BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRẦN THỊ THANH XUÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2008
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRẦN THỊ THANH XUÂN
Chuyên ngành : LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã số
: 60 22 32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHÙNG QUÍ NHÂM
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2008
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành, ngoài sự nỗ lực cố gắng của riêng bản
thân tôi, còn nhờ sự tận tình giúp đỡ của các cơ quan và của nhiều người, như:
PGS.TS Phùng Quý Nhâm, các giảng viên Trường ĐHSP TP. HCM, gia đình và
bạn bè...
Để tỏ lòng tri ân, tôi xin chân thành gửi lời cám ơn đến tất cả mọi người.
Xin cám ơn PGS.TS Phùng Quý Nhâm, người đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ em trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài.
Xin cám ơn các giảng viên thuộc tổ bộ môn Lý Luận Văn Học, khoa Ngữ
Văn và các cán bộ phòng KHCN – SĐH của Trường ĐHSP TP.HCM đã trang bị
kiến thức cũng như tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Xin cám ơn Sở Giáo dục Bình Thuận, Ban Giám hiệu cùng các cán bộ,
giáo viên Trường trung học phổ thông Chuyên Trần Hưng Đạo Bình Thuận đã
ưu ái tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn cũng như khoá học
này.
Xin cảm ơn và tỏ lòng tri ân sâu sắc đến tất cả mọi người trong gia đình
tôi, những người đã luôn giúp đỡ, chia sẻ mọi khó khăn và luôn động viên tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng đó là lời cảm ơn chân thành gửi đến sự giúp đỡ và động viên từ
phía bạn bè.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Thời kì đổi mới được đánh dấu bắt đầu từ năm 1986 và kéo dài đến tận ngày
nay. Song song cùng sự biến đổi của xã hội, văn học cũng có nhiều thay đổi. Thời
kì này, văn xuôi phát triển mạnh, có nhiều sự đổi mới. Trong cuốn Tiểu thuyết
Việt Nam hiện đại, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã nhận xét về tình hình sáng tác
văn xuôi của thời kì này: “mở rộng đề tài và các phương thức tiếp cận, chấp nhận
cả lãng mạn, tượng trưng, huyền thoại, viễn tưởng, quan niệm cởi mở hơn về vai
trò của chủ thể nhà văn, về điển hình hoá, về các kiểu ngôn ngữ trần thuật, nhìn
chung là khuyến khích sự đa dạng về hình thức và phong cách biểu hiện” và
“chúng ta được mùa về truyện ngắn và tiểu thuyết”. Đặc biệt là tiểu thuyết. Cũng
theo sự thống kê của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ thì từ năm 1980 đến năm 1996,
độc giả đã được đón nhận đến 360 cuốn tiểu thuyết, trong đó nổi bật là tên tuổi
những nhà tiểu thuyết như: Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Khuất Quang Thụy, Chu Lai,
Nguyễn Quang Thiều, Hồ Anh Thái, Hoàng Minh Tường, Nguyễn Khắc Trường,
Triệu Bôn, Ngô Ngọc Bội, Vũ Huy Anh, Bảo Ninh, Hoàng Ngọc Hà, Nhật Tuấn,
Ông Văn Tùng, Xuân Đức, Nguyễn Trí Huân, Phan Tứ... Sau này, còn xuất hiện
thêm nhiều tác giả, tác phẩm khác.
Với số lượng tác phẩm, tác giả như thế, có thể nói, để tìm hiểu, nghiên cứu
tất cả các đề tài, nội dung của tiểu thuyết thời kì này là một điều khó, thậm chí
không thể. Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu một khía
cạnh nội dung của tiểu thuyết thời kì này, đề tài mang tên: “Nông thôn Việt Nam
trong các tiểu thuyết từ năm 1986 đến năm 2000”. Lí do để chúng tôi chọn đề
tài này là:
Thứ nhất, đề tài này có liên quan đến những tiểu thuyết đoạt giải của Hội
Nhà Văn, đã được công bố rộng rãi và được công chúng đón nhận.
Thứ hai, các tiểu thuyết đều nằm trong giai đoạn 1986-2000, là giai đoạn có
ý nghĩa quan trọng, mở đầu thời kì đổi mới và kết thúc một thế kỉ.
Thứ ba, khi tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết thời kì đổi mới, người ta chủ
yếu xoáy sâu vào các nội dung như: vấn đề chiến tranh, vấn đề xây dựng chủ
nghĩa xã hội, vấn đề số phận con người trong thời kì mới, sự thay đổi trong những
quan niệm về giá trị con người... Ít người chú ý tới khía cạnh nội dung phản ánh
hiện thực nông thôn trong các tác phẩm.
Chính vì những lí do kể trên mà chúng tôi quyết định chọn đề tài này.
Chúng tôi mong muốn việc nghiên cứu đề tài sẽ phần nào đó đóng góp một
cách nhìn khách quan và tương đối toàn diện cho bức tranh xã hội Việt Nam trong
thời kì vốn được xem là cực kì nhạy cảm này.
2. Lịch sử vấn đề
Đề tài chủ yếu tập trung khảo sát ba tiểu thuyết Thời xa vắng (Lê Lựu),
Bến không chồng (Dương Hướng) và Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn
Khắc Trường), những tiểu thuyết đã đoạt giải chính thức của Hội nhà văn nên thu
hút được sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu và độc giả. Trong quá trình
tìm hiểu và thu thập tài liệu, chúng tôi sưu tập được một số bài viết nghiên cứu về
các tiểu thuyết này. Cụ thể như:
Hoàng Ngọc Hiến trong bài “Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu” đăng trên tạp
Tạp chí văn nghệ quân đội, số 4, năm 1987 đã tập trung nghiên cứu tiểu thuyết
Thời xa vắng trong giới hạn vấn đề số phận cá nhân, số phận của người nhà quê
trước những biến động của xã hội, cụ thể là cuộc đời, số phận của nhân vật Giang
Minh Sài. Theo Hoàng Ngọc Hiến thì anh nông dân Giang Minh Sài “ “người nhà
quê” của Lê Lựu hai lần khốn khổ, vừa xung đột với hệ tư tưởng gia trưởng, vừa
xung đột với thành phố ở bộ phận phức tạp nhất của nó là đàn bà, con gái.”[16,
tr119], thế nên cuộc sống của anh cứ bùng nhùng, bế tắc, vướng vào hết bi kịch
này đến bi kịch khác. Và từ những vấn đề thuộc về nhân vật, thuộc về tác phẩm,
tác giả Hoàng Ngọc Hiến suy luận đến những vấn đề lớn, những vấn đề bức xúc
của xã hội suốt một thời: “Lê Lựu chỉ đụng đến đề tài “người nhà quê và đô thị”
một cách ngẫu nhiên: chỉ là câu chuyện thương tâm một “anh nhà quê” chơi trèo
với thành phố bị bại. Trên đất nước ta sau khi thống nhất, không phải cán bộ tiếp
quản nào cũng trở thành người chủ của thành phố, không ít “người nhà quê” tiếp
xúc với đô thị đã bị bại hoàn toàn, sống dở chết dở, điêu đứng bi thảm, sự thất bại
của họ mang ý nghĩa xã hội sâu sắc”[16, tr119].
Thiếu Mai cũng trong Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 4, năm 1987 có bài:
“Nghĩ về một “thời xa vắng” chưa xa”. Bài viết của Thiếu Mai nghiên cứu khá sâu
sắc cả khía cạnh nội dung lẫn nghệ thuật của Thời xa vắng. Ở khía cạnh nội dung,
tác giả phân tích sự tác động của hoàn cảnh đến quá trình hình thành tính cách của
nhân vật. Trong tác phẩm, nhân vật Giang Minh Sài cả cuộc đời đã phải gánh trên
vai hệ tư tưởng gia trưởng, những quan niệm, những định kiến... khiến cho anh
không lúc nào được sống bằng chính cuộc đời của mình, chỉ biết nghe và chiều ý
mọi người, đến nỗi theo lời của tác giả Thiếu Mai thì: “trong con người anh, luôn
luôn tồn tại hai thế lực: chống đối và khuất phục. Hai thế lực ấy ngày càng phát
triển, càng mâu thuẫn, và đẩy bi kịch trong con người Sài lên một mức độ ngày
càng cao hơn.” [32, tr121]. Và cũng theo sự đánh giá của Thiếu Mai thì “ Lê Lựu
đã tỏ ra hiểu nhân vật của mình đến tận chân tơ kẽ tóc, đến tận những ngọn
ngành sâu thẳm nhất của tình cảm, suy nghĩ. Xót xa cho cuộc đời Sài bao nhiêu,
tác giả lại giận dữ lên án cách sống, cách ứng xử thiếu bản lĩnh của anh ta bấy
nhiêu” [32, tr122]. Mà đâu chỉ có Sài, bên cạnh anh còn biết bao nhiêu người cũng
làm những điều mình không muốn chỉ vì không dám làm phật ý hay làm khác với
mọi người xung quanh như ông đồ Khang, anh Tính, chú Hà, Chính uỷ Đỗ Mạnh,
anh Hiền, anh Hiển... Nói cách khác, Sài và những nhân vật liên quan đến tấn bi
kịch của cuộc đời anh vừa là đại diện cho những cá nhân riêng lẻ nhưng cũng là
sản phẩm chung của “một thời, thời xa vắng, nhưng chưa xa là bao”, cái thời mà
do hoàn cảnh lịch sử của nó, ý thức cá nhân phải tạm lu mờ, nhường chỗ cho
những vấn đề lớn lao mang ý nghĩa dân tộc. Đấy là xét về mặt nội dung. Xét về
mặt nghệ thuật, mặc dù “nhiều người có ý cho là văn Lê Lựu không chuốt, mộc
quá, và không phải là không có những câu què, hoặc trúc trắc, thậm chí có câu
ngữ pháp chưa chỉnh” , nhưng tác giả Thiếu Mai vẫn cho rằng tiểu thuyết Thời
xa vắng được xây dựng bằng “một giọng văn trầm tĩnh vừa giữ được vẻ đầm ấm
chân tình, vừa khách quan, không thêm bớt, tô vẽ, đặc biệt là không cay cú, chính
giọng văn như vậy đã góp phần đáng kể vào sức thuyết phục, hấp dẫn của tác
phẩm” [32, tr.123]. Tuy chưa thích thú với kết cấu ba phần mà phần kết “khó chấp
nhận vì tính chất bất hợp lí của nó, và vì nó thể hiện một sự áp đặt do ý muốn chủ
quan của tác giả” [32,tr.125]. Thế nhưng, với tác giả Hiếu Mai, Thời xa vắng
“tuy vẫn còn có những nhược điểm, còn thiếu một sự chặt chẽ, nhất quán cần
thiết, nhưng với ưu điểm rất trội của nó, nó là một thành công, một đóng góp vào
nền văn học đang có đà phát triển khởi sắc cùng chúng ta mấy năm vừa qua.”
[32, tr.125]
Đinh Quang Tốn trong cuốn Tản mạn và chính kiến văn chương có bài: “Lê
Lựu - Thời xa vắng”. Trong bài viết này, Đinh Quang Tốn muốn nói đến sự hoá
thân của cuộc đời tác giả Lê Lựu vào trong các tác phẩm của mình. Trong khi giới
thiệu về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu, những dấu ấn cá nhân của tác
giả để lại trong các sáng tác..., Đinh Quang Tốn có vài dòng nhận xét về tiểu
thuyết Thời xa vắng: “Thời xa vắng viết về hậu phương miền Bắc trong cuộc
chống Mĩ cứu nước với cả cái vui và cái buồn, cái nồng nhiệt và sự non nớt,
những quầng sáng và những bóng mờ, có cả nụ cười và nước mắt...” [49, tr.18].
Nhìn chung, đề tài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến tranh chống Mĩ có
nhiều người viết, nhưng theo sự đánh giá của Đinh Quang Tốn thì: “Lê Lựu là
người viết thành công nhất” [49, tr.22] và “ Nếu trong tổng số sáu trăm hội viên
Hội nhà văn Việt Nam, cứ mười người chọn lấy một người tiêu biểu, thì Lê Lựu là
một trong tổng số 60 nhà văn ấy. Nếu về văn xuôi Việt Nam hiện đại, chọn lấy 30
tác phẩm, thì có mặt Thời xa vắng. Nói thế để thấy, trong văn học Việt Nam hiện
đại, Lê Lựu đã có một vị trí đáng kể.” [49, tr.22]
Trung Trung Đỉnh trong bài “Dương Hướng và Bến không chồng” đăng
trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 12 năm 1991 đã đưa ra một số nhận xét về
mặt đề tài, nội dung và kết cấu của tiểu thuyết Bến không chồng của Dương
Hướng. Về mặt đề tài, tác giả Trung Trung Đỉnh nhận xét: “ Có người nói, tiểu
thuyết Bến không chồng viết về đề tài nông thôn. Lại có người nói, tiểu thuyết
này viết về đề tài chiến tranh. Có người lại cho rằng đây là cuốn sách viết về đề
tài xã hội. Tất cả đều có đấy, nhưng theo tôi Dương Hướng không nhằm vào đề
tài. Anh khai thác đến tận cùng thân phận những nhân vật chính....” [8, tr.99]. Để
lí giải cho ý kiến của mình, tác giả bài viết đã đưa ra dẫn chứng về cuộc đời, thân
phận các nhân vật như: nhân vật Nguyễn Vạn suốt cả đời gìn giữ cái bóng của
vinh quang mà đánh mất đi cái chính yếu là bản thân mình, cá nhân mình; các
nhân vật nữ như bà Nhân, bà Khiêm, mụ Hơn, cô Hạnh, cô Thủy, cô Dâu..., mỗi
người một hoàn cảnh, một thân phận khác nhau và đều để lại ấn tượng sâu sắc
trong lòng người đọc; Về mặt nội dung, tác giả Trung Trung Đỉnh cảm nhận được
sự chân thật, giản dị trong ngòi bút hiện thực của Dương Hướng qua việc miêu tả
ngôi làng Đông, những con người của làng Đông, những cảnh sinh hoạt thường
nhật, những nếp nghĩ, tình cảm, cách cư xử... tự nhiên, gần gũi như nó đang diễn
ra trước mắt người đọc, khiến người đọc như đang được sống trong không khí của
làng, được hòa nhập vào cuộc sống của người dân; Còn về kết cấu của tiểu thuyết,
Trung Trung Đỉnh chỉ ra: “Cuốn sách được kết cấu một cách hồn nhiên, thuận
theo chiều thời gian, theo sự kiện chung của đất nước trong khoảng thời gian đó,
và theo sự đến với thân phận từng nhân vật. Chính vì thế anh không mất nhiều
thời gian trong việc tính toán chương hồi, mặc dù vẫn có chương hồi” [8, tr.99]. Ở
đây, tác giả Trung Trung Đỉnh cũng có chỉ ra những mặt hạn chế của cuốn tiểu
thuyết này, đó là quá trình dẫn dắt “có những chỗ sắp xếp vụng và đôi khi lại thiếu
sự tế nhị của nghề nghiệp”, “ phần đầu dài quá. Câu chữ có chỗ hơi luộm thuộm
quá. Cái cười của cô Dâu cứ hi hí thế, e tự nhiên chủ nghĩa quá” [8, tr.100]... Thế
nhưng, tác giả bài viết lại đánh giá “đây là nhược điểm của người say”, đấy là
biểu hiện cái say của người nghệ sĩ Dương Hướng giữa làng Đông. Nhưng cuối
cùng, ưu điểm vẫn là chủ yếu, tác giả Trung Trung Đỉnh thừa nhận: “Anh chiếm
lĩnh được tâm hồn người đọc bằng sức hút của tấm lòng yêu thương nhân hậu, tự
nhiên, không ồn ào văn vẻ với một bút lực dồi dào đầy trách nhiệm.
Dương Hướng là người có bản lĩnh, dám chịu trách nhiệm trước những số phận bi
ai, không né tránh nửa vời khiến cho thiên truyện càng tới những trang cuối càng
dồn nén, dồn nén đến nghẹt thở” [8, tr.98]
Về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Hữu Sơn, trong
cuốn Điểm tựa phê bình văn học có bài: “Bóng đêm - Một phương diện tư duy
nghệ thuật trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma” chủ yếu khảo sát
thủ pháp nghệ thuật, cụ thể là thời gian nghệ thuật của tiểu thuyết này. Theo tác
giả Nguyễn Hữu Sơn thì tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma “không có
những trang miêu tả, thể hiện thời gian tâm lí, tâm trạng gây ấn tượng như Sầu
đong càng lắc càng đầy – Ba thu dồn lại một ngày dài ghê! (Truyện Kiều), song
chính mối liên hệ giữa các biến cố, sự kiện với thời điểm nảy sinh các biến cố, sự
kiện đó mới là đặc điểm chính yếu tạo nên đặc trưng thời gian cho tác phẩm” [43,
tr.131-132]. Và đặc trưng thời gian của tác phẩm là thời gian bóng đêm. Các phân
đoạn mở đầu hay kết thúc trong tác phẩm cũng gắn liền với cảnh chiều tà, bóng
tối. Phần lớn những thời gian được đặc tả trong tác phẩm là thời gian bóng đêm,
hơn thế nữa “chúng lại thuộc về đêm cuối tháng không trăng sao, hoặc có trăng
thì chỉ thấy hình hài kì dị, không bao giờ được miêu tả như cái đẹp vĩnh hằng của
thiên nhiên” [43, tr.133]; Đêm cũng là thời điểm bộc lộ thân phận, tính cách của
con người: ngay đầu tác phẩm là những hồi ức về chuyện mấy mươi năm trước lão
Quềnh đã từng gặp ma và ăn ở với ma trong đêm, rồi đến cảnh đám ma cụ cố Đại
trong đêm, cảnh Thó lợi dụng đêm tối bê trộm hũ rượu, cảnh bí thư Thủ và phó
công an Cao đã bày trận địa giả đẩy bà Son phải ra mặt chống ông Phúc - người
tình của bà năm xưa nay là là kẻ thù của dòng họ nhà chồng cũng được tiến hành
trong đêm, bà Son bị dồn đẩy cũng lao mình xuống sông tự vẫn giữa đêm tối...;
Thời gian bóng tối là thời gian của ma quỉ, hắc ám, hiểm họa, là sự đồng lõa với
tâm địa đen tối của từng con người, những phe nhóm , những “chi bộ gia đình”,
những sự ăn chia ngấm ngầm của các đối thủ, hay nói cách khác nó là thời gian
cho phần ma trong con người được bộc lộ....Chính vì thế, tác giả Nguyễn Hữu Sơn
đã kết luận: “Thời gian đêm tối là sự thống lĩnh trong Mảnh đất lắm người nhiều
ma, đồng thời nó lấn át ánh sáng của trăng sao, càng vượt qua, thậm chí triệt tiêu
sự mô tả ánh bình minh, mặt trời, nắng ấm rực rỡ, hoa nở, chim bay...”. Và trong
khi khảo sát cái không khí hắc ám, ngột ngạt của bóng tối trong tác phẩm, tác giả
Nguyễn Hữu Sơn đã tìm ra một tầng giá trị khác của tiểu thuyết này: “phải chăng
ý nghĩa thanh lọc, khát khao hoàn thiện tính người, dứt bỏ bóng đêm ma quỉ mới
chính là thông điệp tác giả muốn gửi tới bạn đọc”[43, tr.135].
Lê Thị Tâm Hoài trong luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu đề tài: “Người phụ
nữ trong ba tiểu thuyết đoạt giải năm 1991”. Bến không chồng của Dương Hướng
và Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường là hai trong số ba
tiểu thuyết đó. Ở bài viết này, tác giả Lê Thị Tâm Hoài đi sâu khai thác hình ảnh,
vẻ đẹp và bi kịch của những người phụ nữ thể hiện trong ba tiểu thuyết. Đọc bài
viết này ta sẽ thấy bà Nhân, cô Hạnh...(Bến không chồng), bà Son, cô
Đào...(Mảnh đất lắm người nhiều ma) đã được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác
nhau. Họ đều là những người phụ nữ đẹp, đẹp ở hình thể, đẹp ở tâm hồn, đẹp
trong bản năng... Nhưng cuộc đời họ cũng đầy bất hạnh, đầy bi kịch chỉ vì họ sinh
ra là phụ nữ, họ phải chịu đựng biết bao áp lực, định kiến ở đời....
Trên đây chỉ là một số trong rất nhiều bài viết chúng tôi muốn lấy làm ví dụ
minh họa cho sự quan tâm, những vấn đề nghiên cứu khác nhau của các tác giả về
ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma.
Có thể nói, khi nghiên cứu ba tiểu thuyết này, các nhà nghiên cứu hầu như không
phân tích sâu bức tranh xã hội nông thôn thể hiện trong các tác phẩm, mà chỉ
chạm tới, chỉ nói qua. Dẫu không phải là tiền sử của vấn đề luận văn nghiên cứu,
nhưng các bài viết vẫn có giá trị tham khảo rất lớn. Tuy nhiên, chúng tôi muốn
nhấn mạnh rằng vấn đề nông thôn không mới, không đặc biệt trong nghiên cứu
văn học, cũng không mới trong phạm vi nghiên cứu các tiểu thuyết Thời xa vắng,
Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma. Nhưng việc đi sâu nghiên
cứu bức tranh nông thôn miền Bắc Việt Nam một cách có hệ thống dựa trên ba
tiểu thuyết kể trên lại là một việc tương đối mới mẻ, tương đối khái quát.
3. Đối tượng nghiên cứu
Viết về nội dung nông thôn Việt Nam giai đoạn 1986-2000, có thể kể tên
nhiều tác phẩm như: Thuỷ hoả đạo tặc (Hoàng Minh Tường), Người giữ đình làng
(Dương Duy Ngữ), Chuyện làng Cuội (Lê Lựu)...
Nhưng, trong phạm vi đề tài nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung khảo sát bức
tranh nông thôn miền Bắc Việt Nam qua ba tác phẩm: Thời xa vắng (Lê Lựu),
Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn
Khắc Trường).
4. Phạm vi nghiên cứu.
Nhìn chung, các tiểu thuyết thời kì đổi mới phản ánh nhiều vấn đề xã hội
như: vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề chiến tranh, vấn đề con người và
quan niệm về giá trị con người trong thời kì mới... Ở đề tài này, chúng tôi chủ yếu
tập trung nghiên cứu các vấn đề của nông thôn miền Bắc qua một số tiểu thuyết
như đã xác định ở trên.
5. Mục tiêu của việc nghiên cứu - Những đóng góp.
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng tới những mục tiêu sau:
Thứ nhất, trong khi nghiên cứu các vấn đề thuộc về nông thôn được trình
bày trong ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người
nhiều ma, chúng tôi sẽ cố gắng phác hoạ những tồn tại và nảy sinh trong bức
tranh văn hoá làng quê Việt Nam thời kì đổi mới.
Thứ hai, chúng tôi quan tâm đến vấn đề con người cũng như quan tâm đến
việc phát hiện những chuyển biến trong lối sống, tâm lí, tình cảm của người nông
dân trước sự thay đổi của xã hội.
Thứ ba, bên cạnh những tìm tòi về nội dung thể hiện của tác phẩm, chúng
tôi cũng thực sự chú ý đến phong cách chiếm lĩnh và phản ánh hiện thực của các
tác giả.
Đạt được những mục tiêu kể trên, đề tài cũng có những đóng góp nhất định,
đó là đưa ra một cái nhìn tương đối khách quan, toàn cảnh về nông thôn miền Bắc
Việt Nam trong thời kì mới. Thêm nữa, những điểm hạn chế của đề tài, thiết nghĩ,
cũng có thể tạo hứng thú cho những ai cùng có mối quan tâm đến vấn đề này.
6. Phương pháp nghiên cứu.
Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng nghiên cứu và mục đích cần hướng tới
của luận văn, chúng tôi đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích - loại hình: Nắm vững đặc trưng, phương pháp
luận loại hình thể loại tiểu thuyết để khái quát bức tranh nông thôn, tìm ra và phân
tích những vấn đề chung, những biến đổi của xã hội, của con người và những bi
kịch mà con người phải chịu đựng sau luỹ tre làng.
Phương pháp lịch sử: Trên quan điểm lịch sử cụ thể, luận văn xem xét sự
vận động và chuyển biến của xã hội theo xu thế tất yếu của nó, để từ đó cố gắng
tiếp cận một cách đầy đủ nhất những quan điểm của tác giả về đời sống, xã hội và
con người thể hiện trong các tiểu thuyết.
Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng không nhiều,
nhưng chúng tôi có sử dụng để so sánh ba tiểu thuyết kể trên với một số tiểu
thuyết khác cùng thời có phản ánh những vấn đề liên quan đến vấn đề luận văn
đang nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có ý thức vận dụng những hiểu biết
về thi pháp học hiện đại kết hợp với cảm thụ truyền thống để nghiên cứu, chiếm
lĩnh tác phẩm theo quan niệm của mình. Đồng thời, cũng có ý thức tham khảo
những ý kiến đánh giá, nhận xét đã có về từng tác phẩm. Nhưng, cái chính yếu là
chúng tôi luôn cố gắng cảm nhận tác phẩm dựa trên ý nghĩa bản thân nó. Chúng
tôi hi vọng những gì thể hiện trong luận văn này sẽ hạn chế được phần phiến diện
chủ quan.
7. Kết cấu luận văn.
Luận văn gồm 113 trang. Ngoài hai phần dẫn luận và kết luận, luận văn có
ba chương:
Chương I: Bức tranh văn hoá làng quê trong ba tiểu thuyết: Thời xa vắng,
Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma.
Chương II: Bi kịch của con người nông thôn.
Chương III: Nghệ thuật miêu tả hiện thực.
Chương 1
BỨC TRANH VĂN HOÁ LÀNG QUÊ TRONG BA TIỂU THUYẾT:
THỜI XA VẮNG, BẾN KHÔNG CHỒNG, MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI
NHIỀU MA
1.1 . Bức tranh nông thôn đa dạng với nhiều phong tục tập quán
Nền văn hoá truyền thống Việt Nam được hình thành trên cơ sở của nền văn
hoá nông nghiệp. Cuộc sống của mỗi người Việt Nam đều gắn bó mật thiết với
xóm làng, quê hương. Chính bởi vậy, nói đến văn hoá làng quê là đề cập đến một
bức tranh nhiều màu sắc của sự đa dạng phong phú những phong tục tập quán.
Phong tục tập quán là những nền nếp đã lan truyền rộng rãi, thói quen phổ biến, có
từ lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác. Nội dung phong tục tập quán bao
hàm tất cả mọi mặt trong đời sống xã hội. Trong văn hoá Việt Nam, phong tục có
thứ trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặt, có sức mạnh hơn
cả những đạo luật. Tuy nhiên, khi nghiên cứu phong tục tập quán, một thực tế cần
phải nhìn nhận là có những phong tục tập quán tốt, tích cực, có những phong tục
tập quán không tốt, tiêu cực. Dẫu vậy, dù tốt hay không tốt, dù tích cực hay tiêu
cực thì những phong tục tập quán ấy cũng góp phần hình thành nên sự đặc sắc của
văn hoá nông thôn, sự đặc sắc của văn hoá dân tộc.
Trong cái ý thức tiểu nông tồn tại từ bao đời, người nông thôn thường có
quan niệm: “ăn cây nào rào cây ấy”, ở các làng quê Việt Nam, người ta thường có
xu hướng thích đề cao làng mình. Với họ, làng mình cái gì cũng nhất, cái gì cũng
hơn thiên hạ: “Đình làng Đông to nhất. Cây quéo làng Đông cao nhất. Cầu đá làng
Đông đẹp nhất; nước sông Đình cũng mát nhất” [18, tr.9]. Chính vì vậy, bất cứ địa
danh nào nổi bật của địa phương cũng được người ta nâng niu bằng vô số những
câu chuyện huyền thoại, truyền thuyết hoá chúng; một mặt, để bồi dưỡng thêm sự
gắn bó, lòng tự hào của người dân; mặt khác, để cho bất cứ ai đến làng mình, nghe
chuyện làng mình cũng phải nhớ, cũng phải ấn tượng...
Cái làng Đông của Bến không chồng dẫu nhỏ bé và cũng bình dị như bao
làng quê khác, nhưng nó lại là cái kho của những huyền thoại. Từ dòng sông, bến
nước, đến bãi tha ma của làng đều ẩn chứa bao câu chuyện thần bí. Nào là chuyện
về hồ “mắt tiên” quanh năm trong vắt, là nơi mà đàn bà con gái làng Đông có nỗi
oan khuất đều trốn ra hồ tắm để được giải oan. Người ta kể rằng, cô Ngần – một
người con gái đẹp nhất làng Đông - bị cha mẹ ép gả cho người cô không yêu nên
đêm tân hôn cô trốn ra hồ nước giữa đồng tự vẫn, từ đó, cái hồ nước tanh hôi như
một vũng nước trâu đằm, lau sậy um tùm, cá rúc, quốc lủi hôi xì, đỉa bơi cung
quăng, ếch nhảy chòm chõm... bỗng trở nên trong vắt quanh năm, cỏ lau lụi tàn,
quốc, cú lủi sạch, đỉa cũng mất tăm và chính nhờ hồ mắt tiên mà gái làng Đông da
cô nào cũng trắng mịn, mang nhiều nét khêu gợi của tiên nữ; Nào là chuyện gò
ông Đổng, nơi yên nghỉ của người con trai làng Đông dũng cảm, không chết nơi
trận mạc mà chết khi trở về nghe tin vợ ngoại tình. Và người ta bảo trai làng Đông
cũng có chí khí khác thường vì mang dòng máu của người chiến binh năm xưa;
Nào là chuyện về con ma ở gốc ruối đầu cánh mả Rốt chuyên hãm hiếp những
người đàn bà goá chồng; Nào là chuyện ba ba thuồng luồng ngoài bến sông...
Rồi đến cái làng Giếng Chùa trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, quanh
năm vật lộn với cái ăn cái mặc, với việc chia ruộng đất, với những mưu đồ về địa
vị..., cũng tồn tại không ít giai thoại. Làng Giếng Chùa không biết từ bao giờ tồn
tại câu ca: “Ai may được ngọc Giếng Chùa , rủi ai núi Bụt thả bùa trêu ma”. Các
câu chuyện được kể đều liên quan đến câu ca đó. Người ta kể rằng hồi làng còn
chùa, còn chiếc giếng làng to bằng gian nhà kè đá ong trước cửa tam quan, người
ta có thể bắt được ngọc ở đó. Hay những câu chuyện ma mãnh trên núi ông Bụt:
ma trêu người trần, ma quyến rũ người trần...
Mỗi làng đều xây dựng những kho truyền thuyết khác nhau và không thua
kém nhau về mức độ hấp dẫn. Những kho truyền thuyết ấy được hình thành từ
tình yêu làng quê thôn xóm thiết tha, sâu lắng, xuất phát từ nhận thức giản đơn,
ngây thơ của người dân và ý thức muốn tôn vinh làng, tôn vinh những con người
của làng mình. Bởi thế nên, thế hệ trước nối thế hệ sau, luôn nhắc nhở nhau một ý
thức: đã là người làng mà “không biết tích làng là hỏng”.
Làng không chỉ là những truyền thuyết, cuộc sống thực của các làng quê với
sự đa dạng, phong phú về các quan niệm, về đời sống tín ngưỡng, về những mối
quan hệ giữa con người với làng, giữa người với người trong đời sống thường
nhật... cũng là một cái mỏ vô tận cho ta khai thác, thưởng thức.
Trong đời sống tín ngưỡng, người Việt Nam nói riêng, người phương Đông
nói chung tiếp thu tư tưởng phật giáo, thường hay có tục thờ cúng ông bà tổ tiên.
Đây là một nét văn hoá đẹp. Đối với các dòng họ ở nông thôn, mỗi năm họ có một
ngày giỗ tổ, hay còn gọi là ngày chạp tổ. Việc này do tộc trưởng chủ trì. Người
trưởng họ có một thứ quyền lực riêng. Trưởng họ còn thường được hưởng ruộng
hương hoả, tự điền để lấy kinh phí lo việc họ. Ruộng hương hoả, tự điền nhiều thì
lễ to, nhà thờ họ lớn, tế khí đầy đủ và ngược lại. Sau này, ruộng đất thuộc sở hữu
toàn dân, không còn ruộng hương hoả, những người trong họ sẽ cùng nhau đóng
góp theo các xuất đinh của từng gia đình ( gia đình có bao nhiêu nam thì tương
đương bằng ấy xuất đinh) để lo sửa sang nhà thờ họ, cúng kính, cỗ bàn... Ngày giỗ
tổ hàng năm là ngày con cháu sinh sống, làm ăn ở khắp mọi nơi về họp mặt đông
đủ để tưởng nhớ tổ tiên, tưởng nhớ những người đã chết và để những người còn
sống trao đổi thông tin về cuộc sống, thắt chặt thêm tình anh em máu mủ ruột già,
dây mơ rễ má...
Dòng họ Nguyễn trong Bến không chồng cũng có những ngày giỗ tổ như
thế. Họ Nguyễn to nhất làng Đông. Từ đường họ Nguyễn cũng to nhất làng Đông.
Ngôi từ đường ấy gồm ba gian cùng với một gian hậu cung, nơi đặt bàn thờ tổ:
“Ba gian từ đường có hai hàng cột cái và hai hàng cột con, cả thảy là mười sáu
cột. Những chiếc cột lim to một ôm đẫy cứ đen bóng lên. Các chân cột đặt tảng đá
xanh nổi vân trắng, nền từ đường lát đá đỏ, ngoài thềm lát đá xanh. Gian hậu cung
cuốn bằng gạch chỉ vữa trộn mật với vôi, cát, rắn như đá. Trên bệ thờ là những
con rồng sơn son thiếp vàng rực rỡ, cỗ ngai đặt ở giữa bệ thờ, có bát hương to lúc
nào cũng toả khói thơm ngát. Gian giữa từ đường thêm bốn câu đối trên bốn cột
cái” [18, tr.22]. Đấy chính là mồ hôi nước mắt của cả họ tộc qua bao đời đã để lại.
Cái cơ ngơi ấy do cụ Nguyễn Nghiên, người đứng đầu dòng họ Nguyễn lúc bấy
giờ cai quản. Gia đình cụ Nguyễn Nghiên mấy đời độc đinh, sau cụ Nguyễn
Nghiên, đến con trai ông là Nguyễn Khiên, rồi cuối cùng là Nghĩa – cháu nội ông.
Lễ chạp tổ được nói đến trong tiểu thuyết rơi vào đời ông Nguyễn Khiên, khi ông
mới hơn bốn chục tuổi. Đấy là cái lễ chạp tổ đầu tiên sau ngày hoà bình, vì vậy,
các cụ trong họ bảo phải làm thật to. Họ bàn bạc, tranh cãi và cuối cùng quyết
định “chín chục mâm, mỗi mâm hai bát năm đĩa. Ban sắp cỗ gồm bảy tay dao thớt,
sáu đàn bà ngồi bếp, hai thanh niên bổ củi, bốn cô gái gánh nước. Ngoài ra còn
các nhân vật chén bát sai vặt.” [18, tr.25]. Có thể nói, ngày chạp tổ chính là ngày
hội, là thế giới tinh thần, vật chất của cả họ. Mỗi năm có một ngày chạp tổ, mỗi
nhà một cảnh, quanh năm làm ăn, bỗng dưng lại tụ tập đánh chén một bữa, đoàn
kết, thân mật, không phân biệt sang hèn, không phân chia địa vị: “từ ông giáo
Thảo đức độ có tiếng, đến nhà chú Bỉnh chuyên đi trộm khoai, trộm chuối, từ ông
Hưng phó chủ tịch đến nhà chú Dĩ ba đời gắp cứt trâu...” [18, tr.27]. Dẫu rằng việc
tổ chức giỗ chạp linh đình, rùm beng như vậy có hơi tốn kém về thời gian và tiền
bạc, lại dễ nảy sinh mê tín dị đoan... Nhưng chính việc ấy, nếu được tổ chức đúng
mức, sẽ phát huy được thuần phong mĩ tục, làm phong phú thêm đời sống tinh
thần của nhân dân ta.
Như đã nói ở trên, cũng như một số nước phương Đông khác, phần đông
người dân Việt theo tín ngưỡng phật giáo, có tập tục thờ cúng người chết vì họ tin
rằng con người có phần hồn, phần xác, có kiếp trước, kiếp sau. Cái quan niệm ấy
có thể khiến người ta sống tốt hơn, lương thiện hơn để tu nhân tích đức cho hậu
thế, tránh quả báo ở đời. Thế nhưng, cái suy nghĩ ấy cũng làm hình thành trong
nhân dân biết bao điều mê tín, bao hành động ngây thơ, mù quáng đến là tức cười.
Bà đồ Khang (Thời xa vắng) thấy con trai bị cảm lạnh, mê man bất tỉnh,
không đi kiếm thầy thuốc mà vội vàng ra sân để “gọi hồn, gọi vía” con về. Quan
niệm dân gian cho rằng con người ta, con trai có “ba hồn bảy vía”, con gái có “ba
hồn chín vía”. Hồn, vía có thể thoát khỏi xác khi giật mình, khi sợ hãi quá, khi ngủ
hoặc là khi ngất xỉu... Thằng Sài sợ đòn, trốn cha ngoài cánh đồng trong một đêm
sương giá nên bị cảm đến mức hôn mê. Với niềm tin như thế, bà đồ Khang và mọi
người hốt hoảng cầu gọi: “Ba hồn bẩy vía thằng Sài đâu thì về”, Bẩy vía ba hồn
Sài ơi về với mẹ đi con”, “Bẩy vía ba hồn thằng Sài ở đâu tthì về với bố , với mẹ
Sài ơi”... Cũng may, ngoài gọi hồn, gọi vía, người ta còn kết hợp với những cách
giải cảm dân gian khác nên thằng Sài mới thoát chết.
Cũng từ những quan niệm mê muội, ấu trĩ ấy mà làng Giếng Chùa (Mảnh
đất lắm người nhiều ma) lổn nhổn, lẫn lộn người với ma, ma với người. Người ta
tin vào cái tài cai trị phần âm của làng của cô Thống Bệu, dù rằng ai cũng biết cô
“vừa giỏi việc âm, lại vừa tài việc dương”, bởi cô cũng có vợ và con đàn cháu
đống hẳn hoi. Người ta tin vào những câu chuyện ma do người này người kia kể.
Người ta cũng tin rằng người chết có thể nhập hồn vào người khác để trả lốt
những ân oán, nợ nần trên cõi trần... Bởi vậy mà cái xã hội Giếng Chùa nhỏ bé
xảy ra biết bao chuyện lạ lùng, ma nhập vào người, người đội lốt ma, có người mê
tín, có người lợi dụng chuyện mê tín..., khiến cho làng Giếng Chùa tồn tại toàn
những ma là ma, cả ma sống và ma chết...
Bức tranh văn hoá làng quê có lẽ thể hiện sinh động nhất trong các mối
quan hệ của con người trong đời sống thường nhật. Tiền thân là một xã hội phong
kiến tồn tại suốt hơn một ngàn năm, ảnh hưởng sâu sắc những chuẩn mực đạo đức
theo quan điểm Nho, Phật, Đạo nên khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa rồi đến
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời thì những quan điểm ấy vẫn
luôn thực sự ăn sâu bén rễ trong nhân dân. Chính vì thế, trong gia đình người Việt
Nam nói chung luôn có sự nề nếp, có trên có dưới, quan hệ cha – con, chồng – vợ,
anh - chị – em với vai vế rõ ràng. Chẳng thế mà, cha để di huấn bảo phải đào mộ
kẻ thù để giải quyết ân oán, dù sợ run nhưng Trịnh Bá Hàm (Mảnh đất lắm
người nhiều ma) vẫn cứ thực hiện. Thủ (Mảnh đất lắm người nhiều ma) đường
đường là một bí thư đảng uỷ xã, ai cũng nể, cũng sợ, nhưng lại tuyệt đối “chưa
bao giờ Thủ dám trái lời ông anh cả” [52, tr.81]. Rồi tất cả những người phụ nữ
như bà đồ Khang, vợ Tính, Tuyết (Thời xa vắng), bà Khiên, bà Nhân (Bến không
chồng), bà Son, bà Dần (Mảnh đất lắm người nhiều ma)...cũng cung cúc tuân
theo đạo đức phong kiến tồn tại từ bao đời: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu,
phu tử tòng tử”. Cả đời họ chỉ biết tuân phục, hi sinh và cống hiến. Bên cạnh
những người đàn ông của đời mình, họ cam chịu kiếp dây leo, không một lúc nào
dám tự sống, sống cho riêng mình.
Con người bên cạnh cuộc sống riêng tư, những mối quan hệ riêng tư, còn tồn
tại với vai trò là tế bào của xã hội. Nói như vậy có nghĩa là ta đang nói đến mối
quan hệ giữa con người với làng xã, hay nói cách khác là nói đến trách nhiệm của
người dân khi sống trong làng. Cha ông ta nói: “phép vua thua lệ làng”. Có nghĩa
là bên cạnh những luật lệ chung của quốc gia, luôn tồn tại những thứ “hương
ước” của riêng từng làng được hình thành và điều chỉnh qua nhiều đời, không
người dân nào dám chống đối và nó cũng không dễ gì bị phá bỏ. Và những “lệ
làng” ấy hầu như đều hướng tới mục đích xây dựng, phát triển làng tốt hơn, nền
nếp hơn, phồn thịnh hơn.
