BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRẦN THỊ THANH XUÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2008

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRẦN THỊ THANH XUÂN

Chuyên ngành : LÝ LUẬN VĂN HỌC

Mã số

: 60 22 32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. PHÙNG QUÍ NHÂM

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2008

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành, ngoài sự nỗ lực cố gắng của riêng bản

thân tôi, còn nhờ sự tận tình giúp đỡ của các cơ quan và của nhiều người, như:

PGS.TS Phùng Quý Nhâm, các giảng viên Trường ĐHSP TP. HCM, gia đình và

bạn bè...

Để tỏ lòng tri ân, tôi xin chân thành gửi lời cám ơn đến tất cả mọi người.

Xin cám ơn PGS.TS Phùng Quý Nhâm, người đã tận tình hướng dẫn, giúp

đỡ em trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài.

Xin cám ơn các giảng viên thuộc tổ bộ môn Lý Luận Văn Học, khoa Ngữ

Văn và các cán bộ phòng KHCN – SĐH của Trường ĐHSP TP.HCM đã trang bị

kiến thức cũng như tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn.

Xin cám ơn Sở Giáo dục Bình Thuận, Ban Giám hiệu cùng các cán bộ,

giáo viên Trường trung học phổ thông Chuyên Trần Hưng Đạo Bình Thuận đã

ưu ái tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn cũng như khoá học

này.

Xin cảm ơn và tỏ lòng tri ân sâu sắc đến tất cả mọi người trong gia đình

tôi, những người đã luôn giúp đỡ, chia sẻ mọi khó khăn và luôn động viên tôi

trong quá trình học tập, nghiên cứu.

Cuối cùng đó là lời cảm ơn chân thành gửi đến sự giúp đỡ và động viên từ

phía bạn bè.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài.

Thời kì đổi mới được đánh dấu bắt đầu từ năm 1986 và kéo dài đến tận ngày

nay. Song song cùng sự biến đổi của xã hội, văn học cũng có nhiều thay đổi. Thời

kì này, văn xuôi phát triển mạnh, có nhiều sự đổi mới. Trong cuốn Tiểu thuyết

Việt Nam hiện đại, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã nhận xét về tình hình sáng tác

văn xuôi của thời kì này: “mở rộng đề tài và các phương thức tiếp cận, chấp nhận

cả lãng mạn, tượng trưng, huyền thoại, viễn tưởng, quan niệm cởi mở hơn về vai

trò của chủ thể nhà văn, về điển hình hoá, về các kiểu ngôn ngữ trần thuật, nhìn

chung là khuyến khích sự đa dạng về hình thức và phong cách biểu hiện” và

“chúng ta được mùa về truyện ngắn và tiểu thuyết”. Đặc biệt là tiểu thuyết. Cũng

theo sự thống kê của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ thì từ năm 1980 đến năm 1996,

độc giả đã được đón nhận đến 360 cuốn tiểu thuyết, trong đó nổi bật là tên tuổi

những nhà tiểu thuyết như: Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Khuất Quang Thụy, Chu Lai,

Nguyễn Quang Thiều, Hồ Anh Thái, Hoàng Minh Tường, Nguyễn Khắc Trường,

Triệu Bôn, Ngô Ngọc Bội, Vũ Huy Anh, Bảo Ninh, Hoàng Ngọc Hà, Nhật Tuấn,

Ông Văn Tùng, Xuân Đức, Nguyễn Trí Huân, Phan Tứ... Sau này, còn xuất hiện

thêm nhiều tác giả, tác phẩm khác.

Với số lượng tác phẩm, tác giả như thế, có thể nói, để tìm hiểu, nghiên cứu

tất cả các đề tài, nội dung của tiểu thuyết thời kì này là một điều khó, thậm chí

không thể. Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu một khía

cạnh nội dung của tiểu thuyết thời kì này, đề tài mang tên: “Nông thôn Việt Nam

trong các tiểu thuyết từ năm 1986 đến năm 2000”. Lí do để chúng tôi chọn đề

tài này là:

Thứ nhất, đề tài này có liên quan đến những tiểu thuyết đoạt giải của Hội

Nhà Văn, đã được công bố rộng rãi và được công chúng đón nhận.

Thứ hai, các tiểu thuyết đều nằm trong giai đoạn 1986-2000, là giai đoạn có

ý nghĩa quan trọng, mở đầu thời kì đổi mới và kết thúc một thế kỉ.

Thứ ba, khi tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết thời kì đổi mới, người ta chủ

yếu xoáy sâu vào các nội dung như: vấn đề chiến tranh, vấn đề xây dựng chủ

nghĩa xã hội, vấn đề số phận con người trong thời kì mới, sự thay đổi trong những

quan niệm về giá trị con người... Ít người chú ý tới khía cạnh nội dung phản ánh

hiện thực nông thôn trong các tác phẩm.

Chính vì những lí do kể trên mà chúng tôi quyết định chọn đề tài này.

Chúng tôi mong muốn việc nghiên cứu đề tài sẽ phần nào đó đóng góp một

cách nhìn khách quan và tương đối toàn diện cho bức tranh xã hội Việt Nam trong

thời kì vốn được xem là cực kì nhạy cảm này.

2. Lịch sử vấn đề

Đề tài chủ yếu tập trung khảo sát ba tiểu thuyết Thời xa vắng (Lê Lựu),

Bến không chồng (Dương Hướng) và Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn

Khắc Trường), những tiểu thuyết đã đoạt giải chính thức của Hội nhà văn nên thu

hút được sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu và độc giả. Trong quá trình

tìm hiểu và thu thập tài liệu, chúng tôi sưu tập được một số bài viết nghiên cứu về

các tiểu thuyết này. Cụ thể như:

Hoàng Ngọc Hiến trong bài “Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu” đăng trên tạp

Tạp chí văn nghệ quân đội, số 4, năm 1987 đã tập trung nghiên cứu tiểu thuyết

Thời xa vắng trong giới hạn vấn đề số phận cá nhân, số phận của người nhà quê

trước những biến động của xã hội, cụ thể là cuộc đời, số phận của nhân vật Giang

Minh Sài. Theo Hoàng Ngọc Hiến thì anh nông dân Giang Minh Sài “ “người nhà

quê” của Lê Lựu hai lần khốn khổ, vừa xung đột với hệ tư tưởng gia trưởng, vừa

xung đột với thành phố ở bộ phận phức tạp nhất của nó là đàn bà, con gái.”[16,

tr119], thế nên cuộc sống của anh cứ bùng nhùng, bế tắc, vướng vào hết bi kịch

này đến bi kịch khác. Và từ những vấn đề thuộc về nhân vật, thuộc về tác phẩm,

tác giả Hoàng Ngọc Hiến suy luận đến những vấn đề lớn, những vấn đề bức xúc

của xã hội suốt một thời: “Lê Lựu chỉ đụng đến đề tài “người nhà quê và đô thị”

một cách ngẫu nhiên: chỉ là câu chuyện thương tâm một “anh nhà quê” chơi trèo

với thành phố bị bại. Trên đất nước ta sau khi thống nhất, không phải cán bộ tiếp

quản nào cũng trở thành người chủ của thành phố, không ít “người nhà quê” tiếp

xúc với đô thị đã bị bại hoàn toàn, sống dở chết dở, điêu đứng bi thảm, sự thất bại

của họ mang ý nghĩa xã hội sâu sắc”[16, tr119].

Thiếu Mai cũng trong Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 4, năm 1987 có bài:

“Nghĩ về một “thời xa vắng” chưa xa”. Bài viết của Thiếu Mai nghiên cứu khá sâu

sắc cả khía cạnh nội dung lẫn nghệ thuật của Thời xa vắng. Ở khía cạnh nội dung,

tác giả phân tích sự tác động của hoàn cảnh đến quá trình hình thành tính cách của

nhân vật. Trong tác phẩm, nhân vật Giang Minh Sài cả cuộc đời đã phải gánh trên

vai hệ tư tưởng gia trưởng, những quan niệm, những định kiến... khiến cho anh

không lúc nào được sống bằng chính cuộc đời của mình, chỉ biết nghe và chiều ý

mọi người, đến nỗi theo lời của tác giả Thiếu Mai thì: “trong con người anh, luôn

luôn tồn tại hai thế lực: chống đối và khuất phục. Hai thế lực ấy ngày càng phát

triển, càng mâu thuẫn, và đẩy bi kịch trong con người Sài lên một mức độ ngày

càng cao hơn.” [32, tr121]. Và cũng theo sự đánh giá của Thiếu Mai thì “ Lê Lựu

đã tỏ ra hiểu nhân vật của mình đến tận chân tơ kẽ tóc, đến tận những ngọn

ngành sâu thẳm nhất của tình cảm, suy nghĩ. Xót xa cho cuộc đời Sài bao nhiêu,

tác giả lại giận dữ lên án cách sống, cách ứng xử thiếu bản lĩnh của anh ta bấy

nhiêu” [32, tr122]. Mà đâu chỉ có Sài, bên cạnh anh còn biết bao nhiêu người cũng

làm những điều mình không muốn chỉ vì không dám làm phật ý hay làm khác với

mọi người xung quanh như ông đồ Khang, anh Tính, chú Hà, Chính uỷ Đỗ Mạnh,

anh Hiền, anh Hiển... Nói cách khác, Sài và những nhân vật liên quan đến tấn bi

kịch của cuộc đời anh vừa là đại diện cho những cá nhân riêng lẻ nhưng cũng là

sản phẩm chung của “một thời, thời xa vắng, nhưng chưa xa là bao”, cái thời mà

do hoàn cảnh lịch sử của nó, ý thức cá nhân phải tạm lu mờ, nhường chỗ cho

những vấn đề lớn lao mang ý nghĩa dân tộc. Đấy là xét về mặt nội dung. Xét về

mặt nghệ thuật, mặc dù “nhiều người có ý cho là văn Lê Lựu không chuốt, mộc

quá, và không phải là không có những câu què, hoặc trúc trắc, thậm chí có câu

ngữ pháp chưa chỉnh” , nhưng tác giả Thiếu Mai vẫn cho rằng tiểu thuyết Thời

xa vắng được xây dựng bằng “một giọng văn trầm tĩnh vừa giữ được vẻ đầm ấm

chân tình, vừa khách quan, không thêm bớt, tô vẽ, đặc biệt là không cay cú, chính

giọng văn như vậy đã góp phần đáng kể vào sức thuyết phục, hấp dẫn của tác

phẩm” [32, tr.123]. Tuy chưa thích thú với kết cấu ba phần mà phần kết “khó chấp

nhận vì tính chất bất hợp lí của nó, và vì nó thể hiện một sự áp đặt do ý muốn chủ

quan của tác giả” [32,tr.125]. Thế nhưng, với tác giả Hiếu Mai, Thời xa vắng

“tuy vẫn còn có những nhược điểm, còn thiếu một sự chặt chẽ, nhất quán cần

thiết, nhưng với ưu điểm rất trội của nó, nó là một thành công, một đóng góp vào

nền văn học đang có đà phát triển khởi sắc cùng chúng ta mấy năm vừa qua.”

[32, tr.125]

Đinh Quang Tốn trong cuốn Tản mạn và chính kiến văn chương có bài: “Lê

Lựu - Thời xa vắng”. Trong bài viết này, Đinh Quang Tốn muốn nói đến sự hoá

thân của cuộc đời tác giả Lê Lựu vào trong các tác phẩm của mình. Trong khi giới

thiệu về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu, những dấu ấn cá nhân của tác

giả để lại trong các sáng tác..., Đinh Quang Tốn có vài dòng nhận xét về tiểu

thuyết Thời xa vắng: “Thời xa vắng viết về hậu phương miền Bắc trong cuộc

chống Mĩ cứu nước với cả cái vui và cái buồn, cái nồng nhiệt và sự non nớt,

những quầng sáng và những bóng mờ, có cả nụ cười và nước mắt...” [49, tr.18].

Nhìn chung, đề tài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến tranh chống Mĩ có

nhiều người viết, nhưng theo sự đánh giá của Đinh Quang Tốn thì: “Lê Lựu là

người viết thành công nhất” [49, tr.22] và “ Nếu trong tổng số sáu trăm hội viên

Hội nhà văn Việt Nam, cứ mười người chọn lấy một người tiêu biểu, thì Lê Lựu là

một trong tổng số 60 nhà văn ấy. Nếu về văn xuôi Việt Nam hiện đại, chọn lấy 30

tác phẩm, thì có mặt Thời xa vắng. Nói thế để thấy, trong văn học Việt Nam hiện

đại, Lê Lựu đã có một vị trí đáng kể.” [49, tr.22]

Trung Trung Đỉnh trong bài “Dương Hướng và Bến không chồng” đăng

trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 12 năm 1991 đã đưa ra một số nhận xét về

mặt đề tài, nội dung và kết cấu của tiểu thuyết Bến không chồng của Dương

Hướng. Về mặt đề tài, tác giả Trung Trung Đỉnh nhận xét: “ Có người nói, tiểu

thuyết Bến không chồng viết về đề tài nông thôn. Lại có người nói, tiểu thuyết

này viết về đề tài chiến tranh. Có người lại cho rằng đây là cuốn sách viết về đề

tài xã hội. Tất cả đều có đấy, nhưng theo tôi Dương Hướng không nhằm vào đề

tài. Anh khai thác đến tận cùng thân phận những nhân vật chính....” [8, tr.99]. Để

lí giải cho ý kiến của mình, tác giả bài viết đã đưa ra dẫn chứng về cuộc đời, thân

phận các nhân vật như: nhân vật Nguyễn Vạn suốt cả đời gìn giữ cái bóng của

vinh quang mà đánh mất đi cái chính yếu là bản thân mình, cá nhân mình; các

nhân vật nữ như bà Nhân, bà Khiêm, mụ Hơn, cô Hạnh, cô Thủy, cô Dâu..., mỗi

người một hoàn cảnh, một thân phận khác nhau và đều để lại ấn tượng sâu sắc

trong lòng người đọc; Về mặt nội dung, tác giả Trung Trung Đỉnh cảm nhận được

sự chân thật, giản dị trong ngòi bút hiện thực của Dương Hướng qua việc miêu tả

ngôi làng Đông, những con người của làng Đông, những cảnh sinh hoạt thường

nhật, những nếp nghĩ, tình cảm, cách cư xử... tự nhiên, gần gũi như nó đang diễn

ra trước mắt người đọc, khiến người đọc như đang được sống trong không khí của

làng, được hòa nhập vào cuộc sống của người dân; Còn về kết cấu của tiểu thuyết,

Trung Trung Đỉnh chỉ ra: “Cuốn sách được kết cấu một cách hồn nhiên, thuận

theo chiều thời gian, theo sự kiện chung của đất nước trong khoảng thời gian đó,

và theo sự đến với thân phận từng nhân vật. Chính vì thế anh không mất nhiều

thời gian trong việc tính toán chương hồi, mặc dù vẫn có chương hồi” [8, tr.99]. Ở

đây, tác giả Trung Trung Đỉnh cũng có chỉ ra những mặt hạn chế của cuốn tiểu

thuyết này, đó là quá trình dẫn dắt “có những chỗ sắp xếp vụng và đôi khi lại thiếu

sự tế nhị của nghề nghiệp”, “ phần đầu dài quá. Câu chữ có chỗ hơi luộm thuộm

quá. Cái cười của cô Dâu cứ hi hí thế, e tự nhiên chủ nghĩa quá” [8, tr.100]... Thế

nhưng, tác giả bài viết lại đánh giá “đây là nhược điểm của người say”, đấy là

biểu hiện cái say của người nghệ sĩ Dương Hướng giữa làng Đông. Nhưng cuối

cùng, ưu điểm vẫn là chủ yếu, tác giả Trung Trung Đỉnh thừa nhận: “Anh chiếm

lĩnh được tâm hồn người đọc bằng sức hút của tấm lòng yêu thương nhân hậu, tự

nhiên, không ồn ào văn vẻ với một bút lực dồi dào đầy trách nhiệm.

Dương Hướng là người có bản lĩnh, dám chịu trách nhiệm trước những số phận bi

ai, không né tránh nửa vời khiến cho thiên truyện càng tới những trang cuối càng

dồn nén, dồn nén đến nghẹt thở” [8, tr.98]

Về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Hữu Sơn, trong

cuốn Điểm tựa phê bình văn học có bài: “Bóng đêm - Một phương diện tư duy

nghệ thuật trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma” chủ yếu khảo sát

thủ pháp nghệ thuật, cụ thể là thời gian nghệ thuật của tiểu thuyết này. Theo tác

giả Nguyễn Hữu Sơn thì tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma “không có

những trang miêu tả, thể hiện thời gian tâm lí, tâm trạng gây ấn tượng như Sầu

đong càng lắc càng đầy – Ba thu dồn lại một ngày dài ghê! (Truyện Kiều), song

chính mối liên hệ giữa các biến cố, sự kiện với thời điểm nảy sinh các biến cố, sự

kiện đó mới là đặc điểm chính yếu tạo nên đặc trưng thời gian cho tác phẩm” [43,

tr.131-132]. Và đặc trưng thời gian của tác phẩm là thời gian bóng đêm. Các phân

đoạn mở đầu hay kết thúc trong tác phẩm cũng gắn liền với cảnh chiều tà, bóng

tối. Phần lớn những thời gian được đặc tả trong tác phẩm là thời gian bóng đêm,

hơn thế nữa “chúng lại thuộc về đêm cuối tháng không trăng sao, hoặc có trăng

thì chỉ thấy hình hài kì dị, không bao giờ được miêu tả như cái đẹp vĩnh hằng của

thiên nhiên” [43, tr.133]; Đêm cũng là thời điểm bộc lộ thân phận, tính cách của

con người: ngay đầu tác phẩm là những hồi ức về chuyện mấy mươi năm trước lão

Quềnh đã từng gặp ma và ăn ở với ma trong đêm, rồi đến cảnh đám ma cụ cố Đại

trong đêm, cảnh Thó lợi dụng đêm tối bê trộm hũ rượu, cảnh bí thư Thủ và phó

công an Cao đã bày trận địa giả đẩy bà Son phải ra mặt chống ông Phúc - người

tình của bà năm xưa nay là là kẻ thù của dòng họ nhà chồng cũng được tiến hành

trong đêm, bà Son bị dồn đẩy cũng lao mình xuống sông tự vẫn giữa đêm tối...;

Thời gian bóng tối là thời gian của ma quỉ, hắc ám, hiểm họa, là sự đồng lõa với

tâm địa đen tối của từng con người, những phe nhóm , những “chi bộ gia đình”,

những sự ăn chia ngấm ngầm của các đối thủ, hay nói cách khác nó là thời gian

cho phần ma trong con người được bộc lộ....Chính vì thế, tác giả Nguyễn Hữu Sơn

đã kết luận: “Thời gian đêm tối là sự thống lĩnh trong Mảnh đất lắm người nhiều

ma, đồng thời nó lấn át ánh sáng của trăng sao, càng vượt qua, thậm chí triệt tiêu

sự mô tả ánh bình minh, mặt trời, nắng ấm rực rỡ, hoa nở, chim bay...”. Và trong

khi khảo sát cái không khí hắc ám, ngột ngạt của bóng tối trong tác phẩm, tác giả

Nguyễn Hữu Sơn đã tìm ra một tầng giá trị khác của tiểu thuyết này: “phải chăng

ý nghĩa thanh lọc, khát khao hoàn thiện tính người, dứt bỏ bóng đêm ma quỉ mới

chính là thông điệp tác giả muốn gửi tới bạn đọc”[43, tr.135].

Lê Thị Tâm Hoài trong luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu đề tài: “Người phụ

nữ trong ba tiểu thuyết đoạt giải năm 1991”. Bến không chồng của Dương Hướng

và Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường là hai trong số ba

tiểu thuyết đó. Ở bài viết này, tác giả Lê Thị Tâm Hoài đi sâu khai thác hình ảnh,

vẻ đẹp và bi kịch của những người phụ nữ thể hiện trong ba tiểu thuyết. Đọc bài

viết này ta sẽ thấy bà Nhân, cô Hạnh...(Bến không chồng), bà Son, cô

Đào...(Mảnh đất lắm người nhiều ma) đã được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác

nhau. Họ đều là những người phụ nữ đẹp, đẹp ở hình thể, đẹp ở tâm hồn, đẹp

trong bản năng... Nhưng cuộc đời họ cũng đầy bất hạnh, đầy bi kịch chỉ vì họ sinh

ra là phụ nữ, họ phải chịu đựng biết bao áp lực, định kiến ở đời....

Trên đây chỉ là một số trong rất nhiều bài viết chúng tôi muốn lấy làm ví dụ

minh họa cho sự quan tâm, những vấn đề nghiên cứu khác nhau của các tác giả về

ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma.

Có thể nói, khi nghiên cứu ba tiểu thuyết này, các nhà nghiên cứu hầu như không

phân tích sâu bức tranh xã hội nông thôn thể hiện trong các tác phẩm, mà chỉ

chạm tới, chỉ nói qua. Dẫu không phải là tiền sử của vấn đề luận văn nghiên cứu,

nhưng các bài viết vẫn có giá trị tham khảo rất lớn. Tuy nhiên, chúng tôi muốn

nhấn mạnh rằng vấn đề nông thôn không mới, không đặc biệt trong nghiên cứu

văn học, cũng không mới trong phạm vi nghiên cứu các tiểu thuyết Thời xa vắng,

Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma. Nhưng việc đi sâu nghiên

cứu bức tranh nông thôn miền Bắc Việt Nam một cách có hệ thống dựa trên ba

tiểu thuyết kể trên lại là một việc tương đối mới mẻ, tương đối khái quát.

3. Đối tượng nghiên cứu

Viết về nội dung nông thôn Việt Nam giai đoạn 1986-2000, có thể kể tên

nhiều tác phẩm như: Thuỷ hoả đạo tặc (Hoàng Minh Tường), Người giữ đình làng

(Dương Duy Ngữ), Chuyện làng Cuội (Lê Lựu)...

Nhưng, trong phạm vi đề tài nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung khảo sát bức

tranh nông thôn miền Bắc Việt Nam qua ba tác phẩm: Thời xa vắng (Lê Lựu),

Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn

Khắc Trường).

4. Phạm vi nghiên cứu.

Nhìn chung, các tiểu thuyết thời kì đổi mới phản ánh nhiều vấn đề xã hội

như: vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề chiến tranh, vấn đề con người và

quan niệm về giá trị con người trong thời kì mới... Ở đề tài này, chúng tôi chủ yếu

tập trung nghiên cứu các vấn đề của nông thôn miền Bắc qua một số tiểu thuyết

như đã xác định ở trên.

5. Mục tiêu của việc nghiên cứu - Những đóng góp.

Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng tới những mục tiêu sau:

Thứ nhất, trong khi nghiên cứu các vấn đề thuộc về nông thôn được trình

bày trong ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người

nhiều ma, chúng tôi sẽ cố gắng phác hoạ những tồn tại và nảy sinh trong bức

tranh văn hoá làng quê Việt Nam thời kì đổi mới.

Thứ hai, chúng tôi quan tâm đến vấn đề con người cũng như quan tâm đến

việc phát hiện những chuyển biến trong lối sống, tâm lí, tình cảm của người nông

dân trước sự thay đổi của xã hội.

Thứ ba, bên cạnh những tìm tòi về nội dung thể hiện của tác phẩm, chúng

tôi cũng thực sự chú ý đến phong cách chiếm lĩnh và phản ánh hiện thực của các

tác giả.

Đạt được những mục tiêu kể trên, đề tài cũng có những đóng góp nhất định,

đó là đưa ra một cái nhìn tương đối khách quan, toàn cảnh về nông thôn miền Bắc

Việt Nam trong thời kì mới. Thêm nữa, những điểm hạn chế của đề tài, thiết nghĩ,

cũng có thể tạo hứng thú cho những ai cùng có mối quan tâm đến vấn đề này.

6. Phương pháp nghiên cứu.

Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng nghiên cứu và mục đích cần hướng tới

của luận văn, chúng tôi đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phân tích - loại hình: Nắm vững đặc trưng, phương pháp

luận loại hình thể loại tiểu thuyết để khái quát bức tranh nông thôn, tìm ra và phân

tích những vấn đề chung, những biến đổi của xã hội, của con người và những bi

kịch mà con người phải chịu đựng sau luỹ tre làng.

Phương pháp lịch sử: Trên quan điểm lịch sử cụ thể, luận văn xem xét sự

vận động và chuyển biến của xã hội theo xu thế tất yếu của nó, để từ đó cố gắng

tiếp cận một cách đầy đủ nhất những quan điểm của tác giả về đời sống, xã hội và

con người thể hiện trong các tiểu thuyết.

Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng không nhiều,

nhưng chúng tôi có sử dụng để so sánh ba tiểu thuyết kể trên với một số tiểu

thuyết khác cùng thời có phản ánh những vấn đề liên quan đến vấn đề luận văn

đang nghiên cứu.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có ý thức vận dụng những hiểu biết

về thi pháp học hiện đại kết hợp với cảm thụ truyền thống để nghiên cứu, chiếm

lĩnh tác phẩm theo quan niệm của mình. Đồng thời, cũng có ý thức tham khảo

những ý kiến đánh giá, nhận xét đã có về từng tác phẩm. Nhưng, cái chính yếu là

chúng tôi luôn cố gắng cảm nhận tác phẩm dựa trên ý nghĩa bản thân nó. Chúng

tôi hi vọng những gì thể hiện trong luận văn này sẽ hạn chế được phần phiến diện

chủ quan.

7. Kết cấu luận văn.

Luận văn gồm 113 trang. Ngoài hai phần dẫn luận và kết luận, luận văn có

ba chương:

Chương I: Bức tranh văn hoá làng quê trong ba tiểu thuyết: Thời xa vắng,

Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma.

Chương II: Bi kịch của con người nông thôn.

Chương III: Nghệ thuật miêu tả hiện thực.

Chương 1

BỨC TRANH VĂN HOÁ LÀNG QUÊ TRONG BA TIỂU THUYẾT:

THỜI XA VẮNG, BẾN KHÔNG CHỒNG, MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI

NHIỀU MA

1.1 . Bức tranh nông thôn đa dạng với nhiều phong tục tập quán

Nền văn hoá truyền thống Việt Nam được hình thành trên cơ sở của nền văn

hoá nông nghiệp. Cuộc sống của mỗi người Việt Nam đều gắn bó mật thiết với

xóm làng, quê hương. Chính bởi vậy, nói đến văn hoá làng quê là đề cập đến một

bức tranh nhiều màu sắc của sự đa dạng phong phú những phong tục tập quán.

Phong tục tập quán là những nền nếp đã lan truyền rộng rãi, thói quen phổ biến, có

từ lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác. Nội dung phong tục tập quán bao

hàm tất cả mọi mặt trong đời sống xã hội. Trong văn hoá Việt Nam, phong tục có

thứ trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặt, có sức mạnh hơn

cả những đạo luật. Tuy nhiên, khi nghiên cứu phong tục tập quán, một thực tế cần

phải nhìn nhận là có những phong tục tập quán tốt, tích cực, có những phong tục

tập quán không tốt, tiêu cực. Dẫu vậy, dù tốt hay không tốt, dù tích cực hay tiêu

cực thì những phong tục tập quán ấy cũng góp phần hình thành nên sự đặc sắc của

văn hoá nông thôn, sự đặc sắc của văn hoá dân tộc.

Trong cái ý thức tiểu nông tồn tại từ bao đời, người nông thôn thường có

quan niệm: “ăn cây nào rào cây ấy”, ở các làng quê Việt Nam, người ta thường có

xu hướng thích đề cao làng mình. Với họ, làng mình cái gì cũng nhất, cái gì cũng

hơn thiên hạ: “Đình làng Đông to nhất. Cây quéo làng Đông cao nhất. Cầu đá làng

Đông đẹp nhất; nước sông Đình cũng mát nhất” [18, tr.9]. Chính vì vậy, bất cứ địa

danh nào nổi bật của địa phương cũng được người ta nâng niu bằng vô số những

câu chuyện huyền thoại, truyền thuyết hoá chúng; một mặt, để bồi dưỡng thêm sự

gắn bó, lòng tự hào của người dân; mặt khác, để cho bất cứ ai đến làng mình, nghe

chuyện làng mình cũng phải nhớ, cũng phải ấn tượng...

Cái làng Đông của Bến không chồng dẫu nhỏ bé và cũng bình dị như bao

làng quê khác, nhưng nó lại là cái kho của những huyền thoại. Từ dòng sông, bến

nước, đến bãi tha ma của làng đều ẩn chứa bao câu chuyện thần bí. Nào là chuyện

về hồ “mắt tiên” quanh năm trong vắt, là nơi mà đàn bà con gái làng Đông có nỗi

oan khuất đều trốn ra hồ tắm để được giải oan. Người ta kể rằng, cô Ngần – một

người con gái đẹp nhất làng Đông - bị cha mẹ ép gả cho người cô không yêu nên

đêm tân hôn cô trốn ra hồ nước giữa đồng tự vẫn, từ đó, cái hồ nước tanh hôi như

một vũng nước trâu đằm, lau sậy um tùm, cá rúc, quốc lủi hôi xì, đỉa bơi cung

quăng, ếch nhảy chòm chõm... bỗng trở nên trong vắt quanh năm, cỏ lau lụi tàn,

quốc, cú lủi sạch, đỉa cũng mất tăm và chính nhờ hồ mắt tiên mà gái làng Đông da

cô nào cũng trắng mịn, mang nhiều nét khêu gợi của tiên nữ; Nào là chuyện gò

ông Đổng, nơi yên nghỉ của người con trai làng Đông dũng cảm, không chết nơi

trận mạc mà chết khi trở về nghe tin vợ ngoại tình. Và người ta bảo trai làng Đông

cũng có chí khí khác thường vì mang dòng máu của người chiến binh năm xưa;

Nào là chuyện về con ma ở gốc ruối đầu cánh mả Rốt chuyên hãm hiếp những

người đàn bà goá chồng; Nào là chuyện ba ba thuồng luồng ngoài bến sông...

Rồi đến cái làng Giếng Chùa trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, quanh

năm vật lộn với cái ăn cái mặc, với việc chia ruộng đất, với những mưu đồ về địa

vị..., cũng tồn tại không ít giai thoại. Làng Giếng Chùa không biết từ bao giờ tồn

tại câu ca: “Ai may được ngọc Giếng Chùa , rủi ai núi Bụt thả bùa trêu ma”. Các

câu chuyện được kể đều liên quan đến câu ca đó. Người ta kể rằng hồi làng còn

chùa, còn chiếc giếng làng to bằng gian nhà kè đá ong trước cửa tam quan, người

ta có thể bắt được ngọc ở đó. Hay những câu chuyện ma mãnh trên núi ông Bụt:

ma trêu người trần, ma quyến rũ người trần...

Mỗi làng đều xây dựng những kho truyền thuyết khác nhau và không thua

kém nhau về mức độ hấp dẫn. Những kho truyền thuyết ấy được hình thành từ

tình yêu làng quê thôn xóm thiết tha, sâu lắng, xuất phát từ nhận thức giản đơn,

ngây thơ của người dân và ý thức muốn tôn vinh làng, tôn vinh những con người

của làng mình. Bởi thế nên, thế hệ trước nối thế hệ sau, luôn nhắc nhở nhau một ý

thức: đã là người làng mà “không biết tích làng là hỏng”.

