệ thống nghe nhìn Multimedia, phòng Lab. Đây cũng
chính là giải pháp để giáo viên áp dụng phương pháp mới mà xã hội đang yêu
cầu, phương pháp này giúp cho người dạy chủ động trong việc truyền thụ tri
thức, học sinh dễ tiếp thu hơn và không nhàm chán, đồng thời cũng cho học
sinh tiếp cận với công nghệ tin học ngay từ đầu.
- Giáo dục phải tạo ra các phần mềm phục vụ cho đất nước, cho bản thân
ngành, phần mềm phục vụ cho giảng dạy các bộ môn khoa học cơ bản và khoa
học xã hội.
Việc ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả công nghệ thông tin trong toàn xã hội
ở nước ta hiện nay là một yêu cầu cấp bách của của Đảng, Nhà nước và nhân
dân Việt Nam để tiến tới xây dựng một xã hội văn minh, công bằng, dân giàu,
nước mạnh, ấm no và hạnh phúc.
Các trường đại học, cao đẳng sẽ là trung tâm đào tạo ra đội ngũ nguồn
nhân lực công nghệ thông tin có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu công nghiệp
hoa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế đất nước. Vì vậy, công tác quản lý việc
giảng dạy và học tin học được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết của giáo dục
hiện nay.
2.5.Hoạt động quản lý
Như chúng ta biết, quản lý là một sự biểu hiện khả năng của con người
trong việc tổ chức và điều chỉnh cuộc sống. Quản lý có vai trò quan trọng trong
sự nghiệp kinh tế - xã hội. Nếu như quản lý tốt sẽ thúc đẩy sản xuất, nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của con người, tạo điều kiện cho tư duy sáng tạo
phát triển về mọi phương diện. Cụ thể tại các nước Mỹ, Nhật, các nước Tây Ẩu
do họ biết cải tiến phương pháp quản lý nên đã phát huy được sức mạnh trí tuệ
của con người. Ngược lại, công tác quản lý tốt sẽ tác động hạn chế, ngăn cản sự
phát triển kinh tế và xã hội, lãng phí sức người, sức của và chát xám, làm
nghèo, làm chậm sự phát triên của đất nước.
Mục đích của công tác quản lý ngày nay là tìm cách tác động, tạo điều
kiện và làm cho mỗi người làm việc tốt hơn. Vì lao động là nguồn gốc của sự
giàu có của trí tuệ, tài nguyên vô tận của con người. Xã hội càng phát triển thì
lao động quản lý càng trở nên phức tạp vì xã hội đòi hỏi sự phân công hợp lý
và sự hợp tác chặt chẽ của nhiều ngành, nhiều nghề, nhiều người. Bất kỳ một tổ
chức nào muốn hoạt động có hiệu quả, có chất lượng đều phải thông qua hoạt
động quản lý.
2.5.1.Khái niệm quản lý:
Theo Henry Fayol: " Quản lý - nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối
hợp và kiểm tra"
Theo Harold Koontz: " Quản lý là một hoạt động thiết yêu; nó đảm bảo
phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục
tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con
người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất
và sự bất mãn cá nhân ít nhất"
- Cái chính trong quản lý là quan hệ giữa người với người. Trong quan hệ
này, bên làm phát sinh các tác động gọi là chủ thể quản lý, còn bên tiếp nhận
gọi là khách thể quản lý.
Như vậy, quản lý là hoạt động, là tác động có định hướng, có chủ đích
của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ
chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Có 4 yếu tố cơ bản của quản
lý:
- Hướng tới các mục tiêu
- Thông qua con người
- Với kỹ thuật và công nghệ
- Thực hiện bên trong một tổ chức nhất định
Hiện nay, vấn đề quản lý chất lượng được quan tâm rộng rãi trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo.
2.5.2.Giải pháp quản lý:
Quản lý nói chung và quản lý đào tạo đại học, cao đẳng nói riêng luôn
luôn là hoạt động phức tạp, bao gồm nhiều khâu, nhưng xét đến cùng thì khâu
cách làm, khâu giải pháp (GP) là quan trọng nhất. Nói chung, trong một hoạt
động bất kỳ, hay một cuộc cách mạng thì giải pháp vẫn là khâu then chốt, có ý
nghĩa thành công, hiệu quả và chất lượng.
Vấn đề giải pháp, trong khoa học cũng như trong thực tiễn đời sống có rất
nhiều thuật ngữ: Giải pháp, phương pháp, biện pháp, thủ pháp, phương sách, kế
sách, v.v...( Chúng tôi cũng xin không điểm qua hay hệ thống các định nghĩa và
quan niệm về giải pháp). Những thuật ngữ này có các khía cạnh khác nhau,
song, chúng đều thể hiện cái nội dung là cách làm, là phương thức hành động-
hoạt động để đạt được mục đích định sẩn. Trong đề tài này thuật ngữ giải pháp
được hiểu như một phương thức hành động- hoạt động mang tính chiến lược,
tổng thể và toàn diện và để thực hiện giải pháp có khi phải áp dụng nhiều biện
pháp.
2.5.3.Quản lý giáo dục :
Là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của
chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối
và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục
thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.
Ngày nay, với quan điểm học thường xuyên, học suốt đời, công tác giáo
dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, nên quản lý giáo dục
được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ
thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Quản lý giáo dục được diễn ra trong phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh
thồ (tỉnh, huyện) và quản lý đơn vị cơ sở giáo dục (quản lý nhà trường).
2.5.4.Quản lý nhà trường :
Là những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học
sinh và các lực lượng giáo dục khác nhằm huy động tối đa các nguồn lực để
nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, đưa nhà trường tiến lên trạng
thái phát triển mới.
Cấp quản lý trường học cao nhất là Bộ giáo dục - Đào tạo, quản lý nhà
trường bằng các giải pháp vĩ mô. cấp quản lý trung gian là sở giáo dục - đào
tạo ở tính và các Phòng giáo dục ở các huyện, thị. cấp quản lý trực tiếp và quan
trọng của hoạt động giáo dục là cơ quan quản lý nhà trường.
Hiệu trưởng là chủ thể quản lý nhà trường, tác động đến từng nhóm
người, từng cá nhân, trong tập thể nhà trường (bao gồm: các tổ chuyên môn,
nhóm giáo viên bộ môn, chủ nhiệm, công đoàn, đoàn thanh niên, đội,hội phụ
huynh học sinh, tập thể học sinh..) và thông qua đó tác động đến từng bộ phận
và từng nhiệm vụ của hệ thống giáo dục (nhà trường), từng thành tố của các
quá trình sư phạm. Mỗi chức năng cụ thể của giáo dục là sự kết hợp giữa một
chức năng cơ bản của quản lý với một thành tố của hệ thống giáo dục ( nhà
trường).
Chất lượng của công tác dạy học - giáo dục ỏ nhà trường không chỉ phụ
thuộc vào công tác của mỗi giáo viên mà còn phụ thuộc trực tiếp vào mức độ
quản lý của hiệu trưởng trường học. Do đó, một trong những giải pháp nâng
cao chất lượng giáo dục là phải nâng cao chất lượng quản lý việc giảng dạy của
giáo viên. Chiến lược giáo dục Việt Nam đến 2010 đã coi giải pháp nâng cao
chất lượng quản lý giáo dục là "giải pháp đột phá "
2.6.Nội dung quản lý hoạt động giảng dạy tin học ở các khoa không
chuyên trường cao đẳng.
Nội dung công tác quản lý dạy học tin học ở các khoa không chuyên
trường cao đẳng nằm trong qui định quản lý chung của nhà nước đối với hệ
thống giáo dục quốc dân: quản lý mục tiêu, quản lý nội dung chương trình, qui
trình dạy học, kế hoạch dạy học, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, và các
qui chế khác ...
2.6.1.Quản lý mục tiêu giáo dục :
Quản lý mục tiêu giáo dục, theo tinh thần Nghị quyết TW 2- khoa VUI đã
nêu rõ : Nhà trường phải thực hiện ba mục tiêu : nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài trên cơ sở mẫu số chung là nhân cách, phải tạo ra
nguồn nhân lực có trình độ, có tay nghề, biết sử dụng và áp dụng thành thạo
khoa học kỹ thuật, công nghệ cho sự nghiệp công nghiệp hoa - hiện đại hoa đất
nước. Như vậy, quản lý mục tiêu giáo dục chính là quản lý việc đào tạo ra con
người phát triển toàn diện, có đầy đủ phẩm chất và năng lực, làm chủ tri thức,
khoa học - công nghệ hiện đại, giàu lòng yêu nước, kế thừa sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Đối với bộ môn tin học, quản lý mục tiêu giáo dục là trang bị cho sinh
viên kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin (CNTT), tin học, hình thành cho
các em kỹ năng, kỹ xảo thực hành máy tính để các em có thể ứng dụng kiến
thức tin học vào môi trường thực tế học tập, giảng dạy và công tác, trên cơ sở
đó hình thành nhân cách cho sinh viên. Nhằm tạo ra đội ngũ lao động mới vừa
có kiến thức vừa có kỹ năng, biết sử dụng thành thạo khoa học- công nghệ
thông tin, tiếp cận với kỹ thuật hiện đại, đáp ứng được nhu cầu của xã hội và
bản thân trong tương lai. Vì vậy, quản lý mục tiêu của bộ môn tin học ở các
khoa không chuyên chính là đánh giá đầu ra của sinh viên, tức là xem xét sản
phẩm đào tạo đạt tới trình độ, chất lượng đến mức độ nào. Đánh giá phải dựa
trên các mặt cụ thể về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, khả năng ứng dụng và kể cả
thái độ học tập.
+ Kiến thức: phải cung cấp cho sinh viên nắm vững các lý thuyết tin học
cơ bản: khái niệm, hệ thống máy tính, mạng, internet, khả năng ứng dụng các
phần mềm của tin học, soạn thảo và tính toán.
+ Kỹ năng, kỹ xảo : giúp sinh viên nắm vững và thành thạo các chức
năng, các thao tác máy tính nhanh, chính xác, cách truy cập dữ liệu máy tính
trên mạng và internet, qua đó sinh viên có thể tháo lắp và sửa chữa một số bộ
phận đơn giản của máy tính.
+ Khả năng ứng dụng : Giúp sinh viên có thể tự soạn thảo nội dung, phần
mềm học tập, thống kê, tính toán các bài toán đơn giản ương lĩnh vực quản lý,
biết lưu giữ, sao chép dữ liệu phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu khoa học;
qua đó, cũng biết thêm các từ ngữ tiếng Anh thông thường.
+ Thái độ : qua môn học có nhiều điều mới mẻ, tiếp cận công nghệ hiện
đại, với nhiều thao tác, tạo cho sinh viên niềm say mê học hỏi, kích thích tư
duy khám phá, sáng tạo trong học tập, từ đó, giúp các em có niềm tin yêu đối
với khoa học công nghệ và hứng thú trong việc nghiên cứu, xác định động cơ
tinh thần, thái độ học tập chững chạc và nghiêm túc.
2.6.2.Quản lý nội dung chương trình dạy học :
Đây chính là cốt lõi của hoạt động dạy và học, chính nội dung sẽ thể chế
hoa cho chương trình học và phương pháp học. Quản lý nội dung hoạt động
dạy học tin học ở các khoa không chuyên phải sâu sát với qui chế do Bộ giáo
dục đề ra, đồng thời nội dung phải được cụ thể hoa, vừa cơ bản, vừa hiện đại,
vừa thiết thực với thực tiễn kinh tế xã hội và sự phát triển của khoa học-công
nghệ.
Chương trình dạy học bộ môn tin học ở các khoa không chuyên là sự
phân bổ số lượng nội dung kiến thức cho từng cấp học, bậc học, ngành học,
được bố trí phù hợp với mục tiêu đào tạo, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi
người học. Mỗi chương trình dạy học được thể hiện qua nội dung kiến thức,
phương pháp truyền thụ, phương tiện thiết bị, tài liệu dạy học cụ thể.
Để quản lý tốt nội dung chương trình môn tin học ở các khoa không
chuyên đòi hỏi giáo viên, cán bộ quản lý phải luôn theo dõi sâu sát việc thực
hiện nội dung chương trình dạy học của giáo viên bộ môn, nghiêm cấm việc cắt
xén chương trình cho những hoạt động khác, cán bộ quản lý phải nắm tình hình
phản ánh của giáo viên về việc thực hiện chương trình qua các cuộc họp
chuyên môn theo định kỳ để có kế hoạch cải tiến, bổ sung kịp thời, tránh sự tụt
hậu về kiến thức, lạc hậu về nội dung chương trình và kỹ thuật máy tính trong
sự phát triển của thời đại.
2.6.3.Quản lý việc giảng dạy của thầy và việc học của trò :
Đây là hoạt động chính của quá trình dạy học. Quá trình đào tạo có thành
công hay không chính là do hoạt động chủ đạo của người thầy và tính chủ động
của người học. Sự tương tác của hoạt động này, nhằm tạo mọi điều kiện tốt
nhất để người học nắm vững tri thức, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo, phát huy
hết mọi tiềm năng, thông minh sáng tạo để nhận thức và giải quyết các vấn đề
được đặt ra. Tuy hai hoạt động này có mối quan hệ tương tác nhau, hỗ trợ lẫn
nhau để đạt được mục tiêu giáo dục. Song, không thể đánh giá hoặc có cái nhìn
về mặt quản lý giống nhau.
- Quản lý hoạt động giảng dạy của người thầy giáo :
+ Quản lý hoạt động của người thầy thông qua việc thực hiện qui chế
chuyên môn, kế hoạch giảng dạy và việc thực hiện chương trình dạy học. Đây
là nhiệm vụ tiên quyết của một giảng viên, bởi vì kế hoạch đào tạo của nhà
trường có khả thi hay không chính phụ thuộc vào việc thực hiện kế hoạch của
từng giáo viên. Điều này mang tính chất bắt buộc và mang tính chất pháp lệnh
của nhà nước. Và như vậy trong quá trình dạy học, giáo viên phải tuân thủ
đúng theo kế hoạch đã đề ra, không được tự tiện thay đổi, cắt xén hoặc thêm
bớt nội dung chương trình khi chưa có cơ sở khoa học, chưa được sự đồng ý
của thủ trưởng hay hội đồng chuyên môn.
Việc nắm vững nội dung kế hoạch, chương trình dạy học của giáo viên là
một trong những tiền đề cho việc quản lý tốt hoạt động dạy và học. Do đó, để
thực hiện tốt công tác quản lý này, hiệu trưởng, cán bộ quản lý đơn vị đào tạo
cũng phải đề ra kế hoạch và các yêu cầu đối với người giáo viên về các mặt
sau:
- Lập kế hoạch giảng dạy môn học thông qua cán bộ quản lý
- Các phân bổ thời gian theo qui chế chuyên môn do Bộ qui định
- Các phương pháp, phương tiện hỗ trợ cho giảng dạy
- Các loại hồ sơ sổ sách liên quan đến hoạt động chuyên môn của giáo
viên.
- Quản lý việc chuẩn bị bài giảng của giáo viên.
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá của thầy đối với học sinh. Hiệu trưởng
hay cán bộ quản lý đào tạo phải có kế hoạch theo dõi, kiểm tra việc thực hiện
qui chế chuyên môn của giáo viên để ngăn chặn và kịp thời nhắc nhở những sai
phạm của giáo viên trong việc thực hiện qui chế chuyên môn do Bộ đề ra. Bên
cạnh đó, hiệu trưởng hay cán bộ quản lý cần nắm tình hình thực hiện kiểm tra,
đánh giá của giáo viên đối với học sinh, xem xét việc chấm, trả bài, cho điểm
theo qui định của Bộ giáo dục và đào tạo. Quản lý hoạt động học tập của học
sinh.
Môi trường hoạt động của học sinh bao gồm: nhà trường, gia đình và xã
hội. Để quản lý tốt việc học của học sinh, người quản lý cần phải phối hợp với
các lực lượng xã hội và gia đình, trong đó chú ý đến vai trò của chủ nhiệm lớp
và tập thê, đoàn thể; nắm bắt tâm sinh lý, tình cảm của học sinh thông qua giáo
viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm lớp, xây dựng tinh thần thái độ, động cơ, nề
nếp học tập đúng đắn cho học sinh.
Quản lý việc dạy và học tin học ở các khoa không chuyên trường cao
đẳng phải tuân thủ theo qui chế quản lý chung của hoạt động dạy học. Song, do
tính đặc thù của bộ môn, dạy lý thuyết, dạy thực hành, dạy kỹ năng kỹ xảo kết
hợp công nghệ máy tính, quá trình dạy và học tương đối phức tạp hơn các bộ
môn khác, đòi hỏi phải có sự đầu tư và sự hợp tác giữa dạy, học với môi trường
một cách hợp lý thì công đoạn dạy học mới thành công tốt.
Do đó, để đánh giá kết quả dạy học bộ môn, người quản lý phải theo dõi
sâu sát quy trình dạy của giáo viên và học của sinh viên, không thể đánh giá ở
một mặt riêng biệt nào đó để qui kết cho một kết quả của quy trình dạy học tin
học.
2.6.4.Quản lý trình độ đội ngũ giáo viên
Chất lượng giáo dục của nhà trường có hiệu quả hay không là phụ thuộc
vào phần lớn khả năng và tiềm lực của đội ngũ giáo viên. Nhà trường cao đẳng
sư phạm có đặc điểm riêng biệt, khác với trường phổ thông trong nhiệm vụ dạy
học ở chỗ, không chỉ đơn thuần dạy kiến thức học sinh, mà còn đào tạo nghề
cho sinh viên, đào tạo ra đội ngũ cán bộ khoa học cho xã hội. Do đó, người
giảng viên sư phạm phải đạt chuẩn về trình độ chuyên môn. Năng lực chuyên
môn của đội ngũ giáo viên là một trong những nhân tố quan trọng quyết định
chất lượng đào tạo của nhà trường sư phạm. Bởi vì, thông qua giảng dạy của
giảng viên sẽ là hình ảnh gây ấn tượng sâu sắc cho nghề nghiệp tương lai của
các em. Muốn tạo nên hình tượng tốt đối với học sinh, nhà giáo phải không
ngừng rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất nghề nghiệp.
Để thực hiện tốt việc quản lý đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên tin
học nói riêng, lãnh đạo nhà trường phải luôn quan tâm sâu sát trình độ năng lực
giáo viên bộ môn, có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên
tin học. Cho đi học những cán bộ chưa đạt chuẩn, kịp thời nâng cao trình độ
sau đại học, thạc sĩ, tiến sĩ cho các cán bộ giảng dạy, tạo điều kiện tối đa cho
giáo viên bộ môn tin học trong việc học tập nâng cao nghiệp vụ, tiếp cận các
chuyên đề tin học trong các hội thảo tin học do Bộ giáo dục - đào tạo tổ chức.
Để có được đội ngũ chuẩn mực như trên, nhà quản lý giáo dục (hiệu trưởng )
phải thường xuyên quan tâm đến công tác tổ chức và hoạch định đội ngũ cán
bộ giảng dạy.
- Một số điểm cần lưu ý trong việc bố trí, bồi dưỡng, chăm sóc đội ngũ.
- Phân công đúng người đúng việc, đúng vị thế, đúng trình độ, phải công
bằng và hợp lý trong phân công, tránh thiên vị cá nhân.
- Tuyển dụng nhân tài có học vị cao, cần chọn lọc và bồi dưỡng sinh viên
giỏi trở thành cán bộ giảng dạy cho trường.
- Chăm lo đời sống vật chất đối với giáo viên, khuyên khích cho đi học
nâng cao và bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên.
- Có biện pháp và chính sách để kích thích sự phấn đấu vươn lên của đội
ngũ giáo viên.
2.6.5.Quản lý cơ sở vật chất:
Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ là một trong những yếu tố
quan trọng góp phần quyết định của công tác dạy và học của nhà trường nói
chung. Có các nhóm chính như sau:
+ Cơ sở vật chất : chính là mô hình trường lớp, phòng học, phòng họp,
hội trường, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, nhà đa năng, sân chơi, bàn
ghế. + Phương tiện kỹ thuật và thiết bị giáo dục ĩ gồm tất cả các đồ dùng phục
vụ cho giảng dạy và học tập, máy vi tính, máy chiếu đa năng, ti vi, máy quét
ảnh, đèn chiếu phim trong, video, hệ thống multimedia, tư liệu, sách báo, vv...
Cơ sở vật chất la bộ mặt quan trọng của nhà trường sư phạm. Nhà quản lý
phải lập kế hoạch xây dựng cơ sở mình quản lý, phù hợp với mục tiêu đào tạo
của nhà trường, mục tiêu của ngành giáo dục và mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương, cần phải xác định mục tiêu trước mắt, mục tiêu lâu dài,
đồng thời phải có kế hoạch kiểm tra việc sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất,
thiết bị kỹ thuật theo định kỳ để kịp thời bổ sung, cập nhật hoa theo tiêu chuẩn
hiện đại, qua đó cũng kiểm tra, đánh giá việc sử dụng của giáo viên, tránh
khuynh hướng có thiết bị dạy học nhưng giáo viên vẫn không đưa vào dạy học.
- Cơ sở vật chất phục vụ dạy học tin học cần chú ý một số chuẩn trong
các lĩnh vực sau:
- Cơ cấu xếp lớp không quá đông, phòng học, bàn ghế, thiết bị phải đúng
chuẩn.
- Phòng máy thực hành phải thông thoáng, trang bị đủ số lượng máy điều
hoa nhiệt độ theo tiêu chuẩn số người/ số máy, bố trí số lượng sinh viên phải
hợp lý, bảo đảm sức khoe cho sinh viên trong học tập.
- Máy vi tính, máy in phải đủ về số lượng, hiện đại về chất lượng, phải
luôn luôn cập nhật kịp thời phần mềm học tập cho sinh viên.
Bên cạnh đó, hệ thống chiếu sáng, đèn chiếu, âm li, loa, hệ thống
Multimedia là những phương tiện không thể thiếu cho một phòng máy vi tính.
Quản lý cơ sở vật chất đối với môn tin học là nhiệm vụ thiết yếu của nhà
trường cao đẳng sư phạm để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tin học.
Vì vậy, nhà quản lý phải có kế hoạch định kỳ cho việc chỉnh trang cơ sở vật
chất, phương tiện phục vụ dạy học, đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập của sinh
viên và thích ứng với sự phát triển của xã hội.
2.6.6.Quản lý việc thực hiện các phương pháp dạy học.
Phương pháp dạy học là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công
của quá trình dạy học. Là quá trình mà trong đó giáo viên là người tổ chức hoạt
động học tập của sinh viên, hướng dẫn người học tham gia một cách tích cực,
có hiệu quả trong quá trình học tập.
Một số phương pháp thường sử dụng trong dạy học tin học ở cao đẳng.:
- Phương pháp giảng giải
- Phương pháp giảng dạy kết hợp với đèn chiếu
- Phương pháp giảng giải qua phần mềm Povverpoint
- Phương pháp giảng dạy kết hợp máy vi tính
- Phương pháp giảng giải trước và thực hành sau
Việc sử dụng phương pháp dạy học cũng tuy thuộc vào nội dung mà giáo
viên sử dụng phương pháp riêng biệt, chứ không nhất thiết phải luôn bó buộc
vào một phương pháp nào đó.
Để dạy tốt môn tin học ở các khoa không chuyên, trước tiên người giáo
viên phải là người có trình độ chuyên môn, có nghiệp vụ SƯ phạm vững vàng,
biết kết hợp hài hoa các phương pháp với các phương tiện dạy học cho từng bài
học cụ thể, tạo mọi điều kiện để kích thích tư duy và gây được hứng thú cho
học sinh. Để thực hiện tốt phương pháp dạy học, tổ bộ môn tin học phải thường
xuyên tổ chức hội thảo các chuyên đề tin học, trao đổi những sáng kiến, kinh
nghiệm trong giảng dạy bộ môn, thao giảng, dự giờ để học hỏi, rút kinh nghiệm
về phương pháp giảng dạy.