Con đường chính giữa làng Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma)
dài gần một cây số được lát toàn bằng gạch vồ mua từ dưới Hương Canh – Vĩnh
Phúc, mà lát nghiêng, nên trải qua bao nhiêu thời gian, nó vẫn chắc khừ. Có một
con đường sạch sẽ, đẹp đẽ như vậy là vì từ xưa làng có lệ mỗi đám cưới phải nộp
200 viên gạch: “Trai làng lấy gái làng nộp 200, thế tức là mỗi bên chỉ có 100 viên
thôi. Nhưng nếu trai làng gái làng đi lấy vợ lấy chồng ở đất khác, thì gia đình cũng
cứ phải chồng đủ 200 viên” [52, tr.5]. Ngoài ra, làng còn qui định những người đỗ
tú tài trở lên, những người nhận chức từ lí trưởng trở lên cũng phải mừng làng 200
viên gạch. Những cô gái hoang thai cũng phải tạ làng 200 viên gạch. Đấy là chưa
kể những người đi xa về như ông Quản Ngư cũng bày tỏ nỗi nhớ làng bằng việc
tặng cho làng 200 viên gạch ... Người ta cống hiến cho làng bằng nhiều cách, có
người tự nguyện, có người bị cưỡng ép, có người vui vẻ, có người oán hận... Nhìn
chung, đường làng được lát bằng cả những niềm vui, niềm hạnh phúc, sự kiêu
hãnh về chức danh, và được lát bằng cả những nỗi khổ đau ê chề, sự tủi cực của
những mảnh đời. Nhưng đấy là lệ làng, không ai dám cãi, không dễ phá bỏ, ai
không tuân theo thì chỉ có cách bỏ làng mà đi.
Những định chế của làng cùng lối sống thuần nông khiến cho cuộc sống của
người nông thôn vừa đa dạng vừa vô cùng phức tạp. Mối quan hệ giữa những con
người trong làng trong xã cũng vì thế mà mang nhiều sắc thái, vừa cả nể vừa du
di, vừa dễ dãi vừa khe khắt, vừa tình cảm, khắng khít vừa tọc mạch, ti tiện, vừa tự
ti vừa tự tôn...
Khác với lối sống thờ ơ, đèn nhà nào nhà ấy sáng ở thành phố, ở nông thôn,
hầu như cả xóm, cả làng, cả xã đều biết nhau. Chính điều đó tạo nên quan hệ, lối
sống tình cảm, gắn bó giữa các gia đình trong cộng đồng thôn, xã; tạo nên cái nếp
sống đẹp “tối lửa tắt đèn có nhau” ở các làng quê. Thế nhưng, ngay trong cái tình
đoàn kết, cái kiểu sống “tối lửa tắt đèn có nhau” ấy lại nảy sinh vấn đề phức tạp,
nảy sinh tình trạng “trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã thông”. Hay nói cách khác,
người nông thôn hay có thói quen để ý, xét nét, thóc mách chuyện nhà người khác
và lan truyền thông tin rất nhanh.
Đến cái xóm Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma) trong những
ngày đói ta sẽ thấy ngay điều đó. Vào những ngày giáp hạt, xóm Giếng Chùa nổi
tiếng sung túc nhất xã cũng rơi vào cảnh đói vàng mắt. Nhiều nhà nấu cháo phải
độn thêm rau tập tàng. Nhiều nhà phải luộc chuối xanh chấm muối. Những nhà
thường xuyên túng bấn thì bây giờ đứt bữa hẳn. Cả làng, đi đâu cũng thấy những
mặt người hao gầy, nhớn nhác hớt hải cứ tưởng như đang vội vã đi đâu, nhưng kì
thực chẳng có việc gì hết, cứ ra vào quanh quẩn với cái bụng eo sèo. Ấy thế mà họ
vẫn còn thời gian, sức lực để “quan tâm” đến cuộc sống của người khác. Họ biết
được nhà bà đồ Ngật, “người vẫn quen ăn trắng mặc trơn, phiên chợ nào cũng
xách cái làn mây đi mua hôm thì chân giò lợn ỉ, hôm thì cá chép cả con giãy đành
đạch” [52, tr.6], nay cũng phải ăn bánh mạt ngô, thứ ngô trước đây chỉ dùng chăn
gà. Họ cũng biết gia đình ông Quản Ngư, người “với hai bàn tay trắng đã chu du
đến nửa vòng trái đất”, nói cái gì cũng “độn thêm tiếng Tây, lưỡi cứ đá ngược lên
tận mái ngói, đến quăn cả mồm miệng” [52, tr.7], giờ cũng phải đóng cửa ăn cháo
cám, đến nỗi thằng con bị táo bón phải ôm gốc khế, chổng mông lên cho ông bố
lấy que “đào”. Và trong các cuộc họp chi bộ, họp xã..., người đi họp chưa về đến
nhà thì người ở nhà đã tiếp nhận đầy đủ thông tin cuộc họp do “thông tấn xã vỉa
hè” đưa lại... Cái gần gũi, tình cảm trong đời sống thôn quê đôi khi trở thành thóc
mách, lắm chuyện. Nhưng chính điều đó lại trở thành một nét đặc trưng của văn
hoá làng.
Song hành với thói quen xét nét cuộc sống của những người xung quanh thì
người nông thôn lại rất thích phô trương cuộc sống sung túc của mình cho làng
xóm thấy. Bởi vì, trong tâm thức của họ luôn quan niệm rằng: “Con công hơn con
quạ cũng là ở bộ lông, chứ vặt trụi đi thì ông quyền cao cũng như anh nhọ đít”
[52, tr.75]. Chính vì thế, người ta thích mua sắm, tích cóp được chút tiền nào là lo
sắm sửa đồ đạc. Thậm chí, đói cũng bóp bụng sắm.
Nhà anh Tính (Thời xa vắng) ở trong cái làng Hạ Vị lụt lội và cũng chẳng
giàu có gì, nhưng trong căn nhà của anh vẫn bầy biện và có cung cách ăn ở như
bất cứ một nhà khá giả lịch sự nào trên tỉnh. Khi có khách quý đến nhà anh, họ sẽ
được đón tiếp một cách khá long trọng, bài bản, đến nỗi, khách dù ăn cơm hay chỉ
uống một cốc nước bột sắn cũng không có cảm giác làng Hạ Vị úi xùi. Sở dĩ như
vậy là vì, trong khi cả làng Hạ Vị người ta không thể chấm thịt gà bằng thứ nước
chấm gì khác ngoài món tiết luộc thì nhà Tính, dưới sự cố vấn của thằng cháu đã
được đi tập huấn, tham quan cửa hàng ăn trên huyện, đã có đầy đủ những nguyên
liệu bếp núc cần thiết như: hành, tỏi, hồ tiêu, ca ri, ớt khô, chanh, dấm, dâu ngâm,
sắn dây, rượu thuốc... Khách đến sẽ được hưởng những mâm cỗ thịnh soạn, thức
nào ra thức ấy, chứa chan tình cảm và kiến thức ẩm thực của chủ nhà...; Khách sẽ
không thể biết được cái cảnh vợ con Tính sau đấy, đằng sau cánh cửa bếp, xì xụp
bên những bát đĩa thừa thãi đã được dồn lại, cùng với bát bánh đúc ngô, một món
ăn quen thuộc hàng ngày.
Đến một vùng nông thôn đói nghèo như xóm Giếng Chùa (Mảnh đất lắm
người nhiều ma) nhưng ngay trong những tháng giáp hạt khó khăn, người ta vẫn
thi nhau sắm sửa nào là giường mô-đéc, tủ buýp-phê, tủ lệch đến sa-lông chân
quỳ. Ông bà dạy: “tốt khoe ra, xấu xa che lại”. Người dân ở đây phát triển triệt để
ý nghĩa lời dạy đó. Với họ, đói mà được ngồi sa-lông gỗ lát cũng vênh vang, mát
mặt hơn là no bụng mà để người khác thấy được sự tọa tuệch trong cuộc sống của
mình. Và trong quan niệm của họ thì “khách đến nhà làm sao biết trong bụng chủ
nhà chứa những gì. Rau lang, sắn mốc hay cơm tám giò chả đã qua khỏi cửa
miệng thì cũng là nhập khẩu vô tang, có giời lần!” [52, tr.75]. Thế là có bao nhiêu
người ta cứ phô ra, không có cũng cố kiếm ra mà phô trương. Sở dĩ như vậy là vì
họ không muốn ai coi thường nhà mình, nhất là coi thường vì sự bần hàn. Đầu tư
cho cuộc sống của người sống đã đành, người ta còn đầu tư cho cả người chết.
Trong khi nhiều người trong làng “cái thiếu, cái đói hiện lên từ ánh mắt mệt mỏi
đến nước da mai mái và cặp môi khô, cả hàm răng cũng khô. Tiếng cười thiếu ăn
khô tông tốc” [52, tr.21] thì nhà ông Vũ Đình Phúc tổ chức đám tang cho bố mình
hết sức đàng hoàng, trang trọng, không nề hà tốn kém: ngả một con lợn hơn một
tạ, đóng áo quan bằng gỗ dổi không cần phải sơn mà vẫn vàng ươm, mời phường
bát âm lớn theo đúng nghi thức cổ truyền, tổ chức lễ cầu hồn hết sức tốn kém, làm
cỗ mời cả làng... Họ Vũ Đình là họ lớn trong làng, ông Phúc muốn làm tất cả
những việc ấy để dân làng nhìn vào, để cho dòng họ đối địch Trịnh Bá phải tức tối
vì ghen tị.
Hay xét nét, thích phô trương, tính câu nệ, cả nể..., những đặc điểm chung
về tính cách của người nông thôn khiến cho họ đối xử với nhau trong cuộc sống
thường nhật rất tình cảm nhưng cũng rất khách sáo theo kiểu “hòn đất ném đi, hòn
chì ném lại”. Vợ chồng anh Tính (Thời xa vắng) đã xúc động đến run người khi
Châu – vợ Sài về ra mắt đã sắm sửa một mâm cỗ nhỏ để cúng bàn thờ tổ gia đình
chồng, mua mấy gói kẹo đưa chị dâu chia cho các cháu...Anh chị thích sự quan
tâm chu đáo của Châu. Sự chu đáo ấy khiến cho anh chị yên tâm là cô em dâu
người Hà Nội không hề xem thường gia đình chồng quê mùa lam lũ. Và với niềm
xúc động chân thành đó, bao khó khăn, vất vả vì phải chạy đôn chạy đáo lo đồ
cưới cho thắng em đều tiêu tan. Anh chị còn cố gắng hết sức, kể cả việc cắt phần
ăn của các con để lo cho được một đám cưới “không hề có sự cách biệt giữa quê
và tỉnh”. Hay như nhà ông Hàm (Mảnh đất lắm người nhiều ma), mỗi lần gặt,
nhà nhiều ruộng phải nhờ anh em họ hàng. Và mỗi lần như vậy, ông Hàm lại tổ
chức ăn rất sang: “cá kéo dưới ao, gà nhốt sẵn trong chuồng, rượu cất từ mấy hôm
trước” [52, tr.176]. Những bữa ăn như vậy vừa là để chứng tỏ uy thế, sự sung túc
của chủ nhà; vừa là để anh em trong gia đình thêm tình cảm; vừa là sự trả ơn tế
nhị của chủ nhà.
Trong quan hệ gia đình, người nông thôn còn giữ một mối quan hệ vừa tình
cảm, thân mật vừa giữ kẽ, khách sáo đến vậy. Trong quan hệ xã hội, quan hệ xóm
làng, sự câu nệ, khách sáo ấy lại càng lắm nhiêu khê. Như đã nói ở trên, Vũ Đình
Phúc (Mảnh đấtlắm người nhiều ma) tổ chức đám tang cho cha rất linh đình, có
cỗ bàn mời cả làng. Và trong cái đám tang ấy, dù đau xót vì cha chết, dù mệt mỏi
vì là người đóng vai trò đứng mũi chịu sào, nhưng ông Phúc vẫn không quên phân
công người ghi chép lại tên những người tới phúng viếng để “sau này người ta có
đám, mình còn nhớ phúc đáp lại” [52, tr.33]...
Có thể nói cuộc sống của nhân dân ba làng: làng Hạ Vị (Thời xa vắng), làng
Đông (Bến không chồng), làng Giếng chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma),
mỗi làng có một nét văn hóa riêng, có những tập tục riêng. Những sự khác biệt ấy
tạo nên sự phong phú, đa dạng cho bức tranh văn hoá chung của dân tộc; đồng
thời, cũng khẳng định nét đặc sắc riêng trong đời sống văn hoá tinh thần của mỗi
vùng quê. Tìm hiểu những bức tranh văn hoá này, ta sẽ phần nào hình dung được
các quan niệm, lối sống, tính cách của con người ở những nơi này. Chính điều ấy
sẽ là chiếc chìa khoá mở cánh cửa khám phá những vấn đề nông thôn mà ba tác
phẩm trên đã thể hiện.
1.2. Một xã hội nhức nhối những vấn đề nóng bỏng khó giải quyết
1.2.1. Nông thôn với những lý tưởng và niềm đau trong chiến tranh
Trong ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm
người nhiều ma, không tác phẩm nào miêu tả trực tiếp chiến tranh, nhưng chúng
đều cập đến chiến tranh. Và trong những bức tranh loang lổ những dấu tích của
chiến tranh ấy, người đọc vẫn cảm nhận trọn vẹn cái không khí rực lửa, lý tưởng
cao đẹp, niềm khát khao cống hiến, niềm kiêu hãnh về thành tích chiến trận...
Đồng thời, cũng qua những bức tranh loang lổ ấy..., độc giả cũng hình dung được
phần nào những nỗi đau, những mất mát mà con người phải chịu trong chiến
tranh, kể cả người ở tiền tuyến lẫn người ở địa phương. Hay nói cách khác, ở các
tác phẩm này, chiến tranh được nhìn nhận cả dưới góc độ lý tưởng lẫn thực tế
nghiệt ngã của nó.
Dưới góc độ lý tưởng, chiến tranh đã đem đến lý tưởng sống, niềm tự hào,
sự kiêu hãnh cho con người, là nơi khẳng định phẩm giá của con người tốt nhất
suốt cả một thời, hết chống Pháp lại chống Mĩ.
Chẳng thế mà Nguyễn Vạn (Bến không chồng), một thằng bé mắt toét đi ở
chăn trâu cho nhà địa chủ Hào, quanh năm mặc quần cộc phơi tấm lưng trần đen
nhánh trên lưng trâu, bỏ làng đi đã lâu, nay trở về đã hoàn toàn khác, tự tin, đĩnh
đạc và “đố ai còn dám coi thường”. Bởi vì “chẳng gì Nguyễn Vạn cũng là lính
Điện Biên chiến thắng trở về” [18, tr.6]. Vạn là anh hùng. Vạn là anh hùng của
dân làng Đông, anh hùng của dòng họ Nguyễn, anh hùng của cả chính bản thân
mình. Trong kháng chiến chống Pháp, Vạn đã tham gia bằng tất cả sự dũng cảm,
sự liều lĩnh và có lẽ cả bằng khát khao muốn rũ bỏ cuộc sống tủi cực thủa ấu thơ.
Thế nên,khi bị thương ngoài mặt trận, máu chảy ra ướt đẫm cả quần áo đau điếng
mà Vạn vẫn cố cười: “Vạn cười rống lên để khỏi khóc, Vạn cười đến khi ngất xỉu
lúc nào không biết nữa” [18, tr.6]. Những tháng năm đau thương và gian khổ ấy
đã đem lại cho thằng bé Vạn thủa xưa một cuộc đời mới, một giá trị mới. Với
“những tấm huân chương rủng rỉnh lấp lánh trên ngực áo Vạn”, người ta không
nhớ thằng Vạn mắt toét, đầu trần chân đất nữa mà chỉ kính trọng, trìu mến khi
nhắc đến chú Vạn, chú Vạn Điện Biên...Đấy là niềm tự hào, niềm kiêu hãnh của
Vạn, của cả họ tộc. Chẳng thế mà, đi đâu Vạn cũng nhắc đến nó. Nói chuyện với
mọi người cũng: “hồi ở Điện Biên”. Răn dạy đám thanh niên trong xã cũng: “ hồi
ở Điện Biên”. Xảy ra chuyện gì cũng ngẫm nghĩ, liên hệ tới “ hồi mình còn ở Điện
Biên”... Vạn tự cho rằng mình “nên được người là nhờ cái thời đánh Pháp”.
Những hào quang của quá khứ luôn mới, luôn sống động trong cuộc sống của
Vạn. Nó yêu cầu Vạn sống tốt để xứng đáng với nó. Nó khiến Vạn giữ lại tất cả
những kỉ niệm của một thời: chiếc ba lô, bộ quân phục rách nát đã vá đi vá lại...
Và cái lí tưởng, nhiệt huyết của người lính Điện Biên năm xưa vẫn tồn tại, vẫn
nguyên vẹn tươi mới trong trái tim bác Vạn, lão Vạn của những năm chống Mĩ.
Khi làng Đông bị máy bay Mĩ vào không kích, cả làng ai cũng sợ, chỉ có Nguyễn
Vạn một mình âm thầm lặng lẽ xách cây súng của thời Điện Biên năm xưa ra nằm
trên gò phục bắn lại cho đỡ tức. Không có chiếc máy bay nào bị bắn rơi, nhưng
không thể nào không ghi nhận sự nhiệt tình , lòng dũng cảm của ông trong chiến
đấu. Có thể nói, Nguyễn Vạn luôn sống bằng những niềm tin, niềm kiêu hãnh,
những chân lý mà cuộc đời binh nghiệp đã trang bị cho ông. Hình ảnh chú Vạn
Điện Biên phần nào trở thành quan niệm thẩm mĩ về người đàn ông của làng
Đông lúc bấy giờ. Và người ngưỡng mộ, chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ Vạn là đứa
cháu trai trưởng họ của anh – Nghĩa.
Ông bà Khiên chỉ có một mình Nghĩa. Nghĩa sẽ là trưởng tộc của dòng họ
Nguyễn. Và, Nghĩa vừa mới lấy vợ, vẫn đang say đắm, ngất ngây trong cảm giác
tân hôn. Vậy mà, tạm dứt bỏ tất cả, cũng như nhiều trai tráng của làng Đông, theo
lời động viên của chú Vạn, của chính quyền xã, Nghĩa quyết định lên đường nhập
ngũ. Khi đi, Nghĩa phải dấu cha, bởi ông Khiên nhất định không đồng ý: “tôi còn
mỗi mình thằng Nghĩa. Cả họ Nguyễn nhà ta còn mỗi mình nó...” [18, tr.88].
Chính điều này đã khiến Nghĩa vô cùng ân hận. Nghĩa ân hận không phải vì đã
trốn cha ra đi mà ân hận vì đã không hiểu nỗi lòng cha mình. Đúng là ông Khiên
không muốn Nghĩa đi bộ đội mà muốn Nghĩa ở nhà lo việc họ tộc. Nhưng ông
Khiêm cũng là người biết suy nghĩ, biết xấu hổ và trọng danh dự nên việc Nghĩa
lén lút lên đường nhập ngũ khiến ông có cảm giác mình là kẻ hèn nhát, ích kỉ...
Ông đã chết trong đau khổ. Nghĩa đau đớn vì khiến cha buồn, đau đớn vì không về
kịp để gặp cha lần cuối. Thế đấy, để thực hiện được lý tưởng của người trai thời
loạn, vì đất nước, Nghĩa phải quên tình nhà; vì sự nghiệp chung, Nghĩa phải tạm
gác lại hạnh phúc riêng. Mà đâu phải chỉ có Nghĩa, ngoài Nghĩa ra còn những
thanh niên khác của làng Đông cũng hăm hở ra trận, hăm hở cống hiến như: anh
Thành thương binh, anh Biền, Hiệp, Hà, thằng Tốn...Mỗi người đều có mặt này
mặt khác, nhưng cái phần hào hùng đẹp đẽ của họ thì thật đáng yêu và đáng trọng.
Tiểu thuyết Thời xa vắng cũng khắc họa chân dung một loạt những con
người say sưa tiến bước theo lý tưởng cách mạng, từ người cầm quân, quản lý
chính trị cấp trung đoàn cho đến anh nông dân cù nần mới nhập ngũ. Họ cống hiến
hết mình để phục vụ cho công cuộc kháng chiến chống Mĩ. Sự oanh tạc của đế
quốc Mĩ trên khắp đất nước đã làm bùng nổ lên lòng căm giận và ý chí quật cường
vốn đã dư thừa của mỗi người dân. Mọi người thi nhau ra chiến trường. Người đã
là quân nhân viết đơn tình nguyện đi B. Người đang là thanh niên ở nông thôn, ở
nhà máy, ở trường học thì viết đơn xin nhập ngũ. Hầu như đã là thanh niên thời
bấy giờ, ít ra ai cũng một lần tình nguyện cầm súng sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc,
cho thắng lợi của miền Nam. Tất cả vì miền Nam ruột thịt. Có những lá đơn viết
bằng mực. Có những lá đơn viết bằng bút chì. Thậm chí, có những lá đơn được
viết bằng máu... Trong những lá đơn ấy, có hai lá đơn được viết bằng máu chích
ra từ cánh tay của một chiến sĩ trung đoàn bộ phòng thủ bờ biển: Giang Minh Sài.
Khi tình nguyện tham gia chiến trận, người ta thường hay xét đến động cơ. Nếu
nói đến động cơ, Giang Minh Sài đi bộ đội, tình nguyện đi B hoàn toàn không
phải thuần tuý là động cơ yêu nước, căm thù giặc Mỹ. Sài đi bộ đội là để trốn
tránh cuộc sống hiện tại, cuộc sống làm chồng, trốn tránh tai tiếng của mối tình
vụng trộm với Hương. Vì cái động cơ ấy, Sài sẵn sàng lao vào học tập, lao động
không biết mệt mỏi, thậm chí sẵn sàng xung phong đến chỗ nguy hiểm, đến cái
chết. Dẫu là vậy, nhưng khi vào đến chiến trường, trực tiếp đối diện với sự khốc
liệt của chiến tranh, nhất là chứng kiến cái chết của Thêm, người đồng đội vì
thương anh thèm rau, đi tìm miếng rau cho anh ăn khỏi xót ruột mà bỏ mạng thì
Sài đã thực sự trở thành chiến sĩ. Sài đã chiến đấu hết mình, chiến đấu một cách
ngoan cường và thông minh. Dưới tài chỉ huy của trung đội trưởng Giang Minh
Sài, những khó khăn, nguy hiểm của các chiến sĩ lái xe khi đến dốc “bung trôi”,
ngầm “mất tích” được giải quyết nhanh gọn. Cũng nhờ tài phán đoán của Sài mà
một trung đội thiếu của ta đã đánh tan một trung đoàn đủ của đối phương. Và
chính Sài đã trực tiếp bắn rớt máy bay của giặc, bắt sống giặc lái. Chiến tranh đã
làm cho một con người sống không có niềm vui, không có lý tưởng như Sài trở
nên sống có ích, trở thành anh hùng. Chiến tranh đã biến anh thành con người bất
chấp gian khổ, bất chấp hi sinh. Hay nói cách khác, đối với anh trong cuộc chiến
đấu một mất một còn, từng giây từng phút này không hề có gian khổ, hi sinh, bởi
vì không bao giờ anh nghĩ tới nó, cũng không bao giờ, ở đâu những hi sinh, gian
khổ lại có thể cản được nhiệt tình cách mạng, ý chí kiên cường của anh.
Xung quanh Sài còn nhiều người khác như: chính uỷ Đỗ Mạnh, anh Hiểu,
anh Hiền, những người đồng đội, cấp trên của Sài. Những con người này cũng
một lòng một dạ phục vụ cho cách mạng, cố gắng đào tạo ra những con người
cách mạng đúng chuẩn mực phục vụ cho công cuộc kháng chiến của dân tộc.
Ngay cả việc góp phần gây ra bi kịch của đời Sài cũng xuất phát một phần vì tình
thương đối với Sài, một phần vì cố gắng thực hiện cho trọn vẹn nhiệm vụ trước
Đảng.
Một nhân vật khác chỉ xuất hiện thoáng qua trong tiểu thuyết Mảnh đất
lắm người nhiều ma nhưng vẫn để lại ấn tượng trong lòng người đọc, đó là chính
trị viên Thông. Trong một trận đánh giáp lá cà giữa bọn lính dù, lính thuỷ đánh bộ
của địch với đại đội của Thông, do bên ta không cân sức, lại không quen đánh bộ
binh nên nhóm quân do Thông chỉ huy bị chết gần hết, chỉ còn lại Thông và người
chiến sĩ quân khí. Đau đớn trước những cái chết thê thảm của đồng đội, lại thêm
việc phát hiện ra khẩu pháo mới chữa đang để trong ụ làm dự phòng đã bị địch
chiếm mất, chính trị viên Thông đã tự kết liễu đời mình bằng một phát súng vào
đầu. Tài sản của người lính trận là vũ khí, bị tước mất vũ khí, phải chăng anh chết
vì uất ức trước một tổn thất quá lớn, và chết vì không làm tròn trách nhiệm của
một người chỉ huy.
Chiến tranh và những lý tưởng cao đẹp của nó đã tạo nên những bộ mặt,
những cuộc đời chiến sĩ khác nhau. Vì lý tưởng cách mạng cao đẹp, người ta sẵn
sàng hi sinh những nhu cầu cá nhân, những hạnh phúc riêng tư, hi sinh cả mạng
sống của mình. Đấy là sự thể hiện cao nhất trách nhiệm của con người đối với đất
nước, đối với dân tộc.
Nhưng bên cạnh những lý tưởng cao đẹp ấy, thực tiễn của chiến tranh cũng
vô cùng khốc liệt. Cái khốc liệt ấy tác động đến con người cả dưới góc độ vật chất
lẫn tinh thần, nó gây lên biết bao bi kịch cho con người.
Nguyễn Vạn (Bến không chồng) vì say mê với lý tưởng của đời mình,
muốn gìn giữ chút hào quang thủa chiến trận mà đã quên đi con người cá nhân,
quên đi những khát vọng hạnh phúc chính đáng của cá nhân. Đến khi được hưởng
một chút hạnh phúc thì lại tự cho đó là điều tội lỗi, là tự đánh mất tên tuổi, đánh
mất lòng kiêu hãnh của bản thân... Nguyễn Vạn là người quá lý tưởng hoá những
gì mà mình theo đuổi nên mắc phải sai lầm. Mục đích của cách mạng là đem tới
cho con người một cuộc sống mới vui vẻ, hạnh phúc, đâu phải khiến người ta sống
khổ hạnh, đáng thương hơn.
Cũng là những con người quá cứng nhắc trong việc thực hiện lý tưởng của
Đảng, Hiểu, Hiền (Thời xa vắng) đã tiếp tay đẩy Sài lún sâu vào bi kịch của đời
anh. Hiểu thì ngăn chặn tình cảm giữa Sài và Hương. Hiền thì theo sát Sài trong
những ngày Sài về quê, khuyên nhủ và thậm chí như ra lệnh cho Sài phải yêu vợ,
vào ngủ chung với vợ. Hiểu và Hiền làm tất cả những điều ấy xuất phát từ mong
muốn những chiến sĩ trong khu vực mình quản lý đều tốt, đều tiến bộ; vì họ yêu
quý, quan tâm đến Sài, không muốn lý lịch quân nhân của Sài có tì vết, ảnh hưởng
đến việc vào Đảng và quá trình tiến thân của Sài..., Hiểu và Hiền, những người
lãnh đạo phần tư tưởng lại mắc sai lầm về tư tưởng, vô tình đào tạo ra những con
người “sống hộ”, yêu quý những gì mà chỉ huy yêu, ghét cái mà chỉ huy ghét,
không có lối sống của riêng mình. Chính uỷ Đỗ Mạnh thức thời hơn về mặt tư
tưởng, nhưng cũng như đa số cán bộ quân đội lúc bấy giờ, ông không dám bứt
phá, không dám bước ra khỏi cái nếp quen trong suy nghĩ, trong cách quản quân
lúc bấy giờ, vì vậy, dù hiểu, dù thương thằng cháu của bạn, nhưng ông cũng
không làm được điều gì hơn cho Sài.
Cũng vì những cái gọi là lý tưởng, đôi khi nó gây ra những chuyện buồn
cười. Hiểu (Thời xa vắng) chỉ vì có một bộ đồ dân sự rất “kẻng”: “một sơ mi
đuôi tôm trắng tinh, một quần kaki Pháp màu be, một săng đan quai vàng. Tất cả
đều sát sỉnh, hợp với cái dáng cao thon và màu da trắng trẻo của anh” [trang 134]
để mặc trong những ngày nghỉ mà mang tiếng “biến chất”, “cắm đuôi tiểu tư sản”,
“có vấn đề”... Bao nhiêu tội thuộc về tư tưởng được gán cho Hiểu, và mặc dầu
được chính uỷ Đỗ Mạnh bênh vực, Hiểu vẫn phải tự trở nên “giản dị”, “hoà mình
với quần chúng”, “lập trường vững vàng”, “đạo đức trong sạch”, “tiến bộ”...bằng
một sự cọc cạch phản bội lại cái đẹp.
Có câu nói: “Mọi lý thuyết chỉ là màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh
tươi”. Những con người sống và làm việc theo một lý tưởng cao đẹp nhưng lại
máy móc quá, cứng nhắc quá, thành ra gây khổ cho người khác và tự làm khổ
chính mình.
Chiến tranh không chỉ chi phối đến mặt tư tưởng mà còn gây đau thương
trên tất cả các khía cạnh khác của cuộc sống con người.
Chiến tranh khiến cho Nguyễn Vạn (Bến không chồng) có một vết thương
ở bả vai và một ống chân bị gãy, làm bước đi của Vạn cứ tập tễnh.
Chiến tranh khiến cho Nghĩa (Bến không chồng) không chỉ có tội làm cho
bố anh chết trong đau khổ mà còn cướp mất đi khả năng làm cha của anh. Như đã
nói ở trên, Nghĩa là con trai duy nhất trong gia đình, anh lại là trưởng tộc có trách
nhiệm lớn nhất trong việc xây dựng dòng họ Nguyễn. Chiến tranh cướp mất khả
năng làm cha của anh, có nghĩa là nó không chỉ cướp đi chính tương lai của anh
mà còn cướp đi tương lai của cả dòng tộc nhà anh, khiến anh vô tình đem lại đau
khổ, bất hạnh cho Hạnh và Thuỷ, hai người đàn bà yêu anh và luôn sẵn sàng hi
sinh vì anh. Có niềm đau xót nào hơn!
Chiến tranh cũng làm cho Thành (Bến không chồng) bị bom cháy bỏng
toàn thân, dị dạng, xấu xí, mặt sần sùi phồng dộp lên đỏ lừ, đến nỗi, bố mẹ anh
cũng không nhận ra con mình. Và với khuôn mặt ấy, người ta cảm thông, người ta
thương xót, người ta vẫn quý mến bản chất con người anh, nhưng không có một
cô gái nào dám gắn kết cuộc đời với một khuôn mặt gớm ghiếc đến như vậy. Ngay
cả Cúc, nghe mọi người gán ghép, đã nhận trầu rồi cũng đành trả lại, chịu làm lẽ
ông Ba Chương, chứ không tài nào yêu Thành được. Tuổi trẻ, sức trai đã cống
hiến hết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, những tưởng rồi sẽ được hạnh phúc,
nhưng đến khi trở về, Thành lại phải sống cả cuộc đời với khuôn mặt dị dạng,
không vợ, không con.
Những người đàn ông trực tiếp tham gia chiến trận phải chịu mất mát đau
thương do chiến tranh đem lại đã đành, người ở hậu phương cũng chịu không ít
khổ đau, đặc biệt là những người phụ nữ.
Những người phụ nữ ấy là những người mẹ có con đi chiến trận. Bà Khiên
(Bến không chồng), cả đời không biết nói dối, đã phải nói dối chồng để cho con
trai lên đường nhập ngũ. Nhưng khi nó đi rồi thì ốm o, gầy mòn trông ngày con
trở về. Cũng như nhiều phụ nữ thương con thời bấy giờ, bà ước ao con bà bị cụt
tay hay què chân, miễn là còn sống để trở về. Thậm chí, một giấc mơ bà cũng lấy
đó làm tin để nhẩm tính ngày con trở về nhà. Đến khi Nghĩa được trở về, bà vẫn
chưa hết buồn lo, bởi vợ chồng Nghĩa không có con. Nghĩa và Hạnh ly hôn, bà
thương Hạnh nhưng vẫn phải đồng ý. Nghĩa cưới Thủy, bà không phản đối. Bởi
vì, cả đời làm dâu nhà họ Nguyễn đầy cơ cực nhưng bà đã hoàn thành xong nhiệm
vụ. Giờ đến cuối đời, bà chỉ mong con bà có đứa con trai để hoàn thành trách
nhiệm trưởng tộc. Nghiệt ngã thay, cho Nghĩa bỏ Hạnh, bà đã tự coi như mình làm
điều ác, vậy mà số phận vẫn không đem đến cho con bà, dòng họ Nguyễn nhà bà
niềm hi vọng.
Hay như bà Nhân (Bến không chồng). Bà Nhân đã cống hiến cho đất nước
dường như tất cả những gì bà có: chồng và hai người con trai.Khi đất nước rạo rực
trước tin chiến thắng Điện Biên thì ở nhà, chị Nhân đang vật lộn với một nỗi đau,
nỗi mất mát quá lớn: chồng chị đã hi sinh, để lại một mình chị với ba đứa con còn
nhỏ dại. Nỗi đau mất chồng vừa nguôi ngoai, bà lại lần lượt tiễn hai con trai của
mình lên đường chống Mĩ. Thế rồi, thằng Hà, con trai trưởng của bà cũng đi theo
cha nó. Bà nhận tin báo tử của con trai bằng thái độ điềm tĩnh đến lạnh lùng, mặt
chỉ hơi tái đi. Bà không gào, không khóc “mắt ráo hoảnh không có lấy giọt nước
mắt” [18, tr.137]. Bà không khóc bởi ngày hôm trước mấy ông trên xã đi qua, ông
nào cũng liếc mắt vào nhà, bằng linh cảm người mẹ, bà đã hiểu là có chuyện và đã
âm thầm khóc khô cả nước mắt suốt đêm. Bà không khóc còn bởi vì bà là vợ, là
mẹ liệt sĩ, bà phải “vững vàng” để làm gương cho những bà mẹ khác trong làng.
Tưởng đâu những đau thương mất mát của đời bà đến thế là hết. Tưởng đâu chồng
và đứa con trai đầu đã gánh hết mọi rủi ro, và bà đinh ninh thằng út sẽ không thể
chết, nó sẽ trở về với bà. Nhưng điều đó không thành hiện thực. Bà lại phải tiếp
tục nhận tin thằng Hiệp bỏ bà ra đi ngay ngày làng Đông đón nhận tin miền Nam
hoàn toàn giải phóng. Ai cũng thấy “cả làng Đông này chỉ có mỗi bà Nhân là đau
đớn nhất” [18, tr.186]. Những mất mát quá lớn, sự đè nén cảm xúc trong bao
nhiêu năm qua bao biến cố, bây giờ bà Nhân không cần và không thể giấu mình để
làm gương cho người khác nữa. Bà gào khóc vật vã. Bà có cảm giác con người
mình như hẫng đi, rơi tõm xuống một cái hố sâu thăm thẳm. Bà tự thấy mình là
người có lỗi trong cái chết của chồng và các con. Đêm đêm, bà mơ thấy chồng con
về hạch tội mình. Chồng bà trách: “Mình là kẻ giết người là mụ đàn bà ác độc! Tôi
đã hi sinh rồi sao mình không để cho các con được sống?” [18, tr.215]. Thằng Hà
cũng trách: “Bố và con đã đi rồi, sao mẹ không để cho em con được sống?”
[18, tr.215]. Thằng Hiệp cũng oán hờn: “Sao mẹ lại vui mừng khi con đi vào chỗ
chết?” [18, tr.215]. Người đàn bà khốn khổ ấy mãi ám ảnh trong cảm giác tội lỗi.
Nhưng bà cũng chỉ làm những việc như nhiều người đàn bà cùng thời khác, hiến
dâng cho tổ quốc những người thân yêu của mình, đi vận động thanh niên lên
đường nhập ngũ, an ủi các mẹ, các chị có chồng đi chiến đấu và đau đớn đến xé
lòng khi chính mình phải nhận sự an ủi của người khác. Đến cuối đời, bà chỉ còn
chỗ dựa, niềm vui, niềm tin duy nhất là đứa con gái út. Nhưng chiến tranh cũng
tước đoạt lốt chút niềm vui của tuổi già, khi cuộc hôn nhân của cái Hạnh không
được trọn vẹn mà lí do cũng là ảnh hưởng hậu quả của chiến tranh.
Chiến tranh còn đem bi kịch đến cho những người phụ nữ có chồng đi
chiến đấu. Ta nhìn thấy điều ấy qua cuộc đời của những cô Hạnh, cô Lài (Bến
không chồng), cô Lạc, chị Sang (Mảnh đất lắm người nhiều ma). Khi người
đàn ông đi chiến đấu, người phụ nữ ở nhà chịu bao gian khổ. Lo phục dưỡng,
chăm sóc bố mẹ chồng, gia đình nhà chồng, con cái. Lo lao động sản xuất... Và sự
cực nhọc nhất không phải là những nghĩa vụ được gọi thành tên, mà nó không tên,
nó nằm ngay trong bản thân các chị. Đó là niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi. Đó
là những đòi hỏi của bản năng khi lâu ngày vắng đi hơi ấm của người đàn ông.
Thật là xót xa cho những người phụ nữ còn đang lạ lẫm, ngất ngây trong
tuần trăng mật đã phải xa chồng như Hạnh và Lạc. Hai nhân vật được xây dựng ở
hai cuốn tiểu thuyết khác nhau nhưng lại gặp nhau ở cảm xúc, nỗi mong nhớ
chồng đến khắc khoải.
Hạnh, một người phụ nữ đằm thắm, nhu mì, trong sáng, chịu thương chịu
khó và chín chắn. Cuộc đời Hạnh chỉ có một mối tình duy nhất, đó là tình yêu
dành cho Nghĩa. Vừa mới lấy chồng được mấy ngày, vẫn còn đang trong cảm giác
lâng lâng của một cô gái mới lớn vừa khám phá được bí mật của cuộc sống người
lớn, Hạnh đã phải bịn rịn tiễn chồng lên đường nhập ngũ. Từ đó, đằng đẵng bảy
tám năm trời, Hạnh ở nhà chạy qua chạy lại giữa hai bà mẹ: mẹ đẻ và mẹ chồng.
Suốt bằng ấy năm, Hạnh sống vò võ, đau đáu chờ mong. Hạnh ao ước nhận được
một lá thư, hay chỉ cần Nghĩa viết cho một câu “anh còn sống” mà cũng không có.
Từng ấy năm, Hạnh chỉ sống bằng những hồi tưởng, những kỉ niệm đã có giữa hai
vợ chồng. Sự chờ đợi, thời gian đã khiến cho cô Hạnh trẻ trung, căng tràn sự sống
ngày nào dần trở nên tiều tụy, khô héo và thấp thoáng sau khuôn mặt, ánh mắt là
những điều u uẩn. Dẫu vậy, Hạnh phải luôn che giấu cảm xúc của mình. Với mọi
người, Hạnh phải tỏ ra lạc quan, vững vàng để làm gương cho những cô gái khác
vì cô là đoàn viên trong một chi đoàn gần như toàn phụ nữ. Trước người thân,
Hạnh cũng phải cứng rắn vì Hạnh là chỗ dựa duy nhất của hai bà mẹ. Với lại, chú
Vạn luôn bên cạnh động viên nhắc nhở Hạnh phải thế. Chỉ đến khi một mình với
dòng nước sông mát lạnh đầy gợi cảm ở bến Không Chồng , Hạnh mới chịu bất
lực, để cho cảm xúc của mình được tự do. Lúc ấy, Hạnh nhớ chồng, nhớ những
phút ái ân với Nghĩa đến quay quắt, tức tưởi. Nỗi nhớ ấy khiến đầu óc, cơ thể
Hạnh như muốn căng ra, rung lên ngây ngất đi tìm lạc thú trong hoang tưởng,
trong sự ve vuốt của dòng sông. Nỗi nhớ ấy trở thành ám ảnh, khiến Hạnh có ảo
giác bị con ma mắt đỏ ở đầu cánh mả Rốt chuyên săn phụ nữ góa chồng hãm hiếp.
Hạnh phát bệnh vì tương tư.