Làng không chỉ là những truyền thuyết, cuộc sống thực của các làng quê với

sự đa dạng, phong phú về các quan niệm, về đời sống tín ngưỡng, về những mối

quan hệ giữa con người với làng, giữa người với người trong đời sống thường

nhật... cũng là một cái mỏ vô tận cho ta khai thác, thưởng thức.

Trong đời sống tín ngưỡng, người Việt Nam nói riêng, người phương Đông

nói chung tiếp thu tư tưởng phật giáo, thường hay có tục thờ cúng ông bà tổ tiên.

Đây là một nét văn hoá đẹp. Đối với các dòng họ ở nông thôn, mỗi năm họ có một

ngày giỗ tổ, hay còn gọi là ngày chạp tổ. Việc này do tộc trưởng chủ trì. Người

trưởng họ có một thứ quyền lực riêng. Trưởng họ còn thường được hưởng ruộng

hương hoả, tự điền để lấy kinh phí lo việc họ. Ruộng hương hoả, tự điền nhiều thì

lễ to, nhà thờ họ lớn, tế khí đầy đủ và ngược lại. Sau này, ruộng đất thuộc sở hữu

toàn dân, không còn ruộng hương hoả, những người trong họ sẽ cùng nhau đóng

góp theo các xuất đinh của từng gia đình ( gia đình có bao nhiêu nam thì tương

đương bằng ấy xuất đinh) để lo sửa sang nhà thờ họ, cúng kính, cỗ bàn... Ngày giỗ

tổ hàng năm là ngày con cháu sinh sống, làm ăn ở khắp mọi nơi về họp mặt đông

đủ để tưởng nhớ tổ tiên, tưởng nhớ những người đã chết và để những người còn

sống trao đổi thông tin về cuộc sống, thắt chặt thêm tình anh em máu mủ ruột già,

dây mơ rễ má...

Dòng họ Nguyễn trong Bến không chồng cũng có những ngày giỗ tổ như

thế. Họ Nguyễn to nhất làng Đông. Từ đường họ Nguyễn cũng to nhất làng Đông.

Ngôi từ đường ấy gồm ba gian cùng với một gian hậu cung, nơi đặt bàn thờ tổ:

“Ba gian từ đường có hai hàng cột cái và hai hàng cột con, cả thảy là mười sáu

cột. Những chiếc cột lim to một ôm đẫy cứ đen bóng lên. Các chân cột đặt tảng đá

xanh nổi vân trắng, nền từ đường lát đá đỏ, ngoài thềm lát đá xanh. Gian hậu cung

cuốn bằng gạch chỉ vữa trộn mật với vôi, cát, rắn như đá. Trên bệ thờ là những

con rồng sơn son thiếp vàng rực rỡ, cỗ ngai đặt ở giữa bệ thờ, có bát hương to lúc

nào cũng toả khói thơm ngát. Gian giữa từ đường thêm bốn câu đối trên bốn cột

cái” [18, tr.22]. Đấy chính là mồ hôi nước mắt của cả họ tộc qua bao đời đã để lại.

Cái cơ ngơi ấy do cụ Nguyễn Nghiên, người đứng đầu dòng họ Nguyễn lúc bấy

giờ cai quản. Gia đình cụ Nguyễn Nghiên mấy đời độc đinh, sau cụ Nguyễn

Nghiên, đến con trai ông là Nguyễn Khiên, rồi cuối cùng là Nghĩa – cháu nội ông.

Lễ chạp tổ được nói đến trong tiểu thuyết rơi vào đời ông Nguyễn Khiên, khi ông

mới hơn bốn chục tuổi. Đấy là cái lễ chạp tổ đầu tiên sau ngày hoà bình, vì vậy,

các cụ trong họ bảo phải làm thật to. Họ bàn bạc, tranh cãi và cuối cùng quyết

định “chín chục mâm, mỗi mâm hai bát năm đĩa. Ban sắp cỗ gồm bảy tay dao thớt,

sáu đàn bà ngồi bếp, hai thanh niên bổ củi, bốn cô gái gánh nước. Ngoài ra còn

các nhân vật chén bát sai vặt.” [18, tr.25]. Có thể nói, ngày chạp tổ chính là ngày

hội, là thế giới tinh thần, vật chất của cả họ. Mỗi năm có một ngày chạp tổ, mỗi

nhà một cảnh, quanh năm làm ăn, bỗng dưng lại tụ tập đánh chén một bữa, đoàn

kết, thân mật, không phân biệt sang hèn, không phân chia địa vị: “từ ông giáo

Thảo đức độ có tiếng, đến nhà chú Bỉnh chuyên đi trộm khoai, trộm chuối, từ ông

Hưng phó chủ tịch đến nhà chú Dĩ ba đời gắp cứt trâu...” [18, tr.27]. Dẫu rằng việc

tổ chức giỗ chạp linh đình, rùm beng như vậy có hơi tốn kém về thời gian và tiền

bạc, lại dễ nảy sinh mê tín dị đoan... Nhưng chính việc ấy, nếu được tổ chức đúng

mức, sẽ phát huy được thuần phong mĩ tục, làm phong phú thêm đời sống tinh

thần của nhân dân ta.

Như đã nói ở trên, cũng như một số nước phương Đông khác, phần đông

người dân Việt theo tín ngưỡng phật giáo, có tập tục thờ cúng người chết vì họ tin

rằng con người có phần hồn, phần xác, có kiếp trước, kiếp sau. Cái quan niệm ấy

có thể khiến người ta sống tốt hơn, lương thiện hơn để tu nhân tích đức cho hậu

thế, tránh quả báo ở đời. Thế nhưng, cái suy nghĩ ấy cũng làm hình thành trong

nhân dân biết bao điều mê tín, bao hành động ngây thơ, mù quáng đến là tức cười.

Bà đồ Khang (Thời xa vắng) thấy con trai bị cảm lạnh, mê man bất tỉnh,

không đi kiếm thầy thuốc mà vội vàng ra sân để “gọi hồn, gọi vía” con về. Quan

niệm dân gian cho rằng con người ta, con trai có “ba hồn bảy vía”, con gái có “ba

hồn chín vía”. Hồn, vía có thể thoát khỏi xác khi giật mình, khi sợ hãi quá, khi ngủ

hoặc là khi ngất xỉu... Thằng Sài sợ đòn, trốn cha ngoài cánh đồng trong một đêm

sương giá nên bị cảm đến mức hôn mê. Với niềm tin như thế, bà đồ Khang và mọi

người hốt hoảng cầu gọi: “Ba hồn bẩy vía thằng Sài đâu thì về”, Bẩy vía ba hồn

Sài ơi về với mẹ đi con”, “Bẩy vía ba hồn thằng Sài ở đâu tthì về với bố , với mẹ

Sài ơi”... Cũng may, ngoài gọi hồn, gọi vía, người ta còn kết hợp với những cách

giải cảm dân gian khác nên thằng Sài mới thoát chết.

Cũng từ những quan niệm mê muội, ấu trĩ ấy mà làng Giếng Chùa (Mảnh

đất lắm người nhiều ma) lổn nhổn, lẫn lộn người với ma, ma với người. Người ta

tin vào cái tài cai trị phần âm của làng của cô Thống Bệu, dù rằng ai cũng biết cô

“vừa giỏi việc âm, lại vừa tài việc dương”, bởi cô cũng có vợ và con đàn cháu

đống hẳn hoi. Người ta tin vào những câu chuyện ma do người này người kia kể.

Người ta cũng tin rằng người chết có thể nhập hồn vào người khác để trả lốt

những ân oán, nợ nần trên cõi trần... Bởi vậy mà cái xã hội Giếng Chùa nhỏ bé

xảy ra biết bao chuyện lạ lùng, ma nhập vào người, người đội lốt ma, có người mê

tín, có người lợi dụng chuyện mê tín..., khiến cho làng Giếng Chùa tồn tại toàn

những ma là ma, cả ma sống và ma chết...

Bức tranh văn hoá làng quê có lẽ thể hiện sinh động nhất trong các mối

quan hệ của con người trong đời sống thường nhật. Tiền thân là một xã hội phong

kiến tồn tại suốt hơn một ngàn năm, ảnh hưởng sâu sắc những chuẩn mực đạo đức

theo quan điểm Nho, Phật, Đạo nên khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa rồi đến

nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời thì những quan điểm ấy vẫn

luôn thực sự ăn sâu bén rễ trong nhân dân. Chính vì thế, trong gia đình người Việt

Nam nói chung luôn có sự nề nếp, có trên có dưới, quan hệ cha – con, chồng – vợ,

anh - chị – em với vai vế rõ ràng. Chẳng thế mà, cha để di huấn bảo phải đào mộ

kẻ thù để giải quyết ân oán, dù sợ run nhưng Trịnh Bá Hàm (Mảnh đất lắm

người nhiều ma) vẫn cứ thực hiện. Thủ (Mảnh đất lắm người nhiều ma) đường

đường là một bí thư đảng uỷ xã, ai cũng nể, cũng sợ, nhưng lại tuyệt đối “chưa

bao giờ Thủ dám trái lời ông anh cả” [52, tr.81]. Rồi tất cả những người phụ nữ

như bà đồ Khang, vợ Tính, Tuyết (Thời xa vắng), bà Khiên, bà Nhân (Bến không

chồng), bà Son, bà Dần (Mảnh đất lắm người nhiều ma)...cũng cung cúc tuân

theo đạo đức phong kiến tồn tại từ bao đời: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu,

phu tử tòng tử”. Cả đời họ chỉ biết tuân phục, hi sinh và cống hiến. Bên cạnh

những người đàn ông của đời mình, họ cam chịu kiếp dây leo, không một lúc nào

dám tự sống, sống cho riêng mình.

Con người bên cạnh cuộc sống riêng tư, những mối quan hệ riêng tư, còn tồn

tại với vai trò là tế bào của xã hội. Nói như vậy có nghĩa là ta đang nói đến mối

quan hệ giữa con người với làng xã, hay nói cách khác là nói đến trách nhiệm của

người dân khi sống trong làng. Cha ông ta nói: “phép vua thua lệ làng”. Có nghĩa

là bên cạnh những luật lệ chung của quốc gia, luôn tồn tại những thứ “hương

ước” của riêng từng làng được hình thành và điều chỉnh qua nhiều đời, không

người dân nào dám chống đối và nó cũng không dễ gì bị phá bỏ. Và những “lệ

làng” ấy hầu như đều hướng tới mục đích xây dựng, phát triển làng tốt hơn, nền

nếp hơn, phồn thịnh hơn.

Con đường chính giữa làng Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma)

dài gần một cây số được lát toàn bằng gạch vồ mua từ dưới Hương Canh – Vĩnh

Phúc, mà lát nghiêng, nên trải qua bao nhiêu thời gian, nó vẫn chắc khừ. Có một

con đường sạch sẽ, đẹp đẽ như vậy là vì từ xưa làng có lệ mỗi đám cưới phải nộp

200 viên gạch: “Trai làng lấy gái làng nộp 200, thế tức là mỗi bên chỉ có 100 viên

thôi. Nhưng nếu trai làng gái làng đi lấy vợ lấy chồng ở đất khác, thì gia đình cũng

cứ phải chồng đủ 200 viên” [52, tr.5]. Ngoài ra, làng còn qui định những người đỗ

tú tài trở lên, những người nhận chức từ lí trưởng trở lên cũng phải mừng làng 200

viên gạch. Những cô gái hoang thai cũng phải tạ làng 200 viên gạch. Đấy là chưa

kể những người đi xa về như ông Quản Ngư cũng bày tỏ nỗi nhớ làng bằng việc

tặng cho làng 200 viên gạch ... Người ta cống hiến cho làng bằng nhiều cách, có

người tự nguyện, có người bị cưỡng ép, có người vui vẻ, có người oán hận... Nhìn

chung, đường làng được lát bằng cả những niềm vui, niềm hạnh phúc, sự kiêu

hãnh về chức danh, và được lát bằng cả những nỗi khổ đau ê chề, sự tủi cực của

những mảnh đời. Nhưng đấy là lệ làng, không ai dám cãi, không dễ phá bỏ, ai

không tuân theo thì chỉ có cách bỏ làng mà đi.

Những định chế của làng cùng lối sống thuần nông khiến cho cuộc sống của

người nông thôn vừa đa dạng vừa vô cùng phức tạp. Mối quan hệ giữa những con

người trong làng trong xã cũng vì thế mà mang nhiều sắc thái, vừa cả nể vừa du

di, vừa dễ dãi vừa khe khắt, vừa tình cảm, khắng khít vừa tọc mạch, ti tiện, vừa tự

ti vừa tự tôn...

Khác với lối sống thờ ơ, đèn nhà nào nhà ấy sáng ở thành phố, ở nông thôn,

hầu như cả xóm, cả làng, cả xã đều biết nhau. Chính điều đó tạo nên quan hệ, lối

sống tình cảm, gắn bó giữa các gia đình trong cộng đồng thôn, xã; tạo nên cái nếp

sống đẹp “tối lửa tắt đèn có nhau” ở các làng quê. Thế nhưng, ngay trong cái tình

đoàn kết, cái kiểu sống “tối lửa tắt đèn có nhau” ấy lại nảy sinh vấn đề phức tạp,

nảy sinh tình trạng “trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã thông”. Hay nói cách khác,

người nông thôn hay có thói quen để ý, xét nét, thóc mách chuyện nhà người khác

và lan truyền thông tin rất nhanh.

Đến cái xóm Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma) trong những

ngày đói ta sẽ thấy ngay điều đó. Vào những ngày giáp hạt, xóm Giếng Chùa nổi

tiếng sung túc nhất xã cũng rơi vào cảnh đói vàng mắt. Nhiều nhà nấu cháo phải

độn thêm rau tập tàng. Nhiều nhà phải luộc chuối xanh chấm muối. Những nhà

thường xuyên túng bấn thì bây giờ đứt bữa hẳn. Cả làng, đi đâu cũng thấy những

mặt người hao gầy, nhớn nhác hớt hải cứ tưởng như đang vội vã đi đâu, nhưng kì

thực chẳng có việc gì hết, cứ ra vào quanh quẩn với cái bụng eo sèo. Ấy thế mà họ

vẫn còn thời gian, sức lực để “quan tâm” đến cuộc sống của người khác. Họ biết

được nhà bà đồ Ngật, “người vẫn quen ăn trắng mặc trơn, phiên chợ nào cũng

xách cái làn mây đi mua hôm thì chân giò lợn ỉ, hôm thì cá chép cả con giãy đành

đạch” [52, tr.6], nay cũng phải ăn bánh mạt ngô, thứ ngô trước đây chỉ dùng chăn

gà. Họ cũng biết gia đình ông Quản Ngư, người “với hai bàn tay trắng đã chu du

đến nửa vòng trái đất”, nói cái gì cũng “độn thêm tiếng Tây, lưỡi cứ đá ngược lên

tận mái ngói, đến quăn cả mồm miệng” [52, tr.7], giờ cũng phải đóng cửa ăn cháo

cám, đến nỗi thằng con bị táo bón phải ôm gốc khế, chổng mông lên cho ông bố

lấy que “đào”. Và trong các cuộc họp chi bộ, họp xã..., người đi họp chưa về đến

nhà thì người ở nhà đã tiếp nhận đầy đủ thông tin cuộc họp do “thông tấn xã vỉa

hè” đưa lại... Cái gần gũi, tình cảm trong đời sống thôn quê đôi khi trở thành thóc

mách, lắm chuyện. Nhưng chính điều đó lại trở thành một nét đặc trưng của văn

hoá làng.

Song hành với thói quen xét nét cuộc sống của những người xung quanh thì

người nông thôn lại rất thích phô trương cuộc sống sung túc của mình cho làng

xóm thấy. Bởi vì, trong tâm thức của họ luôn quan niệm rằng: “Con công hơn con

quạ cũng là ở bộ lông, chứ vặt trụi đi thì ông quyền cao cũng như anh nhọ đít”

[52, tr.75]. Chính vì thế, người ta thích mua sắm, tích cóp được chút tiền nào là lo

sắm sửa đồ đạc. Thậm chí, đói cũng bóp bụng sắm.

Nhà anh Tính (Thời xa vắng) ở trong cái làng Hạ Vị lụt lội và cũng chẳng

giàu có gì, nhưng trong căn nhà của anh vẫn bầy biện và có cung cách ăn ở như

bất cứ một nhà khá giả lịch sự nào trên tỉnh. Khi có khách quý đến nhà anh, họ sẽ

được đón tiếp một cách khá long trọng, bài bản, đến nỗi, khách dù ăn cơm hay chỉ

uống một cốc nước bột sắn cũng không có cảm giác làng Hạ Vị úi xùi. Sở dĩ như

vậy là vì, trong khi cả làng Hạ Vị người ta không thể chấm thịt gà bằng thứ nước

chấm gì khác ngoài món tiết luộc thì nhà Tính, dưới sự cố vấn của thằng cháu đã

được đi tập huấn, tham quan cửa hàng ăn trên huyện, đã có đầy đủ những nguyên

liệu bếp núc cần thiết như: hành, tỏi, hồ tiêu, ca ri, ớt khô, chanh, dấm, dâu ngâm,

sắn dây, rượu thuốc... Khách đến sẽ được hưởng những mâm cỗ thịnh soạn, thức

nào ra thức ấy, chứa chan tình cảm và kiến thức ẩm thực của chủ nhà...; Khách sẽ

không thể biết được cái cảnh vợ con Tính sau đấy, đằng sau cánh cửa bếp, xì xụp

bên những bát đĩa thừa thãi đã được dồn lại, cùng với bát bánh đúc ngô, một món

ăn quen thuộc hàng ngày.

Đến một vùng nông thôn đói nghèo như xóm Giếng Chùa (Mảnh đất lắm

người nhiều ma) nhưng ngay trong những tháng giáp hạt khó khăn, người ta vẫn

thi nhau sắm sửa nào là giường mô-đéc, tủ buýp-phê, tủ lệch đến sa-lông chân

quỳ. Ông bà dạy: “tốt khoe ra, xấu xa che lại”. Người dân ở đây phát triển triệt để

ý nghĩa lời dạy đó. Với họ, đói mà được ngồi sa-lông gỗ lát cũng vênh vang, mát

mặt hơn là no bụng mà để người khác thấy được sự tọa tuệch trong cuộc sống của

mình. Và trong quan niệm của họ thì “khách đến nhà làm sao biết trong bụng chủ

nhà chứa những gì. Rau lang, sắn mốc hay cơm tám giò chả đã qua khỏi cửa

miệng thì cũng là nhập khẩu vô tang, có giời lần!” [52, tr.75]. Thế là có bao nhiêu

người ta cứ phô ra, không có cũng cố kiếm ra mà phô trương. Sở dĩ như vậy là vì

họ không muốn ai coi thường nhà mình, nhất là coi thường vì sự bần hàn. Đầu tư

cho cuộc sống của người sống đã đành, người ta còn đầu tư cho cả người chết.

Trong khi nhiều người trong làng “cái thiếu, cái đói hiện lên từ ánh mắt mệt mỏi

đến nước da mai mái và cặp môi khô, cả hàm răng cũng khô. Tiếng cười thiếu ăn

khô tông tốc” [52, tr.21] thì nhà ông Vũ Đình Phúc tổ chức đám tang cho bố mình

hết sức đàng hoàng, trang trọng, không nề hà tốn kém: ngả một con lợn hơn một

tạ, đóng áo quan bằng gỗ dổi không cần phải sơn mà vẫn vàng ươm, mời phường

bát âm lớn theo đúng nghi thức cổ truyền, tổ chức lễ cầu hồn hết sức tốn kém, làm

cỗ mời cả làng... Họ Vũ Đình là họ lớn trong làng, ông Phúc muốn làm tất cả

những việc ấy để dân làng nhìn vào, để cho dòng họ đối địch Trịnh Bá phải tức tối

vì ghen tị.

Hay xét nét, thích phô trương, tính câu nệ, cả nể..., những đặc điểm chung

về tính cách của người nông thôn khiến cho họ đối xử với nhau trong cuộc sống

thường nhật rất tình cảm nhưng cũng rất khách sáo theo kiểu “hòn đất ném đi, hòn

chì ném lại”. Vợ chồng anh Tính (Thời xa vắng) đã xúc động đến run người khi

Châu – vợ Sài về ra mắt đã sắm sửa một mâm cỗ nhỏ để cúng bàn thờ tổ gia đình

chồng, mua mấy gói kẹo đưa chị dâu chia cho các cháu...Anh chị thích sự quan

tâm chu đáo của Châu. Sự chu đáo ấy khiến cho anh chị yên tâm là cô em dâu

người Hà Nội không hề xem thường gia đình chồng quê mùa lam lũ. Và với niềm

xúc động chân thành đó, bao khó khăn, vất vả vì phải chạy đôn chạy đáo lo đồ

cưới cho thắng em đều tiêu tan. Anh chị còn cố gắng hết sức, kể cả việc cắt phần

ăn của các con để lo cho được một đám cưới “không hề có sự cách biệt giữa quê

và tỉnh”. Hay như nhà ông Hàm (Mảnh đất lắm người nhiều ma), mỗi lần gặt,

nhà nhiều ruộng phải nhờ anh em họ hàng. Và mỗi lần như vậy, ông Hàm lại tổ

chức ăn rất sang: “cá kéo dưới ao, gà nhốt sẵn trong chuồng, rượu cất từ mấy hôm

trước” [52, tr.176]. Những bữa ăn như vậy vừa là để chứng tỏ uy thế, sự sung túc

của chủ nhà; vừa là để anh em trong gia đình thêm tình cảm; vừa là sự trả ơn tế

nhị của chủ nhà.

Trong quan hệ gia đình, người nông thôn còn giữ một mối quan hệ vừa tình

cảm, thân mật vừa giữ kẽ, khách sáo đến vậy. Trong quan hệ xã hội, quan hệ xóm

làng, sự câu nệ, khách sáo ấy lại càng lắm nhiêu khê. Như đã nói ở trên, Vũ Đình

Phúc (Mảnh đấtlắm người nhiều ma) tổ chức đám tang cho cha rất linh đình, có

cỗ bàn mời cả làng. Và trong cái đám tang ấy, dù đau xót vì cha chết, dù mệt mỏi

vì là người đóng vai trò đứng mũi chịu sào, nhưng ông Phúc vẫn không quên phân

công người ghi chép lại tên những người tới phúng viếng để “sau này người ta có

đám, mình còn nhớ phúc đáp lại” [52, tr.33]...

Có thể nói cuộc sống của nhân dân ba làng: làng Hạ Vị (Thời xa vắng), làng

Đông (Bến không chồng), làng Giếng chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma),

mỗi làng có một nét văn hóa riêng, có những tập tục riêng. Những sự khác biệt ấy

tạo nên sự phong phú, đa dạng cho bức tranh văn hoá chung của dân tộc; đồng

thời, cũng khẳng định nét đặc sắc riêng trong đời sống văn hoá tinh thần của mỗi

vùng quê. Tìm hiểu những bức tranh văn hoá này, ta sẽ phần nào hình dung được

các quan niệm, lối sống, tính cách của con người ở những nơi này. Chính điều ấy

sẽ là chiếc chìa khoá mở cánh cửa khám phá những vấn đề nông thôn mà ba tác

phẩm trên đã thể hiện.

1.2. Một xã hội nhức nhối những vấn đề nóng bỏng khó giải quyết

1.2.1. Nông thôn với những lý tưởng và niềm đau trong chiến tranh

Trong ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm

người nhiều ma, không tác phẩm nào miêu tả trực tiếp chiến tranh, nhưng chúng

đều cập đến chiến tranh. Và trong những bức tranh loang lổ những dấu tích của

chiến tranh ấy, người đọc vẫn cảm nhận trọn vẹn cái không khí rực lửa, lý tưởng

cao đẹp, niềm khát khao cống hiến, niềm kiêu hãnh về thành tích chiến trận...

Đồng thời, cũng qua những bức tranh loang lổ ấy..., độc giả cũng hình dung được

phần nào những nỗi đau, những mất mát mà con người phải chịu trong chiến

tranh, kể cả người ở tiền tuyến lẫn người ở địa phương. Hay nói cách khác, ở các

tác phẩm này, chiến tranh được nhìn nhận cả dưới góc độ lý tưởng lẫn thực tế

nghiệt ngã của nó.

Dưới góc độ lý tưởng, chiến tranh đã đem đến lý tưởng sống, niềm tự hào,

sự kiêu hãnh cho con người, là nơi khẳng định phẩm giá của con người tốt nhất

suốt cả một thời, hết chống Pháp lại chống Mĩ.

Chẳng thế mà Nguyễn Vạn (Bến không chồng), một thằng bé mắt toét đi ở

chăn trâu cho nhà địa chủ Hào, quanh năm mặc quần cộc phơi tấm lưng trần đen

nhánh trên lưng trâu, bỏ làng đi đã lâu, nay trở về đã hoàn toàn khác, tự tin, đĩnh

đạc và “đố ai còn dám coi thường”. Bởi vì “chẳng gì Nguyễn Vạn cũng là lính

Điện Biên chiến thắng trở về” [18, tr.6]. Vạn là anh hùng. Vạn là anh hùng của

dân làng Đông, anh hùng của dòng họ Nguyễn, anh hùng của cả chính bản thân

mình. Trong kháng chiến chống Pháp, Vạn đã tham gia bằng tất cả sự dũng cảm,

sự liều lĩnh và có lẽ cả bằng khát khao muốn rũ bỏ cuộc sống tủi cực thủa ấu thơ.

Thế nên,khi bị thương ngoài mặt trận, máu chảy ra ướt đẫm cả quần áo đau điếng

mà Vạn vẫn cố cười: “Vạn cười rống lên để khỏi khóc, Vạn cười đến khi ngất xỉu

lúc nào không biết nữa” [18, tr.6]. Những tháng năm đau thương và gian khổ ấy

đã đem lại cho thằng bé Vạn thủa xưa một cuộc đời mới, một giá trị mới. Với

“những tấm huân chương rủng rỉnh lấp lánh trên ngực áo Vạn”, người ta không

nhớ thằng Vạn mắt toét, đầu trần chân đất nữa mà chỉ kính trọng, trìu mến khi

nhắc đến chú Vạn, chú Vạn Điện Biên...Đấy là niềm tự hào, niềm kiêu hãnh của

Vạn, của cả họ tộc. Chẳng thế mà, đi đâu Vạn cũng nhắc đến nó. Nói chuyện với

mọi người cũng: “hồi ở Điện Biên”. Răn dạy đám thanh niên trong xã cũng: “ hồi

ở Điện Biên”. Xảy ra chuyện gì cũng ngẫm nghĩ, liên hệ tới “ hồi mình còn ở Điện

Biên”... Vạn tự cho rằng mình “nên được người là nhờ cái thời đánh Pháp”.

Những hào quang của quá khứ luôn mới, luôn sống động trong cuộc sống của

Vạn. Nó yêu cầu Vạn sống tốt để xứng đáng với nó. Nó khiến Vạn giữ lại tất cả

những kỉ niệm của một thời: chiếc ba lô, bộ quân phục rách nát đã vá đi vá lại...

Và cái lí tưởng, nhiệt huyết của người lính Điện Biên năm xưa vẫn tồn tại, vẫn

nguyên vẹn tươi mới trong trái tim bác Vạn, lão Vạn của những năm chống Mĩ.

Khi làng Đông bị máy bay Mĩ vào không kích, cả làng ai cũng sợ, chỉ có Nguyễn

Vạn một mình âm thầm lặng lẽ xách cây súng của thời Điện Biên năm xưa ra nằm

trên gò phục bắn lại cho đỡ tức. Không có chiếc máy bay nào bị bắn rơi, nhưng

không thể nào không ghi nhận sự nhiệt tình , lòng dũng cảm của ông trong chiến

đấu. Có thể nói, Nguyễn Vạn luôn sống bằng những niềm tin, niềm kiêu hãnh,

những chân lý mà cuộc đời binh nghiệp đã trang bị cho ông. Hình ảnh chú Vạn

Điện Biên phần nào trở thành quan niệm thẩm mĩ về người đàn ông của làng

Đông lúc bấy giờ. Và người ngưỡng mộ, chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ Vạn là đứa

cháu trai trưởng họ của anh – Nghĩa.

Ông bà Khiên chỉ có một mình Nghĩa. Nghĩa sẽ là trưởng tộc của dòng họ

Nguyễn. Và, Nghĩa vừa mới lấy vợ, vẫn đang say đắm, ngất ngây trong cảm giác

tân hôn. Vậy mà, tạm dứt bỏ tất cả, cũng như nhiều trai tráng của làng Đông, theo

lời động viên của chú Vạn, của chính quyền xã, Nghĩa quyết định lên đường nhập

ngũ. Khi đi, Nghĩa phải dấu cha, bởi ông Khiên nhất định không đồng ý: “tôi còn

mỗi mình thằng Nghĩa. Cả họ Nguyễn nhà ta còn mỗi mình nó...” [18, tr.88].

Chính điều này đã khiến Nghĩa vô cùng ân hận. Nghĩa ân hận không phải vì đã

trốn cha ra đi mà ân hận vì đã không hiểu nỗi lòng cha mình. Đúng là ông Khiên

không muốn Nghĩa đi bộ đội mà muốn Nghĩa ở nhà lo việc họ tộc. Nhưng ông

Khiêm cũng là người biết suy nghĩ, biết xấu hổ và trọng danh dự nên việc Nghĩa

lén lút lên đường nhập ngũ khiến ông có cảm giác mình là kẻ hèn nhát, ích kỉ...

Ông đã chết trong đau khổ. Nghĩa đau đớn vì khiến cha buồn, đau đớn vì không về

kịp để gặp cha lần cuối. Thế đấy, để thực hiện được lý tưởng của người trai thời

loạn, vì đất nước, Nghĩa phải quên tình nhà; vì sự nghiệp chung, Nghĩa phải tạm

gác lại hạnh phúc riêng. Mà đâu phải chỉ có Nghĩa, ngoài Nghĩa ra còn những

thanh niên khác của làng Đông cũng hăm hở ra trận, hăm hở cống hiến như: anh

Thành thương binh, anh Biền, Hiệp, Hà, thằng Tốn...Mỗi người đều có mặt này

mặt khác, nhưng cái phần hào hùng đẹp đẽ của họ thì thật đáng yêu và đáng trọng.

Tiểu thuyết Thời xa vắng cũng khắc họa chân dung một loạt những con

người say sưa tiến bước theo lý tưởng cách mạng, từ người cầm quân, quản lý

chính trị cấp trung đoàn cho đến anh nông dân cù nần mới nhập ngũ. Họ cống hiến

hết mình để phục vụ cho công cuộc kháng chiến chống Mĩ. Sự oanh tạc của đế

quốc Mĩ trên khắp đất nước đã làm bùng nổ lên lòng căm giận và ý chí quật cường

vốn đã dư thừa của mỗi người dân. Mọi người thi nhau ra chiến trường. Người đã

là quân nhân viết đơn tình nguyện đi B. Người đang là thanh niên ở nông thôn, ở

nhà máy, ở trường học thì viết đơn xin nhập ngũ. Hầu như đã là thanh niên thời

bấy giờ, ít ra ai cũng một lần tình nguyện cầm súng sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc,

cho thắng lợi của miền Nam. Tất cả vì miền Nam ruột thịt. Có những lá đơn viết

bằng mực. Có những lá đơn viết bằng bút chì. Thậm chí, có những lá đơn được

viết bằng máu... Trong những lá đơn ấy, có hai lá đơn được viết bằng máu chích

ra từ cánh tay của một chiến sĩ trung đoàn bộ phòng thủ bờ biển: Giang Minh Sài.