6.7.Quản lý kết quả học tập của sinh viên
- Kết quả học tập của sinh viên được thông qua điểm số được biểu hiện
qua các hình thức kiểm tra theo qui chế chuyên môn.
- Đối với bộ môn tin học, hình thức kiểm tra bao gồm cả kiểm tra lý
thuyết và kiểm tra thực hành trên máy vi tính. Qua các kỳ kiểm tra, thi hết học
phần, giáo viên nắm bắt được kết quả học tập của từng sinh viên, qua đó, giáo
viên giảng dạy cũng rút ra được những ưu, khuyết điểm của mình trong việc tổ
chức dạy học, sử dụng các phương pháp giảng dạy, việc hình thành kỹ năng, kỹ
xảo máy tính cho sinh viên.
- Giáo viên cần kết hợp các hình thức kiểm tra để đánh giá đúng thực chất
kết quả học tập của sinh viên, khả năng sự sáng tạo, các năng khiếu của sinh
viên. Chính điều này, giúp cho sinh viên phát huy tính tích cực của cá nhân,
biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo để hoàn thành chu trình lĩnh
hội tri thức đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội đặt ra.
- Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập tin học của sinh viên đòi hỏi
phải thật khách quan, chính xác, tránh trường hợp mang tính đối phó hoặc
chiếu lệ, cần khuyên khích sự nỗ lực, sự sáng tạo của sinh viên.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.Thực trạng công tác quản lý giảng dạy tin học ở các khoa không
chuyên trường cao đẳng sư phạm Bình Dương.
3.1.1.Thực trạng việc quản lý nội dung chương trình
Trường CĐSP - BD đã đưa tin học vào giảng dạy từ năm 1995-1996 theo
chương trình của Bộ giáo dục. Thời điểm này chưa có tin học chuyên ngành, bộ
môn tin học chỉ lồng ghép vào ngành khoa học Toán - tin với thời lượng cụ thể
theo chương trình của Bộ giáo dục - đào tạo qui định. Ngoài việc giảng dạy tin
học cho ngành toán - tin, thì tin học còn được đưa vào giảng dạy cho hầu hết
các khoa không chuyên khác: khoa ngoại ngữ, khoa tiểu học- mầm non, khoa
tự nhiên, khoa xã hội, khoa tâm lý, thể dục-nhạc - hoa.
Đánh giá về nội dung, chương trình bộ môn tin học đang thực hiện giảng
dạy cho sinh viên ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng Sư Phạm
Bình Dương, chúng tôi lấy ý kiến của 9 giảng viên trong tổ bộ môn và tham
khảo ý kiến khác của lãnh đạo, phòng đào tạo và các chủ nhiệm về tính phù
hợp của nội dung, chương trình so với nhu cầu thực tế qua các mức độ lựa chọn
trong bảng sau:
Theo bảng số liệu trên, không có ý kiến nhận xét nội dung, chương trình
môn học là rất phù hợp, nhận xét ở mức độ khá phù hợp có 22.22% ý kiến, ở
mức độ chưa phù hợp lắm có đến 66.67% ý kiến, và ở mức độ hoàn toàn không
phù hợp có 11.11% ý kiến. Qua tham khảo ý kiến của lãnh đạo, các chủ nhiệm
khoa cũng cho rằng nội dung, chương trình chưa phù hợp lắm.Với thông số M=
2.1, cho thấy nội dung, chương trình chưa phù hợp với thực tế là có cơ sở.
Để đánh giá nội dung, chương trình học một cách khách quan, chúng tôi
cũng tiến hành khảo sát ý kiến của 746 sinh viên ở các khoa không chuyên năm
học 2002 -2003 và năm học 2003-2004 về tính phù hợp của nội dung, chương
trình với nhu cầu thực tế của sinh viên, ở bốn mức độ có trong bảng sau:
Theo ý kiến nhận của 746 sinh viên, thì mức độ rất phù hợp của nội dung,
chương trình bộ môn chiếm tỉ lệ rất thấp, chỉ có 9.12%, ý kiến cho rằng khá
phù hợp chỉ có 19.17%, nhưng có đến 45.17% ý kiến cho rằng chưa phù hợp
lắm và có 26.54% ý kiến nhận xét về nội dung, chương trình như thế hoàn toàn
không phù hợp với thực tế. Qua kiểm nghiệm M= 2.1, cho thấy, đa số sinh viên
đều nhận xét nội dung, chương trình như hiện nay là chưa phù hợp với nhu cầu
thực tế của họ.
- Từ cơ sở nhận xét của giáo viên và sinh viên như trên, trong thực tế dạy
học bộ môn cũng cho thấy những bất cập của nội dung, chương trình như sau:
- Đối với những khoa không chuyên như ngành nhạc, hoa và văn học
tiếng Việt, thể dục, học tin học theo Chương trình Nhập môn tin học với thời
lượng 3 đơn vị học trình (45 tiết), các khoa còn lại khác chỉ học Chương trình
Tin học cơ sở với thời lượng 2 đơn vị học trình (30 tiết).
- Nội dung, chương trình tin học giảng dạy cho đối tượng không chuyên
hiện nay chưa được cập nhật kịp thời so với tốc độ phát triển mạnh mẽ của
công nghệ thông tin. Sự lạc hậu hoa của chương trình đã dẫn đến những khó
khăn cho công tác dạy học, vì phải dạy theo chương trình cũ nên chưa thể tạo
hứng thú và chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của người học.
- Bên cạnh đó, trong chương trình đào tạo sinh viên các lớp không chuyên
ngành toán - tin, nhằm đào tạo ra giáo viên trung học cơ sở có thể dạy toán lẫn
tin học nhưng trong chương trình tin học không có số tiết dạy phương pháp
giảng dạy cho sinh viên. Điều này cũng gây khó khăn cho sinh viên khi đi thực
tập sư phạm ở phổ thông trung học cơ sở. Lãnh đạo nhà trường cũng quan tâm
đến vấn đề này và đà chỉ đạo cho tổ bộ môn chúng tôi phải kịp thời hướng dẫn
cho sinh viên ngành toán - tin phương pháp soạn bài, phương pháp tiến hành
giảng dạy tin học để giúp các em trong quá trình thực tập ở trung học cơ sỏ.
Việc làm này cũng đem lại một số kết quả nhất định nhưng chỉ mang tính chất
" chữa cháy" và tạm thời cho từng đợt thực tập.
- Đánh giá thực tập của sinh viên ở trung học cơ sở, tổ tin học chúng tôi
cũng ghi nhận nhiều ý kiến phản ánh từ trường phổ thông trung học và của sinh
về quá trình thực tập của các em như sau:
+ Nội dung, chương trình giảng dạy tin học ở trường sư phạm chưa liên
thông với nội dung giảng dạy tin học ỏ trung học cơ sở. Cụ thể, khi sinh viên
Cao đẳng nhận chương trình thực tập bộ môn ở trung học cơ sở, đa số các em
không tự soạn được giáo án để giảng dạy, không nắm được kiến thức chuẩn cần
truyền thụ cho học sinh, đặc biệt là việc sử dụng phương pháp giảng dạy,
phương tiện dạy học còn nhiều vụng về, ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thực
tập.
+ Sinh viên còn nhiều lúng túng, thiếu tự tin trong việc điều khiển máy
tính và hướng dẫn thực hành máy tính cho học sinh ở trung học cơ sở, thường
không làm chủ được sự phân bổ kiến thức và thời gian cho tiết dạy nên đa số
các em hay vướng vào lỗi dạy hết nội dung trước giờ qui định hoặc "cháy" giáo
án.
+ Trong quá trình thực tập, đa số các em sinh viên không soạn giáo án
bằng vi tính, mà viết bằng tay, việc làm này nói lên hiện trạng sử dụng kiến
thức tin học phục vụ công tác chuyên môn của các em còn yếu, chưa đáp ứng
được trước nhu cầu thực tế.
- Nội dung chương trình có ảnh hưởng đến việc phân bổ cho thời lượng
môn học. Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát ý kiến của giảng viên, và tham
khảo ý kiến của một số cán bộ quản lý, lãnh đạo phòng, khoa về thời lượng qua
bảng sau:
Theo bảng số liệu trên, chỉ có 2 ý kiến cho rằng thời lượng như vậy là đủ
với tỉ lệ 22.22%, có đến 55.56% ý kiến cho là thời lượng tương đối ít, và ý kiến
thời lượng quá ít có 22.22%, và qua tham khảo ý kiến của một số lãnh đạo,
phòng đào tạo, các chủ nhiệm khoa khác cũng cho rằng thời lượng cho môn tin
học như vậy là tương đối ít. Với M= 2.0, ta có thể rút ra nhận xét chung nhát về
thời lượng bộ môn tương đối ít, chưa đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên.
Có thể nêu cụ thể một số hạn chế về thời lượng môn học như sau:
- Trong phần tin học ứng dụng bao gồm hai phần: phần mềm soạn thảo
văn bản Word và bảng tính Excel nhưng thời lượng chỉ có 21 tiết (Word chỉ lo
tiết gồm cả lý thuyết và thực hành; phần mềm tính toán qua bảng tính điện tử
Excel cũng chỉ (11 tiết cho cả lý thuyết và thực hành ). Nếu tách ra lý thuyết và
thực hành của hai phần này, thì sinh viên thực hành trên máy tính chỉ có 5 tiết
cho mỗi phần (word, Excel). Đối với môn tin học, ngoài việc học lý thuyết thì
thực hành trên máy tính là khâu quan trọng quyết định kết quả học tập và khả
năng ứng dụng của sinh viên. Môn học đòi hỏi nhiều ở khả năng tư duy, tìm
tòi, tính sáng tạo của người học, tuy nhiên, người học cũng rất mau quên nếu
như không rèn luyện thường xuyên trên máy tính các kỹ năng,và các thao tác.
Với thời lượng như trên thật khó đáp ứng cho sinh viên về mặt kiến thức,
kỹ năng máy tính, khả năng ứng dụng tin học vào thực tế của bộ môn. Chính vì
vậy, việc tìm ra giải pháp cải tiến nội dung, chương trình, tăng thêm thời lượng
môn học cho phù hợp với nhu cầu thực tế của sinh viên, nâng cao hiệu quả đào
tạo là việc làm quan trọng và cấp bách rất cần lời giải đáp của nhà quản lý
chuyên môn
3.1.2.Thực trạng việc quản lý mục tiêu.
Mục tiêu giáo dục là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đào tạo ở các cấp
học, bậc học, ngành học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Mỗi bậc học, cấp
học, ngành học đều có mục tiêu cụ thể riêng, Trong thời đại ngày nay, mục tiêu
giáo dục không chỉ nhằm đào tạo ra đội ngũ nguồn nhân lực có tri thức, có
nhân cách mà còn đào tạo một cách toàn diện cho con người, trong đó, có yếu
tố quan trọng là biết áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, đặc biệt là biết
sử dụng thành thạo công nghệ thông tin. Nhiều nghị quyết của Đảng, chỉ thị
của ngành Giáo dục - Đào tạo đã nêu rất rõ về vấn đề này. Ngành giáo dục phải
nhanh chống đổi mới trong toàn bộ lĩnh vực hoạt động dạy và học theo hướng
hiện đại của khoa học công nghệ. Xây dựng hệ thống mạng thông tin trong
ngành giáo dục, trong hệ thống giáo dục, từ cấp lãnh đạo đến cấp cơ sở, từ hệ
thống mẫu giáo đến đại học. Trường học phải là nơi có nhiệm vụ đào tạo ra
những công dân có trình độ, có năng lực sáng tạo, biết áp dụng và sử dụng
thành thạo thành tựu khoa học và công nghệ tin học, tạo ra nguồn lực khoa học
- công nghệ cho ngành và cho đất nước. Nhà giáo dục không chỉ truyền đạt tri
thức, mà chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin
một cách hệ thống, tạo điều kiện tối đa cho việc sử dụng công nghệ thông tin
trong giảng dạy và trong học tập.
Việc quản lý mục tiêu giáo dục tin học ở các khoa không chuyên nằm
trong mục tiêu chung của Bộ giáo dục và đào tạo. Chúng tôi đã tiến hành khảo
sát ý kiến của 9 giáo viên trong tổ bộ môn về tính phù hợp của nội dung
chương trình giảng dạy bộ môn tin học so với mục tiêu đào tạo do Bộ GD-ĐT
đề ra, với các mức độ có trong bảng 4:
Từ số liệu ở bảng 4, không có ý kiến nào cho rằng nội dung, chương trình
rất phù hợp với mục tiêu đào tạo, ý kiến khá phù hợp có 11.11%, có đến
88.89% ý kiến cho rằng chưa phù hợp lắm, không có ý kiến nào ở mức độ
không phù hợp. Với M= 2.1, cho thấy, nội dung, chương trình chưa phù hợp
lắm so với mục tiêu đào tạo là có cơ sở.
Qua thực tiễn giảng dạy cho thấy, căn cứ vào mục tiêu do Bộ đề ra ( ở
mục 2.1- Chương 1), thì chương trình tin học cho đối tượng ở các khoa không
chuyên vẫn còn mang tính chất tạm thời, chưa có chương trình cụ thể, chưa có
giáo trình chuẩn, thấy rõ sự bất hợp lý của nội dung, chương trình trong những
năm qua, song, chưa có cơ sở để cải tiến. Đến thời điểm khi tin học đã phát
triển mạnh mẽ và rộng khắp, thì Tổ bộ môn chúng tôi đã mạnh dạn đề xuất về
việc biên soạn giáo trình tin học, nhằm thực hiện cải tiến nội dung, chương
trình cho đối tượng không chuyên. Tuy được lãnh đạo trường thông qua nhưng
vẫn dựa trên cơ sở của chương trình cũ, không tăng nội dung kiến thức. Ví dụ,
Phần 1- chương 1: Thông tin và xử lý thông tín (lý thuyết 2 tiết); chương 2:
Những nguyên lý cơ bản và cấu trúc tổng quát của hệ xử lý thông tin tự động (
3 tiết lý thuyết );chương 3: Biểu diễn thông tin trong máy tính ( 4 tiết). Phần 2-
Chương 4 : Hệ điều hành ( 9 tiết); Chương 5: Các phần mềm hỗ trợ ( 6 tiết );
Chương 6 : Phẫn mềm soạn thảo văn bản Word ( 10 tiết ); Chương 7 : Phần
mềm xử lý bảng tính Excel ( 11 tiết). Kiến thức cần thiết để phục vụ học tập
cho sinh viên ở các lớp không chuyên tập trung chủ yếu ở chương 6 và chương
7, ở phần tin học ứng dụng. Nhưng thời lượng dành cho nội dung của 2 phần
này quá ít, nhất là thời lượng thực hành trên máy tính. Bản thân của nội dung,
chương trình chưa phù hợp với mục tiêu đào tạo, cùng sự bất hợp lý của thời
lượng môn học, chắc chắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu ứng của người học.
Để nhận xét tính hiệu quả của nội dung, chương trình môn tin học trong
việc thực hiện mục tiêu môn học, chúng tôi tiến hành khảo sát 746 ý kiến của
sinh viên ở các khoa không chuyên về khả năng ứng dụng tin học của họ.
- Qua bảng khảo sát ý kiến tự đánh giá của sinh viên về khả năng ứng
dụng tin học, cho thấy, mức độ sinh viên đạt loại khá và loại tốt rất ít, chỉ có
1.61% tự đánh giá tốt, tự đánh giá đạt loại khá có 4.69%, trong khi đó mức độ
đạt loại trung bình chiếm tỉ lệ đến 48.93%, và mức độ yếu kém cũng còn khá
cao đến 44.77%. Kiểm nghiệm M= 1.6, khẳng định tự đánh giá khả năng ứng
dụng tin học của đa số sinh viên ở mức trung bình và yếu là hoàn toàn trung
thực. Với chương trình như vậy, chưa đem lại hiệu quả cao cho người học, và
chưa thể đáp ứng yêu cầu của mục tiêu đề ra.
Ngày nay, kiến thức tin học không chỉ phổ biến trong môi trường sư
phạm, mà được phổ biến cho rộng rãi cho mọi người trong xã hội (phổ cập tin
học), số lượng người sử dụng tin học, học tập qua mạng máy tính đã tăng lên
đáng kể. Một vấn đề được đặt ra cho công tác quản lý việc giảng dạy tin học là
làm thế nào để việc học tin học của sinh viên ở các khoa không chuyên không
bị tụt hậu so với mặt bằng xã hội. Đây là vấn đề thực tế, mang tính cáp thiết,
đòi hỏi cán bộ quản lý giảng dạy tin học có trách nhiệm trong việc trang bị, bổ
sung nội dung, cập nhật kiến thức cho học sinh. Có thể nêu ra một số kiến thức
cơ bản và cần thiết nhưng chưa có trong chương trình tin học của các đối tượng
không chuyên như sau:
Kiến thức mạng internet, phần mềm Powerpoint, thư điện tử email, chát
và một số ứng dụng khác, chưa có trong nội dung giảng dạy cho sinh viên. Đây
là một thiếu sót khá lớn, vì không biết internet sinh viên không thể ưa cứu
thông tin trên mạng, mà thông tin trên mạng hiện nay rất đa dạng, phong phú ở
tất cả các lĩnh vực, phục vụ rất tốt cho học tập và nghiên cứu khoa học.
Phần mềm Powerpoint rất cần thiết, và có lợi cho giáo sinh sư phạm sau
khi tốt nghiệp ra trường. Các em có thể soạn bài và giảng bài qua Powerpoint,
giúp hạn chế các thao tác ghi chép bảng, và có nhiều thời gian để đầu tư vào
nội dung bài giảng. Đây là một trong những phương pháp dạy học kết hợp với
công nghệ máy tính được ngành giáo dục quan tâm,và khuyến khích, nhằm góp
phần đổi mới phương thức dạy học theo giao tiếp hướng tích cực, phát huy
được tính chủ đạo của giảng viên và tính chủ động, sáng tạo của sinh viên trong
học tập.
Nhìn chung, nội dung, chương trình tin học giảng dạy cho các đối tượng
không chuyên trường cao đẳng sư phạm chưa sát với thực tế của mục tiêu môn
học, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của sinh viên. Chính vì vậy, trong những
năm qua hiệu quả dạy học bộ môn chưa cao, kết quả học tập của sinh viên còn
thấp. Để đảm bảo có một nội dung, chương trình môn học có chất lượng và
đem lại hiệu quả cao cho người dạy và người học, chúng tôi thiết nghĩ cần phải
có một cải tiến mạnh mẽ nội dung, chương trình học với thời lượng hợp lý và
phù hợp với mục tiêu đào tạo là vấn đề rất cấp thiết cần được sớm thực hiện.
3.1.3.Thực trạng quản lý cơ sở vật chất phục vụ việc dạy học bộ
môn
Để nắm rõ thực trạng của cơ sở vật chất phục vụ dạy học tin học, chúng
tôi đã tiến hành thăm dò ý kiến của 9 giáo viên trong tổ bộ môn qua bảng sau:
-Về phòng máy thực hành vi tính: Không có ý kiến nào ở cả hai mức độ
tốt và chưa tốt, ở mức độ khá tốt có 22.222% ý kiến, phần lớn ý kiến đánh giá
tập trung ở mức độ tương đối với tỉ lệ 66.67%. Với M= 2.1, cho thấy tình trạng
của phòng thực hành chỉ ở mức tương đối chứ chưa tốt.
-Ý kiến nhận xét về tình trạng máy vi tính: không có ý kiến nào đánh giá
tốt, có 22.22% ý kiến nhận xét ở mức khá tốt, và có đến 66.67% ý kiến ở mức
độ tương đối, và mức độ nhận xét chưa tốt cũng còn 22.22% ý kiến. Với M=
2.0, phản ánh tình trạng chất lượng máy tính hiện nay chỉ đạt ở mức độ tương
đối.
-Ý kiến nhận xét về thiết bị phục vụ: Có 33.33% ý kiến nhận xét tốt,
44.45% ý kiến nhận xét khá tốt và 22.22% ý kiến đánh giá ở mức tương đối,
không có ý kiến nào nhận xét chưa tốt. M= 3.1, thể hiện ý kiến đánh giá của đa
số giáo viên về thiết bị đang ở mức độ khá tốt.
Cơ sở vật chất phục vụ dạy học tin học là một yếu tố có ảnh hưởng và tác
động trực tiếp đến việc học của sinh viên. Do đó, chúng tôi cũng khảo sát ý
kiến của 376 sinh viên năm học 2003-2004 về các vấn đề trên.
-Nhận xét về tình trạng máy vi tính: không có ý kiến nào đánh giá tốt, ở
mức độ đánh giá khá tốt chỉ có 12.23%, và mức độ đánh giá tương đối tốt có
38.03% ý kiến, nhưng ở mức độ đánh giá chưa tốt có đến 49.73% ý kiến. M=
1.6, tức mức độ đánh giá của đa số sinh viên tập trung ở mức chưa tốt lắm là
hợp lý. -Về thiết bị phục vụ dạy học, với M= 2.0 cho thấy, ý kiến đánh giá của
sinh viên cho rằng các thiết bị phục vụ chỉ ở mức tương đối chứ chưa tốt lắm.
- Để có nhận xét chung cả hai ý kiến đánh giá của giáo viên và sinh viên
một cách chính xác, chúng tôi đưa ra bảng tổng hợp sau: ( bảng 8)
-Tổng hợp ý kiến về phòng học thực hành vi tính : ở mức độ đánh giá
tốt có 7.89% ý kiến, mức độ đánh giá khá có 28.61% ý kiến, đánh giá ở mức độ
tương đối tốt tập trung đến 39.95% ý kiến, và ý kiến đánh giá chưa tốt chiếm
31.555%. Căn cứ vào M= 2.0 , có thể khẳng định phòng máy thực hành hiện
nay chưa tốt lắm và chưa đạt chuẩn về các mặt phục vụ học tập cho sinh viên.
-Tổng hợp ý kiến của giáo viên và sinh viên về máy vi tính: Theo đánh
giá chung, thì không có ý kiến đánh giá máy vi tính đạt chất lượng tốt, đánh giá
ở mức độ khá chỉ có 12.21%, ở mức độ tương đối tốt có 38.17% ý kiến, và mức
độ chưa tốt có đến 49.62% ý kiến. Với M= 1.6, cho thấy, nhận xét của sinh
viên và giáo viên về hiện trạng máy vi tính chưa tốt, và đánh giá trên hoàn toàn
có cơ sở.
Máy vi tính là phương tiện chính để dạy học bộ môn tin học, hiệu quả dạy
học bộ môn có đạt cao hay không cũng phụ thuộc một phần lớn vào chất lượng
máy vi tính. Với hiện trạng máy tính như trên, thật khó đem lại hiệu suất cao
trong dạy học bộ môn.
-Tổng hợp các ý kiến nhận xét, đánh giá về thiết bị: Ở mức độ đánh
giá tốt có 10.18% ý kiến, mức độ khá có 16.03% ý kiến, mức độ tương đối tốt
có 42.49% ý kiến, và mức độ chưa tốt có 31.30% ý kiến. Với M=2.1, cho thấy
việc đánh giá các thiết bi ở mức tương đối tốt là chính xác.
Những nhận xét, đánh giá trên của giáo viên và sinh viên hoàn toàn có cơ
sở khách quan và phù hợp với những hiện trạng ở thực tế như sau: - Gần đây
nhà trường đã trang bị thêm một số thiết bị phục vụ dạy học như đầu máy
video, nhiều Tivi 29 inch, máy chiếu đa năng Projector, máy quét, máy fax,
máy chiếu phim trong, máy in...Tuy nhiên, mức độ sử dụng phương tiện còn rất
hạn chế bởi không đủ cung cấp so với số lượng giảng viên đông đảo và những
lý do khách quan ( quản lý, điều hành)
Hiện nay, nhà trường Cao đẳng có ba phòng máy thực hành vi tính với số
lượng 70 máy tính, gồm nhiều hệ và chủng loại khác nhau. Với nhiều loại hình
đào tạo có nội dung, chương trình tin học và sử dụng công nghệ máy vi tính
như : Các lớp đại học khoa học công nghệ thông tin do liên kết đào tạo với
trường Đại học khoa học tự nhiên; các lớp chứng chỉ A, chứng chỉ B tin học;
các lớp Cao đẳng sư phạm tin học; và các lớp tin học không chuyên cho hầu
hết các khoa trong nhà trường. Từ việc có nhiều loại hình đào tạo như trên, đòi
hỏi phải có nhiều chương trình thực hành khác nhau trên máy tính.