Lạc cũng xa chồng ngay sau một tuần hương lửa mặn nồng. Nhưng, Lạc
không phải là người phụ nữ giỏi chịu đựng, giỏi đè nén cảm xúc. Chồng ra trận ít
lâu, Lạc ở nhà đã “tòm tem” với những người đàn ông khác, từ anh đội trưởng đội
sản xuất hay chấm công cho Lạc, đến ông phó chủ nhiệm phụ trách ngành nghề
xây dựng trong xã, đến anh chủ nhiệm cửa hàng mua bán xã bẻm mép trai lơ.
Lăng nhăng như vậy nhưng không phải Lạc không yêu chồng. Khi chồng Lạc –
Trung tá Chỉnh – được nghỉ phép, thì “suốt ngày Lạc quấn quýt, nấu nướng chăm
sóc chồng như chăm sóc bố già, như chăm sóc con trẻ. Đôi má bánh đúc cứ đỏ
rừng rực. Đi lại núng nính, tung tẩy. Cô sung sướng. Cô hạnh phúc. Cô yêu
chồng” [52, tr.194]. Không những thế, Lạc còn làm những ba mâm cơm thịnh
soạn, mời cả ban quản trị đến dự để tiễn chồng lên đường, khiến cho “có đến mấy
ông cứ liếc nhìn nhau ngượng ngập”. Sở dĩ Lạc vẫn vừa yêu, vừa phạm lỗi với
chồng bởi vì cô không thể đêm nào cũng “đổ thóc vào xay”, “đổ gạo vào giã”; cô
lại chưa có con, bà mẹ già có ăn đến bốn bữa một ngày cô vẫn chạy thừa gạo, cô
chẳng có điều gì để mà lo toan, để mà tất bật, để quên đi những đòi hỏi thầm kín
nhưng dữ dội trong lòng mình. Với lại, cô không thể chấp nhận được cuộc sống
“hết năm này sang năm khác cứ vò võ một mình quay bên nào cũng giá như
đồng”, bởi “đời người được mấy cái xuân”...
Cách sống thoải mái, không gò ép của Lạc khiến người ta vừa chửi vừa e
sợ, vừa khinh vừa thèm muốn. Mấy người đàn bà chính chuyên hay bĩu môi nguýt
dài, hay lên giọng dạy dỗ Lạc lại rất sợ Lạc, luôn nơm nớp lo sợ chồng mình bị
hút vào “cái lò than”, “ cái vực xoáy” ấy. Đến như chị Sang, người duy nhất mà
Lạc còn kính nể, người luôn gần gũi và không bao giờ lên mặt dạy đời với Lạc
cũng còn rơi vào mâu thuẫn ấy. Một lần chứng kiến tận mắt sự lang chạ của Lạc,
bỗng dưng chị cảm thấy vừa giận, vừa ghét, mà lại vừa ghen ghen với Lạc. Bởi
chị cũng là người phụ nữ có chồng đi chiến đấu xa nhà đã lâu. Bởi chị đang ở tuổi
hồi xuân. Và bởi chị cũng như Lạc có những khát khao cháy bỏng nung nấu trong
tim, khác chăng là chị không thể vô tư, sống tự do theo bản năng giống như Lạc.
Cũng có những người phụ nữ không lẳng lơ, không có con mắt lá khoai
“liếc chồng thì ít, liếc trai thì nhiều” như Lạc, nhưng vẫn để đời cái tội phản bội
chồng. Đấy là chị Lài, mười năm chung thuỷ chờ chồng, nhưng phụ nữ “khôn ba
năm dại một giờ”, gần đến ngày độc lập lại bị một lần sa ngã với một người đàn
ông khác, để mẹ chồng bắt quả tang. Thế là, nơm nớp lo sợ, không biết chồng về
có thông cảm cho không và xử lý ra sao.
Những người phụ nữ có chồng rồi chịu đau khổ một kiểu, những người con
gái chưa chồng cũng chịu nỗi buồn chiến tranh theo một kiểu khác. Có những cô
gái cả đời ôm một mối tình với người trai chiến trận, đến khi hết chiến tranh thì đã
qua thời xuân sắc, hoặc người yêu vĩnh viễn không bao giờ trở về. Chẳng hạn như
Dâu, một cô gái vừa đáo để, vừa đa cảm, đa tình trong Bến không chồng. Dâu đã
yêu và chờ đợi Hiệp, thậm chí còn qua ở và chăm sóc mẹ anh trong những ngày
anh vắng nhà. Nhưng ngày chiến thắng, anh không trở về, anh bỏ lại mẹ già và cô
người yêu chung thủy. Da diết với mối tình ấy, Dâu quyết định ở vậy và tìm đến
lấy cửa phật làm vui.
Trong thời chiến, cả nước tổng động viên thanh niên lên đường cứu nước,
tất cả các làng lúc này chỉ còn toàn đàn bà con gái, người già và trẻ em: “cả làng
Đông bây giờ bói cũng chả còn đứa con trai nào nhìn cho được mắt. Đứa nào
không đui què, sứt môi, tai điếc thì mười bẩy tuổi đã đòi khai thêm một tuổi để đi
khám nghĩa vụ” [18, tr.131], còn những kẻ lành lặn mà ở nhà chỉ là phường đào
ngũ hoặc trốn nghĩa vụ, mọi người đều coi khinh. Thế nên, một số các cô gái rơi
vào tình cảnh phải lấy những ông chồng không xứng đáng; hoặc chịu cảnh “quá
lứa lỡ thì”. Cô Thắm (Bến không chồng) là người đẹp nhất làng Đông. Vẻ đẹp
của Thắm “như hoa hồng, dịu dàng và đằm thắm”, nếu ở thời bình, có lẽ người
như Thắm sẽ tha hồ mà chọn ý trung nhân cho xứng đôi vừa lứa. Nhưng trong
hoàn cảnh chiến tranh, Thắm đã chọn anh chàng Huy thọt, chàng thợ ảnh ở phố
huyện. Ngoài cái chân thọt, anh chàng này còn gây ấn tượng cho người khác bởi
cái vẻ “đĩ thoã mà hèn hèn thế nào”. “Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm”, hạ mình lấy
người chồng không được xứng đôi cho lắm, vậy mà Thắm còn bị kìm kẹp, bị
đánh đập, bị phản bội. Và chính Thắm cũng tự sa ngã, có con với một anh chàng
pháo thủ trẻ. Để rồi sau này, Thắm phải vò võ nuôi con một mình, bỏ chồng, còn
anh chàng pháo thủ thì không bao giờ quay lại. Hay như Cúc (Bến không chồng),
cả làng vắng bóng đàn ông con trai, có anh Thành bị thương đến biến dạng cả
khuôn mặt, cô nhìn cũng cảm thấy khiếp sợ. Nhưng nghe mọi người gán ghép, so
sánh Thành với những người đàn ông khác, Cúc cũng nghe theo. Đến khi nhận ra
mình không thể yêu người mình định lấy làm chồng, cô đành trả lễ với tâm trạng
tội lỗi. Nhưng đấy cũng là cái án của đời cô, không ai chấp nhận một người như
cô và sau này cô phải chịu làm lẽ cho ông Ba Chương, một kẻ không có con trai,
đi tìm người sinh cho ông một thằng con nối dõi
Chiến tranh lúc nào cũng mang tính chất bi hùng. Nó vừa xây lên những
trang sử chói lòa, vẻ vang, vừa có những trang đau thương đầm đìa nước mắt. Và
do đặc trưng của thời kỳ máu lửa, mọi thước đo giá trị cũa con người đều gắn liền
với chiến đấu, chiến tích..., nên suốt một thời, chiến trường đã vô tình trở thành
nơi để con người ta rửa sạch những vết nhơ trong quá khứ, là nơi người ta lấy đó
làm bàn đạp cho con đường tiến thân của mình trong thời hậu chiến. Chẳng hạn,
thằng Tốn trong tiểu thuyết Bến không chồng, xuất thân trong gia đình địa chủ,
ông nội bị xử bắn, bố thắt cổ chết, bản thân thằng Tốn cũng thường bị tụi trẻ trong
làng lập tòa án xét xử như xét xử cha và ông nó. Thế nhưng, khi lớn lên, nó xung
phong đi bộ đội, nghiễm nhiên trở thành người chiến sĩ cách mạng. Chiến tranh
kết thúc, nó ngẩng cao đầu trở về làng, xây một căn nhà hai tầng đầu tiên của làng
Đông, to gấp mấy lần căn nhà của ông nội nó. Chưa hết, nó còn trang trí nhà cửa
một cách xa hoa chưa từng thấy, còn mở nhạc suốt ngày với những bài ca diễm
tình uỷ mị. Nó phá vỡ sự yên bình của làng Đông. Nó làm hư thanh niên trong
làng bằng việc tụ tập hát hò và việc buôn bán xơ líp, xu chiêng phụ nữ. Nó là
người đã phát triển “cái mầm mống địa chủ” lớn lên thành “nhà tư sản”. Vậy mà,
không ai dám động đến nó, bởi “nó cũng đã xả thân ngoài chiến trường”. Vậy là
chiến tranh đã có công biến vịt thành thiên nga. Hoặc như Liêm, Quân trong
Mảnh đất lắm người nhiều ma. Chiến trường ác liệt, ngày nào cũng có thương
vong, chết chóc, Liêm là chiến sĩ quân khí duy nhất còn lại của đại đội, nhưng sợ
run cầm cập, cáo ốm để được ở trong hầm; còn Quân thì lại là một xạ thủ có đến
ba lần đái ra quần vì sợ khi máy bay địch lao xuống quá thấp. Ấy thế mà đến thời
bình, hai con người ấy đã có những vị trí cao trong quân đội nhờ thành tích những
năm chiến đấu và luôn khoe cái tem đã từng vào sống ra chết với lớp đàn em.
Những người trực tiếp tham gia chiến đấu được hưởng vinh hoa nhờ nó đã đành,
có những người không đi chiến đấu vẫn được hưởng những sự ưu đãi tương tự.
Đấy là trường hợp nhà Đương trong Bến không chồng. Dân làng đánh giá về
Đương: “mỗi tội kém văn hoá tý nhưng tinh thần nó thì khỏi chê. Nó, có bốn
thằng con trai tình nguyện cho đi bộ đội tuốt. Kiểu này nó còn trúng bí thư mấy
khoá nữa” [18, tr.191].
Bất cứ sự vật, sự việc gì cũng tồn tại hai mặt đối lập của nó: đẹp và xấu, có
ích và không có ích... Chiến tranh cũng vậy. Bên cạnh những ánh sáng lung linh
cao cả của nó, luôn tồn tại những góc tối, những mặt trái nhem nhuốc khó thiện
cảm. Nhưng có như vậy mới là chiến tranh. Và có như vậy người ta mới thấy quý
giá trị của hai chữ “hoà bình”.
1.2.2. Quan hệ lao động sản xuất đầy khắc nghiệt
Những thay đổi trong tiến trình lịch sử của đất nước quy định rất lớn đến quá
trình phát triển và phân hoá xã hội. Ba cuốn tiểu thuyết đều phản ánh hiện thực
nông thôn Việt Nam trong suốt một quá trình dài đầy nhạy cảm của lịch sử: từ khi
đất nước mới dành được độc lập, đến giai đoạn xây dựng và kháng chiến thống
nhất nước nhà và cả công cuộc kiến thiết xã hội sau khi đất nước hoàn toàn độc
lập theo một mô hình mới, mô hình kinh tế tập thể theo định hướng chủ nghĩa xã
hội, biểu hiện cụ thể là các hợp tác xã nông nghiệp mở rộng. Sự thay đổi của tình
hình lịch sử xã hội, hình thái xã hội, cơ cấu quản lý nhà nước đã tác động mạnh
mẽ đến sự phát triển xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất trong xã hội.
Với đặc trưng là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại thêm hơn một ngàn năm
chịu sự đô hộ của các quốc gia phương Bắc và thực dân Pháp, nên khi đất nước ta
giành được độc lập, trong cái không khí hồ hởi của một quốc gia mới giành được
quyền làm chủ bắt tay vào xây dựng đất nước, khôi phục kinh tế, cũng song tồn
không ít những lúng túng, những bế tắc trong việc giải quyết những vấn đề của
thời đại.
Bởi trải qua suốt một thời kỳ dài hết chịu sự áp bức của phong kiến đến
thực dân nên việc đầu tiên mà nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà làm là tìm
cách xóa bỏ tư hữu, xóa bỏ quan hệ chủ tớ tồn tại ở Việt Nam suốt bao đời. Cụ thể
là chủ trương phát hiện và đấu tố địa chủ, cường hào ác bá, tay sai... Chủ trương
có thể không sai nhưng đường lối thực hiện nảy sinh nhiều vấn đề. Cả nước đã tốn
rất nhiều thời gian cho công việc đấu tố, xét xử những người bị kết tội là địa chủ,
cường hào ác bá, tay sai. Thậm chí, người ta giao chỉ tiêu cho các địa phương thực
hiện. Bao nhiêu tiền của, tài sản đã bị tiêu huỷ, phá bỏ. Biết bao con người đã bị
xử bắn. Chưa khi nào như lúc này, người ta hãnh diện về sự nghèo khó, ngưỡng
mộ, kính nể sự nghèo khó. Người ta hào hứng, hùng hổ tố những kẻ giàu có bóc
lột nhân dân, những kẻ mang cái tội “bán nước hại dân”. Người ta lợi dụng việc
đấu tố để thanh toán những ân oán cá nhân với nhà giàu. Và cũng chưa bao giờ
lịch sử xã hội Việt Nam lại có thể xoay vần, thay đổi số phận con người nhanh
như lúc này như lúc này. Lần tìm trong hai tiểu thuyết Bến không chồng và
Mảnh đất lắm người nhiều ma ta sẽ thấy phần nào thực trạng đó.
Đã có một thời kỳ, cái làng Đông (Bến không chồng) do chủ tịch Đột,
người trước đây sống bằng nghề đơm rạm, không biết lấy một chữ bẻ đôi, cầm lá
đơn còn cầm ngược đứng đầu. Và tối tối, từ người già đến trẻ con trong làng họp
nhau lại để ôn nghèo kể khổ, đấu tố địa chủ, phát giác những hoạt động của bọn
Quốc dân Đảng. Trong những cuộc đấu tố như thế, người ta đã suy diễn ra nhiều
chuyện phản động lớn tày đình: Chuyện Xèng và Xình đi đặt mìn đánh cá nhưng
đã bị kết tội đặt mìn phá Cống Linh. Chuyện Xình cho thằng Nghĩa mượn cái
thuổng đi đào chuột, thằng Nghĩa nghịch ngợm vẽ cây thánh giá trên đường đi để
trêu đoàn rước cha của nhà thờ thượng, rồi lười biếng kéo rê chiếc thuổng trên
đường đem trả. Hành động vô tư của đứa trẻ mới mươi tuổi ấy đã vô tình gây tội
ác. Vì nó mà Xình bị dân làng kết tội làm tay sai chỉ điểm cho bọn Quốc dân
Đảng. Nhà anh Hinh chỉ vì vội đi họp không kịp hút thuốc lào, thèm quá tiện tay
cuốn miếng lá chuối làm kèn, mà lại thổi ngay cổng nhà xóm trưởng, thế là bị dân
quân ập đến bắt, thế là bị kết tội Việt gian... Và trong các cuộc đấu tố như vậy,
những nhà giàu như nhà địa chủ Hào cũng bị đông đảo nhân dân phẫn nộ, đấu tố.
Những kẻ bị “các ông bà nông dân” kết tội là Việt gian, là địa chủ bóc lột nhân
dân lao động đều bị chịu một kết cục chung: bị xử bắn. Riêng tài sản của địa chủ
thì phân chia cho từng nhà trong làng, tuỳ theo mức độ cống hiến.
Những toà án đấu tố, xét xử những kẻ phản động, cường hào ác bá không
chỉ diễn ra ở những người lớn, những con người có lập trường chính trị rõ ràng mà
nó còn diễn ra sôi nổi trong cuộc chơi của trẻ nhỏ, những đứa trẻ chưa hề biết
phản động là như thế nào? cường hào ác bá là gì? Chúng chỉ biết một điều: cha bị
kết tội là địa chủ thì con cũng là địa chủ, và cũng phải bị xử như cha, ông chúng.
Chính vì thế mà cháu nội của địa chủ Hào đã bị đám trẻ chăn trâu trong làng đem
ra xử tội. Bọn trẻ đã thi nhau “đào tận gốc rễ bọn địa chủ” bằng cách phá tan
hoang khu vườn của địa chủ Hào. Sự bài trừ giai cấp địa chủ lúc này diễn ra khắc
nghiệt đến nỗi mụ Hơn, người làm dâu con của địa chủ, còn duy nhất một thằng
con trai làm chỗ dựa, đã phải khấn lạy mà hứa rằng : “Con cắn cỏ con lạy ông bà
nông dân...con hứa với ông bà nông dân cố gắng nuôi dạy nó thành người nghèo
khổ” [18, tr.51]...
Rồi như trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, Vũ Đình Đại bị
kết tội là địa chủ chỉ vì “có 5 mẫu ruộng, 3 trâu cày, ngày mùa ngày vụ dám thuê
gần chục nhân công làm cho nhanh” [52, tr.26], dù cho tên Đại sống cũng chẳng
có gì gọi là xa hoa khác người, cũng ngày hai bữa cơm đèn, làm quần quật như
trâu. Nhưng theo nhận định của đội trưởng đội cải cách Hùng Cường, một cán bộ
thuộc “thành phần cơ bản”, “bố mẹ đều giai cấp cốt cán”, tức là có cha mẹ thường
đi đội thuê đội mướn để kiếm ăn, thì “đấy chính là âm mưu của nó” và “nó làm để
ốp những người không có tư liệu sản xuất phải đi làm thuê làm mướn kiếm ăn,
nhưng đã bị những tên cường hào như những cái vòi của con bạch tuộc bóc lột
đến tận xương tuỷ” [52, tr.26]. Thế là cả làng xúm nhau vào đấu tố, đả đảo. Đến
Phúc, người con trai trưởng, sự kỳ vọng lớn nhất trong những niềm hi vọng của
đời ông: Đại – Sang – Phúc – Quý – Lộc – Tài, cùng với vợ nó, đã trở thành người
đấu tố ông hùng hổ, đanh thép nhất. Người con trai yêu quý ấy đã xưng “mày –
tao” với cha nó để chứng tỏ nó đã dứt bỏ được giai cấp phi vô sản...
Có lẽ nhiều năm sau, dân ta vẫn không hết đau xót về những trang sử u ám
này. Và rồi nhiều năm sau ta vẫn không thể không mỉm cười chua xót cho một
thời kỳ chuộng cái nghèo, một thời kỳ người ta ra sức làm cho mình nghèo đi,
chứng minh sự khốn khó của mình cho hợp thời đại. Cũng nhiều năm sau nữa, dân
tộc ta vẫn chưa hết ám ảnh về cái thời buổi “nhiễu nhương, trắng đen lẫn lộn, cóc
ngoé nhảy lên làm người”, để cho những kẻ ngu dốt như chủ tịch Đột, những kẻ
đạo đức giả, hoang dâm như đội trưởng Hùng Cường được thời vinh danh; và
cũng có biết bao người như địa chủ Hào, Vũ Đình Đại... bị chết oan, bị phế bỏ,
chịu ngang trái dưới tay những người lãnh đạo như thế. Chủ trương xoá bỏ sự
phân biệt giai cấp bị những con người có trình độ quá hạn chế triển khai, thành ra,
xã hội đã phân hoá lại càng phân hoá, đã phức tạp lại càng thêm phức tạp. Cũng
may, cái buổi nhiễu nhương ấy diễn ra trong một thời gian không quá dài. Người
ta đã dần nhận ra kẻ không biết một chữ bẻ đôi không thể nào lãnh đạo được chính
quyền. Người ta cũng nhận ra rằng với một người lãnh đạo giỏi, tiêu chí đầu tiên
để đánh giá họ không phải là họ có thực sự “vô sản” hay không, thực sự ... trắng
tay, thực sự nghèo không, mà là họ làm được những gì cho cộng đồng.
Sau cái thời khủng hoảng đầy đen tối ấy của lịch sử nước nhà, nhà nước ta
tiến hành cải cách ruộng đất, áp dụng mô hình sản xuất nông nghiệp tập trung theo
hình thức hợp tác xã. Mỗi gia đình được phân chia một chút đất phần trăm để
trồng màu, còn ruộng đất là của hợp tác xã. Mục tiêu của việc xây dựng hợp tác xã
là muốn xoá bỏ hình thức kinh tế cá thể và tư hữu trong lao động sản xuất. Ở các
làng, các xã, người ta đi làm theo tiếng kẻng của hợp tác xã, làm chung, cuối mùa
thu hoạch chung và chia sản phẩm theo công điểm. Bởi thế, hàng ngày người ta đi
làm đông vui như đi hội, và cũng đủng đỉnh như đi hội. Chẳng thế mà cánh đồng
làng Hạ Vị (Thời xa vắng) quanh năm ròn rã tiếng cười, tiếng nói. Mỗi ngày
người ta ra đồng làm việc theo qui củ giờ giấc của hợp tác xã. Và vì thế, sau mỗi
bữa sáng và trưa, trong mỗi gia đình, ta sẽ thấy hai thái độ lao động hoàn toàn
khác nhau: “Ai làm đất “phần trăm” thì tự ý mà ra ruộng ngay. Ai theo công điểm
với đội ra ngồi ở bờ tre đầu nhà ông đồ Khang tập trung. Cũng như mọi ngày, mọi
buổi, phải chờ đợi tiếng rưỡi, hai tiếng đồng hồ những người đến trước thả sức tán
chuyện trên giời và dưới đất, chuyện thanh cao và chuyện trần tục đến lúc van vãn
mới tập trung đầy đủ theo người trong ban chỉ huy đội đi làm công việc gì đó. Cả
khi đi và về làm công việc gì được nhiều hay ít còn phải làm nữa hay không, đã có
“ông đội”. Không biết. Chỉ biết cười đùa và tán tỉnh” [30, tr.113]. Đúng là “cha
chung không ai khóc”. Đất riêng thì làm tất bật, chăm chỉ, không đợi ai phải nhắc,
phải thúc, không kể giờ giấc sớm muộn. Còn khi làm ruộng công thì đủng đỉnh,
làm cho có để lấy công điểm. Thế nên, cái làng ven đê phù sa màu mỡ mà lúc nào
cũng quẩn quanh với khoai, dong luộc, bánh đúc ngô... Thế nên, cái xã này, huyện
toàn phải ra tay vực nó dậy, giúp đẩy nó “đi lên” và trong báo cáo của xã cũng
không năm nào chịu “đi xuống”. Sự quan liêu và bệnh “thành tích”, “lạc quan tếu”
trong quản lí và đánh giá tình hình địa phương đã khiến cho làng xã không thể tiến
bộ lên được ở tất cả mọi mặt, đặc biệt là mặt kinh tế. Đấy là một thực trạng không
chỉ tồn tại trong một thời kỳ mà tồn tại lâu dài, thậm chí, cho đến tận ngày nay.
Cũng là phát triển theo hình thức hợp tác xã, nhưng xóm Giếng Chùa
(Mảnh đất lắm người nhiều ma) đã bước sang một trang khác, chủ động hơn,
tích cực hơn. Đấy là một xã hội nông thôn trong thời kỳ mới, đất nước hoàn toàn
thống nhất, đang triển khai theo định hướng xã hội xã hội chủ nghĩa. Lúc này, các
hợp tác xã vẫn tồn tại nhưng đóng một vai trò hoàn toàn mới. Ruộng đất đã được
giao trực tiếp đến tay nông dân theo hình thức khoán sản phẩm, người nông dân
làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít, hợp tác xã chỉ đóng vai trò định hướng, quản lý
chung, thu thuế ruộng đất của nông dân theo mùa vụ. Chính vì thế, đời sống của
nông dân cũng được tương đối khởi sắc. Họ được làm, được sống bằng chính công
sức mà họ bỏ ra và thành quả lao động mà họ đạt được. Vì thế trong làng có người
giàu, người nghèo, chứ không còn tình trạng “nghèo đều” nữa. Và cũng vì thế mà
cơ cấu xã hội trở nên phức tạp hơn, quan hệ trong cơ cấu lãnh đạo chính quyền và
giữa chính quyền với nông dân nảy sinh nhiều tiêu cực, mâu thuẫn.
Những năm sau chiến tranh, ruộng đất bị thu lại làm tài sản chung, làm
chung, hưởng chung. Sau này đổi mới, người ta lại đem phân chia ra cho từng hộ
gia đình. Và vì thế, bao nhiêu ruộng đất hương hoả cha ông để lại của các gia đình
đã thuộc về tay người khác. Khi thực hiện chủ trương triệt tiêu sở hữu cá nhân,
việc biến tài sản, mồ hôi nước mắt của gia đình, tổ tiên mình thành tài sản chung
của cộng đồng, những người nông dân dù không thực sự tán đồng nhưng vẫn có
thể miễn cưỡng chấp nhận. Nhưng khi nhà nước đã giao trả lại đất mà họ vẫn bị
mất đi những thửa ruộng hương hoả, những thửa ruộng “thượng đẳng điền” cha
ông họ để lại thì dễ mấy ai chấp nhận. Chính vì thế, những xung đột quanh chuyện
ruộng đất ở các thôn xã liên tục xảy ra. Người giàu có giành lại đất để khỏi có lỗi
với tổ tiên ông bà. Người nghèo khổ giành lại đất để giành lại bát gạo, giành lại
miếng ăn... Vì mảnh đất hương hoả ấy mà Trịnh Bá Hàm giàu có, già gần sáu
mươi tuổi phải đích thân ra tay xô xát để đòi lại. Cũng vì miếng đất “thượng đẳng
điền” được hợp tác xã phân nay có kẻ đòi lại mà một người mẹ liệt sĩ trước giờ
không gây gổ cùng ai nay phải đôi co, lời qua tiếng lại giữa đông đảo bà con đang
chứng kiến. Vì mối lợi ấy mà người dân phẫn nộ buộc phải lên án chính quyền cái
tội: “bao nhiêu ruộng tốt là cán bộ với những người thân tín giấm dúi chia nhau,
còn lại đầu trâu mõm bò để lại cho dân” [52, tr.431]... Mà những lời tố cáo của
dân đều là sự thật. Thậm chí sự thật còn to lớn, bê bối hơn nhiều. Bởi cán bộ xã
không chỉ ăn chặn, bớt xén của nông dân, những người còn đang sống, đang lao
động sản xuất, mà còn ăn chặn, bớt xén phần người chết. Đấy là việc cắt xén gạo
hỗ trợ cho gia đình chính sách, không gia đình chính sách nào trong xã nhận được
số thóc hỗ trợ ấy, trừ những nhà có người làm lãnh đạo “mỗi suất liệt sĩ được 632
đồng một tháng nhưng lại lĩnh theo quý. Còn số thóc mua theo giá điều hoà, theo
chính sách ưu tiên, thì làng này chỉ có nhà ông Bỉnh được mua đầy đủ vì ông có
thế ở anh con cả hiện đang là trưởng ban tổ chức tỉnh uỷ” [52, tr.72]. Và nếu như
khách trên tỉnh, trên huyện về hỏi thăm tình hình đền ơn đáp nghĩa ở địa phương
thì cán bộ xã cũng chỉ “đưa đến nhà ông Bỉnh vì ở đấy nhà cửa khang trang, còn
những gia đình liệt sĩ khác đã túng bấn quá, lại thóc ưu tiên cũng bị cắt đầu cắt
đuôi, nên những ông bà ấy thường hay nói ngang cành bứa với xã” [52, tr.72] nên
cấp trên không thể biết được thực chất tình hình địa phương. Hơn thế nữa, cán bộ
xã còn nhập nhằng biểu thuế diện tích đất canh tác giáp ranh giữa trung du và
đồng bằng vì mức thuế giữa hai vùng chênh lệch khá cao, “một mét vuông của
đồng bằng đóng cao hơn một mét vuông của trung du đến bốn lạng thóc” [52,
tr.286], để tham ô số thóc dôi ra, kiểu tham ô này vừa tinh vi, vừa hợp pháp; cán
bộ xã cũng chỉ đạo cho thủ quỹ lấy tiền của xã đem chia ra gửi tiết kiệm cho mỗi
cán bộ xã một sổ để hưởng lãi hàng tháng; ngoài ra, còn tham ô tiền thuỷ lợi, tiền
trại giống... Có thể thấy, ở cái xóm Giếng Chùa này, ai có quyền là có tiền, ngay
cả những con người như Quàng bình thường cũng bóc ngắn cắn dài nhưng “kể từ
ngày Quàng được giữ chân quỹ tín dụng của xã thì khấm khá dần lên” [52, tr.9].
Nhìn chung, bề nổi của xóm Giếng Chùa thật thanh bình, nhưng trong nó chất
chứa bao mâu thuẫn, bất hoà. Mâu thuẫn giữa nông dân với chính quyền và cả
mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo.
Trong nội bộ lãnh đạo, tư tưởng bè phái nảy sinh và phát triển mạnh mẽ. Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó. Một mặt, do sự ăn chia không đều
những món lợi thu được từ việc bớt xén của công. Mặt khác, quyền lực cũng là
thứ khiến người ta gằm ghè, cạnh tranh nhau nhiều nhất. Một cái xã nhỏ gọn “đầu
xã tới cuối xã không quá năm cây số”, thế nhưng cơ cấu lãnh đạo chia ra tới ba
phe: phe của Trịnh Bá Thủ đối đầu với phe của Vũ Đình Phúc, phe còn lại là
những người trung lập như: Sửu, Xuân Tươi... Những phe phái này luôn toan tính,
kiếm chuyện hãm hại nhau, tìm cách loại trừ nhau và khuếch trương thanh thế của
mình. Những điều ấy gây ra sự bất ổn của xóm làng, kìm hãm sự phát triển kinh tế
của làng quê, khiến cho làng quê đã nghèo càng nghèo hơn, đã phức tạp càng
thêm phức tạp.
1.2.3 . Sự đối đầu khốc liệt giữa các dòng họ
Mối quan hệ làng xã ở Việt Nam từ xưa tới nay được xây dựng chủ yếu dựa
trên mối quan hệ thân tộc. Quan hệ thân tộc của người Việt nam từ xưa đến nay có
truyền thống đoàn kết, gắn bó rất chặt chẽ. Điều đó là một nét đẹp văn hoá trong
đời sống tinh thần của nhân dân ta. Nhưng cũng chính điều đó đôi khi lại là
nguyên nhân dẫn đến những xung đột phức tạp trong xã hội.
Từ xa xưa, người dân ở nông thôn luôn có tâm lí coi trọng những dòng họ
lớn, những dòng họ có nhiều người đỗ đạt. Chính điều đó đã khiến cho bất cứ
dòng họ nào cũng muốn đầu tư cho con em học hành thành tài làm rạng danh tổ
tiên, dòng họ, gia đình. Đó là điều tốt. Đấy cũng là nhân tố thúc đẩy sự phát triển
của xã hội. Nhưng cũng chính cái tâm lý ấy lại làm nảy sinh những vấn đề tiêu
cực. Người ta tìm mọi cách để giành ưu thế cho dòng họ mình. Người ta tìm mọi
cách để dòng họ được tôn vinh. Và người ta lúc nào cũng đặt dòng họ mình cao
hơn các dòng họ khác. Chính vì thế nảy sinh sự cạnh tranh, nảy sinh xung đột. Có
những xung đột mang tính huyết thù truyền từ đời này sang đời khác không có
cách gì gỡ bỏ được.
Những xung đột xảy ra giữa các dòng họ thường là sự tranh giành ruộng
đất hương hoả, tranh giành chức tước, sự xúc xiểm lẫn nhau giữa các dòng họ...
Hai tiểu thuyết Bến không chồng và Mảnh đất lắm người nhiều ma thể
hiện đầy đủ, sinh động các mâu thuẫn ấy.
Mảnh đất lắm người nhiều ma nói đến mối xung đột gay gắt giữa hai
dòng họ Trịnh Bá và Vũ Đình. Người ta nói: “hôn nhân, điền thổ vạn cố chi thù”,
tức là hôn nhân và đất đai là hai thứ dễ gây cho người ta thù oán. Hai dòng họ này
không bao giờ chịu ngồi chung chiếu với nhau bởi tất cả những thứ đó, tức là họ
thù nhau cả chuyện hôn nhân và chuyện đất đai lại cả thêm chuyện chức vị.
Những mối thù ấy đi từ âm ỉ đến công khai, từ ghen ghét đến căm hận. Và mối thù
này được truyền từ đời này sang đời khác, được nuôi dưỡng từ đời này sang đời
khác, đến mức nó chuyển từ chuyện riêng giữa các dòng họ thành chuyện xã hội,
chuyện hình sự.
Xung đột đầu tiên là những xung đột về chuyện chức vị và đất đai giữa
Trịnh Bá Hoành và Vũ Đình Đại. Chỉ vì cái phần “đầu gà má lợn”, vì cái quan
niệm “miếng ăn giữa làng hơn sàng xó bếp”, “đầu gà hơn đít voi”, mà hai con
người, hai dòng họ bị cuốn vào bi kịch, cuốn vào cơn lốc được thua không ngừng,
đánh đổi tất cả để giành lấy cái chức lí trưởng nhỏ bé. Với Vũ Đình Đại, tác giả
Nguyễn Khắc Trường không nói nhân vật phải mất những gì cho miếng “chiếu
giữa làng ấy”. Nhưng Trịnh Bá Hoành thì mất nhiều, mất thật nhiều.
Hãy nói đôi chút về dòng họ Trịnh Bá. Dòng họ này thờ hổ. Gia phả dòng
họ kể lại, ông nội của Trịnh Bá Hoành có cơ duyên gặp và có mối quan hệ ân
nghĩa với Hổ thần. Chẳng là, ông nội Trịnh Bá Hoành sống bằng nghề săn bẫy cá,
có một bác hổ vằn tới ăn trộm cá, bị đá kẹp một bên chân, có chút lòng trắc ẩn,
quên cả sợ, ông đã cứu hổ thoát khỏi cái bẫy vô tình ấy. Thế rồi từ đó, để trả ơn,
hằng đêm, hổ thọt không những canh đó cá cho ông mà còn đem đến cho ông khi
thì một con cá bằng bụng chân chửa, khi thì một con cầy hương vẫn còn tươi rói
đặt trên bờ, gần đó cá. Nhưng một sự hiểu lầm đáng tiếc xảy ra, đó là vào một
đêm mưa gió ầm ầm, con hổ đã lầm tưởng vị ân nhân của mình, lúc ấy đang áo tơi
tùm hụp ra thăm đó cá là kẻ ăn trộm, nó vồ chết ngay tại chỗ; đến lúc lật xác chết
lên, biết là đã giết nhầm ân nhân, con hổ lăn lộn, đập đầu vào đá , rống lên gào
thét về sự nhầm lẫn không sao cứu vãn được của mình. Sau đó, hổ dùng vuốt đào
hố chôn ân nhân. Và liền ba đêm sau đó, đêm nào hổ thọt cũng cắp một con cá đến
trước mộ, rồi đập đuôi bình bịch xuống đất, dựng đứng người đi bằng hai chân sau
đến phía đầu mộ, miệng tru lên thống thiết về nỗi lầm của mình. Cũng từ đó, dòng
họ Trịnh Bá phất lên như diều, thầy tướng bảo đó là sự đền bù, sự phù trợ của Hổ
thần.
Không biết do chăm chỉ làm ăn hay do được Hổ thần giúp đỡ mà đến đời
Trịnh Bá Hoành đã làm được nhà gỗ, mua được ruộng thượng đẳng điền, lợn đàn,
trâu nái...
Trong cuộc chạy đua đến chức lí trưởng, Trịnh Bá Hoành đã ném tiền ra
mua chức, lợn sề trâu nái, ruộng sâu giữa đồng lần lượt ra đi mà cái chức lí trưởng
lại về tay Vũ Đình Đại. Tất cả những gì Trịnh Bá Hoành có và tưởng như sẽ có
bỗng chốc trở thành con số không. Thế nên, Trịnh Bá Hoành vô cùng căm thù Vũ
Đình Đại. Những lúc rượu vào, ông trừng trừng cặp mắt vằn những tia đỏ, miệng
lẩm bẩm: “Ta không có vòng bạc, xà tích, không đủ bạc trắng để chạy nên thua”.
Rồi ông rít lên: “Nhưng tao chưa chịu đâu! Chưa chịu đâu!” [52, tr.95]. Thế nên,
Trịnh Bá Hoành đã mổ chó ăn mừng khi Vũ Đình Đại chưa kịp ăn lộc triều đình
thì cách mạng đến, phải bán ngựa tậu trâu để làm nông dân. Thế nên, khi chạy
loạn trốn càn của giặc Pháp trở về, nhìn thấy bức tranh thờ Hổ thần bị chọc thủng
mắt, Trịnh Bá Hoành không nghĩ đến ai khác ngoài “bố con nhà Đại – Phúc” làm
để “bôi gio trát trấu vào tổ tiên nhà Trịnh Bá”. Thế nên, cuối đời, Trịnh Bá Hoành
chết một cách uất ức vì chưa gặp dịp để trả được món nợ to lớn với nhà Vũ Đình
Đại. Và ông đã truyền cái uất ức ấy lại cho con trai trưởng Trịnh Bá Hàm với lời
trăn trối: “sống ở làng này phải biết bố con Đại – Phúc là người không thể đi
chung đường, ngồi chung chiếu” [trang 76], cùng một di huấn bày cách triệt hạ
địch thủ một cách kinh dị, khiến địch thủ bị tàn lụi đến mấy đời không bao giờ
ngóc đầu lên được: đào mộ, hành hạ thi thể người chết...
Tiếp thu nguyên vẹn tính háo thắng và niềm đam mê quyền lực, đến thế hệ
sau, xung đột giữa hai dòng họ không những không được tháo bỏ mà còn diễn ra
gay gắt, quyết liệt hơn nhiều. Giữa hai người cha chỉ là sự cay cú, căm ghét ngấm
ngầm ở trong lòng, chưa ai dám hay có điều kiện làm hại ai. Nhưng đến đời hậu
duệ thì hoàn toàn khác. Trịnh Bá Thủ và Vũ Đình Phúc đều là những con người có
hiểu biết, có địa vị và có ảnh hưởng lớn ở trong làng. Cái cách trả thù của kẻ có
học nó mưu mô và hiểm ác hơn nhiều. Do kết quả quá trình vận động bầu cử:
Trịnh Bá Thủ trúng bí thư, Vũ Đình Phúc mất chức chủ nhiệm và chân đảng uỷ,
cuộc đối đầu lần thứ hai trong chuyện công danh giữa hai dòng họ bùng nổ. Trịnh
Bá Thủ, với quền lực mới của mình, dần loại bỏ hết những con người của dòng họ
Vũ Đình ra khỏi cơ cấu chính quyền, nếu có giao chức vị gì cũng chỉ là những
chức hữu danh vô thực như: trưởng ban kiểm soát, xã đội trưởng..., nhất là Vũ
Đình Phúc, tước đoạt quyền lực khỏi tay Phúc được bao nhiêu, anh em Thủ thấy
tốt chừng ấy, hả hê chừng ấy. Không còn quyền, Phúc dùng trí để đấu lại. Những
lá đơn như bươm bướm bay lên huyện tố cáo những việc làm không đúng, những
việc mờ ám của Thủ, lập bè phái bắt bẻ, tranh cãi với Thủ trong mọi cuộc họp chi
bộ hay những cuộc họp của chính quyền. Thủ và Phúc cứ người đối người đáp,
thay nhau lập mưu, thay nhau trúng kế, thay nhau vị trí kẻ đi hại và kẻ bị hại... Hai
con người này, hai dòng họ này có thể bỏ phiếu, giao quyền lực cho những kẻ bất
tài, những tên vô danh tiểu tốt như Sửu, như Xuân Tươi, chứ nhất định không thể
giao quyền vào tay đối phương.
Bên cạnh sự đối đầu khốc liệt trong chuyện chức tước, có một mối thù
không phải do đời trước để lại, nhưng vẫn ngun ngút trong lòng những người liên
quan, đó là mối thù trong chuyện tình ái giữa Trịnh Bá Hàm và Vũ Đình Phúc.
Hãy so sánh hai con người này một chút. Trịnh Bá Hàm tuy có tài vặt nhưng thô
lỗ, ít học. Anh chàng Phúc lại là một ông giáo. Hàm là một người đàn ông xấu xí,
lại bị thọt một chân. Phúc thì hào hoa, nho nhã. Hàm chưa có vợ, thương thầm và
quyết tâm cưới bằng được cô Son xinh đẹp nhất làng nhưng không hề được cô để
ý. Phúc thì đã được cha mẹ cưới cho một người vợ, nhưng vẫn được cô Son để ý,
say mê như bị bỏ bùa... Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì cũng chưa có gì đáng nói.