Khi tình nguyện tham gia chiến trận, người ta thường hay xét đến động cơ. Nếu

nói đến động cơ, Giang Minh Sài đi bộ đội, tình nguyện đi B hoàn toàn không

phải thuần tuý là động cơ yêu nước, căm thù giặc Mỹ. Sài đi bộ đội là để trốn

tránh cuộc sống hiện tại, cuộc sống làm chồng, trốn tránh tai tiếng của mối tình

vụng trộm với Hương. Vì cái động cơ ấy, Sài sẵn sàng lao vào học tập, lao động

không biết mệt mỏi, thậm chí sẵn sàng xung phong đến chỗ nguy hiểm, đến cái

chết. Dẫu là vậy, nhưng khi vào đến chiến trường, trực tiếp đối diện với sự khốc

liệt của chiến tranh, nhất là chứng kiến cái chết của Thêm, người đồng đội vì

thương anh thèm rau, đi tìm miếng rau cho anh ăn khỏi xót ruột mà bỏ mạng thì

Sài đã thực sự trở thành chiến sĩ. Sài đã chiến đấu hết mình, chiến đấu một cách

ngoan cường và thông minh. Dưới tài chỉ huy của trung đội trưởng Giang Minh

Sài, những khó khăn, nguy hiểm của các chiến sĩ lái xe khi đến dốc “bung trôi”,

ngầm “mất tích” được giải quyết nhanh gọn. Cũng nhờ tài phán đoán của Sài mà

một trung đội thiếu của ta đã đánh tan một trung đoàn đủ của đối phương. Và

chính Sài đã trực tiếp bắn rớt máy bay của giặc, bắt sống giặc lái. Chiến tranh đã

làm cho một con người sống không có niềm vui, không có lý tưởng như Sài trở

nên sống có ích, trở thành anh hùng. Chiến tranh đã biến anh thành con người bất

chấp gian khổ, bất chấp hi sinh. Hay nói cách khác, đối với anh trong cuộc chiến

đấu một mất một còn, từng giây từng phút này không hề có gian khổ, hi sinh, bởi

vì không bao giờ anh nghĩ tới nó, cũng không bao giờ, ở đâu những hi sinh, gian

khổ lại có thể cản được nhiệt tình cách mạng, ý chí kiên cường của anh.

Xung quanh Sài còn nhiều người khác như: chính uỷ Đỗ Mạnh, anh Hiểu,

anh Hiền, những người đồng đội, cấp trên của Sài. Những con người này cũng

một lòng một dạ phục vụ cho cách mạng, cố gắng đào tạo ra những con người

cách mạng đúng chuẩn mực phục vụ cho công cuộc kháng chiến của dân tộc.

Ngay cả việc góp phần gây ra bi kịch của đời Sài cũng xuất phát một phần vì tình

thương đối với Sài, một phần vì cố gắng thực hiện cho trọn vẹn nhiệm vụ trước

Đảng.

Một nhân vật khác chỉ xuất hiện thoáng qua trong tiểu thuyết Mảnh đất

lắm người nhiều ma nhưng vẫn để lại ấn tượng trong lòng người đọc, đó là chính

trị viên Thông. Trong một trận đánh giáp lá cà giữa bọn lính dù, lính thuỷ đánh bộ

của địch với đại đội của Thông, do bên ta không cân sức, lại không quen đánh bộ

binh nên nhóm quân do Thông chỉ huy bị chết gần hết, chỉ còn lại Thông và người

chiến sĩ quân khí. Đau đớn trước những cái chết thê thảm của đồng đội, lại thêm

việc phát hiện ra khẩu pháo mới chữa đang để trong ụ làm dự phòng đã bị địch

chiếm mất, chính trị viên Thông đã tự kết liễu đời mình bằng một phát súng vào

đầu. Tài sản của người lính trận là vũ khí, bị tước mất vũ khí, phải chăng anh chết

vì uất ức trước một tổn thất quá lớn, và chết vì không làm tròn trách nhiệm của

một người chỉ huy.

Chiến tranh và những lý tưởng cao đẹp của nó đã tạo nên những bộ mặt,

những cuộc đời chiến sĩ khác nhau. Vì lý tưởng cách mạng cao đẹp, người ta sẵn

sàng hi sinh những nhu cầu cá nhân, những hạnh phúc riêng tư, hi sinh cả mạng

sống của mình. Đấy là sự thể hiện cao nhất trách nhiệm của con người đối với đất

nước, đối với dân tộc.

Nhưng bên cạnh những lý tưởng cao đẹp ấy, thực tiễn của chiến tranh cũng

vô cùng khốc liệt. Cái khốc liệt ấy tác động đến con người cả dưới góc độ vật chất

lẫn tinh thần, nó gây lên biết bao bi kịch cho con người.

Nguyễn Vạn (Bến không chồng) vì say mê với lý tưởng của đời mình,

muốn gìn giữ chút hào quang thủa chiến trận mà đã quên đi con người cá nhân,

quên đi những khát vọng hạnh phúc chính đáng của cá nhân. Đến khi được hưởng

một chút hạnh phúc thì lại tự cho đó là điều tội lỗi, là tự đánh mất tên tuổi, đánh

mất lòng kiêu hãnh của bản thân... Nguyễn Vạn là người quá lý tưởng hoá những

gì mà mình theo đuổi nên mắc phải sai lầm. Mục đích của cách mạng là đem tới

cho con người một cuộc sống mới vui vẻ, hạnh phúc, đâu phải khiến người ta sống

khổ hạnh, đáng thương hơn.

Cũng là những con người quá cứng nhắc trong việc thực hiện lý tưởng của

Đảng, Hiểu, Hiền (Thời xa vắng) đã tiếp tay đẩy Sài lún sâu vào bi kịch của đời

anh. Hiểu thì ngăn chặn tình cảm giữa Sài và Hương. Hiền thì theo sát Sài trong

những ngày Sài về quê, khuyên nhủ và thậm chí như ra lệnh cho Sài phải yêu vợ,

vào ngủ chung với vợ. Hiểu và Hiền làm tất cả những điều ấy xuất phát từ mong

muốn những chiến sĩ trong khu vực mình quản lý đều tốt, đều tiến bộ; vì họ yêu

quý, quan tâm đến Sài, không muốn lý lịch quân nhân của Sài có tì vết, ảnh hưởng

đến việc vào Đảng và quá trình tiến thân của Sài..., Hiểu và Hiền, những người

lãnh đạo phần tư tưởng lại mắc sai lầm về tư tưởng, vô tình đào tạo ra những con

người “sống hộ”, yêu quý những gì mà chỉ huy yêu, ghét cái mà chỉ huy ghét,

không có lối sống của riêng mình. Chính uỷ Đỗ Mạnh thức thời hơn về mặt tư

tưởng, nhưng cũng như đa số cán bộ quân đội lúc bấy giờ, ông không dám bứt

phá, không dám bước ra khỏi cái nếp quen trong suy nghĩ, trong cách quản quân

lúc bấy giờ, vì vậy, dù hiểu, dù thương thằng cháu của bạn, nhưng ông cũng

không làm được điều gì hơn cho Sài.

Cũng vì những cái gọi là lý tưởng, đôi khi nó gây ra những chuyện buồn

cười. Hiểu (Thời xa vắng) chỉ vì có một bộ đồ dân sự rất “kẻng”: “một sơ mi

đuôi tôm trắng tinh, một quần kaki Pháp màu be, một săng đan quai vàng. Tất cả

đều sát sỉnh, hợp với cái dáng cao thon và màu da trắng trẻo của anh” [trang 134]

để mặc trong những ngày nghỉ mà mang tiếng “biến chất”, “cắm đuôi tiểu tư sản”,

“có vấn đề”... Bao nhiêu tội thuộc về tư tưởng được gán cho Hiểu, và mặc dầu

được chính uỷ Đỗ Mạnh bênh vực, Hiểu vẫn phải tự trở nên “giản dị”, “hoà mình

với quần chúng”, “lập trường vững vàng”, “đạo đức trong sạch”, “tiến bộ”...bằng

một sự cọc cạch phản bội lại cái đẹp.

Có câu nói: “Mọi lý thuyết chỉ là màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh

tươi”. Những con người sống và làm việc theo một lý tưởng cao đẹp nhưng lại

máy móc quá, cứng nhắc quá, thành ra gây khổ cho người khác và tự làm khổ

chính mình.

Chiến tranh không chỉ chi phối đến mặt tư tưởng mà còn gây đau thương

trên tất cả các khía cạnh khác của cuộc sống con người.

Chiến tranh khiến cho Nguyễn Vạn (Bến không chồng) có một vết thương

ở bả vai và một ống chân bị gãy, làm bước đi của Vạn cứ tập tễnh.

Chiến tranh khiến cho Nghĩa (Bến không chồng) không chỉ có tội làm cho

bố anh chết trong đau khổ mà còn cướp mất đi khả năng làm cha của anh. Như đã

nói ở trên, Nghĩa là con trai duy nhất trong gia đình, anh lại là trưởng tộc có trách

nhiệm lớn nhất trong việc xây dựng dòng họ Nguyễn. Chiến tranh cướp mất khả

năng làm cha của anh, có nghĩa là nó không chỉ cướp đi chính tương lai của anh

mà còn cướp đi tương lai của cả dòng tộc nhà anh, khiến anh vô tình đem lại đau

khổ, bất hạnh cho Hạnh và Thuỷ, hai người đàn bà yêu anh và luôn sẵn sàng hi

sinh vì anh. Có niềm đau xót nào hơn!

Chiến tranh cũng làm cho Thành (Bến không chồng) bị bom cháy bỏng

toàn thân, dị dạng, xấu xí, mặt sần sùi phồng dộp lên đỏ lừ, đến nỗi, bố mẹ anh

cũng không nhận ra con mình. Và với khuôn mặt ấy, người ta cảm thông, người ta

thương xót, người ta vẫn quý mến bản chất con người anh, nhưng không có một

cô gái nào dám gắn kết cuộc đời với một khuôn mặt gớm ghiếc đến như vậy. Ngay

cả Cúc, nghe mọi người gán ghép, đã nhận trầu rồi cũng đành trả lại, chịu làm lẽ

ông Ba Chương, chứ không tài nào yêu Thành được. Tuổi trẻ, sức trai đã cống

hiến hết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, những tưởng rồi sẽ được hạnh phúc,

nhưng đến khi trở về, Thành lại phải sống cả cuộc đời với khuôn mặt dị dạng,

không vợ, không con.

Những người đàn ông trực tiếp tham gia chiến trận phải chịu mất mát đau

thương do chiến tranh đem lại đã đành, người ở hậu phương cũng chịu không ít

khổ đau, đặc biệt là những người phụ nữ.

Những người phụ nữ ấy là những người mẹ có con đi chiến trận. Bà Khiên

(Bến không chồng), cả đời không biết nói dối, đã phải nói dối chồng để cho con

trai lên đường nhập ngũ. Nhưng khi nó đi rồi thì ốm o, gầy mòn trông ngày con

trở về. Cũng như nhiều phụ nữ thương con thời bấy giờ, bà ước ao con bà bị cụt

tay hay què chân, miễn là còn sống để trở về. Thậm chí, một giấc mơ bà cũng lấy

đó làm tin để nhẩm tính ngày con trở về nhà. Đến khi Nghĩa được trở về, bà vẫn

chưa hết buồn lo, bởi vợ chồng Nghĩa không có con. Nghĩa và Hạnh ly hôn, bà

thương Hạnh nhưng vẫn phải đồng ý. Nghĩa cưới Thủy, bà không phản đối. Bởi

vì, cả đời làm dâu nhà họ Nguyễn đầy cơ cực nhưng bà đã hoàn thành xong nhiệm

vụ. Giờ đến cuối đời, bà chỉ mong con bà có đứa con trai để hoàn thành trách

nhiệm trưởng tộc. Nghiệt ngã thay, cho Nghĩa bỏ Hạnh, bà đã tự coi như mình làm

điều ác, vậy mà số phận vẫn không đem đến cho con bà, dòng họ Nguyễn nhà bà

niềm hi vọng.

Hay như bà Nhân (Bến không chồng). Bà Nhân đã cống hiến cho đất nước

dường như tất cả những gì bà có: chồng và hai người con trai.Khi đất nước rạo rực

trước tin chiến thắng Điện Biên thì ở nhà, chị Nhân đang vật lộn với một nỗi đau,

nỗi mất mát quá lớn: chồng chị đã hi sinh, để lại một mình chị với ba đứa con còn

nhỏ dại. Nỗi đau mất chồng vừa nguôi ngoai, bà lại lần lượt tiễn hai con trai của

mình lên đường chống Mĩ. Thế rồi, thằng Hà, con trai trưởng của bà cũng đi theo

cha nó. Bà nhận tin báo tử của con trai bằng thái độ điềm tĩnh đến lạnh lùng, mặt

chỉ hơi tái đi. Bà không gào, không khóc “mắt ráo hoảnh không có lấy giọt nước

mắt” [18, tr.137]. Bà không khóc bởi ngày hôm trước mấy ông trên xã đi qua, ông

nào cũng liếc mắt vào nhà, bằng linh cảm người mẹ, bà đã hiểu là có chuyện và đã

âm thầm khóc khô cả nước mắt suốt đêm. Bà không khóc còn bởi vì bà là vợ, là

mẹ liệt sĩ, bà phải “vững vàng” để làm gương cho những bà mẹ khác trong làng.

Tưởng đâu những đau thương mất mát của đời bà đến thế là hết. Tưởng đâu chồng

và đứa con trai đầu đã gánh hết mọi rủi ro, và bà đinh ninh thằng út sẽ không thể

chết, nó sẽ trở về với bà. Nhưng điều đó không thành hiện thực. Bà lại phải tiếp

tục nhận tin thằng Hiệp bỏ bà ra đi ngay ngày làng Đông đón nhận tin miền Nam

hoàn toàn giải phóng. Ai cũng thấy “cả làng Đông này chỉ có mỗi bà Nhân là đau

đớn nhất” [18, tr.186]. Những mất mát quá lớn, sự đè nén cảm xúc trong bao

nhiêu năm qua bao biến cố, bây giờ bà Nhân không cần và không thể giấu mình để

làm gương cho người khác nữa. Bà gào khóc vật vã. Bà có cảm giác con người

mình như hẫng đi, rơi tõm xuống một cái hố sâu thăm thẳm. Bà tự thấy mình là

người có lỗi trong cái chết của chồng và các con. Đêm đêm, bà mơ thấy chồng con

về hạch tội mình. Chồng bà trách: “Mình là kẻ giết người là mụ đàn bà ác độc! Tôi

đã hi sinh rồi sao mình không để cho các con được sống?” [18, tr.215]. Thằng Hà

cũng trách: “Bố và con đã đi rồi, sao mẹ không để cho em con được sống?”

[18, tr.215]. Thằng Hiệp cũng oán hờn: “Sao mẹ lại vui mừng khi con đi vào chỗ

chết?” [18, tr.215]. Người đàn bà khốn khổ ấy mãi ám ảnh trong cảm giác tội lỗi.

Nhưng bà cũng chỉ làm những việc như nhiều người đàn bà cùng thời khác, hiến

dâng cho tổ quốc những người thân yêu của mình, đi vận động thanh niên lên

đường nhập ngũ, an ủi các mẹ, các chị có chồng đi chiến đấu và đau đớn đến xé

lòng khi chính mình phải nhận sự an ủi của người khác. Đến cuối đời, bà chỉ còn

chỗ dựa, niềm vui, niềm tin duy nhất là đứa con gái út. Nhưng chiến tranh cũng

tước đoạt lốt chút niềm vui của tuổi già, khi cuộc hôn nhân của cái Hạnh không

được trọn vẹn mà lí do cũng là ảnh hưởng hậu quả của chiến tranh.

Chiến tranh còn đem bi kịch đến cho những người phụ nữ có chồng đi

chiến đấu. Ta nhìn thấy điều ấy qua cuộc đời của những cô Hạnh, cô Lài (Bến

không chồng), cô Lạc, chị Sang (Mảnh đất lắm người nhiều ma). Khi người

đàn ông đi chiến đấu, người phụ nữ ở nhà chịu bao gian khổ. Lo phục dưỡng,

chăm sóc bố mẹ chồng, gia đình nhà chồng, con cái. Lo lao động sản xuất... Và sự

cực nhọc nhất không phải là những nghĩa vụ được gọi thành tên, mà nó không tên,

nó nằm ngay trong bản thân các chị. Đó là niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi. Đó

là những đòi hỏi của bản năng khi lâu ngày vắng đi hơi ấm của người đàn ông.

Thật là xót xa cho những người phụ nữ còn đang lạ lẫm, ngất ngây trong

tuần trăng mật đã phải xa chồng như Hạnh và Lạc. Hai nhân vật được xây dựng ở

hai cuốn tiểu thuyết khác nhau nhưng lại gặp nhau ở cảm xúc, nỗi mong nhớ

chồng đến khắc khoải.

Hạnh, một người phụ nữ đằm thắm, nhu mì, trong sáng, chịu thương chịu

khó và chín chắn. Cuộc đời Hạnh chỉ có một mối tình duy nhất, đó là tình yêu

dành cho Nghĩa. Vừa mới lấy chồng được mấy ngày, vẫn còn đang trong cảm giác

lâng lâng của một cô gái mới lớn vừa khám phá được bí mật của cuộc sống người

lớn, Hạnh đã phải bịn rịn tiễn chồng lên đường nhập ngũ. Từ đó, đằng đẵng bảy

tám năm trời, Hạnh ở nhà chạy qua chạy lại giữa hai bà mẹ: mẹ đẻ và mẹ chồng.

Suốt bằng ấy năm, Hạnh sống vò võ, đau đáu chờ mong. Hạnh ao ước nhận được

một lá thư, hay chỉ cần Nghĩa viết cho một câu “anh còn sống” mà cũng không có.

Từng ấy năm, Hạnh chỉ sống bằng những hồi tưởng, những kỉ niệm đã có giữa hai

vợ chồng. Sự chờ đợi, thời gian đã khiến cho cô Hạnh trẻ trung, căng tràn sự sống

ngày nào dần trở nên tiều tụy, khô héo và thấp thoáng sau khuôn mặt, ánh mắt là

những điều u uẩn. Dẫu vậy, Hạnh phải luôn che giấu cảm xúc của mình. Với mọi

người, Hạnh phải tỏ ra lạc quan, vững vàng để làm gương cho những cô gái khác

vì cô là đoàn viên trong một chi đoàn gần như toàn phụ nữ. Trước người thân,

Hạnh cũng phải cứng rắn vì Hạnh là chỗ dựa duy nhất của hai bà mẹ. Với lại, chú

Vạn luôn bên cạnh động viên nhắc nhở Hạnh phải thế. Chỉ đến khi một mình với

dòng nước sông mát lạnh đầy gợi cảm ở bến Không Chồng , Hạnh mới chịu bất

lực, để cho cảm xúc của mình được tự do. Lúc ấy, Hạnh nhớ chồng, nhớ những

phút ái ân với Nghĩa đến quay quắt, tức tưởi. Nỗi nhớ ấy khiến đầu óc, cơ thể

Hạnh như muốn căng ra, rung lên ngây ngất đi tìm lạc thú trong hoang tưởng,

trong sự ve vuốt của dòng sông. Nỗi nhớ ấy trở thành ám ảnh, khiến Hạnh có ảo

giác bị con ma mắt đỏ ở đầu cánh mả Rốt chuyên săn phụ nữ góa chồng hãm hiếp.

Hạnh phát bệnh vì tương tư.

Lạc cũng xa chồng ngay sau một tuần hương lửa mặn nồng. Nhưng, Lạc

không phải là người phụ nữ giỏi chịu đựng, giỏi đè nén cảm xúc. Chồng ra trận ít

lâu, Lạc ở nhà đã “tòm tem” với những người đàn ông khác, từ anh đội trưởng đội

sản xuất hay chấm công cho Lạc, đến ông phó chủ nhiệm phụ trách ngành nghề

xây dựng trong xã, đến anh chủ nhiệm cửa hàng mua bán xã bẻm mép trai lơ.

Lăng nhăng như vậy nhưng không phải Lạc không yêu chồng. Khi chồng Lạc –

Trung tá Chỉnh – được nghỉ phép, thì “suốt ngày Lạc quấn quýt, nấu nướng chăm

sóc chồng như chăm sóc bố già, như chăm sóc con trẻ. Đôi má bánh đúc cứ đỏ

rừng rực. Đi lại núng nính, tung tẩy. Cô sung sướng. Cô hạnh phúc. Cô yêu

chồng” [52, tr.194]. Không những thế, Lạc còn làm những ba mâm cơm thịnh

soạn, mời cả ban quản trị đến dự để tiễn chồng lên đường, khiến cho “có đến mấy

ông cứ liếc nhìn nhau ngượng ngập”. Sở dĩ Lạc vẫn vừa yêu, vừa phạm lỗi với

chồng bởi vì cô không thể đêm nào cũng “đổ thóc vào xay”, “đổ gạo vào giã”; cô

lại chưa có con, bà mẹ già có ăn đến bốn bữa một ngày cô vẫn chạy thừa gạo, cô

chẳng có điều gì để mà lo toan, để mà tất bật, để quên đi những đòi hỏi thầm kín

nhưng dữ dội trong lòng mình. Với lại, cô không thể chấp nhận được cuộc sống

“hết năm này sang năm khác cứ vò võ một mình quay bên nào cũng giá như

đồng”, bởi “đời người được mấy cái xuân”...

Cách sống thoải mái, không gò ép của Lạc khiến người ta vừa chửi vừa e

sợ, vừa khinh vừa thèm muốn. Mấy người đàn bà chính chuyên hay bĩu môi nguýt

dài, hay lên giọng dạy dỗ Lạc lại rất sợ Lạc, luôn nơm nớp lo sợ chồng mình bị

hút vào “cái lò than”, “ cái vực xoáy” ấy. Đến như chị Sang, người duy nhất mà

Lạc còn kính nể, người luôn gần gũi và không bao giờ lên mặt dạy đời với Lạc

cũng còn rơi vào mâu thuẫn ấy. Một lần chứng kiến tận mắt sự lang chạ của Lạc,

bỗng dưng chị cảm thấy vừa giận, vừa ghét, mà lại vừa ghen ghen với Lạc. Bởi

chị cũng là người phụ nữ có chồng đi chiến đấu xa nhà đã lâu. Bởi chị đang ở tuổi

hồi xuân. Và bởi chị cũng như Lạc có những khát khao cháy bỏng nung nấu trong

tim, khác chăng là chị không thể vô tư, sống tự do theo bản năng giống như Lạc.

Cũng có những người phụ nữ không lẳng lơ, không có con mắt lá khoai

“liếc chồng thì ít, liếc trai thì nhiều” như Lạc, nhưng vẫn để đời cái tội phản bội

chồng. Đấy là chị Lài, mười năm chung thuỷ chờ chồng, nhưng phụ nữ “khôn ba

năm dại một giờ”, gần đến ngày độc lập lại bị một lần sa ngã với một người đàn

ông khác, để mẹ chồng bắt quả tang. Thế là, nơm nớp lo sợ, không biết chồng về

có thông cảm cho không và xử lý ra sao.

Những người phụ nữ có chồng rồi chịu đau khổ một kiểu, những người con

gái chưa chồng cũng chịu nỗi buồn chiến tranh theo một kiểu khác. Có những cô

gái cả đời ôm một mối tình với người trai chiến trận, đến khi hết chiến tranh thì đã

qua thời xuân sắc, hoặc người yêu vĩnh viễn không bao giờ trở về. Chẳng hạn như

Dâu, một cô gái vừa đáo để, vừa đa cảm, đa tình trong Bến không chồng. Dâu đã

yêu và chờ đợi Hiệp, thậm chí còn qua ở và chăm sóc mẹ anh trong những ngày

anh vắng nhà. Nhưng ngày chiến thắng, anh không trở về, anh bỏ lại mẹ già và cô

người yêu chung thủy. Da diết với mối tình ấy, Dâu quyết định ở vậy và tìm đến

lấy cửa phật làm vui.

Trong thời chiến, cả nước tổng động viên thanh niên lên đường cứu nước,

tất cả các làng lúc này chỉ còn toàn đàn bà con gái, người già và trẻ em: “cả làng

Đông bây giờ bói cũng chả còn đứa con trai nào nhìn cho được mắt. Đứa nào

không đui què, sứt môi, tai điếc thì mười bẩy tuổi đã đòi khai thêm một tuổi để đi

khám nghĩa vụ” [18, tr.131], còn những kẻ lành lặn mà ở nhà chỉ là phường đào

ngũ hoặc trốn nghĩa vụ, mọi người đều coi khinh. Thế nên, một số các cô gái rơi

vào tình cảnh phải lấy những ông chồng không xứng đáng; hoặc chịu cảnh “quá

lứa lỡ thì”. Cô Thắm (Bến không chồng) là người đẹp nhất làng Đông. Vẻ đẹp

của Thắm “như hoa hồng, dịu dàng và đằm thắm”, nếu ở thời bình, có lẽ người

như Thắm sẽ tha hồ mà chọn ý trung nhân cho xứng đôi vừa lứa. Nhưng trong

hoàn cảnh chiến tranh, Thắm đã chọn anh chàng Huy thọt, chàng thợ ảnh ở phố

huyện. Ngoài cái chân thọt, anh chàng này còn gây ấn tượng cho người khác bởi

cái vẻ “đĩ thoã mà hèn hèn thế nào”. “Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm”, hạ mình lấy

người chồng không được xứng đôi cho lắm, vậy mà Thắm còn bị kìm kẹp, bị

đánh đập, bị phản bội. Và chính Thắm cũng tự sa ngã, có con với một anh chàng

pháo thủ trẻ. Để rồi sau này, Thắm phải vò võ nuôi con một mình, bỏ chồng, còn

anh chàng pháo thủ thì không bao giờ quay lại. Hay như Cúc (Bến không chồng),

cả làng vắng bóng đàn ông con trai, có anh Thành bị thương đến biến dạng cả

khuôn mặt, cô nhìn cũng cảm thấy khiếp sợ. Nhưng nghe mọi người gán ghép, so

sánh Thành với những người đàn ông khác, Cúc cũng nghe theo. Đến khi nhận ra

mình không thể yêu người mình định lấy làm chồng, cô đành trả lễ với tâm trạng

tội lỗi. Nhưng đấy cũng là cái án của đời cô, không ai chấp nhận một người như

cô và sau này cô phải chịu làm lẽ cho ông Ba Chương, một kẻ không có con trai,

đi tìm người sinh cho ông một thằng con nối dõi

Chiến tranh lúc nào cũng mang tính chất bi hùng. Nó vừa xây lên những

trang sử chói lòa, vẻ vang, vừa có những trang đau thương đầm đìa nước mắt. Và

do đặc trưng của thời kỳ máu lửa, mọi thước đo giá trị cũa con người đều gắn liền

với chiến đấu, chiến tích..., nên suốt một thời, chiến trường đã vô tình trở thành

nơi để con người ta rửa sạch những vết nhơ trong quá khứ, là nơi người ta lấy đó

làm bàn đạp cho con đường tiến thân của mình trong thời hậu chiến. Chẳng hạn,

thằng Tốn trong tiểu thuyết Bến không chồng, xuất thân trong gia đình địa chủ,

ông nội bị xử bắn, bố thắt cổ chết, bản thân thằng Tốn cũng thường bị tụi trẻ trong

làng lập tòa án xét xử như xét xử cha và ông nó. Thế nhưng, khi lớn lên, nó xung

phong đi bộ đội, nghiễm nhiên trở thành người chiến sĩ cách mạng. Chiến tranh

kết thúc, nó ngẩng cao đầu trở về làng, xây một căn nhà hai tầng đầu tiên của làng

Đông, to gấp mấy lần căn nhà của ông nội nó. Chưa hết, nó còn trang trí nhà cửa

một cách xa hoa chưa từng thấy, còn mở nhạc suốt ngày với những bài ca diễm

tình uỷ mị. Nó phá vỡ sự yên bình của làng Đông. Nó làm hư thanh niên trong

làng bằng việc tụ tập hát hò và việc buôn bán xơ líp, xu chiêng phụ nữ. Nó là

người đã phát triển “cái mầm mống địa chủ” lớn lên thành “nhà tư sản”. Vậy mà,

không ai dám động đến nó, bởi “nó cũng đã xả thân ngoài chiến trường”. Vậy là

chiến tranh đã có công biến vịt thành thiên nga. Hoặc như Liêm, Quân trong

Mảnh đất lắm người nhiều ma. Chiến trường ác liệt, ngày nào cũng có thương

vong, chết chóc, Liêm là chiến sĩ quân khí duy nhất còn lại của đại đội, nhưng sợ

run cầm cập, cáo ốm để được ở trong hầm; còn Quân thì lại là một xạ thủ có đến

ba lần đái ra quần vì sợ khi máy bay địch lao xuống quá thấp. Ấy thế mà đến thời

bình, hai con người ấy đã có những vị trí cao trong quân đội nhờ thành tích những

năm chiến đấu và luôn khoe cái tem đã từng vào sống ra chết với lớp đàn em.

Những người trực tiếp tham gia chiến đấu được hưởng vinh hoa nhờ nó đã đành,

có những người không đi chiến đấu vẫn được hưởng những sự ưu đãi tương tự.

Đấy là trường hợp nhà Đương trong Bến không chồng. Dân làng đánh giá về

Đương: “mỗi tội kém văn hoá tý nhưng tinh thần nó thì khỏi chê. Nó, có bốn

thằng con trai tình nguyện cho đi bộ đội tuốt. Kiểu này nó còn trúng bí thư mấy

khoá nữa” [18, tr.191].

Bất cứ sự vật, sự việc gì cũng tồn tại hai mặt đối lập của nó: đẹp và xấu, có

ích và không có ích... Chiến tranh cũng vậy. Bên cạnh những ánh sáng lung linh

cao cả của nó, luôn tồn tại những góc tối, những mặt trái nhem nhuốc khó thiện

cảm. Nhưng có như vậy mới là chiến tranh. Và có như vậy người ta mới thấy quý

giá trị của hai chữ “hoà bình”.

1.2.2. Quan hệ lao động sản xuất đầy khắc nghiệt

Những thay đổi trong tiến trình lịch sử của đất nước quy định rất lớn đến quá

trình phát triển và phân hoá xã hội. Ba cuốn tiểu thuyết đều phản ánh hiện thực

nông thôn Việt Nam trong suốt một quá trình dài đầy nhạy cảm của lịch sử: từ khi

đất nước mới dành được độc lập, đến giai đoạn xây dựng và kháng chiến thống

nhất nước nhà và cả công cuộc kiến thiết xã hội sau khi đất nước hoàn toàn độc

lập theo một mô hình mới, mô hình kinh tế tập thể theo định hướng chủ nghĩa xã

hội, biểu hiện cụ thể là các hợp tác xã nông nghiệp mở rộng. Sự thay đổi của tình

hình lịch sử xã hội, hình thái xã hội, cơ cấu quản lý nhà nước đã tác động mạnh

mẽ đến sự phát triển xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất trong xã hội.