Với mức độ hoạt động thường xuyên của phòng máy vi tính làm cho chất
lượng của máy tính nhanh chóng xuống cấp. Trong số 70 máy tính, thực chất
chỉ sử dụng được khoảng 70%, việc hỏng phần cứng và lỗi phần mềm là điều
không thể tránh khỏi, chương trình bị mất, bị xoa nhằm bởi học viên, máy tính
thường bị trục trặc, như treo máy, hoặc vi rút làm hỏng v.v... Với hiện trạng
của máy tính như trên thật khó đáp ứng đủ nhu cầu thực hành cho mỗi sinh
viên/1 máy tính khi lịch thực hành trùng với lớp khác.
Công tác quản lý phòng máy thực hành tương đối phức tạp nhưng chưa
được tổ chức một cách khoa học và có kế hoạch cụ thể, nên còn xảy ra tình
trạng bị động giữa các lớp. Công tác vệ sinh phòng máy và máy tính, hệ thống
chiếu sáng chưa đảm bảo.
Máy điều hoa nhiệt độ chưa đáp ứng đúng theo qui chuẩn hiện đại sô"
người/số máy cho phòng thực hành, thường bị hư, chưa sửa chữa kịp thời, vì
vậy chưa thể phục vụ tốt nhu cầu sinh viên khi thực hành, nhất là đối với các
lớp quá đông.
Việc bố trí máy chưa đồng bộ. Cụ thể, phòng máy 1: 30 máy, phòng máy
2: 20 máy, phòng máy 3: 20 máy, toàn bộ máy cũ hay bị trục trặc khi thực
hành.
Cơ cấu lớp học không đồng đều, đa số các lớp trên 40 sinh viên, có lớp
quá đông như Cao đẳng Tiểu học chuyên tu 77 sinh viên, có lớp quá ít như lớp
hoa có 19 sinh viên, lớp nhạc 22 sinh viên. Từ cơ cấu lớp như vậy, dẫn đến khó
khăn cho việc bố trí máy thực hành, thường xảy ra trường hợp thiếu máy thực
hành đối với những lớp có số lượng sinh viên lớn, thừa máy trong một phòng
đối với số lượng sinh viên ít.
Ngoài ra, do một số yếu tố khách quan như, giờ thực hành của các lớp đại
học công nghệ thông tin bố trí vào ban ngày, làm bị động giờ thực hành của các
lớp hệ Cao đẳng. Thí dụ : Các lớp Cao đẳng tới lịch thực hành theo kế hoạch
của phân phối chương trình nhưng giáo viên phải dạy thay vào tiết lý thuyết để
nhường phòng thực hành cho hệ đại học.
Vấn đề cài đặt chương trình, sửa chữa máy hỏng, nâng cấp, vệ sinh rác
máy tính, quét virus, lên lịch thực hành, cập nhật v.v...là công việc thường
xuyên của cán bộ phòng máy. Nhưng hầu như chưa đáp ứng được các nhu cầu
trên một cách đầy đủ, vì cán bộ phòng máy quá ít chỉ có hai người, trong đó,
một cán bộ lại kiêm nhiệm nhiều công tác khác.
Qua phân tích thực trạng cùng với những số liệu chứng minh, cho thấy
chất lượng máy vi tính hiện nay đang xuống cấp trầm trọng, chưa đồng bộ về
số lượng, chất lượng, chủng loại, phần cứng và phần mềm cài đặt giữa các
phòng máy; phòng máy chưa theo qui chuẩn; cán bộ quản lý phòng máy tương
đối ít, chưa quán xuyến hết mọi việc, chính vì vậy, đã làm ảnh hưởng lớn đến
hiệu quả dạy học bộ môn và kết quả học tập của sinh viên. Để đem lại hiệu quả
cao trong công tác dạy học bộ môn tin học, nhất thiết phải có giải pháp cải tiến,
chỉnh trang cơ sở vật chất, bổ sung phương tiện phục vụ dạy học.
Từ cơ sở đánh giá trên, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát thăm dò ý kiến
của giáo viên, và phỏng vấn một số lãnh đạo phòng, chủ nhiệm khoa về việc bổ
sung trang thiết bị dạy học tin học qua câu hỏi: Theo ông/bà để phục vụ tốt cho
việc dạy và học bộ môn tin học thì cần phải bổ sung những gì về cơ sở vật
chất?
Theo số liệu của bảng 9 cho thấy, các cơ sở vật chất đều cần thiết được bổ
sung cho dạy học tin học. Trong đó, việc trang bị đủ số lượng máy tính hiện
đại, luôn cập nhật phần mềm, hệ thống ánh sáng, điều hoa nhiệt độ có 100% ý
kiến, ý kiến khác về phòng học thông thoáng, máy chiếu đa năng, máy in...có
trên 70% ý kiến.
Qua hai nhận xét của bảng (8) và bảng (9), có thể rút ra được một kết luận
khách quan: Cơ sở vật chất khang trang ; phương tiện, thiết bị đầy đủ và hiện
đại, chương trình luôn được cập nhật mới là một trong những nhân tố làm cho
quá trình dạy học tin học đạt hiệu quả cao. Vì vậy, lãnh đạo nhà trường cần
quan tâm hơn nữa trong việc quản lý, đầu tư máy móc, trang thiết bị. Riêng bộ
phận quản lý phòng máy cần cải tiến công tác quản lý, có kế hoạch cụ thể cho
từng công việc như lịch thực hành theo tuần, tháng, học kỳ; cài đặt chương
trình, sửa chữa, bảo trì máy móc, vệ sinh phòng học. Bên cạnh đó, kịp thời đề
xuất cho lãnh đạo phương án mua sắm, chỉnh trang cơ sở vật chất để hoạt động
phòng máy thực hành mang lại hiệu quả thiết thực, hạn chế sự chồng chéo và
tiết kiệm được nhiều thời gian cũng như chi phí.
3.1.4.Thực trạng việc quản lý đội ngũ và trình độ giáo viên.
Không giống như các bộ môn khác, bộ môn tin học được đưa vào giảng
dạy trong trường Cao đẳng chỉ trong những năm gần đây. Sự trẻ hoa của bộ
môn tin học tỉ lệ nghịch với tuổi đời của giảng viên. Nguyên nhân từ năm 1993,
nhà trường cử giáo viên bộ môn khác đi học tin học ở đại học sư phạm kỹ thuật
về giảng dạy cho trường. Do đó, tuổi đời các giáo viên đa số trên 40 tuổi (7
giảng viên) chiếm 41.17%, dưới 40 (2 giáo viên) tuổi chiếm 11.76%. Thâm
niên nghề nghiệp từ 20 năm trở lên 47.05%, dưới 5 năm chiếm 5.88%. Đây là
thâm niên giảng dạy nói chung. Nếu tính thâm niên giảng dạy bộ môn tin học
thì đa số giảng viên đều có thâm niên 11 năm, chiếm 64.70%, thâm niên từ 2
năm trở lên và dưới 5 năm chiếm 5.88%.
Dù được chuyển sang dạy tin học nhưng các giảng viên rất có ý thức và
cầu tiến trong việc tự học để không ngừng nâng cao trình độ. Phần lớn giảng
viên vững vàng về phương pháp giảng dạy bộ môn và có nhiều kinh nghiệm
trong việc truyền thụ kiến thức cho sinh viên. Từ khi được hình thành đến nay,
tổ bộ môn đã đóng góp đáng kể trong việc đào tạo đội ngũ giáo viên tin học
cho các trường phổ thông cơ sở trong tỉnh nói chung và bồi dưỡng kiến thức tin
học ứng dụng cho số lượng lớn sinh viên ở các khoa nói riêng. Tổ bộ môn luôn
luôn hoàn thành trách nhiệm được giao và luôn khẳng định được vị trí của
mình trong công tác chuyên môn. Tuy nhiên, vẫn còn một số ít giáo viên chú
trọng công việc "làm ăn", hoặc do tình hình sức khoe nên chưa đảm bảo tốt
việc thực hiện qui chế chuyên môn, còn thiếu sót trong việc soạn giảng và lên
lớp. Hiện nay, trường Cao đẳng đang liên kết đào tạo bậc đại học với nhiều
ngành khác nhau, trong đó, ngành phát triển tương đối mạnh và chiếm ưu thế là
ngành khoa học công nghệ thông tin, số lượng lớp tương đối nhiều hơn các
ngành khác. Đây cũng là thế mạnh của tỉnh nhà nói chung và của nhà trường
cao đẳng nói riêng. Với sự quan tâm của tỉnh và của ngành, trường Cao Đẳng
sư phạm Bình Dương đã có đề án xây dựng trường cao đẳng thành trường Đại
học Bình Dương đã được Uy Ban Nhân Dân Tỉnh duyệt và đang trình Bộ giáo
dục -Đào tạo. Xác định hướng đi lên của nhà trường sẽ trở thành một trường
đại học là xu thế tất yếu của địa phương, chính vì vậy lãnh đạo trường luôn
luôn quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ, giảng viên chuẩn, có trình độ tiến
sĩ, thạc sĩ.
3.1.5.Thực trạng quản lý việc thực hiện phương pháp giảng dạy
của giáo viên.
Để năm rõ việc thực hiện phương pháp giảng dạy tin học của giáo viên ở
các khoa không chuyên, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến giáo viên trong tổ
bộ môn qua câu hỏi sau: " Khi dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường
CĐSP-BD, ông/bà thường sử dụng phương pháp giảng dạy nào chủ yếu?
Qua bảng số liệu cho thấy, hầu hết các phương pháp đều được các giảng
viên thực hiện. Trong đó, phương pháp giảng giải kết hợp với thực hành là trội
hơn cả, chiếm tỉ lệ 33.34% ý kiến, các phương pháp khác chỉ chiếm tỉ lệ
22.22% ý kiến.
Mỗi phương pháp dạy học đều có những đặc tính riêng, việc lựa chọn và
thực hiện phương pháp dạy học tuy thuộc vào tính chất của bài giảng và năng
lực của giảng viên.
- Phương pháp giảng giải được coi là phương pháp truyền thống, hiện
nay, vẫn còn tồn tại trong các nhà trường ở Việt Nam. Phương pháp này, người
dạy hoàn toàn chủ động trong quá trình truyền thụ kiến thức, thời gian, không
gian, quản lý học sinh và có thể thực hiện các công đoạn dạy học theo kế hoạch
đã dự kiến. Người học có điều kiện ghi chép bài đầy đủ, theo trình tự bài giảng.
Đây là phương pháp còn mang nặng tính hình thức, người học hoàn toàn thụ
động; không phát huy được tính tích cực, sáng tạo, tự tìm tòi, tự khám phá của
học sinh. Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục, nhằm phát huy mọi
tiềm năng của người học, thì phương pháp giảng giải không còn thích nghi với
thời đại. Song, nếu được kết hợp với phương pháp khác một cách hợp lý, thì
phương pháp này vẫn phát huy được những ưu điểm tích cực.
Phương pháp giảng giải kết hợp với thực hành trên máy tính, là phương
pháp giáo viên thường sử dụng, vì được bô" trí tách rời giữa lý thuyết và phần
thực hành theo phân phối chương trình bộ môn, học lý thuyết xong rồi mới đến
phần thực hành riêng. Phương pháp này giúp học sinh nắm chắc phần lý thuyết
trước khi thực hành trên máy tính. Song, cũng có mặt hạn chế, khi thực hành
trên máy tính thể hiện sự chênh nhau khá rõ rệt là học sinh trung bình thao tác
máy chậm, việc thực hiện các bài tập cũng chậm so với học sinh khá, giỏi, bởi
vì phương pháp này không có sự minh hoa trực tiếp, các thao tác không được
thực hiện ngay trên máy như phương pháp kết hợp giảng giải và luyện tập ngay
trên máy tính.
Phương pháp giảng giải kết hợp giáo cụ trực quan Prọjector là phương
pháp cũng đem lại hiệu quả giảng dạy và học tập tốt. Qua công cụ máy chiếu
đa năng Projector, hình ảnh nội dung bài giảng, câu lệnh, thao tác được thể
hiện một cách rõ ràng, học sinh có thể ghi chép bài, tiếp thu bài một cách
nhanh chóng. Phương pháp này, giúp giảng viên có nhiều thời gian đầu tư cho
bài giảng, giảm bớt các thao tác ghi chép bảng, có điều kiện đào sâu vào nội
dung và tăng cường khả năng cung cấp lượng tri thức cho sinh viên, phát huy
được tính chủ đạo của nhà giáo, đồng thời phát huy tính chủ động và sáng tạo
của học sinh trong việc tiếp thu tri thức, phát hiện ra những điều mới lạ, ngay
cả phát hiện ra những cái sai sót và có thể tự điều chỉnh bổ sung.
- Phương pháp giảng giải kết hợp với luyện tập trên máy tính, đây là
phương pháp giảng dạy cũng mang lại nhiều hiệu quả, giảng viên có thể giảng
phần tin học ứng dụng trực tiếp trên máy tính; hoặc qua một máy chủ được nối
với hệ thống đa phương tiện Hiclass (Multimedia) và điều kiện mỗi sinh viên
trước một máy vi tính, giảng viên truyền thông tin từ máy chủ và sinh viên có
thể quan sát các thao tác, câu lệnh một cách trực tiếp ngay trên máy của mình.
Hình thức này, giúp sinh viên học tập một cách dễ dàng, phát huy tính chủ
động tích cực của từng sinh viên; đòi hỏi sự tập trung cao để ghi nhớ và thao
tác, giảng viên có thể kiểm tra các sinh viên qua truy vấn địa chỉ của từng máy
cụ thể. Hạn chế của phương pháp là chỉ áp dụng cho lớp học 20 sinh viên trở
lại, vì lệ thuộc vào phòng máy và phương tiện.
Việc sử dụng phương pháp dạy học của giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp
đến quá trình nhận thức của sinh viên. Do đó, chúng tôi cũng khảo sát ý kiến
của sinh viên về vấn đề trên, bằng hình thức đưa ra các phương pháp để sinh
viên tự lựa chọn ra cho mình phương pháp dạy học thích hợp, hiệu quả nhất.
Theo ý kiến của 376 sinh viên năm học 2003-2004 cho thấy, trong các
phương pháp dạy học trên, có ba phương pháp mà các em cho rằng dễ tiếp thu
bài nhất, đó là giảng giải kết hợp với giáo cụ trực quan với 28.99% ý kiến; và
giảng giải kết hợp thực hành trên máy 29.52% ý kiến, phương pháp giảng giải
trực tiếp trên máy tính có đến 29.79% ý kiến. Trong khi đó ý kiến chọn phương
pháp giảng giải chỉ có 12%.
Với kết quả nhận xét của sinh viên như trên, cho thấy, sinh viên rất chính
chắn và tự chủ trong việc lựa chọn cho mình phương pháp dạy học phù hợp và
có hiệu quả.
Nhìn chung, đa số giảng viên đều xác định được phương pháp dạy học
tích cực, có khả năng đem lại nhiều hiệu quả cho việc dạy học bộ môn. Sinh
viên cũng ý thức và biết chọn ra cho mình phương pháp dạy học tích cực và
phù hợp với bản thân họ. Theo ý kiến của giảng viên trong tổ bộ môn, việc kết
hợp sử dụng các phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp tích cực như trên
cùng với việc sử dụng phương tiện hiện đại trong dạy học, giúp họ chủ động
trong giảng dạy, có nhiều thời gian đầu tư sâu vào nội dung bài giảng, người
học tiếp thu tri thức dễ dàng và hiệu quả hơn, có điều kiện phát huy năng lực
sáng tạo, tìm tòi trong học tập, đồng thời cũng tránh được lối dạy truyền thụ
một chiều, thầy đọc trò ghi dể gây nhàm chán cho sinh viên. Tổ bộ môn tin học
cũng rất quan tâm đến việc cải tiến và đổi mới phương pháp dạy học qua tổ
chức dự giờ, thao giảng, thi giáo viên giỏi trong từng học kỳ của năm học. Tuy
nhiên, giữa nhận thức và thực tiễn việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học
vẫn chưa thực hiện một cách khả thi. Vì việc đổi mới phương pháp dạy học là
vấn đề hết sức nan giải, phụ thuộc vào nhiều yếu tố (cơ sở vật chất, các nguồn
lực cho bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, cán bộ quản lý, bản thân của các
giáo viên, về tổ chức chỉ đạo điều hành trong thực tế ). Vì vậy, hiện nay, trong
tổ bộ môn hiện nay, vẫn còn tồn tại tình trạng một số giảng viên sử dụng
phương pháp dạy học đơn giản nhất (giảng giải) và rất ít sử dụng các phương
tiện hiện đại trong dạy học, còn "dạy chay". Chính những yếu tố chủ quan từ
bản thân giảng viên và khách quan từ cơ sở vật chất, phương tiện, quản lý, điều
hành v.v...cũng nhiều đến việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, làm
cho quá tình dạy học bộ môn chưa đạt hiệu quả cao, ảnh hưởng lớn đến chất
lượng đào tạo của nhà trường và thành tích của đơn vị. ( sẽ phân tích rõ trong
phẫn nguyên nhân dẫn đến thực trạng ). Việc đổi mới phương pháp dạy học và
quản lý thực hiện trong nhà trường cao đẳng có một vị trí nhất định để nâng
cao chất lượng đào tạo ra đội ngũ giáo viên có trình độ có tay nghề vững vàn
đáp ứng nhu cầu thực tế giáo dục. Vì vậy, việc tìm ra nguyên nhân thực trạng
và đề xuất những giải pháp cải tiến phương pháp dạy học có hiệu quả thiết thực
là vấn đề cấp bách cần quan tâm và thực hiện trong năm học tới.
3.1.6.Thực trạng quản lý việc giảng dạy.
Công tác quản lý việc giảng dạy có vai trò quan trọng trong việc nâng cao
năng lực của giảng viên và kết quả học tập của sinh viên.
Để đánh giá thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy, chúng tôi tiến
hành khảo sát 9 ý kiến của các giảng viên trong tổ bộ môn về công tác quản lý
việc giảng dạy, ở ba mức độ: tốt, tương đối, và chưa tốt. Kết quả trình bày
trong bảng sau:
Theo số liệu thống kê, chỉ có 2 ý kiến cho là tốt với tỉ lệ 22.22%, ở mức
độ đánh giá tương đối tốt có 55.56% ý kiến, và ở mức độ đánh giá chưa tốt có
22.22% ý kiến. Với M= 2.0, cho thấy công tác quản lý việc giảng tin học ở
mức tương đối. Có thể nêu ra một số thực tế về công tác quản lý việc giảng dạy
tin học như sau: - về việc quản lý, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ: Trong năm học,
tổ bộ môn luôn bám sát mục tiêu của nhà trường trong việc quản lý, chỉ đạo
thực hiện nhiệm vụ bộ môn, và cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Đa số
các giảng viên trong tổ bộ môn đều có tâm huyết đối với nghề nghiệp, thể hiện
năng lực, sự sáng tạo của mình trong công tác chuyên môn, có ý thức trong
việc chấp hành và thực hiện nội quy, qui chế chuyên môn. Hàng năm, trong
từng học kỳ tổ bộ môn đều có tổ chức dự giờ, thăm lớp, thao giảng, và thi giáo
viên dạy giỏi, kiểm tra hồ sơ chuyên môn giáo viên. Tổ chức nhận xét, đánh giá
rút kinh nghiệm cho từng giờ dạy của giáo viên, chỉ ra những ưu điểm để giáo
viên cần phát huy và những khuyết điểm để giáo viên có phương hướng khắc
phục. Qua đó, giúp cho tổ bộ môn nắm được trình độ, năng lực giảng dạy của
giảng viên để có biện pháp bồi dưỡng, đặc biệt là việc sử dụng, thực hiện đổi
mới phương pháp giảng dạy bộ môn.
-Tuy nhiên, trong công tác quản lý, chỉ đạo việc giảng dạy cũng còn một
số tồn tại cần khắc phục. vẫn còn hiện tượng ỷ lại, chủ quan của một số giảng
viên chưa chú tâm nhiều đến công tác chuyên môn, tình trạng đối phó của
giảng viên cũng còn nhiều, chỉ khi nào kiểm tra chuyên môn thì họ mới chuẩn
bị các kế hoạch, hồ sơ chuyên môn chứ bình thường họ không ý thức, không tự
giác, vẫn còn hiện tượng dạy "chay", không sử dụng các phương tiện thiết bị
dạy học, hiện tượng lên lớp trễ vẫn còn tồn tại.
Về việc quản lý phòng máy thực hành, chưa có kế hoạch cụ thể và khoa
học, làm ảnh hưởng nhiều đến giờ dạy thực hành của giáo viên và học tập của
sinh viên.
Kết quả học tập của sinh viên đạt cao hay thấp, không chỉ phụ thuộc vào
trình độ và năng lực của giảng viên, mà còn phụ thuộc vào công tác quản lý
việc giảng dạy của giảng viên. Vì vậy, muốn nâng cao kết quả học tập của sinh
viên, nâng cao hiệu quả đào tạo của nhà trường, nhất thiết phải tăng cường
nâng cao công tác quản lý việc giảng dạy của giảng viên. Đó là giải pháp "đột
phá " để đi đến thành công.
Để có cơ sở cho việc cải tiến công tác quản lý giảng dạy bộ môn, chúng
tôi khảo sát ý kiến của giảng viên qua bốn mức độ lựa chọn sau: Rất cần thiết,
cần thiết, chưa cần thiết, hoàn toàn không cần thiết.
Qua bảng số liệu trên cho thấy, ở mức độ rất cần thiết cho việc cải tiến có
tỉ lệ 33.33% ý kiến và ở mức độ cần thiết với tỉ lệ 55.56% ý kiến, ở mức độ
chưa cần thiết chỉ có 1.11% ý kiến, không có ý kiến nào ở mức độ hoàn toàn
không cần thiết cho việc cải tiến. Với M= 3.2, cho thấy việc cải tiến công tác
quản lý giảng dạy bộ môn là khá cần thiết. Hầu hết các giảng viên đều thừa
nhận rằng, trong công tác quản lý, vai trò của chủ thể quản lý và các giải pháp
quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định thành công hay thất bại
của đơn vị, tổ chức.
Muốn nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập tin học, không chỉ phụ
thuộc vào phương pháp dạy học và phương tiện hiện đại mà còn phụ thuộc vào
công tác quản lý trình độ và năng lực, cùng với việc thực hiện qui chế chuyên
môn của từng giảng viên trong tổ bộ môn. Việc cải tiến công tác quản lý việc
giảng dạy và học tập bộ môn tin học hiện nay là một yêu cầu khách quan, vì
nội dung, chương trình tin học, các phần mềm tin học, hệ thống phần cứng thay
đổi nhanh theo tốc độ thời gian. Kiến thức tin học luôn đổi mới, đòi hỏi phải
được cập nhật nhanh chóng mới có thể theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ
thông tin. Do đó, trong công tác quản lý việc dạy học tin học cũng phải thay
đổi cho phù hợp với sự phát triển. Nhà quản lý phải có tầm nhìn mới, nhận thức
mới trong việc thực hiện các giải pháp quản lý, chỉ đạo dạy học bộ môn.