Khi ước mơ của Hàm thành sự thật, Hàm được lấy cô Son thì Hàm mới cay đắng
nhận ra mình chỉ là kẻ đến sau, kẻ đi “đổ vỏ” cho kẻ khác, cái “trái cấm” mà Hàm
ao ước với hái bao lâu nay đã bị kẻ “quen phỗng tay trên” tước mất rồi. Hàm
không được yêu. Càng đau đớn hơn khi điều đó do chính miệng cô Son nói ra:
“Tôi cắn răng là vì thầy u tôi, chứ không bao giờ tôi yêu anh!”. Thế thì làm sao
Hàm không đau, không hận. Thế thì bảo sao Hàm không luôn hợp sức, tính kế
cùng Thủ, em trai mình tìm cách lật đổ cánh nhà Vũ Đình Phúc. Và bảo sao Hàm
không nghe theo lời di huấn của cha, làm một việc kinh thiên động địa mà chính
bản thân Hàm cũng thấy sợ, đó là đào mộ Vũ Đình Đại, yểm cho dòng họ Vũ
Đình không còn có thể ngóc đầu lên được.
Mối thù này chồng chất mối thù kia, thêm cái sự cố chấp, ấu trĩ của mỗi
người, những con người chủ chốt của hai dòng họ có thể làm đủ mọi chuyện
thượng vàng hạ cám, từ chuyện tiểu nhân đến chuyện bất nhân.
Cũng như vậy, dòng họ Nguyễn to nhất làng Đông (Bến không chồng), từ
bao đời nay khắc ghi một lời nguyền độc: “Nước sông Đình ngàn năm không cạn -
cầu Đá Bạc vạn kiếp trơ trơ - bến Tình còn đẹp còn mơ - mối thù họ Nguyễn bao
giờ mới nguôi.” [18, tr.14]. Đấy là lời nguyền về mối thù giữa hai dòng họ
Nguyễn – Vũ. Là mối thù xuất phát từ quan hệ luyến ái, nhưng câu chuyện trong
tiểu thuyết Bến không chồng lại diễn ra theo một hướng khác, bi thương và đáng
tiếc hơn. Mọi thù hằn phát sinh cũng đều do sự quyến rũ, sự gợi tình của cái bến
“Không chồng”, mà người ta thường gọi là bến Tình. Ở đấy, “gió hây hây, nước
chảy nhẹ vờn da thịt như có một bàn tay vô hình mơn trớn” [18, tr.13], dễ làm
lòng người khoái cảm, đến nỗi nhiều cặp vợ chồng trẻ mới cưới đêm đến thường
lẻn ra bến Tình tắm. Chính sự gợi cảm của dòng nước bến Tình đã khiến cho một
chàng trai lương thiện của dòng họ Vũ nổi loạn, chàng đã hãm hiếp cô con gái
rượu duy nhất của cụ tổ họ Nguyễn trong một đêm hai người vô tình cùng ra bến
tắm. Trong lúc hoảng loạn, cô gái tưởng chàng trai là ba ba thuồng luồng hay con
ma mắt đỏ mà dân làng thường kể tới hiếp mình nên chết trong sợ hãi. Từ đó, lời
nguyền được khắc ghi. Từ đó, dù sống trong một làng, dù cùng lao động, sinh hoạt
những hoạt động chung của làng nhưng trai gái hai họ Nguyễn – Vũ tuyệt nhiên
không được nảy sinh tình cảm, nếu có phải lòng nhau cũng ngậm ngùi lặng lẽ chia
tay, hoặc phải rủ nhau trốn khỏi làng. Chính điều ấy đã dẫn đến không ít bi kịch.
Cụ thể, có thể kể một vài chuyện. Đấy là chuyện chú Vạn – một người đàn ông
dòng họ Nguyễn và chị Nhân – một góa phụ dòng họ Vũ. Hai người thương và
cảm thông cho hoàn cảnh của nhau, muốn tiến tới với nhau, nhưng vì lời nguyền,
vì sợ họ mạc phản đối, lên án nên đành đè nén tình cảm của mình, sống gìn giữ
trong sự dò xét của họ mạc, của xóm làng và nhiều lúc của chính bản thân mình.
Đấy là chuyện của Nghĩa – trưởng tộc tương lai của dòng họ Nguyễn - đòi cưới
một cô gái dòng họ Vũ. Hai đứa chơi với nhau từ nhỏ. Lớn lên yêu nhau, muốn
cưới nhau, nhưng bị không những cha mẹ mà cả dòng họ Nguyễn phản đối, ngăn
cấm. Sự ngăn cấm quyết liệt đến nỗi khi đôi trẻ cãi lời người lớn tự tổ chức đám
cưới, cha mẹ, gia đình hai bên đã không ai muốn hoặc không ai dám tới. Và đau
xót hơn, sau đám cưới, đôi trẻ không được về nhà sống chung mà chỉ gặp nhau
hằng đêm bên bờ sông, giữa mênh mông đất trời.
Xét dưới góc độ cá nhân con người, những xung đột giữa các dòng họ như
vậy đã đem đến không ít bi kịch cho con người. Vì những mối thâm thù của đời
trước mà những tiền nhân bắt hậu thế phải tiếp tục thù mối thù của mình, hận mối
hận của mình, cư xử theo cách cư xử của mình..., như vậy là vô lí, đôi khi còn vô
nhân đạo.
Xét dưới góc độ xã hội, nếu nói mỗi gia đình là một tế bào của xã hội thì
mỗi dòng họ sẽ là những mảng tế bào, những bộ phận của xã hội. Các dòng họ
phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Các dòng họ suy vy cũng tác động
xấu đến sự phát triển chung của xã hội. Ở mỗi làng xã, việc tạo được sự đoàn kết
giữa các họ tộc trong vùng chính là thước đo sự bình ổn của xã hội. Còn những
mối xung đột kiểu như trên có tác hại như những tế bào ung thư phá vỡ sự yên
bình, đoàn kết, kìm hãm sự phát triển của địa phương. Những xung đột ấy cần
phải được xoá bỏ.
1.3. Con người nông thôn trước những biến đổi của xã hội
1.3.1. Lối sống theo kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ”, dựa vào
uy danh dòng họ
Như đã nói, quan hệ xã hội ở nông thôn được hình thành trên cơ sở quan hệ
họ hàng, thân tộc. Quan hệ họ hàng, thân tộc ở nông thôn lại diễn ra cực kỳ khắng
khít, gắn bó. Chính vì thế, ở nông thôn, nếu như trong họ tộc có người làm
“quan” thì cả họ tộc sẽ được hưởng lây sự kính nể, kiêng nhường của xóm làng.
Gia đình cụ đồ Khang (Thời xa vắng) được cả làng nể trọng, phần vì cụ
Khang là thầy đồ, phần vì cụ Khang có cậu con trai út học hành giỏi giang. Nhưng
có lẽ gia đình cụ được nể trọng phần nhiều là vì hiện tại cụ có một người em trai là
chú Hà làm bí thư huyện uỷ và người con trai thứ làm cán bộ huyện. Nhờ những
điều có thể coi là ưu thế hơn người ấy mà gia đình cụ Khang cũng được hưởng
nhiều lợi thế. Trong chuyện “giăng gió” của Sài với Hương trên sân thượng nhà
tổng Lơi trong một đêm trăng giữa mùa bão lũ, nếu như không có sự can thiệp,
nhờ cái uy của chú Hà và anh Tính thì làm sao Sài gỡ nổi cái tai tiếng để đời. Nhờ
chú Hà và anh Tính xếp đặt mà mọi chuyện từ có biến thành không, từ không biến
thành có. Sài từ một kẻ phạm tội tày đình khiến cả gia đình không dám đi đâu,
không dám ngẩng mặt lên nhìn ai, khiến cả làng bao ngày xôn xao “như là giặc giã
sắp tràn về, như là làng Hạ Vị sẽ lụn bại vì chuyện ấy, như là nước sông lại lên to
cuốn đi cả hàng nghìn người, như là nhà nào cũng sẽ chết đói, chết rét vì chuyện
ấy” [30, tr.58-59] trở thành người vô tội, trở thành người có công phát hiện kẻ
trộm bị kẻ trộm trả thù. Còn kẻ bắt quả tang chuyện của Sài thì tình ngay nhưng lí
gian, bị tố cáo ngược chuyện trộm cắp trong ngày lụt. Đúng là “miệng nhà quan
có gang có thép”, một chút mưu sâu, lí lẽ và uy quyền, chú Hà đã khiến cho lãnh
đạo xã và quần chúng đến dự buổi định tội hôm ấy bị thuyết phục bởi một sự thật
không hề có thật là Sài vô tội. Với vị trí của mình, chú Hà đã rất nhẹ nhàng dùng
dư luận để “rửa nhục” cho gia đình, dòng họ, chạy tội cho thằng cháu một cách
hợp pháp mà không để lại bất cứ điều tiếng gì. Địa vị của anh, của chú không chỉ
giúp Sài khi anh còn là một cậu bé mới lớn bốc đồng, nông nổi. Mà ngay khi anh
đã lớn, đã thành đạt, anh vẫn không thoát ra khỏi cái ô rợp bóng của anh, của chú.
Đám cưới của Sài với Châu sau ngày giải phóng với đồ dẫn cưới rất sang trọng:
một trăm quả cau tươi, một cân chè Thái, một cân hạt sen, một tút Thủ Đô, một
chai Lúa Mới, hai nghìn tiền mặt là do một tay anh Tính lo toan. Dù rằng những
sính lễ ấy phù hợp với lối sống ở thủ đô và quá đỗi xa xỉ với làng quê nghèo Hạ Vị
quanh năm bão lụt, nó lại phải chuẩn bị trong một thời gian gấp gáp chỉ vỏn vẹn
có mấy ngày, nhưng với tình thương em, với cương vị uỷ viên trực phụ trách nội
chính của uỷ ban hành chính huyện, anh Tính cũng lo cho Sài một đám cưới tươm
tất “không hề có sự cách biệt giữa quê và tỉnh” [30, tr.227]
Cái ưu thế của gia đình có người làm quan còn thể hiện trong đám tang “có
một không hai ở vùng này” của ông đồ. Một đám tang mà người làng đánh giá
“ngày xưa đám ma bố tổng Lơi mổ hàng trăm con lợn, trâu bò, giã giò ăn uống
rậm rịch cả hàng mười ngày giời cũng không đông được như đám này” [30,
tr.165]. Sở dĩ như vậy là vì cụ đồ có học trò ở khắp nơi, ai cũng muốn chứng tỏ
mình có lòng tôn sư trọng đạo, có hiếu với người thầy vừa yêu thương vừa hiền
lành. Người ta đến viếng cụ cũng vì cụ là bố của Sài – một dũng sĩ một mình bắn
rơi máy bay Mĩ, đang được đài báo hết lời ca ngợi. Nhưng trong cái đám tang ấy,
bên cạnh những người quen biết xa gần, cũng còn cơ man nào là những người
không quen biết từ các huyện xã khác ngơ ngác, thậm thụt, cung kính và cười cợt,
nghênh ngang và khúm núm... đến dự. Những con người ấy thực sự không biết cụ
đồ là ai, họ cũng không đến viếng cụ vì lòng ngưỡng mộ một gia đình cách mạng,
một cuộc sống mẫu mực hoặc vì sự thân thiết, yêu mến người em, người con của
cụ...; họ đến vì muốn được em trai cụ, con cụ biết đến, nhớ mặt, nhớ tên. Hay nói
đúng ra họ không đi đưa đám cụ đồ mà là “đưa đám ông Hà đã về làm bí thư
huyện uỷ được nửa năm nay và đưa đám anh Tính uỷ viên trực phụ trách nội
chính của uỷ ban hành chính huyện” [30, tr.166]. Bởi những mục đích hết sức
“thiết thực” ấy mà những người đi đám luôn phải “liếc mắt xem thắp hương và
khấn vào lúc nào, đứng ở đâu để ông Hà hoặc Tính chứng kiến nỗi lòng đau khổ,
cung kính của họ” [30, tr.166]. Họ đùa nghịch huyên náo ngoài đường để rồi thật
lặng lẽ nghiêm trang khi vào đến nhà. Họ dò la mọi phong tục lễ nghi của làng để
vào nhà cư xử thành thạo, tự nhiên như gia chủ. Họ tỏ vẻ đau đớn trước linh cữu
người chết nhưng luôn nhớ khấn to tên tuổi của mình cho ông Hà hoặc Tính nghe
thấy và trong lòng thì thầm yên tâm về tờ đơn xin hai nghìn ngói đang nằm ở chỗ
Tính. Họ đi viếng cụ đồ nhưng lại cứ phải quanh quẩn ở ngoài, chờ ông Hà đến
bên linh cữu mới vào thắp hương. Và những người không quen biết ông đồ ấy,
trước hoặc sau khi đưa đám đều cố đến nắm lấy bằng được bàn tay ông Hà và anh
Tính để chia buồn... Thật là giả dối. Họ làm tất cả những điều ấy cốt để cho hai
con người quyền cao chức trọng kia không thể quên rằng họ đã có mặt trong cái
tang lớn của gia đình các anh và điều đó cũng có nghĩa là các anh sẽ không thể
quên họ. Nhờ thế, người chết cũng được hưởng lây phước phần. Nhờ thế, đám
tang cụ đồ Khang mới trở thành một đám tang to nhất, đông nhất trong vùng.
Người Việt Nam có câu: “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, có nghĩa là trong
cuộc sống xã hội, con người ta tốt nhất là nên giỏi một nghề nào đấy hoặc là bản
thân có được một chỗ đứng trong xã hội, hay nói cách khác là có danh vị trong xã
hội. Nếp nghĩ ấy có từ thời cha ông xa xưa, và đến thời hiện đại, bị chi phối bởi sự
phức tạp của nền kinh tế thị trường thì cái tư tưởng ấy vẫn không hề tỏ ra cổ xưa,
ấu trĩ, trái lại, nó được thể hiện càng đa dạng, đa sắc màu hơn. Người ta cố gắng
phấn đấu tạo được chỗ đứng cho mình trong xã hội. Người ta tìm đến danh vọng
bằng nhiều cách, nhiều con đường khác nhau. Trước là để thoả ước nguyện, khát
vọng của bản thân, sau là được đứng trên người khác, được người khác cậy nhờ.
Quả thật vậy, như một điều mặc nhiên trong xã hội ta, khi có việc đến bất cứ cơ
quan công sở nào thì không gì vui sướng hơn là gặp được người quen giúp đỡ. Gia
đình nào có người làm lớn, con cháu sẽ được hứa hẹn một tiền đồ, một tương lai
tương đối sáng sủa. Cũng không ít những công ty nhà nước mà khi bước chân vào
người ta lầm tưởng là công ty gia đình bởi mối quan hệ dây mơ rễ má chằng chịt...
Đấy là một thực trạng chung của xã hội. Trên thực tế, cái chức luôn liên
quan đến cái quyền, cái chức thường quyết định cái lợi. Mà như đã nói, cái lợi ấy
không chỉ gói gọn trong bản thân người có chức mà còn lợi lây sang gia đình, họ
hàng, thậm chí có khi có cả những người xóm giềng thân thích.
Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma đã tái hiện sinh động một thực
trạng tương tự như thế. Hai chàng trai xóm Giếng Chùa vì sợ cảnh chết chóc của
chiến tranh nên đào ngũ về địa phương, đã bị bí thư đảng uỷ xã người xóm Trại
trừng trị riết róng bằng cách bắt ăn cơm nhà, làm việc công ích cho xã quanh năm
suốt tháng. Không nhờ người cùng làng có chức vị trong tỉnh đội che chở, mách
nước thì làm sao rửa được cái án đào ngũ và trả được mối thù với ông bí thư đảng
uỷ người xóm nhập cư, bắt ông ta rớt chức xuống làm phó thường dân với số
phiếu ít ỏi trong cuộc bầu cử khoá mới vì đã dám đắc tội với dân gốc làng này.
Hay như nhân vật Vũ Đình Phúc, từ khi trúng chân chủ nhiệm cuộc sống gia đình
Phúc khấm khá lên rất nhiều. Không những thế, Phúc còn đưa được mấy người
anh em trong họ vào Đảng và giúp em trai, chị gái mua được gạch ngói làm nhà
với giá gần như là cho không, chỉ bằng một phần mười giá trị thực. Không những
thế, làng trên xóm dưới, có chuyện gì cũng không ai dám đụng đến “dòng họ Vũ
Đình”...
Thế đấy, nếu trong họ có người quyền cao chức trọng thì người thân sẽ
không chỉ được hưởng những mối lợi về tinh thần mà còn được hưởng những
quyền lợi thiết thực về vật chất. Chính vì thế nên ở các địa phương, đặc biệt là
những vùng nông thôn, khi tầm nhìn của người dân mới chỉ dừng ở sau luỹ tre
làng, khi mà người lãnh đạo có thể tự do làm mưa làm gió, hoàn toàn nắm quyền
sinh quyền sát trong tay, tình trạng “say chức”, tranh quyền đoạt lợi vẫn thường
diễn ra và diễn ra có phần khốc liệt. Người ta đấu đá nhau để giành các cương vị
trong chính quyền, với mục đích vừa là để thoả mãn khát vọng của bản thân, vừa
là để tạo ra quyền và lợi cho bản thân, gia đình và bà con thân tộc. Trịnh Bá
Hoành, Vũ Đình Đại, Trịnh Bá Thủ, Vũ Đình Phúc, hai thế hệ nối tiếp nhau của
hai dòng họ, là những con người bị cái tham vọng ấy cuốn vào vòng xoáy điên
cuồng của cuộc chiến tranh giành quyền lực. Những con người này vừa là chủ thể
gây lên cuộc chiến âm thầm và dai dẳng ấy, nhưng đồng thời họ cũng là nạn nhân.
Trịnh Bá Hoành quyết “được ăn cả, ngã về không” để giành chức lí trưởng, cuối
cùng chức không có, tài sản tiêu tán, chỉ còn lại một mối hận lớn trong lòng. Vũ
Đình Đại thì đạt được chức nhưng ở trên vị trí ấy chẳng được bao lâu, để rồi sau
đó, đấy lại là một trong những yếu tố khiến người ta kết tội ông là địa chủ bóc lột
nhân dân. Trịnh Bá Thủ vì bảo vệ chức vị của mình mà không từ bỏ một thủ đoạn
nào, thậm chí còn vô tình gây họa, giết chết cả người thân. Vũ Đình Phúc cũng vì
danh vị mà mang tội bất hiếu chửi cha và suốt ngày phải lo lắng, suy nghĩ mánh
khóe...
Dẫu vậy thì cái bả lợi danh vẫn vô cùng hấp dẫn, thu hút lòng ham muốn
của con người. Trong cuộc sống, người ta luôn cố gắng tạo một vị trí cao trong xã
hội cho bản thân, cho con em mình bằng nhiều cách. Trịnh Bá Hàm đã bỏ tiền ra
vận động cho em là Trịnh Bá Thủ trúng bí thư xã để không ai còn dám coi thường
dòng họ Trịnh Bá và cũng là để dòng họ ông có đủ uy lực triệt hạ dòng họ Vũ
Đình. Thủ lên làm bí thư xã lại dẫn theo Cao - cháu vợ anh vào ghế phó ban công
an xã. Dựa vào quyền lực của mình, Thủ còn ra sức vận động cho Cao trúng hội
đồng nhân dân xã, dẫu rằng trong mắt mọi người Cao vẫn chỉ là một kẻ thích diễu
võ giương oai, thích phô trương, có tính học đòi lấc cấc. Nhờ Thủ mà Dinh, con
ông Hàm, cháu gọi Thủ bằng chú, chưa hết hạn nghĩa vụ đã được ra quân để đi
xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Cũng vì có Thủ ở trên cao nên những đứa cháu
của anh như Ưởng, Ngạc mới dám hung hăng, hống hách, suốt ngày thích gây gổ
đánh nhau với người khác... Cái kiểu ăn theo, dựa bóng ăn phần như thế này cũng
được phản ánh trong tiểu thuyết Bến không chồng. Anh Đột đơm ràng chân đất
mắt toét, một chữ bẻ đôi cũng không biết, nhưng nhờ tính chất nhiễu nhương của
xã hội trong thời kì cải cách ruộng đất mà được bầu vào ghế chủ tịch xã. Cơ may
của Đột cũng khiến em gái Đột, cô Tý Hin được “đổi đời”, được ngồi vào cái ghế
chánh văn phòng của xã.
Có thể nói lối sống tình cảm, đoàn kết, quan hệ họ hàng khắng khít, gắn bó,
luôn che chở, bảo bọc cho nhau là một nét đẹp trong văn hoá của người Việt. Nét
văn hoá ấy đáng được giữ gìn, đáng tự hào và đáng được tôn vinh. Nhưng nếu sự
đoàn kết gắn bó ấy được tôn vinh đế mức “muốn có một chân dù nhỏ, từ đội sản
xuất trở lên, và ai muốn vào Đảng thì nếu không có họ hàng thân thích với những
người đang nắm chính quyền, thì cũng phải là người được thu nạp vào trong vây
cánh mới có điều kiện để phấn đấu” [52, tr.424] thì sẽ là tai hoạ. Nó là mầm mống
nảy sinh các phe cánh trong chính quyền. Nó sẽ biến các quan hệ xã hội rạch ròi,
khách quan thành quan hệ gia đình du di, cả nể... Và vì thế, nó kìm hãm sự phát
triển của xã hội, tạo cơ hội cho người ta móc ngoặc tham ô... Thực tế là thế, bất
cứ cái gì, kể cả những điều tốt, nếu quá đà sẽ ra tiêu cực. Ở các tiểu thuyết kể trên,
thực tế ấy mới chỉ được thể hiện phần nào. Các tác giả qua tác phẩm của mình chỉ
muốn phản ánh mối quan hệ họ hàng thân tộc nặng nề ở các làng quê. Nhưng cũng
vì thế, những tiêu cực, những trì trệ của xã hội do những mối quan hệ đó gây ra được bộc lộ,
bộc lộ một cách tự nhiên, không gượng ép, không che đậy.
1.3.2 . Sức mạnh nằm trong tay kẻ lắm tiền
Trong xã hội nông thôn, uy quyền thuộc về hai đối tượng: kẻ có chức và kẻ
có tiền. Kẻ có chức thường khiến cho người ta sợ. Những con người có chức có
quyền đi đến đâu cũng được người khác xun xoe, nịnh hót, được người ta để ý
từng chút đến thái độ, vẻ mặt để chiều theo, để cố gắng làm hài lòng... Còn người
có tiền không làm người ta sợ nhưng lại khiến người ta nể, khiến người ta phải
trọng vọng, dù không phải ai cũng có ý nghĩ muốn nhờ vả họ.
Người ta nói “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”, ai nhiều tiền, nhiều gạo người đó
sẽ có sức mạnh. Thật vậy, cứ nhìn vào nhân vật Trịnh Bá Hàm trong Mảnh đất
lắm người nhiều ma thì thấy rõ điều đó. Ông Hàm là người xấu mã, người lùn và
to ngang, tay ngắn, mặt ngắn, trán cũng ngắn choằn..., và ông Hàm cũng chỉ làm
một nghề hết sức bình thường để kiếm sống –nghề thợ mộc. Nhưng nhờ có hoa
tay, có tài nên ông Hàm cũng tạo cho mình một cơ ngơi tương đối bề thế, giàu có
với căn nhà mái bằng quét ve xanh, lát gạch men, những “đồ đạc, giường tủ, bàn
ghế vàng rực cả bốn gian nhà”, có ruộng “thượng đẳng điền”. Và nhờ thế, ông tạo
ra quyền uy cho mình.
Ông có uy quyền với xóm làng. Cái làng Giếng Chùa trong những ngày
giáp hạt, lúa cũ không còn, lúa mới chưa đến ngày thu hoạch, cái đói phơi bày ra
khắp mọi nơi, trong khắp các gia đình. Lúc này, những gia đình nghèo khó ấy bám
víu lấy những gia đình giàu có như nhà ông Hàm để xin bán lúa non với giá cả rẻ
mạt mười hai ngàn một tạ. Dù rằng mỗi tạ thóc mua vào khi đến độ thu hoạch, ông
Hàm sẽ bán đến giá hai mươi ngàn một tạ, thậm chí khi thóc lên, có thể bán đến
giá năm mươi ngàn một tạ, nhưng với những người thu mua thóc non thì đấy vẫn
là hành động ban ơn, cứu những con người đang rơi vào cảnh khốn khó. Và dẫu
rằng bị bóc lột một cách trắng trợn thì những con người nghèo khổ kia vẫn phải
cầu cạnh, vẫn phải mang ơn, kính nể ông Hàm.
Ông có uy quyền với anh em họ tộc. Ngoài cái uy của một người trưởng tộc,
sự giàu có của ông Hàm cũng khiến cho cả họ tộc phải kính nể, tuân phục. Ông đã
nói ra điều gì thì không ai dám lên tiếng cãi lại. Ngay cả Thủ, em trai ông, học cao
biết rộng, làm đến bí thư xã mà cũng không dám chống lại ông một điều gì. Mỗi
khi tới vụ gặt, nhà ông Hàm đều có anh em tới giúp. Và mỗi lần như vậy, ông
Hàm đều tổ chức ăn uống hết sức chu đáo với “cá kéo sẵn dưới ao, gà nhốt sẵn
trong chuồng, rượu cất từ mấy hôm trước” [52, tr.176]. Ăn uống là một cách để
gia đình ông tế nhị cám ơn những người đã làm giúp, nhưng ăn uống cũng là cách
ông Hàm chứng tỏ uy thế và sự sung túc của mình ngay cả với anh em họ hàng.
Với gia đình, họ tộc của mình, ông Hàm tỏ ra rất uy quyền. Với gia tộc bên vợ,
ông càng tỏ ra uy quyền hơn. Dòng họ nhà vợ ông nhỏ bé, lại không có con trai,
đó là điều đầu tiên khiến ông không kiêng nể. Gia đình chị gái của vợ ông lại
nghèo, con đông, phải chạy ăn từng bữa và đã có lần phải sang vay tạm thóc của
nhà ông. Dù bà chị vợ vay rồi cũng phải trả chứ không quỵt được lấy một lạng
thóc. Dù chị vợ có không trả thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến bữa cơm nhà ông.
Thế nhưng, ông vẫn cứ khó chịu, vẫn cứ chì chiết, coi khinh sự nghèo khó của anh
em bên vợ. Và, không ít lần, ông Hàm nói bóng gió, thậm chí chửi thẳng chị vợ
và gia đình nhà vợ là “nơi cáo tha”.
Không chỉ tỏ ra uy quyền với xóm làng, với anh em họ tộc xa gần mà ngay
cả với vợ con, ông Hàm cũng tỏ ra cực kỳ gia trưởng, trịch thượng. Là trụ cột kinh
tế trong gia đình, ông Hàm tự cho mình cái quyền được hưởng thụ, được ăn trên
ngồi trốc, được hành hạ, bạc đãi vợ con. Trong cái căn nhà sang trọng bày biện
toàn đồ đạc hiện đại, đắt tiền của mình, ông Hàm có thể ngồi co hai bàn chân lên
chiếc ghế sa-lông đóng bằng gỗ lát chun bóng nhoáng, vần vũ những đường vân
như tranh sơn mài, hay cứ việc xì bã điếu ra nền gạch men..., mặc cho vợ con ông
sau đó phải quét phải lau. Ông tỏ ra uy quyền, quyết định tất cả mọi việc trong
sinh hoạt hàng ngày mà không cần phải để ý, phải biết đến tâm trạng, thái độ của
vợ. Ông kiểm soát việc chi tiêu. Ông gia trưởng cả trong chuyện chăn gối... Giàu
có và gia trưởng khiến cho ông là một con người cũng tủn mủn như chính hình hài
của ông vậy.
Có những lúc nào đấy trong cuộc đời, đồng tiền sẽ thể hiện được sức mạnh
vạn năng của nó. Không như thế thì làm sao nhân vật Tám lé (Mảnh đất lắm
người nhiều ma) lại có thể ung dung trở về làng với một phong thái tự tin, ngẩng
cao đầu trước dân làng Giếng Chùa như vậy. Ngày trước, vì nợ hợp tác như chúa
chổm, Tám phải dắt díu vợ con lên vùng kinh tế mới của huyện để xí xoá hơn tấn
thóc vay lãi lai rai trong vòng hơn hai năm. Ruộng, vườn, Tám phải trả cho hợp
tác. Căn nhà phải gán nợ cho chủ nhiệm Vinh với giá rẻ mạt: ba sào ba tạ thóc.
Hồi đó Tám nghèo nên Tám hèn. Hồi đó Tám nợ nần nên Tám sợ. Còn bây giờ,
sau năm tháng tha hương, Tám đi đào vàng và may mắn trúng quả lớn. Với đồng
tiền kiếm được, Tám có thể sống sung túc ở bất cứ đâu, nhưng Tám vẫn quyết tâm
phải trở về làng. Bởi vì trong suy nghĩ của Tám thì “có tiền thì sống ở đâu cũng
được, nhưng suy đi tính lại, Tám thấy phải về làng để đòi lại đất đai ruộng vườn
đã bị mấy anh có của mua bắt bí bắt chẹt. Bây giờ Tám phải là người có máu mặt
ở ngay mảnh đất cha ông. Phải sánh ngang hàng với những người xưa nay vẫn
nhìn Tám như con sâu cái kiến” [52, tr.365].
Và đồng tiền, với sức mạnh của nó, đã làm một cuộc cách mạng cho thân
phận con người. Ngày xưa người ta không thèm để ý đến Tám là ai, sống chết thế
nào; ngày nay người ta háo hức nhìn Tám và vợ con Tám, ngầm đoán xem thực sự
đằng sau cung cách ăn vận, tiêu xài , đằng sau những bộ cánh “ mới như chưa giặt
lần nào, đi lại cứ sột soạt” của gia đình Tám là một gia tài đáng giá khoảng bao
nhiêu. Ngày xưa ở trong làng, gia đình Tám chỉ là con ong, cái kiến; còn ngày nay
người ta nói cười hể hả, thân tình với Tám. Ngày xưa Tám sống tạm bợ, chờ thời,
trong cái quán cắt tóc của mình, hàng ngày Tám dài cổ ngong ngóng chờ đợi sang
nhà uỷ ban để hễ bên ấy động thớt là Tám liền có mặt để được ăn chực, ăn hôi.
Chính Tám là người đã truyền lại cái mánh ăn láu cá ấy cho lão Quềnh trước khi
từ bỏ quê hương lên vùng kinh tế mới. Còn ngày nay, Tám có thể mua gà, mua
rượu thiết đãi bạn bè và khi đến nhà chủ nhiệm Vinh, người trước đây đã cho Tám
vay thóc, người đã góp phần đẩy Tám đi vùng kinh tế mới, người đã mua cả ba
sào thổ cư, đất hương hoả của cha ông Tám để lại với giá ba tạ thóc..., thấy mâm
cơm chỉ có rau luộc, cá kho đã nói một cách rất kể cả: “nhà ông chủ nhiệm mà ăn
uống chỉ có thế này thôi à?” [52, tr.363]. Cái kiểu nói như là trước giờ Tám là
người ngang hàng phải lứa với chủ nhiệm, chứ không phải là hạng ăn vay, sống
nhờ. Đã vậy, Tám còn rất tự tin, đĩnh đạc yêu cầu chủ nhiệm Vinh cũng như hợp
tác xã phải trả đất cho anh ta. Anh ta còn kiêu hãnh rút ra khoe vài triệu với lời
giải thích đấy “chỉ là vài triệu lẻ, chỉ là cái móng tay của tôi thôi” [52, tr.364]...
Đồng tiền đã giúp cho giọng nói, lời nói của một kẻ cùng đinh như Tám trở nên có
thanh có sắc, hơn nữa, có gang có thép. Đồng tiền giúp cho Tám đi lại nghênh
ngang, kiêu hãnh giữa làng. Đồng tiền khiến cho tay “thợ húi đầu có cặp mắt
hiêng hiếng như bánh xe sang vành” [52, tr.363] càng trở nên hiếng hơn, “cứ nhìn
xiên xiên như thằng ba gai” [52, tr.363]. Tóm lại, tiền đã đem lại sức mạnh cho
Tám, dù rằng vẫn là một kẻ vô danh tiểu tốt, nhưng Tám đã được sống cho ra con
người và có quyền yêu cầu người khác, những điều mà khi nghèo khổ, dẫu mơ
Tám vẫn không thể nghĩ là mình sẽ có được những điều đó.
Những kẻ không có chức mà có tiền còn tạo ra một thứ quyền lực riêng cho
mình, có thể chi phối đến người khác, huống hồ một người vừa có chức, vừa có
tiền như chủ nhiệm Vinh.
Trong cái làng Giếng Chùa, bộ phận lãnh đạo chia năm xẻ bảy, chia bè kết
phái. Các phe phái đấu đá nhau để giành quyền lực cho mình. Ấy thế mà anh em
nhà Vinh cứ nhởn nhơ không chịu đứng vào phe nào, mặc cho các phe ra sức lôi
kéo. Sở dĩ như vậy là vì nhiều lí do khác nhau. Thứ nhất, dù không phải là người
của một dòng họ lớn trong làng nhưng anh em nhà Vinh lại là con của cô Thống
Bệu, người có tài “ cai quản phần âm của làng”, mà người làng thì cho rằng làng
mình rất nhiều ma nên vô cùng nể sợ, họ nể sợ luôn các con của cô khiến cho
những người tai to mặt lớn trong làng cũng không dám coi nhờn. Thứ hai, anh em
Vinh không phải nhờ vả bất cứ ai trong thường vụ xã. Thứ ba, Vinh lấy một người
vợ gia đình khá phong lưu, vợ Vinh lại là con gái duy nhất, Vinh dù ở rể nhưng
không phải chịu cảnh chó chui gầm chạn, lại còn được hưởng trọn vẹn cuộc sống
sung túc, đủ đầy. Chính vì thế, Vinh càng có cớ để không phải dựa dẫm, phụ
thuộc ai. Vì lẽ đó, người ta đã kính càng kính hơn, người ta đã nể càng nể hơn. Rõ
ràng, một cuộc sống vật chất sung túc đã khẳng định thêm chỗ đứng, uy quyền cho
chủ nhiệm Vinh. Cùng những yếu tố khác, sự giàu có cũng giúp cho Vinh thoát
khỏi vòng xoáy cạnh tranh, đấu đá khốc liệt trong cuộc chạy đua giành chức,
giành quyền ở xóm Giếng Chùa mà vẫn đứng vững trên vị trí của mình, từ từ
hưởng lợi một cách thanh thản.
Những trường hợp trên chỉ là những câu chuyện của những cá nhân riêng lẻ.
Thế nhưng, chính nó cũng là những minh chứng sinh động cho nếp nghĩ nếp sống
của người dân quê rằng trong cuộc sống nếu như “cả vợ chồng con cái phải bán
mặt cho đất, bán lưng cho giời mới kiếm được miếng ăn thì không ai người ta
trọng” [52, tr.135]. Ở các làng quê, những người có quyền, có tiền luôn có một vị
thế riêng, luôn được đặt cao, luôn được trọng vọng, dẫu rằng sự trọng vọng ấy
không phải lúc nào cũng song hành cùng sự yêu mến. Chẳng thế mà, người ta làm
tất cả để đạt được những thứ đó, có thể đánh đổi tất cả để có được những thứ đó.
Chương 2
BI KỊCH CỦA CON NGƯỜI NÔNG THÔN
Con người cá nhân là dấu hiệu đầu tiên và quan trọng để nhận diện con
người trong tiểu thuyết. Họ vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền văn hoá
mới.Hơn nữa, khi nghiên cứu về cái nhìn của nhà văn trong tiểu thuyết hiện đại
nói chung và những số phận cá nhân nói riêng thì người viết sẽ có dịp đi sâu khai
phá những mảnh tâm hồn vô cùng phong phú và đầy bí ẩn.Ở đó, mỗi cá nhân là
một thế giới muôn màu muôn vẻ mà cũng rất gần gũi với đặc điểm bản chất
người.
Trong ba tiểu thuyết: Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm
người nhiều ma, sự giải phóng cái “tôi” của chủ thể sáng tạo đã làm cho những
phong cách cá nhân xuất hiện với những độc đáo khác nhau. Lướt đi trên từng
trang tiểu thuyết, ta sẽ bắt gặp nhiều mảnh đời với những số phận khác nhau.
Người ta thường nói: hạnh phúc thì có thể giống nhau, còn đau khổ thì không ai
giống ai.Quả thật vậy, ba tác phẩm với số lượng nhân vật không phải là ít, nhưng
ở mỗi nhân vật, mỗi cá nhân, người đọc lại đối diện với mỗi hoàn cảnh vui, buồn,
hạnh phúc, khổ đau, giàu sang, bần hàn... không hề giống nhau. Nhưng do đặc
trưng của xã hội Việt Nam thời kỳ đầu đổi mới: quan niệm, lối sống, sự thay đổi
cơ cấu quản lý và cơ cấu sản xuất, những chuyển động tích cực và tiêu cực trong
xã hội..., con người thời kỳ này dường như đều vướng mắc một số bi kịch chung
mang tính chất thời đại. Đó là bi kịch khi con người bị trói buộc bởi uy danh dòng
họ. Đó là bi kịch của những con người đánh đổi tất cả cho khát vọng quyền lực.
Và một bộ phận lớn những con người cam chịu, phải đè nén những khát vọng cá
nhân, sống theo những giá trị được coi là chuẩn mực của gia đình, xã hội lúc bấy
giờ.
2.1. Con người bị trói buộc bởi uy danh dòng họ.
Một đặc điểm tâm lý được xem là phổ biến và là đặc trưng của người nông
thôn Việt Nam là tự ti nhưng rất tự tôn. Mỗi con người, từ trẻ con đến người già,
từ đàn bà đến đàn ông, từ người giàu sang đến nghèo hèn..., nhìn chung, họ ít tự
bộc lộ mình, ít dám bày tỏ trực tiếp suy nghĩ, tình cảm của bản thân; hay nói cách
khác, họ đối đãi nhau trong một quan hệ vừa câu nệ vừa du di, vừa cả nể vừa khe
khắt. Thế nhưng, với gia đình, với dòng tộc, họ lại có một thái độ khác hẳn, sẵn
sàng cống hiến, sẵn sàng hi sinh và sẵn sàng làm mọi điều có thể, thậm chí cả
những điều không thể để tôn vinh gia đình, dòng họ mình. Việc gia đình, dòng họ
được khen ngợi, nể nang cũng chính là niềm kiêu hãnh, là điều kiện để họ mở mày
mở mặt với xung quanh, dù cho đời sống riêng có khó khăn đến thế nào. Thậm
chí, khi người nhà lâm nạn, người ta còn có thể sẵn sàng “dù mất chức, mất
quyền, mất Đảng, chứ tôi không cho ai động đến người nhà tôi” [52, tr.134]. Cái
tâm thức đó tác động đến con người ở cả góc độ tích cực lẫn tiêu cực. Một mặt nó
thúc đẩy con người ta phấn đấu sống tốt hơn, lành mạnh hơn vì “tiếng thơm” của
gia đình. Nhưng mặt khác, nó cũng gây cho người ta biết bao bi kịch, cả những bi
kịch hữu ích và những bi kịch không đáng có.
Nhân vật Trịnh Bá Hàm trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma
là một ví dụ điển hình. Vì mối thâm thù với dòng họ Vũ Đình mà Trịnh Bá Hàm
đã mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác. Khi nghe tin có kẻ viết đơn nặc danh tố
cáo chính quyền xã, trong đó có em Hàm, vô trách nhiệm đối với cái chết của một
người cô quả như lão Quềnh, ông đã sôi sục lên căm hờn vì đoán chắc đó là việc
làm ném đá giấu tay của Vũ Đình Phúc. Sẵn những mối thâm thù trước đó, ông
tìm cách trả thù, mà phải là cách trả thù huỷ diệt đến mấy đời, đến tận gốc rễ dòng
họ nhà địch thủ. Đúng là cách trả thù của Trịnh Bá Hàm tự cổ chí kim, có lẽ ai
nghe cũng phải rùng mình: “lấy âm trị dương”. Trong đêm, Trịnh Bá Hàm, theo di
huấn của cha, đã cùng mấy đứa cháu và Thó (một người hàng xóm) đi đào trộm
mộ bố của Vũ Đình Phúc mới chôn được ba ngày để lật sấp xác chết xuống, lấy
ván thiên đóng bàn ghế đem bán lại cho con cháu người chết ngồi, hòng làm cho
cả dòng họ địch thủ lụi bại, không ngóc đầu lên được. Thế mới biết vì uy tín dòng
họ mà con người ta có thể làm cả những điều bất nhân, bất nghĩa, trời không dung,
đất không tha, quỷ, thần và con người đều phẫn nộ. Nhưng, sự trả thù ấy không
thành. Mọi việc bị phát giác, thù không trả được mà bản thân ông Hàm còn bị bắt,
cha con, chú cháu bất đồng, khiến cho địch thủ được dịp hả hê: “Ông via trưởng
họ mất thiêng rồi! Cá mè một lứa rồi.”, “Thế là nội bộ họ lục đục rồi! Khỉ tự vặt
lông khỉ rồi” [52, tr.152]. Không chỉ có những con người “vạn cố chi thù” sung
sướng mãn nguyện khi kẻ thù gặp nạn mà với những người hàng xóm, đây cũng là
một sự kiện có ý nghĩa: “những người không ưa ông Hàm, không ưa họ nhà này sẽ
được dịp cười cợt khích bác để hả lòng hả dạ. Kể cả những người không yêu
không ghét, xưa nay không có xích mích gì, nhưng thấy một gia đình phong lưu bị
sa xảy, thì họ vẫn cứ thích! Nhất là lại được nói những lời an ủi, được san sẻ nỗi lo
âu với cái người quen đứng trên mình thì sự thích thú càng tăng”[52, tr.148]. Nhìn
chung, uy tín cả bản thân, của em trai, của dòng họ ông đều bị dèm pha.