Với đặc trưng là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại thêm hơn một ngàn năm

chịu sự đô hộ của các quốc gia phương Bắc và thực dân Pháp, nên khi đất nước ta

giành được độc lập, trong cái không khí hồ hởi của một quốc gia mới giành được

quyền làm chủ bắt tay vào xây dựng đất nước, khôi phục kinh tế, cũng song tồn

không ít những lúng túng, những bế tắc trong việc giải quyết những vấn đề của

thời đại.

Bởi trải qua suốt một thời kỳ dài hết chịu sự áp bức của phong kiến đến

thực dân nên việc đầu tiên mà nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà làm là tìm

cách xóa bỏ tư hữu, xóa bỏ quan hệ chủ tớ tồn tại ở Việt Nam suốt bao đời. Cụ thể

là chủ trương phát hiện và đấu tố địa chủ, cường hào ác bá, tay sai... Chủ trương

có thể không sai nhưng đường lối thực hiện nảy sinh nhiều vấn đề. Cả nước đã tốn

rất nhiều thời gian cho công việc đấu tố, xét xử những người bị kết tội là địa chủ,

cường hào ác bá, tay sai. Thậm chí, người ta giao chỉ tiêu cho các địa phương thực

hiện. Bao nhiêu tiền của, tài sản đã bị tiêu huỷ, phá bỏ. Biết bao con người đã bị

xử bắn. Chưa khi nào như lúc này, người ta hãnh diện về sự nghèo khó, ngưỡng

mộ, kính nể sự nghèo khó. Người ta hào hứng, hùng hổ tố những kẻ giàu có bóc

lột nhân dân, những kẻ mang cái tội “bán nước hại dân”. Người ta lợi dụng việc

đấu tố để thanh toán những ân oán cá nhân với nhà giàu. Và cũng chưa bao giờ

lịch sử xã hội Việt Nam lại có thể xoay vần, thay đổi số phận con người nhanh

như lúc này như lúc này. Lần tìm trong hai tiểu thuyết Bến không chồng và

Mảnh đất lắm người nhiều ma ta sẽ thấy phần nào thực trạng đó.

Đã có một thời kỳ, cái làng Đông (Bến không chồng) do chủ tịch Đột,

người trước đây sống bằng nghề đơm rạm, không biết lấy một chữ bẻ đôi, cầm lá

đơn còn cầm ngược đứng đầu. Và tối tối, từ người già đến trẻ con trong làng họp

nhau lại để ôn nghèo kể khổ, đấu tố địa chủ, phát giác những hoạt động của bọn

Quốc dân Đảng. Trong những cuộc đấu tố như thế, người ta đã suy diễn ra nhiều

chuyện phản động lớn tày đình: Chuyện Xèng và Xình đi đặt mìn đánh cá nhưng

đã bị kết tội đặt mìn phá Cống Linh. Chuyện Xình cho thằng Nghĩa mượn cái

thuổng đi đào chuột, thằng Nghĩa nghịch ngợm vẽ cây thánh giá trên đường đi để

trêu đoàn rước cha của nhà thờ thượng, rồi lười biếng kéo rê chiếc thuổng trên

đường đem trả. Hành động vô tư của đứa trẻ mới mươi tuổi ấy đã vô tình gây tội

ác. Vì nó mà Xình bị dân làng kết tội làm tay sai chỉ điểm cho bọn Quốc dân

Đảng. Nhà anh Hinh chỉ vì vội đi họp không kịp hút thuốc lào, thèm quá tiện tay

cuốn miếng lá chuối làm kèn, mà lại thổi ngay cổng nhà xóm trưởng, thế là bị dân

quân ập đến bắt, thế là bị kết tội Việt gian... Và trong các cuộc đấu tố như vậy,

những nhà giàu như nhà địa chủ Hào cũng bị đông đảo nhân dân phẫn nộ, đấu tố.

Những kẻ bị “các ông bà nông dân” kết tội là Việt gian, là địa chủ bóc lột nhân

dân lao động đều bị chịu một kết cục chung: bị xử bắn. Riêng tài sản của địa chủ

thì phân chia cho từng nhà trong làng, tuỳ theo mức độ cống hiến.

Những toà án đấu tố, xét xử những kẻ phản động, cường hào ác bá không

chỉ diễn ra ở những người lớn, những con người có lập trường chính trị rõ ràng mà

nó còn diễn ra sôi nổi trong cuộc chơi của trẻ nhỏ, những đứa trẻ chưa hề biết

phản động là như thế nào? cường hào ác bá là gì? Chúng chỉ biết một điều: cha bị

kết tội là địa chủ thì con cũng là địa chủ, và cũng phải bị xử như cha, ông chúng.

Chính vì thế mà cháu nội của địa chủ Hào đã bị đám trẻ chăn trâu trong làng đem

ra xử tội. Bọn trẻ đã thi nhau “đào tận gốc rễ bọn địa chủ” bằng cách phá tan

hoang khu vườn của địa chủ Hào. Sự bài trừ giai cấp địa chủ lúc này diễn ra khắc

nghiệt đến nỗi mụ Hơn, người làm dâu con của địa chủ, còn duy nhất một thằng

con trai làm chỗ dựa, đã phải khấn lạy mà hứa rằng : “Con cắn cỏ con lạy ông bà

nông dân...con hứa với ông bà nông dân cố gắng nuôi dạy nó thành người nghèo

khổ” [18, tr.51]...

Rồi như trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, Vũ Đình Đại bị

kết tội là địa chủ chỉ vì “có 5 mẫu ruộng, 3 trâu cày, ngày mùa ngày vụ dám thuê

gần chục nhân công làm cho nhanh” [52, tr.26], dù cho tên Đại sống cũng chẳng

có gì gọi là xa hoa khác người, cũng ngày hai bữa cơm đèn, làm quần quật như

trâu. Nhưng theo nhận định của đội trưởng đội cải cách Hùng Cường, một cán bộ

thuộc “thành phần cơ bản”, “bố mẹ đều giai cấp cốt cán”, tức là có cha mẹ thường

đi đội thuê đội mướn để kiếm ăn, thì “đấy chính là âm mưu của nó” và “nó làm để

ốp những người không có tư liệu sản xuất phải đi làm thuê làm mướn kiếm ăn,

nhưng đã bị những tên cường hào như những cái vòi của con bạch tuộc bóc lột

đến tận xương tuỷ” [52, tr.26]. Thế là cả làng xúm nhau vào đấu tố, đả đảo. Đến

Phúc, người con trai trưởng, sự kỳ vọng lớn nhất trong những niềm hi vọng của

đời ông: Đại – Sang – Phúc – Quý – Lộc – Tài, cùng với vợ nó, đã trở thành người

đấu tố ông hùng hổ, đanh thép nhất. Người con trai yêu quý ấy đã xưng “mày –

tao” với cha nó để chứng tỏ nó đã dứt bỏ được giai cấp phi vô sản...

Có lẽ nhiều năm sau, dân ta vẫn không hết đau xót về những trang sử u ám

này. Và rồi nhiều năm sau ta vẫn không thể không mỉm cười chua xót cho một

thời kỳ chuộng cái nghèo, một thời kỳ người ta ra sức làm cho mình nghèo đi,

chứng minh sự khốn khó của mình cho hợp thời đại. Cũng nhiều năm sau nữa, dân

tộc ta vẫn chưa hết ám ảnh về cái thời buổi “nhiễu nhương, trắng đen lẫn lộn, cóc

ngoé nhảy lên làm người”, để cho những kẻ ngu dốt như chủ tịch Đột, những kẻ

đạo đức giả, hoang dâm như đội trưởng Hùng Cường được thời vinh danh; và

cũng có biết bao người như địa chủ Hào, Vũ Đình Đại... bị chết oan, bị phế bỏ,

chịu ngang trái dưới tay những người lãnh đạo như thế. Chủ trương xoá bỏ sự

phân biệt giai cấp bị những con người có trình độ quá hạn chế triển khai, thành ra,

xã hội đã phân hoá lại càng phân hoá, đã phức tạp lại càng thêm phức tạp. Cũng

may, cái buổi nhiễu nhương ấy diễn ra trong một thời gian không quá dài. Người

ta đã dần nhận ra kẻ không biết một chữ bẻ đôi không thể nào lãnh đạo được chính

quyền. Người ta cũng nhận ra rằng với một người lãnh đạo giỏi, tiêu chí đầu tiên

để đánh giá họ không phải là họ có thực sự “vô sản” hay không, thực sự ... trắng

tay, thực sự nghèo không, mà là họ làm được những gì cho cộng đồng.

Sau cái thời khủng hoảng đầy đen tối ấy của lịch sử nước nhà, nhà nước ta

tiến hành cải cách ruộng đất, áp dụng mô hình sản xuất nông nghiệp tập trung theo

hình thức hợp tác xã. Mỗi gia đình được phân chia một chút đất phần trăm để

trồng màu, còn ruộng đất là của hợp tác xã. Mục tiêu của việc xây dựng hợp tác xã

là muốn xoá bỏ hình thức kinh tế cá thể và tư hữu trong lao động sản xuất. Ở các

làng, các xã, người ta đi làm theo tiếng kẻng của hợp tác xã, làm chung, cuối mùa

thu hoạch chung và chia sản phẩm theo công điểm. Bởi thế, hàng ngày người ta đi

làm đông vui như đi hội, và cũng đủng đỉnh như đi hội. Chẳng thế mà cánh đồng

làng Hạ Vị (Thời xa vắng) quanh năm ròn rã tiếng cười, tiếng nói. Mỗi ngày

người ta ra đồng làm việc theo qui củ giờ giấc của hợp tác xã. Và vì thế, sau mỗi

bữa sáng và trưa, trong mỗi gia đình, ta sẽ thấy hai thái độ lao động hoàn toàn

khác nhau: “Ai làm đất “phần trăm” thì tự ý mà ra ruộng ngay. Ai theo công điểm

với đội ra ngồi ở bờ tre đầu nhà ông đồ Khang tập trung. Cũng như mọi ngày, mọi

buổi, phải chờ đợi tiếng rưỡi, hai tiếng đồng hồ những người đến trước thả sức tán

chuyện trên giời và dưới đất, chuyện thanh cao và chuyện trần tục đến lúc van vãn

mới tập trung đầy đủ theo người trong ban chỉ huy đội đi làm công việc gì đó. Cả

khi đi và về làm công việc gì được nhiều hay ít còn phải làm nữa hay không, đã có

“ông đội”. Không biết. Chỉ biết cười đùa và tán tỉnh” [30, tr.113]. Đúng là “cha

chung không ai khóc”. Đất riêng thì làm tất bật, chăm chỉ, không đợi ai phải nhắc,

phải thúc, không kể giờ giấc sớm muộn. Còn khi làm ruộng công thì đủng đỉnh,

làm cho có để lấy công điểm. Thế nên, cái làng ven đê phù sa màu mỡ mà lúc nào

cũng quẩn quanh với khoai, dong luộc, bánh đúc ngô... Thế nên, cái xã này, huyện

toàn phải ra tay vực nó dậy, giúp đẩy nó “đi lên” và trong báo cáo của xã cũng

không năm nào chịu “đi xuống”. Sự quan liêu và bệnh “thành tích”, “lạc quan tếu”

trong quản lí và đánh giá tình hình địa phương đã khiến cho làng xã không thể tiến

bộ lên được ở tất cả mọi mặt, đặc biệt là mặt kinh tế. Đấy là một thực trạng không

chỉ tồn tại trong một thời kỳ mà tồn tại lâu dài, thậm chí, cho đến tận ngày nay.

Cũng là phát triển theo hình thức hợp tác xã, nhưng xóm Giếng Chùa

(Mảnh đất lắm người nhiều ma) đã bước sang một trang khác, chủ động hơn,

tích cực hơn. Đấy là một xã hội nông thôn trong thời kỳ mới, đất nước hoàn toàn

thống nhất, đang triển khai theo định hướng xã hội xã hội chủ nghĩa. Lúc này, các

hợp tác xã vẫn tồn tại nhưng đóng một vai trò hoàn toàn mới. Ruộng đất đã được

giao trực tiếp đến tay nông dân theo hình thức khoán sản phẩm, người nông dân

làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít, hợp tác xã chỉ đóng vai trò định hướng, quản lý

chung, thu thuế ruộng đất của nông dân theo mùa vụ. Chính vì thế, đời sống của

nông dân cũng được tương đối khởi sắc. Họ được làm, được sống bằng chính công

sức mà họ bỏ ra và thành quả lao động mà họ đạt được. Vì thế trong làng có người

giàu, người nghèo, chứ không còn tình trạng “nghèo đều” nữa. Và cũng vì thế mà

cơ cấu xã hội trở nên phức tạp hơn, quan hệ trong cơ cấu lãnh đạo chính quyền và

giữa chính quyền với nông dân nảy sinh nhiều tiêu cực, mâu thuẫn.

Những năm sau chiến tranh, ruộng đất bị thu lại làm tài sản chung, làm

chung, hưởng chung. Sau này đổi mới, người ta lại đem phân chia ra cho từng hộ

gia đình. Và vì thế, bao nhiêu ruộng đất hương hoả cha ông để lại của các gia đình

đã thuộc về tay người khác. Khi thực hiện chủ trương triệt tiêu sở hữu cá nhân,

việc biến tài sản, mồ hôi nước mắt của gia đình, tổ tiên mình thành tài sản chung

của cộng đồng, những người nông dân dù không thực sự tán đồng nhưng vẫn có

thể miễn cưỡng chấp nhận. Nhưng khi nhà nước đã giao trả lại đất mà họ vẫn bị

mất đi những thửa ruộng hương hoả, những thửa ruộng “thượng đẳng điền” cha

ông họ để lại thì dễ mấy ai chấp nhận. Chính vì thế, những xung đột quanh chuyện

ruộng đất ở các thôn xã liên tục xảy ra. Người giàu có giành lại đất để khỏi có lỗi

với tổ tiên ông bà. Người nghèo khổ giành lại đất để giành lại bát gạo, giành lại

miếng ăn... Vì mảnh đất hương hoả ấy mà Trịnh Bá Hàm giàu có, già gần sáu

mươi tuổi phải đích thân ra tay xô xát để đòi lại. Cũng vì miếng đất “thượng đẳng

điền” được hợp tác xã phân nay có kẻ đòi lại mà một người mẹ liệt sĩ trước giờ

không gây gổ cùng ai nay phải đôi co, lời qua tiếng lại giữa đông đảo bà con đang

chứng kiến. Vì mối lợi ấy mà người dân phẫn nộ buộc phải lên án chính quyền cái

tội: “bao nhiêu ruộng tốt là cán bộ với những người thân tín giấm dúi chia nhau,

còn lại đầu trâu mõm bò để lại cho dân” [52, tr.431]... Mà những lời tố cáo của

dân đều là sự thật. Thậm chí sự thật còn to lớn, bê bối hơn nhiều. Bởi cán bộ xã

không chỉ ăn chặn, bớt xén của nông dân, những người còn đang sống, đang lao

động sản xuất, mà còn ăn chặn, bớt xén phần người chết. Đấy là việc cắt xén gạo

hỗ trợ cho gia đình chính sách, không gia đình chính sách nào trong xã nhận được

số thóc hỗ trợ ấy, trừ những nhà có người làm lãnh đạo “mỗi suất liệt sĩ được 632

đồng một tháng nhưng lại lĩnh theo quý. Còn số thóc mua theo giá điều hoà, theo

chính sách ưu tiên, thì làng này chỉ có nhà ông Bỉnh được mua đầy đủ vì ông có

thế ở anh con cả hiện đang là trưởng ban tổ chức tỉnh uỷ” [52, tr.72]. Và nếu như

khách trên tỉnh, trên huyện về hỏi thăm tình hình đền ơn đáp nghĩa ở địa phương

thì cán bộ xã cũng chỉ “đưa đến nhà ông Bỉnh vì ở đấy nhà cửa khang trang, còn

những gia đình liệt sĩ khác đã túng bấn quá, lại thóc ưu tiên cũng bị cắt đầu cắt

đuôi, nên những ông bà ấy thường hay nói ngang cành bứa với xã” [52, tr.72] nên

cấp trên không thể biết được thực chất tình hình địa phương. Hơn thế nữa, cán bộ

xã còn nhập nhằng biểu thuế diện tích đất canh tác giáp ranh giữa trung du và

đồng bằng vì mức thuế giữa hai vùng chênh lệch khá cao, “một mét vuông của

đồng bằng đóng cao hơn một mét vuông của trung du đến bốn lạng thóc” [52,

tr.286], để tham ô số thóc dôi ra, kiểu tham ô này vừa tinh vi, vừa hợp pháp; cán

bộ xã cũng chỉ đạo cho thủ quỹ lấy tiền của xã đem chia ra gửi tiết kiệm cho mỗi

cán bộ xã một sổ để hưởng lãi hàng tháng; ngoài ra, còn tham ô tiền thuỷ lợi, tiền

trại giống... Có thể thấy, ở cái xóm Giếng Chùa này, ai có quyền là có tiền, ngay

cả những con người như Quàng bình thường cũng bóc ngắn cắn dài nhưng “kể từ

ngày Quàng được giữ chân quỹ tín dụng của xã thì khấm khá dần lên” [52, tr.9].

Nhìn chung, bề nổi của xóm Giếng Chùa thật thanh bình, nhưng trong nó chất

chứa bao mâu thuẫn, bất hoà. Mâu thuẫn giữa nông dân với chính quyền và cả

mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo.

Trong nội bộ lãnh đạo, tư tưởng bè phái nảy sinh và phát triển mạnh mẽ. Có

nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó. Một mặt, do sự ăn chia không đều

những món lợi thu được từ việc bớt xén của công. Mặt khác, quyền lực cũng là

thứ khiến người ta gằm ghè, cạnh tranh nhau nhiều nhất. Một cái xã nhỏ gọn “đầu

xã tới cuối xã không quá năm cây số”, thế nhưng cơ cấu lãnh đạo chia ra tới ba

phe: phe của Trịnh Bá Thủ đối đầu với phe của Vũ Đình Phúc, phe còn lại là

những người trung lập như: Sửu, Xuân Tươi... Những phe phái này luôn toan tính,

kiếm chuyện hãm hại nhau, tìm cách loại trừ nhau và khuếch trương thanh thế của

mình. Những điều ấy gây ra sự bất ổn của xóm làng, kìm hãm sự phát triển kinh tế

của làng quê, khiến cho làng quê đã nghèo càng nghèo hơn, đã phức tạp càng

thêm phức tạp.

1.2.3 . Sự đối đầu khốc liệt giữa các dòng họ

Mối quan hệ làng xã ở Việt Nam từ xưa tới nay được xây dựng chủ yếu dựa

trên mối quan hệ thân tộc. Quan hệ thân tộc của người Việt nam từ xưa đến nay có

truyền thống đoàn kết, gắn bó rất chặt chẽ. Điều đó là một nét đẹp văn hoá trong

đời sống tinh thần của nhân dân ta. Nhưng cũng chính điều đó đôi khi lại là

nguyên nhân dẫn đến những xung đột phức tạp trong xã hội.

Từ xa xưa, người dân ở nông thôn luôn có tâm lí coi trọng những dòng họ

lớn, những dòng họ có nhiều người đỗ đạt. Chính điều đó đã khiến cho bất cứ

dòng họ nào cũng muốn đầu tư cho con em học hành thành tài làm rạng danh tổ

tiên, dòng họ, gia đình. Đó là điều tốt. Đấy cũng là nhân tố thúc đẩy sự phát triển

của xã hội. Nhưng cũng chính cái tâm lý ấy lại làm nảy sinh những vấn đề tiêu

cực. Người ta tìm mọi cách để giành ưu thế cho dòng họ mình. Người ta tìm mọi

cách để dòng họ được tôn vinh. Và người ta lúc nào cũng đặt dòng họ mình cao

hơn các dòng họ khác. Chính vì thế nảy sinh sự cạnh tranh, nảy sinh xung đột. Có

những xung đột mang tính huyết thù truyền từ đời này sang đời khác không có

cách gì gỡ bỏ được.

Những xung đột xảy ra giữa các dòng họ thường là sự tranh giành ruộng

đất hương hoả, tranh giành chức tước, sự xúc xiểm lẫn nhau giữa các dòng họ...

Hai tiểu thuyết Bến không chồng và Mảnh đất lắm người nhiều ma thể

hiện đầy đủ, sinh động các mâu thuẫn ấy.

Mảnh đất lắm người nhiều ma nói đến mối xung đột gay gắt giữa hai

dòng họ Trịnh Bá và Vũ Đình. Người ta nói: “hôn nhân, điền thổ vạn cố chi thù”,

tức là hôn nhân và đất đai là hai thứ dễ gây cho người ta thù oán. Hai dòng họ này

không bao giờ chịu ngồi chung chiếu với nhau bởi tất cả những thứ đó, tức là họ

thù nhau cả chuyện hôn nhân và chuyện đất đai lại cả thêm chuyện chức vị.

Những mối thù ấy đi từ âm ỉ đến công khai, từ ghen ghét đến căm hận. Và mối thù

này được truyền từ đời này sang đời khác, được nuôi dưỡng từ đời này sang đời

khác, đến mức nó chuyển từ chuyện riêng giữa các dòng họ thành chuyện xã hội,

chuyện hình sự.

Xung đột đầu tiên là những xung đột về chuyện chức vị và đất đai giữa

Trịnh Bá Hoành và Vũ Đình Đại. Chỉ vì cái phần “đầu gà má lợn”, vì cái quan

niệm “miếng ăn giữa làng hơn sàng xó bếp”, “đầu gà hơn đít voi”, mà hai con

người, hai dòng họ bị cuốn vào bi kịch, cuốn vào cơn lốc được thua không ngừng,

đánh đổi tất cả để giành lấy cái chức lí trưởng nhỏ bé. Với Vũ Đình Đại, tác giả

Nguyễn Khắc Trường không nói nhân vật phải mất những gì cho miếng “chiếu

giữa làng ấy”. Nhưng Trịnh Bá Hoành thì mất nhiều, mất thật nhiều.

Hãy nói đôi chút về dòng họ Trịnh Bá. Dòng họ này thờ hổ. Gia phả dòng

họ kể lại, ông nội của Trịnh Bá Hoành có cơ duyên gặp và có mối quan hệ ân

nghĩa với Hổ thần. Chẳng là, ông nội Trịnh Bá Hoành sống bằng nghề săn bẫy cá,

có một bác hổ vằn tới ăn trộm cá, bị đá kẹp một bên chân, có chút lòng trắc ẩn,

quên cả sợ, ông đã cứu hổ thoát khỏi cái bẫy vô tình ấy. Thế rồi từ đó, để trả ơn,

hằng đêm, hổ thọt không những canh đó cá cho ông mà còn đem đến cho ông khi

thì một con cá bằng bụng chân chửa, khi thì một con cầy hương vẫn còn tươi rói

đặt trên bờ, gần đó cá. Nhưng một sự hiểu lầm đáng tiếc xảy ra, đó là vào một

đêm mưa gió ầm ầm, con hổ đã lầm tưởng vị ân nhân của mình, lúc ấy đang áo tơi

tùm hụp ra thăm đó cá là kẻ ăn trộm, nó vồ chết ngay tại chỗ; đến lúc lật xác chết

lên, biết là đã giết nhầm ân nhân, con hổ lăn lộn, đập đầu vào đá , rống lên gào

thét về sự nhầm lẫn không sao cứu vãn được của mình. Sau đó, hổ dùng vuốt đào

hố chôn ân nhân. Và liền ba đêm sau đó, đêm nào hổ thọt cũng cắp một con cá đến

trước mộ, rồi đập đuôi bình bịch xuống đất, dựng đứng người đi bằng hai chân sau

đến phía đầu mộ, miệng tru lên thống thiết về nỗi lầm của mình. Cũng từ đó, dòng

họ Trịnh Bá phất lên như diều, thầy tướng bảo đó là sự đền bù, sự phù trợ của Hổ

thần.

Không biết do chăm chỉ làm ăn hay do được Hổ thần giúp đỡ mà đến đời

Trịnh Bá Hoành đã làm được nhà gỗ, mua được ruộng thượng đẳng điền, lợn đàn,

trâu nái...

Trong cuộc chạy đua đến chức lí trưởng, Trịnh Bá Hoành đã ném tiền ra

mua chức, lợn sề trâu nái, ruộng sâu giữa đồng lần lượt ra đi mà cái chức lí trưởng

lại về tay Vũ Đình Đại. Tất cả những gì Trịnh Bá Hoành có và tưởng như sẽ có

bỗng chốc trở thành con số không. Thế nên, Trịnh Bá Hoành vô cùng căm thù Vũ

Đình Đại. Những lúc rượu vào, ông trừng trừng cặp mắt vằn những tia đỏ, miệng

lẩm bẩm: “Ta không có vòng bạc, xà tích, không đủ bạc trắng để chạy nên thua”.

Rồi ông rít lên: “Nhưng tao chưa chịu đâu! Chưa chịu đâu!” [52, tr.95]. Thế nên,

Trịnh Bá Hoành đã mổ chó ăn mừng khi Vũ Đình Đại chưa kịp ăn lộc triều đình

thì cách mạng đến, phải bán ngựa tậu trâu để làm nông dân. Thế nên, khi chạy

loạn trốn càn của giặc Pháp trở về, nhìn thấy bức tranh thờ Hổ thần bị chọc thủng

mắt, Trịnh Bá Hoành không nghĩ đến ai khác ngoài “bố con nhà Đại – Phúc” làm

để “bôi gio trát trấu vào tổ tiên nhà Trịnh Bá”. Thế nên, cuối đời, Trịnh Bá Hoành

chết một cách uất ức vì chưa gặp dịp để trả được món nợ to lớn với nhà Vũ Đình

Đại. Và ông đã truyền cái uất ức ấy lại cho con trai trưởng Trịnh Bá Hàm với lời

trăn trối: “sống ở làng này phải biết bố con Đại – Phúc là người không thể đi

chung đường, ngồi chung chiếu” [trang 76], cùng một di huấn bày cách triệt hạ

địch thủ một cách kinh dị, khiến địch thủ bị tàn lụi đến mấy đời không bao giờ

ngóc đầu lên được: đào mộ, hành hạ thi thể người chết...

Tiếp thu nguyên vẹn tính háo thắng và niềm đam mê quyền lực, đến thế hệ

sau, xung đột giữa hai dòng họ không những không được tháo bỏ mà còn diễn ra

gay gắt, quyết liệt hơn nhiều. Giữa hai người cha chỉ là sự cay cú, căm ghét ngấm

ngầm ở trong lòng, chưa ai dám hay có điều kiện làm hại ai. Nhưng đến đời hậu

duệ thì hoàn toàn khác. Trịnh Bá Thủ và Vũ Đình Phúc đều là những con người có

hiểu biết, có địa vị và có ảnh hưởng lớn ở trong làng. Cái cách trả thù của kẻ có

học nó mưu mô và hiểm ác hơn nhiều. Do kết quả quá trình vận động bầu cử:

Trịnh Bá Thủ trúng bí thư, Vũ Đình Phúc mất chức chủ nhiệm và chân đảng uỷ,

cuộc đối đầu lần thứ hai trong chuyện công danh giữa hai dòng họ bùng nổ. Trịnh

Bá Thủ, với quền lực mới của mình, dần loại bỏ hết những con người của dòng họ

Vũ Đình ra khỏi cơ cấu chính quyền, nếu có giao chức vị gì cũng chỉ là những

chức hữu danh vô thực như: trưởng ban kiểm soát, xã đội trưởng..., nhất là Vũ

Đình Phúc, tước đoạt quyền lực khỏi tay Phúc được bao nhiêu, anh em Thủ thấy

tốt chừng ấy, hả hê chừng ấy. Không còn quyền, Phúc dùng trí để đấu lại. Những

lá đơn như bươm bướm bay lên huyện tố cáo những việc làm không đúng, những

việc mờ ám của Thủ, lập bè phái bắt bẻ, tranh cãi với Thủ trong mọi cuộc họp chi

bộ hay những cuộc họp của chính quyền. Thủ và Phúc cứ người đối người đáp,

thay nhau lập mưu, thay nhau trúng kế, thay nhau vị trí kẻ đi hại và kẻ bị hại... Hai

con người này, hai dòng họ này có thể bỏ phiếu, giao quyền lực cho những kẻ bất

tài, những tên vô danh tiểu tốt như Sửu, như Xuân Tươi, chứ nhất định không thể

giao quyền vào tay đối phương.

Bên cạnh sự đối đầu khốc liệt trong chuyện chức tước, có một mối thù

không phải do đời trước để lại, nhưng vẫn ngun ngút trong lòng những người liên

quan, đó là mối thù trong chuyện tình ái giữa Trịnh Bá Hàm và Vũ Đình Phúc.

Hãy so sánh hai con người này một chút. Trịnh Bá Hàm tuy có tài vặt nhưng thô

lỗ, ít học. Anh chàng Phúc lại là một ông giáo. Hàm là một người đàn ông xấu xí,

lại bị thọt một chân. Phúc thì hào hoa, nho nhã. Hàm chưa có vợ, thương thầm và

quyết tâm cưới bằng được cô Son xinh đẹp nhất làng nhưng không hề được cô để

ý. Phúc thì đã được cha mẹ cưới cho một người vợ, nhưng vẫn được cô Son để ý,

say mê như bị bỏ bùa... Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì cũng chưa có gì đáng nói.

Khi ước mơ của Hàm thành sự thật, Hàm được lấy cô Son thì Hàm mới cay đắng

nhận ra mình chỉ là kẻ đến sau, kẻ đi “đổ vỏ” cho kẻ khác, cái “trái cấm” mà Hàm

ao ước với hái bao lâu nay đã bị kẻ “quen phỗng tay trên” tước mất rồi. Hàm

không được yêu. Càng đau đớn hơn khi điều đó do chính miệng cô Son nói ra:

“Tôi cắn răng là vì thầy u tôi, chứ không bao giờ tôi yêu anh!”. Thế thì làm sao

Hàm không đau, không hận. Thế thì bảo sao Hàm không luôn hợp sức, tính kế

cùng Thủ, em trai mình tìm cách lật đổ cánh nhà Vũ Đình Phúc. Và bảo sao Hàm

không nghe theo lời di huấn của cha, làm một việc kinh thiên động địa mà chính

bản thân Hàm cũng thấy sợ, đó là đào mộ Vũ Đình Đại, yểm cho dòng họ Vũ

Đình không còn có thể ngóc đầu lên được.

Mối thù này chồng chất mối thù kia, thêm cái sự cố chấp, ấu trĩ của mỗi

người, những con người chủ chốt của hai dòng họ có thể làm đủ mọi chuyện

thượng vàng hạ cám, từ chuyện tiểu nhân đến chuyện bất nhân.