* Cải tiến công tác quản lý giảng dạy bộ môn, đòi hỏi phải sát với mục
tiêu và nhiệm vụ đào tạo của môn học và phải dựa trên cơ sở nhu cầu của người
học cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin. Vì vậy, khi tiến hành cải
tiến cồng tác quản lý việc giảng dạy tin học, cần lưu ý một số yếu tố quan trọng
sau.
Tạo điều kiện tối đa cho giáo viên và học sinh tiếp cận và sử dụng công
nghệ thông tin.
Sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý như : Soạn giáo án, vẽ mô
hình, lên thời khoa biểu, tổng kết điểm, báo cáo v,v...
Sử dụng các phần mềm dạy học và các thiết bị hiện đại trong giảng dạy,
thay đổi hình thức và phương pháp giảng dạy mới có sử dụng phương tiện,
thiết bị công nghệ thông tin.
Cải tiến công tác quản lý việc giảng dạy tin học là một yêu cầu cấp thiết,
là một trong những yếu tố chủ lực để thực hiện các giải pháp quản lý, phát huy
năng lực của giảng viên và tính tích cực, sáng tạo của sinh viên, nâng hiệu quả
dạy học bộ môn, đáp ứng nhu cầu đào tạo phù hợp với thực tế phát triên.
3.1.7.Thực trạng quản lý việc học tập của sinh viên.
Quản lý việc học tập của sinh viên không chỉ là nhiệm vụ của bộ phận
quản lý, mà còn là nhiệm vụ của giảng viên bộ môn. Vì qua việc quản lý học
tập, giảng viên mới chỉ ra cho sinh viên cách thức học tập đúng đắn, nắm được
tâm tư, nguyện vọng, đề xuất của các em. Bên cạnh đó, giảng viên có điều kiện
phát hiện và bổ sung những khiếm khuyết của mình để khắc phục và cải tiến
cho quá trình dạy học đạt hiệu quả tốt hơn. Quản lý việc học tập của sinh viên
có liên quan đến nhiều vấn đề.
Trong phạm vi hẹp của việc quản lý học tập bộ môn, chỉ nêu ra một số
khảo sát có liên quan đến môn học như: sự cần thiết của môn học, nhu cầu,
hứng thú và ý thức học tập của các em đối với môn học.
Chúng tôi tham khảo ý kiến của 376 sinh viên năm học 2003- 2004 về sự
cần thiết của môn tin học đối với bản thân họ, qua bốn lựa chọn sau có trong
bảng sau:
Qua bảng thăm dò ý kiến của 376 sinh viên ở các khoa không chuyên có
57.18% ý kiến của sinh viên cho là bộ môn tin học rất cần thiết đối với họ, có
27.93% ý kiến cho rằng bộ môn này khá cần thiết, chỉ có 14.89% là ít cần thiết
đối với môn học và không có ý kiến không cần thiết học tin học. Với M= 3.4,
cho thấy, đa số sinh viên cho việc học tin học là khá cần thiết đối với họ.
Rõ ràng nhận thức của các em cũng khá sâu sát với thực tiễn xã hội, vì
hiện nay việc học tin học trở nên phổ biến chứ không chỉ khép kín trong môi
trường sư phạm mà ở mọi nơi, không chỉ dành riêng cho học sinh, sinh viên mà
dành cho tất cả mọi người, ai cũng có quyền học tập. Kiến thức tin học cho
sinh viên ở các khoa không chuyên là kiến thức tin học cơ bản nhất, rất cần
thiết cho sinh viên, giúp các em tra cứu thông tin, soạn bài và làm bài tập trên
máy tính, tiếp cận với khoa học công nghệ, và các thiết bị hiện đại.
- Hứng thú học tập là một yếu tố quan trọng để đánh giá kết quả học tập
sinh viên. Tim hiểu về hứng thú học tập của sinh viên đối với môn tin học,
chúng tôi khảo sát 376 sinh viên qua bốn mức độ : rất hứng thú, khá hứng thú,
ít hứng thú, hoàn toàn không hứng thú.
Qua bảng khảo sát, ý kiến của sinh viên về hứng thú học tập tin học ở
mức rất hứng thú chỉ có 17.29%, khá hứng thú có 14.63% ý kiến, nhưng có đến
47.34% ý kiến ít hứng thú đối với bộ môn và 20.74% là hoàn toàn không hứng
thú học tập bộ môn. Với M= 2.3, cho thấy cũng còn nhiều ý kiến của sinh viên
ít hứng thú đối với môn học.
- Để biết tình hình học tập của sinh viên đối với bộ môn, chúng tôi cũng
tiến hành khảo sát về ý thức tự học tin học của các em qua các mức độ sau:
Thường xuyên tự học, ít khi tự học, và hoàn toàn không tự học
Qua bảng tự đánh giá của sinh viên về ý thức tự học, cho thấy, ở mức độ
thường xuyên tự học chiếm tỉ lệ rất ít, chỉ 23.14% ý kiến, ở mức độ ít khi tự
học có đến 36.44% ý kiến và hoàn toàn không tự học bộ môn có 40.43% ý
kiến. Với M= 1.8 cho thấy, sinh viên ít tự học đối với bộ môn.
Từ nhận xét bảng 14, 15, 16, cho thây có một nghịch lý trong nhận thức
của sinh viên giữa nhu cầu, hứng thú, và ý thức học tập đối với bộ môn. Để có
lời giải đáp cho sự nghịch lý trên, chúng tôi tìm hiểu qua thực tế như sau:
Trước hết là bản thân của nội dung, chương trình môn học chưa phù hợp
với nhu cầu (Chương 3, mục 1) nên chưa thu hút hứng thú học tập của sinh
viên; vai trò của giáo viên bộ môn trong việc hướng dẫn học tập cho sinh viên;
một số giáo viên chưa quan tâm đến công tác hướng dẫn cách học tập cho sinh
viên, nhất là trong các giờ dạy thực hành trên máy tính, giáo viên không hướng
dẫn các thao tác, các kỹ năng máy tính, mà để cho sinh viên từ mày mò, điều
này, cũng làm cho đa số các em chán nản đối với việc học bộ môn.
Việc học tin học, muốn giỏi phải thường xuyên thực hành, giao tiếp trên
máy. Nhưng do thời lượng thực hành quá ít ( Chương 3, mục 1), giới hạn theo
khung chương trình, Đa số sinh viên xuất thân từ các huyện, thị trấn về học cao
đẳng, khó khăn về kinh tế, không có điều kiện thuê máy để thực hành thêm, trừ
các sinh viên ở trung tâm thị xã có điều kiện hơn. Lý do trên dẫn đến hiện
tượng "lực bất tòng tâm", tạo nên sự mất cân đối giữa các đối tượng học tập.
Thiết nghĩ rằng, để phát huy năng lực học tập của sinh viên đối với môn
tin học, ngoài việc cung cấp phương tiện phục vụ học tập, thì phải có những
giải pháp tốt trong khâu quản lý, đặc biệt vai trò của giảng viên trong khâu tổ
chức, hướng dẫn phương pháp học cho sinh viên, gây được sự hứng thú học tập
và ý thức tự giác của sinh viên đối với bộ môn.
3.1.8.Thực trạng quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập
của sinh viên.
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập sinh viên là một trong những nhiệm vụ
quan trọng của giáo viên. Việc kiểm tra nghiêm túc và có chất lượng sẽ có tác
động lớn trong việc nâng cao năng lực học tập và tạo niềm tin cho sinh viên.
Chúng tôi khảo sát các hình thức kiểm tra, đánh giá qua bảng sau:
Qua khảo sát cho thấy, tổ bộ môn đã thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả
học tập của sinh viên với hai hình thức chủ yếu: Kiểm tra trắc nghiệm chiếm tỉ
lệ 33.33%, kiểm tra thực hành trên máy 66.67%%. Hình thức kiểm tra trắc
nghiệm là hình thức kiểm ưa lý thuyết, hình thức này đòi hỏi giáo viên đầu tư
khá cồng phu, thể hiện nội dung kiến thức khá sâu sắc, được đa số giảng viên
áp dụng, học sinh cũng thích thú hình thức kiểm tra này, vì đòi hỏi các em phải
tư duy nhiều hơn hình thức kiểm tra khác.
Kiểm tra thực hành trên máy là hình thức bắt buộc của bộ môn tin học,
mang tính quyết định kết quả học tập của sinh viên, qua kiểm tra thực hành,
giáo viên cũng đánh giá được trình độ, năng lực của từng sinh viên, có thể phát
hiện ra những nhân tố tích cực tiếp tục bồi dưỡng và phát triển; hình thức kiểm
tra vấn đáp, giáo viên thường không tổ chức riêng mà lồng ghép vào quá trình
giảng dạy, hình thức kiểm tra viết là hình thức thường sử dụng cho những môn
học khác nhưng đối với tin học thì rất ít sử dụng hình thức này (vì bộ môn công
nghệ không đòi hỏi thuộc lòng theo thứ tự như các lĩnh vực khác mà phải có sự
sáng tạo của mỗi cá nhân).
Tuy nhiên, việc kiểm tra, đánh giá ở hai hình thức như trên, chưa thê đánh
giá hết tiềm năng của sinh viên trong lĩnh vực vận hành, xử lý tình huống, kỹ
năng, kỹ xảo máy tính, dẫn đến những hạn chế của việc sử dụng tin học trong
thực tế.
Chúng tôi ghi nhận một số ý kiến của sinh viên đã tốt nghiệp ra trường
công tác, hoặc đi làm ở các doanh nghiệp, thường mắc các nhược điểm như
sau:
+ Hầu hết sinh viên chỉ biết áp dụng kiến thức đã học theo trình tự, bài
bản đã học, thực hiện các thao tác một cách chậm chạp, chưa có sáng tạo trong
cách giải quyết công việc trên máy tính.
+ Không làm chủ được quá trình vận hành và xử lý một số sự cố máy tính
đơn giản : Ví dụ như máy treo, máy báo lỗi, máy bị virus phá chương trình làm
việc, máy không khởi động được.v.v. Hoặc ngay cả những thông báo của máy
bằng tiếng Anh đơn giản, sinh viên cũng không biết ý nghĩa để có biện pháp xử
lý. Từ những khiếm khuyết trên cho thấy yếu điểm của sinh viên tập trung phần
lớn vào các yếu tố kỹ thuật và xử lý máy tính.
+ Do vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là cần đề ra các giải pháp kiểm tra, đánh
giá sinh viên một cách toàn diện hơn, và cần kết hợp nhiều hình thức kiểm tra,
đặc biệt, chú trọng đến công tác kiểm tra đánh giá việc thực hành, kỹ năng, kỹ
xảo máy tính của sinh viên. Việc làm trên góp phần tạo cho sinh viên cao đẳng
một năng lực và phẩm chất mới trong qui trình đào tạo: trí tuệ, năng lực, kỹ
năng, kỹ xảo. Đáp ứng được nhu cầu của bản thân khi va chạm với thực tế nghề
nghiệp và thực hiện đúng nguyên lý giáo dục, học đi đôi với hành; lý thuyết đi
đôi với thực tiễn.
Đánh giá chung, trong những năm qua, tổ bộ môn tin học đã làm tròn
trách nhiệm của mình trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh
viên theo đúng qui chế chuyên môn của Bộ giáo dục - Đào tạo và qui định của
nhà trường đề ra. Tuy nhiên, về góc độ quản lý, tổ bộ môn cần theo dõi sát sao
hơn việc thực hiện kiểm tra, đánh giá của từng thành viên trong tổ, góp ý thẳng
thắn với những trường hợp kiểm tra, đánh giá mang tính hình thức, qua loa,
chiếu lệ, thiếu trách nhiệm, thiếu công bằng, làm ảnh hưởng đến phong trào
chung của đơn vị.
Để thấy rõ việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên không
chuyên. Chúng tôi xin nêu ra một vài số liệu tổng hợp từ năm học 1999-2000
đến năm học 2003-2004 như sau:
Qua khảo sát kết quả học tập của sinh viên ở các khoa không chuyên cho
từ năm học 1999-2000 đến 2003-2004, cho chung tôi một số nhận xét như sau:
Trong những năm học từ 1999-2000 và 2001-2002 tỉ lệ sinh viên đạt loại
trung bình và yếu tương đối cao, tỉ lệ sinh viên đạt loại khá và giỏi rất ít. Từ
năm học 2002 trở đi đến năm 2003, 2004 tỉ lệ sinh viên đạt loại giỏi, khá được
nâng lên một cách rõ rệt và giảm bớt tỉ lệ đạt loại trung bình và yếu.
Đạt được kết quả như trên cũng do sự cố gắng, tích cực hoạt động của tổ
bộ môn nói chung và năng lực của từng giảng viên nói riêng. Trước tiên là
công tác quản lý có nhiều tiến bộ trong việc chỉ đạo công tác chuyến môn, luôn
luôn góp ý cho nhau qua các buổi dự giờ, thao giảng để rút kinh nghiệm; bên
cạnh đó là sự nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của các giảng viên trong việc
thực hiện kế hoạch của cá nhân, trong việc tổ chức giảng dạy và học tập cho
sinh viên, từng bước thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng
giao tiếp tích cực và sử dụng các phương tiện thiết bị dạy học hiện đại, góp
phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
Tuy nhiên, kết quả trên chỉ là bước đầu, chưa thể hiện một cách sâu sắc
và toàn diện, tỉ lệ đạt loại trung bình và loại yếu qua các năm vẫn còn nhiều.
Trong những năm tới, tổ bộ môn sẽ cải tiến nhiều hơn nữa về nội dung, chương
trình, thời lượng môn học, phương thức dạy học, công tác quản lý, để có thể đạt
kết quả khả quan hơn trong việc nâng kết quả dạy học bộ môn.
ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG :
Để đánh giá chung về thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tin học ở
các khoa không chuyên trường Cao đẳng sư phạm Bình Dương có thể rút ra
một số kết luận chủ yếu như sau:
1- Về nội dung chương trình môn học cho các khoa không chuyên, hiện
nay vẫn chưa có chương trình riêng cho đối tượng của các ngành học một cách
cụ thể. Nội dung chương trình chưa được cập nhật một cách đầy đủ trước sự
phát triển mạnh mẽ của Công nghệ thông tin, chưa đáp ứng được nhu cầu sử
dụng tin học của sinh viên.
2-Việc bố trí thời lượng cho bộ môn tin học cho các đối tượng không
chuyên như hiện nay là chưa hợp lý, chưa đồng nhất, giữa các khoa có sự
chênh lệch về thời lượng môn học.
3-Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ cho giảng dạy và học tập
chưa theo qui chuẩn:
- Phòng máy vi tính chưa đồng bộ về không gian, trang thiết bị, hệ thống
chiếu sáng, hệ thống điều hoa chưa đảm bảo.
Cơ cấu lớp học chưa hợp lý: có lớp quá đông, có lớp quá ít, rất khó khăn
trong việc bố trí máy thực hành, sinh viên bị thay đổi vị trí máy liên tục, gây ra
sự lãng phí và mất thời gian.
4-Số lượng máy vi tính hư hỏng khá nhiều, chưa được sửa chữa, chương
trình cài đặt chưa thống nhất. Tinh trạng trên, chưa thể đáp ứng cho nhu cầu
người học, hiện tượng sinh viên thiếu máy trong giờ thực hành vẫn thường
xuyên xảy ra.
Cán bộ quản lý phòng máy tương đối ít, chưa thể đảm bảo cho việc quản
lý, lên kế hoạch, sửa chữa, nâng cấp, cài đặt cho ba phòng máy vi tính.
5-Việc thực hiện quản lý mục tiêu môn học chưa đáp ứng nhu cầu giáo
dục chung về các mặt: kiến thức, kỹ năng, thái độ chưa, chưa đáp ứng nhu cầu
thực tế của người học và yêu cầu phát triển của xã hội.
6-Công tác quản lý việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh.
Công tác tổ chức, đánh giá hiệu quả giảng dạy của giảng viên cũng được
tổ bộ môn tổ chức thường xuyên trong từng năm học và cũng đạt được một kết
quả nhất định. Năng lực, trình độ giảng dạy của giáo viên và chất lượng giảng
dạy trong năm sau được nâng cao hơn so với năm trước. Tuy nhiên, vẫn còn
những tồn tại trong công tác quản lý và chỉ đạo như : việc chỉ đạo thực hiện
chuyên môn chưa sâu sát, chưa kịp thời động viên, tìm hiểu và giúp đỡ kịp thời
cho giáo viên có hoàn cảnh khó khăn, dẫn đến tình trạng thiếu một số giáo viên
thiếu sót trong việc thực hiện nội quy giảng dạy, vẫn còn giáo viên chưa tthực
hiện việc tổ chức và hướng dẫn học tập cho sinh viên; đa số sinh viên còn ỷ lại
trong việc chuẩn bị bài trước khi thực hành trên máy tính. Chính những tồn tại
trên, làm cho việc quản lý, kiểm tra, đánh giá kết quả giảng dạy của giáo viên
và học tập của học sinh chưa mang hiệu quả như mong muốn.
7-Trình độ đội ngũ giảng viên hiện nay tương đối đảm bảo, tuy nhiên, về
lâu dài, sắp tới nhà trường chuyển lên thành trường Đại học Bình Dương thì
chưa đạt yêu cầu theo chuẩn của Bộ giáo dục. Vì vậy việc chuẩn hoá, nâng cấp
trình độ giảng viên tin học đang là vấn đề được lãnh đạo nhà trường rất quan
tâm.
8- Giáo viên trong tổ bộ môn luôn thực hiện qui chế về kiểm tra đánh giá
học tập của sinh viên và đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, việc
kiểm tra, đánh giá học sinh hiện nay chưa kết hợp nhiều hình thức kiểm tra,
chưa đánh giá được thực chất kết quả của sinh viên. Để đánh kết quả học tập
của sinh viên một cách toàn diện, chính xác, giảng viên cần phải kết hợp nhiều
hình thức kiểm tra hơn nữa, đặc biệt là kiểm tra kỹ năng, kỹ xảo máy tính của
sinh viên.
Trong những năm qua, công tác quản lý việc giảng dạy tin học ở các khoa
không chuyên trường Cao đẳng sư phạm Bình Dương đã có những chuyển biến
tích cực, tổ bộ môn đã thực hiện tốt nội quy, qui chế giảng dạy của nhà trường,
từng bước cải tiến nội dung chương trình, kiểm tra đánh giá, và đổi mới đổi
mới phương pháp giảng dạy; luôn quan tâm đến chất lượng dạy học bộ môn,
chú trọng đến việc nâng cao trình độ chuyên môn của từng thành viên; và
nghiêm khắc xử lý những sai phạm của sinh viên trong qui chế học tập, thi cử,
từng bước tạo ra thế ổn định trong giảng dạy và học tập.
Những thành tựu đạt được trên là do sự nỗ lực phấn đấu của từng thành
viên trong tổ bộ môn, trong đó có vai trò quan trọng của công tác quản lý tổ bộ
môn và sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo nhà trường, các chủ nhiệm khoa trong
việc hợp tác hỗ trợ. Tuy nhiên, những thành tựu trên chỉ mới ở giai đoạn đột
phá, chưa thể hiện một cách toàn diện và sâu sắc, vẫn còn nhiều hạn chế. Để
khắc phục những tồn tại trên, nhất thiết chúng ta phải tìm nguyên nhân thực
trạng để ngày càng nâng cao hiệu quả cồng tác quản lý và chất lượng dạy học
bộ môn tin học cho đối tượng không chuyên tại trường Cao đẳng sư phạm Bình
Dương.
3.2.Phân tích nguyên nhân dẫn đến thực trạng.
3.2.1.Nguyên nhân từ công tác quản lý việc giảng dạy bộ môn.
Nguyên nhân từ việc xác định mục tiêu dạy học tin học:
về mục tiêu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin được Đảng và
Nhà nước ta đã xác định rất rõ, khoa học công nghệ có vai trò quan trọng bậc
nhất trong mục tiếu phát triển kinh tế đất nước. Mục tiêu của giáo dục và đào
tạo phải đưa công nghệ thông tin vào nhà trường ở mọi cấp học, bậc học, ngành
học, từ mầm non đến đại học. Ngành giáo dục đào tạo phải tạo mọi điều kiện
thuận lợi tối đa để giáo viên và học sinh tiếp cận khoa học công nghệ thông tin
một cách tốt nhất. Mục tiêu đào tạo tin học trong nhà trường cao đẳng (như đã
phân tích ở mục I, 2, phần thực trạng), nhằm giúp sinh viên sử dụng tốt kiến
thức tin học trong học tập và trong thực tế công tác.
Trong những năm qua, nhà trường Cao đẳng đã đào tạo ra đội ngũ giáo
viên giảng dạy tin học đáng kể cho các trường trung học cơ sở và góp phần tạo
ra nguồn lực công nghệ thông tin cho một số doanh nghiệp trong tỉnh. Cho đến
nay, tình hình dạy và học tin học ở Cao đẳng đã có nề nếp và tương đối ổn
định.
Tuy nhiên, so với tốc độ phát triển nhanh về khoa học công nghệ và kinh
tế xã hội thì việc đào tạo tin học cho sinh viên ở các khoa không chuyên trường
Cao đẳng sư phạm Bình Dương chưa đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu đào
tạo sinh viên trong thời đại công nghiệp hoa hoa, hiện đại hóa. Nguyên nhân
chủ yếu là do sự nhận thức chưa sâu sát trong việc quán triệt thực hiện mục tiêu
môn học, chính việc nhận thức chưa đầy đủ và chưa quan tâm đúng trong việc
xác định mục tiêu, nên vị trí môn học tin học cho đối tượng không chuyên chưa
được nâng cao, dẫn đến nhiều hạn chế trong dạy học bộ môn, khả năng sử dụng
tin học của sinh viên chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.
Mục tiêu mồn học là sự thể chế hoa để thực hiện nội dung, chương trình
học và những vấn đề khác liên quan việc dạy học bộ môn. Do đó, khi đánh giá
nguyên nhân của việc thực hiện mục tiêu cần xem xét, đánh giá tổng thể các
nguyên nhân liên quan như sau:
Nguyên nhân cơ bản từ bản thân của nội dung chương trình và thời
lượng môn học còn nhiều bất cập.
Qua thực tế giảng dạy cho thấy, nội dung, chương trình tin học ở các khoa
không chuyên chưa đồng nhất trong các khối không chuyên, những kiến thức
mới cần thiết cho việc học tập của sinh viên chưa cập nhật bổ sung kịp thời.
Chương trình chưa liên thông với chương trình ở trường trung học cơ sở, đây
cũng là trở ngại chính mà các sinh viên thường vấp phải trong quá trình thực
tập ở phổ thông cơ sở.
Từ nội dung, chương trình chưa hợp lý, kéo theo sự phân bổ thời lượng
môn học quá ít ( 45 tiết) cho yêu cầu khối lượng lớn kiến thức dành cho sinh
viên các khoa không chuyên, đặc biệt là thời lượng dành cho phần thực hành
tin học ứng dụng rất ít chỉ có (11 tiết). Bên cạnh đó, nguồn tài liệu, sách giáo
khoa phục vụ cho giảng dạy và học tập tin học rất hạn chế, trong khi chưa có
giáo trình chuẩn của Bộ, giáo viên còn tự biên, tự diễn. Nhìn chung, nội dung,
chương trình và thời lượng môn học chưa sát với thực tiễn phát triển của công
nghệ thông tin và xã hội, chưa đáp ứng với mục tiêu đào tạo và nhu cầu của
sinh viên trong học tập, trong nghiên cứu khoa học. Đây cũng ià một trong
những nguyên nhân chính làm giảm đi sự hứng thú học tập của sinh viên và
làm hạn chế nhiều đến hiệu suất dạy học bộ môn.
Nguyên nhân từ việc quản lý đội ngũ và phương pháp dạy học của giáo
viên.
Kết quả học tập của sinh viên phụ thuộc phần lớn vào ừình độ và năng lực
của đội ngũ giảng viên. Do đó, công tác quản lý tiềm lực đội ngũ tốt sẽ có tác
dụng thúc đẩy nâng cao hiệu quả giảng dạy của giảng viên và chất lượng học
tập của sinh viên. Tổ bộ môn luôn có tinh thần trách nhiệm trong công tác chỉ
đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của nhà trường và các qui chế của Bộ giáo
dục- Đào tạo.