Tiếp sau sai lầm ấy, với quyết tâm tiêu diệt bằng được kẻ thù, ông Hàm dù
luôn ghen tuông vợ về mối tình thời con gái với Vũ Đình Phúc , nhưng lão vẫn ép
bà Son vu cáo Vũ Đình Phúc nài ép bà quan hệ bất chính. Và chính vì điều ấy, lão
đã gián tiếp giết chết người vợ suốt đời lão yêu quý nhưng chỉ nắm giữ được phần
xác mà không giữ được phần hồn.
Đúng như đặc tính nòi giống vật tổ mà dòng họ ông thờ, ông như một con
hổ say máu, điên cuồng đấu đá cho tiếng tăm của dòng họ, quyết tiêu diệt bằng
được kẻ thù. Ông có thể hi sinh tất cả mọi thứ , miễn sao được thấy kẻ thù phải
chết, chết thảm hại. Nhưng cuối cùng, kẻ thù của ông vẫn sống, sống đàng hoàng;
còn ông thì mất nhiều thứ, mất tất cả: mất uy tín, mất danh dự, mất sự yên ổn
trong tâm hồn, mất vợ, mất con..., cái còn lại chỉ là một cuộc sống vật vờ, những
đêm lén lút mò xuống nhà ngang cùng người đàn bà làm thuê.
Bên cạnh Trịnh Bá Hàm, những người thân của ông cũng rơi vào vòng xoáy
không lối thoát ấy. Trịnh Bá Thủ, người đứng đầu toàn xã, niềm tự hào của cả họ,
em trai ông, người chia sẻ với ông trong mọi mưu mô, tính toán cũng điên cuồng
đấu đá. Cái đầu khôn ngoan, thủ đoạn của Thủ luôn căng ra để phục vụ hai khát
vọng: quyền lực và trả thù. Với quền lực trong tay, Thủ làm mưa, làm gió để củng
cố vị trí và tiêu diệt Vũ Đình Phúc. Như kẻ bịt mắt đi trong đêm tối, say mê trả thù
không biết đến điểm dừng, Thủ đã đẩy bà Son, người chị dâu cả vào một cái chết
hết sức oan nghiệt, thương tâm.
Bà Son về làm vợ ông Hàm vốn không phải vì tình yêu. Do mối tình đầy tai
tiếng với anh giáo Phúc đã có vợ, sợ ảnh hưởng đến danh dự gia đình nên cô Son
phải cắn răng lấy anh Hàm thọt, xấu xí , cục mịch : “lấy chồng là để giữ tiếng cho
bố mẹ, thế là vì bố mẹ chứ đâu phải vì mình” [52, tr.241]. Để đổi lại sự im lặng
của chồng, cô Son cam chịu một kiếp sống lặng lẽ như tôi đòi cho chồng, cho gia
đình chồng. Và đến khi về già , bà Son lại vì chồng, vì dòng họ nhà chồng mà gặp
gỡ rồi vu oan giáng họa cho người tình cũ theo sự xếp đặt của anh em Hàm, Thủ.
Bị cuốn theo, bị đoạ đày bởi mối thù giữ hai dòng họ, bà đau đớn khi “kẻ vu vạ và
người được vu vạ đều hùa vào làm nhục mình” [52, tr.329], khiến bà không còn
thiết, không còn sợ gì nữa, bà đã mượn bến sông, nơi in dấu mối tình si của cả đời
bà, để rũ bỏ tất cả. Cả cuộc đời bà sống âm thầm, cam chịu, đến khi chết cũng âm
thầm, cam chịu.
Không chỉ có bà Son, cô Đào, cô con gái mới lớn vô cùng xinh đẹp cũng vô
tình rơi vào bi kịch một cách không cưỡng lại được. Yêu Tùng say đắm, một tình
yêu vừa e ấp vừa đắm say, vừa giữ gìn vừa dâng hiến. Thế nhưng, khi hành động
trả thù kinh khủng của ông Hàm bị phát giác, cô đoán ngay là do Tùng báo cho họ
hàng nhà anh, bởi lúc tối, ở nơi hò hẹn, cô và Tùng đã thấy ông Hàm và mấy
người nữa đi về hướng bãi tha ma của làng một cách mờ ám mà không hiểu có
chuyện gì. Nghĩ như vậy, đang từ tình yêu say đắm, cồn cào, Đào chuyển ngay nó
thành lòng thù hận. Đang là con người dẫm lên những lời nguyền có từ bao đời về
mối thù giữa hai dòng họ, mỗi tối phải tìm cách nói dối cha mẹ ra gặp Tùng,
chàng trai thuộc dòng họ Vũ Đình, một trai mà “rặt những ưu điểm! Cả khuôn mặt
vuông chữ điền với nước da bánh mật của Tùng, Đào cũng thấy quanh đây chẳng
anh nào ăn đứt.”[52, tr.108], Đào chuyển sang căm ghét, không thèm nhìn mặt.
Đào ngầm đối đầu với mối thù hận trong lòng cha, nhưng cô cũng như ông Hàm,
có ý thức quá lớn về gia đình, gia tộc mình, và cái ý thức đó cô đặt cao hơn tình
yêu nên cô không thể tha thứ cho hành động bột phát thiếu suy tính của Tùng.
Phần Tùng, anh luôn là người khách quan, một người đứng công bằng giữa mối
hiềm khích của hai dòng họ. Ấy thế mà, khi mồ mả cha ông bị động đến, con
người thông minh, nhanh nhẹn như anh cũng không đủ sáng suốt để suy nghĩ điều
gì, ngoài việc phải bắt quả tang kẻ phá hoại, dù cho đó là người thân của người
mình yêu. Dẫu vậy, Đào và Tùng thực ra cũng chỉ là nạn nhân của mối thâm thù
giữa hai dòng họ, nạn nhân của tư tưởng ấu trĩ, ích kỉ ở nông thôn nói chung chỉ
biết rào giậu, vun vén cho “gốc rễ” của mình. Một tình yêu đẹp, trong sáng, mãnh
liệt buộc phải bị giết chết để người ta khẳng định danh giá gia đình, dòng họ. Thật
là ngớ ngẩn!
Cả một gia đình điên cuồng khẳng định và bảo vệ tiếng tăm, danh giá của
mình bằng mọi cách, trong sáng và đen tối, ngay thẳng và thấp hèn... Cuối cùng,
hậu quả là một gia đình tan nát, từng con người vẫn phải tự bi phẫn, day dứt ôm
mối hận trong lòng.
Đối đầu với dòng họ Trịnh Bá, những con người thuộc dòng họ Vũ Đình,
đứng đầu là Vũ Đình Phúc cũng ăn không ngon, ngủ không yên: “dù thế nào cũng
không thể để họ Vũ này bị nhục trước dân làng”, suốt ngày bươn bả, tính toán
mưu mô để hạ địch thủ, tìm cách tôn vinh những con người của dòng họ mình.
Với họ thì “nỗi căm tức mộ bố bị phá còn chưa sôi sục bằng thấy cả họ nhà mình
bị thua thiệt” [52, tr.135]. Thế mới biết cái ý thức tự tôn, sự kiêu hãnh về nguồn
gốc, dòng tộc trong con người nông thôn lớn lao như thế nào.
Chỉ có điều, cả hai phe, trong quá trình thanh toán nhau không hề ý thức
được một điều: cả làng đang nhìn vào hai họ này để bàn luận, để cười cợt, đàm
tếu... Không biết so đọ với nhau thì dòng họ nào sẽ hơn, nhưng rõ ràng danh giá
của mỗi dòng họ đều chịu tổn thất tương đối nặng nề sau mỗi cú va chạm.
Cũng là con người sống hết lòng vì uy tín, danh dự bản thân và dòng họ,
nhưng Nguyễn Vạn trong Bến không chồng lại rơi vào một bi kịch hoàn toàn
khác. Nguyễn Vạn nhà nghèo, phải đi làm thuê cho địa chủ Hào từ nhỏ. Khi lớn
lên, Vạn đi bộ đội, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ đạt được nhiều chiến công
nên khi về “những tấm huân chương rung rinh lấp lánh trên ngực”[52, tr.5]. Con
người Vạn, từ dáng đi đến nụ cười, ánh mắt, lời nói... đều lắp lánh hào quang của
những ngày oanh liệt, của chiến thắng. Thêm nữa, Vạn lại là con cháu của dòng
họ Nguyễn, một dòng họ lớn, nổi tiếng, có từ đường họ to nhất làng. Chính những
nhân tố đó đã tạo nên một Nguyễn Vạn cực kỳ mẫu mực, là tấm gương cho cả
làng lấy đó để noi theo, để học tập và dạy dỗ con cái... Người ta nói theo Nguyễn
Vạn. Người ta làm theo Nguyễn Vạn. Người ta nhìn Nguyễn Vạn đi làm để đoán
giờ...Đến như lão Xung, một người già nhất trong họ cũng phải kiềng nể. Và cũng
chính những nhân tố đó đã vô tình gây nên bi kịch cho đời Vạn. Vạn yêu chị
Nhân, vợ liệt sĩ. Đấy là một tình yêu thầm lặng nhưng tha thiết, sâu lắng. Vạn có
thể vui, buồn, hạnh phúc, đau khổ...cùng với những vui, buồn, hạnh phúc, đau khổ
của mẹ con chị Nhân. Vạn có thể làm tất cả, có thể hi sinh bản thân cho hạnh phúc
của mẹ con chị. Thế nhưng, tình yêu to lớn ấy không thể bước qua được ngưỡng
cửa từ đường họ Nguyễn, không bước qua được lời nguyền độc của dòng họ
Nguyễn tồn tại từ bao đời. Và cũng không thể vượt qua ánh hào quang của chính
bản thân Vạn. Thậm chí, trong một đêm mưa gió, khi Vạn đem cá đến cho chị
Nhân, không kềm lòng được, chị Nhân đã chủ động ngã vào vòng tay Vạn. Thế
nhưng, Vạn không dám.Vạn sợ. Vạn sợ phải đối diện với dân làng. Vạn sợ phải
đối đầu với dòng họ Nguyễn. Ngay cả khi thằng Nghĩa, cháu Vạn yêu Hạnh , con
chị Nhân, Vạn cũng sợ. Vạn van xin hai đứa cháu mà mình vô cùng yêu mến đừng
yêu nhau, đừng chống đối lại họ mạc. Đến nỗi Hạnh, con bé được Vạn nuôi từ nhỏ
đã phải phẫn nộ lên án ông chú mà cô hằng ngưỡng mộ: “Chú hèn lắm! Chú là
người không có tim.” [52, tr.64]. Nếu đúng Vạn không có tim còn đỡ, đằng này
Vạn vẫn có tim, một trái tim vẫn run rẩy, vật vã, khát khô trước những người đàn
bà, cả người đàn bà Vạn yêu thương kính trọng như chị Nhân, cả người đàn bà
Vạn vừa sợ vừa khinh như mụ Hơn. Con người khốn khổ ấy không dám sống
đúng với bản năng của mình, bản năng của một người đàn ông sung mãn, bởi lẽ
Vạn sợ mình “hư hỏng” và “nếu mình mà mắc thì những thằng máu mê ở làng này
nó làm loạn” [52, tr.183]. Đến tận cuối đời, người đàn ông ấy mới được hưởng
hạnh phúc trần tục của con người. Nhưng cái hạnh phúc tột đỉnh ấy lại đi kèm một
nỗi đắng cay, tủi hổ to lớn, vì nó được đem đến bởi chính Hạnh, con gái người
ông yêu, đứa cháu gái mà ông vô cùng yêu quý, và nó được đem đến trong một
đêm mưa gió, ông đang choáng váng bởi hơi men không làm chủ được mình.
Người đàn ông cả đời mẫu mực ấy không gánh nổi tội lỗi khổng lồ, không gánh
nổi nỗi tủi hổ của cả đời mình. Ông không dám gặp ai, nhìn mặt ai. Đối với ông,
danh dự bản thân, danh dự gia đình sụp đổ hoàn toàn từ cái đêm mưa gió oan
nghiệt ấy. Và khi Hạnh dắt về cho ông một đứa con gái, con chung của hai người,
ông thẫn thờ với niềm hạnh phúc trái ngang ấy. Hạnh đòi đưa con về sống với
ông, ông xót xa thương Hạnh, thương Nghĩa, ông đau khổ với chính mình. Cuối
cùng, ông trốn tránh mọi khổ đau, dằn vặt bằng cách kết thúc cuộc đời dưới chân
cầu Đá Bạc. Có thể nói Nguyễn Vạn cả đời gìn giữ cái bóng của vinh quang, gìn
giữ “nhân phẩm” của bản thân và gia đình như một cô gái giữ gìn trinh tiết mà
đánh mất đi cái chính yếu là bản thân mình, cá nhân mình. Ông đã tự thiêu huỷ nó
để nhận thức.
Cái bi kịch của dòng họ Nguyễn, bi kịch của Nguyễn Vạn đã kéo theo bi
kịch của đời Hạnh. Vì mối thù của hai dòng họ, Hạnh phải chấp nhận một đám
cưới không nghi lễ, không người thân, chấp nhận một đêm tân hôn phiêu bạt ngoài
trời. Khi được phép về ở nhà chồng, Hạnh không chỉ gánh trên vai trách nhiệm
dâu con của dòng họ Nguyễn mà cô còn phải gánh cả sức nặng lời nguyền của cụ
tổ. Nghĩa đi bộ đội bị thương, không thể có con. Thế nhưng, cả dòng họ Nguyễn
cho là tại Nghĩa lấy kẻ thù về làm vợ nên cụ tổ trừng phạt bị tuyệt tự. Ngay cả bà
Khiên, mẹ Nghĩa, rất yêu quý Hạnh nhưng dần dần cũng bán tín bán nghi. Bản
thân Hạnh, dẫu không tin nhưng cũng không khỏi chạnh lòng. Để rồi, không thể
gánh nổi trách nhiệm làm dòng họ Nguyễn tuyệt tự, Hạnh phải tự rời bỏ Nghĩa.
Nghĩa yêu Hạnh. Nghĩa hiểu được những khổ đau, vất vả Hạnh phải gánh chịu.
Nghĩa không muốn bỏ Hạnh... Nhưng Nghĩa cũng lại cần có một người con trai để
thay Nghĩa làm “cậu trưởng nam con dòng họ Nguyễn”, phục hồi và xây dựng
tiếng tăm dòng họ. Nên dù đau khổ khi chia tay với Hạnh, Nghĩa cũng vẫn nhanh
chóng tìm đến tình duyên mới với cô bác sĩ Thuỷ, mong tìm được ở cô những điều
mà anh nghĩ Hạnh không thể cho anh. Thế là, chỉ có Hạnh là người thiệt thòi nhất.
Cô mất tất cả: mất chồng, mất hạnh phúc, mất những năm tháng giam tuổi trẻ
trong nhà họ Nguyễn, mất cả niềm tin vào cuộc sống..., mất một cách oan ức và
cay đắng. Nỗi oan ấy được chính người họ Nguyễn tháo bỏ, nhưng đấy lại là chú
Vạn, chú của Nghĩa. Chứng minh được mình có thể có con, mình không phải là
một bóng ma ám dòng họ Nguyễn cũng là lúc Hạnh không còn chỗ đứng trong
làng, nói đúng ra là không dám sống ở cái làng chứa đựng bao nỗi oan trái của
đời cô.
Ngoài Vạn là người cả đời gánh trên vai danh tiếng của dòng họ, những
người họ hàng nhà Vạn , cụ thể như gia đình ông Xung, cũng xuốt ngày quẩn
quanh bên từ đường để theo dõi việc họ. Ông Xung luôn vênh vang vì dòng họ
Nguyễn lớn nhất làng, từ đường họ Nguyễn cũng to nhất làng. Vì mối thù và lời
nguyền của dòng họ, ông phản đối việc Nghĩa lấy Hạnh và cho Hạnh đến ở căn
nhà tự. Cha con ông tự phát điên khi phạm tội với tổ tiên: đốt từ đường và lấy
trộm tiền. Vợ chồng Nghĩa xây lại nhà ông cho là đem quân về phá từ đường và
nguyền rủa Hạnh sẽ không có con...Tất cả hành động của ông Xung đều xuất phát
từ lòng tự tôn tiên tổ và uy quyền của mình trong dòng tộc. Vì điều đó nên đến khi
gần đất xa trời, ông vẫn đau đáu một nỗi ân hận khôn nguôi vì đã đối xử không
công bằng với Hạnh và đã góp phần tạo nên bất hạnh, chia rẽ vợ chồng thằng cháu
trưởng họ của mình.
Vì uy tín, danh dự, người ta có thể hi sinh nhiều thứ. Người ta có thể không
quan tâm, thậm chí, giết chết hạnh phúc, cuộc sống của con người vì những ánh
hào quang chung chung ấy của gia đình, dòng họ. Sài trong Thời xa vắng là một
nạn nhân của những điều ấy. Sài được bố lấy vợ cho khi mới mười tuổi. Sài không
thích, sau này không yêu, thậm chí còn ghét, căm thù vợ mình. Ai cũng biết điều
đó. Cả gia đình biết điều đó. Cả làng, thậm chí cả huyện cũng biết điều đó. Thế
nhưng, Sài lại không thể từ bỏ người vợ của mình. Ngay cả những con người
thương yêu , xót xa cho đường hôn nhân của Sài nhất như chú Hà, anh Tính cũng
không cho phép Sài bỏ vợ. Ban đầu , khi ông đồ Khang cưới vợ cho Sài, cả anh
Tính lẫn chú Hà đều phản đối quan điểm lạc hậu của bố, của anh mình. Chú Hà,
khi ấy làm bí thư chi bộ xã đã bất bình , không xuống dự cái đám cưới trẻ con lấy
vợ ấy. Anh Tính, phần vì thương thằng em ham học, phần ghét nhà phó Cự (nhà
vợ Sài) nên cũng bất đồng với bố. Vậy mà, khi Sài phẫn uất đuổi vợ đi vì vợ đã
trót giã nhầm tay mình thì không chỉ có ông đồ Khang tức giận mà chú Hà, anh
Tính cũng rất phiền lòng. Mỗi người buồn phiền chuyện của Sài dưới những góc
độ suy nghĩ khác nhau. Ông đồ buồn vì: “Mang tiếng là ông đồ nho, mấy đời nay
chưa hề để ai chê cười nhà mình có chuyện ăn ở như “họ nhà tôm”, chưa có khi
nào con cái lại trái ý cha mẹ. Chưa khi nào ăn nói sai ngoa, lá mặt, lá trái. Con
mình đuổi người ta đi, ai biết đâu là chuyện trẻ con” [30, tr.18]. Chú Hà buồn vì:
“Thằng Sài đuổi vợ nó đi, đấy là việc của thằng trẻ con. Bố anh đánh chửi thằng
Sài, là việc của ông lão phong kiến hủ bại. Còn anh, anh là cán bộ, gia đình anh là
gia đình cách mạng, nếu ngày mai, ngày kia cả làng, cả tổng đồn ầm lên rằng nhà
anh Tính cán bộ huyện, cháu ông Hà bí thư chi bộ xã cãi nhau, đánh nhau ầm ĩ
suốt đêm thì anh còn mặt mũi nào nữa không” [30, tr.11]. Còn anh Tính thì buồn
vì: “Chuyện gì xảy ra, thiên hạ cũng chỉ biết bố hay mẹ đồng chí Tính, anh hoặc
em anh Tính cán bộ huyện chứ ai có thể thay anh nhận lấy sự xỉ nhục. Là chưa kể
chuyện thằng Sài không biết đến bao giờ mới hết tai tiếng” [30, tr.18]. Dẫu vậy,
những người thân, những người lớn trong gia đình nhà Sài vẫn gặp nhau trong ý
thức giữ gìn “danh dự của gia phong”. Chỉ có một người “bất chấp cả mọi nền nếp
gia giáo của ông đồ, bất chấp cả mọi tai tiếng” để bảo vệ Sài thì lại không có
quyền quyết định một việc gì trong gia đình, người đó là mẹ Sài. Bởi thế, Sài sống
cuộn tròn trong sự yêu thương, săn sóc của gia đình và cũng cúi đầu chấp nhận
điều kiện của mọi người: “Cấm được bỏ vợ đấy nhé!”.
Thế đấy, đạo đức phong kiến và tư tưởng tiểu nông tồn tại trong nông thôn nước
ta suốt từ xưa tới nay, đặc biệt ở giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới, giai đoạn đầu của
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cực kỳ nhạy cảm, đã trực tiếp hoặc gián tiếp
gây ra biết bao nỗi đau, bao bi kịch cho con người. Dường như thời kỳ này, con
người cá nhân bị lãng quên. Người ta chủ yếu sống vì những lý tưởng, những
chuẩn mực, chuẩn mực của xã hội, chuẩn mực của gia đình... Mỗi cá nhân phải
đội trên đầu biết bao trách nhiệm. Trong đó, trách nhiệm với gia đình , với dòng
tộc là một trong những trách nhiệm nặng nề nhất, khó gỡ bỏ nhất và là cội nguồn
đau khổ cho con người nhiều nhất. Các nhà văn, bằng sự nhạy cảm của mình đã
truyền tải khá sinh động những vấn đề đó trong tác phẩm.
2.2. Con người nô lệ của khát vọng quyền lực
Con người ở mọi thời đại đều luôn mang một khát khao có một vị trí nhất
định trong xã hội, một vị trí có thể đem lại những quyền hành, lợi ích cho bản thân
và khiến người khác phải nể trọng, ngưỡng mộ. Dân gian có câu: “Một miếng
giữa làng hơn một sàng xó bếp”, hay: “đầu gà còn hơn đít voi”...Trong cái gọi là
tinh thần tiểu nông tồn tại ở nông thôn Việt Nam từ xưa tới nay thì tâm lý trọng
vọng kẻ có chức có quyền lại càng thúc đẩy người ta cố gắng phải dành được một
vị trí nào đấy trong chính quyền. Mỗi dòng họ đều phấn đấu có càng nhiều người
nằm trong cơ cấu cán bộ ở địa phương càng tốt. Vì thế nảy sinh đua tranh. Vì thế
nảy sinh thủ đoạn. Vì thế họ chia bè phái. Vì thế họ tìm cách thanh toán, hạ bệ
nhau...
Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma đã phản ánh cực kỳ sinh động
cuộc đấu đá không ngừng để tranh giành quyền lực ở xóm Giếng Chùa. Cuộc đấu
đá ấy diễn ra triền miên từ đời này sang đời khác giữa hai dòng họ Trịnh Bá và Vũ
Đình.
Trước là cuộc tranh giành địa vị giữa Trịnh Bá Hoành và Vũ Đình Đại. Hai
con người này dồn tất cả vật chất lẫn tinh thần để tranh nhau “chuyện đất, chuyện
chức, cái chức lý trưởng dù nhỏ, nhưng đấy là chuyện danh dự, là chuyện được
thua giữa hai dòng họ, là phân đầu gà má lợn, là chỗ ngồi chiếu nhất giữa đình
làng” [52, tr.30]. Cuối cùng, chiến thắng thuộc về Vũ Đình Đại, dù chỉ được một
thời gian ngắn. Còn Trịnh Bá Hoành thì nhà gỗ, ruộng thượng đẳng điền, lợn đàn,
trâu nái... ra đi gần hết, cái còn lại là một nỗi hận, nỗi căm thù tột đỉnh dành cho
địch thủ.
Hai người cha hết thời không chỉ truyền lại cho đời con mối thù dằng dẵng
ấy, mà còn truyền lại cho con nguyên vẹn tính háo thắng, niềm đam mê quyền lực.
Sau hai người cha đến hai người con, Trịnh Bá Thủ và Vũ Đình Phúc, những con
người được xem là bộ não trí tuệ của cả họ. Ta hãy theo dõi con đường tiến thân
của hai con người này.
Vũ Đình Phúc đã từng tham gia du kích và làm bí thư đoàn thanh niên toàn
xã. Để đảm bảo vị trí của mình, thời cải cách ruộng đất, Phúc đã phải từ bỏ rất
nhiều thứ để chứng tỏ “mình không bị giai cấp địa chủ nhuộm đen”. Phúc thoát ly
gia đình, ly khai nguồn gốc xuất thân và đứng ra đấu tố chính cha đẻ của mình.
Cha của Phúc, ông Vũ Đình Đại, bị kết tội là: “tên địa chủ có 5 mẫu ruộng, 3 trâu
cày, ngày mùa ngày vụ dám thuê gần chục nhân công làm cho nhanh. Mặc dù tên
Đại cũng hai bữa cơm đèn, làm quần quật như trâu, nhưng đấy chính là âm mưu
của nó, ta không được mơ hồ lẫn lộn, vì nó làm để ốp những người vô sản không
có tư liệu sản xuất phải đi làm thuê làm mướn kiếm ăn, nhưng đã bị những tên
cường hào như những cái vòi của con bạch tuộc bóc lột đến tận xương tuỷ. Ta
phải vạch trần tư tưởng đen tối của chúng ra.” [52, tr.26]. Và, khi đội cải cách tiến
hành đấu tố tên địa chủ Đại, vợ chồng Phúc đã rất tiến bộ, “ có tinh thần kiên
quyết dứt bỏ được giai cấp phi vô sản, tự nguyện phục vụ sự nghiệp của giai cấp
công nông.”, đứng ra đấu tố cha mình cực kỳ sôi nổi. Phúc thì dõng dạc hỏi cha:
“Địa chủ Đại, mày có biết tao là ai không?”. Còn vợ Phúc thì “cái mỏ liềm cứ mổ
trước mặt Vũ Đình Đại, vừa mổ chị vừa kể tội bọn chúng đã bóc lột đè nén mình
ra sao” [52, tr.26-27]. Hơn thế nữa, Phúc còn phải luôn “bám riết đội trưởng Hùng
Cường”, phải đứng ra bảo vệ đồng chí Hùng Cường, kiểm điểm đám thanh niên
tếu táo đã bàn luận chuyện: “bắt gặp đồng chí Hùng Cường đi sâu đi sát quần
chúng, đến bắt rễ với cô Tý con bà Tẹo ở cuối xóm. Nhà chỉ có hai mẹ con, bà
Tẹo lại vừa hỏng mắt lẫn hỏng tai, chỉ có cô Tý tuy xấu người nhưng được cái
phốp pháp, dễ dãi. Họ bảo thấy đồng chí Hùng Cường đến bắt rễ cốt cán để tìm
hiểu tình hình của làng, đã ăn cơm thịt gà rồi ngủ luôn ở đấy đến sáng hôm sau đi
cổng ngách về trụ sở” [52, tr.25]. Nhờ thế Phúc thăng tiến và đã làm đến chức chủ
nhiệm xã . Sự thăng tiến của Phúc được đổi bằng cả cái chữ “hiếu” to lớn của một
gia đình nho giáo. Sự thăng tiến ấy còn được đánh đổi bằng cả nhân cách, đạo đức
của một người thầy giáo. Nhưng Phúc tình nguyện đánh đổi, hài lòng về sự đánh
đổi ấy, bởi “thời bấy giờ nó nhiễu nhương, trắng đen lẫn lộn, cóc ngoé nhảy lên
làm người! Muốn có chỗ đứng thì phải biết lựa” [52, tr.29]. Thế mới biết, để có
chỗ đứng trong xã hội, để đạt được một chức vị nào đó, con người ta có thể dễ
dàng chấp nhận từ bỏ hàng ngũ con người để đứng xuống hàng cóc ngoé.
Còn Trịnh Bá Thủ chật vật mãi mới vào Đảng, bởi “có điều tiếng trong thời
gian yêu đương”và dám “vặn vẹo cãi lí với cả Đảng uỷ” để trình bày ý kiến, quan
điểm của mình, nên Thủ nghiệm ra một điều: “Thái độ, cái điều tưởng là nhỏ nhặt,
nhưng nhiều anh đã bị mờ đời chỉ vì thái độ” [52, tr.156]. Chính vì vậy, Thủ đã
cực kỳ thận trọng, khôn khéo từng bước đi lên: “Vừa học xong một khoá đào tạo
cán bộ cho cơ sở, thì đúng dịp xã đại hội Đảng bộ. Thế là hắn lao vào làm đủ mọi
việc thượng vàng hạ cám. Từ việc trang trí, lên huyện mời đội bóng, rồi tiếp khách
ở xa, giúp ông Đáng bí thư viết báo cáo. Chỗ nào người ta cũng gọi anh Thủ, đồng
chí Thủ, việc này lại phải đồng chí Thủ! Hắn có mặt ở khắp mọi nơi, kể cả việc
nấu nướng, hắn cũng sắn tay nhảy vào chỉ đạo. Thế là ai cũng trầm trồ: Anh Thủ
vừa đi học một năm rưỡi ở trường Đảng tỉnh về đấy. Đến là giản dị, xông xáo và
quần chúng quá thể. Hắn đã tự quảng cáo trước khi bầu ấy mà! Trong đại hội ấy,
chỉ trừ hắn còn tất cả những người ở Giếng Chùa đều mất phiếu. Thế là hắn muốn
nói hắn là bộ óc của cả Giếng Chùa chứ gì?” [52, tr.394]. Dường như vì con
đường đến với địa vị của Thủ không được suôn sẻ nên hơn ai hết, Thủ ý thức rất
rõ giá trị của “góc chiếu giữa làng”.
Thủ và Phúc, mỗi người có một cách tiến thân khác nhau, nhưng cả hai đều
có niềm khát vọng cháy bỏng về quyền lực. Vì thế, họ “chiến đấu” với nhau.
Chiến đấu cho bản thân. Chiến đấu vì danh giá dòng họ mình.
Cuộc chiến ấy mở đầu khi Trịnh Bá Thủ và họ hàng vận động cho Thủ
trúng chức bí thư xã, còn Vũ Đình Phúc mất ghế chủ nhiệm cùng với chân Đảng
uỷ. Nó diễn ra cả trong suy nghĩ lẫn hành động. Bị phế truất, Vũ Đình Phúc lồng
lộn cay cú. Việc đầu tiên mà Phúc làm là tìm mọi cách phải đón bằng được người
cha đã từ mặt Phúc từ khi bị vợ chồng Phúc đấu tố, bởi “phe cánh nhà Trịnh Bá
đang lăm le chiếm hết quyền hành cái xã này. Nó dám nói chi họ Vũ Đình quanh
năm lục đục thì còn lãnh đạo ai!” [52, tr.20]. Tiếp theo đó, Phúc và phe cánh luôn
theo dõi, thu nhặt thông tin để chống đối và kiện cáo Thủ. Những lá đơn liên tiếp
được gửi lên huyện tố cáo chính quyền xã: từ việc chôn cất lão Quềnh – một
người cô quả – không cẩn thận; đến việc cấp thóc ưu đãi cho gia đình chính sách
không đầy đủ; đến việc quản lý, sử dụng tiền quỹ của xã không minh bạch; đến
việc gộp các xã lại để hưởng phần lợi nhuận do nhập nhằng giữa hai mức thuế
khác nhau... Dĩ nhiên chính quyền xã ở đây là Thủ, do Thủ đứng đầu, do Thủ chỉ
đạo. Và, dĩ nhiên, Thủ đoán dược những lá đơn ấy là của “tay Phúc chứ ai”. Với
cái đầu khôn ngoan, bình tĩnh có thừa, Thủ đã lần lượt bẻ gãy từng âm mưu của
Phúc. Tố cáo ngược đãi cái chết của người cô quả thì Thủ cho đào lên chôn lại. Tố
cáo việc sử dụng tiền quỹ xã gửi tiết kiệm lấy tiền lãi chia cho cán bộ xã, Thủ trả
lại tiền và giải thích là cho mượn tên cá nhân để thu lợi cho địa phương. Việc thu
thuế nhập nhằng, Thủ lôi luôn Phúc vào, vì Phúc cũng từng làm chủ nhiệm...
Thậm chí, sau cái vụ ông Hàm đào trộm mả, Thủ sính quýnh, tưởng đâu không gỡ
nổi rắc rối, vậy mà Thủ đã khiến Phúc gậy ông đập lưng ông, phải tự nguyện rút
đơn tố cáo về để tránh bị làm rùm beng chuyện gặp gỡ một cách “không trong
sáng” với bà Son, mà người đạo diễn buổi gặp gỡ ấy lại chính là Thủ. Dù cho phe
của Phúc có thêm ba đảng viên kì cựu là hai người em rể của Phúc mới về hưu và
Tùng, thằng cháu mới giải ngũ về địa phương thì sức mạnh vẫn thuộc về Thủ. Bởi
Thủ đang có thực quyền trong tay.Chỉ cần một cái nhíu mày, chau mặt, một câu
nhắc nhở mát mẻ của Thủ cũng khiến bao kẻ cuống cuồng lo lắng, run sợ. Đến
nỗi, người ta khiến Thủ hình thành một thói quen thưởng thức uy quyền của mình:
“Hằng ngày đến đây là Thủ có niềm thích thú là được nhấm nháp, được ngắm
vuốt cái quyền của mình nó hiện ra qua những săn đón, cung phụng ở xung
quanh”. Với Thủ, “có khi nhấm nháp quyền lực nó còn râm ran thấm thía hơn cả
ăn nhậu” và sự kính nể, cung phụng của mọi người xung quanh chính là “bầu
không khí để anh hít thở”.
Nhìn chung, hai con người này tìm ra mọi chuyện, dù to dù nhỏ, sử dụng
làm vũ khí thanh toán, loại trừ nhau. Hết những chuyện liên quan đến việc công,
họ lấy cả chuyện riêng, lấy người thân ra phục vụ cho cuộc chiến của mình. Nạn
nhân của họ là bà Son, người tình cũ của Phúc, chị dâu của Thủ. Lợi dụng mối
thâm tình cũ của chị dâu, Thủ yêu cầu bà Son gặp Phúc để xin tha tội cho ông
Hàm. Nhưng, Thủ đã lợi dụng cuộc gặp gỡ này để vu cho Phúc tội quan hệ bất
chính, ép Phúc phải đứng ra xin thả anh mình. Không những thế, để loại bỏ Phúc
hoàn toàn trong bộ máy chính quyền xã, Thủ đã bàn với ông Hàm ép bà Son đứng
ra tố cáo Phúc nài ép bà quan hệ bất chính. Sợ bà Son không làm điều dối trá, Thủ
đã cùng Cao, phó công an xã, cháu vợ của mình đón đường giả làm ông Phúc tìm
cách cưỡng đoạt bà Son trong đêm tối để trả thù tội vu vạ. Hành động ấy của Thủ
đã đẩy người chị dâu tìm đến cái chết vì nhục, vì uất ức. Vì mải mê bảo vệ cái ghế
của mình, Thủ không ngờ mình đã giết người, mà người đó chính là chị dâu của
Thủ. Đúng là “ trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết”. Những con người lãnh đạo
chính quyền đánh nhau, những con người trụ cột của hai dòng họ đánh nhau,
những người đàn ông đường hoàng, nho nhã đánh nhau; để một thân phận mỏng
manh, liễu yếu như bà Son gánh lấy mọi ấm ức, bất hạnh. Cái chết oan của bà Son
gây một chút day dứt cho Thủ. Cái chết của bà Son gây một chút bàng hoàng cho
Phúc. Thế nhưng, cái ấy chưa có tác dụng thức tỉnh, chưa làm chấm rứt cuộc chiến
khốc liệt giữa hai con người này. Trái lại, thù càng thêm thù. Ông Phúc vẫn miệt
mài với những toan tính cùng hai người em rể và những lá đơn nặc danh tố cáo,
khiếu nại Thủ và lãnh đạo xã. Thủ thì như con hổ rình mồi, lúc nào cũng sử dụng
tiếng cười và cách nói đầy thuyết phục của mình để làm chủ tình thế, chờ con mồi
sơ hở mới nhảy lên chộp. Thủ và Phúc, cả hai đều làm những việc không trong
sạch và lợi dụng việc triển khai nghị quyết 04 – nghị quyết làm trong sạch Đảng –
để hạ bệ nhau. Những việc này dân làng Giếng Chùa ai cũng biết. Mối thù giữa
hai dòng họ ai cũng biết. Mối hiềm khích giữa Thủ và Phúc ai cũng biết. Nhưng ai
cũng sợ vì đấy là hai con người thuộc hai phe mạnh trong làng. Cuộc chiến giữa
họ là một mất một còn, dân làng chỉ biết chứng kiến và dạt theo chiều gió. Khi
những người trẻ tuổi như Tùng, Đào, Minh, những người thuộc thế hệ con cháu,
thức tỉnh trước những mưu mô xảo quyệt của người lớn, họ đã quyết định vào
cuộc. Dù Tùng bị những kẻ lạ mặt chặn đường đánh cho một trận lên thân, nhưng
đến cuối cuốn tiểu thuyết, người đọc vẫn có thể hình dung được kết cục của hai
con chiến mã bất kham đã đến lúc hết thời.
Ngoài những nhân vật kể trên, một số nhân vật khác trong cuốn tiểu thuyết
này cũng rơi vào sức quyến rũ mãnh liệt của vầng hào quang quyền lực. Đó là
Cao, phó trưởng công an xã, cháu vợ, kẻ sai vặt đắc lực cuả Thủ. Được ông chú
đặt vào cái ghế ấy, Cao rất hãnh diện. Để thêm phần oai vệ, Cao đã tự đầu tư cho
mình xe máy, quần áo, kính, mũ...Và bất cứ khi nào có công việc thì “dù vội mấy,
Cao cũng phải đóng đúng mốt một nhà chức trách rất bảnh. Bộ bò mốc mua đến
hai nồi thóc, mũ lơ-vít, kính râm mắt to, giày cao cổ, súng ngắn đeo trễ bên hông.
Có hôm lại cố ý không cần bao, mà giắt khẩu súng đen sì dưới bụng, rồi nhảy lên
chiếc Ba-bét-ta đã tróc hết cả sơn lẫn mạ, vậy mà vẫn phải đổi hết bốn tạ thóc giữa
lúc gạo đắt như vàng, khiến cả mẹ và vợ Cao như bị cắt từng khúc ruột” [52,
tr.224-225], lại còn kèm theo cuốn sổ có ghi chữ “mật”. Cao luôn tự hào về “cái
dáng hiên ngang của người cầm pháp luật, mà vẫn đủ dáng dấp một thám tử trong
những phim phản gián giật gân” [52, tr.225] khiến cho “vô số những gã trai làng
nhìn Cao thèm muốn”. Những gì Cao có khiến ta có cảm giác anh ta như một
Đông-ki-sốt của xóm Giếng Chùa.
Đó là ông Sửu, “trai, cò đánh nhau ngư ông đắc lợi”, Sửu trúng chức chủ
tịch xã là nhờ hai họ Trịnh Bá và Vũ Đình muốn loại bỏ đối thủ nên dồn phiếu
cho kẻ thứ ba. Dù trình độ quản lí kém, dù luôn chịu chi phối bởi Thủ, dù không
có thực quyền, nhưng anh chàng ngụ cư gặp may ấy vẫn bị say tước vị. Chịu ơn
đề bạt của Thủ, nhưng một mặt, Sửu tuân thủ, cúc cung tận tụy với Thủ, mặt khác
lại tìm mọi cách thoát ra khỏi sự chi phối của Thủ, thậm chí hạ uy tín của Thủ
bằng những thông tin ỡm ờ, vu vơ. Nhân vụ anh em Thủ đào trộm mả, Sửu cố
gắng góp phần hạ bệ Thủ, nhưng khi Thủ bình an, Sửu lại tiếp tục săn soe lấy
lòng. Sửu như một con chó hư bên Thủ, sẵn sàng ve vẩy đuôi mừng nhưng cũng
không biết nhảy vào cắn chủ khi nào.
Cũng là khát vọng về quyền lực, nhưng không phải là thứ quyền lực cụ thể,
thứ quyền lực dùng để sai khiến, chèn ép người khác, tiểu thuyết Thời xa vắng và
Bến không chồng đề cập đến một loại khát vọng quyền lực khác, quyền lực
mang ý nghĩa danh dự, danh vị.