Cũng như vậy, dòng họ Nguyễn to nhất làng Đông (Bến không chồng), từ

bao đời nay khắc ghi một lời nguyền độc: “Nước sông Đình ngàn năm không cạn -

cầu Đá Bạc vạn kiếp trơ trơ - bến Tình còn đẹp còn mơ - mối thù họ Nguyễn bao

giờ mới nguôi.” [18, tr.14]. Đấy là lời nguyền về mối thù giữa hai dòng họ

Nguyễn – Vũ. Là mối thù xuất phát từ quan hệ luyến ái, nhưng câu chuyện trong

tiểu thuyết Bến không chồng lại diễn ra theo một hướng khác, bi thương và đáng

tiếc hơn. Mọi thù hằn phát sinh cũng đều do sự quyến rũ, sự gợi tình của cái bến

“Không chồng”, mà người ta thường gọi là bến Tình. Ở đấy, “gió hây hây, nước

chảy nhẹ vờn da thịt như có một bàn tay vô hình mơn trớn” [18, tr.13], dễ làm

lòng người khoái cảm, đến nỗi nhiều cặp vợ chồng trẻ mới cưới đêm đến thường

lẻn ra bến Tình tắm. Chính sự gợi cảm của dòng nước bến Tình đã khiến cho một

chàng trai lương thiện của dòng họ Vũ nổi loạn, chàng đã hãm hiếp cô con gái

rượu duy nhất của cụ tổ họ Nguyễn trong một đêm hai người vô tình cùng ra bến

tắm. Trong lúc hoảng loạn, cô gái tưởng chàng trai là ba ba thuồng luồng hay con

ma mắt đỏ mà dân làng thường kể tới hiếp mình nên chết trong sợ hãi. Từ đó, lời

nguyền được khắc ghi. Từ đó, dù sống trong một làng, dù cùng lao động, sinh hoạt

những hoạt động chung của làng nhưng trai gái hai họ Nguyễn – Vũ tuyệt nhiên

không được nảy sinh tình cảm, nếu có phải lòng nhau cũng ngậm ngùi lặng lẽ chia

tay, hoặc phải rủ nhau trốn khỏi làng. Chính điều ấy đã dẫn đến không ít bi kịch.

Cụ thể, có thể kể một vài chuyện. Đấy là chuyện chú Vạn – một người đàn ông

dòng họ Nguyễn và chị Nhân – một góa phụ dòng họ Vũ. Hai người thương và

cảm thông cho hoàn cảnh của nhau, muốn tiến tới với nhau, nhưng vì lời nguyền,

vì sợ họ mạc phản đối, lên án nên đành đè nén tình cảm của mình, sống gìn giữ

trong sự dò xét của họ mạc, của xóm làng và nhiều lúc của chính bản thân mình.

Đấy là chuyện của Nghĩa – trưởng tộc tương lai của dòng họ Nguyễn - đòi cưới

một cô gái dòng họ Vũ. Hai đứa chơi với nhau từ nhỏ. Lớn lên yêu nhau, muốn

cưới nhau, nhưng bị không những cha mẹ mà cả dòng họ Nguyễn phản đối, ngăn

cấm. Sự ngăn cấm quyết liệt đến nỗi khi đôi trẻ cãi lời người lớn tự tổ chức đám

cưới, cha mẹ, gia đình hai bên đã không ai muốn hoặc không ai dám tới. Và đau

xót hơn, sau đám cưới, đôi trẻ không được về nhà sống chung mà chỉ gặp nhau

hằng đêm bên bờ sông, giữa mênh mông đất trời.

Xét dưới góc độ cá nhân con người, những xung đột giữa các dòng họ như

vậy đã đem đến không ít bi kịch cho con người. Vì những mối thâm thù của đời

trước mà những tiền nhân bắt hậu thế phải tiếp tục thù mối thù của mình, hận mối

hận của mình, cư xử theo cách cư xử của mình..., như vậy là vô lí, đôi khi còn vô

nhân đạo.

Xét dưới góc độ xã hội, nếu nói mỗi gia đình là một tế bào của xã hội thì

mỗi dòng họ sẽ là những mảng tế bào, những bộ phận của xã hội. Các dòng họ

phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Các dòng họ suy vy cũng tác động

xấu đến sự phát triển chung của xã hội. Ở mỗi làng xã, việc tạo được sự đoàn kết

giữa các họ tộc trong vùng chính là thước đo sự bình ổn của xã hội. Còn những

mối xung đột kiểu như trên có tác hại như những tế bào ung thư phá vỡ sự yên

bình, đoàn kết, kìm hãm sự phát triển của địa phương. Những xung đột ấy cần

phải được xoá bỏ.

1.3. Con người nông thôn trước những biến đổi của xã hội

1.3.1. Lối sống theo kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ”, dựa vào

uy danh dòng họ

Như đã nói, quan hệ xã hội ở nông thôn được hình thành trên cơ sở quan hệ

họ hàng, thân tộc. Quan hệ họ hàng, thân tộc ở nông thôn lại diễn ra cực kỳ khắng

khít, gắn bó. Chính vì thế, ở nông thôn, nếu như trong họ tộc có người làm

“quan” thì cả họ tộc sẽ được hưởng lây sự kính nể, kiêng nhường của xóm làng.

Gia đình cụ đồ Khang (Thời xa vắng) được cả làng nể trọng, phần vì cụ

Khang là thầy đồ, phần vì cụ Khang có cậu con trai út học hành giỏi giang. Nhưng

có lẽ gia đình cụ được nể trọng phần nhiều là vì hiện tại cụ có một người em trai là

chú Hà làm bí thư huyện uỷ và người con trai thứ làm cán bộ huyện. Nhờ những

điều có thể coi là ưu thế hơn người ấy mà gia đình cụ Khang cũng được hưởng

nhiều lợi thế. Trong chuyện “giăng gió” của Sài với Hương trên sân thượng nhà

tổng Lơi trong một đêm trăng giữa mùa bão lũ, nếu như không có sự can thiệp,

nhờ cái uy của chú Hà và anh Tính thì làm sao Sài gỡ nổi cái tai tiếng để đời. Nhờ

chú Hà và anh Tính xếp đặt mà mọi chuyện từ có biến thành không, từ không biến

thành có. Sài từ một kẻ phạm tội tày đình khiến cả gia đình không dám đi đâu,

không dám ngẩng mặt lên nhìn ai, khiến cả làng bao ngày xôn xao “như là giặc giã

sắp tràn về, như là làng Hạ Vị sẽ lụn bại vì chuyện ấy, như là nước sông lại lên to

cuốn đi cả hàng nghìn người, như là nhà nào cũng sẽ chết đói, chết rét vì chuyện

ấy” [30, tr.58-59] trở thành người vô tội, trở thành người có công phát hiện kẻ

trộm bị kẻ trộm trả thù. Còn kẻ bắt quả tang chuyện của Sài thì tình ngay nhưng lí

gian, bị tố cáo ngược chuyện trộm cắp trong ngày lụt. Đúng là “miệng nhà quan

có gang có thép”, một chút mưu sâu, lí lẽ và uy quyền, chú Hà đã khiến cho lãnh

đạo xã và quần chúng đến dự buổi định tội hôm ấy bị thuyết phục bởi một sự thật

không hề có thật là Sài vô tội. Với vị trí của mình, chú Hà đã rất nhẹ nhàng dùng

dư luận để “rửa nhục” cho gia đình, dòng họ, chạy tội cho thằng cháu một cách

hợp pháp mà không để lại bất cứ điều tiếng gì. Địa vị của anh, của chú không chỉ

giúp Sài khi anh còn là một cậu bé mới lớn bốc đồng, nông nổi. Mà ngay khi anh

đã lớn, đã thành đạt, anh vẫn không thoát ra khỏi cái ô rợp bóng của anh, của chú.

Đám cưới của Sài với Châu sau ngày giải phóng với đồ dẫn cưới rất sang trọng:

một trăm quả cau tươi, một cân chè Thái, một cân hạt sen, một tút Thủ Đô, một

chai Lúa Mới, hai nghìn tiền mặt là do một tay anh Tính lo toan. Dù rằng những

sính lễ ấy phù hợp với lối sống ở thủ đô và quá đỗi xa xỉ với làng quê nghèo Hạ Vị

quanh năm bão lụt, nó lại phải chuẩn bị trong một thời gian gấp gáp chỉ vỏn vẹn

có mấy ngày, nhưng với tình thương em, với cương vị uỷ viên trực phụ trách nội

chính của uỷ ban hành chính huyện, anh Tính cũng lo cho Sài một đám cưới tươm

tất “không hề có sự cách biệt giữa quê và tỉnh” [30, tr.227]

Cái ưu thế của gia đình có người làm quan còn thể hiện trong đám tang “có

một không hai ở vùng này” của ông đồ. Một đám tang mà người làng đánh giá

“ngày xưa đám ma bố tổng Lơi mổ hàng trăm con lợn, trâu bò, giã giò ăn uống

rậm rịch cả hàng mười ngày giời cũng không đông được như đám này” [30,

tr.165]. Sở dĩ như vậy là vì cụ đồ có học trò ở khắp nơi, ai cũng muốn chứng tỏ

mình có lòng tôn sư trọng đạo, có hiếu với người thầy vừa yêu thương vừa hiền

lành. Người ta đến viếng cụ cũng vì cụ là bố của Sài – một dũng sĩ một mình bắn

rơi máy bay Mĩ, đang được đài báo hết lời ca ngợi. Nhưng trong cái đám tang ấy,

bên cạnh những người quen biết xa gần, cũng còn cơ man nào là những người

không quen biết từ các huyện xã khác ngơ ngác, thậm thụt, cung kính và cười cợt,

nghênh ngang và khúm núm... đến dự. Những con người ấy thực sự không biết cụ

đồ là ai, họ cũng không đến viếng cụ vì lòng ngưỡng mộ một gia đình cách mạng,

một cuộc sống mẫu mực hoặc vì sự thân thiết, yêu mến người em, người con của

cụ...; họ đến vì muốn được em trai cụ, con cụ biết đến, nhớ mặt, nhớ tên. Hay nói

đúng ra họ không đi đưa đám cụ đồ mà là “đưa đám ông Hà đã về làm bí thư

huyện uỷ được nửa năm nay và đưa đám anh Tính uỷ viên trực phụ trách nội

chính của uỷ ban hành chính huyện” [30, tr.166]. Bởi những mục đích hết sức

“thiết thực” ấy mà những người đi đám luôn phải “liếc mắt xem thắp hương và

khấn vào lúc nào, đứng ở đâu để ông Hà hoặc Tính chứng kiến nỗi lòng đau khổ,

cung kính của họ” [30, tr.166]. Họ đùa nghịch huyên náo ngoài đường để rồi thật

lặng lẽ nghiêm trang khi vào đến nhà. Họ dò la mọi phong tục lễ nghi của làng để

vào nhà cư xử thành thạo, tự nhiên như gia chủ. Họ tỏ vẻ đau đớn trước linh cữu

người chết nhưng luôn nhớ khấn to tên tuổi của mình cho ông Hà hoặc Tính nghe

thấy và trong lòng thì thầm yên tâm về tờ đơn xin hai nghìn ngói đang nằm ở chỗ

Tính. Họ đi viếng cụ đồ nhưng lại cứ phải quanh quẩn ở ngoài, chờ ông Hà đến

bên linh cữu mới vào thắp hương. Và những người không quen biết ông đồ ấy,

trước hoặc sau khi đưa đám đều cố đến nắm lấy bằng được bàn tay ông Hà và anh

Tính để chia buồn... Thật là giả dối. Họ làm tất cả những điều ấy cốt để cho hai

con người quyền cao chức trọng kia không thể quên rằng họ đã có mặt trong cái

tang lớn của gia đình các anh và điều đó cũng có nghĩa là các anh sẽ không thể

quên họ. Nhờ thế, người chết cũng được hưởng lây phước phần. Nhờ thế, đám

tang cụ đồ Khang mới trở thành một đám tang to nhất, đông nhất trong vùng.

Người Việt Nam có câu: “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, có nghĩa là trong

cuộc sống xã hội, con người ta tốt nhất là nên giỏi một nghề nào đấy hoặc là bản

thân có được một chỗ đứng trong xã hội, hay nói cách khác là có danh vị trong xã

hội. Nếp nghĩ ấy có từ thời cha ông xa xưa, và đến thời hiện đại, bị chi phối bởi sự

phức tạp của nền kinh tế thị trường thì cái tư tưởng ấy vẫn không hề tỏ ra cổ xưa,

ấu trĩ, trái lại, nó được thể hiện càng đa dạng, đa sắc màu hơn. Người ta cố gắng

phấn đấu tạo được chỗ đứng cho mình trong xã hội. Người ta tìm đến danh vọng

bằng nhiều cách, nhiều con đường khác nhau. Trước là để thoả ước nguyện, khát

vọng của bản thân, sau là được đứng trên người khác, được người khác cậy nhờ.

Quả thật vậy, như một điều mặc nhiên trong xã hội ta, khi có việc đến bất cứ cơ

quan công sở nào thì không gì vui sướng hơn là gặp được người quen giúp đỡ. Gia

đình nào có người làm lớn, con cháu sẽ được hứa hẹn một tiền đồ, một tương lai

tương đối sáng sủa. Cũng không ít những công ty nhà nước mà khi bước chân vào

người ta lầm tưởng là công ty gia đình bởi mối quan hệ dây mơ rễ má chằng chịt...

Đấy là một thực trạng chung của xã hội. Trên thực tế, cái chức luôn liên

quan đến cái quyền, cái chức thường quyết định cái lợi. Mà như đã nói, cái lợi ấy

không chỉ gói gọn trong bản thân người có chức mà còn lợi lây sang gia đình, họ

hàng, thậm chí có khi có cả những người xóm giềng thân thích.

Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma đã tái hiện sinh động một thực

trạng tương tự như thế. Hai chàng trai xóm Giếng Chùa vì sợ cảnh chết chóc của

chiến tranh nên đào ngũ về địa phương, đã bị bí thư đảng uỷ xã người xóm Trại

trừng trị riết róng bằng cách bắt ăn cơm nhà, làm việc công ích cho xã quanh năm

suốt tháng. Không nhờ người cùng làng có chức vị trong tỉnh đội che chở, mách

nước thì làm sao rửa được cái án đào ngũ và trả được mối thù với ông bí thư đảng

uỷ người xóm nhập cư, bắt ông ta rớt chức xuống làm phó thường dân với số

phiếu ít ỏi trong cuộc bầu cử khoá mới vì đã dám đắc tội với dân gốc làng này.

Hay như nhân vật Vũ Đình Phúc, từ khi trúng chân chủ nhiệm cuộc sống gia đình

Phúc khấm khá lên rất nhiều. Không những thế, Phúc còn đưa được mấy người

anh em trong họ vào Đảng và giúp em trai, chị gái mua được gạch ngói làm nhà

với giá gần như là cho không, chỉ bằng một phần mười giá trị thực. Không những

thế, làng trên xóm dưới, có chuyện gì cũng không ai dám đụng đến “dòng họ Vũ

Đình”...

Thế đấy, nếu trong họ có người quyền cao chức trọng thì người thân sẽ

không chỉ được hưởng những mối lợi về tinh thần mà còn được hưởng những

quyền lợi thiết thực về vật chất. Chính vì thế nên ở các địa phương, đặc biệt là

những vùng nông thôn, khi tầm nhìn của người dân mới chỉ dừng ở sau luỹ tre

làng, khi mà người lãnh đạo có thể tự do làm mưa làm gió, hoàn toàn nắm quyền

sinh quyền sát trong tay, tình trạng “say chức”, tranh quyền đoạt lợi vẫn thường

diễn ra và diễn ra có phần khốc liệt. Người ta đấu đá nhau để giành các cương vị

trong chính quyền, với mục đích vừa là để thoả mãn khát vọng của bản thân, vừa

là để tạo ra quyền và lợi cho bản thân, gia đình và bà con thân tộc. Trịnh Bá

Hoành, Vũ Đình Đại, Trịnh Bá Thủ, Vũ Đình Phúc, hai thế hệ nối tiếp nhau của

hai dòng họ, là những con người bị cái tham vọng ấy cuốn vào vòng xoáy điên

cuồng của cuộc chiến tranh giành quyền lực. Những con người này vừa là chủ thể

gây lên cuộc chiến âm thầm và dai dẳng ấy, nhưng đồng thời họ cũng là nạn nhân.

Trịnh Bá Hoành quyết “được ăn cả, ngã về không” để giành chức lí trưởng, cuối

cùng chức không có, tài sản tiêu tán, chỉ còn lại một mối hận lớn trong lòng. Vũ

Đình Đại thì đạt được chức nhưng ở trên vị trí ấy chẳng được bao lâu, để rồi sau

đó, đấy lại là một trong những yếu tố khiến người ta kết tội ông là địa chủ bóc lột

nhân dân. Trịnh Bá Thủ vì bảo vệ chức vị của mình mà không từ bỏ một thủ đoạn

nào, thậm chí còn vô tình gây họa, giết chết cả người thân. Vũ Đình Phúc cũng vì

danh vị mà mang tội bất hiếu chửi cha và suốt ngày phải lo lắng, suy nghĩ mánh

khóe...

Dẫu vậy thì cái bả lợi danh vẫn vô cùng hấp dẫn, thu hút lòng ham muốn

của con người. Trong cuộc sống, người ta luôn cố gắng tạo một vị trí cao trong xã

hội cho bản thân, cho con em mình bằng nhiều cách. Trịnh Bá Hàm đã bỏ tiền ra

vận động cho em là Trịnh Bá Thủ trúng bí thư xã để không ai còn dám coi thường

dòng họ Trịnh Bá và cũng là để dòng họ ông có đủ uy lực triệt hạ dòng họ Vũ

Đình. Thủ lên làm bí thư xã lại dẫn theo Cao - cháu vợ anh vào ghế phó ban công

an xã. Dựa vào quyền lực của mình, Thủ còn ra sức vận động cho Cao trúng hội

đồng nhân dân xã, dẫu rằng trong mắt mọi người Cao vẫn chỉ là một kẻ thích diễu

võ giương oai, thích phô trương, có tính học đòi lấc cấc. Nhờ Thủ mà Dinh, con

ông Hàm, cháu gọi Thủ bằng chú, chưa hết hạn nghĩa vụ đã được ra quân để đi

xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Cũng vì có Thủ ở trên cao nên những đứa cháu

của anh như Ưởng, Ngạc mới dám hung hăng, hống hách, suốt ngày thích gây gổ

đánh nhau với người khác... Cái kiểu ăn theo, dựa bóng ăn phần như thế này cũng

được phản ánh trong tiểu thuyết Bến không chồng. Anh Đột đơm ràng chân đất

mắt toét, một chữ bẻ đôi cũng không biết, nhưng nhờ tính chất nhiễu nhương của

xã hội trong thời kì cải cách ruộng đất mà được bầu vào ghế chủ tịch xã. Cơ may

của Đột cũng khiến em gái Đột, cô Tý Hin được “đổi đời”, được ngồi vào cái ghế

chánh văn phòng của xã.

Có thể nói lối sống tình cảm, đoàn kết, quan hệ họ hàng khắng khít, gắn bó,

luôn che chở, bảo bọc cho nhau là một nét đẹp trong văn hoá của người Việt. Nét

văn hoá ấy đáng được giữ gìn, đáng tự hào và đáng được tôn vinh. Nhưng nếu sự

đoàn kết gắn bó ấy được tôn vinh đế mức “muốn có một chân dù nhỏ, từ đội sản

xuất trở lên, và ai muốn vào Đảng thì nếu không có họ hàng thân thích với những

người đang nắm chính quyền, thì cũng phải là người được thu nạp vào trong vây

cánh mới có điều kiện để phấn đấu” [52, tr.424] thì sẽ là tai hoạ. Nó là mầm mống

nảy sinh các phe cánh trong chính quyền. Nó sẽ biến các quan hệ xã hội rạch ròi,

khách quan thành quan hệ gia đình du di, cả nể... Và vì thế, nó kìm hãm sự phát

triển của xã hội, tạo cơ hội cho người ta móc ngoặc tham ô... Thực tế là thế, bất

cứ cái gì, kể cả những điều tốt, nếu quá đà sẽ ra tiêu cực. Ở các tiểu thuyết kể trên,

thực tế ấy mới chỉ được thể hiện phần nào. Các tác giả qua tác phẩm của mình chỉ

muốn phản ánh mối quan hệ họ hàng thân tộc nặng nề ở các làng quê. Nhưng cũng

vì thế, những tiêu cực, những trì trệ của xã hội do những mối quan hệ đó gây ra được bộc lộ,

bộc lộ một cách tự nhiên, không gượng ép, không che đậy.

1.3.2 . Sức mạnh nằm trong tay kẻ lắm tiền

Trong xã hội nông thôn, uy quyền thuộc về hai đối tượng: kẻ có chức và kẻ

có tiền. Kẻ có chức thường khiến cho người ta sợ. Những con người có chức có

quyền đi đến đâu cũng được người khác xun xoe, nịnh hót, được người ta để ý

từng chút đến thái độ, vẻ mặt để chiều theo, để cố gắng làm hài lòng... Còn người

có tiền không làm người ta sợ nhưng lại khiến người ta nể, khiến người ta phải

trọng vọng, dù không phải ai cũng có ý nghĩ muốn nhờ vả họ.

Người ta nói “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”, ai nhiều tiền, nhiều gạo người đó

sẽ có sức mạnh. Thật vậy, cứ nhìn vào nhân vật Trịnh Bá Hàm trong Mảnh đất

lắm người nhiều ma thì thấy rõ điều đó. Ông Hàm là người xấu mã, người lùn và

to ngang, tay ngắn, mặt ngắn, trán cũng ngắn choằn..., và ông Hàm cũng chỉ làm

một nghề hết sức bình thường để kiếm sống –nghề thợ mộc. Nhưng nhờ có hoa

tay, có tài nên ông Hàm cũng tạo cho mình một cơ ngơi tương đối bề thế, giàu có

với căn nhà mái bằng quét ve xanh, lát gạch men, những “đồ đạc, giường tủ, bàn

ghế vàng rực cả bốn gian nhà”, có ruộng “thượng đẳng điền”. Và nhờ thế, ông tạo

ra quyền uy cho mình.

Ông có uy quyền với xóm làng. Cái làng Giếng Chùa trong những ngày

giáp hạt, lúa cũ không còn, lúa mới chưa đến ngày thu hoạch, cái đói phơi bày ra

khắp mọi nơi, trong khắp các gia đình. Lúc này, những gia đình nghèo khó ấy bám

víu lấy những gia đình giàu có như nhà ông Hàm để xin bán lúa non với giá cả rẻ

mạt mười hai ngàn một tạ. Dù rằng mỗi tạ thóc mua vào khi đến độ thu hoạch, ông

Hàm sẽ bán đến giá hai mươi ngàn một tạ, thậm chí khi thóc lên, có thể bán đến

giá năm mươi ngàn một tạ, nhưng với những người thu mua thóc non thì đấy vẫn

là hành động ban ơn, cứu những con người đang rơi vào cảnh khốn khó. Và dẫu

rằng bị bóc lột một cách trắng trợn thì những con người nghèo khổ kia vẫn phải

cầu cạnh, vẫn phải mang ơn, kính nể ông Hàm.

Ông có uy quyền với anh em họ tộc. Ngoài cái uy của một người trưởng tộc,

sự giàu có của ông Hàm cũng khiến cho cả họ tộc phải kính nể, tuân phục. Ông đã

nói ra điều gì thì không ai dám lên tiếng cãi lại. Ngay cả Thủ, em trai ông, học cao

biết rộng, làm đến bí thư xã mà cũng không dám chống lại ông một điều gì. Mỗi

khi tới vụ gặt, nhà ông Hàm đều có anh em tới giúp. Và mỗi lần như vậy, ông

Hàm đều tổ chức ăn uống hết sức chu đáo với “cá kéo sẵn dưới ao, gà nhốt sẵn

trong chuồng, rượu cất từ mấy hôm trước” [52, tr.176]. Ăn uống là một cách để

gia đình ông tế nhị cám ơn những người đã làm giúp, nhưng ăn uống cũng là cách

ông Hàm chứng tỏ uy thế và sự sung túc của mình ngay cả với anh em họ hàng.

Với gia đình, họ tộc của mình, ông Hàm tỏ ra rất uy quyền. Với gia tộc bên vợ,

ông càng tỏ ra uy quyền hơn. Dòng họ nhà vợ ông nhỏ bé, lại không có con trai,

đó là điều đầu tiên khiến ông không kiêng nể. Gia đình chị gái của vợ ông lại

nghèo, con đông, phải chạy ăn từng bữa và đã có lần phải sang vay tạm thóc của

nhà ông. Dù bà chị vợ vay rồi cũng phải trả chứ không quỵt được lấy một lạng

thóc. Dù chị vợ có không trả thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến bữa cơm nhà ông.

Thế nhưng, ông vẫn cứ khó chịu, vẫn cứ chì chiết, coi khinh sự nghèo khó của anh

em bên vợ. Và, không ít lần, ông Hàm nói bóng gió, thậm chí chửi thẳng chị vợ

và gia đình nhà vợ là “nơi cáo tha”.

Không chỉ tỏ ra uy quyền với xóm làng, với anh em họ tộc xa gần mà ngay

cả với vợ con, ông Hàm cũng tỏ ra cực kỳ gia trưởng, trịch thượng. Là trụ cột kinh

tế trong gia đình, ông Hàm tự cho mình cái quyền được hưởng thụ, được ăn trên

ngồi trốc, được hành hạ, bạc đãi vợ con. Trong cái căn nhà sang trọng bày biện

toàn đồ đạc hiện đại, đắt tiền của mình, ông Hàm có thể ngồi co hai bàn chân lên

chiếc ghế sa-lông đóng bằng gỗ lát chun bóng nhoáng, vần vũ những đường vân

như tranh sơn mài, hay cứ việc xì bã điếu ra nền gạch men..., mặc cho vợ con ông

sau đó phải quét phải lau. Ông tỏ ra uy quyền, quyết định tất cả mọi việc trong

sinh hoạt hàng ngày mà không cần phải để ý, phải biết đến tâm trạng, thái độ của

vợ. Ông kiểm soát việc chi tiêu. Ông gia trưởng cả trong chuyện chăn gối... Giàu

có và gia trưởng khiến cho ông là một con người cũng tủn mủn như chính hình hài

của ông vậy.

Có những lúc nào đấy trong cuộc đời, đồng tiền sẽ thể hiện được sức mạnh

vạn năng của nó. Không như thế thì làm sao nhân vật Tám lé (Mảnh đất lắm

người nhiều ma) lại có thể ung dung trở về làng với một phong thái tự tin, ngẩng

cao đầu trước dân làng Giếng Chùa như vậy. Ngày trước, vì nợ hợp tác như chúa

chổm, Tám phải dắt díu vợ con lên vùng kinh tế mới của huyện để xí xoá hơn tấn

thóc vay lãi lai rai trong vòng hơn hai năm. Ruộng, vườn, Tám phải trả cho hợp

tác. Căn nhà phải gán nợ cho chủ nhiệm Vinh với giá rẻ mạt: ba sào ba tạ thóc.

Hồi đó Tám nghèo nên Tám hèn. Hồi đó Tám nợ nần nên Tám sợ. Còn bây giờ,

sau năm tháng tha hương, Tám đi đào vàng và may mắn trúng quả lớn. Với đồng

tiền kiếm được, Tám có thể sống sung túc ở bất cứ đâu, nhưng Tám vẫn quyết tâm

phải trở về làng. Bởi vì trong suy nghĩ của Tám thì “có tiền thì sống ở đâu cũng

được, nhưng suy đi tính lại, Tám thấy phải về làng để đòi lại đất đai ruộng vườn

đã bị mấy anh có của mua bắt bí bắt chẹt. Bây giờ Tám phải là người có máu mặt

ở ngay mảnh đất cha ông. Phải sánh ngang hàng với những người xưa nay vẫn

nhìn Tám như con sâu cái kiến” [52, tr.365].

Và đồng tiền, với sức mạnh của nó, đã làm một cuộc cách mạng cho thân

phận con người. Ngày xưa người ta không thèm để ý đến Tám là ai, sống chết thế

nào; ngày nay người ta háo hức nhìn Tám và vợ con Tám, ngầm đoán xem thực sự

đằng sau cung cách ăn vận, tiêu xài , đằng sau những bộ cánh “ mới như chưa giặt

lần nào, đi lại cứ sột soạt” của gia đình Tám là một gia tài đáng giá khoảng bao

nhiêu. Ngày xưa ở trong làng, gia đình Tám chỉ là con ong, cái kiến; còn ngày nay

người ta nói cười hể hả, thân tình với Tám. Ngày xưa Tám sống tạm bợ, chờ thời,

trong cái quán cắt tóc của mình, hàng ngày Tám dài cổ ngong ngóng chờ đợi sang

nhà uỷ ban để hễ bên ấy động thớt là Tám liền có mặt để được ăn chực, ăn hôi.

Chính Tám là người đã truyền lại cái mánh ăn láu cá ấy cho lão Quềnh trước khi

từ bỏ quê hương lên vùng kinh tế mới. Còn ngày nay, Tám có thể mua gà, mua

rượu thiết đãi bạn bè và khi đến nhà chủ nhiệm Vinh, người trước đây đã cho Tám

vay thóc, người đã góp phần đẩy Tám đi vùng kinh tế mới, người đã mua cả ba

sào thổ cư, đất hương hoả của cha ông Tám để lại với giá ba tạ thóc..., thấy mâm

cơm chỉ có rau luộc, cá kho đã nói một cách rất kể cả: “nhà ông chủ nhiệm mà ăn

uống chỉ có thế này thôi à?” [52, tr.363]. Cái kiểu nói như là trước giờ Tám là

người ngang hàng phải lứa với chủ nhiệm, chứ không phải là hạng ăn vay, sống

nhờ. Đã vậy, Tám còn rất tự tin, đĩnh đạc yêu cầu chủ nhiệm Vinh cũng như hợp

tác xã phải trả đất cho anh ta. Anh ta còn kiêu hãnh rút ra khoe vài triệu với lời

giải thích đấy “chỉ là vài triệu lẻ, chỉ là cái móng tay của tôi thôi” [52, tr.364]...

Đồng tiền đã giúp cho giọng nói, lời nói của một kẻ cùng đinh như Tám trở nên có

thanh có sắc, hơn nữa, có gang có thép. Đồng tiền giúp cho Tám đi lại nghênh

ngang, kiêu hãnh giữa làng. Đồng tiền khiến cho tay “thợ húi đầu có cặp mắt

hiêng hiếng như bánh xe sang vành” [52, tr.363] càng trở nên hiếng hơn, “cứ nhìn

xiên xiên như thằng ba gai” [52, tr.363]. Tóm lại, tiền đã đem lại sức mạnh cho

Tám, dù rằng vẫn là một kẻ vô danh tiểu tốt, nhưng Tám đã được sống cho ra con

người và có quyền yêu cầu người khác, những điều mà khi nghèo khổ, dẫu mơ

Tám vẫn không thể nghĩ là mình sẽ có được những điều đó.

Những kẻ không có chức mà có tiền còn tạo ra một thứ quyền lực riêng cho

mình, có thể chi phối đến người khác, huống hồ một người vừa có chức, vừa có

tiền như chủ nhiệm Vinh.