Hàng năm, trong từng học kỳ tổ bộ môn đều tổ chức thao giảng, dự giờ,
kiểm tra hồ sơ chuyên môn của từng giảng viên. Qua các buổi dự giờ điều có
nhận xét, đánh giá trình độ, năng lực của từng thành viên, mỗi đợt kiểm tra đều
có nhận xét xếp loại cụ thể cho từng trường hợp. Tổ bộ môn thực hiện đúng các
qui chế thi cử, kiểm ưa, đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Hầu hết các
giảng viên trong tổ có ý thức nâng cao trình độ và bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ. Việc làm trên cũng đem lại một số kết quả nhất định, lãnh đạo nhà
trường đã đánh giá cao về sự cố gắng của tổ bộ môn trong công tác quản lý và
sự nhiệt tình, tích cực của các giảng viên trong công tác đào tạo chung của nhà
trường.
Tuy nhiên, đó chỉ là thành tích nhỏ chưa mang tính toàn diện và sâu
sắc, bởi trong công tác quản lý tổ bộ môn và thực hiện nhiệm vụ của giảng
viên, vẫn còn những tồn tại cơ bản do những nguyên nhân sau:
Việc quản lý, chỉ đạo của tổ bộ môn chưa chặt chẽ, còn mang nặng tính
hình thức. Trong nhận xét, đánh giá giờ thao giảng của giáo viên chưa thật sự
khách quan, còn vị nể; kiểm tra, đánh giá hồ sơ của giảng viên còn sơ sài, qua
loa, chưa thật sự đúng nghĩa. Chính việc đánh giá không đúng thực chất trình
độ, năng lực từng giảng viên nên chưa động viên khích lệ được những nhân tố
tích cực của đội ngũ, đồng thời, cũng vô tình tạo điều kiện thả nổi cho một số
trường hợp thiếu sót trong chuyên môn. Đánh giá còn nặng ở khâu hình thức
nhiều hơn lĩnh vực chuyên môn sâu.
Nguyên nhân từ bản thân của giáo viên, do tình hình sức khoe, năng lực
còn hạn chế, do "chạy sô" chưa thật sự chú tâm đến công tác chuyên môn, còn
tình trạng đối phó trong việc thực hiện nề nếp, kỷ cương, chỉ khi nào có kiểm
tra mới chuẩn bị hồ sơ chuyên môn.
Ngoài ra, còn nguyên nhân khách quan từ cơ sở vật chất phục vụ, và
quản lý điều hành.
+ Với đội ngũ giáo viên toàn trường khá đông, nhưng phương tiện phục
vụ để giáo viên thực hiện đổi mới dạy học theo lối giao tiếp tích cực, kết hợp
sử dụng công cụ hiện đại máy tính, projector chưa đủ đáp ứng nhu cầu. Từ việc
giáo viên rất ngán ngẫm việc mượn phương tiện dạy học, cũng tạo thành thói
quen "lười" mượn đồ dùng dạy học, dẫn đến tình trạng một số giáo viên vẫn
thực hiện phương pháp dạy học đơn thuần nhất (giảng giải), thậm chí dạy
"chay", thiếu cập nhật kiến thức, không sử dụng phương tiện hiện đại trong dạy
học là điều không thể tránh khỏi.
+ Chính những nguyên nhân chủ quan từ giáo viên, khách quan từ khâu
phục vụ, quản lý, điều hành đã làm hạn chế việc thực hiện đổi mới phương
pháp giảng dạy dẫn đến sự nhàm chán và không thu hút hứng thú học tập của
sinh viên, làm cho hiệu quả dạy học bộ môn chưa cao.
3.2.2.Nguyên nhân từ cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy học bộ
môn .
Phòng học thực hành máy tính: hiện nay còn mang tính tạm thời, chưa ổn
định, trong ba phòng máy thực hành chưa có sự đồng nhất về thiết kế, diện tích,
trang bị máy móc và phương tiện thiết bị. Hệ thống máy điều hoa, hệ thống
chiếu sáng, vệ sinh phòng máy chưa đảm bảo cho môi trường lớp học.
Về cơ cấu lớp học: chưa theo qui chuẩn của Bộ đề ra đối với cơ sở đào
tạo, Với cơ cấu lớp học quá đông ( 70 sinh viên), ảnh hưởng rất lớn đến qui
trình giảng dạy của giáo viên và việc tiếp thu bài của sinh viên. Rất khó khăn
trong việc sắp xếp phòng thực hành và máy tính cho từng học viên, giáo viên
hướng dẫn thực hành phải chạy qua lại giữa các phòng máy, không thể cùng
một lúc truyền thụ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cho tất cả sinh viên. Chính việc cơ
cấu lớp như vậy ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu suất dạy học bộ môn. Thực tế
qua kiểm tra, đánh giá hết học phần cho thấy, ở những lớp cơ cấu quá đông kết
quả học tập bị giảm sút hẳn so với các lớp có cơ cấu hợp lý. Việc cơ cấu lớp
học hợp lý, theo tiêu chuẩn hiện đại là việc làm cần thiết có ảnh hưởng lớn đến
kết quả giảng dạy của giáo viên và học tập của sinh viên. Vì vậy để nâng cao
chất lượng dạy học đòi hỏi bộ phận quản lý và lãnh đạo nhà trường cần phải
quan tâm hơn nữa trong việc tuyển đầu vào và cơ cấu lớp một cách hợp lý.
Nguyên nhân từ việc trang bị máy vi tính: Việc thực hành trên máy rất
quan trọng để đánh giá kết quả học tập và các kỹ năng của sinh viên, nhưng do
tình trạng của việc bố trí phòng thực hành và bố trí máy vi tính cho người học
chưa đảm bảo, chưa đồng bộ, máy hư hỏng khá nhiều nên kết quả học tập của
sinh viên chưa đạt yêu cầu và thiếu tính khách quan. Trường hợp sinh viên thực
hành ở phòng máy tốt sẽ có nhiều thuận lợi hơn những sinh viên ở phòng máy
cũ kỹ và hay trục trặc. Điển hình như trong các kỳ thi chứng chỉ A, B tin học,
các kỳ thi hết học phần, những em học khá giỏi nhưng bị sắp ở vị trí máy quá
tệ, chạy chậm hay bị lỗi chương trình, dẫn đến kết quả là khó đạt được yêu cầu
của bài thi đề ra so với thời gian qui định.
Bên cạnh đó, chương trình cài đặt, phần mềm, phần cứng máy tính, tốc độ
xử lý cũng góp phần quan trọng trong việc nâng chất lượng dạy học tin học.
Chương trình cài đặt ở các phòng máy hiện nay chưa đồng bộ như hệ điều
hành, phần mềm phục vụ cho học tập, đây cũng là vấn đề làm cho sinh viên bỡ
ngỡ khi học một hệ thống mới nhưng thực hành trên máy có hệ thống cũ, người
dạy mất nhiều thời gian trong việc giải thích, người học gặp khó khăn trong
việc nhận diện và thao tác.
Nguyên nhân từ việc quản lý phòng thực hành máy tính. Hiện nay, nhà
trường có nhiều hệ đào tạo tin học, ngoài hệ đào tạo tin học chính qui, còn có
các hệ đào tạo không chuyên, ngoài sư phạm, các lớp đại học tin học. Việc sắp
xếp bố trí máy thực hành chưa được tiến hành một cách có kế hoạch và khoa
học, còn tình trạng bị động phòng thực hành giữa các lớp, làm cho kế hoạch
dạy thực hành của giáo viên có khi không thực hiện được và phải chuyển sang
dạy tiếp lý thuyết.
Chính lý do trên cũng gây tâm lý lười học và mất hứng thú học tập của
sinh viên đối với môn tin học. Do đó, việc tìm ra giải pháp quản lý tốt ở phòng
thực hành máy tính cũng là một trong các nguyên nhân gây nên hứng thú học
tập và tạo niềm tin trong sinh viên.
Nguyên nhân từ việc quản lý phương tiện, thiết bị. Việc quản lý và điều
phối các thiết bị, phương tiện kỹ thuật còn nhiều bất cập, chưa thể hiện sâu tính
chuyên môn nghiệp vụ. Nhiều máy móc, thiết bị chưa tập trung về một đầu mối
kỹ thuật quản lý. Hiện nay, giáo viên muốn sử dụng phương tiện giảng dạy
phải đăng ký ở phòng hành chính, đồng thời phải báo qua nhân viên kỹ thuật.
Sự chồng chéo trên làm hạn chế khả năng mượn và sử dụng phương tiện dạy
học của giáo viên, dẫn đến tình trạng một số giáo viên ngán ngại khi mượn đồ
dùng dạy học nên dạy "chay" không sử dụng phương tiện giảng dạy, điều này
làm giảm đi tính chủ đạo của giảng viên và tính tích cực, hứng thú trong học
tập của sinh viên.
Vì vậy, công tác quản lý phòng máy cần phải có giải pháp quản lý khoa
học và hữu hiệu trong việc điều phối các phương tiện dạy học, để khuyến khích
và thu hút việc sử dụng phương tiện dạy học của giáo viên, tạo hứng thú học
tập cho sinh viên, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn.
3.2.3.Nguyên nhân từ công tác quản lý, chỉ đạo học tập của sinh
viên.
Nguyên nhân từ nhận thức việc học tin học của sinh viên.
Để hiểu rõ nguyên nhân từ công tác quản lý, chỉ đạo học tập của sinh ở
các khoa không chuyên. Xin xem lại ý kiến của sinh viên đối với môn học tin
học ở bảng 14 : về sự cần thiết của môn tin học và bảng 15: ý kiến của sinh
viên về hứng thú học tập bộ môn (Phần phân tích thực trạng).
Nguyên nhân từ việc xác định lợi ích của môn học. Chúng tôi tiến hành
thăm dò ý kiến của 376 sinh viên qua câu hỏi: Theo cá nhân bạn thì môn tin
học đã giúp ích gì cho bạn ?. Kết quả khảo sát ở bảng 19.
Qua bảng khảo sát trên cho thấy, trong tổng số 376 sinh viên của các khoa
không chuyên nhận thức việc học tin học đem lại nhiều lợi ích thiết thực. Tuy
nhiên các ý kiến không đồng đều trong các lựa chọn, phần lớn ý kiến cho rằng
học tin học đề soạn thảo văn bản, soạn giáo trình 45.48%, để tính toán 13.30%,
lưu trữ dữ liệu 24.73%. Các ý kiến còn lại ở các lựa chọn khác rất ít như giao
lưu 7.18%, truy cập internet 1.06%, cơ hội làm việc ở doanh nghiệp 1.60%, học
tập tiếng Anh 2.66%. Từ nhận xét trên của sinh viên, chứng tỏ rằng nhận thức
của các em chưa bao quát hết các lợi ích của tin học, mà chỉ biết những lợi ích
phục vụ trước mắt. Trong thực tế tin học còn rất nhiều khả năng, có thể giúp
cho con người học mọi thứ, mọi nơi, mọi lúc chứ không chỉ đơn giản, co cụm ở
một số lĩnh vực như các em đã nhận xét.
Tuy nhiên, sự nhận thức chưa đầy đủ của sinh viên về lợi ích của tin học
cũng có cơ sở từ những nguyên nhân mang tính chủ quan, và những nguyên
nhân khách quan khác như sau:
+ Do điều kiện các em chưa được tiếp cận, chưa được trang bị đầy đủ
kiến thức, phương tiện Internet trong chương trình môn học. Gần đây tổ bộ
môn đã đề xuất đưa chương trình Internet vào giảng dạy, tuy nhiên, việc thực
hành internet còn rất hạn chế.
+ Các ý kiến của sinh viên như trên, đã phản ánh những thiếu sót của sự
cung cấp nội dung kiến thức và phương tiện cho nhu cầu người học, đây chính
là nguyên nhân dẫn đến nhận thức phiến diện của sinh viên đối với môn học,
làm cho ý thức học tập của các em thiếu tích cực, và kết quả giảng dạy và học
tin học chưa cao cũng là điều tất yếu. Do đó, để khắc phục tình trạng trên và
quản lý tốt việc học bộ môn của sinh viên, nhất thiết nhà trường, bộ phận quản
lý cần quan tâm hơn trong việc cung cấp phương tiện phục vụ dạy học, để đáp
ứng nhu cầu học tập của sinh viên, qua đó, làm cho sinh viên có nhận thức
đúng đắn và có thái độ học tập tốt đối với bộ môn.
- Nguyên nhân từ việc hướng dẫn tổ chức học tập cho sinh viên:
Hướng dẫn việc học của sinh viên là một nhiệm vụ của giảng viên, việc
hướng dẫn học tập có ý nghĩa quan trọng trong công tác dạy học bộ môn, giúp
người học có cơ sở để tìm hiểu và có phương hướng học tập tốt đối với bộ
môn.
Để đánh giá công tác hướng dẫn học tập cho sinh viên, chúng tôi khảo sát
ý kiến của các giảng viên trong tổ, qua câu hỏi sau: Giảng dạy tin học ở các
khoa không chuyên, ông/bà có thường xuyên hướng dẫn cách học tập cho sinh
viên hay không ?
Qua bảng 20, cho thấy không có ý kiến nào ở mức độ rất thương xuyên
hướng dẫn học tập cho sinh viên,có 33.33% ý kiến thường xuyên, có đến
44.45% ý kiến rất ít, và còn 22.22% ý kiến hoàn toàn không hướng dẫn cho
sinh viên. Với M= 2.1 cho thấy, vẫn còn một số giáo viên còn xem nhẹ, rất ít
việc tổ chức, hướng dẫn học tập cho sinh viên. Theo ý kiến chủ quan của họ,
việc học tin học gồm lý thuyết và thực hành, giờ giấc có qui định trong khung
chương trình, có hướng dẫn thì sinh viên cũng khó thực hiện được ngay vì lệ
thuộc vào phòng thực hành máy tính. Chính nhận thức chủ quan của giáo viên
như trên, làm cho sinh viên ít quan tâm đến môn học và thiếu tích cực trong
việc tự học bộ môn.
- Nguyên nhân từ việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh
viên.
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập tin học của sinh viên là khâu quan
trọng không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định hướng điều chỉnh
hoạt động của sinh viên, mà còn đồng thời tạo điều kiện định hướng và điều
chỉnh hoạt động của giáo viên. Trong các năm học qua, giáo viên trong tổ bộ
môn đã thực hiện tốt qui chê kiêm tra, đánh giá chất lượng học tập sinh viên,
tiên hành điều đặn theo định kỳ và kiểm tra hết học phần cho sinh viên. Tuy
nhiên, giáo viên chỉ kiểm tra lý thuyết và kiểm tra làm bài thực hành trên máy,
giáo viên chưa kết hợp nhiều loại hình kiểm tra, chưa quan tâm đến kiểm tra kỹ
năng, kỹ xảo máy tính của sinh viên. Việc kiểm tra như thế sẽ không đánh giá
hết được thực lực và tiềm năng của sinh viên. Một số giáo viên còn quan niệm
mục đích kiểm tra để có đủ cơ số điểm ghi vào sổ theo qui định, mà chưa quan
tâm đến hiệu quả phản hồi mà chúng mang lại. Điều đó, lý giải tại sao vẫn có
một số đề kiểm tra còn mang tính hình thức, một biểu hiện khác là giáo viên ít
chú trọng đến các kỹ năng và năng lực nhận thức của sinh viên. Để đánh giá
đúng chất lượng học tập của sinh viên, đòi hỏi phải có một tiêu chí đánh giá
toàn diện và cụ thể, phải xây dựng một hệ thống thi cử nghiêm túc, và tăng
cường việc giám sát hoạt động kiểm tra, thi, tránh trường hợp cán bộ coi thi dễ
dãi, thiên vị đối với sinh viên vi phạm nội quy thi, kiểm tra.
Nhìn chung, đa số sinh viên ở các khoa không chuyên đều xác định được
sự cần thiết và những lợi ích của môn học. Tuy nhiên, hiệu quả giảng dạy và
học tập bộ môn này vẫn chưa cao, ngoài những nguyên nhân chủ quan do việc
tổ chức giảng dạy của giáo viên, nguyên nhân do nội dung học tập chưa đáp
ứng nhu cầu người học, cách dạy "chay" không thu hút và không gây được
hứng thú cho người học, thì phải nói đến nguyên nhân do ý thức học tập của
các em. Các em ham thích học tin học nhưng thiếu sự tích cực tìm tòi, tự học
cho bản thân mà còn ỷ lại hoàn toàn vào người dạy. Các em chưa nhận thức hết
ý nghĩa và khả năng rộng lớn của tin học mà chỉ thấy những lợi ích đơn giản
trước mắt. Chính những nguyên nhân khách quan và nhận thức chủ quan, chưa
đúng đắn của sinh viên về môn học, đã làm cho thái độ và động cơ học tập bộ
môn chưa tốt và kết quả học tập chưa cao
KẾT LUẬN:
Qua phân tích thực trạng và những nguyên nhân dẫn đến thực trạng công
tác quản lý việc giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên trường cao đẳng sư
phạm. Cho thấy, trong công tác quản lý việc giảng dạy có nhiều ưu điểm mà tổ
bộ môn và các cá nhân giảng viên cần tiếp tục phát huy. Tuy nhiên, cũng cần
khắc phục những tồn tại trong công tác chuyên môn. Xin nêu một số trong
những nguyên nhân chính của thực trạng trên.
Nguyên nhân từ công tác quản lý, chỉ đạo việc tổ chức giảng dạy tin
học ở các lớp không chuyên trường Cao Đẳng sư phạm.
+ Nội dung chương trình tin học cho đối tượng không chuyên ở trường
cao đẳng hiện nay chưa phù hợp với đối tượng người học, chưa đáp ứng nhu
cầu của sinh viên trong học tập và trong thực tiễn công tác. Chương trình môn
học chưa liên thông với các trường trung học cơ sở. Do đó, hiệu quả của dạy
học tin học và thực tập của sinh viên ở trường trung học cơ sở còn thấp.
+ Thời lượng cho môn học hiện quá ít, chỉ có ba đơn vị học trình, đặc biệt
thời lượng dành cho tin học ứng dụng và thực hành trên máy. Với thời lượng
như vậy chưa đáp ứng được kiến thức tin học cơ bản và cần thiết tối thiểu cho
sinh viên, không thể đáp ứng yêu cầu học tập và rèn luyện kỹ năng thực hành,
kỹ xảo máy tính cho sinh viên.
+ Công tác quản lý tổ bộ môn chưa sâu sát và chặt chẽ trong việc kiểm tra
thực hiện qui chế chuyên môn, còn dễ dãi trong công tác đánh giá giảng dạy
của giáo viên.
+ Việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy trong tổ bộ môn chưa
đồng bộ, do năng lực và trình độ hạn chế của một số giảng viên chưa đáp ứng
được trước yêu cầu đổi mới về nội dung, phương pháp giảng dạy.
Nguyên nhân từ việc quản lý, chỉ đạo tổ chức học tập cho sinh viên.
+ Việc tổ chức học tập cho sinh viên chưa được thực hiện tốt, vì vậy sinh
viên nhận thức chưa đúng đắn đối với bộ môn, thường Ỷ lại, và chưa ý thức tự
giác học tập bộ môn.
+ Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên còn đơn điệu, chưa kết
hợp nhiều hình thức kiểm tra, đặc biệt kiểm tra kỹ năng, kỹ xảo. Chính vì vậy,
không khuyến khích sự tích cực, năng nổ của từng cá nhân sinh viên, không
phát hiện được "hạt nhân" giỏi tin học.
+ Ý thức tự học của sinh viên còn kém, đa số các em thường không tự học
bộ môn, thiếu sự chuẩn bị và làm bài tập trước, chỉ trông đến khi lên máy thực
hành mới bắt đầu học.
+ Kỹ năng sử dụng máy tính của sinh viên còn kém, chậm chạp trong
thao tác, xử lý.
Nguyên nhân từ các cơ sở, phương tiện, thiết bị phục vụ cho dạy học bộ
môn.
+ Phòng máy vi tính chưa trang bị đồng bộ, có phòng máy tốt, có phòng
máy kém chất lượng.
+ Cài đặt chương trình trên máy chưa thống nhất, chưa đáp ứng nhu cầu
người học
+ Việc quản lý, sắp xếp máy thực hành chưa đi vào nề nếp và chưa khoa
học, thường bị động giữa các lớp.
+ Tài liệu phục vụ cho giảng viên và sinh viên ở thư viện còn quá ít.
Phần lổn giảng viên tự tìm và mua, còn sinh viên hầu như rất ít đọc.
Trên đây là những nguyên nhân chính có tác động làm hạn chế nhiều đến
việc giảng dạy học tin học ở các lớp không chuyên tại trường Cao Đẳng Sư
phạm Bình Dương, cần phải khắc phục và tìm ra những giải pháp quản lý đúng
đắn để không ngừng nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
3.3.Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý việc giảng
dạy tin học ở các khoa không chuyên trường cao đẳng sư phạm Bình
Dương.
3.3.1.Cải tiến nội dung, chương trình bộ môn tin học cho đối
tượng không chuyên.
Như đã trình bày ở mục I, phần 1 và 2 của chương 3 về thực trạng việc
quản lý mục tiêu môn học. Nội dung, chương trình tin học cho các đối tượng
không chuyên trường cao đẳng sư phạm còn biến động, chưa đáp ứng nhu cầu
cho người học, chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của tin học, và nhu cầu
thực tiễn xã hội. Vì vậy, việc cải tiến nội dung, chương trình môn học cho phù
hợp và có hiệu quả với đối tượng học là một yêu cầu cần thiết và cấp bách cần
được thực hiện.
Cần tổ chức biên soạn đủ giáo trình cho đối tượng các lớp không chuyên,
giáo viên bộ môn, cần thông nhất trong việc biên soạn giáo trình, không để tình
trạng tự biên tự diễn như trước, bởi vì, qua giáo trình dạy học, ngoài việc cung
cấp kiến thức, kỹ năng cho sinh viên còn thể hiện năng lực, phương pháp giảng
dạy của giảng viên và yêu cầu học tập đối với sinh viên. Để làm tốt việc biên
soạn, tổ bộ môn phải họp, thảo luận và lấy ý kiến của các giảng viên, đồng thời
phải có sự kiểm tra và phê duyệt thực hiện của lãnh đạo.
Xã hội hóa tin học, phổ cập tin học đi cùng với xã hội hoa giáo dục, phổ
cập giáo dục. Những kiến thức cần thiết tối thiểu cho phổ cập tin học đòi hỏi
phải tương đương với nội dung, chương trình tin học A, nếu ít hơn thì không
thể nào đáp ứng được nhu cầu sử dụng cho người học. Vì vậy, việc bổ sung
thêm kiến thức, nội dung trong chương trình tin học cho đối tượng không
chuyên trường cao đẳng sư phạm là hết sức cần thiết. Trong giảng dạy bộ môn,
hầu hết các giảng viên đều nhận ra sự khiếm khuyết của nội dung, chương trình
và giảng viên tự cập nhật kiến thức để dạy học, dù kiến thức này chưa có trong
chương trình, nếu không thực hiện điều này, sẽ không tạo sự kích thích, hứng
thú học tập của sinh viên và buổi học trở nên nhàm chán.
cần bổ sung những nội dung cơ bản và cần thiết nhất, để tránh sự lạc
hậu so với sự phát triển. Thí dụ, phải giới thiệu và dạy nội dung của Hệ điều
hành mới nhất cho sinh viên; phải dạy phần mềm với phiên bản mới; cập nhật
nội dung mới chưa có trong chương trình học như Internet, Powerpoint, mạng
máy tính, cùng với hệ thống lệnh, thao tác mới trong dạy học.