Anh cu Sài trong Thời xa vắng rất ghét vợ. Sài tìm mọi cách để không ăn
chung với cô vợ của mình. Bất đắc dĩ phải ngồi chung mâm, nhất định Sài không
ngồi đối diện với vợ. Bát tương nào Tuyết chấm thì Sài không chấm mà tìm bát
rót tương khác chấm riêng. Và tối tối, khi có một mình với “con bé ấy”, khi trước
mặt không còn quyền lực đáng sợ nào nữa, thì Sài kiên trì hoặc không chịu ngủ
trong cái buồng ấy, hoặc có bị khoá trái của cũng nhất quyết nằm dưới đất dăm
hôm, ba hôm, kỳ đến khi nào người lớn phải mở cửa mới thôi. Nhưng khi được
bầu làm Liên đội trưởng một liên đội thiếu niên của xóm, Sài đã không dám để
cho người ngoài thấy mình “mất đoàn kết” với vợ. Đến khi lớn lên, đi bộ đội, Sài
càng không dám bỏ vợ. Hơn nữa, nghe lời chỉ huy, để phấn đấu vào Đảng, Sài
phải vào ngủ chung với vợ, thực hiện vai trò người chồng một lần duy nhất trong
bao năm làm chồng Tuyết. Ta thấy ở đây, Sài làm tất cả những việc mình không
thích là vì không muốn phụ lại sự quan tâm lo lắng của mọi người: cha mẹ, chú
Hà, anh Tính, chính uỷ Đỗ Mạnh, anh Hiểu, anh Hiển..., những người yêu quý Sài
rất mực. Thế nhưng trong chính bản thân Sài, không phải không có những tham
vọng. Tham vọng được vào Đảng. Tham vọng được tin cậy và tạo điều kiện học
tập, thăng tiến...Nhìn chung, Sài đã vì tình yêu thương, sự kỳ vọng của người thân
cũng như khát khao phấn đấu của chính mình mà dẹp bỏ những khát vọng yêu
thương chân chính, giết chết con người bản năng của mình.
Nguyễn Vạn trong Bến không chồng cũng vậy. Vì những năm tham gia
chiến dịch Điện Biên Phủ. Vì những tấm huân chương lấp lánh trên ngực. Vì
những cái nhìn ngưỡng mộ của dân làng. Vì cả những cái cúi đầu chào đầy kính
trọng của mọi người... Vạn đã không dám sống cho riêng mình, không dám sống
đúng với những bản năng chính đáng của bản thân. Vạn chạy trốn mụ Hơn, một
bà nạ dòng đang độ hồi xuân lẳng lơ, đĩ thõa . Đã đành là thế. Đằng này, Vạn né
tránh luôn cả chị Nhân, người mà Vạn vô cùng yêu thương, người mà Vạn ngày
đêm thấp thỏm lo lắng, bảo bọc..., ngay cả khi chị Nhân yếu đuối chủ động hiến
dâng... Danh dự, danh vị, những thứ đó, Vạn không thể để mất. Những thứ Vạn
đạt được thì Vạn gìn giữ. Những gì Vạn chưa làm được thì Vạn trông chờ cả vào
đứa cháu trưởng tộc – Nghĩa. Chả thế mà Vạn ủng hộ Nghĩa nhập ngũ khi cha
Nghĩa không hề đồng ý. Vạn vui khi Nghĩa “ra dáng anh bộ đội” và đã “vào tận
sông Lam, bến Thuỷ” khi vừa mới nhập ngũ. Chiến tranh kết thúc, thấy cháu được
lên cấp tá, Vạn hồ hởi: “thằng này thế mà khá”, rồi so sánh: “Anh có được vào
giải phóng Sài Gòn không? Không à? Thế thì anh không bằng thằng con nhà Sách
nó được vào tận dinh Độc Lập” và rồi lại liên tưởng: “Hồi giải phóng Điện
Biên...”. Con người Vạn cả đời sống vì những cái gọi là lý tưởng, vì những gì đã
đạt được trong quá khứ và cả những gì đang có trong hiện tại. Thế nên, đến cuối
đời, Vạn đã không gánh nổi cái tội lỗi tày đình của cuộc đời mình. Đấy là cái tội
vô tình hưởng cái hạnh phúc trần tục của con người, hưởng hạnh phúc làm cha do
Hạnh đem lại. Vạn vừa thẫn thờ bởi ân huệ qúa lớn mà cuộc đời, đứa cháu gái trao
tặng, vừa đau đớn vì đã đánh mất tất cả những thứ mà bấy lâu Vạn gìn giữ, những
thứ luôn là niềm tự hào, niềm kiêu hãnh của Vạn. Vì thế, Vạn tự tìm đến cái chết
để trốn tránh, để rũ bỏ tất cả. Con người ấy, đến tận cuối đời vẫn không dám dẫm
lên dư luận, dẫm lên hào quang của chính mình để một lần được sống cho riêng
mình, vì mình. Có thể thấy Vạn chính là nạn nhân của một thời vinh quang do
hoàn cảnh quê mùa dốt nát, cả tin và trong sáng, dễ thương và đáng trách nên
không thể thoát ra khỏi cái bóng của chính mình.
Hai nhân vật Giang Minh Sài và Nguyễn Vạn được xây dựng bởi hai ngòi
bút khác nhau, trong hai bối cảnh khác nhau của hai cuốn tiểu thuyết, nhưng lại
gặp gỡ nhau ở nhiều điểm thuộc về lí tưởng sống, mục đích phấn đấu của cuộc
đời. Tâm lý và hành động của hai nhân vật này là tâm lý, hành động của số đông
con người của một thời. Tuy nhiên, ta vẫn thấy thật đáng thương cho Sài, cho Vạn
đã phải đánh đổi cả cuộc đời, cả hạnh phúc... cho những thứ danh vị hào nhoáng
mà phù phiếm.
Dù nhìn nhận quyền lực dưới góc độ nào đi chăng nữa, ta vẫn thấy quyền
lực và những hào quang của nó vừa có thể nâng người ta lên đến đỉnh vinh quang,
đỉnh của lòng kiêu hãnh. Nhưng đồng thời, cũng chính nó có thể hạ con người
xuống đáy của cuộc sống làm người, xuống nơi gọi là “địa ngục trần gian”. Những
con người hãnh tiến không biết xác định đâu là điểm dừng sẽ dễ dàng rơi vào bi
kịch một cách không kiểm soát.
2.3. Con người cam chịu khuất phục trước định kiến của gia đình và xã hội
“Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”, đã là người Việt Nam, dù nông
thôn hay thành thị, ai cũng có tâm lý sống vì gia đình, ngại gây ra những điều
tiếng ở đời. Trong bối cảnh hết sức nhạy cảm của xã hội Việt Nam những năm đầu
thời kỳ đổi mới, những vấn đề thống trị xã hội lúc bấy giờ là đạo đức, tư tưởng, lý
tưởng, quan điểm, lập trường..., thì con người ta càng phải chú ý hơn đến lời ăn
tiếng nói, chú ý hơn đến hành động, chú ý hơn đến lối sống. Sơ xảy một tí, nhẹ thì
mang tiếng làm mất danh giá gia đình; nặng thì sai quan điểm, rũ tù như chơi.
Chính điều ấy đã tạo nên những ức chế, bi kịch cho con người trong cuộc sống.
Họ vùng vẫy, quẫy đạp một cách tuyệt vọng trong những định chế thành văn hay
không thành văn. Nhưng tuyệt nhiên không dám chống đối. Nhưng tuyệt nhiên
không dám hất bỏ.
Quay trở lại với nhà ông đồ Khang (Thời xa vắng). Lấy vợ cho thằng con
út khi nó mới mười hai tuổi, nhưng ông bà không ép Sài yêu vợ nó được. Bao
nhiêu lần con trai khóc mếu đòi bỏ vợ, ông bà đều đe nẹt không cho, vì phải giữ
gìn “nề nếp gia phong”. Sài dù mới chỉ là một cậu bé, nhưng xuất thân từ một gia
đình gia giáo theo truyền thống nho học, nên dẫu chưa hiểu lắm về những điều
người lớn nói, cũng lờ mờ nhận thức được ý nghĩa của vấn đề, không dám cãi lời
cha mẹ. Bắt Sài hiểu những điều gia giáo thì có thể, còn bắt Sài yêu vợ thì không
ai có thể bắt được. Khi còn nhỏ, không bỏ được vợ thì Sài tìm mọi cách trút toàn
bộ sự căm ghét, oán hận lên vợ. Nhưng đến năm Sài mười bốn tuổi, được bầu làm
liên đội trưởng thì cái sự chê vợ của cậu lại mang một sắc thái khác. Bề ngoài thì
cậu không dám chê vợ nữa. Cậu ta rất sợ tiếng xì xào bàn tán ở bất cứ chỗ nào.
Thành ra Sài chỉ yêu vợ ở chỗ đông và bằng sự im lặng, nó có ý thức giữ gìn cẩn
thận sao cho người ta không thể nhận thấy giữa nó và vợ có sự “mất đoàn kết”.
Nghĩa là, từ khi trở thành một con người gắn với xã hội, Sài đã phải “sống với hai
cuộc đời: thật và giả. Ban ngày, chỗ công chúng là con người giả, sống cho vừa
lòng mọi người: yêu vợ. Ban đêm khi có một mình là con người thật: không thể
nào chung sống với một con người mình ghét bỏ từ đầu đến chân” [trang 42]. Đây
là cái khoảng tự do cuối cùng của quyền làm người của Sài. Tất cả mọi chuyện
diễn ra như vậy là vì anh sợ. Anh không dám đương đầu với những dư luận, tập
tục cổ hủ đã xâm phạm hết sức thô bạo, dã man đến quyền làm người của anh.
Trong con người anh luôn tồn tại hai thế lực: chống đối và khuất phục. Hai thế lực
ấy ngày càng phát triển, càng mâu thuẫn, và đẩy bi kịch trong con người Sài lên
một mức độ ngày càng cao hơn. Hàng loạt hành động của anh sau này đều chứng
tỏ thái độ phản kháng, nhưng là kiểu phản kháng yếu ớt, bất lực của một kẻ đầu
hàng hoàn cảnh. Anh lên đường một cách im lặng, thực chất là chạy trốn, để khỏi
phải đội trời chung với cô vợ bắt buộc ấy. Rồi cả cái cách anh hăng hái, hăm hở
học tập và xông pha vào những nơi nguy hiểm mà xét bề ngoài là hành động dũng
cảm, thực chất cũng là để thoát ly hoàn cảnh bất hạnh của mình. Ngoài đời thực
không rũ bỏ được hoàn cảnh, anh thể hiện mơ ước ấy trong sự tưởng tượng của
những trang nhật kí. Trong nhật kí, anh cho mình được tự do yêu đương, tự do thể
hiện những khát khao tình ái với Hương. Và cũng ở đây, anh dám thể hiện khát
khao được ly hôn: “Từ nay các em được hoàn toàn tự do rồi. Chú và anh đã đề
nghị với toà án. Người ta đã điều tra kĩ và nhất trí cho Sài được li hôn để khỏi giết
chết ba con người cùng một lúc” [30, tr.76]; thậm chí, tàn nhẫn hơn, còn dám
mong vợ chết: “Tôi đi thi đại học và về nhà, cô Tuyết đã chết vì bệnh ung thư ở
cổ. Tuyết chết, tôi lại thấy thương, thấy tội nghiệp cho cô ta. Giá cô ta đừng làm
khổ tôi mấy năm đằng đẵng có phải tôi cũng quý mến cô ta như tất cả mọi người
khác không? Tôi bảo bố mẹ tôi bán cả nhà cửa làm ma cho cô ta thật to và năm
nào đế ngày giỗ, tôi cũng làm mấy mâm cơm mời cả bố mẹ, anh chị cô ta đến như
những người thân khác” [30, tr.79]. Đấy là trong suy nghĩ, trong tưởng tượng. Còn
thực tế là một thái độ cam chịu. Cho đến khi đã khá trưởng thành trong môi
trường quân đội, đã lập được nhiều thành tích trong học tập và chiến đấu, Sài vẫn
không hề dám đặt vấn đề phá bỏ những cái cần phá bỏ để làm lại cuộc đời theo ý
mình. Phải nhờ có chính uỷ Đỗ Mạnh bàn với chú Hà tìm cách giải phóng cho Sài,
anh mới thoát khỏi số phận một cách thụ động. Anh đã không có can đảm giải
quyết số phận của mình, mà cứ để mặc cho ai đó muốn định đoạt ra sao thì định,
được sao chịu vậy. Sau này, khi bình tĩnh nhìn lại, anh ân hận về sự yếu đuối bất
lực của mình “không dám làm, không dám mất một cái gì, chỉ bằng sự im lặng và
tránh né, sự tránh né gần như trốn chạy, vừa chiều ý mọi người, vừa toại nguyện
cho mình, rút cục không tránh né nổi số phận”. Giá như anh dám “việc mình mình
làm, việc gì cứ phải rình rập người khác khen hay chê, nhìn ý tứ mỗi người một tí
để bóp mình theo họ” thì đời riêng của anh đâu đến nỗi khốn khổ.
Cuộc đời bất hạnh của Sài là một bài học sâu sắc về cách sống, về trách
nhiệm của mỗi con người đối với cuộc đời mình. Tuy nhiên, ta vẫn thấy Sài vừa
đáng trách vừa đáng thương, bởi có những khó khăn khách quan mà Sài khó lòng
vượt qua. Đó là môi trường, là hoàn cảnh cụ thể xung quanh anh ta. Sài sống trong
sự chăm chút, thương yêu của bố mẹ, chú Hà (cán bộ tỉnh), anh Tính ( cán bộ
huyện), chính uỷ Đỗ Mạnh, anh Hiểu, anh Hiền (cán bộ phụ trách ở đơn vị). Từ
bé, Sài đã được cả gia đình yêu thương, chiều chuộng. Hầu như mọi người ai cũng
lo cho hạnh phúc của Sài, kể cả việc cưới vợ hay tìm mọi cách cản ngăn không
cho anh thò ra cái ý định bỏ vợ. Người ta không quan tâm đến việc Sài có hạnh
phúc hay không, mà chỉ lo nếu có trục trặc gì trong chuyện vợ con thì anh sẽ mất
hết, bởi vì dư luận sẽ lên án. Còn cái sự lên án đó đúng hay không, người ta cũng
không cần lưu ý tới. Chính ông Hà đã thú nhận với Hương: “Thực ra chú không
phải là người độc ác nhưng chú cũng như đa số bây giờ, người ta dựa theo dư luận
mà sống chứ ai dám giẫm lên dư luận mà đi theo ý mình” [30, tr.68] và “ở đời này
người ta chỉ sẵn sàng chết đói, chết rét, chết bom, chết đạn để che chở, nuôi nấng
cho con mình tai qua nạn khỏi, con mình được sung sướng, được vinh hoa chứ
không ai chịu tai tiếng, chịu xỉ nhục để con mình được tự do theo ý nó” [30, tr.67].
Và chính ủy Đỗ Mạnh, sau này khi gặp lại Sài, ông cũng thú nhận là ông rất
thương Sài, muốn giải phóng cho Sài nhưng ông sợ, mặc dù không rõ là sợ ai, sợ
cái gì. Con người có tư tưởng đúng đắn nhất ấy cũng không vượt ra khỏi cái hàng
rào mơ hồ mà kiên cố là cái dư luận xã hội tai ác kia. Nói chi đến Hiểu và Hiền
cấp dưới của ông. Những cán bộ như Hiểu, Hiền là những con người phải nói là
tốt, có tinh thần kỉ luật rất cao, và những gì họ làm đều là vì Sài, vì thương yêu và
mong muốn cho Sài tiến bộ. Nhưng trong thực tế, một cách vô tình, họ đã bắt Sài
phải thích thú những cái họ thích thú, phải ghét bỏ những cái họ ghét bỏ. Cái sự
yêu ghét của Sài phải do họ chỉ huy, định đoạt. Chính vì thế đã xảy ra điều oái
oăm, nghịch lí, đó là: mặc dầu xuất phát từ động cơ tốt đẹp và nhân ái, song lại
dẫn đến một hiệu quả hoàn toàn trái ngược. Và điều nguy hiểm, đau đớn nhất là
chính việc làm thụ động và khuôn theo một nếp nghĩ nào đó của họ đã “giết chết
một tâm hồn trong sáng, một niềm tin, một tình yêu của con người với cách
mạng, với quân đội, với xã hội tươi đẹp của chúng ta” [30, tr.132] . Và vì thế , nó
gây ra những mối bi kịch lớn của những người thanh niên “luôn luôn sống hộ ý
định của người khác, cốt để cho đẹp mặt mọi người chứ không phải cho hạnh
phúc của mình” [30, tr.331] như Sài.
Không sống bằng suy nghĩ của người khác, không sống cho sự kỳ vọng của
người khác vào bản thân mình, không vô trách nhiệm với cuộc đời mình như kiểu
của Sài, nhưng Nguyễn Vạn của Bến không chồng cũng là một chân dung tiêu
biểu cho kiểu người không dám đối đầu với dư luận, sống một cuộc đời đầy khổ
hạnh, vừa đáng thương vừa đáng giận.
Cuộc sống của Vạn từ khi về làng Đông bị chi phối bởi hai người đàn bà:
chị Nhân và mụ Hơn. Với Vạn chị Nhân như là thứ trái cấm nguy hiểm; còn mụ
Hơn như một loài hoa có mùi thơm quyến rũ đáng sợ như độc dược.
Dành cho chị Nhân một thứ tình cảm thật đặc biệt “vừa kiêu hãnh mà cách
xa, vừa yêu thương và giận dỗi”, nhưng Vạn không dám gọi tên nó. Vạn không
dám giải thích với chính lòng mình là Vạn thương lũ trẻ nhà chị Nhân, thương bé
Hạnh mất cha khi còn quá nhỏ hay thương chính mẹ của chúng. Vạn chỉ lặng lẽ
giúp đỡ chị Nhân tất cả những việc có thể. Vạn sung sướng khi mẹ con chị hạnh
phúc. Vạn đau khổ khi mẹ con chị hoạn nạn... Tất cả sự chăm sóc, gần gũi với gia
đình người goá phụ ấy, Vạn làm theo bản năng, do con người, do trái tim Vạn
muốn thế. Vạn chưa bao giờ dừng lại để chất vấn lòng mình. Đến khi nghe được
những lời xì xào của cả làng, Vạn mới chợt giật mình nhận ra mình cũng có những
ý nghĩ mơ hồ, mới lạ về chị Nhân; chợt giật mình khi nhận ra cái tình cảm vừa
mãnh liệt vừa sợ hãi, cái tình cảm giống như ngọn lửa trước gió lúc bùng lên, lúc
tắt ngấm ở trong lòng mình. Vạn yêu và kính trọng người đàn bà ấy. Là kẻ đi hết
gần quá nửa cuộc đời mới biết yêu, mới biết được những cảm giác rung động của
tình yêu. Thế nhưng, khi đứng trước chị Nhân, Vạn vừa muốn chiếm hữu vừa
muốn trốn chạy, vừa khao khát vừa cay đắng lùi ra xa. Sở dĩ như vậy là vì Vạn lo
lỡ có ai “hỏi về quan hệ của mình với nhà chị Nhân”. Và thay vì bày tỏ tình cảm
của mình, tiến đến với người đàn bà mình yêu mến thì Vạn lại cho rằng “đấy là do
những phút giây yếu hèn không kìm nén được”. Tình cảm của Vạn là vậy, nhưng
lí trí không cho phép Vạn làm điều ấy, bởi vì “điều ấy là lỗi lầm đáng tiếc không
xứng đáng với người chiến sĩ cách mạng, không xứng đáng với lòng ngưỡng mộ
của dân làng, họ mạc” [18, tr.62]. Vạn sợ dư luận bàn tán. Vạn sợ phải trả lời các
câu hỏi của dòng họ về mối quan hệ của mình. Vạn đã không thể đánh đổi niềm
kiêu hãnh Vạn có để giành lấy tình yêu, hạnh phúc. Hay nói cách khác, Vạn cũng
như Sài trong Thời xa vắng, đã không dám mất, không dám làm điều gì cho cuộc
sống của riêng mình.
Đấy là với thứ trái cấm mà Vạn phải nâng niu, gìn giữ. Còn với loài độc
dược quyến rũ, thái độ của Vạn thế nào? Chính Vạn dẫn người đến bắt và xử tội
gia đình địa chủ Hào buộc cha con địa chủ Hào phải chết. Và Vạn được chia sử
dụng căn nhà rộng lớn của hắn, còn con dâu và thằng cháu đích tôn của địa chủ
Hào được ở căn bếp. Chính vì thế mà sinh chuyện. Chính vì thế mà chuỗi ngày dài
sau đó, Vạn phải khổ sở, khốn đốn về những trò lẳng lơ mồi chài của mụ Hơn. Mụ
Hơn chết chồng, mụ cần một người đàn ông, cần một chỗ dựa vững chắc như Vạn.
Mụ Hơn lại là người đàn bà khá quyến rũ và quá đỗi dạn dĩ. Mụ đã kiếm đủ
chuyện để được tiếp xúc với Vạn, gần Vạn, chiếm được Vạn: nào là nhờ chở che
cho thằng Tốn con mụ; nào là cố tình cho Vạn thấy mụ tắm; nào là mách Vạn
chuyện con gà trống nhà Vạn dám “huỷ hoại” danh tiết con gà mái nhà mụ và
chuyện con mèo cái của mụ ngáy đực gào rống lên từng cơn; cả chuyện tối tối vác
chiếc chõng tre ra sân nằm hóng mát, cố tình vén quần thật cao khoe cặp đùi trắng
lốp; thậm chí, mụ còn tạo điều kiện cho Vạn “sờ tí” hôm mụ sang xin muối. Đứng
trước những trò mồi chài ấy, người đàn ông trong Vạn ban đầu tức giận, khinh bỉ,
sau “thấy mụ Hơn ăn mặc hớ hênh đứng thở dài thườn thượt”; và đã có lúc “cái xu
chiêng mềm mềm trên ngực mụ nó như ma lực hút kiệt mất lí trí Vạn. Bàn tay Vạn
run rẩy đang gây tội lỗi mà Vạn không biết” [18, tr.249]. Nhưng chỉ một chút thôi,
rồi Vạn tỉnh ngay. Vạn không thể “mắc nỡm” mụ ta được. Cứng rắn là thế. Đàng
hoàng là thế. Giữ trọn “trinh tiết” đến thế. Vậy mà Vạn vẫn sợ mang tiếng. Mụ
Hơn vừa đẻ thêm một đứa con hoang, thỉnh thoảng mụ lại ẵm con sang nhờ Vạn
trông hộ. Vạn ghét cay ghét đắng muốn từ chối, nhưng “mụ mới chỉ lừ mắt Vạn đã
sợ cái “phốt” ấy đấy, cái phốt Vạn trót sờ tý mụ”. Anh Vạn Điện Biên, con người
quen sống trong ánh mắt ngưỡng mộ, kính nể của xung quanh ấy sợ mọi người dị
nghị, chê cười. Và thế là Vạn lại chạy trốn, trốn ra vườn ươm của các cụ phụ lão
trong làng. Vạn chạy trốn vì “nếu còn ở gần mụ Hơn ắt sẽ có ngày mắc với mụ ấy
thì khổ cả một đời...” [18, tr.269].
Cả đời Vạn chỉ toàn là chạy trốn. Chạy trốn người Vạn yêu thương. Chạy
trốn cả người Vạn khinh ghét. Vạn chạy trốn cả chính Vạn, chạy trốn khỏi cái sức
mạnh bản năng của người đàn ông luôn quẫy đạp, hun đốt trong Vạn, thế nên khi
thấy “bọn đàn bà con gái lại hớ hênh phơi cái phần da thịt trắng hớn ra giữa trời
đất” thì Vạn chỉ biết “nhảy vào giường vật mình vật mẩy và nhận ra mình là kẻ hư
hỏng quá lắm” [18, tr.269], để rồi sau mới thấy tiếc là mình không lấy vợ sớm.
Chạy trốn được tất cả, nhưng Vạn vẫn không thể chạy trốn nổi số phận, số phận
nghiệt ngã. Cả một đời giữ gìn phẩm giá như cô gái tân giữ gìn trinh tiết. Nhưng
rồi trong cái châng lâng của hơi men, của đòi hỏi xác thịt không kiểm soát, Vạn đã
vô tình huỷ hoại nó, huỷ hoại cả danh tiết của Hạnh, người đàn bà mà “hai mươi
lăm năm nay Vạn đã yêu thương nó bằng tình cảm của một người cha” và “đến
như mẹ nó Vạn còn không dám” [18, tr.273]. Dù rằng Hạnh tự nguyện dâng hiến,
tự nguyện tìm đến Vạn như một người đàn ông duy nhất hiểu và thương yêu nó;
và Vạn cũng cảm nhận thấy mọi tinh hoa của Hạnh đã đem lại cho cuộc đời Vạn
những phút giây sung sướng; nhưng Vạn vẫn không dám đối diện với chính mình.
Vạn không dám nhìn mặt bất cứ ai ở làng Đông. Vạn cảm thấy xấu hổ với tất cả,
kể cả những đứa trẻ con bé tí teo, đến mức muốn cầm thanh củi chọc thẳng vào
bụng. Đau khổ chồng chất đau khổ, mặc cảm chồng chất mặc cảm, Vạn luôn tự xỉ
vả mình là một kẻ khốn nạn, tự mình vùi dập đi niềm kiêu hãnh của mình với dân
làng. Đã thường tự hào “cả làng Đông này ai cũng nghĩ được như Vạn thì đâu đến
nỗi lắm chuyện rắc rối” [18, tr.183] nên Vạn không thể tự tha thứ cho mình, nhất
là sau khi Hạnh bỏ đi một thời gian và dắt về cho ông một đứa con gái. Ông đã
tìm đến cái chết để chuộc lỗi với Hạnh. Cái chết ấy cũng là cách trốn chạy cuộc
đời, trốn chạy tội lỗi, trốn chạy dư luận của ông.
Trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, đàn ông sống còn sợ tai tiếng, huống
hồ là phụ nữ. Những người phụ nữ xuất hiện trong các tác phẩm, dù nhiều dù ít
cũng phải trói mình trong những hoàn cảnh, những tâm sự riêng, tránh gây tai
tiếng ở đời, dù sự cam chịu ấy vẫn đưa đến cho cuộc đời họ biết bao bi kịch.
Ở trên ta nói đến Nguyễn Vạn. Ở đây, ta hãy nói đến chị Nhân, người tình
thầm lặng của Vạn một chút. Cũng như Nguyễn Vạn, chị Nhân không dám bước
qua lời dị nghị của xóm làng, không dám đối mặt với lời nguyền của hai dòng họ
Nguyễn – Vũ, để đến với tình yêu của chú Vạn. Chị không dũng cảm được như
con gái chị, cái Hạnh, dám đối đầu tất cả cho tình yêu chân chính. Và trớ trêu,
trong đám cưới của con chị, một đám cưới do đoàn thanh niên tổ chức, dòng họ
Nguyễn không chấp nhận nên không có sự góp mặt của người lớn đã đành, đến
chị cũng không dám có mặt. Để mừng đám cưới của con, chị cũng làm một mâm
cơm cúng chồng. Đến khi ghe tiếng pháo nổ ròn rã, chị cũng muốn nhào ra với
con nhưng lại không dám. Chị sợ làng xóm đàm tếu. Chị sợ mang tiếng đồng loã
với tụi trẻ.
Trong chuyện tình cảm giữa chị với chú Vạn, chị cũng vừa yêu thương vừa
xa lánh, vừa muốn bất chấp tất cả vừa e ngại tất cả. Thế nên, cái đêm mưa gió chú
Vạn đem cá rô tới, chị băn khoăn và lo ngại khi cảm thấy căn nhà dường như cứ
sáng choang trong đêm tối, nhưng chị vẫn mời chú Vạn ở lại . Và trong cái đêm
mưa gió ấy, không có ai nhìn thấy, không có ai có thể dèm pha, lên án, lần đầu
tiên chị Nhân xuất hiện trước chú Vạn với một dáng vẻ lả lơi khác thường: “chị
ngồi nghiêng người, chống một tay xuống giường, đầu ngả về một phía thả mái
tóc dài đen mượt, một tay vuốt vuốt những sợi tóc. Gương mặt chị Nhân sáng lên
miệng tủm tỉm cười nhìn Nguyễn Vạn” [18, tr.140]. Khiến cho chú Vạn phải bàng
hoàng “chả lẽ đàn bà ai cũng thế cả, rửng mỡ lên là quên hết mọi chuyện không
còn biết giữ gìn nữa”. Chưa dừng ở đó, trong căn nhà vắng lặng, chỉ có hai con
người cùng với tiếng mưa rơi lộp bộp ngoài vườn chuối, chị Nhân trằn trọc không
sao ngủ được. Đứng nhìn chú Vạn ngon giấc, người goá phụ bao năm vắng chồng
, tưởng như mọi khát khao đều lụi tắt, mọi cảm xúc đều khô héo, bỗng chợt thấy
rạo rực và ngập tràn đòi hỏi. Quên hết mọi rào cản, quên hết cả danh phận, chị đã
run rẩy ngã vào lòng chú Vạn. Nhưng chỉ có thế. Khi hai bàn tay chú Vạn lướt nhẹ
trên khắp cơ thể chị thì hai con người đã lại trở về nguyên vẹn với bản chất và nỗi
sợ hãi trong lòng họ. Họ không dám vượt rào. Bởi thế, chính con gái chị đã từng
kết tội chị: “Chú Vạn không lấy được vợ là tại mẹ” [18, tr.139].
Cũng là thân phụ nữ yếu đuối, ngại va chạm, ngại điều tiếng, nhưng bà Son
trong Mảnh đất lắm người nhiều ma lại trải qua một bi kịch hoàn toàn khác. Khi
còn là cô Son đẹp nhất làng, “ mặt hoa da phấn, thắt đáy lưng ong. Đi một bước là
có người theo, người ghẹo một bước. Nhưng chưa có anh nào lọt được vào cặp
mắt lá dăm vừa đen vừa sắc của cô” [52, tr.96] thì bà đã cuồng nhiệt trao hết tình
yêu cho cậu giáo Phúc. Oái oăm ở chỗ cậu giáo Phúc là người đã có vợ con. Chính
vì thế, tai tiếng bay khắp làng. Bố mẹ cô Son sợ nhục nên ép con gái phải lấy anh
Hàm. Cô Son cũng vì sợ mang tiếng danh giá gia đình nên đồng ý lấy người mà
mình không bao giờ yêu. Để đổi lại sự im lặng của chồng về sự thất tiết của mình,
cô Son cam chịu một kiếp sống tôi đòi cho chính chồng mình. Mà đúng là tôi đòi
thật. Trong cuộc sống thường nhật, bà Son chỉ biết dăm dắp tuân theo lệnh của
chồng và gia đình chồng, cặm cụi làm hết phận sự của mình. Trong đời sống chăn
gối, bà Son cũng lặng lẽ cam chịu sự thô lỗ, ích kỉ của chồng cho tròn nghĩa vụ
làm vợ mà không hề có chút khoái cảm của tình yêu thương. Nếu như cô Son xưa
kia dám tung mình bứt phá, đòi bỏ trốn cùng anh giáo Phúc mà không được chấp
nhận, thì bà Son bây giờ lại âm thầm chịu đựng tất cả mọi ấm ức, khổ sở như số
bà sinh ra là phải vậy. Thậm chí, ấm ức đến khi chết vẫn chưa thôi.
Bên cạnh những con người cam chịu, khuất phục trước những định kiến của
gia đình, của xã hội thì ta vẫn thấy trong các cuốn tiểu thuyết vẫn xuất hiện những
con người dũng cảm, dám bày tỏ, dám đấu tranh cho tình yêu, cho hạnh phúc của
cá nhân, mặc cho dư luận có đơm đặt những gì. Đó là những con người, những
người phụ nữ như Hương trong Thời xa vắng và Thuỷ trong Bến không chồng.
Với nhân vật Hương, Hương tiểu thư, mĩ miều, sang trọng, so với Sài thì
quả là khập khiễng về tất cả mọi mặt, trừ mặt học tập. Thế nhưng Hương yêu Sài,
một tình yêu bền bỉ và tha thiết. Cũng sống trong hoàn cảnh xã hội như Sài, cũng
có những khó khăn trắc trở khi yêu một người thanh niên đã có vợ như Sài, nhưng
Hương đã xử sự rất có bản lĩnh, rất dũng cảm để bảo vệ tình yêu chân chính của
mình, cho dù cô hiểu là trước mắt mình có hàng loạt những trở ngại nặng nề, nhất
là búa rìu dư luận. Vì tình yêu với Sài, cô đã dám tranh luận cùng chú Hà để xin
chú giải phóng cho Sài, cũng là để bảo vệ tình yêu của cô. Cô cũng dám bước qua
mọi sự e ngại, tự ái để có thể tìm đến với anh Sài cù nần, nhút nhát. Nhưng rồi sự
đầu hàng của Sài đã khiến Hương đau đớn, tuyệt vọng vì nghĩ rằng Sài đã phản
bội mình, và khiến cô chán nản, buông trôi cuộc đời mình theo một hướng tiêu
cực. Hàng chục năm sau này, khi gặp lại Sài, cô vẫn giữ được cách cư xử đúng
mức, có trách nhiệm với gia đình mình và cũng có trách nhiệm với người yêu cũ.
Hương là hình ảnh của một con người sống có bản lĩnh, của một nhân cách trung
thực, thẳng thắn rất đáng quý.
Thủy cũng vậy. Là cô gái hàng tỉnh nên Thủy khá bạo dạn, chủ động trong
việc định đoạt cuộc đời mình. Khi còn là một cô nữ sinh hồn nhiên, Thủy chủ
động đòi hôn anh chàng Nghĩa học lớp trên mà mình đã ngưỡng mộ từ lâu. Mười
mấy năm sau, cũng trong căn phòng ấy, Thủy đã chủ động cho Nghĩa đời con gái
mà cô đã cố công gìn giữ trong suốt những năm đi thanh niên xung phong, chỉ sợ
bị đánh cắp bởi kẻ không xứng đáng. Đối với Nghĩa và Hạnh, Thủy chỉ như người
vay mượn một chút hạnh phúc muộn màng chứ không phải kẻ đánh cắp. Bằng
chứng là Thủy không hề đòi hỏi gì hơn cho mình. Trái lại, Thủy còn rất tận tình
chăm sóc cho mẹ Nghĩa, cho vợ Nghĩa khi mọi người bị bệnh. Nghĩa chỉ thực sự
đến với Thủy khi anh và Hạnh đã ly hôn. Thủy đã yêu Nghĩa bằng tình cảm nồng
thắm và thánh thiện. Sợ Nghĩa đau đớn khi biết mình không có khả năng sinh con,
cô Thủy kiêu sa, sang trọng đã phải cắn răng một lần làm gái điếm. Nhưng Thủy
vẫn không thể đem lại cho Nghĩa một đứa con. Và Nghĩa cũng không thể giữ tròn
mái ấm gia đình với Thủy. Thủy xuất hiện trong truyện không nhiều nhưng vẫn
làm người đọc nhớ về một nhân cách cao đẹp.
Thùy và Hương, một số ít những con người dũng cảm, dám giẫm lên dư
luận để tìm đến, để đoạt lấy hạnh phúc chính đáng cho mình. Họ sống hết mình
như những ngọn nến cháy đến giọt cuối cùng. Ở họ toát ra một vẻ cao quý khiến
người ta ngưỡng mộ. Không giống cái cao quý khiến người ta xót thương như một
số đông người: Sài, Vạn, chị Nhân, bà Son... Có một điều khá thú vị, trong ba tiểu
thuyết này, số phận người đàn bà “như dây leo cuốn”, luôn bị phụ thuộc vào gia
đình, vào những người đàn ông của gia đình: cha, chồng, con trai; họ luôn phải
giữ kẽ để ý trong mọi cung cách sinh hoạt, lời ăn tiếng nói, cách xử sự... Thế
nhưng, cũng chính họ luôn là người bứt phá, đạp bằng mọi thứ nghi thức nặng nề
của xã hội cho quyền lợï chính đáng của cá nhân. Sở dĩ như vậy là vì người phụ
nữ lúc ấy không có gì để mất, hay người phụ nữ lúc nào cũng dám hi sinh, dám
chịu mất hơn?
Chương 3
NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ HIỆN THỰC
3.1. Bức tranh làng quê được miêu tả chân thực, cụ thể mà sinh động.
Nói đến làng quê Việt Nam là người ta tưởng tượng ngay tới cảnh cây đa,
giếng nước, sân đình, những đồng lúa xanh tươi trải dài tít tắp, những dòng sông
cong mình ôm lấy những cánh đồng, làng mạc, bờ đê...; Người ta có thể tưởng
tượng ra khung cảnh những con người lúi cúi lao động trên đồng ruộng trông như
những chiếc nút áo sinh động trên chiếc áo xanh ngát một màu lúa non, khung
cảnh mỗi buổi chiều những chú bé trên lưng trâu nghễu nghện..; Cũng không thể
không nghĩ đến những rặng tre xanh cong cong nơi xóm ngõ, những mái ngói nâu
sậm, cũ màu thời gian ẩn hiện sau những rặng cây , những buổi hoàng hôn khói
lam chiều bay bảng lảng, tiếng mẹ gọi con, tiếng vợ gọi chồng, tiếng trẻ con khóc,
tiếng bát đũa leng keng hối hả bữa cơm chiều...; Cũng không thể không nghĩ đến
những người nông dân chất phác “sờ đầu gối nói chân thật”, sống bên nhau bằng
tình xóm giềng thân thiện tắt lửa tối đèn có nhau... Đấy là những điều quá đỗi
quen thuộc. Đấy là những điều mà người dân quê khi đi xa luôn nhớ về. Đấy là
những điều mà ta cũng thường thấy, thường được đọc trong các tác phẩm văn
chương.
Ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người
nhiều ma không nói hết, tả hết tất cả những cái quen thuộc ấy, nhưng dưới ngòi
bút hiện thực độc đáo và sinh động của ba tác giả Lê Lựu, Dương Hướng, Nguyễn
Khắc Trường, ba tác phẩm vẫn khắc hoạ được, làm toát lên được không khí chung
của nông thôn Việt Nam. Làng Hạ Vị (Thời xa vắng), làng Đông (Bến không
chồng), làng Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma), ba làng ở ba địa
phương khác nhau, lịch sử hình thành của từng làng khác nhau, phong thuỷ khác
nhau, tập quán khác nhau, nếp nghĩ, tình cảm của người dân cũng không giống
nhau..., nhưng ba làng quê ấy vẫn gặp gỡ nhau, vẫn có những nét rất chung trong
tình cảm, trong lao động, trong sinh hoạt của đời sống thường nhật.
Thật vậy. Đọc ba tác phẩm, độc giả không khỏi thú vị khi được tiếp xúc với
người nông thôn trong nhiều khía cạnh của cuộc sống xã hội.
Trước hết, không thể phủ nhận một điều là trong cái thế giới tinh thần
phong phú của những người nông dân thuần chất, ta tìm thấy được một tình cảm
rất sâu lắng, thiết tha dành cho ngôi làng thân yêu của họ. Ai sinh ra trên đời
chẳng có một nơi gọi là nơi “chôn nhau cắt rốn”. Thế nên không có bất cứ ai mà
không có một nơi nào, một miền đất nào đó gọi là cội nguồn, gọi là nơi để nhớ, để
trân trọng. Người nhà quê, với bản chất thật thà trong sáng thì cái thứ tình cảm ấy
càng mãnh liệt và thiết tha hơn. Hãy cứ đi vào từng cuốn tiểu thuyết kể trên để tìm
hiểu, ta sẽ thấy rất rõ điều ấy. Nếu không có những tình cảm thiết tha, mãnh liệt ấy
thì làm sao có hiện tượng mỗi ngôi làng là một kho những câu chuyện truyền
thuyết, những giai thoại; thậm chí, từng gò đất, từng đầm nước, từng ngọn núi,
từng dòng sông cũng chứa đựng bao điều huyền bí khiến con cháu từ đời này sang
đời khác thành kính giữ gìn như trong tiểu thuyết Bến không chồng và Mảnh đất
lắm người nhiều ma. Nếu không có những tình cảm tha thiết, mãnh liệt ấy thì
làm sao người ta có thể sống, có thể bám trụ được ở cái làng quanh năm bão lũ,
đói kém, chỉ biết cắp nón đi làm thuê như làng Hạ Vị trong Thời xa vắng. Và nếu
không có cái tình cảm sâu sắc ấy cùng với ý thức xây dựng làng tươi đẹp, phồn
thịnh thì ở làng quê, nơi đường xá chỉ in nhiều vết chân trâu bò, làm gì có thể có
một con đường không chỉ lát gạch mà còn lát gạch vồ Hưng Kí viên nào viên ấy
vuông bằn bặt như trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma. Dẫu rằng vẻ
đẹp của con đường ấy là sự gói ghém cả niềm tự hào lẫn tủi hổ, cả niềm vui lẫn
nỗi buồn, cả sự vinh danh lẫn điều xỉ nhục. Dẫu rằng việc xây dựng con đường
vừa là sự đóng góp nghĩa vụ, vừa có sự tự nguyện như sự đóng góp của ông Quản
Ngư... Nhưng nó vẫn thể hiện sự gắn bó của người dân, trách nhiệm, tình cảm của
người dân trước cộng đồng làng xã...
Những điều ấy là điều đáng quý. Đấy là động lực thúc đẩy làng phát triển
phồn thịnh hơn, tân tiến hơn. Và đấy cũng là nguyên nhân dẫn đến thói tự tôn, tôn
vinh làng mình mà không khuyến khích mở cửa xuất dương quan hệ với các làng
khác, không mở rộng tầm nhìn, học hỏi địa phương khác, làm trì trệ nền kinh tế,
tồn đọng những phương thức quản lý ấu trĩ, quan liêu. Hai mặt của một vấn đề
luôn đi song hành, nếu không dung hoà thì không thể tiến bộ, không thể phát triển.