Trong cái làng Giếng Chùa, bộ phận lãnh đạo chia năm xẻ bảy, chia bè kết

phái. Các phe phái đấu đá nhau để giành quyền lực cho mình. Ấy thế mà anh em

nhà Vinh cứ nhởn nhơ không chịu đứng vào phe nào, mặc cho các phe ra sức lôi

kéo. Sở dĩ như vậy là vì nhiều lí do khác nhau. Thứ nhất, dù không phải là người

của một dòng họ lớn trong làng nhưng anh em nhà Vinh lại là con của cô Thống

Bệu, người có tài “ cai quản phần âm của làng”, mà người làng thì cho rằng làng

mình rất nhiều ma nên vô cùng nể sợ, họ nể sợ luôn các con của cô khiến cho

những người tai to mặt lớn trong làng cũng không dám coi nhờn. Thứ hai, anh em

Vinh không phải nhờ vả bất cứ ai trong thường vụ xã. Thứ ba, Vinh lấy một người

vợ gia đình khá phong lưu, vợ Vinh lại là con gái duy nhất, Vinh dù ở rể nhưng

không phải chịu cảnh chó chui gầm chạn, lại còn được hưởng trọn vẹn cuộc sống

sung túc, đủ đầy. Chính vì thế, Vinh càng có cớ để không phải dựa dẫm, phụ

thuộc ai. Vì lẽ đó, người ta đã kính càng kính hơn, người ta đã nể càng nể hơn. Rõ

ràng, một cuộc sống vật chất sung túc đã khẳng định thêm chỗ đứng, uy quyền cho

chủ nhiệm Vinh. Cùng những yếu tố khác, sự giàu có cũng giúp cho Vinh thoát

khỏi vòng xoáy cạnh tranh, đấu đá khốc liệt trong cuộc chạy đua giành chức,

giành quyền ở xóm Giếng Chùa mà vẫn đứng vững trên vị trí của mình, từ từ

hưởng lợi một cách thanh thản.

Những trường hợp trên chỉ là những câu chuyện của những cá nhân riêng lẻ.

Thế nhưng, chính nó cũng là những minh chứng sinh động cho nếp nghĩ nếp sống

của người dân quê rằng trong cuộc sống nếu như “cả vợ chồng con cái phải bán

mặt cho đất, bán lưng cho giời mới kiếm được miếng ăn thì không ai người ta

trọng” [52, tr.135]. Ở các làng quê, những người có quyền, có tiền luôn có một vị

thế riêng, luôn được đặt cao, luôn được trọng vọng, dẫu rằng sự trọng vọng ấy

không phải lúc nào cũng song hành cùng sự yêu mến. Chẳng thế mà, người ta làm

tất cả để đạt được những thứ đó, có thể đánh đổi tất cả để có được những thứ đó.

Chương 2

BI KỊCH CỦA CON NGƯỜI NÔNG THÔN

Con người cá nhân là dấu hiệu đầu tiên và quan trọng để nhận diện con

người trong tiểu thuyết. Họ vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền văn hoá

mới.Hơn nữa, khi nghiên cứu về cái nhìn của nhà văn trong tiểu thuyết hiện đại

nói chung và những số phận cá nhân nói riêng thì người viết sẽ có dịp đi sâu khai

phá những mảnh tâm hồn vô cùng phong phú và đầy bí ẩn.Ở đó, mỗi cá nhân là

một thế giới muôn màu muôn vẻ mà cũng rất gần gũi với đặc điểm bản chất

người.

Trong ba tiểu thuyết: Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm

người nhiều ma, sự giải phóng cái “tôi” của chủ thể sáng tạo đã làm cho những

phong cách cá nhân xuất hiện với những độc đáo khác nhau. Lướt đi trên từng

trang tiểu thuyết, ta sẽ bắt gặp nhiều mảnh đời với những số phận khác nhau.

Người ta thường nói: hạnh phúc thì có thể giống nhau, còn đau khổ thì không ai

giống ai.Quả thật vậy, ba tác phẩm với số lượng nhân vật không phải là ít, nhưng

ở mỗi nhân vật, mỗi cá nhân, người đọc lại đối diện với mỗi hoàn cảnh vui, buồn,

hạnh phúc, khổ đau, giàu sang, bần hàn... không hề giống nhau. Nhưng do đặc

trưng của xã hội Việt Nam thời kỳ đầu đổi mới: quan niệm, lối sống, sự thay đổi

cơ cấu quản lý và cơ cấu sản xuất, những chuyển động tích cực và tiêu cực trong

xã hội..., con người thời kỳ này dường như đều vướng mắc một số bi kịch chung

mang tính chất thời đại. Đó là bi kịch khi con người bị trói buộc bởi uy danh dòng

họ. Đó là bi kịch của những con người đánh đổi tất cả cho khát vọng quyền lực.

Và một bộ phận lớn những con người cam chịu, phải đè nén những khát vọng cá

nhân, sống theo những giá trị được coi là chuẩn mực của gia đình, xã hội lúc bấy

giờ.

2.1. Con người bị trói buộc bởi uy danh dòng họ.

Một đặc điểm tâm lý được xem là phổ biến và là đặc trưng của người nông

thôn Việt Nam là tự ti nhưng rất tự tôn. Mỗi con người, từ trẻ con đến người già,

từ đàn bà đến đàn ông, từ người giàu sang đến nghèo hèn..., nhìn chung, họ ít tự

bộc lộ mình, ít dám bày tỏ trực tiếp suy nghĩ, tình cảm của bản thân; hay nói cách

khác, họ đối đãi nhau trong một quan hệ vừa câu nệ vừa du di, vừa cả nể vừa khe

khắt. Thế nhưng, với gia đình, với dòng tộc, họ lại có một thái độ khác hẳn, sẵn

sàng cống hiến, sẵn sàng hi sinh và sẵn sàng làm mọi điều có thể, thậm chí cả

những điều không thể để tôn vinh gia đình, dòng họ mình. Việc gia đình, dòng họ

được khen ngợi, nể nang cũng chính là niềm kiêu hãnh, là điều kiện để họ mở mày

mở mặt với xung quanh, dù cho đời sống riêng có khó khăn đến thế nào. Thậm

chí, khi người nhà lâm nạn, người ta còn có thể sẵn sàng “dù mất chức, mất

quyền, mất Đảng, chứ tôi không cho ai động đến người nhà tôi” [52, tr.134]. Cái

tâm thức đó tác động đến con người ở cả góc độ tích cực lẫn tiêu cực. Một mặt nó

thúc đẩy con người ta phấn đấu sống tốt hơn, lành mạnh hơn vì “tiếng thơm” của

gia đình. Nhưng mặt khác, nó cũng gây cho người ta biết bao bi kịch, cả những bi

kịch hữu ích và những bi kịch không đáng có.

Nhân vật Trịnh Bá Hàm trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma

là một ví dụ điển hình. Vì mối thâm thù với dòng họ Vũ Đình mà Trịnh Bá Hàm

đã mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác. Khi nghe tin có kẻ viết đơn nặc danh tố

cáo chính quyền xã, trong đó có em Hàm, vô trách nhiệm đối với cái chết của một

người cô quả như lão Quềnh, ông đã sôi sục lên căm hờn vì đoán chắc đó là việc

làm ném đá giấu tay của Vũ Đình Phúc. Sẵn những mối thâm thù trước đó, ông

tìm cách trả thù, mà phải là cách trả thù huỷ diệt đến mấy đời, đến tận gốc rễ dòng

họ nhà địch thủ. Đúng là cách trả thù của Trịnh Bá Hàm tự cổ chí kim, có lẽ ai

nghe cũng phải rùng mình: “lấy âm trị dương”. Trong đêm, Trịnh Bá Hàm, theo di

huấn của cha, đã cùng mấy đứa cháu và Thó (một người hàng xóm) đi đào trộm

mộ bố của Vũ Đình Phúc mới chôn được ba ngày để lật sấp xác chết xuống, lấy

ván thiên đóng bàn ghế đem bán lại cho con cháu người chết ngồi, hòng làm cho

cả dòng họ địch thủ lụi bại, không ngóc đầu lên được. Thế mới biết vì uy tín dòng

họ mà con người ta có thể làm cả những điều bất nhân, bất nghĩa, trời không dung,

đất không tha, quỷ, thần và con người đều phẫn nộ. Nhưng, sự trả thù ấy không

thành. Mọi việc bị phát giác, thù không trả được mà bản thân ông Hàm còn bị bắt,

cha con, chú cháu bất đồng, khiến cho địch thủ được dịp hả hê: “Ông via trưởng

họ mất thiêng rồi! Cá mè một lứa rồi.”, “Thế là nội bộ họ lục đục rồi! Khỉ tự vặt

lông khỉ rồi” [52, tr.152]. Không chỉ có những con người “vạn cố chi thù” sung

sướng mãn nguyện khi kẻ thù gặp nạn mà với những người hàng xóm, đây cũng là

một sự kiện có ý nghĩa: “những người không ưa ông Hàm, không ưa họ nhà này sẽ

được dịp cười cợt khích bác để hả lòng hả dạ. Kể cả những người không yêu

không ghét, xưa nay không có xích mích gì, nhưng thấy một gia đình phong lưu bị

sa xảy, thì họ vẫn cứ thích! Nhất là lại được nói những lời an ủi, được san sẻ nỗi lo

âu với cái người quen đứng trên mình thì sự thích thú càng tăng”[52, tr.148]. Nhìn

chung, uy tín cả bản thân, của em trai, của dòng họ ông đều bị dèm pha.

Tiếp sau sai lầm ấy, với quyết tâm tiêu diệt bằng được kẻ thù, ông Hàm dù

luôn ghen tuông vợ về mối tình thời con gái với Vũ Đình Phúc , nhưng lão vẫn ép

bà Son vu cáo Vũ Đình Phúc nài ép bà quan hệ bất chính. Và chính vì điều ấy, lão

đã gián tiếp giết chết người vợ suốt đời lão yêu quý nhưng chỉ nắm giữ được phần

xác mà không giữ được phần hồn.

Đúng như đặc tính nòi giống vật tổ mà dòng họ ông thờ, ông như một con

hổ say máu, điên cuồng đấu đá cho tiếng tăm của dòng họ, quyết tiêu diệt bằng

được kẻ thù. Ông có thể hi sinh tất cả mọi thứ , miễn sao được thấy kẻ thù phải

chết, chết thảm hại. Nhưng cuối cùng, kẻ thù của ông vẫn sống, sống đàng hoàng;

còn ông thì mất nhiều thứ, mất tất cả: mất uy tín, mất danh dự, mất sự yên ổn

trong tâm hồn, mất vợ, mất con..., cái còn lại chỉ là một cuộc sống vật vờ, những

đêm lén lút mò xuống nhà ngang cùng người đàn bà làm thuê.

Bên cạnh Trịnh Bá Hàm, những người thân của ông cũng rơi vào vòng xoáy

không lối thoát ấy. Trịnh Bá Thủ, người đứng đầu toàn xã, niềm tự hào của cả họ,

em trai ông, người chia sẻ với ông trong mọi mưu mô, tính toán cũng điên cuồng

đấu đá. Cái đầu khôn ngoan, thủ đoạn của Thủ luôn căng ra để phục vụ hai khát

vọng: quyền lực và trả thù. Với quền lực trong tay, Thủ làm mưa, làm gió để củng

cố vị trí và tiêu diệt Vũ Đình Phúc. Như kẻ bịt mắt đi trong đêm tối, say mê trả thù

không biết đến điểm dừng, Thủ đã đẩy bà Son, người chị dâu cả vào một cái chết

hết sức oan nghiệt, thương tâm.

Bà Son về làm vợ ông Hàm vốn không phải vì tình yêu. Do mối tình đầy tai

tiếng với anh giáo Phúc đã có vợ, sợ ảnh hưởng đến danh dự gia đình nên cô Son

phải cắn răng lấy anh Hàm thọt, xấu xí , cục mịch : “lấy chồng là để giữ tiếng cho

bố mẹ, thế là vì bố mẹ chứ đâu phải vì mình” [52, tr.241]. Để đổi lại sự im lặng

của chồng, cô Son cam chịu một kiếp sống lặng lẽ như tôi đòi cho chồng, cho gia

đình chồng. Và đến khi về già , bà Son lại vì chồng, vì dòng họ nhà chồng mà gặp

gỡ rồi vu oan giáng họa cho người tình cũ theo sự xếp đặt của anh em Hàm, Thủ.

Bị cuốn theo, bị đoạ đày bởi mối thù giữ hai dòng họ, bà đau đớn khi “kẻ vu vạ và

người được vu vạ đều hùa vào làm nhục mình” [52, tr.329], khiến bà không còn

thiết, không còn sợ gì nữa, bà đã mượn bến sông, nơi in dấu mối tình si của cả đời

bà, để rũ bỏ tất cả. Cả cuộc đời bà sống âm thầm, cam chịu, đến khi chết cũng âm

thầm, cam chịu.

Không chỉ có bà Son, cô Đào, cô con gái mới lớn vô cùng xinh đẹp cũng vô

tình rơi vào bi kịch một cách không cưỡng lại được. Yêu Tùng say đắm, một tình

yêu vừa e ấp vừa đắm say, vừa giữ gìn vừa dâng hiến. Thế nhưng, khi hành động

trả thù kinh khủng của ông Hàm bị phát giác, cô đoán ngay là do Tùng báo cho họ

hàng nhà anh, bởi lúc tối, ở nơi hò hẹn, cô và Tùng đã thấy ông Hàm và mấy

người nữa đi về hướng bãi tha ma của làng một cách mờ ám mà không hiểu có

chuyện gì. Nghĩ như vậy, đang từ tình yêu say đắm, cồn cào, Đào chuyển ngay nó

thành lòng thù hận. Đang là con người dẫm lên những lời nguyền có từ bao đời về

mối thù giữa hai dòng họ, mỗi tối phải tìm cách nói dối cha mẹ ra gặp Tùng,

chàng trai thuộc dòng họ Vũ Đình, một trai mà “rặt những ưu điểm! Cả khuôn mặt

vuông chữ điền với nước da bánh mật của Tùng, Đào cũng thấy quanh đây chẳng

anh nào ăn đứt.”[52, tr.108], Đào chuyển sang căm ghét, không thèm nhìn mặt.

Đào ngầm đối đầu với mối thù hận trong lòng cha, nhưng cô cũng như ông Hàm,

có ý thức quá lớn về gia đình, gia tộc mình, và cái ý thức đó cô đặt cao hơn tình

yêu nên cô không thể tha thứ cho hành động bột phát thiếu suy tính của Tùng.

Phần Tùng, anh luôn là người khách quan, một người đứng công bằng giữa mối

hiềm khích của hai dòng họ. Ấy thế mà, khi mồ mả cha ông bị động đến, con

người thông minh, nhanh nhẹn như anh cũng không đủ sáng suốt để suy nghĩ điều

gì, ngoài việc phải bắt quả tang kẻ phá hoại, dù cho đó là người thân của người

mình yêu. Dẫu vậy, Đào và Tùng thực ra cũng chỉ là nạn nhân của mối thâm thù

giữa hai dòng họ, nạn nhân của tư tưởng ấu trĩ, ích kỉ ở nông thôn nói chung chỉ

biết rào giậu, vun vén cho “gốc rễ” của mình. Một tình yêu đẹp, trong sáng, mãnh

liệt buộc phải bị giết chết để người ta khẳng định danh giá gia đình, dòng họ. Thật

là ngớ ngẩn!

Cả một gia đình điên cuồng khẳng định và bảo vệ tiếng tăm, danh giá của

mình bằng mọi cách, trong sáng và đen tối, ngay thẳng và thấp hèn... Cuối cùng,

hậu quả là một gia đình tan nát, từng con người vẫn phải tự bi phẫn, day dứt ôm

mối hận trong lòng.

Đối đầu với dòng họ Trịnh Bá, những con người thuộc dòng họ Vũ Đình,

đứng đầu là Vũ Đình Phúc cũng ăn không ngon, ngủ không yên: “dù thế nào cũng

không thể để họ Vũ này bị nhục trước dân làng”, suốt ngày bươn bả, tính toán

mưu mô để hạ địch thủ, tìm cách tôn vinh những con người của dòng họ mình.

Với họ thì “nỗi căm tức mộ bố bị phá còn chưa sôi sục bằng thấy cả họ nhà mình

bị thua thiệt” [52, tr.135]. Thế mới biết cái ý thức tự tôn, sự kiêu hãnh về nguồn

gốc, dòng tộc trong con người nông thôn lớn lao như thế nào.

Chỉ có điều, cả hai phe, trong quá trình thanh toán nhau không hề ý thức

được một điều: cả làng đang nhìn vào hai họ này để bàn luận, để cười cợt, đàm

tếu... Không biết so đọ với nhau thì dòng họ nào sẽ hơn, nhưng rõ ràng danh giá

của mỗi dòng họ đều chịu tổn thất tương đối nặng nề sau mỗi cú va chạm.

Cũng là con người sống hết lòng vì uy tín, danh dự bản thân và dòng họ,

nhưng Nguyễn Vạn trong Bến không chồng lại rơi vào một bi kịch hoàn toàn

khác. Nguyễn Vạn nhà nghèo, phải đi làm thuê cho địa chủ Hào từ nhỏ. Khi lớn

lên, Vạn đi bộ đội, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ đạt được nhiều chiến công

nên khi về “những tấm huân chương rung rinh lấp lánh trên ngực”[52, tr.5]. Con

người Vạn, từ dáng đi đến nụ cười, ánh mắt, lời nói... đều lắp lánh hào quang của

những ngày oanh liệt, của chiến thắng. Thêm nữa, Vạn lại là con cháu của dòng

họ Nguyễn, một dòng họ lớn, nổi tiếng, có từ đường họ to nhất làng. Chính những

nhân tố đó đã tạo nên một Nguyễn Vạn cực kỳ mẫu mực, là tấm gương cho cả

làng lấy đó để noi theo, để học tập và dạy dỗ con cái... Người ta nói theo Nguyễn

Vạn. Người ta làm theo Nguyễn Vạn. Người ta nhìn Nguyễn Vạn đi làm để đoán

giờ...Đến như lão Xung, một người già nhất trong họ cũng phải kiềng nể. Và cũng

chính những nhân tố đó đã vô tình gây nên bi kịch cho đời Vạn. Vạn yêu chị

Nhân, vợ liệt sĩ. Đấy là một tình yêu thầm lặng nhưng tha thiết, sâu lắng. Vạn có

thể vui, buồn, hạnh phúc, đau khổ...cùng với những vui, buồn, hạnh phúc, đau khổ

của mẹ con chị Nhân. Vạn có thể làm tất cả, có thể hi sinh bản thân cho hạnh phúc

của mẹ con chị. Thế nhưng, tình yêu to lớn ấy không thể bước qua được ngưỡng

cửa từ đường họ Nguyễn, không bước qua được lời nguyền độc của dòng họ

Nguyễn tồn tại từ bao đời. Và cũng không thể vượt qua ánh hào quang của chính

bản thân Vạn. Thậm chí, trong một đêm mưa gió, khi Vạn đem cá đến cho chị

Nhân, không kềm lòng được, chị Nhân đã chủ động ngã vào vòng tay Vạn. Thế

nhưng, Vạn không dám.Vạn sợ. Vạn sợ phải đối diện với dân làng. Vạn sợ phải

đối đầu với dòng họ Nguyễn. Ngay cả khi thằng Nghĩa, cháu Vạn yêu Hạnh , con

chị Nhân, Vạn cũng sợ. Vạn van xin hai đứa cháu mà mình vô cùng yêu mến đừng

yêu nhau, đừng chống đối lại họ mạc. Đến nỗi Hạnh, con bé được Vạn nuôi từ nhỏ

đã phải phẫn nộ lên án ông chú mà cô hằng ngưỡng mộ: “Chú hèn lắm! Chú là

người không có tim.” [52, tr.64]. Nếu đúng Vạn không có tim còn đỡ, đằng này

Vạn vẫn có tim, một trái tim vẫn run rẩy, vật vã, khát khô trước những người đàn

bà, cả người đàn bà Vạn yêu thương kính trọng như chị Nhân, cả người đàn bà

Vạn vừa sợ vừa khinh như mụ Hơn. Con người khốn khổ ấy không dám sống

đúng với bản năng của mình, bản năng của một người đàn ông sung mãn, bởi lẽ

Vạn sợ mình “hư hỏng” và “nếu mình mà mắc thì những thằng máu mê ở làng này

nó làm loạn” [52, tr.183]. Đến tận cuối đời, người đàn ông ấy mới được hưởng

hạnh phúc trần tục của con người. Nhưng cái hạnh phúc tột đỉnh ấy lại đi kèm một

nỗi đắng cay, tủi hổ to lớn, vì nó được đem đến bởi chính Hạnh, con gái người

ông yêu, đứa cháu gái mà ông vô cùng yêu quý, và nó được đem đến trong một

đêm mưa gió, ông đang choáng váng bởi hơi men không làm chủ được mình.

Người đàn ông cả đời mẫu mực ấy không gánh nổi tội lỗi khổng lồ, không gánh

nổi nỗi tủi hổ của cả đời mình. Ông không dám gặp ai, nhìn mặt ai. Đối với ông,

danh dự bản thân, danh dự gia đình sụp đổ hoàn toàn từ cái đêm mưa gió oan

nghiệt ấy. Và khi Hạnh dắt về cho ông một đứa con gái, con chung của hai người,

ông thẫn thờ với niềm hạnh phúc trái ngang ấy. Hạnh đòi đưa con về sống với

ông, ông xót xa thương Hạnh, thương Nghĩa, ông đau khổ với chính mình. Cuối

cùng, ông trốn tránh mọi khổ đau, dằn vặt bằng cách kết thúc cuộc đời dưới chân

cầu Đá Bạc. Có thể nói Nguyễn Vạn cả đời gìn giữ cái bóng của vinh quang, gìn

giữ “nhân phẩm” của bản thân và gia đình như một cô gái giữ gìn trinh tiết mà

đánh mất đi cái chính yếu là bản thân mình, cá nhân mình. Ông đã tự thiêu huỷ nó

để nhận thức.

Cái bi kịch của dòng họ Nguyễn, bi kịch của Nguyễn Vạn đã kéo theo bi

kịch của đời Hạnh. Vì mối thù của hai dòng họ, Hạnh phải chấp nhận một đám

cưới không nghi lễ, không người thân, chấp nhận một đêm tân hôn phiêu bạt ngoài

trời. Khi được phép về ở nhà chồng, Hạnh không chỉ gánh trên vai trách nhiệm

dâu con của dòng họ Nguyễn mà cô còn phải gánh cả sức nặng lời nguyền của cụ

tổ. Nghĩa đi bộ đội bị thương, không thể có con. Thế nhưng, cả dòng họ Nguyễn

cho là tại Nghĩa lấy kẻ thù về làm vợ nên cụ tổ trừng phạt bị tuyệt tự. Ngay cả bà

Khiên, mẹ Nghĩa, rất yêu quý Hạnh nhưng dần dần cũng bán tín bán nghi. Bản

thân Hạnh, dẫu không tin nhưng cũng không khỏi chạnh lòng. Để rồi, không thể

gánh nổi trách nhiệm làm dòng họ Nguyễn tuyệt tự, Hạnh phải tự rời bỏ Nghĩa.

Nghĩa yêu Hạnh. Nghĩa hiểu được những khổ đau, vất vả Hạnh phải gánh chịu.

Nghĩa không muốn bỏ Hạnh... Nhưng Nghĩa cũng lại cần có một người con trai để

thay Nghĩa làm “cậu trưởng nam con dòng họ Nguyễn”, phục hồi và xây dựng

tiếng tăm dòng họ. Nên dù đau khổ khi chia tay với Hạnh, Nghĩa cũng vẫn nhanh

chóng tìm đến tình duyên mới với cô bác sĩ Thuỷ, mong tìm được ở cô những điều

mà anh nghĩ Hạnh không thể cho anh. Thế là, chỉ có Hạnh là người thiệt thòi nhất.

Cô mất tất cả: mất chồng, mất hạnh phúc, mất những năm tháng giam tuổi trẻ

trong nhà họ Nguyễn, mất cả niềm tin vào cuộc sống..., mất một cách oan ức và

cay đắng. Nỗi oan ấy được chính người họ Nguyễn tháo bỏ, nhưng đấy lại là chú

Vạn, chú của Nghĩa. Chứng minh được mình có thể có con, mình không phải là

một bóng ma ám dòng họ Nguyễn cũng là lúc Hạnh không còn chỗ đứng trong

làng, nói đúng ra là không dám sống ở cái làng chứa đựng bao nỗi oan trái của

đời cô.

Ngoài Vạn là người cả đời gánh trên vai danh tiếng của dòng họ, những

người họ hàng nhà Vạn , cụ thể như gia đình ông Xung, cũng xuốt ngày quẩn

quanh bên từ đường để theo dõi việc họ. Ông Xung luôn vênh vang vì dòng họ

Nguyễn lớn nhất làng, từ đường họ Nguyễn cũng to nhất làng. Vì mối thù và lời

nguyền của dòng họ, ông phản đối việc Nghĩa lấy Hạnh và cho Hạnh đến ở căn

nhà tự. Cha con ông tự phát điên khi phạm tội với tổ tiên: đốt từ đường và lấy

trộm tiền. Vợ chồng Nghĩa xây lại nhà ông cho là đem quân về phá từ đường và

nguyền rủa Hạnh sẽ không có con...Tất cả hành động của ông Xung đều xuất phát

từ lòng tự tôn tiên tổ và uy quyền của mình trong dòng tộc. Vì điều đó nên đến khi

gần đất xa trời, ông vẫn đau đáu một nỗi ân hận khôn nguôi vì đã đối xử không

công bằng với Hạnh và đã góp phần tạo nên bất hạnh, chia rẽ vợ chồng thằng cháu

trưởng họ của mình.

Vì uy tín, danh dự, người ta có thể hi sinh nhiều thứ. Người ta có thể không

quan tâm, thậm chí, giết chết hạnh phúc, cuộc sống của con người vì những ánh

hào quang chung chung ấy của gia đình, dòng họ. Sài trong Thời xa vắng là một

nạn nhân của những điều ấy. Sài được bố lấy vợ cho khi mới mười tuổi. Sài không

thích, sau này không yêu, thậm chí còn ghét, căm thù vợ mình. Ai cũng biết điều

đó. Cả gia đình biết điều đó. Cả làng, thậm chí cả huyện cũng biết điều đó. Thế

nhưng, Sài lại không thể từ bỏ người vợ của mình. Ngay cả những con người

thương yêu , xót xa cho đường hôn nhân của Sài nhất như chú Hà, anh Tính cũng

không cho phép Sài bỏ vợ. Ban đầu , khi ông đồ Khang cưới vợ cho Sài, cả anh

Tính lẫn chú Hà đều phản đối quan điểm lạc hậu của bố, của anh mình. Chú Hà,

khi ấy làm bí thư chi bộ xã đã bất bình , không xuống dự cái đám cưới trẻ con lấy

vợ ấy. Anh Tính, phần vì thương thằng em ham học, phần ghét nhà phó Cự (nhà

vợ Sài) nên cũng bất đồng với bố. Vậy mà, khi Sài phẫn uất đuổi vợ đi vì vợ đã

trót giã nhầm tay mình thì không chỉ có ông đồ Khang tức giận mà chú Hà, anh

Tính cũng rất phiền lòng. Mỗi người buồn phiền chuyện của Sài dưới những góc

độ suy nghĩ khác nhau. Ông đồ buồn vì: “Mang tiếng là ông đồ nho, mấy đời nay

chưa hề để ai chê cười nhà mình có chuyện ăn ở như “họ nhà tôm”, chưa có khi

nào con cái lại trái ý cha mẹ. Chưa khi nào ăn nói sai ngoa, lá mặt, lá trái. Con

mình đuổi người ta đi, ai biết đâu là chuyện trẻ con” [30, tr.18]. Chú Hà buồn vì:

“Thằng Sài đuổi vợ nó đi, đấy là việc của thằng trẻ con. Bố anh đánh chửi thằng

Sài, là việc của ông lão phong kiến hủ bại. Còn anh, anh là cán bộ, gia đình anh là

gia đình cách mạng, nếu ngày mai, ngày kia cả làng, cả tổng đồn ầm lên rằng nhà

anh Tính cán bộ huyện, cháu ông Hà bí thư chi bộ xã cãi nhau, đánh nhau ầm ĩ

suốt đêm thì anh còn mặt mũi nào nữa không” [30, tr.11]. Còn anh Tính thì buồn

vì: “Chuyện gì xảy ra, thiên hạ cũng chỉ biết bố hay mẹ đồng chí Tính, anh hoặc

em anh Tính cán bộ huyện chứ ai có thể thay anh nhận lấy sự xỉ nhục. Là chưa kể

chuyện thằng Sài không biết đến bao giờ mới hết tai tiếng” [30, tr.18]. Dẫu vậy,

những người thân, những người lớn trong gia đình nhà Sài vẫn gặp nhau trong ý

thức giữ gìn “danh dự của gia phong”. Chỉ có một người “bất chấp cả mọi nền nếp

gia giáo của ông đồ, bất chấp cả mọi tai tiếng” để bảo vệ Sài thì lại không có

quyền quyết định một việc gì trong gia đình, người đó là mẹ Sài. Bởi thế, Sài sống

cuộn tròn trong sự yêu thương, săn sóc của gia đình và cũng cúi đầu chấp nhận

điều kiện của mọi người: “Cấm được bỏ vợ đấy nhé!”.

Thế đấy, đạo đức phong kiến và tư tưởng tiểu nông tồn tại trong nông thôn nước

ta suốt từ xưa tới nay, đặc biệt ở giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới, giai đoạn đầu của

công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cực kỳ nhạy cảm, đã trực tiếp hoặc gián tiếp

gây ra biết bao nỗi đau, bao bi kịch cho con người. Dường như thời kỳ này, con

người cá nhân bị lãng quên. Người ta chủ yếu sống vì những lý tưởng, những

chuẩn mực, chuẩn mực của xã hội, chuẩn mực của gia đình... Mỗi cá nhân phải

đội trên đầu biết bao trách nhiệm. Trong đó, trách nhiệm với gia đình , với dòng

tộc là một trong những trách nhiệm nặng nề nhất, khó gỡ bỏ nhất và là cội nguồn

đau khổ cho con người nhiều nhất. Các nhà văn, bằng sự nhạy cảm của mình đã

truyền tải khá sinh động những vấn đề đó trong tác phẩm.

2.2. Con người nô lệ của khát vọng quyền lực

Con người ở mọi thời đại đều luôn mang một khát khao có một vị trí nhất

định trong xã hội, một vị trí có thể đem lại những quyền hành, lợi ích cho bản thân

và khiến người khác phải nể trọng, ngưỡng mộ. Dân gian có câu: “Một miếng

giữa làng hơn một sàng xó bếp”, hay: “đầu gà còn hơn đít voi”...Trong cái gọi là

tinh thần tiểu nông tồn tại ở nông thôn Việt Nam từ xưa tới nay thì tâm lý trọng

vọng kẻ có chức có quyền lại càng thúc đẩy người ta cố gắng phải dành được một

vị trí nào đấy trong chính quyền. Mỗi dòng họ đều phấn đấu có càng nhiều người

nằm trong cơ cấu cán bộ ở địa phương càng tốt. Vì thế nảy sinh đua tranh. Vì thế

nảy sinh thủ đoạn. Vì thế họ chia bè phái. Vì thế họ tìm cách thanh toán, hạ bệ

nhau...

Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma đã phản ánh cực kỳ sinh động

cuộc đấu đá không ngừng để tranh giành quyền lực ở xóm Giếng Chùa. Cuộc đấu

đá ấy diễn ra triền miên từ đời này sang đời khác giữa hai dòng họ Trịnh Bá và Vũ

Đình.

Trước là cuộc tranh giành địa vị giữa Trịnh Bá Hoành và Vũ Đình Đại. Hai

con người này dồn tất cả vật chất lẫn tinh thần để tranh nhau “chuyện đất, chuyện

chức, cái chức lý trưởng dù nhỏ, nhưng đấy là chuyện danh dự, là chuyện được

thua giữa hai dòng họ, là phân đầu gà má lợn, là chỗ ngồi chiếu nhất giữa đình

làng” [52, tr.30]. Cuối cùng, chiến thắng thuộc về Vũ Đình Đại, dù chỉ được một

thời gian ngắn. Còn Trịnh Bá Hoành thì nhà gỗ, ruộng thượng đẳng điền, lợn đàn,

trâu nái... ra đi gần hết, cái còn lại là một nỗi hận, nỗi căm thù tột đỉnh dành cho

địch thủ.

Hai người cha hết thời không chỉ truyền lại cho đời con mối thù dằng dẵng

ấy, mà còn truyền lại cho con nguyên vẹn tính háo thắng, niềm đam mê quyền lực.

Sau hai người cha đến hai người con, Trịnh Bá Thủ và Vũ Đình Phúc, những con

người được xem là bộ não trí tuệ của cả họ. Ta hãy theo dõi con đường tiến thân

của hai con người này.

Vũ Đình Phúc đã từng tham gia du kích và làm bí thư đoàn thanh niên toàn

xã. Để đảm bảo vị trí của mình, thời cải cách ruộng đất, Phúc đã phải từ bỏ rất

nhiều thứ để chứng tỏ “mình không bị giai cấp địa chủ nhuộm đen”. Phúc thoát ly

gia đình, ly khai nguồn gốc xuất thân và đứng ra đấu tố chính cha đẻ của mình.

Cha của Phúc, ông Vũ Đình Đại, bị kết tội là: “tên địa chủ có 5 mẫu ruộng, 3 trâu

cày, ngày mùa ngày vụ dám thuê gần chục nhân công làm cho nhanh. Mặc dù tên

Đại cũng hai bữa cơm đèn, làm quần quật như trâu, nhưng đấy chính là âm mưu

của nó, ta không được mơ hồ lẫn lộn, vì nó làm để ốp những người vô sản không

có tư liệu sản xuất phải đi làm thuê làm mướn kiếm ăn, nhưng đã bị những tên

cường hào như những cái vòi của con bạch tuộc bóc lột đến tận xương tuỷ. Ta

phải vạch trần tư tưởng đen tối của chúng ra.” [52, tr.26]. Và, khi đội cải cách tiến

hành đấu tố tên địa chủ Đại, vợ chồng Phúc đã rất tiến bộ, “ có tinh thần kiên

quyết dứt bỏ được giai cấp phi vô sản, tự nguyện phục vụ sự nghiệp của giai cấp

công nông.”, đứng ra đấu tố cha mình cực kỳ sôi nổi. Phúc thì dõng dạc hỏi cha:

“Địa chủ Đại, mày có biết tao là ai không?”. Còn vợ Phúc thì “cái mỏ liềm cứ mổ

trước mặt Vũ Đình Đại, vừa mổ chị vừa kể tội bọn chúng đã bóc lột đè nén mình

ra sao” [52, tr.26-27]. Hơn thế nữa, Phúc còn phải luôn “bám riết đội trưởng Hùng

Cường”, phải đứng ra bảo vệ đồng chí Hùng Cường, kiểm điểm đám thanh niên

tếu táo đã bàn luận chuyện: “bắt gặp đồng chí Hùng Cường đi sâu đi sát quần

chúng, đến bắt rễ với cô Tý con bà Tẹo ở cuối xóm. Nhà chỉ có hai mẹ con, bà

Tẹo lại vừa hỏng mắt lẫn hỏng tai, chỉ có cô Tý tuy xấu người nhưng được cái

phốp pháp, dễ dãi. Họ bảo thấy đồng chí Hùng Cường đến bắt rễ cốt cán để tìm

hiểu tình hình của làng, đã ăn cơm thịt gà rồi ngủ luôn ở đấy đến sáng hôm sau đi

cổng ngách về trụ sở” [52, tr.25]. Nhờ thế Phúc thăng tiến và đã làm đến chức chủ

nhiệm xã . Sự thăng tiến của Phúc được đổi bằng cả cái chữ “hiếu” to lớn của một

gia đình nho giáo. Sự thăng tiến ấy còn được đánh đổi bằng cả nhân cách, đạo đức

của một người thầy giáo. Nhưng Phúc tình nguyện đánh đổi, hài lòng về sự đánh

đổi ấy, bởi “thời bấy giờ nó nhiễu nhương, trắng đen lẫn lộn, cóc ngoé nhảy lên

làm người! Muốn có chỗ đứng thì phải biết lựa” [52, tr.29]. Thế mới biết, để có

chỗ đứng trong xã hội, để đạt được một chức vị nào đó, con người ta có thể dễ

dàng chấp nhận từ bỏ hàng ngũ con người để đứng xuống hàng cóc ngoé.

Còn Trịnh Bá Thủ chật vật mãi mới vào Đảng, bởi “có điều tiếng trong thời

gian yêu đương”và dám “vặn vẹo cãi lí với cả Đảng uỷ” để trình bày ý kiến, quan

điểm của mình, nên Thủ nghiệm ra một điều: “Thái độ, cái điều tưởng là nhỏ nhặt,

nhưng nhiều anh đã bị mờ đời chỉ vì thái độ” [52, tr.156]. Chính vì vậy, Thủ đã

cực kỳ thận trọng, khôn khéo từng bước đi lên: “Vừa học xong một khoá đào tạo

cán bộ cho cơ sở, thì đúng dịp xã đại hội Đảng bộ. Thế là hắn lao vào làm đủ mọi

việc thượng vàng hạ cám. Từ việc trang trí, lên huyện mời đội bóng, rồi tiếp khách

ở xa, giúp ông Đáng bí thư viết báo cáo. Chỗ nào người ta cũng gọi anh Thủ, đồng

chí Thủ, việc này lại phải đồng chí Thủ! Hắn có mặt ở khắp mọi nơi, kể cả việc

nấu nướng, hắn cũng sắn tay nhảy vào chỉ đạo. Thế là ai cũng trầm trồ: Anh Thủ

vừa đi học một năm rưỡi ở trường Đảng tỉnh về đấy. Đến là giản dị, xông xáo và

quần chúng quá thể. Hắn đã tự quảng cáo trước khi bầu ấy mà! Trong đại hội ấy,

chỉ trừ hắn còn tất cả những người ở Giếng Chùa đều mất phiếu. Thế là hắn muốn

nói hắn là bộ óc của cả Giếng Chùa chứ gì?” [52, tr.394]. Dường như vì con

đường đến với địa vị của Thủ không được suôn sẻ nên hơn ai hết, Thủ ý thức rất

rõ giá trị của “góc chiếu giữa làng”.

Thủ và Phúc, mỗi người có một cách tiến thân khác nhau, nhưng cả hai đều

có niềm khát vọng cháy bỏng về quyền lực. Vì thế, họ “chiến đấu” với nhau.

Chiến đấu cho bản thân. Chiến đấu vì danh giá dòng họ mình.

Cuộc chiến ấy mở đầu khi Trịnh Bá Thủ và họ hàng vận động cho Thủ

trúng chức bí thư xã, còn Vũ Đình Phúc mất ghế chủ nhiệm cùng với chân Đảng

uỷ. Nó diễn ra cả trong suy nghĩ lẫn hành động. Bị phế truất, Vũ Đình Phúc lồng

lộn cay cú. Việc đầu tiên mà Phúc làm là tìm mọi cách phải đón bằng được người

cha đã từ mặt Phúc từ khi bị vợ chồng Phúc đấu tố, bởi “phe cánh nhà Trịnh Bá

đang lăm le chiếm hết quyền hành cái xã này. Nó dám nói chi họ Vũ Đình quanh

năm lục đục thì còn lãnh đạo ai!” [52, tr.20]. Tiếp theo đó, Phúc và phe cánh luôn

theo dõi, thu nhặt thông tin để chống đối và kiện cáo Thủ. Những lá đơn liên tiếp

được gửi lên huyện tố cáo chính quyền xã: từ việc chôn cất lão Quềnh – một

người cô quả – không cẩn thận; đến việc cấp thóc ưu đãi cho gia đình chính sách

không đầy đủ; đến việc quản lý, sử dụng tiền quỹ của xã không minh bạch; đến

việc gộp các xã lại để hưởng phần lợi nhuận do nhập nhằng giữa hai mức thuế

khác nhau... Dĩ nhiên chính quyền xã ở đây là Thủ, do Thủ đứng đầu, do Thủ chỉ

đạo. Và, dĩ nhiên, Thủ đoán dược những lá đơn ấy là của “tay Phúc chứ ai”. Với

cái đầu khôn ngoan, bình tĩnh có thừa, Thủ đã lần lượt bẻ gãy từng âm mưu của

Phúc. Tố cáo ngược đãi cái chết của người cô quả thì Thủ cho đào lên chôn lại. Tố

cáo việc sử dụng tiền quỹ xã gửi tiết kiệm lấy tiền lãi chia cho cán bộ xã, Thủ trả

lại tiền và giải thích là cho mượn tên cá nhân để thu lợi cho địa phương. Việc thu

thuế nhập nhằng, Thủ lôi luôn Phúc vào, vì Phúc cũng từng làm chủ nhiệm...

Thậm chí, sau cái vụ ông Hàm đào trộm mả, Thủ sính quýnh, tưởng đâu không gỡ

nổi rắc rối, vậy mà Thủ đã khiến Phúc gậy ông đập lưng ông, phải tự nguyện rút

đơn tố cáo về để tránh bị làm rùm beng chuyện gặp gỡ một cách “không trong

sáng” với bà Son, mà người đạo diễn buổi gặp gỡ ấy lại chính là Thủ. Dù cho phe

của Phúc có thêm ba đảng viên kì cựu là hai người em rể của Phúc mới về hưu và

Tùng, thằng cháu mới giải ngũ về địa phương thì sức mạnh vẫn thuộc về Thủ. Bởi

Thủ đang có thực quyền trong tay.Chỉ cần một cái nhíu mày, chau mặt, một câu

nhắc nhở mát mẻ của Thủ cũng khiến bao kẻ cuống cuồng lo lắng, run sợ. Đến

nỗi, người ta khiến Thủ hình thành một thói quen thưởng thức uy quyền của mình:

“Hằng ngày đến đây là Thủ có niềm thích thú là được nhấm nháp, được ngắm

vuốt cái quyền của mình nó hiện ra qua những săn đón, cung phụng ở xung

quanh”. Với Thủ, “có khi nhấm nháp quyền lực nó còn râm ran thấm thía hơn cả

ăn nhậu” và sự kính nể, cung phụng của mọi người xung quanh chính là “bầu

không khí để anh hít thở”.

Nhìn chung, hai con người này tìm ra mọi chuyện, dù to dù nhỏ, sử dụng

làm vũ khí thanh toán, loại trừ nhau. Hết những chuyện liên quan đến việc công,

họ lấy cả chuyện riêng, lấy người thân ra phục vụ cho cuộc chiến của mình. Nạn

nhân của họ là bà Son, người tình cũ của Phúc, chị dâu của Thủ. Lợi dụng mối

thâm tình cũ của chị dâu, Thủ yêu cầu bà Son gặp Phúc để xin tha tội cho ông

Hàm. Nhưng, Thủ đã lợi dụng cuộc gặp gỡ này để vu cho Phúc tội quan hệ bất

chính, ép Phúc phải đứng ra xin thả anh mình. Không những thế, để loại bỏ Phúc

hoàn toàn trong bộ máy chính quyền xã, Thủ đã bàn với ông Hàm ép bà Son đứng

ra tố cáo Phúc nài ép bà quan hệ bất chính. Sợ bà Son không làm điều dối trá, Thủ

đã cùng Cao, phó công an xã, cháu vợ của mình đón đường giả làm ông Phúc tìm

cách cưỡng đoạt bà Son trong đêm tối để trả thù tội vu vạ. Hành động ấy của Thủ

đã đẩy người chị dâu tìm đến cái chết vì nhục, vì uất ức. Vì mải mê bảo vệ cái ghế

của mình, Thủ không ngờ mình đã giết người, mà người đó chính là chị dâu của

Thủ. Đúng là “ trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết”. Những con người lãnh đạo

chính quyền đánh nhau, những con người trụ cột của hai dòng họ đánh nhau,

những người đàn ông đường hoàng, nho nhã đánh nhau; để một thân phận mỏng

manh, liễu yếu như bà Son gánh lấy mọi ấm ức, bất hạnh. Cái chết oan của bà Son

gây một chút day dứt cho Thủ. Cái chết của bà Son gây một chút bàng hoàng cho

Phúc. Thế nhưng, cái ấy chưa có tác dụng thức tỉnh, chưa làm chấm rứt cuộc chiến

khốc liệt giữa hai con người này. Trái lại, thù càng thêm thù. Ông Phúc vẫn miệt

mài với những toan tính cùng hai người em rể và những lá đơn nặc danh tố cáo,

khiếu nại Thủ và lãnh đạo xã. Thủ thì như con hổ rình mồi, lúc nào cũng sử dụng

tiếng cười và cách nói đầy thuyết phục của mình để làm chủ tình thế, chờ con mồi

sơ hở mới nhảy lên chộp. Thủ và Phúc, cả hai đều làm những việc không trong

sạch và lợi dụng việc triển khai nghị quyết 04 – nghị quyết làm trong sạch Đảng –

để hạ bệ nhau. Những việc này dân làng Giếng Chùa ai cũng biết. Mối thù giữa

hai dòng họ ai cũng biết. Mối hiềm khích giữa Thủ và Phúc ai cũng biết. Nhưng ai

cũng sợ vì đấy là hai con người thuộc hai phe mạnh trong làng. Cuộc chiến giữa

họ là một mất một còn, dân làng chỉ biết chứng kiến và dạt theo chiều gió. Khi

những người trẻ tuổi như Tùng, Đào, Minh, những người thuộc thế hệ con cháu,

thức tỉnh trước những mưu mô xảo quyệt của người lớn, họ đã quyết định vào

cuộc. Dù Tùng bị những kẻ lạ mặt chặn đường đánh cho một trận lên thân, nhưng

đến cuối cuốn tiểu thuyết, người đọc vẫn có thể hình dung được kết cục của hai

con chiến mã bất kham đã đến lúc hết thời.

Ngoài những nhân vật kể trên, một số nhân vật khác trong cuốn tiểu thuyết

này cũng rơi vào sức quyến rũ mãnh liệt của vầng hào quang quyền lực. Đó là

Cao, phó trưởng công an xã, cháu vợ, kẻ sai vặt đắc lực cuả Thủ. Được ông chú

đặt vào cái ghế ấy, Cao rất hãnh diện. Để thêm phần oai vệ, Cao đã tự đầu tư cho

mình xe máy, quần áo, kính, mũ...Và bất cứ khi nào có công việc thì “dù vội mấy,

Cao cũng phải đóng đúng mốt một nhà chức trách rất bảnh. Bộ bò mốc mua đến

hai nồi thóc, mũ lơ-vít, kính râm mắt to, giày cao cổ, súng ngắn đeo trễ bên hông.

Có hôm lại cố ý không cần bao, mà giắt khẩu súng đen sì dưới bụng, rồi nhảy lên

chiếc Ba-bét-ta đã tróc hết cả sơn lẫn mạ, vậy mà vẫn phải đổi hết bốn tạ thóc giữa

lúc gạo đắt như vàng, khiến cả mẹ và vợ Cao như bị cắt từng khúc ruột” [52,

tr.224-225], lại còn kèm theo cuốn sổ có ghi chữ “mật”. Cao luôn tự hào về “cái

dáng hiên ngang của người cầm pháp luật, mà vẫn đủ dáng dấp một thám tử trong

những phim phản gián giật gân” [52, tr.225] khiến cho “vô số những gã trai làng

nhìn Cao thèm muốn”. Những gì Cao có khiến ta có cảm giác anh ta như một

Đông-ki-sốt của xóm Giếng Chùa.

Đó là ông Sửu, “trai, cò đánh nhau ngư ông đắc lợi”, Sửu trúng chức chủ

tịch xã là nhờ hai họ Trịnh Bá và Vũ Đình muốn loại bỏ đối thủ nên dồn phiếu

cho kẻ thứ ba. Dù trình độ quản lí kém, dù luôn chịu chi phối bởi Thủ, dù không

có thực quyền, nhưng anh chàng ngụ cư gặp may ấy vẫn bị say tước vị. Chịu ơn

đề bạt của Thủ, nhưng một mặt, Sửu tuân thủ, cúc cung tận tụy với Thủ, mặt khác

lại tìm mọi cách thoát ra khỏi sự chi phối của Thủ, thậm chí hạ uy tín của Thủ

bằng những thông tin ỡm ờ, vu vơ. Nhân vụ anh em Thủ đào trộm mả, Sửu cố

gắng góp phần hạ bệ Thủ, nhưng khi Thủ bình an, Sửu lại tiếp tục săn soe lấy

lòng. Sửu như một con chó hư bên Thủ, sẵn sàng ve vẩy đuôi mừng nhưng cũng

không biết nhảy vào cắn chủ khi nào.

Cũng là khát vọng về quyền lực, nhưng không phải là thứ quyền lực cụ thể,

thứ quyền lực dùng để sai khiến, chèn ép người khác, tiểu thuyết Thời xa vắng và

Bến không chồng đề cập đến một loại khát vọng quyền lực khác, quyền lực

mang ý nghĩa danh dự, danh vị.

Anh cu Sài trong Thời xa vắng rất ghét vợ. Sài tìm mọi cách để không ăn

chung với cô vợ của mình. Bất đắc dĩ phải ngồi chung mâm, nhất định Sài không

ngồi đối diện với vợ. Bát tương nào Tuyết chấm thì Sài không chấm mà tìm bát

rót tương khác chấm riêng. Và tối tối, khi có một mình với “con bé ấy”, khi trước

mặt không còn quyền lực đáng sợ nào nữa, thì Sài kiên trì hoặc không chịu ngủ

trong cái buồng ấy, hoặc có bị khoá trái của cũng nhất quyết nằm dưới đất dăm

hôm, ba hôm, kỳ đến khi nào người lớn phải mở cửa mới thôi. Nhưng khi được

bầu làm Liên đội trưởng một liên đội thiếu niên của xóm, Sài đã không dám để

cho người ngoài thấy mình “mất đoàn kết” với vợ. Đến khi lớn lên, đi bộ đội, Sài

càng không dám bỏ vợ. Hơn nữa, nghe lời chỉ huy, để phấn đấu vào Đảng, Sài

phải vào ngủ chung với vợ, thực hiện vai trò người chồng một lần duy nhất trong

bao năm làm chồng Tuyết. Ta thấy ở đây, Sài làm tất cả những việc mình không

thích là vì không muốn phụ lại sự quan tâm lo lắng của mọi người: cha mẹ, chú

Hà, anh Tính, chính uỷ Đỗ Mạnh, anh Hiểu, anh Hiển..., những người yêu quý Sài

rất mực. Thế nhưng trong chính bản thân Sài, không phải không có những tham

vọng. Tham vọng được vào Đảng. Tham vọng được tin cậy và tạo điều kiện học

tập, thăng tiến...Nhìn chung, Sài đã vì tình yêu thương, sự kỳ vọng của người thân

cũng như khát khao phấn đấu của chính mình mà dẹp bỏ những khát vọng yêu

thương chân chính, giết chết con người bản năng của mình.

Nguyễn Vạn trong Bến không chồng cũng vậy. Vì những năm tham gia

chiến dịch Điện Biên Phủ. Vì những tấm huân chương lấp lánh trên ngực. Vì

những cái nhìn ngưỡng mộ của dân làng. Vì cả những cái cúi đầu chào đầy kính

trọng của mọi người... Vạn đã không dám sống cho riêng mình, không dám sống

đúng với những bản năng chính đáng của bản thân. Vạn chạy trốn mụ Hơn, một

bà nạ dòng đang độ hồi xuân lẳng lơ, đĩ thõa . Đã đành là thế. Đằng này, Vạn né

tránh luôn cả chị Nhân, người mà Vạn vô cùng yêu thương, người mà Vạn ngày

đêm thấp thỏm lo lắng, bảo bọc..., ngay cả khi chị Nhân yếu đuối chủ động hiến

dâng... Danh dự, danh vị, những thứ đó, Vạn không thể để mất. Những thứ Vạn

đạt được thì Vạn gìn giữ. Những gì Vạn chưa làm được thì Vạn trông chờ cả vào

đứa cháu trưởng tộc – Nghĩa. Chả thế mà Vạn ủng hộ Nghĩa nhập ngũ khi cha

Nghĩa không hề đồng ý. Vạn vui khi Nghĩa “ra dáng anh bộ đội” và đã “vào tận

sông Lam, bến Thuỷ” khi vừa mới nhập ngũ. Chiến tranh kết thúc, thấy cháu được

lên cấp tá, Vạn hồ hởi: “thằng này thế mà khá”, rồi so sánh: “Anh có được vào

giải phóng Sài Gòn không? Không à? Thế thì anh không bằng thằng con nhà Sách

nó được vào tận dinh Độc Lập” và rồi lại liên tưởng: “Hồi giải phóng Điện

Biên...”. Con người Vạn cả đời sống vì những cái gọi là lý tưởng, vì những gì đã

đạt được trong quá khứ và cả những gì đang có trong hiện tại. Thế nên, đến cuối

đời, Vạn đã không gánh nổi cái tội lỗi tày đình của cuộc đời mình. Đấy là cái tội

vô tình hưởng cái hạnh phúc trần tục của con người, hưởng hạnh phúc làm cha do

Hạnh đem lại. Vạn vừa thẫn thờ bởi ân huệ qúa lớn mà cuộc đời, đứa cháu gái trao

tặng, vừa đau đớn vì đã đánh mất tất cả những thứ mà bấy lâu Vạn gìn giữ, những

thứ luôn là niềm tự hào, niềm kiêu hãnh của Vạn. Vì thế, Vạn tự tìm đến cái chết

để trốn tránh, để rũ bỏ tất cả. Con người ấy, đến tận cuối đời vẫn không dám dẫm

lên dư luận, dẫm lên hào quang của chính mình để một lần được sống cho riêng

mình, vì mình. Có thể thấy Vạn chính là nạn nhân của một thời vinh quang do

hoàn cảnh quê mùa dốt nát, cả tin và trong sáng, dễ thương và đáng trách nên

không thể thoát ra khỏi cái bóng của chính mình.

Hai nhân vật Giang Minh Sài và Nguyễn Vạn được xây dựng bởi hai ngòi

bút khác nhau, trong hai bối cảnh khác nhau của hai cuốn tiểu thuyết, nhưng lại

gặp gỡ nhau ở nhiều điểm thuộc về lí tưởng sống, mục đích phấn đấu của cuộc

đời. Tâm lý và hành động của hai nhân vật này là tâm lý, hành động của số đông

con người của một thời. Tuy nhiên, ta vẫn thấy thật đáng thương cho Sài, cho Vạn

đã phải đánh đổi cả cuộc đời, cả hạnh phúc... cho những thứ danh vị hào nhoáng

mà phù phiếm.

Dù nhìn nhận quyền lực dưới góc độ nào đi chăng nữa, ta vẫn thấy quyền

lực và những hào quang của nó vừa có thể nâng người ta lên đến đỉnh vinh quang,

đỉnh của lòng kiêu hãnh. Nhưng đồng thời, cũng chính nó có thể hạ con người

xuống đáy của cuộc sống làm người, xuống nơi gọi là “địa ngục trần gian”. Những

con người hãnh tiến không biết xác định đâu là điểm dừng sẽ dễ dàng rơi vào bi

kịch một cách không kiểm soát.

2.3. Con người cam chịu khuất phục trước định kiến của gia đình và xã hội

“Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”, đã là người Việt Nam, dù nông

thôn hay thành thị, ai cũng có tâm lý sống vì gia đình, ngại gây ra những điều

tiếng ở đời. Trong bối cảnh hết sức nhạy cảm của xã hội Việt Nam những năm đầu

thời kỳ đổi mới, những vấn đề thống trị xã hội lúc bấy giờ là đạo đức, tư tưởng, lý

tưởng, quan điểm, lập trường..., thì con người ta càng phải chú ý hơn đến lời ăn

tiếng nói, chú ý hơn đến hành động, chú ý hơn đến lối sống. Sơ xảy một tí, nhẹ thì

mang tiếng làm mất danh giá gia đình; nặng thì sai quan điểm, rũ tù như chơi.

Chính điều ấy đã tạo nên những ức chế, bi kịch cho con người trong cuộc sống.

Họ vùng vẫy, quẫy đạp một cách tuyệt vọng trong những định chế thành văn hay

không thành văn. Nhưng tuyệt nhiên không dám chống đối. Nhưng tuyệt nhiên

không dám hất bỏ.

Quay trở lại với nhà ông đồ Khang (Thời xa vắng). Lấy vợ cho thằng con

út khi nó mới mười hai tuổi, nhưng ông bà không ép Sài yêu vợ nó được. Bao

nhiêu lần con trai khóc mếu đòi bỏ vợ, ông bà đều đe nẹt không cho, vì phải giữ

gìn “nề nếp gia phong”. Sài dù mới chỉ là một cậu bé, nhưng xuất thân từ một gia

đình gia giáo theo truyền thống nho học, nên dẫu chưa hiểu lắm về những điều

người lớn nói, cũng lờ mờ nhận thức được ý nghĩa của vấn đề, không dám cãi lời

cha mẹ. Bắt Sài hiểu những điều gia giáo thì có thể, còn bắt Sài yêu vợ thì không

ai có thể bắt được. Khi còn nhỏ, không bỏ được vợ thì Sài tìm mọi cách trút toàn

bộ sự căm ghét, oán hận lên vợ. Nhưng đến năm Sài mười bốn tuổi, được bầu làm

liên đội trưởng thì cái sự chê vợ của cậu lại mang một sắc thái khác. Bề ngoài thì

cậu không dám chê vợ nữa. Cậu ta rất sợ tiếng xì xào bàn tán ở bất cứ chỗ nào.

Thành ra Sài chỉ yêu vợ ở chỗ đông và bằng sự im lặng, nó có ý thức giữ gìn cẩn

thận sao cho người ta không thể nhận thấy giữa nó và vợ có sự “mất đoàn kết”.

Nghĩa là, từ khi trở thành một con người gắn với xã hội, Sài đã phải “sống với hai

cuộc đời: thật và giả. Ban ngày, chỗ công chúng là con người giả, sống cho vừa

lòng mọi người: yêu vợ. Ban đêm khi có một mình là con người thật: không thể

nào chung sống với một con người mình ghét bỏ từ đầu đến chân” [trang 42]. Đây

là cái khoảng tự do cuối cùng của quyền làm người của Sài. Tất cả mọi chuyện

diễn ra như vậy là vì anh sợ. Anh không dám đương đầu với những dư luận, tập

tục cổ hủ đã xâm phạm hết sức thô bạo, dã man đến quyền làm người của anh.

Trong con người anh luôn tồn tại hai thế lực: chống đối và khuất phục. Hai thế lực

ấy ngày càng phát triển, càng mâu thuẫn, và đẩy bi kịch trong con người Sài lên

một mức độ ngày càng cao hơn. Hàng loạt hành động của anh sau này đều chứng

tỏ thái độ phản kháng, nhưng là kiểu phản kháng yếu ớt, bất lực của một kẻ đầu

hàng hoàn cảnh. Anh lên đường một cách im lặng, thực chất là chạy trốn, để khỏi

phải đội trời chung với cô vợ bắt buộc ấy. Rồi cả cái cách anh hăng hái, hăm hở

học tập và xông pha vào những nơi nguy hiểm mà xét bề ngoài là hành động dũng

cảm, thực chất cũng là để thoát ly hoàn cảnh bất hạnh của mình. Ngoài đời thực

không rũ bỏ được hoàn cảnh, anh thể hiện mơ ước ấy trong sự tưởng tượng của

những trang nhật kí. Trong nhật kí, anh cho mình được tự do yêu đương, tự do thể

hiện những khát khao tình ái với Hương. Và cũng ở đây, anh dám thể hiện khát

khao được ly hôn: “Từ nay các em được hoàn toàn tự do rồi. Chú và anh đã đề

nghị với toà án. Người ta đã điều tra kĩ và nhất trí cho Sài được li hôn để khỏi giết

chết ba con người cùng một lúc” [30, tr.76]; thậm chí, tàn nhẫn hơn, còn dám

mong vợ chết: “Tôi đi thi đại học và về nhà, cô Tuyết đã chết vì bệnh ung thư ở

cổ. Tuyết chết, tôi lại thấy thương, thấy tội nghiệp cho cô ta. Giá cô ta đừng làm

khổ tôi mấy năm đằng đẵng có phải tôi cũng quý mến cô ta như tất cả mọi người

khác không? Tôi bảo bố mẹ tôi bán cả nhà cửa làm ma cho cô ta thật to và năm

nào đế ngày giỗ, tôi cũng làm mấy mâm cơm mời cả bố mẹ, anh chị cô ta đến như

những người thân khác” [30, tr.79]. Đấy là trong suy nghĩ, trong tưởng tượng. Còn

thực tế là một thái độ cam chịu. Cho đến khi đã khá trưởng thành trong môi

trường quân đội, đã lập được nhiều thành tích trong học tập và chiến đấu, Sài vẫn

không hề dám đặt vấn đề phá bỏ những cái cần phá bỏ để làm lại cuộc đời theo ý

mình. Phải nhờ có chính uỷ Đỗ Mạnh bàn với chú Hà tìm cách giải phóng cho Sài,

anh mới thoát khỏi số phận một cách thụ động. Anh đã không có can đảm giải

quyết số phận của mình, mà cứ để mặc cho ai đó muốn định đoạt ra sao thì định,

được sao chịu vậy. Sau này, khi bình tĩnh nhìn lại, anh ân hận về sự yếu đuối bất

lực của mình “không dám làm, không dám mất một cái gì, chỉ bằng sự im lặng và

tránh né, sự tránh né gần như trốn chạy, vừa chiều ý mọi người, vừa toại nguyện

cho mình, rút cục không tránh né nổi số phận”. Giá như anh dám “việc mình mình

làm, việc gì cứ phải rình rập người khác khen hay chê, nhìn ý tứ mỗi người một tí

để bóp mình theo họ” thì đời riêng của anh đâu đến nỗi khốn khổ.