Qua phân tích thực trạng nội dung, chương trình, cho thấy, việc cần thiết
phải có một nội dung, chương trình tin học liên thông, xuyên suốt các bậc học,
nhất là chương trình tin học ở cao đẳng và chương trình tin học ở trường trung
học cơ sở. Sự liên thông nội dung, chương trình rất quan trọng trong việc thực
hiện nguyên lý giáo dục " học đi đôi với hành" của sinh viên, tạo điều kiện tốt
cho sinh viên cao đẳng trong quá trình thực tập sư phạm, tránh tình trạng "học
một đàng hành một nẻo", làm hạn chế hiệu quả của các em khi thực tập ở
trường trung học cơ sở.
Cần phải thống nhất trong việc phân bố nội dung, chương trình tin học
trong các khối không chuyên. Hiện nay, nội dung, chương trình chung cho các
lớp không chuyên chưa đồng nhất, có phân biệt giữa các khối lớp về chương
trình học. Sự phân biệt này, chưa hợp lý và với nội dung như vậy chưa thể đáp
ứng một cách đầy đủ về kiến thức, kỹ năng cho người học.
3.3.2.Tăng thời lượng môn học tin học cho đối tượng không
chuyên.
Cải tiến nội dung, chương trình học, có ảnh hưởng nhất định đến thời
lượng môn học. Hiện nay, thời lượng cho chương trình tin học cho các khối lớp
không chuyên chỉ có ba đơn vị học trình. Trong các chỉ thị của Đảng và Nhà
nước đã nêu rất rõ việc phổ cập tin học, phải làm sao cho người học nắm được
những kiến thức tin học cơ bản nhất và phải sử dụng được máy tính. Vì vậy,
với thời lượng chỉ có 45 tiết học, chưa thể đảm bảo hiệu quả cho việc trang bị
kiến thức, kỹ năng cho người học.
Trong bảng khảo sát ý kiến của giảng viên và tham khảo ý kiến của một
số lãnh đạo các phòng, khoa (ở mục 1,1 phần thực trạng) có đến 55.56% ý kiến
cho rằng thời lượng môn học quá ít. Để biết rõ sự cần thiết phải tăng thời lượng
cho bộ môn tin học, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của các giáo viên trong
tổ về các mức độ như sau: Rất cần thiết, cần thiết, tương đối cần thiết, hoàn
toàn không cần thiết.
Trong 9 ý kiến của giảng viên thì có 44.45% ý kiến cho rằng rất cần thiết
bổ sung thời lượng cho môn học, 33.33% ý kiến cần thiết, 22.22% tương đối
cần thiết, không có ý kiến nào cho là không cần thiết, M= 3.2, có thể khẳng
định ý kiến cho việc cải tiến thời lượng cho môn học là khá cần thiết được bổ
sung. Tuy nhiên, để bổ sung số lượng đơn vị học trình cho phù hợp với khung
thời gian đào tạo chung và phù hợp với nhu cầu học tập của sinh viên là vấn đề
cũng cần được tham khảo.
Chúng tôi tiến hành tham khảo ý kiến của giảng viên về số thời lượng cần
thiết bổ sung cho môn học qua bảng sau:
Trong bảng khảo sát này, có 55.56% ý kiến đề xuất tăng thời lượng lên 5
đơn vị học trình, có 33.33% ý kiến đề xuất 6 đơn vị học trình, có 11.11% ý kiến
đề xuất 4 đơn vị học trình và không có ý kiến nào ba đơn vị học trình. Với M=
1.8, cho thấy, ý kiến của giáo viên tập trung ở mức độ 5 đến 6 đơn vị học trình.
Việc tăng thời lượng môn học lên 6 đơn vị học trình bằng 90 tiết, tương đương
với chương trình tin học cơ bản trình độ A là chương trình cần thiết cho phổ
cập tin học cơ bản hiện nay.
Việc cải tiến nội, dung chương trình, và tăng thời lượng như trên sẽ
đem lại những thuận lợi thiết thực cho công tác giảng dạy và học tập bộ môn
như sau:
- Giảng viên có đủ thời gian và điều kiện để trang bị kiến thức, cập nhật
kiến thức mới cho sinh viên một cách hợp lý, không vi phạm qui chế chuyên
mồn, giảng viên chủ động được thời gian trong việc chọn lọc tri thức, phương
pháp giảng dạy, và tổ chức học tập, kiểm tra, đánh giá học sinh một cách toàn
diện và chính xác.
- Sinh viên có nhiều thời gian hơn trong việc rèn luyện kỹ năng thực hành
và kỹ xảo máy tính.
Tin học trình độ A hiện nay, là nhu cầu phổ biến của mọi người, yêu
cầu tối thiểu cho việc phổ cập tin học, hàng năm sinh viên trường cao đẳng thi
lấy chứng chỉ A tin học với số lượng khá lớn. Với nội dung, thời lượng 6 đơn
vị học trình (90 tiết), sinh viên những lớp không chuyên có thể thi lấy chứng
chỉ tin học Quốc gia trình độ A một cách dễ dàng mà không phải học thêm điều
gì khác, không phải tốn chi phí cho việc học tập nào khác.
Như vậy, việc cải tiến nội dung, chương trình và thời lượng môn tin học
cho các lớp không chuyên trường cao đẳng sẽ đem lại nhiều lợi ích thiết thực
cho sinh viên. Chính điều đó, sẽ làm tăng giá trị, ý nghĩa của môn học, kích
thích tư duy người học, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đào tạo chung của
nhà trường và giảm thiểu được chi phí đào tạo.
3.3.3.Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo chuyên môn đối với
tổ bộ môn.
- Chất lượng dạy học bộ môn có đạt cao hay không cũng phụ thuộc một
phần lớn ở công tác quản lý. Do đó, tổ bộ môn tin học cần phải phát huy hơn
nữa trong việc quản lý hoạt động chuyên môn của tổ, từ khâu soạn giảng, phân
công chuyên môn, đến khâu lên lớp, việc thực hiện phương pháp giảng dạy của
giảng viên. Dự giờ, thăm lớp cần phải được tổ chức thường xuyên, vì qua đó,
có thể nắm bắt tình hình học tập của sinh viên và kịp thời giải quyết các phản
ánh của các em, đồng thời biết được tình hình thực hiện qui chế chuyên môn
của từng giảng viên để có biện pháp giúp đỡ.
Tổ bộ môn cần thẳng thắn trong cách nhìn nhận, đánh giá ưu, khuyết
điểm của từng giảng viên, không quá khắt khe, nhưng không quá dễ dãi. Gần
gũi, động viên kịp thời những giáo viên có hoàn cảnh khó khăn, công bằng
trong xếp loại đánh giá thi đua. Tổ bộ môn phải có kế hoạch sinh hoạt định kỳ,
hội thảo các chuyên đề về phương pháp giảng dạy, cách xây dựng phương án
dạy từng bài cụ thể, động viên các giảng viên trong tổ tích cực tham gia thi
giáo viên dạy giỏi, khuyến khích giáo viên sử dụng tối đa các phương tiện, thiết
bị hiện đại trong giờ dạy, tránh hiện tượng dạy "chay" không sử dụng phương
tiện dạy học.
3.3.4.Nâng cấp, bổ sung cơ sở vật chất và các phương tiện phục
vụ dạy học
Để tiến tới xây dựng trường cao đẳng thành một trường trọng điểm của
tỉnh có cơ sở vật chất đạt tiêu chuẩn hiện đại hoa theo qui định của Bộ, trường
cao đẳng cần phải chỉnh trang cơ sở trường lớp, đầu tư thêm các trang thiết bị
phục vụ giảng dạy.
Cần thiết kế xây dựng các phòng thực hành máy tính đúng qui cách và
đồng bộ về diện tích sử dụng, về trang bị máy vi tính. Tránh tình trạng trang bị
không đồng đều giữa các phòng máy, làm hạn chế hiệu quả giảng dạy của
giảng viên và học tập của sinh viên.
Trang bị thêm máy vi tính mới cho các phòng máy. Nâng cấp, sửa chữa
kịp thời các máy tính hư hỏng. Nhanh chóng cập nhật chương trình mới và cài
đặt bổ sung các phần mềm đã bị hỏng, bị mất
Tăng cường hệ thống chiếu sáng, trang bị thêm máy điều hoa nhiệt độ,
các thiết bị phụ trợ phục vụ dạy học.
Cơ cấu lớp phải hợp lý. (Theo tiêu chuẩn qui định của Bộ Giáo dục- Đào
tạo một giáo viên hướng dẫn 20 học sinh)
Tăng cường thêm cán bộ quản lý phòng máy vi tính
Tăng cường thêm máy in, scan, đèn chiếu, projector cho phòng máy để
sinh viên tiếp cận và học tập.
Củng cố và cải tiến lại công tác quản lý phòng máy vi tính. Các phương
tiện, thiết bị phục vụ dạy học nên tập trung về một đầu môi. Cán bộ quản lý
phải có kế hoạch cụ thể về lịch thực hành máy tính của toàn bộ các lớp, tránh
trường hợp chủ quan dẫn đến việc sắp xếp thực hành chồng chéo nhau giữa các
lớp. Nên ưu tiên cho các lớp chính khoa tại trường, vì kế hoạch của giảng viên
thực hiện theo chương trình qui định của Bộ, mọi sự luân chuyển đều trái với
qui chế chuyên môn.
3.3.5.Tăng cường cải tiến phương pháp dạy học theo hướng giao
tiếp tích cực.
Một trong những nhân tô" làm cho quá trình dạy học có chất lượng cao
là do phương pháp dạy của người thầy và phương pháp học tập của trò. Đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp tích cực và sử dụng các
phương tiện, thiết bị hiện đại trong dạy học là vấn đề được xã hội và ngành
giáo dục quan tâm. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001- 2010, đã chỉ
rõ phương hướng đổi mới phương pháp dạy học: "Đổi mới và hiện đại hoa
phương pháp dạy học chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng
trò ghi, sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri
thức. Dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách
có hệ thống và có tư duy phân tích tổng hợp; phát triển được năng lực cá nhân,
tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình
học tập..."
Nhằm biến chủ trương thành hiện thực, tổ bộ môn cần có nhiều giải
pháp đồng bộ như sau:
Tăng cường vai trò của tổ bộ môn ương việc chỉ đạo, vận động thực hiện
đổi mới phương pháp dạy học. Tổ chức bồi dưỡng phương pháp dạy học cả về
lý thuyết và thực tiễn cho các giảng viên trong tổ.
Đổi mới phương pháp dạy học bắt đầu từ những tiết học cụ thể đến học
trình, học phần, tạo điều kiện vật chất và tinh thần cho tổ.
Khắc phục lối truyền thụ cổ truyền, một chiều, nâng cao vai trò tự chủ,
sáng tạo, tích cực của người học.
-Tổ chức thuyết trình và seminar theo nhóm có sự hướng dẫn của giáo
viên. Seminar là hình thức dạy học cơ bản trong các trường đại học và cao
đẳng, một hình thức học tập rất hào hứng đối với sinh viên.
Chú trọng nhiều hơn nữa trong việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo máy tính
cho sinh viên
Tăng cường hoạt động ngoại khoa tin học và tổ chức các buổi thi tin học
giỏi trong sinh viên, nhằm kích thích sự ham thích học hỏi, khám phá của các
em đối với môn học và tạo điều kiện nâng cao kết quả học tập.
Thực hiện tốt các phương pháp, hình thức dạy học nói trên, đòi hỏi giảng
viên phải có trình độ, năng lực vững vàng và phải có kinh nghiệm thực tiễn về
kiến thức liên ngành.
3.3.6.Tăng cường kiểm tra, đánh giá và hướng dẫn hoạt động
học tập của sinh viên
Thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục ở cao đẳng tất yếu
phải đổi mới kiểm tra, đánh giá. Kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng của quá
trình dạy học, không chỉ giúp giảng viên nắm thực trạng học của sinh viên mà
còn giúp giảng viên định hướng hoạt động dạy của chính mình.
Kiểm tra, đánh giá ở cao đẳng vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính
khách quan và có liên quan đến một loạt vấn đề nhạy cảm, về đội ngũ giáo
viên, nội dung, chương trình, phương pháp, mục tiêu và phương tiện kiểm tra,
đánh giá.
Việc kiểm tra, đánh giá tốt là một trong những giải pháp quan trọng
không những giúp sinh viên hình thành thái độ tích cực trong học tập và đạt
hiệu quả học tập cao hơn mà còn giúp cho sinh viên đánh giá được hiệu quả
việc học của mình. Qua đó, củng cố niềm tin, đức tính trung thực cho sinh viên
và làm lành mạnh, trong sạch môi trường sư phạm, góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học trong nhà trường cao đẳng. Vì vậy, mọi giảng viên trong tổ
bộ môn tin học phải thật nghiêm túc từ khâu ra đề đến khâu coi, chấm thi và
lên điểm số. Kiểm tra, đánh giá phải bám sát mục tiêu, nội dung, chương trình,
phương pháp, kỹ thuật, cần kết hợp nhiều hình thức kiểm tra: về kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo, thái độ đối với bộ môn.
Cần kết hợp nhiều hình thức kiểm tra, đặc biệt là kỹ năng, kỹ xảo. Tránh
các hiện tượng dễ dãi, hình thức, thiên vị hay chiếu lệ. Muốn làm tốt công tác
kiểm tra, đánh giá, tổ bộ môn cần nâng cao vai trồ của mình trong việc xét
duyệt cách biên soạn, ra đề thi, kiểm tra; nghiêm túc kiểm điểm, nhắc nhở
những trường hợp giảng viên còn xem nhẹ, thiếu trách nhiệm trong việc tổ
chức kiểm tra, đánh giá.
Việc kiểm tra, đánh giá là một trong những trọng trách của giảng viên, đòi
hỏi phải thực hiện thật nghiêm túc, khách quan, và trung thực, có chất lượng.
Việc hướng dẫn học tập cho sinh viên là một trong những nhiệm vụ
quan trọng trong dạy học ở cao đẳng. Như nhận xét ở phần thực trạng về ý thức
học tập của sinh viên và việc hướng dẫn học tập cho sinh viên, cho thấy, đa số
sinh viên đều ham thích học tập đối với bộ môn tin học, các em cho rằng môn
học rất cần thiết và có nhiều lợi ích cho bản thân. Song, kết quả học tập của các
em vẫn chưa cao.
Qua tìm hiểu, một trong những nguyên nhân làm hạn chế kết quả học tập
của các em thì có nguyên nhân do chủ quan người dạy chưa quan tâm sâu sát
đến việc hướng dẫn học tập cho sinh viên. Trong bảng 16 về hướng dẫn học tập
cho sinh viên ở phần thực trạng, có 46.01% giảng viên ít khi hướng dẫn cách
học cho sinh viên, và có đến 26.06% hoàn toàn chưa bao giờ hướng dẫn học
tập cho sinh viên.
Để nâng cao kết quả học tập của sinh viên, tổ bộ môn sẽ khắc phục những
tồn tại trên và nâng cao hơn nữa vai trò của công tác quản lý, quán triệt sâu sắc
những nhiệm vụ dạy học đối với từng giảng viên trong tổ bộ môn, tăng cường
công tác kiểm tra chuyên môn, nghiêm khắc xử lý những trường hợp sai phạm
của giảng viên thiếu trách nhiệm, vi phạm qui chế chuyên môn. Đồng thời tiếp
tục tăng cường hơn nữa công tác hướng dẫn học tập cho sinh viên, phát huy
năng lực tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo của các em đối với bộ môn,
góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy của giảng viên và kết quả học tập của
sinh viên.
3.3.7.Nâng cao trình độ, năng lực của giảng viên trong tổ bộ môn
Chất lượng giáo dục là một vấn đề luôn được xã hội quan tâm. Chất lượng
giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, yếu tố có vai trò quyết định
hàng đầu là giáo viên (GV). Vì vậy, nước ta đang xây dựng đề án " Xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục" với mục
tiêu: "phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và
chuẩn về chất lượng, đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất
lượng, hiệu quả của giáo dục đào tạo....Đây được xem như là một chiến lược
phục vụ cho việc thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 của nước
ta".
Chất lượng giáo dục và quản lý chất lượng ở cao đẳng sư phạm hiện nay,
trong bối cảnh đổi mới giáo dục, đổi mới nội dung, chương trình và phương
pháp giảng dạy, được xem là yếu tố hàng đầu để nâng cao năng lực trí tuệ của
sinh viên, do vậy, giảng viên và cán bộ quản lý phải làm tốt hơn nhiệm vụ của
mình trong việc hướng dẫn người học con đường tìm kiếm tri thức ; không
ngừng cải tiến, đổi mới quản lý đội ngũ giảng viên để nâng cao chất lượng đào
tạo cao đẳng ngày được tốt hơn.
Mỗi cán bộ giảng viên trong tổ bộ môn tin học không ngừng học tập, hội
thảo chuyên môn để nâng cao trình độ và nghiệp vụ chuyên môn.
Tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên tham gia vào các lớp học, khoa
học bồi dưỡng các chuyên đề tin học do ngành giáo dục, sở khoa học công
nghệ tỉnh và thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.
Giảng viên tăng cường năng lực tự học, phải thường xuyên cập nhật kiến
thức mới về khoa học, công nghệ và không ngừng cải tiến, đổi mới phương
pháp dạy học bộ môn, phát huy hết khả năng của cá nhân trong việc giảng dạy
để thu hút mọi tiềm năng người học.
Giảng viên trong tổ bộ môn có tuổi đời trên 40 tuổi, chiếm tỉ lệ 41.17%,
dưới 40 tuổi chiếm tỉ lệ 11.76%. Thâm niên nghề nghiệp trên 20 năm chiếm
47.05%, trong đó thâm niên dạy tin học li năm chiếm 64.70%, dưới 5 năm
chiếm 5.88%. Hầu hết giảng viên đều có năng lực và có tinh thần trách nhiệm
trong công tác dạy học.
-Trong những năm tới trường Cao Đẳng Sư phạm Bình Dương sẽ nâng
cấp lên Đại học Bình Dương, nếu tính theo tiêu chí đánh giá chất lượng và điều
kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, thì tỉ lệ cán bộ giảng viên có học vị Tiến sĩ,
Thạc sĩ của tổ bộ môn tin học chưa đạt yêu cầu. Vì vậy, việc học tập nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đối với giảng viên trong tổ tin học là một yêu
cầu cấp bách, đòi hỏi mỗi giảng viên phải có ý thức trách nhiệm trong việc tự
bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ của bản thân mình. Bên cạnh đó, lãnh đạo nhà
trường cũng cần quan tâm hơn nữa trong việc xây dựng đội ngũ đạt trình độ
theo qui chuẩn của Bộ Giáo dục- Đào tạo, có biện pháp cử giảng viên đi học
nâng cao trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ để đáp ứng nhu cầu mới của nhà trường trong
việc thực hiện chương trình đào tạo và chất lượng đào tạo.
3.4.Thực nghiệm đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp
dạy học theo hướng giao tiếp tích cực phát huy năng lực học sinh.
3.4.1.Mục đích thực nghiệm:
Mục đích của việc thực nghiệm là tìm hiểu hiệu quả của việc áp dụng các
giải pháp tác động đã đề xuất.
Trong điều kiện và thời gian có hạn, nên trước mắt chỉ thực hiện thực
nghiệm hai giải pháp tác động đó là: Việc cải tiến nội dung, chương trình bộ
môn (PL 5) và phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp tích cực, phát huy
năng lực người học.
3.4.2.Cách tiến hành thực nghiệm:
Chọn nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
Nhóm thực nghiệm gồm: 42 sinh viên lớp Thể dục và 36 sinh viên lớp Lý
Nhóm đối chứng gồm: 45 sinh viên lớp Sử và 51 sinh viên lớp Địa Hoa
Thời gian thực hiện:
Thực nghiệm lần 1 vào tháng 11/2003
Thực nghiệm lần 2 vào tháng 4/2004 (sau khi tác động)
Đo các thông số trước thực nghiệm và sau thực nghiệm:
Nhận xét của sinh viên về nội dung chương trình
Đo ý thức của sinh viên đối với việc học bộ môn
Tìm hiểu hứng thú học tập của sinh viên đối với bộ môn.
Nhận xét của sinh viên về phương pháp giảng dạy của giáo viên
Kết quả học tập của sinh viên sau thực nghiệm
Nội dung thực nghiệm
a- Đối với nhóm thực nghiệm. - Trước thực nghiệm:
Tiến hành lấy ý kiến, đo ý thức của sinh viên về nội dung, chương trình
môn học; ý thức học tập, hứng thú của các em đối với bộ môn tin học, nhận xét
của các em về phương pháp giảng dạy của giáo viên và trình độ, khả năng sử
dụng tin học của các em trước khi tiến hành thực nghiệm. Phiếu thực nghiệm
gồm 5 câu hỏi. số phiếu phát ra và thu vào 78 phiếu, các phiếu đều hợp lệ ( phụ
lục 3 ). Áp dụng hai giải pháp tác động:
Tiến hành áp dụng hai giải pháp cải tiến về nội dung, chương trình (PL 5)
và dạy học theo phương pháp giao tiếp tích cực, cùng với việc sử dụng phương
tiện hiện đại. Chọn hai giáo viên thực hiện giảng dạy ở lớp Thể dục và lớp Lý
trong năm 2003 và 2004 và tổ bộ môn tổ chức dự giờ, nhận xét, đánh giá giờ
dạy và rút kinh nghiệm.
Sau khi thực nghiệm ( với hai giải pháp cải tiến ):
Tiến hành đo lại các thông số đã đề ra như ở thời điểm trước khi tiến hành
thực nghiệm. Với phiếu thực nghiệm gồm 5 nội dung ( ở phụ lục 3). số phiếu
phát ra và thu vào là 78 phiếu, đều hợp lệ.
b- Đối với nhóm đối chứng. Trước thực nghiệm:
Cùng với nhóm thực nghiệm, tiến hành khảo sát ở nhóm đối chứng, lấy ý
kiến, đo ý thức của sinh viên về nội dung, chương trình môn học, ý thức học
tập; hứng thú của các em đối với bộ môn tin học, nhận xét của các em về
phương pháp giảng dạy của giáo viên và trình độ, khả năng sử dụng tin học của
các em trước khi tiến hành thực nghiệm. Phiếu thực nghiệm gồm 5 câu hỏi (
phụ lục 3 ). số phiếu phát ra và thu vào 96 phiếu, các phiếu đều hợp lệ.
Sau thực nghiệm:
Tiến hành khảo sát ý kiến cùng thời gian với nhóm thực nghiệm sau khi
đã thực nghiệm. Với nội dung như nhóm thực nghiệm ( phụ lục 3). số phiếu
phát ra và thu vào 96 phiếu, đều hợp lệ.
Xử lý số liệu:
Sử dụng phần mềm SPSS for win 10.5 để tính toán và kiểm nghiệm sự
khác biệt về kết quả của từng nhóm ở các thời điểm.
+ Nhóm thực nghiệm và đối chứng trước khi thực nghiệm + Nhóm thực
nghiệm và đối chứng sau khi thực nghiệm + Nhóm thực nghiệm ở thời điểm
trước và sau khi thực nghiệm + Nhóm đối chứng ở thời điểm trước và sau khi
thực nghiệm
Cách nhận xét: Nếu p< .005 là có sự khác biệt ý nghĩa, p càng nhỏ thì
càng có sự khác biệt ý nghĩa càng lớn.
3.3.3.Kết quả thực nghiệm.
a- Nhận xét của sinh viên ở các lớp không chuyên về nội dung, chương
trình bộ môn tin học.
Để tìm hiểu nhận xét của sinh viên về nội dung, chương trình bộ môn,
chúng tôi đưa ra bốn mức độ: Rất phù hợp, khá phù hợp, chưa phù hợp, không
phù hợp. Kết quả được trình bày kết quả ở bảng 23.