Với cái nhìn sắc sảo và nhạy cảm, các tác giả đã phản ánh được những vấn đề
tưởng như là rất khó nói ấy.
Ba làng quê được phản ánh trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử xã
hội. Thời xa vắng và Bến không chồng chủ yếu là chân dung xã hội trong những
thập niên sáu mươi, bẩy mươi của thế kỉ hai mươi. Còn tiểu thuyết Mảnh đất lắm
người nhiều ma là một xã hội nông thôn trong thập niên 80 và những năm đầu
của thập niên chín mươi của thế kỉ này. Tuy nhiên, mang đặc điểm chung của bất
kỳ làng quê nào trên đất nước Việt Nam này, cả ba làng đều mang trên mình dấu
ấn của chiến tranh, cả trong không gian thực, cả trong không gian hồi tưởng.
Ở Bến không chồng, chiến tranh đã biến làng Đông vốn đông đúc, vui vẻ
trở thành một ngôi làng còn toàn đàn bà con gái, người già và trẻ em; chiến tranh
đã rót sự khổ đau nghiệt ngã xuống các gia đình như gia đình bà Khiên, gia đình
bà Nhân...; chiến tranh đã trút sự bất hạnh lên vai những con người hiền lành
lương thiện như chú Vạn, Thành, Nghĩa, Hạnh, Dâu, Thắm, Cúc... Không nhà nào,
không một ai trong làng không bị chiến tranh sờ mó đến. Đau thương. Mất mát.
Đầy nghịch cảnh...
Cũng là sự khốc liệt của chiến tranh, khi người ta phải từng ngày, từng giờ
đối diện với sự nguy hiểm, với cái chết, khi người ta buộc phải chấp nhận những
sự thật đau đớn nhất đó là người bạn vì muốn kiếm miếng rau cho mình mà phải
chết một cách thảm thương..., nhưng chiến tranh được nói đến trong Thời xa vắng
mang một sắc thái khác, hùng tráng và đáng tự hào. Lí do thật đơn giản, bởi vì tác
phẩm này không trực tiếp miêu tả những vấn đề của chiến tranh mà chỉ nói đến
một cách gián tiếp. Người làng Hạ Vị nói đến chiến tranh là để nhắc đến người
anh hùng, đứa con của quê hương, đứa cháu của ông Hà bí thư huyện uỷ, đứa em
của anh Tính cán bộ huyện – Giang Minh Sài. Chiến công một mình bắn rơi máy
bay Mĩ cùng những bài báo ca ngợi Sài đã làm rạng danh gia đình, rạng rỡ quê hương.
Còn chiến tranh được nhắc đến trong Mảnh đất lắm người nhiều ma lại là
qua những dòng hồi ức, những kỉ niệm của trung tá Chỉnh. Nhưng nó cũng kịp lưu
lại trong lòng độc giả những cảm giác chua xót dành cho cả những người đàng
hoàng như chị Sang lẫn những cô gái lẳng lơ như cô Lài...
Bên cạnh những trang loang lổ dấu tích đau thương, mất mất nhưng cũng rất
hào hùng của chiến tranh vẫn là những hình ảnh sinh động của cuộc sống thường
nhật. Đằng sau cổng làng là cuộc sống của những người nông dân đang từng ngày
tất bật với những công việc đồng áng, những sinh hoạt thường nhật và những bon
chen về quyền và lợi nảy sinh trong quá trình phát triển của làng xã. Đọc ba tác
phẩm, tất cả những gì gần gũi nhất của cuộc sống thường nhật đều được truyền tải
trong đó...
Từ những bữa cơm mà nhìn vào đó người đọc dễ dàng hình dung ra nếp
nghĩ, thói quen sinh hoạt, nền nếp gia phong của từng gia đình. Chẳng hạn như
những bữa cơm nhà khó đạm bạc, độn khoai độn sắn, những bữa chính trong ngày
mà người ta “ai cũng vội vàng, hối hả, chạy lên, chạy xuống hò hét con cái, tưởng
như là phải mổ trâu, mổ bò” [30, tr.113], nhưng thực chất chỉ có bát bột ngô ăn
với tương xì xụp, hối hả, đầy vất vả, vậy mà “nhà nào cũng sôi nổi đầy khí thế”,
cha mẹ, con cái quây quần xôm tụ, đầm ấm... Hay những bữa cơm nhà giàu có cá,
có thịt gà vàng ếnh..., những người đàn ông ngồi trên khề khà rung đùi ngồi ăn
uống, nói chuyện, còn vợ con tất bật với những lời gọi, lời sai khiến không ngừng
từ nhà trên như nhà lão Hàm (Mảnh đất lắm người nhiều ma). Cũng có những
bữa cơm sau ngày thu hoạch, người ta tạm quên đi nợ nần chồng chất cần phải trả,
tạm quên đi những toan tính, dè xẻn cho những ngày sau đễ tổ chức ăn tươi cho rũ
quên những ngày đói, vui vẻ tự thưởng cho thành tích lao động của mình, dù
thành tích ấy cũng chẳng đáng bao nhiêu như nhà lão Khừu (Mảnh đất lắm
người nhiều ma). Hoặc cũng có những bữa cơm chan chứa tình cảm yêu thương
máu mủ ruột già như bữa cơm bà Nhân (Bến không chồng) làm để cúng chồng
ngày con gái đi lấy chồng, cũng là để an ủi con về một đám cưới không được
người lớn hỏi han theo đúng nghi lễ truyền thống; bữa cơm của bà Khiên (Bến
không chồng) tiễn con trai lên đường nhập ngũ, một bữa cơm sáng nặng nề, nước
mắt nuốt ngược vào lòng vì xót con, vì phải dấu chồng...Những bữa cơm này
mang không khí khác nhau, đồng thời cũng thể hiện những mức sống khác nhau
của từng gia đình trong từng làng, dẫu vậy, tất cả vẫn đem đến cho người đọc
những cảm nhận chung nhất về cuộc sống nơi thôn dã, đó là cuộc sống bình dị,
nghĩa tình, ít toan tính và đâu đó vẫn nặng nề quan niệm phong kiến xưa cũ.
Rồi lại đến những hoạt động sản xuất của nhà nông. Cuộc sống ở nông thôn
gắn liền với công việc đồng áng, cày, bừa, cấy, hái. Đồng ruộng là phương tiện
sống, là cách sống chủ yếu của người nông dân. Ngay cả cái làng Hạ Vị (Thời xa
vắng) chỉ có thói quen cắp nón đi làm thuê, từ người già đến trẻ nhỏ, cả mùa hè
lẫn mùa đông, cứ sáng sáng là cả làng đổ lên mặt đê, chầu trực, trông chờ có
người thuê mình đi làm một việc gì đó để kiếm miếng ăn cho gia đình, cũng dần
dần đi vào nếp quen của cuộc sống cấy cày. Thế nên, cả ba tác phẩm dù ít, dù
nhiều cũng đề cập đến hoạt động lao động sản xuất ở các địa phương. Vì thế
người đọc mới được biết đến không khí lao động sản xuất của làng Hạ Vị (Thời
xa vắng) trong buổi đầu cải cách ruộng đất, buổi sáng rồi đến buổi chiều, nhà nào
cũng tất bật chia nhau người đi làm theo công điểm của hợp tác xã, người đi làm
đất phần trăm sôi nổi, rộn ràng như đi xem hội. Hay không khí lao động những
ngày mới bắt đầu khoán của làng Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma)
cũng vô cùng tất bật, hối hả nhưng vui vẻ, hứng khởi tràn trề bởi một vụ lúa bội
thu, đánh đuổi được thằng giặc đói. Không khí lao động ấy không chỉ làm tươi
sáng thêm từng đường làng, từng ngõ xóm mà còn làm sáng lên màu no đủ trên
những khuôn mặt lam lũ, nghèo đói quanh năm. Không những thế, vẻ đẹp của con
người trong lao động cũng được khắc họa, tôn vinh. Đấy là hình ảnh những cô
thôn nữ tròn trịa, rắn rỏi, nhanh nhẹn, thành thục, miệt mài trong những công việc
vất vả nặng nề của nhà nông. Người đọc không khỏi bị cuốn hút bởi hình ảnh lao
động của nhân vật Đào trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma: “Một
tay cầm lượm lúa để sát vào trục máy với những hàm răng khế bằng sắt sáng
loáng, một chân đặt lên bàn dận, ấn mạnh. Chiếc vòng trục rên lên cót két, rồi
quay tít. Những hàm răng sắt ngoạm vào lượm lúa, rút những hạt thóc ra khỏi
cọng rơm. Thóc bắn túa lên dày đặc, vàng sẫm bay rào rào mờ mịt quanh người
Đào. Chân Đào nhấn dập dềnh vào bàn càng nhanh, càng mạnh, vòng trục quay
càng tít mù, phát ra tiếng xình xịch dồn dập, khiến những hạt thóc bị bứt ra càng
nhanh. Không đầy một phút, lượm lúa vàng mẩy đã trơ trụi chỉ còn một bó rơm xơ
xác, tuốt sạch cả những hạt xanh, hạt lép” [52, tr.178]. Rõ ràng trong lao động,
dường như con người trở lên đẹp hơn, mạnh mẽ hơn, đáng yêu hơn rất nhiều. Thế
nhưng, cũng chính vì cuộc sống của nhà nông gắn liền với đồng ruộng, phụ thuộc
vào đồng ruộng như người sống cần cơm, như người lính cần súng... nên có nhiều
tiêu cực, nhiều xung đột xảy ra xung quanh chuyện lúa má, đất cát... Trong Mảnh
đất lắm người nhiều ma, những người phụ nữ như bà đồ Ngật phải nghĩ ra cách
gánh thóc đi gửi ở những nhà giàu, những nhà có chức có quyền, mượn miệng
lưỡi khéo léo che mắt lãnh đạo xã để trốn thuế; những người giàu có như nhà ông
Hàm thì đi mua lúa non của những nhà khó để kiếm lời, hình thức thì có vẻ ra ơn
làm phúc nhưng thực chất còn hơn là cho vay nặng lãi; những người có chức có
quyền như Thủ, Sửu... lại tìm cách thu được những phần thóc ngoài sổ sách để
làm quỹ lưu động chi cho các hoạt động tiếp khách, ăn uống của lãnh đạo xã; và
cũng không nơi nào chộn rộn như xóm Giếng Chùa, vì những mảnh đất hương
hoả, những mảnh ruộng “thượng đẳng điền” mà từ anh em ruột thịt đến vợ chồng
như vợ chồng nhà Tý Hỡi tranh chấp nhau, từ lão già sáu mươi như ông Hàm đến
những thằng choai choai như Ưởng, Hoạt, Hảo, Hán đều phải ra tay, đều phải đổ
máu, đến những người phụ nữ suốt ngày lui hui xó bếp như mẹ Hoạt, mẹ Ưởng
cũng trở nên nanh nọc, đanh đá khác thường. Bởi cuộc sống khó khăn, bởi kiếm
được đồng tiền bát gạo quá đỗi chật vật, lại thêm tâm lí khá nhỏ nhen nên người ta
tranh chấp để bảo vệ quyền lợi cho mình. Nhưng người nhà quê lại có đặc tính
sống rất nghĩa tình, quan tâm, gắn bó với nhau. Thế nên, việc “đánh nhau chia
thóc, mời nhau ăn cơm” là một thực tế không chỉ xảy ra ở riêng xóm Giếng Chùa
mà có thể nói, nó là nét chung thường gặp ở các làng quê Việt Nam. Các tác giả
đã nhìn ngắm, đã vẽ lại hiện thực đó trong tác phẩm theo cách riêng của mình.
Dưới cái nhìn của ba tác giả Lê Lựu, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường,
nông thôn Việt Nam đã được tái hiện bằng những nét vẽ độc đáo và đặc sắc. Thế
nhưng, bên cạnh việc thể hiện những nét chung mang tính đặc trưng của nông
thôn Việt Nam, mỗi ngôi làng lại để lại những ấn tượng khác nhau trong lòng
người đọc
Làng Đông (Bến không chồng), ngoài cái vẻ hẻo lánh, những sự tích về cây
đa, bến nước, bà tiên, ông bụt, những con ma...giống như bất cứ làng nào khác, thì
làng Đông còn có một nét rất riêng, đó là bầu không khí ngột ngạt bao trùm cuộc
sống trong làng, bao trùm mọi kiếp người trong làng. Không khí ngột ngạt ấy là
do những hủ tục ngặt nghèo chưa tháo gỡ được từ bên trong từng con người, từng
dòng họ, từ cái lối sống làng quê tắt lửa tối đèn, phép vua thua lệ làng..., lại thêm
những vấn đề nảy sinh trong chiến tranh, sau chiến tranh..., biến cuộc sống của
người dân làng này trở nên khó thở, niềm vui manh mún, nỗi buồn triền miên, con
người vật vã muốn thoát khỏi sự ràng buộc truyền kiếp ấy nhưng bất lực.
Cuộc sống của làng Hạ Vị (Thời xa vắng) được miêu tả cụ thể thông qua
cuộc sống, sinh hoạt, cách cư xử của những con người trong gia đình ông đồ
Khang. Đấy là một cuộc sống mang nặng tư tưởng gia trưởng. Nhân vật Giang
Minh Sài cả đời chỉ biết sống, biết làm theo ý người khác. Khi ở nhà thì làm theo
ý của cha, chú, anh trai. Khi vào bộ đội, thoát li được sự kềm toả của gia đình thì
Sài làm theo sự kì vọng, chỉ dẫn của cấp trên. Cuộc sống, lao động, học tập của
Sài luôn được bảo bọc trong tình thương yêu, sự lo lắng chăm sóc của những
người xung quanh và anh luôn cố làm cho những người xung quanh hài lòng về
mình. Vì thế, Sài không có cuộc sống của riêng mình, Sài như sống hộ, thậm chí
ngay cả hành động bản năng nhất của người đàn ông đó là ngủ với vợ, Sài cũng
miễn cưỡng thực hiện theo yêu cầu của người khác. Nói đúng ra, Sài đã sống
không ra sống.
Không còn quá nặng nề không khí chiến tranh, tiểu thuyết Mảnh đất lắm
người nhiều ma miêu tả cuộc sống làng Giếng Chùa trong thời kỳ mới: hoà bình,
đời sống kinh tế xã hội phát triển, nhưng xã hội bị phân hoá mạnh. Tại sao lại như
vậy? Vì đời sống trong hoà bình phức tạp hơn trong chiến tranh rất nhiều. Chiến
tranh ác liệt nhưng đơn giản. Trong chiến tranh, mọi quan hệ xã hội và con người
dồn lại và chỉ thu hẹp vào mối quan hệ duy nhất: sống-chết. Người ta phải sống
phi thường, tạm triệt tiêu đi những ham muốn, những nhu cầu bình thường của
cuộc sống con người. Nhưng khi đất nước hoà bình, con người phải đối mặt với
những cái bình thường, những nhiêu khê của cuộc sống... Lúc này, xã hội mới bộc
lộ trọn vẹn mặt trái, mặt phải của nó. Mảnh đất lắm người nhiều ma phản ánh
điều ấy. Chính vì thế, làng Giếng Chùa hiện ra là một ngôi làng suốt ngày chộn
rộn những chuyện tranh đấu, báo thù, những chuyện người, ma lẫn lộn. Không
gian được tái hiện hư hư, thực thực. Con người sống với nhau thật giả, phải trái
lẫn lộn. Người ta bị mơ hồ giữa ma và người, mơ hồ giữa phần người với phần
ma trong mỗi con người.
Khi đưa đến cho người đọc bức tranh chung quen thuộc của cuộc sống
thường nhật, các tác giả miêu tả những điều nhìn thấy. Bằng cảm nhận, các tác giả
lại đưa đến cho người đọc những tình cảm rất riêng cho mỗi ngôi làng. Có phải vì
được cảm nhận bằng chiều sâu rung cảm của các nhà văn, nên những ấn tượng
riêng về từng ngôi làng càng trở nên sâu sắc hơn trong lòng người đọc? Và bức
tranh nông thôn trong mỗi tác phẩm vì thế mà thêm sinh động, phức tạp, có chiều
sâu, thu hút người đọc, khiến cho người ta thích thú khám phá để rồi ưu tư, dằn
vặt...
3.2. Những người nông dân thuần chất được phát hiện dưới nhiều góc độ
tâm lí khác nhau làm nên sự đa dạng nhưng cũng đầy phức tạp của cuộc sống
sau luỹ tre làng.
Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Tình trạng xã hội chi phối
rất mạnh mẽ đến con người. Đất nước có chiến tranh, con người sống theo hoàn
cảnh thời chiến. Đất nước hoà bình, yên ổn, con người sống khác. Xã hội đơn
giản, bình dị, con người cũng đơn giản, chất phác. Xã hội sôi động, phức tạp, con
người cũng phức tạp. Theo từng bước chuyển mình của xã hội, tâm lí, tình cảm
của con người cũng dần biến đổi, dần thêm phức tạp.
Ba tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu, Bến không chồng của Dương
Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường phản ánh xã
hội nông thôn trong suốt một thời kì dài từ buổi chiến tranh đến lúc hoà bình, nên
để khám phá những chuyển biến tâm lí của người nông dân trong những bước
chuyển mình của xã hội có lẽ sẽ hứa hẹn nhiều điều thú vị.
Về cơ bản, hầu hết những con người được nói đến trong ba tiểu thuyết này
đều mang những đặc điểm thường gặp khi nói về người nông dân, đó là sự thật
thà, chất phác, sống tình cảm, yêu mến cuộc sống bình dị, thích sự yên ổn... Đọc
ba tiểu thuyết, ta vẫn tìm thấy những đặc điểm ấy trong số đông những con người
như chú Vạn, ông bà Khiên, bà Nhân, Nghĩa, Hạnh, Dâu, Thắm, Cúc, Thành...
(Bến không chồng); ông bà đồ Khang, Sài, chị Tính...(Thời xa vắng); bà Son, bà
Cả, bà Sang, bà Dần, cô Luyến, chú Chỉnh, Đào, Tùng...(Mảnh đất lắm người
nhiều ma). Họ thèm khát, yên tâm với một cuộc sống bình dị trong đó vợ chồng
cha con được đoàn tụ, sống đạm bạc nhưng vui vẻ bên nhau. Họ luôn cố gắng giữ
gìn nề nếp gia phong, truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ. Họ luôn biết
điều tiết bản thân mình trong mọi mối quan hệ để đảm bảo tình cảm, sự yên ấm,
tránh làm phiền lòng, làm ảnh hưởng tới người khác... Thật vậy. Và trong đời sống
thường ngày, những bản chất, tình cảm ấy qui định ở họ một số nét tâm lí thường
gặp.
Đầu tiên, có thể kể đó là tâm lí luôn quí trọng và đề cao gia đình mình. Có
lẽ, đối với bất cứ con người Việt Nam nào, gia đình cũng luôn là điều thiêng liêng,
quan trọng. Với các nhân vật này cũng vậy. Gia đình là lẽ sống của họ. Gia đình là
báu vật cần phải nâng niu giữ gìn. Gia đình là thứ mà họ có thể hi sinh tất cả, kể
cả bản thân mình để bảo vệ nó. Đó là tâm lí chung.
Đối với những con người chịu ảnh hưởng mạnh nền học vấn nho học thì nét
tâm lí này thể hiện cụ thể bằng việc luôn cố gắng giữ gìn nề nếp gia phong, chèo
chống gia đình sao cho trên dưới thuận hòa, vui vẻ, đầm ấm. Chẳng hạn như ông
Khiên (Bến không chồng), gánh trên vai trách nhiệm trưởng tộc, ông luôn điều
hành gia đình theo những nền nếp được coi là chuẩn mực cho xứng với danh tiếng
của dòng họ Nguyễn to nhất làng Đông mà từ trước đến nay luôn được dân làng
nể trọng. Có cậu con trai duy nhất là người thừa tự cơ nghiệp của ông cũng như
của dòng họ Nguyễn nhà ông, ông ra sức kèm cặp, dạy dỗ văn chương, nhạc,
hoạ... với sự kỳ vọng con trai sẽ làm cả nhà, cả dòng họ mở mày, mở mặt. Đến khi
con trai có nguy cơ sẽ phải đi bộ đội, dù hiểu rõ trách nhiệm của người dân đối với
sự an nguy của tổ quốc, dù không muốn cả gia đình vợ chồng, cha con đều mang
tiếng hèn nhát, nhưng ông vẫn phải đau khổ van xin cho Nghĩa được ở nhà, ông sợ
nhà ông, dòng họ ông mất người nối dõi, như vậy là có tội với tổ tiên, dòng họ...
Hay như ông đồ Khang (Mảnh đất lắm người nhiều ma), cả đời ông nỗ lực để
giữ gìn sự gia giáo của gia đình, trên dưới rõ ràng, cha ra cha, con ra con, chồng ra
chồng, vợ ra vợ. Ngay cả khi ông thật nể cậu con trai thứ hai vì nó làm lớn, vì nó
tiếp thu nền giáo dục mới nên nó quyết đoán, quyết định việc gì cũng lanh lẹ và
hợp lý hơn ông..., nhưng trong những vấn đề lớn, ông vẫn tỏ ra là người có quyền
to nhất, là người quyết định tất cả. Ví dụ như chuyện lấy vợ cho thằng con trai út ở
tuổi lên mười, dù cho em trai và con trai quyết liệt phản đối, ông vẫn bắt Sài lấy
Tuyết. Hay khi đánh đuổi Sài vì Sài dám đuổi vợ, dù thương con, xót con đứt ruột
nhưng sợ mang tiếng là “họ nhà tôm” với thông gia, với hàng xóm nên ông đành
bỏ mặc, không đi tìm..
Tư tưởng nho giáo ăn sâu bén rễ vào đời sống của những người nông dân
nên dù già hay trẻ, dù đàn ông hay đàn bà cũng mặc nhiên thừa nhận những đạo lí
mà nó vạch ra. Thế nên, bên cạnh những nền nếp được giữ gìn bền vững, cũng có
lắm vấn đề nảy sinh. Chẳng hạn như thói gia trưởng. Trong cả ba tiểu thuyết,
người đọc đều được chứng kiến cảnh mâm trên mâm dưới ở các gia đình, cảnh
những người chồng người cha ngồi ung dung, sai khiến vợ con. Song hành với
những cảnh ấy là hình ảnh những người phụ nữ như bà Khiên (Bến không
chồng), bà đồ Khang, chị Tính (Thời xa vắng), bà Son, bà Dần, chị Luyến
(Mảnh đất lắm người nhiều ma)..., những người phụ nữ này tính cách hiền dữ
khác nhau nhưng gặp nhau ở một điểm, đó là đức nhẫn nhịn hi sinh, một lòng cúc
cung tận tuỵ cho chồng cho con. Cuộc sống của họ diễn ra đúng như đạo đức nho
giáo truyền thống qui định “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.
Trong cuộc sống gia đình, họ chịu kiếp dây leo, phụ thuộc hoàn toàn vào người
đàn ông của họ, dù rằng họ cũng vẫn tự sống, tự lao động sản xuất với tư cách là
những lao động chính trong gia đình. Những bà Khiên, bà Khang, bà Son, chị
Tính, chị Luyến cả đời không dám cãi chồng một câu, chỉ nep nép nhìn thái độ
của chồng để cư xử cho khéo. Những bà Dần, chị Luyến nghe đồn chồng trăng
hoa vẫn giả lả nói cười, cắn răng chịu đựng mà không dám tỏ thái độ gì. Bà Son
không yêu chồng, nhưng đã về làm vợ ông, bà vẫn cố im lặng chấp nhận thói gia
trưởng, chấp nhận những tính toán bủn xỉn của ông Hàm với vợ con, chấp nhận sự
bạc đãi của chồng với gia đình mình, chấp nhận cả những đêm ân ái miễn cưỡng
không chút mùi vị tình yêu... Có thể thấy rằng không biết bắt đầu từ bao giờ và
đến bao giờ mới kết thúc, nhưng trong suy nghĩ của người phụ nữ Việt Nam nói
chung và đặc biệt là những người phụ nữ nông thôn nói riêng luôn có tâm lí cam
chịu, nhẫn nhục vì chồng vì con, họ không biết, hay nói đúng hơn là không dám
đòi hỏi quyền lợi gì cho bản thân mình. Người ta luôn ca ngợi những điều ấy ở
người phụ nữ. Nhưng chính điều ấy lại đem những thiệt thòi, bất hạnh đến cho họ.
Nhìn chung, trong những giai đoạn nhất định của lịch sử xã hội thì thói gia trưởng
của người đàn ông, sự nhẫn nhịn, cam chịu của người đàn bà chính là biểu hiện
cao nhất sự bền chặt của gia đình truyền thống.
Chính từ cái ý thức về gia đình như vậy nên trong con người ta ai cũng có
tính ích kỉ, thủ lợi cá nhân, chỉ lo chăm chăm bảo vệ gia đình người thân mà
không màng đến người khác, không màng đến lẽ phải, đến đạo đức ở đời. Trong
Mảnh đất lắm người nhiều ma, ông Hàm đã vì những cạnh tranh giữa dòng họ
nhà ông với dòng họ Vũ Đình mà táng tận lương tâm đi đào mộ người ta lên để trù
ếm cho gia đình đối thủ lụn bại, ba đời không ngóc đầu lên được.
Cô Đào, con gái ông Hàm, biết rõ cha mình sai nhưng vẫn nằng nặc bảo vệ,
vẫn sẵn sàng chanh chua với những kẻ buông lời rèm pha, vẫn ương bướng đòi
người chú có chức quyền cứu cha mình ra bằng được và kiên quyết từ mặt người
yêu, kẻ đã làm cha mình bị bắt. Cô cũng hùng hổ đòi sấn ra chửi nhau tay đôi với
hàng xóm khi bà Dần chửi mẹ cô vu vạ cho chồng bà tội quan hệ bất chính.
Cũng cần nói thêm một chút, khi ông Phúc ngoại tình thật, bà Dần không hề
chửi rủa, gây gổ gì với tình địch, chỉ chửi đổng một câu: “Rõ đồ quạ mổ! Không
nhịn được nữa hay sao mà đâm đầu đi theo người đã có vợ, cho nó chết!” [trang
97]; vậy mà khi chồng bị vu vạ cho tội quan hệ bất chính, quên cả sĩ diện, không
hề xấu hổ, bà ra giữa làng mà chửi. Chứng tỏ bà chửi không phải chỉ để thoả cái
ghen, cái tức của bản thân mà bà chửi còn để bảo vệ danh dự gia đình, bảo vệ
chồng bà.
Cái tâm lí đề cao quan hệ gia đình trong mọi trường hợp rất phổ biến nên
khi em gái làm thủ kho mắc tội ăn cắp thì Nẫm, nguyên phó chủ tịch xã kiêm
trưởng ban công an đã dám tuyên bố một câu xanh rờn: “dù mất chức, mất quyền,
mất đảng, chứ tôi không cho ai động đến người nhà của tôi” [52, tr.134]. Bởi vậy
ở làng ấy người ta luôn tự hiểu với nhau một điều là: “Dân gốc vùng này hễ động
đến họ hàng ruột thịt của họ, là họ dễ nổi điên lên lắm” [52, tr.134]. Hiện tượng
này diễn ra nhiều ở các làng quê. Chính cái tâm lí bảo thủ ấy khiến cho cuộc sống
nơi thôn dã diễn ra vừa rất tình cảm, thân thiện, vừa vô phép tắc, có khi cay nghiệt
đến mức vô đạo đức.
Cũng xuất phát từ tính tự tôn gia đình, dòng họ. Người dân quê luôn muốn
gia đình mình được xóm làng nể trọng, hoặc ít nhất là không bị khinh thường. Và
họ tìm cách để gia đình mình được nể trọng ở các khía cạnh khác nhau của cuộc
sống. Có gia đình tự tôn vinh mình ở góc độ tinh thần, tức là làm cho dân làng
ngưỡng mộ truyền thống, nề nếp gia đình, nuôi dạy con cái ngoan ngoãn, thành
đạt..., ví dụ như nhà ông Khiên, nhà ông đồ Khang. Có gia đình lại trang sức cho
mình bằng sự khá giả, sang trọng với sa-lông, sập gụ, tủ chè, với những bữa cơm
cầu kì mang vẻ chuyên nghiệp... như nhà ông Hàm, nhà anh Tính. Với quan niệm
“hơn nhau tấm áo manh quần, đến khi ở trần ai cũng như ai” nên không chỉ có
những nhà tương đối có tiền có của như nhà ông Hàm, anh Tính thích phô trương
mà những gia đình dân chay, chạy ăn từng bữa cũng lo sắm sanh đồ đạc, bởi “đói
mà được ngồi sa-lông gỗ lát cũng vênh vang” và như thế mới “mở mày mở mặt
với xóm làng”.
Cuộc sống của người nông dân thuần tuý vốn dĩ gắn bó với con trâu, cái
cày, cái cuốc, với đồng ruộng...Mỗi ngày của họ trôi qua bình dị giản đơn, việc
nhà ai nhà ấy làm, cơm nhà ai nhà ấy ăn, thỉnh thoảng có việc gì lớn hàng xóm
xúm lại đỡ đần nhau chút ít, không bon chen, không vụ lợi... Thế nhưng, từ khi
nông thôn mở rộng sản xuất theo mô hình những hợp tác xã nông nghiệp mở rộng
với qui mô sản xuất lớn hơn thì xã hội nông thôn có nhiều biến đổi, phân hoá rõ
rệt, điều này chi phối rất lớn đến tâm lí, tình cảm của người nông dân. Từ không
bon chen, không màng thế sự, họ trở nên tham vọng hơn. Từ lối sống chất phác,
đơn giản, họ nảy sinh mánh khoé, sự ti tiện. Những tố chất dân dã dần dần phai
nhạt, nhất là trong những con người có trong tay chút quyền hành, địa vị. Trong sự
đổi thay của xã hội, cái xóm Giếng Chùa cũng ngỡ ngàng trước những đổi thay
của con người. Trước hết là ở những con người nông dân thấp cổ bé họng, chân
lấm tay bùn, những con người chất phác, thật thà như đếm ấy đứng trước cuộc
sống khó khăn, thóc cao gạo kém đã trở nên mánh khoé, mưu mô. Họ biết trữ lại
thóc, không trả nợ cho hợp tác xã trong ngày mùa để giữ lại miếng ăn. Họ biết
dùng những câu chuyện tếu để đánh lạc hướng chú ý của nhà cầm quyền, biết nghĩ
ra cách gửi thóc vào những nhà giàu có, những nhà có chức có quyền không bao
giờ thiếu miếng ăn để che mắt những nhà quản lí nông thôn. Họ đã thay đổi để
thích nghi với cuộc sống vốn đang thay đổi, không dễ dàng, thực dụng, thủ lợi cá
nhân...Trong làng Giếng Chùa cũng đã xuất hiện những con người đam mê quyền
lực, sẵn sàng đạp lên đầu lên cổ người khác, quên đi danh dự bản thân, làm mọi
chuyện thượng vàng hạ cám để “giành một cái ghế ngồi không to hơn cái vẩy ốc,
chen một chỗ đứng không cao hơn cái đế dép thường ngày” [52, tr.87]. Đấy là
những con người như Vũ Đình Phúc, suốt ngày lo thảo đơn từ kiện tụng nhằm hạ
địch thủ. Đấy là những con người như Trịnh Bá Thủ suốt ngày lo tính toán, mưu
mô để giữ ghế bí thư, để củng cố quyền lực và để khống chế, loại bỏ đối thủ của
mình. Thủ không từ một thủ đoạn nào, kể cả những thủ đoạn bỉ ổi nhất để đạt
được mục đích. Hay những người như Trần Văn Sửu, chấp nhận là cái bóng, là tay
sai, là con chó phản chủ cũng chỉ vì muốn giữ cho mình một vị trí và nuôi tham
vọng có một vị trí cao hơn.
Xuôi theo tiến trình phát triển xã hội, con người thích nghi và tiến tới làm
chủ hoàn cảnh, làm chủ xã hội. Chính vì thế mà tư tưởng, tình cảm, tâm lí của con
người cũng dần thay đổi để thích ứng với cuộc sống. Dĩ nhiên, đổi mới chưa hẳn
đồng nghĩa với hoàn toàn tốt, nhất là sự đổi mới ấy mới đang đi những bước đầu
chập chững, dò dẫm. Bên cạnh cái không khí mới, nhịp sống mới, cung cách quản
lí và sản xuất mới... khiến con người hoạt bát, khả năng thích ứng cao hơn, chính
nó cũng khiến con người trở nên chai sạn hơn, lạnh lùng hơn, hám lợi và hãnh tiến
hơn. Nhưng mâu thuẫn là cơ sở của sự phát triển. Những sự phức tạp nảy sinh
trong tâm lí người nông dân chính là sự phản ánh những chuyển biến, những phức
tạp trong các quan hệ xã hội Việt Nam thời đổi mới, trong đó những cái xấu, cái
lạc hậu, những cái làm cho xã hội trì trệ, những con người, những quan điểm
không còn phù hợp với sự phát triển của xã hội sẽ dần bị tẩy chay, loại bỏ. Chính
vì thế, xã hội hứa hẹn một thực trạng mới tươi sáng hơn, phát triển hơn. Phải
chăng đấy chính là những điều các tác giả Lê Lựu, Dương Hướng, Nguyễn Khắc
Trường muốn phản ánh.
3.3. Nghệ thuật miêu tả hiện thực khách quan, không né tránh, phản ánh
được bản chất xã hội nông thôn đương thời.
Bức tranh nông thôn được miêu tả chân thực và sinh động tạo nên sự lôi
cuốn kỳ lạ cho ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm
người nhiều ma. Nhưng nếu bức tranh ấy chỉ được thể hiện bằng toàn những gam
màu sáng, sặc sỡ, toàn những hình khối hoàn hảo, trơn láng... thì có lẽ nó đã
không hấp dẫn đến vậy. Mà trong những bức tranh này, đôi khi những màu tối,
những hình khối méo mó lại là những điểm nhấn đầy thu hút cho bức tranh nghệ
thuật về cuộc sống ấy.
Trong ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm
người nhiều ma, cuộc sống nơi thôn dã được các tác giả miêu tả tỉ mỉ, chi tiết đến
độ dù không sống trong những ngôi làng ấy, nhưng nếu được đưa đến đấy, ta sẽ có
thể đi từ đầu làng đến cuối xóm mà không sợ bị lạc. Ta có thể tìm ra đình làng
Đông, tìm ra cây cầu Đá Bạc, tìm đến và gõ cửa nhà bà Khiên, bà Nhân, nhà chú
Vạn...trong Bến không chồng. Ta có thể tìm ra ngõ nhà cụ đồ Khang trong Thời
xa vắng. Ta cũng có thể đến chiêm ngưỡng sự phong lưu của nhà ông Hàm, nhà
ông Thủ, nhà ông Phúc trong Mảnh đất lắm người nhiều ma mà không cần phải
hỏi thăm đường. Nói như thế để thấy rằng qua ngòi bút của các tác giả Dương
Hướng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, những ngôi làng Đông, làng Hạ Vị, làng
Giếng Chùa bỗng quá đỗi thân quen, gần gũi với độc giả. Đấy là cái tài của các tác
giả. Nhưng đấy chưa phải là tất cả. Những tác phẩm ấy còn thu hút người đọc ở
ngòi bút miêu tả hiện thực khách quan, không nể nang, né tránh.
Cả ba tác phẩm đều phản ánh xã hội trong những giai đoạn nhạy cảm, đấy là
thời kì cải cách ruộng đất, thời kì bước đầu xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa
đầy bỡ ngỡ, lúng túng của đất nước. Phản ánh thời kì này, cả ba tác giả đều mạnh
dạn phản ánh sự thật, những sai lầm trong quản lí kinh tế, quản lí xã hội của ba
làng quê cũng như của tất cả các làng quê khác ở Việt Nam trong thời kì bấy giờ.
Suốt một thời kì, phong trào đấu tố địa chủ, cường hào ác bá, tay sai đế
quốc được phổ biến, tiến hành rầm rộ ở các địa phương. Khi chính sách này về
đến các địa phương, có thể hiểu nôm na rằng xã hội này là của những người
nghèo, nghèo kiết xác, của những người không biết chữ, của các “ông bà nông
dân”. Những người giàu có là những đối tương cần triệt tiêu, cần loại bỏ triệt để
trong xã hội. Những người có một chút miếng ăn, của cải cũng có nguy cơ bị các
“ông bà nông dân” đấu tố. Và có rất nhiều hành động bình thường bỗng trở nên
bất thường, trở thành hành động chỉ điểm tay sai. Có nhiều tiểu thuyết đã phản
ánh những hiện hiện thực hết sức u ám, đó là có những nơi người ta tiến hành đấu
tố theo chỉ tiêu, mỗi địa phương phải bảo đảm đấu tố được bao nhiêu phần trăm
địa chủ, bao nhiêu phần trăm cường hào ác bá, bao nhiêu phần trăm phản động
tay sai bán nước hại dân như các tiểu thuyết: Người đàn bà buồn của Phan Hách,
Ở đất kẻ thù của Lê Lan Anh, ... Có thể thấy, việc thi hành chính sách cải cách
như một lưỡi dao hành hình kéo lê đi khắp các làng quê, khắp các hang cùng ngõ
hẻm gây hiểm họa, chết chóc đến cho bất cứ ai vô tình hay cố tình chạm phải nó.
Hai tiểu thuyết Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma đều nói
đến, phản ánh cái buổi tối tăm nghiệt ngã ấy của đất nước. Dĩ nhiên mức độ có
khác nhau. Nhưng trong đó, người đọc được chứng kiến tương đối đầy đủ những
ngang trái, oan trái của giai đoạn này. Đấy là những cảnh hàng xóm tố cáo nhau,
vu vạ cho nhau như việc cả làng Đông tố địa chủ Hào (Bến không chồng), cả
làng Giếng Chùa tố gia đình Vũ Đình Đại (Mảnh đất lắm người nhiều ma). Đấy
là cảnh con cái xỉa xói tố cha mẹ mình là địa chủ để thể hiện mình tiến bộ, thức
thời, thoát ly giai cấp phi vô sản như việc vợ chồng Vũ Đình Phúc tố cáo cha ruột
của mình (Mảnh đất lắm người nhiều ma). Và cũng có cảnh những con người bị
hành hình một cách oan ức, thương tâm như Xèng, Xình, Hinh vì bị nghi là việt
gian phản động. Cũng có những cảnh cười ra nước mắt khi có những con người
được bổ nhiệm vào địa vị cao nhất của địa phương nhưng hành trang duy nhất chỉ
là cái sự nghèo hơn người, cái sự thất học đến một chữ bẻ đôi cũng không biết như
trường hợp chủ tịch Đột... Tất cả những điều đó là hiện thực của những trang sử
đen tối nhất của nước nhà mà nhiều năm sau người ta còn nhắc tới, còn phải rùng
mình.
Qua cái thời đen tối ấy, rồi qua nhiều năm nữa, đến những năm đầu của thời
kì đổi mới, xã hội Việt Nam bước sang một trang khác, bớt u ám hơn, sôi động,
nhạy cảm và vì thế phức tạp hơn nhiều. Lúc này, trong xã hội những tàn tích
phong kiến nặng nề trộn lẫn một cách kì quặc với những hậu quả của những cơ
chế phi tự nhiên áp đặt nhiều năm, lẫn những áp lực mới của một nền kinh tế thị
trường què quặt đang đến, tạo nên một sự hỗn loạn lạ lùng và tệ hại trong tất cả
các quan hệ xã hội. Xã hội phân hoá. Nội bộ tầng lớp lãnh đạo phân hoá nặng nề,
cụ thể đó là hiện tượng phân chia bè phái trong lãng đạo chính quyền. Trong tiểu
thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, bằng những hiểu biết sâu sắc, tuyệt vời về
thực trạng nông thôn vùng châu thổ sông Hồng lâu đời, tác giả Nguyễn Khắc
Trường đã phản ánh sinh động tất cả những vấn đề đó.
Nhìn vào cơ cấu chính quyền xã Giếng Chùa, dễ dàng nhận thấy tư tưởng
thống trị ở đây là tư tưởng cục bộ địa phương và phân chia bè phái.
Trong cơ cấu lãnh đạo xã, có hai người được lọt vào danh sách lãnh đạo như
một điều đặc biệt. Nhân vật thứ nhất là Trần Văn Sửu. Sở dĩ nói cái sự thăng tiến
của Sửu là một điều đặc biệt là vì Sửu xuất thân là người xóm Trại. Mà trong suy
nghĩ của người làng Giếng Chùa thì “xóm trại vẫn là xóm của dân ngụ cư, dù thế
nào cũng không thể là cái xương sống của xã” [52, tr.121] và “đất có thổ công
sông có hà bá, thành hoàng vùng này chưa đến nỗi mạt vận phải chuyển bài vị
sang dân ngụ cư xóm trại” [52, tr.122]. Với cái tư tưởng cục bộ địa phương thống
trị không biết từ khi nào, ở địa phương, không ai là dân nhập cư mà có thể ngự
trên ghế cao của làng lâu. Thậm chí, có người xóm Trại đã leo lên đến chức bí thư
đảng uỷ xã mà cũng bị quần chúng dân gốc làng Giếng Chùa cho rớt phiếu xuống
làm thường dân, lại còn bị một phen sính quýnh vì những rắc rối trong chuyện
giấy tờ, lí lịch, chỉ vì cái tội đã lỡ trừng phạt con em làng Giếng Chùa đào ngũ.
Bởi cái “tiền sử” như vậy nên những người dân xóm Trại luôn kiêng dè dân gốc ở
đây. Và khi tham gia chuyện chính quyền, bao giờ những người nhập cư ấy cũng
khiêm nhường nhận chức phó chứ không bao giờ dám tranh chiếu trên ở địa
phương, dù cho số phiếu có cao tới đâu. Nhân vật thứ hai là bí thư chi bộ Xuân
Tươi. Xuân Tươi cũng không phải là dân gốc của vùng này. Theo tiêu chuẩn lựa
chọn lãnh đạo của dân vùng này thì cả hai nhân vật trên đều không đủ tiêu chuẩn.
Nhưng họ đã trúng cử với số phiếu cao và được xếp vào những vị trí quan trọng.
Sở dĩ như vậy là vì những người có uy quyền nhất trong xã đã ra mặt vận động
cho họ trúng cử. Hay nói cách khác lúc bấy giờ ở xã chỉ có hai phe cánh lớn đó là
phe của dòng họ Trịnh Bá, đứng đầu là Trịnh Bá Thủ và phe của dòng họ Vũ
Đình, đứng đầu là Vũ Đình Phúc đang tranh giành địa vị, cả hai phe đều đang cần
người để chi phối số phiếu của đối phương trong các kì đại hội. Thế nên, dù vẫn
còn tồn tại tư tưởng phân biệt địa phương nhưng những người nắm giữ quyền
hành kia vẫn bỏ phiếu và vận động mọi người bỏ phiếu cho người nhập cư vì họ
nghĩ “thà thế còn hơn là để rơi vào tay người đối chọi với mình. Rồi sẽ lôi kéo hắn
dần dần” [52, tr.229] và cũng là để chứng tỏ với mọi người mình không phải là
người “hẹp hòi bè phái”...
Thế nhưng có thể thấy không ở đâu mà chính quyền, đảng bộ địa phương
hỗn loạn, chia năm xẻ bẩy hơn Giếng Chùa. Chỉ một chi bộ nhỏ với số lượng đảng
viên khiêm tốn (bởi người ta không thích giới thiệu thêm đảng viên mới), nhưng
đã tồn tại đến ba phe. Một phe của những người thuộc dòng họ Trịnh Bá gồm các
nhân vật như Thủ, Cao, Vi, Vu... Một phe của những người thuộc dòng họ Vũ
Đình gồm các nhân vật như Phúc, Địch, Tính... Phe còn lại là những người trung
lập như Sửu, Xuân Tươi, Hiển Vinh, Tùng, Chỉnh... Nhưng ngay trong số những
người thuộc phe trung lập cũng tồn tại hai nhóm người khác nhau. Những người
như Xuân Tươi, Hiển, Vinh, Tùng, Chỉnh là những người hoàn toàn trung lập,
không bị lôi kéo bởi bất kì phe nhóm nào, dĩ nhiên mỗi người mang một lí do khác
nhau. Còn chủ tịch Trần Văn Sửu thì trung lập kiểu cơ hội, kiểu láu cá của những
người nhập cư luôn bị khinh thường, bị chèn ép, may mắn được đắc cử nên gió
chiều nào theo chiều ấy, nhũn nhặn chờ thời, lúc thuận lợi là sẵn sàng đạp lên đầu
lên cổ người khác mà tiến, kể cả những người hàng ngày Sửu vẫn tỏ ra cung kính,
trung thành. Thử tưởng tượng một cái xã mà từ đầu xã đến cuối xã chỉ có khoảng
năm cây số mà bị chi phối bởi một cơ cấu chính quyền be bét như vậy thì nó sẽ
tồn tại như thế nào? Để củng cố quyền lực cho mình, các phe không ngừng tìm
cách triệt hạ nhau. Họ không từ bỏ một thủ đoạn nào từ bịa đặt, vu khống, doạ nạt
đến đào mồ cuốc mả, hãm hại, trù dập, kể cả đẩy người thân vào chỗ chết...
Những con người ngay thẳng, chính trực như Tùng, như trung tá Chỉnh thấy hết
những tiêu cực trong chính quyền xã, cũng trăn trở trước những thực tế diễn ra
trước mắt, nhưng họ là số ít và họ cũng chưa đủ thế và lực để làm được một điều
gì đó. Và bởi thế, hằng ngày những con người nơi đây sống với nhau, cư xử vói
nhau lá mặt lá trái, thật giả khôn lường. Họ có thể vừa tỏ vẻ gần gũi thân thiện vừa
thì thụt, xúi bẩy, kích động, ném đá giấu tay làm hại người khác. Họ cũng có thể
bả lả nói cười, chén chú chén anh trong những bữa tiệc “đồng chí” nhưng trong
bụng lại rủa nhau sau bữa rượu ấy sẽ sa chân lỡ bước chết dấp đi cho rảnh...
Bằng những ngòi bút hiện thực sắc sảo, không né tránh, không khoan
nhượng, các tác giả Lê Lựu, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường đã đưa đến cho
người đọc những hình dung, những cảm nhận rõ nét nhất về những bước thăng
trầm trong quá trình phát triển của nông thôn Việt Nam. Đấy là những sai lầm
đáng tiếc trong thời kì cải cách ruộng đất, quá trình hợp tác hoá nông nghiệp của
những năm 50, 60 của thế kỉ XX. Đấy là những thất bại không thể cứu vãn của mô
hình hợp tác xã sản xuất theo lối quan liêu bao cấp của những năm 70, 80 của thế
kỉ này. Thời kì đầu hợp tác xã còn làm tròn nhiệm vụ lịch sử của nó. Nhưng chúng
ta đã thất bại khi xây dựng những mô hình hợp tác xã mở rộng với qui mô lớn
trong khi trình độ văn hoá, tổ chức, quản lí của cán bộ vẫn còn trì trệ, lạc hậu, sản
phẩm mồ hôi nước mắt của người lao động thực chất trở thành một thứ vô chủ mà
những phần tử quan liêu, bè phái theo kiểu dòng họ tha hồ đục khoét, tham ô...
Tình trạng xã hội này còn được phơi bày trong nhiều tiểu thuyết khác, mà Thủy
hoả đạo tặc của tác giả Hoàng Minh Tường cũng có thể được kể đến như là một
ví dụ tiêu biểu. Những vấn đề kể trên vừa có thể gọi là những hạn chế nhưng nó
cũng là những tất yếu lịch sử khi mà quan hệ sản xuất phát triển không phù hợp
với trình độ của lực lượng sản xuất. Cái đáng quý là chúng ta biết thẳng thắn nhìn
nhận và chấp nhận sự thật để khắc phục. Cả ba tác phẩm chỉ mới dừng lại ở việc
phản ánh, chưa hướng tới một giải pháp cụ thể, hữu hiệu cho sự đổi mới phương
thức quản lí và sử dụng con người, đổi mới phương thức sản xuất và quản lí kinh
tế ở nông thôn. Dẫu vậy, các tác giả đã tỏ rõ sự quan tâm sâu sắc đến các vấn đề
của nông thôn, dám nghĩ và dám nói những điều mình trăn trở trong tác phẩm.
Đấy là sự thẳng thắn, nghiêm túc khi nhìn nhận những vấn đề xã hội. Còn
một vấn đề khác cũng vô cùng thu hút sự quan tâm của các tác giả, đó là vấn đề
con người, vấn đề số phận con người. Trong lịch sử loài người, con người chính là
thước đo sự phát triển của xã hội. Xã hội nào mà trong đấy con người được hưởng
tự do, được sống yên vui, no đủ, hạnh phúc, được tự bộc lộ mình, đấy là một xã
hội phát triển. Còn trong một xã hội mà con người không có được những quyền
tối thiểu của con người, không quan tâm đến vấn đề con người thì đấy chẳng qua
cũng chỉ là một xã hội sơ khai, điêu tàn và ấu trĩ.
Ấy thế mà trong suốt một khoảng thời gian tương đối dài của sự phát triển
đất nước, vấn đề con người, con người cá nhân tạm thời bị nhạt nhoà, ít được quan
tâm, hay nói đúng ra là nó bị tạm lãng quên. Ta có thể cảm nhận rõ điều ấy hai
tiểu thuyết Thời xa vắng và Bến không chồng.
Ở tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu, cuộc sống của nhân vật Giang
Minh Sài đã thể hiện điều đó. Cả cuộc đời Sài sống một cuộc sống như là sống
nhờ, sống hộ, bị che lấp. Chưa bao giờ Sài tự sống cho mình, theo ý mình, tự
quyết định được điều gì cho bản thân. Trong mối quan hệ nhỏ ở gia đình, Sài sống
trong cái bóng của cha, của chú, của anh trai. Sài lấy vợ theo ý cha. Sài không
được bỏ vợ dù trong lòng ghét cay ghét đắng là vì sợ chú, sợ anh. Sài đi nhập ngũ
như lẩn trốn tất cả, lẩn trốn dư luận, lẩn trốn Hương, lẩn trốn tình yêu đầu đời
trong sáng của mình là do quyết định của một hội đồng những người lớn trong gia
đình luôn yêu thương, chăm sóc và lo lắng cho Sài. Còn trong mối quan hệ lớn với
xã hội, Sài cũng lại luôn bị cái tập thể vô danh tính che lấp. Khi còn là một cậu
thiếu niên, được bầu làm liên đội trưởng của xóm, Sài đã có ý thức sợ tai tiếng, sợ
dư luận. Ghét vợ, không ngủ chung, không nhìn mặt vợ, thậm chí bát tương nào
vợ đã chấm là Sài nhất định không chấm chung, nhưng ra ngoài vẫn phải đi cùng
nhau, phải tỏ ra đoàn kết, phải tỏ ra yêu vợ cho mọi người thấy. Khi đi bộ đội,
sống trong quân ngũ, thoát khỏi cái bóng của gia đình, Sài lại lặng lẽ sống, lao
động và học tập theo những nguyên tắc, những kỉ luật của quân đội. Từ sau vụ
cuốn nhật kí viết lại những tâm sự dành cho Hương, Sài càng co mình lại như một
cái bóng vô cảm, không buồn, không vui, không giãi bày tâm sự, chỉ biết chăm chỉ
làm việc cho khỏi mang cái án “tư tưởng có vấn đề”. Lãnh đạo của Sài: chính uỷ
Đỗ Mạnh, anh Hiền, anh Hiển... là những người sống chuẩn mực và nguyên tắc.
Họ luôn muốn lính tráng dưới quyền cũng là những người sống đúng chuẩn mực,
đúng nguyên tắc, sạch sẽ, không tì vết... Đối với riêng Sài, họ yêu quý và chăm
sóc Sài với tình cảm không chỉ là của những người chỉ huy có trách nhiệm mà còn
là tình cảm của những người thân kì vọng vào đứa con, đứa em chăm chỉ, giỏi
giang của mình. Đấy là niềm tự hào, niềm vinh dự. Nhưng chính nó đồng thời
cũng là áp lực đối với Sài. Sài phải luôn cố gắng phấn đấu trong lao động, học tập,
đó là việc tốt. Sài còn luôn phải che giấu đi những tình cảm, những cảm xúc thật
của con người mình để cấp trên yên lòng, đấy là điều đáng xót xa. Hương đến đơn
vị tìm Sài, anh Hiển giấu, Sài nuối tiếc đến tê tái lòng nhưng im lặng chịu đựng.
Muốn viết thư cho Hương, cấp trên bảo đừng, Sài lại thôi trong đau khổ. Cấp trên
bảo ngủ chung với vợ, Sài ngủ chung. Cấp trên bảo phải yêu vợ, Sài yêu, yêu một
lần duy nhất trong đời. Nhìn chung, tình thương, uy lực, tính quyết đoán khi lo
lắng cho cuộc đời Sài của cha, của chú, của anh, biến Sài thành một con người
giống như một rôbốt biết thở, biết nói, biết làm việc. Đến tận tuổi trung niên, khi
đã qua nhiều năm rèn luyện ngoài chiến trường với những chiến tích anh hùng nổi
tiếng, trở lại thời bình, Sài mới được một lần tự quyết định cuộc sống cho mình,
đó là quyết định cưới Châu, một cô gài Hà thành. Thế nhưng, như là không quen,
lần đầu tiên, lần duy nhất Sài tự quyết định cuộc đời mình cũng lại là sai lầm, để
rồi hôn nhân tan vỡ, Sài phải về sống một mình thui thủi, tìm kiếm sự thanh thản ở
quê hương. Cuộc đời của Sài là một bi kịch kéo dài. Sở dĩ như vậy là do Sài sống
nhưng không dám sống đúng nghĩa, không dám bộc lộ bản thân. Dõi theo cuộc
sống của nhân vật, ta thấy con người cá nhân, khát vọng của cá nhân bị chôn vùi,
đấy là một cuộc sống nhạt nhoà, không hương không sắc.
Bến không chồng của Dương Hướng cũng là một tiếng kêu thét đầy mạnh
mẽ, thống thiết về số phận cá nhân bị vùi lấp, trong đó hình tượng nhân vật
Nguyễn Vạn là tiêu biểu. Nguyễn Vạn là một con người quá tốt, suốt đời lo cho
hạnh phúc của những người xung quanh, lo cho sự yên bình của làng Đông, nhưng
đến một chút hạnh phúc của riêng mình thì không bao giờ dám. Một chút hạnh
phúc riêng tư của bản thân, với Nguyễn Vạn cũng là tội lỗi, thậm chí là tội ác.
Được lướt vội bàn tay trên thân thể chị Nhân, người đàn bà mà Vạn yêu thương
hơn bản thân mình, Vạn cho đấy là tội lỗi. Trót “sờ tí” mụ Hơn, người đàn bà lẳng
lơ, đĩ thõa luôn mời kéo Vạn, Vạn cho đấy là tội lỗi. Và sau một lần dám sống thật
với đòi hỏi bản năng trong cơn say với Hạnh, Vạn nghĩ mình phạm tội ác không
thể tha thứ... Vạn luôn quên mình vì danh dự, vì uy tín, vì trách nhiệm. Những thứ
đó đem lại chút vinh quang cho cuộc đời Nguyễn Vạn. Nhưng cũng chính những
thứ đó đã làm cho cuộc đời của Vạn trở nên khổ hạnh, cuối cùng giết chết Vạn.
Những bi kịch xảy ra với các nhân vật Giang Minh Sài, Nguyễn Vạn không
chỉ là bi kịch của mỗi cá nhân, một số cá nhân mà là bi kịch của số đông những
con người trong một thời kì nhạy cảm của đất nước. Đấy là thời kì mà cả đất
nước, cả dân tộc đang hướng đến những vấn đề lớn lao như: chiến tranh, xây dựng
chủ nghĩa xã hội, lí tưởng cách mạng... Phần đông các cá nhân đều quên mình
hăng say thực hiện lí tưởng cách mạng. Đấy là những tình cảm, là phần nhiệt
huyết quan trọng và đáng quý. Nhưng khi người ta quá theo đuổi lí tưởng sẽ có
nguy cơ dẫn đến sai lầm, sẽ triệt tiêu con người cá nhân, biến các cá nhân thành
những người máy giống nhau, không có nét riêng cá tính và tâm hồn, như thực tế
đã được nói đến trong hai tác phẩm kể trên, điều này thật trái với mục tiêu xây
dựng đất nước lấy con người, những vấ đề liên quan đến con người làm trọng tâm
của đất nước ta. Nhìn chung, vấn đề vai trò của cá nhân, vị trí và quyền của từng
con người như một cá nhân có thể bừng nở tự do và toàn diện là một vấn đề lớn
của xã hội Việt Nam không chỉ thời bấy giờ mà cả ngày nay. Các tiểu thuyết Thời
xa vắng của Lê Lựu, Bến không chồng của Dương Hướng có phản ánh nhưng
thực chất chỉ chớm chạm đến vết thương xã hội đó, tất cả vẫn còn lẻ tẻ, mờ nhạt
chưa có sức khái quát cao.
Bằng lối viết theo một kiểu phóng sự kéo dài, dựa ngay vào những sự việc
xã hội có thật, những vấn đề đang được cả xã hội quan tâm trong từng giai đoạn,
các tác giả Lê Lựu, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường đã phản ánh, phơi bày
tất cả những nội dung xã hội ấy trong các tác phẩm của họ. Và trong đó, một cách
thận trọng, rắn rỏi và đầy trách nhiệm, các tác giả đã bày tỏ chính kiến của mình
trước thời cuộc. Dĩ nhiên, bên cạnh việc phơi bày, kể lể, tố cáo hiện thực thì các tác giả vẫn ngấm
ngầm gửi vào trong những khát vọng, niềm tin vào một xã hội tiến bộ, đổi mới thực sự. Bởi vậy, bên
cạnh giá trị văn chương, các tác phẩm còn mang nặng tính chính luận. Điều ấy không làm cho tác
phẩm khô khan, mất tính văn chương mà trái lại càng làm tăng thêm sức hấp dẫn, càng thêm giá trị .
KẾT LUẬN
Xã hội nông thôn tưởng như chỉ có nét bình dị, yên ả với những xóm làng,
những nóc nhà lặng lẽ bên những rặng tre, những cánh đồng, những dòng sông,
những con suối...; với những con người chăm chỉ với ruộng với vườn, thuỷ chung
gắn bó với quê hương; với những câu chuyện không bao giờ hết về cảnh vật, về
đất, về người... Thế nhưng, hoà mình vào cuộc sống ấy, chúng ta mới thấy những
điều không hề giản đơn, không hề tĩnh lặng. Nó cũng mang trong mình lắm điều
nhiêu khê, bức bối, ngột ngạt.
Toàn bộ những gì thể hiện trong luận văn này là những tìm tòi, cảm nhận
của chúng tôi đối với ý tưởng, quan điểm, tình cảm của các tác giả Lê Lựu, Dương
Hướng, Nguyễn Khắc Trường về những vấn đề của nông thôn, cả những vấn đề
đời thường cũng như những vấn đề mang tính đặc trưng, bản chất.
Trong quá trình nghiên cứu, với ý thức lấy bức tranh hiện thực nông thôn
làm tâm điểm, cùng với quan niệm luôn luôn coi trọng “cái tôi” của người sáng
tác cũng như coi trọng ý nghĩa tự thân của tác phẩm, về vấn đề nông thôn Việt
Nam được phản ánh trong ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh
đất lắm người nhiều ma, chúng tôi có thể đi đến một vài tổng kết:
Về mặt xã hội, trong ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng,
Mảnh đất lắm người nhiều ma, hiện thực nông thôn Việt Nam đã được tái hiện
một cách tương đối đầy đủ, rõ nét và sinh động với tất cả những cái hay, cái dở,
cái tốt, cái chưa tốt, cái tích cực, cái tiêu cực.... Và tất cả những điều ấy đều hấp
dẫn, đều khiến chúng ta phải tìm hiểu, phải suy ngẫm.
Chúng ta bị cuốn hút bởi đời sống văn hoá tinh thần vô cùng phong phú của
làng quê, trong đó chứa đựng biết bao điều kì thú với các câu chuyện huyền thoại,
những phong tục, luật tục thể hiện ý thức, quan niệm, thế giới tinh thần của người
nhà quê. Có biết bao những điều mang giá trị truyền thống, nhân văn, nhân đạo
sâu sắc được duy trì như tục giỗ tổ, thờ cúng tổ tiên, quan hệ gia đình trên dưới rõ
ràng, tình làng nghĩa xóm chân tình, khắng khít...Và, cũng có bao nhiêu hủ tục
nhiêu khê còn tồn tại, còn kìm hãm những bước phát triển của làng quê như tục
mê tín dị đoan, thói gia trưởng, quan hệ thân tộc phức tạp, tính tủn mủn, vụn vặt
trong đời sống thường nhật,...Có thể nói, cái cổng làng chính là biểu tượng gianh
giới hành chính cũng như gianh giới tinh thần giữa các làng xã. Cái cổng cứng cáp
và giản đơn ấy cũng là biểu tượng của sự gói ghém, ràng buộc, đoàn kết nhau của
những công dân trong làng. Cũng chính cái cổng ấy lại thể hiện sự bảo thủ, tính tự
tôn, không muốn giao lưu, không thừa nhận những gì nằm bên kia cổng làng. Tất
cả những điều ấy tạo nên một sự đa tầng, đa sắc màu cho thế giới văn hoá tinh
thần của nông thôn khiến ta càng khám phá càng thêm ngỡ ngàng, thú vị.
Cũng như thế, khi chứng kiến cuộc sống thực ở các làng quê, chúng ta cũng
phải trăn trở cùng với những biến động trong cuộc sống của họ.
Thời chiến tranh, các làng quê cùng đắm chìm trong không khí đau thương,
mất mát, chia li. Không một làng quê nào không mang trên mình những dấu tích,
tàn tích của chiến tranh. Làng quê nào cũng trở nên vắng vẻ, quạnh quẽ, vắng
bóng đàn ông, đàn bà con gái thì ê hề, cô đơn, trống trải. Làng quê nào cũng có
những cảnh cha mẹ chết không được thấy mặt con, cảnh những người phụ nữ vật
vã giữ gìn danh tiết để chờ chồng nuôi con... Và làng quê nào cũng có những
người anh hùng sẵn sàng quên mình, xả thân vì sự nghiêp giữ gìn và giải phóng
đất nước. Một điều đáng quí là trong cuộc sống thường ngày, họ có thể vụn vặt
trong những lợi ích cá nhân, tủn mủn trong những lo toan vun vén cho gia đình và
có thể nhận thức của họ mới chỉ dừng bên trong cổng làng, nhưng khi đứng trước
vận mệnh của đất nước, những con người “nông tri điền” cũng biết đến trách
nhiệm, cũng biết đến hiến dâng, cũng biết đến hi sinh... Những ông bố bà mẹ hiến
dâng cho tổ quốc những đứa con thân yêu, thậm chí là những đứa con cuối cùng
như bà Nhân, ông bà Khiên, ông bà đồ Khang. Những chàng trai hiến dâng cho tổ
quốc tuổi thanh xuân, sự hăng hái nhiệt tình, sức khỏe, thậm chí cả tương lai của
bản thân và gia đình như lão Vạn Điện Biên, Thành, Nghĩa, Sài, Thông... Đứng
trước thực tế đó thì không thể phủ nhận một điều: dù họ là ai, dù họ sống ở đâu,
dù nhận thức của họ ở mức độ nào, nhưng đã là người Việt Nam thì bất cứ ai cũng
có lòng yêu nước, dám hi sinh vì đất nước, vì dân tộc.
Kết thúc chiến tranh, các làng quê lại bình thản đón nhận cuộc sống mới
trong ngày hoà bình. Những chính sách mới, những chủ trương mới dày vò cuộc
sống, sự bình yên của người nông dân. Nào là đấu tố địa chủ, cường hào ác bá, tay
sai chỉ điểm bán nước hại dân. Nào là cải cách ruộng đất, đổi mới sản xuất theo
mô hình hợp tác xã với cơ chế quan liêu bao cấp... Tất cả đều xa lạ với họ. Điều
quan trọng là tất cả những điều ấy không đem lại cho họ cuộc sống thực sự no đủ,
yên vui. Nhưng với bản chất hiền lành, chất phác, họ vẫn thích nghi, vẫn chấp
nhận tất cả như một điều mặc nhiên phải thế.
Chỉ đến khi ở nông thôn xây dựng những mô hình hợp tác xã mở rộng với
cơ chế khoán trong sản xuất thì người nông dân mới thực sự sống, thực sự làm chủ
cuộc sống của mình. Trong cơ cấu xã hội giảm được phần lớn những chức danh
hữu danh vô thực, sống gửi ăn theo. Người nông dân làm nhiều hưởng nhiều làm
ít hưởng ít. Điều ấy tạo động lực, hứng khởi cho người dân hăng say sản xuất.
Điều ấy làm cho người nông dân có cuộc sống ổn định hơn, nhẹ nhàng hơn, no đủ
hơn. Cuộc sống người dân ngày càng khởi sắc, ngày càng khấm khá. Một bộ mặt
mới của nông thôn dần hiện ra...
Tuy nhiên, cái gì cũng có mặt trái của nó. Bên cạnh những chuyển biến khá
tích cực ấy thì xã hội nông thôn cũng phân hoá mạnh mẽ, bộc lộ nhiều mặt hạn
chế, nhiều tiêu cực, nhiều trì trệ.
Con người nông thôn trước những đổi thay của xã hội, trước những đòi hỏi
của cuộc sống cũng biến đổi theo. Trong họ đã xuất hiện những toan tính, mánh
khoé để làm đầy nồi cơm, đầy bồ thóc của mình mà không cần để ý đến xung
quanh. Tình làng nghĩa xóm dần được thay thế bằng những quan hệ mua bán, đổi
trác. Thỉnh thoảng còn bắt gặp những người lợi dụng, giẫm lên đầu lên cổ người
khác để kiếm lời.
Trong nội bộ quần chúng nhân dân đã vậy, đối với những người nằm trong
bộ phận lãnh đạo chính quyền, những người mà công việc của họ liên quan trực
tiếp đến kinh tế, những người có quyền sinh quyền sát trong tay, có thể dựa vào
địa vị để kiếm lợi... thì những toan tính, mánh khoé, sự gian ngoan càng bộc lộ
nhiều. Bởi thế ở nông thôn, hiện tượng che mắt nhân dân để “chấm mút”, mưu lợi
cá nhân diễn ra nhan nhản. Tình trạng chia bè kết phái trong hàng ngũ lãnh đạo
ngày càng trở nên sâu sắc. Bởi thế mà một cái xã bé xíu mà chính quyền bị chia
thành những mấy phe, chỉ toàn đối đầu, triệt tiêu đối thoại. Bởi thế nên những
làng quê tưởng như mãi thanh bình, im ắng lúc nào cũng um sùm những chuyện
cãi vã, kiện cáo, vu khống cho nhau. Bởi thế người ta sống với nhau lá mặt lá trái,
miễn sao yên ổn và có lợi cho mình... Cuối cùng chỉ có nhân dân là phải gánh hậu
quả, chịu khốn khổ.
Trong tiến trình vận động, phát triển của đất nước, mỗi giai đoạn lịch sử đều
mang những đặc điểm riêng. Giai đoạn này bộc lộ một tính chất, giai đoạn khác lại
mang tính chất khác. Mỗi giai đoạn đều chứa đựng trong nó những vấn đề, những
thành tựu và tồn tại. Tuy nhiên, khi nhìn nhận một cách khách quan thì dù là thành
tựu hay tồn tại thì tất cả đều là những nấc thang trong một cái thang, đều là những
tiền tố, là bàn đạp thúc đẩy xã hội phát triển theo chiều hướng tốt hơn.
Tất nhiên, dù bức tranh cuộc sống có mang màu sắc nào thì trung tâm của
bức tranh ấy vẫn là con người. Cuộc sống đưa đến cho con người bao điều kì diệu.
Và cũng ẩn chứa trong nó biết bao ngang trái, đắng cay. Có một điểm chung nhất
giữa ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều
ma là cả ba tác giả dường như cùng có chủ tâm khắc hoạ bi kịch của người nông
thôn thể hiện trong tất cả các mặt của đời sống xã hội.
Tìm trong ba tác phẩm ta thấy những con người lặn hụp trong một cuộc
sống mà con người cá nhân, ý thức cá nhân bị lãng quên, bị vùi dập, đấy là những
con người như lão Vạn, như anh cu Sài. Họ mải miết sống theo lí tưởng, sống theo
ý kiến, sự ngưỡng mộ của người khác, trong khi không dám làm điều gì, dành
riêng điều gì cho bản thân. Tuy nhiên, đấy có thể là tư tưởng không đúng nhưng
đấy là một tư tưởng phù hợp, cần thiết, ít nhất là cũng phù hợp, cần thiết với một
thời, một giai đoạn nào đấy của xã hội.
Ta cũng tìm thấy trong đó những con người gánh trên vai tấn bi kịch của
lòng thù hận. Ở nhà quê, khi mà cái ăn cái mặc vẫn luôn là gánh nặng, người ta
chỉ vương thù oán với nhau trong những chuyện hôn nhân, điền thổ. Và những
mối thù ấy đều có một sức sống dai dẳng đến khủng khiếp, truyền từ đời này sang
đời khác, mãi không thôi. Từ người già đến người trẻ, từ đàn ông đến đàn bà, từ
con trai đến con gái...tất cả đều phải ghi nhớ, tất cả đều phải thực hiện lời nguyền
của dòng họ. Trẻ con ghi nhớ bằng việc luôn luôn phải lắng nghe về những câu
chuyện ân oán của đời trước. Người lớn ghi nhớ bằng cách giữ mình trong tình
cảm, trong cư xử... Những mối thù ấy tồn tại qua bao đời, người ta lại không thể
sống bằng tình cảm của người khác, nhất là khi đó là sự căm hờn, nên biết bao bi
kịch, bao ngang trái đã xảy ra.
Còn một thứ bi kịch nữa mà các tác giả đề cập đến, đó là bi kịch nảy sinh từ
sự hãnh tiến, khát vọng quyền lực của con người. Vì cái quan niệm “một miếng
giữa làng hơn sàng xó bếp” mà biết bao còn người vì ham quyền lực mà bị chính
quyền lực sai khiến. Vì cái bả lợi danh ấy mà họ sẵn sàng trở nên man trá. Vì chút
địa vị trong xã hội mà họ sẵn sàng quên đi luân lí, đạo đức, thậm chí giết cả người
thân mà không hối cải. Nhưng quyền lực không chính đáng sẽ bị loại bỏ, bị đào
thải, đấy vẫn là thông điệp ngầm mà các tác giả muốn gửi đến người đọc.
Giai đoạn 1986 – 2000 là một giai đoạn cực kì nhạy cảm của lịch sử xã hội
Việt Nam, đánh dấu chặng đường mười lăm năm đất nước chúng ta bước những
bước chập chững, dò dẫm trong sự đổi mới. Như người bị nhốt trong bóng tối lâu
ngày bước ra ánh sáng, chúng ta choáng ngợp, lúng túng trong thời mở cửa. Xã
hội mới. Nhịp sống mới. Nền sản xuất mới... Nhưng con người, nhất là người
quản lí chưa đổi mới. Thế nên, những sai lệch, những yếu kém là tất yếu.
Bằng cái nhìn khách quan và nhạy cảm, cả ba tác giả Lê Lựu, Dương
Hướng, Nguyễn Khắc Trường đã nhìn ra, phân tích và phản ánh tất cả những vấn
đề của nông thôn một cách cụ thể, rõ ràng và sinh động. Ngòi bút hiện thực của
các tác giả đã giúp chúng ta được nắm bắt cuộc sống nông thôn từ góc độ tinh
thần, vật chất lẫn tâm lí. Đấy là thể hiện cá tính “cái tôi” trong sáng tác. Đấy cũng
là sự thành công của các tác giả. Tuy nhiên, dẫu rằng phản ánh hiện thực một cách
mạnh mẽ, tự tin, không né tránh, nhưng hầu như cả ba tác giả mới chỉ nêu ra,
chạm tới các vấn đề, chứ chưa thực sự đối đầu với những vấn đề họ nêu ra. Nhưng
đấy cũng là một điều tất yếu. Nếu đứng trên quan điểm lịch sử cụ thể có thể thấy,
cái giai đoạn nhạy cảm kia có giá trị như một bước đà. Trong quá trình phát triển
xã hội, những tồn tại của nó như những vết xước, đau nhưng gây hại không đáng
kể. Và việc các tác giả mới chỉ dừng lại để nhìn, để chạm vào nó thôi cũng là phù
hợp.
Trên đây là tất cả những gì chúng tôi tìm kiếm, khám phá được từ các tiểu
thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma. Với
luận văn này, có thể sự đóng góp chưa thật sự nhiều, nhưng đó là kết quả của một
quá trình nghiên cứu nghiêm túc. Những gì đã được và chưa được, những điều
thừa và thiếu, những cái hay cái dở... của luận văn này hi vọng sẽ gợi cảm hứng
cho những người khác tiếp tục nghiên cứu làm cho vấn đề được hoàn thiện hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Lan Anh (2007), Ở đất kẻ thù, NXB Văn học – Công ty văn hoá truyền
thông Võ Thị
2. Ngô Vĩnh Bình (1991), “Mảnh đất lắm người nhiều ma”, Tạp chí Văn nghệ
Quân đội, (8).
3. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Bộ Văn hoá thông tin
và thể thao, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội. ( Phạm Vĩnh Cư
tuyển chọn, dịch và giới thiệu).
4. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, NXB Giáo dục, Hà
Nội. (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch)
5. Hồng Diệu (1991), “Về Mảnh đất lắm người nhiều ma”, Tạp chí Văn nghệ
Quân đội, (8).
6. Phan Cự Đệ (2001), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nhà xuất bản Giáo
Dục, Hà Nội.
7. Phan Cự Đệ (2001), “Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới”, Tạp chí Văn
Nghệ Quân đội, (3), tr.99-104
8. Trung Trung Đỉnh (1991), “Dương Hướng và Bến không chồng”, Tạp chí
Văn nghệ Quân đội, (12), tr.98-99.
9. Hà Minh Đức (Chủ biên) (1998), Chặng đường mới của văn học Việt Nam,
NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội
10. Hà Minh Đức (Chủ biên) (1991), Mấy vấn đề lí luận văn nghệ trong sự
nghiệp đổi mới, NXB Sự Thật, Hà Nội.
11. Phan Hách (2001), Người đàn bà buồn, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội.
12. Nguyễn Văn Hạnh (1972), “Một số điểm cần nói rõ thêm về vấn đề nghiên
cứu tác phẩm văn học”, Tạp chí Văn học, (6), tr.117-126.
13. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳng Như Phương (1995), Lý luận văn học - Vấn đề
và suy nghĩ, NXB Giáo dục, TP HCM.
14. Phạm Hoa (1991), “Mảnh đất lắm người nhiều ma - Bức tranh gắn chặt với
hiện thực”, Báo Quân đội nhân dân thứ 7, (5).
15. Phạm Thị Hoài (2004), “Nhà văn thời Hậu Đổi Mới”, http://talawas.org...
16. Hoàng Ngọc Hiến (1987), “Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu”, Tạp chí văn
nghệ quân đội,(4), tr.118-119.
17. Nguyễn Minh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, NXB Giáo Dục,
Hà Nội.
18. Dương Hướng (1998), Bến Không Chồng, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội.
19. http://www.informatik.uni–leipzig.de..., “Một trăm điều nên biết về phong
tục Việt Nam”.
20. http://www.Vietnamtourism.com..., “Việt Nam - Đất nước con người”.
21. Nguyễn Vy Khanh, “Thế kỷ tiểu thuyết”, http://www.hobieuchanh.com...
22. Trần Đăng Khoa (1998), Chân dung và đối thoại, NXB Thanh Niên, Hà
Nội.
23. M.B. Khrapchenco (1985), Cá tính sáng tạo, hiện thực và con người,2,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. (Lê Sơn, Nguyễn Minh dịch).
24. Lê Quý Kỳ, “Văn học thời đổi mới”, Sách “Văn học thời luận”, NXB Văn
học, Hà Nội.
25. Lê Đình Kỵ (1984), Tìm hiểu tác phẩm văn học, NXB TP. Hồ Chí Minh.
26. Tôn Phương Lan (1998), “Một số vấn đề trong văn xuôi thời kì đổi mới”,
Chặng đường mới của văn học ( Hà Minh Đức chủ biên), NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 732-738.
27. Đoàn Lê (2001), Cuốn gia phả để lại, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội.
28. Nguyễn Văn Long (2006), “Nhìn lại tiến trình vận động văn học Việt Nam
từ 1975 đến nay”, Báo Hà Tây Online.
29. Lê Lựu (2002), Chuyện làng Cuội, NXB Văn học, Hà Nội.
30. Lê Lựu (1989), Thời xa vắng, NXB Tác Phẩm Mới, Hà Nội.
31. Phương Lựu (1997), Tiếp nhận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
32. Thiếu Mai (1987), “Nghĩ về một “Thời xa vắng” chưa xa”, Tạp chí Văn
nghệ quân đội,(4), tr.120-125.
33. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà
văn, NXB Giáo dục, Hà Nội.
34. Vương Trí Nhàn (1996), Khảo về tiểu thuyết, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội.
35. Phùng Quý Nhâm (1991), Thẩm định văn học, NXB Văn nghệ TP. hồ Chí
Minh.
36. Bảo Ninh (2005), “Tiểu thuyết thời đổi mới”, Báo Văn nghệ trẻ.
37. Nguyên Ngọc (2004), “Văn xuôi Việt Nam hiện nay, logic quanh co của
các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển vọng”,
http://www.ivce.org...
38. Lã Nguyên (1998), “Văn học nghệ thuật trong bước chuyển mình”, Báo
Văn nghệ, (45), tr.7-10
39. Dương Duy Ngữ (2001), Người giữ đình làng, NXB Quân đội Nhân dân,
Hà Nội.
40. Thanh Phước (1991), “Cấu trúc, cái dở nhất của tiểu thuyết Mảnh đất lắm
người nhiều ma”, Tạp chí Văn học và dư luận, (7), tr.52-53.
41. Huỳnh Như Phương (1991), “Văn chương những năm 80 và vấn đề dân
chủ hoá nền văn học”, Tạp chí Văn học, (4).
42. Từ Sơn (1990), “Đổi mới xã hội và đổi mới văn học”, Báo Văn nghệ, (13).
43. Nguyễn Hữu Sơn (2000), “Bóng đêm - Một phương diện tư duy nghệ thuật
trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma”, Điểm tựa phê bình
văn học, tr.131-135...
44. Trần Đình Sử (2003), Dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
45. Bùi Việt Thắng (2000), Bàn về tiểu thuyết, NXB Văn hoá tư tưởng, Hà
Nội.
46. Hoà Thu (2001), “Người giữ đình làng”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (3),
tr.108-109
47. Lý Hoài Thu (2001), “Tiểu thuyết - Tầm vóc hiện thực và số phận con
người”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (2),tr.105-108.
48. Đỗ Lai Thuý (1994), “Một cách nhận diện thời kì văn học vừa qua”, Phụ
san Văn nghệ, tháng 6.
49. Đinh Quang Tốn (1997), “Lê Lựu - Thời xa vắng”, Tản mạn và chính kiến
văn chương, tr.12-23.
50. Hoàng Minh Tường (1996), Thuỷ hoả đạo tặc, NXB Văn học.
51. Lê Ngọc Trà (1990), Lý luận và văn học, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
52. Nguyễn Khắc Trường (2003), Mảnh đất lắm người nhiều ma, NXB Hội
Nhà Văn.
53. Nguyễn Văn Xuất (2001), “Hình tượng và ngôn từ trong tiểu thuyết”, Khoa
Ngữ văn một phần tư thế kỉ, NXB Đại học Sư phạm, TP. Hồ Chí
Minh, tr.147-154.
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU
Chương 1: BỨC TRANH VĂN HÓA LÀNG QUÊ TRONG BA TIỂU THUYẾT:
THỜI XA VẮNG, BẾN KHÔNG CHỒNG, MẢNH ĐẤT LẮM
NGƯỜI NHIỀU MA
1.1. Bức tranh nông thôn đa dạng với nhiều phong tục tập quán............................ 10
1.2. Một xã hội nhức nhối những vấn đề nóng bỏng khó giải quyết....................... 19
1.2.1. Nông thôn với những lí tưởng và niềm đau trong chiến tranh............ 19
1.2.2. Quan hệ lao động sản xuất đầy khắc nghiệt........................................ 32
1.2.3. Sự đối đầu khốc liệt giữa các dòng họ ................................................ 39
1.3. Con người nông thôn trước những biến đổi của xã hội..................................... 44
1.3.1. Lối sống theo kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ”,
dựa vào uy danh dòng họ .................................................................... 44
1.3.2. Sức mạnh nằm trong tay kẻ lắm tiền .................................................. 50
Chương 2: BI KỊCH CỦA CON NGƯỜI NÔNG THÔN
2.1. Con người bị trói buộc bởi uy danh dòng họ.................................................... 55
2.2. Con người nô lệ của khát vọng quyền lực ........................................................ 64
2.3. Con người cam chịu khuất phục trước định kiến của gia đình,
dòng họ ............................................................................................................. 72
Chương 3: NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ HIỆN THỰC
3.1. Bức tranh làng quê được miêu tả chân thực, cụ thể mà sinh động................... 82
3.2. Những người nông dân thuần chất được phát hiện dưới nhiều góc độ
tâm lí khác nhau làm nên sự đa dạng nhưng cũng đầy phức tạp của
cuộc sống sau luỹ tre làng ................................................................................ 89
3.3. Nghệ thuật miêu tả hiện thực khách quan, không né tránh, phản ánh
được bản chất xã hội nông thôn Việt Nam đương thời .................................... 95
KẾT LUẬN .................................................................................................................... 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................. 110