Nhóm thực nghiệm:
Ở thời điểm trước thực nghiệm, có đến 80.0% ý kiến sinh viên cho rằng
nội dung, chương trình bộ môn tin học như hiện nay chưa phù hợp với nhu cầu
thực tế của các em, chỉ có 1.3% ý kiến cho rằng nội dung, chương trình rất phù
hợp và 17.9% ý kiến cho là khá phù hợp. Nhưng sau thực nghiệm, nhận xét về
nội dung chương trình môn học có sự thay đổi, tỉ lệ ý kiến về nội dung chương
trình rất phù hợp đã tăng lên 26.9%, khá phù hợp tăng lên 57.7%; ý kiến nhận
xét chưa phù hợp từ 80% giảm xuống chỉ còn 15.4%. Chứng tỏ rằng, sau khi
thực nghiệm, các giải pháp tác động đã có hiệu quả.
Nhóm đối chứng:
Qua hai lần khảo sát ở thời điểm trước thực nghiệm và sau thực nghiệm, ý
kiến của sinh viên nhận xét về nội dung, chương trình bộ môn không có sự
khác biệt đáng kể, ở mức độ nhận xét rất phù hợp biến động nhỏ từ 2.1% đến
3.1%; mức độ khá phù hợp từ 18.8% đến 19.8%; mức độ chưa phù hợp giảm
nhẹ từ 79.2% xuống 77.1%
So sánh (1) và (3), giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng ở thời
điểm trước thực nghiệm, cho thấy ở nhóm thực nghiệm có M= 2.21, nhóm đối
chứng M= 2.23, và p= .910 (PL 5, bảng 3). Căn cứ vào chuẩn của p, nếu p<
.005 là có sự khác biệt ý nghĩa, p càng nhỏ thì sự khác biệt càng lớn và ngược
lại. Ở đây, p = .910, biểu hiện không có sự khác biệt đáng kể, chứng tỏ rằng
không có tác động của giải pháp thực nghiệm, thì nhận xét của sinh viên vẫn
như trạng thái cũ.
So sánh (1) và (2) của nhóm thực nghiệm, có sự thay đổi đáng kể sau khi
tiến hành thực nghiệm, độ lệch biểu hiện rõ giữa hai thời điểm, trước thực
nghiệm M= 2.21, sau thực nghiệm M= 3.16, và p= .000, cho thấy có sự khác
biệt rất lớn. Chứng tỏ rằng, sau khi thực nghiệm đã làm cho nhận xét của sinh
viên về chương trình học đã khác, có đến 57.7% sinh viên đã thấy chương trình
tin học đã khá phù hợp hơn trước.
So sánh (3) và (4) của nhóm đối chứng trước thực nghiệm và sau thực
nghiệm, do không có tác động của các giải pháp cải tiến, nên ý kiến nhận xét
của sinh viên gần như không có gì thay đổi, độ chênh nhau giữa hai thời điểm
rất thấp (M=2.23 đến M=2.26), và p=< .881. Căn cứ vào chuẩn p, thì không có
sự khác biệt đáng kể.
So sánh (2) và (4) giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng cùng ở thời
điểm sau thực nghiệm. Độ lệch của hai nhóm chênh nhau khá lớn, M= 3.12 ở
nhóm thực nghiệm, trong khi đó, ở nhóm đối chứng M= 2.26; và p= .000 (PL
5, bảng 4). Căn cứ vào chuẩn p, ta thấy có sự khác biệt rất lớn, và đã minh
chứng khách quan hiệu quả của các giải pháp tác động .
Từ những kết quả đã so sánh và phân tích trên, đã khẳng định hiệu quả
của thực nghiệm, với những tác động rất thiết thực của nội dung, chương trình
học, đã làm thay đổi nhận thức của sinh viên đối với môn học. Vì vậy, việc cải
tiến nội dung, chương trình tin học cho phù hợp với đối tượng không chuyên là
một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách, cần phải thực hiện tốt, nhằm
trang bị cho sinh viên vốn kiến thức cơ bản nhất, hiện đại nhất, giúp sinh viên
tiếp cận với công nghệ tiên tiến, có thể sử dụng được kiến thức tin học trong
học tập, trong công tác và đáp ứng được nhu cầu phát triển của kinh tế, xã hội.
b- Ý thức tự học của sinh viên đối với bộ môn.
Để tìm hiểu và đánh giá ý thức tự tìm tòi, học hỏi của sinh viên ở các lớp
không chuyên đối với bộ môn tin học, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của
sinh viên qua câu hỏi: Theo cá nhân bạn, có bao giờ bạn tự tìm tòi, học hỏi đối
với môn học tin học không ? với ba mức độ: Thường xuyên, ít khi, hoàn toàn
không.
Kết quả trình bày ở bảng 24.
-Ở nhóm thực nghiệm:
- Trước khi thực nghiệm, ở mức độ thường xuyên học tập đối với bộ môn
chỉ 14.1%; ở mức độ ít khi tự học có đến 60.3%, và hoàn toàn không tự học, có
đến 25.6%. Nhưng sau khi thực nghiệm, mức độ thường xuyên học tập đã tăng
lên 62.8%. Bên cạnh đó, tỉ lệ sinh viên trước đây ít có ý thức học tập bộ môn từ
60.3% đã giảm xuống còn 28.2%. số sinh viên hoàn toàn không tự học bộ môn
trước đây 25.6% nay cũng giảm xuống chỉ còn 9.0%. Chứng tỏ rằng, sự tác
động của các giải pháp thực nghiệm đã có hiệu quả, đã làm thay đổi nhận thức
của sinh viên, các em đã có ý thức tự học đối với bộ môn hơn.
-Ở nhóm đối chứng :
Qua hai lần khảo sát, về ý thức tự học bộ môn của sinh viên ở hai thời
điểm trước thực nghiệm và sau thực nghiệm, nhận thấy rằng, tự nhận xét về ý
thức tự học của các em gần như nhau, tỉ lệ chênh nhau giữa hai thời điểm theo
chiều hướng tích cực nhưng không lớn lắm, chỉ vài phần trăm ở các mức độ:
Thường xuyên tự học từ 16.7%- 21.9%; ít khi tự học, giảm từ 57.3%- 53.1%;
hoàn toàn không tự học giảm từ
26.0%- 25.0%. Chứng tỏ rằng, khi không có giải pháp tác động tích cực,
thì không làm thay đổi nhận thức của các em đối với bộ môn.
So sánh (1) và (3), ở thời điểm trước thực nghiệm giữa hai nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng, cho thây rõ, không chênh nhau lắm. Nhóm thực
nghiệm có M= 1.88, nhóm đối chứng M= 1.91 và p = .883 (PL 5, bảng 3). Căn
cứ vào chuẩn p, không có sự khác biệt ý nghĩa.
So sánh (1) và (2) giữa nhóm thực nghiệm ở thời điểm trước và sau khi
thực nghiệm về ý thức tự học bộ môn của sinh viên. Trước thực nghiệm M=
1.88, nhưng sau thực nghiệm M= 2.54, và p= .000. Căn cứ vào chuẩn p, có sự
khác biệt đáng kể.
So sánh (3) và (4) của nhóm đối chứng trước và sau khi thực nghiệm, do
không có giải pháp tác động nào qua hai lần khảo sát, do đó, nhận xét về ý thức
học tập của sinh viên hầu như không thay đổi mấy, trước thực nghiệm độ M =
1.91, sau thực nghiệm M= 1.97, và p= .655. Căn cứ vào chuẩn của p, thì không
có sự khác biệt ý nghĩa.
So sánh (2) và (4) giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng, cùng thời
điểm sau khi thực nghiệm, cho thấy, độ chênh lệch khá cao giữa hai nhóm:
nhóm thực nghiệm sau khi tiến hành thực nghiệm M= 2.54, trong khi đó, nhóm
đối chứng sau thực nghiệm M= 1.97, và p= .000 (PL 5, bảng 4). Căn cứ vào
chuẩn của p, ta thấy có sự khác biệt ý nghĩa sau khi thực nghiệm.
Từ các so sánh và nhận xét trên, có thể kết luận, chỉ khi có những giải
pháp tích cực, phù hợp với nhu cầu của sinh viên mới có thể tác động làm biến
chuyển nhận thức và thái độ của sinh viên đối với bộ môn. c- Khảo sát về sự
hứng thú học tập của sinh viên đối với bộ môn.
Tim hiểu về hứng thú học tập của sinh các khoa không chuyên đối với
việc học tập tin học, chúng tôi đưa ra bốn mức độ: Rất hứng thú, khá hứng thú,
ít hứng thú và hoàn toàn không hứng thú. Kết quả nghiên cứu được trình bày
ở bảng 25.
-Nhóm thực nghiệm.
Trước thực nghiệm, ý kiến rất hứng thú học tập của sinh viên có tỉ lệ
14.1%, tỉ lệ khá hứng thú li.5%. Nhưng sau thực nghiệm, tỉ lệ này tăng lên
đáng kể, rất hứng thú có đến 39.7%, khá hứng thú tăng lên 34.6%, ngược lại tỉ
lệ trước đây ít hứng thú với môn học có 41.0% đã giảm xuống chỉ còn 14.1%
và tỉ lệ hoàn toàn không hứng thú với môn học 33.3% cũng giảm xuống còn
11.5%. Chứng tỏ, sự tác động của các giải pháp thực nghiệm có hiệu quả.
-Nhóm đối chứng.
Ở hai thời điếm trước và sau thực nghiệm, do không có giải pháp tác động
nên nhận xét về hứng thú học tập bộ môn của các em hầu như không thay đổi,
độ chênh lệch ở hai thời điểm rất nhỏ, tỉ lệ tăng, giảm không đáng kể, từ 13.5%
lên 14.6% và giảm từ 40.6% - 40%.
So sánh (1) và (3) giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng cùng ở thời
điểm trước thực nghiệm. Do không có giải pháp tác động nào nên nhận xét cả
hai nhóm không có sự chênh lệch đáng kể. ở nhóm thực nghiệm M= 2.06,
nhóm đối chứng có M= 2.34, và p= .946 (PL 5, bảng 3). Căn cứ vào chuẩn của
p, ta thấy không có sự khác biệt ý nghĩa.
So sánh giữa (1) và (2) của nhóm thực nghiệm ở thời điểm trước và sau
thực nghiệm, cho thấy, M= 2.06 trước thực nghiệm, nhưng sau thực nghiệm
M= 3.03, và có p= .000, chứng tỏ có sự khác biệt ý nghĩa.
Ở nhóm đối chứng, trong hai thời điểm trước và sau khi thực nghiệm do
không có giải pháp tác động, độ trung bình của hai lần khảo sát gần tương
đương nhau, M= 2.10 và M= 2.17, có p= .971, không có sự khác biệt ý nghĩa.
So sánh (2) và (4) của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng ở thời điểm
sau khi thực nghiệm, có độ chênh lệch rõ, nhóm thực nghiệm có M= 3.03 và
nhóm đối chứng có M= 2.17, và p= .000 (PL 5, bảng 4). Có sự khác biệt đáng
kể.
Qua so sánh và phân tích trên, đã khẳng định được hiệu quả của thực
nghiệm, đã đem lại rất nhiều hứng thú học tập cho sinh viên đối với bộ môn tin
học. Hứng thú học tập của sinh viên là một trong những nhân tố quan trọng để
góp phẫn nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn trong giai đoạn đổi mới công
tác đào tạo hiện nay.
d- Nhận xét của sinh viên về phương pháp giảng dạy
Để khảo sát ý kiến nhận xét của sinh viên về phương pháp giảng dạy của
giảng viên bộ môn tin học, chúng tôi đưa ra bốn mức độ lựa chọn: rất lôi cuốn
người học, khá lôi cuốn, chưa lôi cuốn người học và hoàn toàn không lôi cuốn.
Kết quả trình bày ở bảng 26.
- Đối với nhóm thực nghiệm
- Trước thực nghiệm, chỉ có 14.1% ý kiến về phương pháp dạy học của
giáo viên rất lôi cuốn người học, nhưng sau khi thực nghiệm thì tỉ lệ này tăng
lên đáng kể tới 30.8% ý kiến, ở mức độ khá lôi cuốn có 21.8% ý kiến, nhưng
sau thực nghiệm có đến 48.7% ý kiến. Ngược lại, ý kiến cho rằng phương pháp
dạy học chưa Lôi cuốn người học từ 46.2% giảm xuống đáng kể, còn 14.1%',
tương tự, ở mức độ hoàn toàn không lôi cuốn có 17.9% ý kiến đã giảm chỉ còn
6.4% ý kiến. Sự thay đổi của tỉ lệ trên, chứng tỏ rằng, với các giải pháp tác
động của thực nghiệm đã thu hút sinh viên trong học tập bộ môn tin học
- Đối với nhóm đối chứng:
Do không có giải pháp tác động nào, nến qua hai lần khảo sát các ý kiến
nhận xét của sinh viên tương tự như nhau, tỉ lệ chênh nhau không đáng kể.
So sánh (1) và (3) của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng ở thời điểm
trước thực nghiệm. Qua kiểm nghiệm độ M của hai nhóm không chênh nhau
lắm, nhóm thực nghiệm có M= 2.32, nhóm đối chứng có M= 2.34, và p= .947
(PL 5, bảng 3) căn cứ vào chuẩn của p, thì không có sự khác biệt ý nghĩa.
So sánh (1) và (2) của nhóm thực nghiệm ở thời điểm trước và sau thực
nghiệm, có sự chênh lệch đáng kể, trước thực nghiệm M= 2.32, sau thực
nghiệm M= 3.04, và p= .000. Chứng tỏ rằng có sự khác biệt ý nghĩa sau khi
tiến hành thực nghiệm.
So sánh (3) và (4) của nhóm đối chứng ở thời điểm trước thực nghiệm độ
M= 2.34 và sau thực nghiệm và M= 2.44, ta thấy tỉ lệ chênh lệch không đáng
kể, và p= .845. Căn cứ vào chuẩn của p, cho thấy không có sự khác biệt ý
nghĩa.
So sánh ( 2) và (4) của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng ở cùng một
thời điểm sau thực nghiệm, thì nhóm thực nghiệm có M= 3.04, nhóm đối
chứng M= 2.44, và p= .000 (PL 5, bảng 4), có sự khác biệt rất lớn, đã chứng
minh thực nghiệm có hiệu quả .
Qua so sánh, phân tích số liệu các ý kiến nhận xét của sinh viên về
phương pháp giảng dạy bộ môn giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng ở
thời điểm trước và sau thực nghiệm, ta thấy có sự khác biệt rõ rệt nhất của
nhóm thực nghiệm sau khi thực nghiệm, còn lại ở các thời điểm khác hầu như ý
kiến không thay đổi mấy. Điều đó, chứng tỏ rằng, giải pháp thực nghiệm
phương pháp giảng dạy theo hướng giao tiếp tích cực đã có hiệu quả đáng kể.
Với phương pháp giảng dạy theo hướng giao tiếp tích cực, người học được
hướng dẫn trực tiếp trên máy tính, thầy giáo có thể phát hiện và giúp sinh viên
sửa chữa ngay những sai sót trong quá trình xử lý và thao tác.
Từ kết quả sau thực nghiệm của nhóm thực nghiệm, đã chứng minh sinh
viên rất hài lòng với phương pháp dạy học tích cực như trên và đã có nhận thức
môn học khác hẳn so với trước đây. Vì vậy, để mang lại hiệu quả cao trong dạy
học tin học, nhất thiết phải cải tiến phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp
tích cực, để phát huy năng lực sáng tạo của sinh viên, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học bộ môn.
e- Đánh giá kết quả học tập bộ môn của sinh viên.
Đe có cơ sở nhận xét, đánh giá chính xác và khách quan kết quả học tập
tin học của sinh viên ở các lớp không chuyên, chúng tôi tiến hành khảo sát ý
kiến tự đánh giá kết quả học tập của các em với các mức độ: Rất tốt, khá tốt,
chưa tốt lắm, hoàn toàn chưa tốt. Kết quả được trình bày ở bảng 27.
Ở nhóm thực nghiệm, tại thời điểm trước thực nghiệm: ý kiến tự đánh giá
của sinh viên về trình độ sử dụng tin học rất tốt chỉ có 10.3%, nhưng sau thực
nghiệm tỉ lệ tự nhận xét này đã nâng lên rõ rệt có đến 39.7% ý kiến, ở mức độ
tự đánh giá khá tốt chỉ có 15.4%, sau thực nghiệm thì ý kiến đó đã tăng lên
25.6%; ở mức độ tự đánh giá trình độ chưa tốt lắm từ 43.6% ý kiến, nay đã
giảm xuống còn 17.9% ý kiến, và ý kiến tự đánh hoàn toàn chưa tốt từ 30.8%
cũng giảm còn khoảng 16.7% ý kiến. Sự biến đổi các tỉ lệ trên theo hướng tích
cực, chứng tỏ rằng, các giải pháp tác động của thực nghiệm đã có hiệu quả khả
quan.
Ở nhóm đối chứng, không có giải pháp tác động nào nên ở cả thời điểm
ưước và sau thực nghiệm, tỉ lệ nhận xét của sinh viên gần như tương tự, không
có sự thay đáng kể, độ chênh lệch ở các mức độ nhận xét giữa hai thời điểm rất
nhỏ chỉ vài phần trăm.
Tương tự, so sánh (1) và (3) giữa hai nhóm thực nghiệm và đối chứng ỏ
cùng thời điểm trước thực nghiệm, cả hai nhóm đều không có giải pháp tác
động nên ý kiến tự nhận xét kết quả dường như không thay đổi. trước và sau
thực nghiệm không có biến động lớn ( M= 2.05 và M= 2.18) và p= .832 (PL 5,
bảng 3), cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa.
So sánh (1) và (2) của nhóm thực nghiệm, có sự khác biệt lớn giữa hai
thời điểm. Trước thực nghiệm M= 2.05, sau thực nghiệm M= 2.88, và p= .000,
cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa rõ rệt khi có tác động của thực nghiệm.
So sánh (3) và (4) của nhóm đối chứng ở thời điểm trước và sau khi thực
nghiệm, cả hai thời điểm trên, do không có sự tác động của các giải pháp thực
nghiệm nên ý kiến tự đánh giá kết quả học tập của sinh viên không thay
đổi, qua kiểm nghiệm với trí số p= .856, chứng tỏ không có sự khác biệt ý
nghĩa.
So sánh (2) và (4) của nhóm thực nghiệm và đối chứng ở cùng thời điểm
sau thực nghiệm. Ở nhóm thực nghiệm có M= 2.88, ở nhóm đối chứng có M=
2.29 và p= 000 ( PL 5, bảng 4), chứng tỏ có sự khác biệt ý nghĩa lớn.
Qua bảng nhận xét trên cho thấy, chỉ có nhóm thực nghiệm ở thời điểm
sau thực nghiệm là có sự khác biệt đáng kể, so với nhóm đối chứng và các thời
điểm khác nhau, không có sự thay đổi. Với sự khác biệt trên, chứng tỏ rằng chỉ
sau khi có giải pháp tác động của việc cải tiến nội dung chương trình học và
phương pháp dạy học tích cực mới thật sự đem lại kết quả học tập tốt cho sinh
viên, làm cho sinh viên có nhiều hứng thú đối với môn học, có ý thức học tập
tốt hơn và tự tin hơn vào khả năng ứng dụng tin học của mình trong thực tế.
3.3.4.Kết luận về thực nghiệm
Trong điều kiện và thời gian hạn hẹp, mặc dù chỉ thực nghiệm một số giải
pháp ở một số lớp. Song, qua kết quả thực nghiệm đã cho thấy, việc cải tiến nội
dung, chương trình học và áp dụng phương pháp giảng dạy theo hướng giao
tiếp tích cực, phát huy năng lực học sinh, cùng với việc sử dụng phương tiện
hiện đại trong dạy học tin học cho các lớp không chuyên đã có hiệu quả. Tác
động của nội dung, chương trình và phương pháp dạy học tích cực, đã làm cho
sinh viên có nhận thức và thái độ đúng đắn hơn đối với môn học, các em thật
sự có hứng thú và tích cực học tập bộ môn nhiều hơn trước. Điều này, đã khẳng
định được giá trị đích thực của những giải pháp đã đề xuất.
Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, phát huy năng lực
học tập của sinh viên, cần phải nâng cao vai trò của công tác quản lý việc dạy
học tin học và áp dụng mạnh mẽ hơn nữa những giải pháp đã đề xuất, để không
ngừng phát huy tối đa năng lực giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh
viên góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo chung của nhà trường Cao đẳng sư
phạm.
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.Kết luận
1.1- Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tin học ở các lớp
không chuyên trường Cao Đẳng Sư Phạm Bình Dương.
-Thực trạng việc quản lý nội dung, chương trình môn tin học.
Nội dung chương trình tin học thiếu sự đồng nhất giữa các khoa không
chuyên. Cùng là đối tượng không chuyên nhưng sinh viên ở các lớp hiện nay
học hai loại chương trình khác nhau. Các lớp như văn, Cao đẳng chuyên tu,
nhạc, hoa, thê dục, học chương trình " Nhập môn tin học" với 3 đơn vị học
trình. Sinh viên các lớp khác như sử, anh văn, lý, địa...học chương trình "Tin
học cơ sở" với 2 đơn vị học trình.
Chương trình chưa được cập nhật những kiến thức cơ bản và cần thiết cho
sinh viên như các phần mềm Power Point, kiến thức Internet V.V...Với nội
dung, chương trình như vậy, chưa thể đáp ứng tốt nhu cầu cho người học trong
việc sử dụng tin học phục vụ cho học tập và nghiên cứu, chưa đáp ứng nhu cầu
phát triển của công nghệ thông tin, không tạo được hứng thú cho người học, và
người học không có đủ điều kiện để phát huy hết tiềm năng học tập của chính
mình đối với môn học, điều này tất nhiên sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng và
hiệu quả dạy và học bộ môn. Vì vậy việc cải tiến nội dung, chương trình, thời
lượng môn tin học cho đối tượng sinh viên không chuyên trong nhà trường cao
đẳng là vấn đề quan trọng và cấp thiết cần phải được quan tâm thực hiện tốt.
- Thực trạng việc quản lý mục tiêu môn học.
So với mục tiêu đào tạo, tiêu chí của thời đại về xã hội hoa giáo dục cùng
với xã hội hoa tin học, và các chị thị, nghị quyết của Đảng về việc đào tạo,
giảng dạy tin học trong nhà trường, thì việc quản lý mục tiêu bộ môn tin học ở
các lớp không chuyên tại trường cao đẳng chưa sát với nhu cầu thực tế. Sự hạn
chế của nội dung, chương trình và thời lượng môn học như hiện nay, chưa thể
đảm bảo việc cung cấp cho sinh viên các mặt: kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái
độ theo yêu cầu của mục tiêu đề ra.
• Thực trạng việc quản lý phương tiện, thiết bị
Phương tiện chủ yếu phục vụ cho mồn học là máy vi tính. Song, công tác
quản lý phương tiện còn nhiều bất cập.
+ Việc trang bị máy vi tính chưa đồng bộ giữa các phòng máy, việc cài
đặt chương trình chưa được thống nhất giữa ba phòng thực hành, có phòng còn
sử dụng những phần mềm cũ chưa được cập nhật và cài đặt mới. Phần cứng
máy vi tính hư hỏng khá nhiều, gây trở ngại trong quá trình thực hành của sinh
viên.
+ Nhân sự quản lý phòng máy còn quá mỏng, chưa thể đảm bảo đáp ứng
các nhu cầu thực hành máy tính cho sinh viên.
+ Việc sắp xếp giờ thực hành chưa có khoa học, thường bị động giữa các
lớp
+ Phương tiện, thiết bị phục vụ môn học chưa tập trung về một đầu mối
quản lý.
+ Còn hạn chế nhiều trong việc cho sinh viên sử dụng các phương tiện,
thiết bị liên quan lĩnh vực công nghệ thông tin như truy cập Internet, đèn chiếu,
máy in, máy scan, video V.V..
Việc quản lý và cung cấp phương tiện phục vụ là một trong những yếu tố
góp phần quyết định chất lượng dạy học tin học trong nhà trường cao đẳng. Để
người học có thể khai thác tính năng đa dạng của máy tính, sử dụng tốt vi tính
trong thực tế, đòi hỏi, bộ phận quản lý thực hành máy tính phải có những giải
pháp tích cực ương việc thực hiện kế hoạch quản lý, sắp xếp, cài đặt, nâng cấp,
sửa chữa kịp thời cho các phòng máy, đảm bảo cho giờ học thực hành có hiệu
quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
-Thực trạng việc quản lý tổ chức giảng dạy
Cơ cấu lớp học chưa hợp lý. Nhiều lớp học sinh viên quá đông (trên 77
sinh viên), khó sắp xếp gọn trong một phòng máy thực hành, gây khó khăn cho
việc dạy của giáo viên và sự tiếp thu bài của học sinh, giáo viên phải chia ca và
chạy qua, lại giữa các phòng máy, khó có thể bao quát lớp và bám sát để rèn
luyện các kỹ năng máy tính cho sinh viên. Điều này có ảnh hưởng lớn đến hiệu
quả dạy và học bộ môn, sinh viên ít tập trung trong việc học và thường làm
việc riêng trong giờ thực hành.
-Thực trạng quản lý việc thực hiện phương pháp giảng dạy
Trong tổ bộ môn vẫn còn một số giáo viên thường sử dụng phương pháp
giảng giải trong dạy học và ít sử dụng các phương tiện hiện đại trong giảng dạy
bộ mồn, vẫn còn "dạy chay". Chính điều này, làm cho không khí lớp học buồn
tẻ, không phát huy được khả năng tư duy và năng lực sáng tạo của sinh viên,
dẫn đến tình trạng nhiều sinh viên chưa nhiệt tình học tập bộ môn, kết quả học
tập không khả quan.
-Thực trạng việc quản lý đội ngũ giảng viên
Đa số giảng viên ương tổ bộ môn được chuyển từ các ngành khác sang và
tiếp tục được đào tạo tin học, chỉ có một giảng viên được đào tạo chính qui.
Trong tổ chưa có giảng viên đạt trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ. Trong những năm
qua, tổ bộ môn luôn coi trọng việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ,
thường xuyên học tập và tham dự các lớp học nâng cao nghiệp vụ và đã làm
tròn trách nhiệm của mình và góp phần lớn trong công tác đào tạo của nhà
trường cao đẳng sư phạm.
Song, xác định hướng đi lên của nhà trường sẽ trở thành một trường đại
học là xu thế tất yếu của địa phương, chính vì vậy lãnh đạo trường luôn luôn
quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ, giảng viên chuẩn, có trình độ tiến sĩ,
thạc sĩ.
- Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh
viên.
Giảng viên trong tổ bộ môn luôn thực hiện đúng qui chế về kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập của sinh viên. Thực hiện kiểm tra định kỳ theo qui định của
Bộ, kiểm tra lý thuyết qua hình thức viết, trắc nghiệm và kiểm tra thực hành
trên máy tính. Tổ bộ môn đã làm tốt công tác thi cử, từ khâu ra đề đến việc coi
thi, chấm thi.
Tuy nhiên, với hình thức kiểm tra hiện nay, chưa thể đánh giá kết quả
toàn diện năng lực của sinh viên, chưa thể hiện được tính đặc thù của bộ môn
tin học về kỹ năng, kỹ xảo máy tính. Do đó, cần quan tâm hơn nữa trong việc
tổ chức các hình thức kiểm tra, đánh giá toàn diện năng lực kỹ năng, kỹ xảo
của sinh viên.
-Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá hiệu quả giảng dạy
Tổ bộ môn thực hiện kiểm tra, đánh giá giảng viên theo từng học kỳ trong
năm. Trong năm học có ít nhất là hai lần kiểm tra, kiểm tra hồ sơ, dự giờ thăm
lớp, thao giảng. Công tác kiểm tra, đánh giá của tổ bộ môn đã đạt được nhiều
hiệu quả nhất định, năng lực giảng viên có nhiều tiến bộ, chất lượng giảng dạy
được nâng cao rõ rệt. Tuy nhiên, kiểm tra, đánh giá vẫn còn mang nặng tính
hình thức, vị nể, châm chước nên công tác kiểm tra, đánh giá chưa thật sự
khách quan và chưa đạt kết quả thật sự.
1.2- Nguyên nhân của thực trạng
- Nguyên nhân từ công tác quản lý, chỉ đạo việc giảng dạy bộ môn.
+ Nguyên nhân từ việc xác định mục tiêu môn học. Việc thực hiện mục
tiêu và qui trình dạy học chưa đáp ứng với yêu cầu đào tạo sinh viên do Bộ
Giáo dục -Đào tạo đề ra, mục tiêu môn học chưa được quan tâm đúng mức theo
tinh thần chỉ thị của Đảng và Nhà nước về Công nghệ thông tin và của Bộ giáo
dục - Đào tạo về việc giảng dạy tin học trong nhà trường.
+ Nguyên nhân từ bản thân bất hợp lý của nội dung, chương trình tin học,
chương trình chưa cập nhật và chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ thông
tin; chưa cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản và cần thiết nhất như
Internet. PowerPoinT...
+ Nguyên nhân từ thời lượng môn học quá ít, chỉ 30 đến 45 tiết, cả lý
thuyết và thực hành, chưa thể đáp ứng cho người học về kiến thức lẫn kỹ năng.
+ Việc đánh giá hiệu quả giảng dạy của giảng viên còn chung chung,
mang nặng tính hình thức; còn tồn tại những yếu kém về phương pháp giảng
dạy, năng lực chuyên môn, thiếu cập nhật. Vì vậy, việc dạy và học bộ môn
chưa đạt hiệu quả cao, đa số sinh viên chưa sử dụng tốt kiến thức tin học vào
thực tế xã hội.
- Nguyên nhân từ cơ sở vật chất
+ Các phòng thực hành chưa đồng nhất về thiết bị máy vi tính, chương
trình cài đặt chưa đồng bộ, số lượng máy hư khá nhiều chưa đáp ứng nhu cầu
học tập của sinh viên.
+ Cán bộ quản lý phòng máy tương đối ít, chưa thể đảm nhiệm cùng một
lúc nhiều trọng trách, làm việc còn tuy tiện, chưa có kế hoạch cụ thể và khoa
học, chính điều này đã ảnh hưởng nhiều đến công tác giảng dạy và học tập bộ
môn.
- Nguyên nhân từ công tác quản lý, chỉ đạo học tập của sinh viên.
Công tác quản lý, chỉ đạo việc học của sinh viên còn xem nhẹ và chưa đạt
hiệu quả cao. Phần lớn giáo viên chưa quan tâm đến công tác tổ chức và hướng
dẫn học tập cho sinh viên, chính vì vậy, thái độ học tập của sinh viên chưa tích
cực đối với môn học, đa số sinh viên khổng tự học bộ môn, thậm chí còn cúp
tiết trong giờ thực hành máy tính. Ý thức học tập của các em còn kém, cho nên
kết quả học tập chưa cao, khả năng sử dụng máy tính chỉ đạt loại trung bình và
yếu. Bên cạnh đó, tài liệu học tập ở thư viện về bộ môn tin quá nghèo nàn,
thiếu cập nhật nên chưa đáp ứng và chưa khuyến khích việc tham khảo tài liệu
của sinh viên.
1.3- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc
giảng dạy tin học ở các lốp không chuyên trường Cao đẳng sư
phạm Bình Dương.
- Công tác quản lý, chỉ đạo việc dạy học bộ môn.
Trong tất cả hệ thống mạng thông tin và máy tính thì yếu tố con người
vẫn là quyết định. Do đó, để khai thác hết tính năng của phương tiện và hiệu
quả của việc dạy học bộ môn tin học, cần có những cải tiến trong công tác quản
lý, chỉ đạo việc dạy học bộ môn.
Lãnh đạo cần đổi mới tư duy nhìn nhận môn tin học, cần quan tâm hơn
nữa trong việc quản lý, chỉ đạo dạy học bộ môn, xác định tầm quan trọng của
tin học là cơ sở của sự tìm tòi và phát hiện tri thức mới. Tạo điều kiện cho tổ bộ
môn hoạt động có hiệu quả trong dạy học và quyền tự chủ hơn nữa trong việc
xây dựng nội dung, chương trình, cập nhật kiến thức.
- Cải tiến nội dung, chương trình môn học: Tin học không phải là môn
học truyền thống, nó luôn luôn đổi mới (tính động) và nội dung thì ngày càng
phong phú, không mang tính ổn định tĩnh. Vì vậy, việc cải tiến nội dung,
chương trình, cập nhật kiên thức, bổ sung nội dung cho phù hợp với đối tượng
học và nhu cầu xã hội là vấn đề quan trọng và thường xuyên phải được thực
hiện.
Tăng thêm thời lượng cho bộ môn tin học đối với sinh viên các lớp không
chuyên.
Nên tăng thời lượng cho bộ môn tin học lên là 90 tiết (tức 6 đvht), trong
đó, có thể bố trí 4 đvht ở chính khoa và 2 đvht ngoại khoa. Với thời lượng 90
tiết học tương đương với trình độ chứng chỉ A tin học, là kiến thức tối thiểu để
tin học hoa, xoa mù tin học. Với thời lượng hợp lý như đề xuất, sẽ tạo cho sinh
viên ở các lớp không chuyên có đủ năng lực sử dụng các kiến thức, kỹ năng tin
học cơ bản vào thực tế và có đủ điều kiện thể thi lấy chứng chỉ A Quốc gia tin
học mà không cần phải học thêm kiến thức hoặc phải tốn kém thêm một chi phí
học tập nào khác, qua đó, cũng giúp cho sinh viên ở các lớp không chuyên tiết
kiệm được chi phí học tập khá lớn.
Tăng cường nâng cao trình độ chuyên mồn nghiệp vụ của giảng viên.
Mỗi cán bộ giảng viên trong tổ bộ môn không ngừng học tập nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đạt qui chuẩn cán bộ giảng dạy, tham gia
học tập các khoa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn hoặc dài hạn do trường đại học
tổ chức.
Tăng cường cải tiến phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp tích cực.
Cần khắc phục lối truyền thụ kiến thức một chiều, độc thoại, giảng giải và
ghi chép. Vận động giảng viên áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến và
sử dụng phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, tăng cường hoạt động của
người học, tạo điều kiện cho sinh viên phát huy năng lực, sáng tạo trong học
tập, dành cho sinh viên thời gian tự học, tự nghiên cứu, làm cho quá trình dạy
và học được nâng cao lên một bước phát triển mới và có hiệu quả hơn.
- Nâng cấp cơ sở vật chất và bổ sung thêm máy vi tính và các thiết bị mới.
Cần chỉnh trang lại phòng thực hành máy tính cho phù hợp với qui chuẩn
và đồng bộ các trang thiết bị, nâng cấp máy tính và trang bị thêm máy vi tính
mới, cài đặt và cập nhật chương trình cho đồng bộ giữa các phòng thực hành. +
Tăng cường cho sinh việc tiếp cận với máy in và các thiết bị công nghệ thông
tin khác.
- Tăng cường quản lý chuyên môn đối với giảng viên
Cần sâu sát và chặt chẽ hơn trong việc kiểm tra hoạt động giảng dạy của
giáo viên và học tập của học sinh. Kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện qui chế
chuyên môn của giáo viên trong việc soạn giảng, lên kế hoạch, giờ giấc lên lớp,
việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học bộ môn. Thẳng thắn trong việc
kiểm tra, đánh giá hiệu quả giảng dạy của giáo viên.
- Tăng cường công tác hưởng dẫn, kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập
của sinh viên.
Mỗi giảng viên trong tổ bộ môn có trách nhiệm hướng dẫn học tập cho
sinh viên. Nghiêm túc thực hiện qui chế thi cử của Bộ giáo dục - Đào tạo, từ
khâu ra đề, coi, chấm thi. Tăng cường việc kết hợp các hình thức kiểm tra,
đánh giá học tập sinh viên, đặc biệt là kiểm tra kỹ năng thực hành máy tính cho
sinh viên.
2- Kiến nghị
2.1- Đối với Bộ giáo dục và Đào tạo.
- Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Giáo dục - Đào tạo và
Chỉ thị 58/CT-TW của Bộ Chính trị về việc ứng dụng, phát triển Công nghệ
thông tin cho sự nghiệp công nghiệp hoa - hiện đại hoa, và việc đào tạo Tin học
trong nhà trường đại học, cao đẳng, đồng thời để đảm bảo đổi mới cơ chế quản
lý một cách có hiệu quả, Bộ Giáo dục - Đào tạo cần tăng thêm quyền tự chủ
cho các trường cao đẳng trong việc rà soát, cập nhật chương trình đào tạo về
Tin học theo hướng tăng năng lực thực hành, tăng cường nội dung đào tạo,
tham khảo và sử dụng các chương trình, nội dung đào tạo tiên tiến.
Vì vậy, chúng tôi cũng xin đề xuất với Bộ giáo dục - Đào tạo tăng thêm
thời lượng cho bộ môn tin học cho các đối tượng không chuyên trong chương
trình đào tạo chung của trường Cao đẳng sư phạm từ 45 tiết (3 đvht) lên 90 tiết
( 6 đvht). Với thời lượng trên, sinh viên các lớp không chuyên mới có đủ thời
gian và điều kiện để tiếp thu những kiến thức cơ bản nhất của tin học và kỹ
năng sử dụng máy tính, phục vụ tốt cho các em trong học tập, tra cứu thông tin
và nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu phát triển Công nghệ thông tin và
yêu cầu thực tế của xã hội. Chính việc cung cấp nội dung, chương trình và thời
lượng bộ môn tin học một cách hợp lý, phù hợp với nhu cầu người học, thích
ứng với sự phát triển, mới có thể nâng cao vai trò, vị trí của môn học đối với
người học, từ đó, người học mới có hứng thú và thái độ đúng đắn với bộ môn.
Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, những chế độ, chính sách cụ thể
đối với giảng viên dạy bộ môn tin học.
Chuẩn hoa định mức giờ dạy đối với bộ môn một cách hợp lý. Hiện nay,
hai tiết thực hành được tính bằng một tiết chuẩn theo thông tư 37/TT là chưa
phù hợp vì thực hành đối với môn tin học giảng viên phải mất nhiều thời gian,
thao tác để hướng dẫn kỹ năng cho từng sinh viên.
2.2- Đối với trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương.
Để đảm bảo nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, cần thay đổi tư duy
trong việc quản lý, chỉ đạo hoạt động dạy học bộ môn, nên có cách nhìn đúng
đắn đối với bộ môn tin học dạy cho đối tượng không chuyên trong nhà trường
cao đẳng. cần đề cao vai trò, vị trí của môn học trong nhà trường để sinh viên
có thái độ tôn trọng môn học và xác định động cơ học tập một cách đúng đắn.
Cần quan tâm hơn nữa trong việc quản lý, chỉ đạo đối với hoạt động
giảng dạy của giáo viên bộ môn, tạo điều kiện cho đội ngũ phát huy hết vai trò,
trách nhiệm của mình trong công tác dạy học bộ môn.
Nên ban hành tiêu chuẩn, cách tính giờ thực hành tin học cho phù hợp với
lao động thực tế của giáo viên (vì môn tin học không giống như các ngành
khoa học khác), không nên áp dụng cách tính hai tiết thực hành tin học trên
thực tế bằng một tiết chuẩn như hiện nay.
Với những đề xuất như trên, chúng tôi rất mong được Bộ Giáo dục - Đào
tạo và trường Cao Đẳng Sư phạm Bình Dương chấp thuận. Qua đó, tạo cho
chúng tôi có điều kiện thể hiện, phát huy khả năng của mình trong công tác
giảng dạy, đem lại những lợi ích thiết thực cho người học, góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung và nâng cao hiệu quả công tác
quản lý việc giảng dạy tin học cho các đối tượng không chuyên trường Cao
Đẳng sư phạm Bình Dương nói riêng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I/ Các văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà Nước
1- Chỉ thị của Thủ tướng Chính Phủ, về một số biện pháp cấp bách xây
dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dục quốc dân, công báo số 37 ngày
8/10/2001.
2- Bộ chính trị, Chỉ thị đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ
sự nghiệp CNH - HĐH , ngày 17/10/2000.
3- Chỉ thị Số 29/2001/CT-BGD-ĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục- Đào tạo,
v/v Tăng cường giảng dạy, đào tạo, ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai
đoạn 2001-2005, ngày 30/7/2001.
4- Bộ giáo dục - Đào tạo, Hội thảo ứng dụng công nghệ thông tin và
truyền thông trong giáo dục công nghệ giáo dục, 2001
5- Bộ giáo dục - Đào tạo, Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, tiếp tục đối
mới, tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng và hiệu quả giáo dục đại học đáp ứng
yêu cầu CNH-HĐH đầu thế kỷ 21, Báo cáo của Bộ trưởng Bộ giáo dục - Đào
tạo, 10/2001
6- Bộ giáo dục- Đào tạo, Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo
đến năm 2010, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, Hà nội, 9/2000.
7- PGS. Lê Khánh Bằng, Công nghệ dạy học với vấn đề tổ chức quá trình
dạy học ở PTTH, Bộ GD-ĐT, Vụ giáo viên, 1995.
8- Bản dịch, Giáo dục trong xã hội học tập thế kỷ 21 của Trung tâm Công
nghệ thông tin Bộ giáo dục - Đào tạo, 2001
II/ Các tài liệu tham khảo khác
9- Nguyễn Hữu Châu, về Định hướng chiến lược giáo dục đầu thế kỷ 21
của một số nước trên thế giới, Viện nghiên cứu giáo dục, 9/1999.
10- Công nghiệp hoa, hiện đại hoa - con đường phát triển tất yếu của
nước , NXB Thông tin lý luận, 1992.
11- Phan Đình Diệu, Vài vấn đề về chính sách giáo dục- đào tạo công
nghệ thông tin ở nước ta, Nghiên cứu giáo dục, 2003.
12- Đối tượng quản lý và mục tiêu quản lý của người Hiệu trưởng trong
giai đoạn hiện nay, Tạp chí giáo dục, 4/1984.
13- Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng công nghệ thông tin của Trung
tâm công nghệ thông tin Bộ giáo dục - Đào tạo, 11/2001
14- Nguyễn Thị Doãn, Đỗ Minh Cương, Phương Kỳ Sơn, Các học thuyết
Quản lý, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996
15- Trần Tư Huy, Hồ Đình Vinh, Tám vấn đề lớn của giáo dục hướng ra
nền kinh tế của thị trường, giáo dục thời đại, 1993.
16- PTS. Nguyễn Thanh Hội, Quản trị nhân sự, NXB Thống kê, 1998
17- Phạm Minh Hạc. Chăm sóc, đào tạo, phát huy nguồn lực con người
phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạp chí phát triển giáo dục 1996.
18- Hội thông tin giáo dục quốc tế, Giáo dục Nhật Bản, NXB Chính trị
quốc gia, 2001
19- TS. Nguyễn Kim Hồng, TS.Đoàn Văn Điều, Xây dựng tiêu chí đánh
giá giáo viên bậc phổ thông trung học (qua dự giờ) tại thành phố Hồ Chí Minh,
2002.
20- GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở
Đại học sư phạm, Tạp chí GD, 8/2003.
21- TS. Lê Thị Hoa, Khả năng hỗ trợ của công nghệ thông tin và phương
hướng ứng dụng trong dạy học tại trường cán bộ quản lý giáo dục - đào tạo II,
trường CBQLGD, 2003.
22- Nguyễn Quang Hoa, Dự án PDL Việt Nam và việc ứng dụng công
nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy và học, năm 2001
23-TS. Nguyễn Văn Khôi, Thiết kế bài học môn công nghệ thông tin ở
phổ thông theo hướng " dạy học tích cực và tương tác", tạp chí GD, 2003
24- Trần Kiểm, Xã hội học tập và yêu cầu đổi mới quản lý giáo dục, Viện
chiến lược và chương trình giáo dục, 2002.
25- Đặng Bá Lãm, Phạm Thành Nghị, Chính sách và kế hoạch trong quản
lý giáo dục, NXB giáo dục, 1999.
26- Lê Nguyên Long, Thử đi tìm phương pháp dạy học hiệu quả, NXB
giáo dục, 1998.
27- Luật giáo dục, Tính chất nền giáo dục và nguyên lý giáo dục, NXB
Chính trị quốc gia, 1998.
28- GS.TS. Hoàng Đức Nhuận, Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất
lượng học tập của học sinh phổ thông, Chương trình khoa học - Công nghệ cấp
nhà nước KX.07, Hà Nội, 1995.
29- Quách Tuấn Ngọc, Đổi mới tư duy xây dựng môn tin học trong nhà
trường phổ thông., Trung tâm Công nghệ thông tin Bộ giáo dục - Đào tạo, 2001
30- TS. Trần Thị Tuyết Oanh, Tác động của hệ thống đánh giá đến cách
học của sinh viên đại học, tạp chí giáo dục số 48, 1/2001.
31- Ths. Phạm Thị Phương, về các biện pháp tổ chức thi, kiểm tra trong
trường cao đẳng sư phạm, tạp chí GD, số 64, 2003.
32- Nguyễn Ngọc Quang, những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo
dục, 1989.
33- TS. Đỗ Huy Quang, Dạy học đối thoại- kiểu dạy học tạo thói quen
năng động, sáng tạo cho người học, tạp chí giáo dục, số 79, 2/2004
33-TS. Dương Tiến Sỹ, quy trình thiết kế bài giảng bằng phần mềm
Povverpoint, ĐHSP- Hà Nội, tạp chí giáo dục, 1/2003.
34- Vũ Thiếu, Nguyễm Mạnh Quân dịch, Những vấn đề cốt lõi của Quản
lý, NXB khoa học kỹ thuật, 1993.
35- TS. Trần Văn Tùng, Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục
Việt Nam, NXB Thế giới, 2001
36- GS.TSKH. Đỗ Trung Tá, Kinh tế tri thức và Viễn thông Việt Nam,
tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam.
37- PGS.TS. Nguyễn Đức Trí, Một số ý kiến về đổi mới phương pháp dạy
học ở đại học, viện nghiên cứu phát triển giáo dục, 2003.
38- TS. Hà Thế Truyền, Hoạt động khoa học và công nghệ ở các trường
cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, trường cán bộ QLGD, 2003.
39- Trung tâm Công nghệ thông tin Bộ giáo dục - Đào tạo, Đổi mới giáo
dục bằng CNTT và truyền thông, 2001
40- Trung tâm công nghệ thông tin Bộ giáo dục - Đào tạo, Phương pháp
trình bày báo cáo khoa học, 2001
41- Trung tâm công nghệ thông tin Bộ giáo dục - Đào tạo, Tạo niên giám
về số liệu tổng hợp thống kê giáo dục, 2001.
42- Ths.Nguyễn Văn Viên, Thiết kế bài giảng theo hướng phát huy tính
tích cực học tập của sinh viên cao đẵng sư phạm, Tạp chí giáo dục số 65, 2003
43- Raja Roy Singh, Nền giáo dục cho thế kỷ 21: Những triển vọng của
Châu Á-Thái Bình Dương. Viện khoa học giáo dục Việt Nam, 1994
PHỤ LỤC
Phụ lục 1 PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN GIÁO VIÊN.
Để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Tin học cho sinh
viên ở các khoa không chuyên của trường Cao Đẳng Sư Phạm Bình Dương.
Xin ông / bà vui lòng cho chúng tôi biết ý kiến về các vấn đề dưới đây, bằng
cách đánh dấu X vào ô thích hợp với ý kiến của ông / bà
I- CÔNG TÁC QUẢN LÝ.
Câu 1 : Theo ông/bà, công tác quản lý việc giảng dạy bộ môn tin học ở
các khoa không chuyên tại trường CĐSP- Bình Dương hiện nay là :