Cuộc đời bất hạnh của Sài là một bài học sâu sắc về cách sống, về trách

nhiệm của mỗi con người đối với cuộc đời mình. Tuy nhiên, ta vẫn thấy Sài vừa

đáng trách vừa đáng thương, bởi có những khó khăn khách quan mà Sài khó lòng

vượt qua. Đó là môi trường, là hoàn cảnh cụ thể xung quanh anh ta. Sài sống trong

sự chăm chút, thương yêu của bố mẹ, chú Hà (cán bộ tỉnh), anh Tính ( cán bộ

huyện), chính uỷ Đỗ Mạnh, anh Hiểu, anh Hiền (cán bộ phụ trách ở đơn vị). Từ

bé, Sài đã được cả gia đình yêu thương, chiều chuộng. Hầu như mọi người ai cũng

lo cho hạnh phúc của Sài, kể cả việc cưới vợ hay tìm mọi cách cản ngăn không

cho anh thò ra cái ý định bỏ vợ. Người ta không quan tâm đến việc Sài có hạnh

phúc hay không, mà chỉ lo nếu có trục trặc gì trong chuyện vợ con thì anh sẽ mất

hết, bởi vì dư luận sẽ lên án. Còn cái sự lên án đó đúng hay không, người ta cũng

không cần lưu ý tới. Chính ông Hà đã thú nhận với Hương: “Thực ra chú không

phải là người độc ác nhưng chú cũng như đa số bây giờ, người ta dựa theo dư luận

mà sống chứ ai dám giẫm lên dư luận mà đi theo ý mình” [30, tr.68] và “ở đời này

người ta chỉ sẵn sàng chết đói, chết rét, chết bom, chết đạn để che chở, nuôi nấng

cho con mình tai qua nạn khỏi, con mình được sung sướng, được vinh hoa chứ

không ai chịu tai tiếng, chịu xỉ nhục để con mình được tự do theo ý nó” [30, tr.67].

Và chính ủy Đỗ Mạnh, sau này khi gặp lại Sài, ông cũng thú nhận là ông rất

thương Sài, muốn giải phóng cho Sài nhưng ông sợ, mặc dù không rõ là sợ ai, sợ

cái gì. Con người có tư tưởng đúng đắn nhất ấy cũng không vượt ra khỏi cái hàng

rào mơ hồ mà kiên cố là cái dư luận xã hội tai ác kia. Nói chi đến Hiểu và Hiền

cấp dưới của ông. Những cán bộ như Hiểu, Hiền là những con người phải nói là

tốt, có tinh thần kỉ luật rất cao, và những gì họ làm đều là vì Sài, vì thương yêu và

mong muốn cho Sài tiến bộ. Nhưng trong thực tế, một cách vô tình, họ đã bắt Sài

phải thích thú những cái họ thích thú, phải ghét bỏ những cái họ ghét bỏ. Cái sự

yêu ghét của Sài phải do họ chỉ huy, định đoạt. Chính vì thế đã xảy ra điều oái

oăm, nghịch lí, đó là: mặc dầu xuất phát từ động cơ tốt đẹp và nhân ái, song lại

dẫn đến một hiệu quả hoàn toàn trái ngược. Và điều nguy hiểm, đau đớn nhất là

chính việc làm thụ động và khuôn theo một nếp nghĩ nào đó của họ đã “giết chết

một tâm hồn trong sáng, một niềm tin, một tình yêu của con người với cách

mạng, với quân đội, với xã hội tươi đẹp của chúng ta” [30, tr.132] . Và vì thế , nó

gây ra những mối bi kịch lớn của những người thanh niên “luôn luôn sống hộ ý

định của người khác, cốt để cho đẹp mặt mọi người chứ không phải cho hạnh

phúc của mình” [30, tr.331] như Sài.

Không sống bằng suy nghĩ của người khác, không sống cho sự kỳ vọng của

người khác vào bản thân mình, không vô trách nhiệm với cuộc đời mình như kiểu

của Sài, nhưng Nguyễn Vạn của Bến không chồng cũng là một chân dung tiêu

biểu cho kiểu người không dám đối đầu với dư luận, sống một cuộc đời đầy khổ

hạnh, vừa đáng thương vừa đáng giận.

Cuộc sống của Vạn từ khi về làng Đông bị chi phối bởi hai người đàn bà:

chị Nhân và mụ Hơn. Với Vạn chị Nhân như là thứ trái cấm nguy hiểm; còn mụ

Hơn như một loài hoa có mùi thơm quyến rũ đáng sợ như độc dược.

Dành cho chị Nhân một thứ tình cảm thật đặc biệt “vừa kiêu hãnh mà cách

xa, vừa yêu thương và giận dỗi”, nhưng Vạn không dám gọi tên nó. Vạn không

dám giải thích với chính lòng mình là Vạn thương lũ trẻ nhà chị Nhân, thương bé

Hạnh mất cha khi còn quá nhỏ hay thương chính mẹ của chúng. Vạn chỉ lặng lẽ

giúp đỡ chị Nhân tất cả những việc có thể. Vạn sung sướng khi mẹ con chị hạnh

phúc. Vạn đau khổ khi mẹ con chị hoạn nạn... Tất cả sự chăm sóc, gần gũi với gia

đình người goá phụ ấy, Vạn làm theo bản năng, do con người, do trái tim Vạn

muốn thế. Vạn chưa bao giờ dừng lại để chất vấn lòng mình. Đến khi nghe được

những lời xì xào của cả làng, Vạn mới chợt giật mình nhận ra mình cũng có những

ý nghĩ mơ hồ, mới lạ về chị Nhân; chợt giật mình khi nhận ra cái tình cảm vừa

mãnh liệt vừa sợ hãi, cái tình cảm giống như ngọn lửa trước gió lúc bùng lên, lúc

tắt ngấm ở trong lòng mình. Vạn yêu và kính trọng người đàn bà ấy. Là kẻ đi hết

gần quá nửa cuộc đời mới biết yêu, mới biết được những cảm giác rung động của

tình yêu. Thế nhưng, khi đứng trước chị Nhân, Vạn vừa muốn chiếm hữu vừa

muốn trốn chạy, vừa khao khát vừa cay đắng lùi ra xa. Sở dĩ như vậy là vì Vạn lo

lỡ có ai “hỏi về quan hệ của mình với nhà chị Nhân”. Và thay vì bày tỏ tình cảm

của mình, tiến đến với người đàn bà mình yêu mến thì Vạn lại cho rằng “đấy là do

những phút giây yếu hèn không kìm nén được”. Tình cảm của Vạn là vậy, nhưng

lí trí không cho phép Vạn làm điều ấy, bởi vì “điều ấy là lỗi lầm đáng tiếc không

xứng đáng với người chiến sĩ cách mạng, không xứng đáng với lòng ngưỡng mộ

của dân làng, họ mạc” [18, tr.62]. Vạn sợ dư luận bàn tán. Vạn sợ phải trả lời các

câu hỏi của dòng họ về mối quan hệ của mình. Vạn đã không thể đánh đổi niềm

kiêu hãnh Vạn có để giành lấy tình yêu, hạnh phúc. Hay nói cách khác, Vạn cũng

như Sài trong Thời xa vắng, đã không dám mất, không dám làm điều gì cho cuộc

sống của riêng mình.

Đấy là với thứ trái cấm mà Vạn phải nâng niu, gìn giữ. Còn với loài độc

dược quyến rũ, thái độ của Vạn thế nào? Chính Vạn dẫn người đến bắt và xử tội

gia đình địa chủ Hào buộc cha con địa chủ Hào phải chết. Và Vạn được chia sử

dụng căn nhà rộng lớn của hắn, còn con dâu và thằng cháu đích tôn của địa chủ

Hào được ở căn bếp. Chính vì thế mà sinh chuyện. Chính vì thế mà chuỗi ngày dài

sau đó, Vạn phải khổ sở, khốn đốn về những trò lẳng lơ mồi chài của mụ Hơn. Mụ

Hơn chết chồng, mụ cần một người đàn ông, cần một chỗ dựa vững chắc như Vạn.

Mụ Hơn lại là người đàn bà khá quyến rũ và quá đỗi dạn dĩ. Mụ đã kiếm đủ

chuyện để được tiếp xúc với Vạn, gần Vạn, chiếm được Vạn: nào là nhờ chở che

cho thằng Tốn con mụ; nào là cố tình cho Vạn thấy mụ tắm; nào là mách Vạn

chuyện con gà trống nhà Vạn dám “huỷ hoại” danh tiết con gà mái nhà mụ và

chuyện con mèo cái của mụ ngáy đực gào rống lên từng cơn; cả chuyện tối tối vác

chiếc chõng tre ra sân nằm hóng mát, cố tình vén quần thật cao khoe cặp đùi trắng

lốp; thậm chí, mụ còn tạo điều kiện cho Vạn “sờ tí” hôm mụ sang xin muối. Đứng

trước những trò mồi chài ấy, người đàn ông trong Vạn ban đầu tức giận, khinh bỉ,

sau “thấy mụ Hơn ăn mặc hớ hênh đứng thở dài thườn thượt”; và đã có lúc “cái xu

chiêng mềm mềm trên ngực mụ nó như ma lực hút kiệt mất lí trí Vạn. Bàn tay Vạn

run rẩy đang gây tội lỗi mà Vạn không biết” [18, tr.249]. Nhưng chỉ một chút thôi,

rồi Vạn tỉnh ngay. Vạn không thể “mắc nỡm” mụ ta được. Cứng rắn là thế. Đàng

hoàng là thế. Giữ trọn “trinh tiết” đến thế. Vậy mà Vạn vẫn sợ mang tiếng. Mụ

Hơn vừa đẻ thêm một đứa con hoang, thỉnh thoảng mụ lại ẵm con sang nhờ Vạn

trông hộ. Vạn ghét cay ghét đắng muốn từ chối, nhưng “mụ mới chỉ lừ mắt Vạn đã

sợ cái “phốt” ấy đấy, cái phốt Vạn trót sờ tý mụ”. Anh Vạn Điện Biên, con người

quen sống trong ánh mắt ngưỡng mộ, kính nể của xung quanh ấy sợ mọi người dị

nghị, chê cười. Và thế là Vạn lại chạy trốn, trốn ra vườn ươm của các cụ phụ lão

trong làng. Vạn chạy trốn vì “nếu còn ở gần mụ Hơn ắt sẽ có ngày mắc với mụ ấy

thì khổ cả một đời...” [18, tr.269].

Cả đời Vạn chỉ toàn là chạy trốn. Chạy trốn người Vạn yêu thương. Chạy

trốn cả người Vạn khinh ghét. Vạn chạy trốn cả chính Vạn, chạy trốn khỏi cái sức

mạnh bản năng của người đàn ông luôn quẫy đạp, hun đốt trong Vạn, thế nên khi

thấy “bọn đàn bà con gái lại hớ hênh phơi cái phần da thịt trắng hớn ra giữa trời

đất” thì Vạn chỉ biết “nhảy vào giường vật mình vật mẩy và nhận ra mình là kẻ hư

hỏng quá lắm” [18, tr.269], để rồi sau mới thấy tiếc là mình không lấy vợ sớm.

Chạy trốn được tất cả, nhưng Vạn vẫn không thể chạy trốn nổi số phận, số phận

nghiệt ngã. Cả một đời giữ gìn phẩm giá như cô gái tân giữ gìn trinh tiết. Nhưng

rồi trong cái châng lâng của hơi men, của đòi hỏi xác thịt không kiểm soát, Vạn đã

vô tình huỷ hoại nó, huỷ hoại cả danh tiết của Hạnh, người đàn bà mà “hai mươi

lăm năm nay Vạn đã yêu thương nó bằng tình cảm của một người cha” và “đến

như mẹ nó Vạn còn không dám” [18, tr.273]. Dù rằng Hạnh tự nguyện dâng hiến,

tự nguyện tìm đến Vạn như một người đàn ông duy nhất hiểu và thương yêu nó;

và Vạn cũng cảm nhận thấy mọi tinh hoa của Hạnh đã đem lại cho cuộc đời Vạn

những phút giây sung sướng; nhưng Vạn vẫn không dám đối diện với chính mình.

Vạn không dám nhìn mặt bất cứ ai ở làng Đông. Vạn cảm thấy xấu hổ với tất cả,

kể cả những đứa trẻ con bé tí teo, đến mức muốn cầm thanh củi chọc thẳng vào

bụng. Đau khổ chồng chất đau khổ, mặc cảm chồng chất mặc cảm, Vạn luôn tự xỉ

vả mình là một kẻ khốn nạn, tự mình vùi dập đi niềm kiêu hãnh của mình với dân

làng. Đã thường tự hào “cả làng Đông này ai cũng nghĩ được như Vạn thì đâu đến

nỗi lắm chuyện rắc rối” [18, tr.183] nên Vạn không thể tự tha thứ cho mình, nhất

là sau khi Hạnh bỏ đi một thời gian và dắt về cho ông một đứa con gái. Ông đã

tìm đến cái chết để chuộc lỗi với Hạnh. Cái chết ấy cũng là cách trốn chạy cuộc

đời, trốn chạy tội lỗi, trốn chạy dư luận của ông.

Trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, đàn ông sống còn sợ tai tiếng, huống

hồ là phụ nữ. Những người phụ nữ xuất hiện trong các tác phẩm, dù nhiều dù ít

cũng phải trói mình trong những hoàn cảnh, những tâm sự riêng, tránh gây tai

tiếng ở đời, dù sự cam chịu ấy vẫn đưa đến cho cuộc đời họ biết bao bi kịch.

Ở trên ta nói đến Nguyễn Vạn. Ở đây, ta hãy nói đến chị Nhân, người tình

thầm lặng của Vạn một chút. Cũng như Nguyễn Vạn, chị Nhân không dám bước

qua lời dị nghị của xóm làng, không dám đối mặt với lời nguyền của hai dòng họ

Nguyễn – Vũ, để đến với tình yêu của chú Vạn. Chị không dũng cảm được như

con gái chị, cái Hạnh, dám đối đầu tất cả cho tình yêu chân chính. Và trớ trêu,

trong đám cưới của con chị, một đám cưới do đoàn thanh niên tổ chức, dòng họ

Nguyễn không chấp nhận nên không có sự góp mặt của người lớn đã đành, đến

chị cũng không dám có mặt. Để mừng đám cưới của con, chị cũng làm một mâm

cơm cúng chồng. Đến khi ghe tiếng pháo nổ ròn rã, chị cũng muốn nhào ra với

con nhưng lại không dám. Chị sợ làng xóm đàm tếu. Chị sợ mang tiếng đồng loã

với tụi trẻ.

Trong chuyện tình cảm giữa chị với chú Vạn, chị cũng vừa yêu thương vừa

xa lánh, vừa muốn bất chấp tất cả vừa e ngại tất cả. Thế nên, cái đêm mưa gió chú

Vạn đem cá rô tới, chị băn khoăn và lo ngại khi cảm thấy căn nhà dường như cứ

sáng choang trong đêm tối, nhưng chị vẫn mời chú Vạn ở lại . Và trong cái đêm

mưa gió ấy, không có ai nhìn thấy, không có ai có thể dèm pha, lên án, lần đầu

tiên chị Nhân xuất hiện trước chú Vạn với một dáng vẻ lả lơi khác thường: “chị

ngồi nghiêng người, chống một tay xuống giường, đầu ngả về một phía thả mái

tóc dài đen mượt, một tay vuốt vuốt những sợi tóc. Gương mặt chị Nhân sáng lên

miệng tủm tỉm cười nhìn Nguyễn Vạn” [18, tr.140]. Khiến cho chú Vạn phải bàng

hoàng “chả lẽ đàn bà ai cũng thế cả, rửng mỡ lên là quên hết mọi chuyện không

còn biết giữ gìn nữa”. Chưa dừng ở đó, trong căn nhà vắng lặng, chỉ có hai con

người cùng với tiếng mưa rơi lộp bộp ngoài vườn chuối, chị Nhân trằn trọc không

sao ngủ được. Đứng nhìn chú Vạn ngon giấc, người goá phụ bao năm vắng chồng

, tưởng như mọi khát khao đều lụi tắt, mọi cảm xúc đều khô héo, bỗng chợt thấy

rạo rực và ngập tràn đòi hỏi. Quên hết mọi rào cản, quên hết cả danh phận, chị đã

run rẩy ngã vào lòng chú Vạn. Nhưng chỉ có thế. Khi hai bàn tay chú Vạn lướt nhẹ

trên khắp cơ thể chị thì hai con người đã lại trở về nguyên vẹn với bản chất và nỗi

sợ hãi trong lòng họ. Họ không dám vượt rào. Bởi thế, chính con gái chị đã từng

kết tội chị: “Chú Vạn không lấy được vợ là tại mẹ” [18, tr.139].

Cũng là thân phụ nữ yếu đuối, ngại va chạm, ngại điều tiếng, nhưng bà Son

trong Mảnh đất lắm người nhiều ma lại trải qua một bi kịch hoàn toàn khác. Khi

còn là cô Son đẹp nhất làng, “ mặt hoa da phấn, thắt đáy lưng ong. Đi một bước là

có người theo, người ghẹo một bước. Nhưng chưa có anh nào lọt được vào cặp

mắt lá dăm vừa đen vừa sắc của cô” [52, tr.96] thì bà đã cuồng nhiệt trao hết tình

yêu cho cậu giáo Phúc. Oái oăm ở chỗ cậu giáo Phúc là người đã có vợ con. Chính

vì thế, tai tiếng bay khắp làng. Bố mẹ cô Son sợ nhục nên ép con gái phải lấy anh

Hàm. Cô Son cũng vì sợ mang tiếng danh giá gia đình nên đồng ý lấy người mà

mình không bao giờ yêu. Để đổi lại sự im lặng của chồng về sự thất tiết của mình,

cô Son cam chịu một kiếp sống tôi đòi cho chính chồng mình. Mà đúng là tôi đòi

thật. Trong cuộc sống thường nhật, bà Son chỉ biết dăm dắp tuân theo lệnh của

chồng và gia đình chồng, cặm cụi làm hết phận sự của mình. Trong đời sống chăn

gối, bà Son cũng lặng lẽ cam chịu sự thô lỗ, ích kỉ của chồng cho tròn nghĩa vụ

làm vợ mà không hề có chút khoái cảm của tình yêu thương. Nếu như cô Son xưa

kia dám tung mình bứt phá, đòi bỏ trốn cùng anh giáo Phúc mà không được chấp

nhận, thì bà Son bây giờ lại âm thầm chịu đựng tất cả mọi ấm ức, khổ sở như số

bà sinh ra là phải vậy. Thậm chí, ấm ức đến khi chết vẫn chưa thôi.

Bên cạnh những con người cam chịu, khuất phục trước những định kiến của

gia đình, của xã hội thì ta vẫn thấy trong các cuốn tiểu thuyết vẫn xuất hiện những

con người dũng cảm, dám bày tỏ, dám đấu tranh cho tình yêu, cho hạnh phúc của

cá nhân, mặc cho dư luận có đơm đặt những gì. Đó là những con người, những

người phụ nữ như Hương trong Thời xa vắng và Thuỷ trong Bến không chồng.

Với nhân vật Hương, Hương tiểu thư, mĩ miều, sang trọng, so với Sài thì

quả là khập khiễng về tất cả mọi mặt, trừ mặt học tập. Thế nhưng Hương yêu Sài,

một tình yêu bền bỉ và tha thiết. Cũng sống trong hoàn cảnh xã hội như Sài, cũng

có những khó khăn trắc trở khi yêu một người thanh niên đã có vợ như Sài, nhưng

Hương đã xử sự rất có bản lĩnh, rất dũng cảm để bảo vệ tình yêu chân chính của

mình, cho dù cô hiểu là trước mắt mình có hàng loạt những trở ngại nặng nề, nhất

là búa rìu dư luận. Vì tình yêu với Sài, cô đã dám tranh luận cùng chú Hà để xin

chú giải phóng cho Sài, cũng là để bảo vệ tình yêu của cô. Cô cũng dám bước qua

mọi sự e ngại, tự ái để có thể tìm đến với anh Sài cù nần, nhút nhát. Nhưng rồi sự

đầu hàng của Sài đã khiến Hương đau đớn, tuyệt vọng vì nghĩ rằng Sài đã phản

bội mình, và khiến cô chán nản, buông trôi cuộc đời mình theo một hướng tiêu

cực. Hàng chục năm sau này, khi gặp lại Sài, cô vẫn giữ được cách cư xử đúng

mức, có trách nhiệm với gia đình mình và cũng có trách nhiệm với người yêu cũ.

Hương là hình ảnh của một con người sống có bản lĩnh, của một nhân cách trung

thực, thẳng thắn rất đáng quý.

Thủy cũng vậy. Là cô gái hàng tỉnh nên Thủy khá bạo dạn, chủ động trong

việc định đoạt cuộc đời mình. Khi còn là một cô nữ sinh hồn nhiên, Thủy chủ

động đòi hôn anh chàng Nghĩa học lớp trên mà mình đã ngưỡng mộ từ lâu. Mười

mấy năm sau, cũng trong căn phòng ấy, Thủy đã chủ động cho Nghĩa đời con gái

mà cô đã cố công gìn giữ trong suốt những năm đi thanh niên xung phong, chỉ sợ

bị đánh cắp bởi kẻ không xứng đáng. Đối với Nghĩa và Hạnh, Thủy chỉ như người

vay mượn một chút hạnh phúc muộn màng chứ không phải kẻ đánh cắp. Bằng

chứng là Thủy không hề đòi hỏi gì hơn cho mình. Trái lại, Thủy còn rất tận tình

chăm sóc cho mẹ Nghĩa, cho vợ Nghĩa khi mọi người bị bệnh. Nghĩa chỉ thực sự

đến với Thủy khi anh và Hạnh đã ly hôn. Thủy đã yêu Nghĩa bằng tình cảm nồng

thắm và thánh thiện. Sợ Nghĩa đau đớn khi biết mình không có khả năng sinh con,

cô Thủy kiêu sa, sang trọng đã phải cắn răng một lần làm gái điếm. Nhưng Thủy

vẫn không thể đem lại cho Nghĩa một đứa con. Và Nghĩa cũng không thể giữ tròn

mái ấm gia đình với Thủy. Thủy xuất hiện trong truyện không nhiều nhưng vẫn

làm người đọc nhớ về một nhân cách cao đẹp.

Thùy và Hương, một số ít những con người dũng cảm, dám giẫm lên dư

luận để tìm đến, để đoạt lấy hạnh phúc chính đáng cho mình. Họ sống hết mình

như những ngọn nến cháy đến giọt cuối cùng. Ở họ toát ra một vẻ cao quý khiến

người ta ngưỡng mộ. Không giống cái cao quý khiến người ta xót thương như một

số đông người: Sài, Vạn, chị Nhân, bà Son... Có một điều khá thú vị, trong ba tiểu

thuyết này, số phận người đàn bà “như dây leo cuốn”, luôn bị phụ thuộc vào gia

đình, vào những người đàn ông của gia đình: cha, chồng, con trai; họ luôn phải

giữ kẽ để ý trong mọi cung cách sinh hoạt, lời ăn tiếng nói, cách xử sự... Thế

nhưng, cũng chính họ luôn là người bứt phá, đạp bằng mọi thứ nghi thức nặng nề

của xã hội cho quyền lợï chính đáng của cá nhân. Sở dĩ như vậy là vì người phụ

nữ lúc ấy không có gì để mất, hay người phụ nữ lúc nào cũng dám hi sinh, dám

chịu mất hơn?

Chương 3

NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ HIỆN THỰC

3.1. Bức tranh làng quê được miêu tả chân thực, cụ thể mà sinh động.

Nói đến làng quê Việt Nam là người ta tưởng tượng ngay tới cảnh cây đa,

giếng nước, sân đình, những đồng lúa xanh tươi trải dài tít tắp, những dòng sông

cong mình ôm lấy những cánh đồng, làng mạc, bờ đê...; Người ta có thể tưởng

tượng ra khung cảnh những con người lúi cúi lao động trên đồng ruộng trông như

những chiếc nút áo sinh động trên chiếc áo xanh ngát một màu lúa non, khung

cảnh mỗi buổi chiều những chú bé trên lưng trâu nghễu nghện..; Cũng không thể

không nghĩ đến những rặng tre xanh cong cong nơi xóm ngõ, những mái ngói nâu

sậm, cũ màu thời gian ẩn hiện sau những rặng cây , những buổi hoàng hôn khói

lam chiều bay bảng lảng, tiếng mẹ gọi con, tiếng vợ gọi chồng, tiếng trẻ con khóc,

tiếng bát đũa leng keng hối hả bữa cơm chiều...; Cũng không thể không nghĩ đến

những người nông dân chất phác “sờ đầu gối nói chân thật”, sống bên nhau bằng

tình xóm giềng thân thiện tắt lửa tối đèn có nhau... Đấy là những điều quá đỗi

quen thuộc. Đấy là những điều mà người dân quê khi đi xa luôn nhớ về. Đấy là

những điều mà ta cũng thường thấy, thường được đọc trong các tác phẩm văn

chương.

Ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người

nhiều ma không nói hết, tả hết tất cả những cái quen thuộc ấy, nhưng dưới ngòi

bút hiện thực độc đáo và sinh động của ba tác giả Lê Lựu, Dương Hướng, Nguyễn

Khắc Trường, ba tác phẩm vẫn khắc hoạ được, làm toát lên được không khí chung

của nông thôn Việt Nam. Làng Hạ Vị (Thời xa vắng), làng Đông (Bến không

chồng), làng Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma), ba làng ở ba địa

phương khác nhau, lịch sử hình thành của từng làng khác nhau, phong thuỷ khác

nhau, tập quán khác nhau, nếp nghĩ, tình cảm của người dân cũng không giống

nhau..., nhưng ba làng quê ấy vẫn gặp gỡ nhau, vẫn có những nét rất chung trong

tình cảm, trong lao động, trong sinh hoạt của đời sống thường nhật.

Thật vậy. Đọc ba tác phẩm, độc giả không khỏi thú vị khi được tiếp xúc với

người nông thôn trong nhiều khía cạnh của cuộc sống xã hội.

Trước hết, không thể phủ nhận một điều là trong cái thế giới tinh thần

phong phú của những người nông dân thuần chất, ta tìm thấy được một tình cảm

rất sâu lắng, thiết tha dành cho ngôi làng thân yêu của họ. Ai sinh ra trên đời

chẳng có một nơi gọi là nơi “chôn nhau cắt rốn”. Thế nên không có bất cứ ai mà

không có một nơi nào, một miền đất nào đó gọi là cội nguồn, gọi là nơi để nhớ, để

trân trọng. Người nhà quê, với bản chất thật thà trong sáng thì cái thứ tình cảm ấy

càng mãnh liệt và thiết tha hơn. Hãy cứ đi vào từng cuốn tiểu thuyết kể trên để tìm

hiểu, ta sẽ thấy rất rõ điều ấy. Nếu không có những tình cảm thiết tha, mãnh liệt ấy

thì làm sao có hiện tượng mỗi ngôi làng là một kho những câu chuyện truyền

thuyết, những giai thoại; thậm chí, từng gò đất, từng đầm nước, từng ngọn núi,

từng dòng sông cũng chứa đựng bao điều huyền bí khiến con cháu từ đời này sang

đời khác thành kính giữ gìn như trong tiểu thuyết Bến không chồng và Mảnh đất

lắm người nhiều ma. Nếu không có những tình cảm tha thiết, mãnh liệt ấy thì

làm sao người ta có thể sống, có thể bám trụ được ở cái làng quanh năm bão lũ,

đói kém, chỉ biết cắp nón đi làm thuê như làng Hạ Vị trong Thời xa vắng. Và nếu

không có cái tình cảm sâu sắc ấy cùng với ý thức xây dựng làng tươi đẹp, phồn

thịnh thì ở làng quê, nơi đường xá chỉ in nhiều vết chân trâu bò, làm gì có thể có

một con đường không chỉ lát gạch mà còn lát gạch vồ Hưng Kí viên nào viên ấy

vuông bằn bặt như trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma. Dẫu rằng vẻ

đẹp của con đường ấy là sự gói ghém cả niềm tự hào lẫn tủi hổ, cả niềm vui lẫn

nỗi buồn, cả sự vinh danh lẫn điều xỉ nhục. Dẫu rằng việc xây dựng con đường

vừa là sự đóng góp nghĩa vụ, vừa có sự tự nguyện như sự đóng góp của ông Quản

Ngư... Nhưng nó vẫn thể hiện sự gắn bó của người dân, trách nhiệm, tình cảm của

người dân trước cộng đồng làng xã...

Những điều ấy là điều đáng quý. Đấy là động lực thúc đẩy làng phát triển

phồn thịnh hơn, tân tiến hơn. Và đấy cũng là nguyên nhân dẫn đến thói tự tôn, tôn

vinh làng mình mà không khuyến khích mở cửa xuất dương quan hệ với các làng

khác, không mở rộng tầm nhìn, học hỏi địa phương khác, làm trì trệ nền kinh tế,

tồn đọng những phương thức quản lý ấu trĩ, quan liêu. Hai mặt của một vấn đề

luôn đi song hành, nếu không dung hoà thì không thể tiến bộ, không thể phát triển.

Với cái nhìn sắc sảo và nhạy cảm, các tác giả đã phản ánh được những vấn đề

tưởng như là rất khó nói ấy.

Ba làng quê được phản ánh trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử xã

hội. Thời xa vắng và Bến không chồng chủ yếu là chân dung xã hội trong những

thập niên sáu mươi, bẩy mươi của thế kỉ hai mươi. Còn tiểu thuyết Mảnh đất lắm

người nhiều ma là một xã hội nông thôn trong thập niên 80 và những năm đầu

của thập niên chín mươi của thế kỉ này. Tuy nhiên, mang đặc điểm chung của bất

kỳ làng quê nào trên đất nước Việt Nam này, cả ba làng đều mang trên mình dấu

ấn của chiến tranh, cả trong không gian thực, cả trong không gian hồi tưởng.

Ở Bến không chồng, chiến tranh đã biến làng Đông vốn đông đúc, vui vẻ

trở thành một ngôi làng còn toàn đàn bà con gái, người già và trẻ em; chiến tranh

đã rót sự khổ đau nghiệt ngã xuống các gia đình như gia đình bà Khiên, gia đình

bà Nhân...; chiến tranh đã trút sự bất hạnh lên vai những con người hiền lành

lương thiện như chú Vạn, Thành, Nghĩa, Hạnh, Dâu, Thắm, Cúc... Không nhà nào,

không một ai trong làng không bị chiến tranh sờ mó đến. Đau thương. Mất mát.

Đầy nghịch cảnh...

Cũng là sự khốc liệt của chiến tranh, khi người ta phải từng ngày, từng giờ

đối diện với sự nguy hiểm, với cái chết, khi người ta buộc phải chấp nhận những

sự thật đau đớn nhất đó là người bạn vì muốn kiếm miếng rau cho mình mà phải

chết một cách thảm thương..., nhưng chiến tranh được nói đến trong Thời xa vắng

mang một sắc thái khác, hùng tráng và đáng tự hào. Lí do thật đơn giản, bởi vì tác

phẩm này không trực tiếp miêu tả những vấn đề của chiến tranh mà chỉ nói đến

một cách gián tiếp. Người làng Hạ Vị nói đến chiến tranh là để nhắc đến người

anh hùng, đứa con của quê hương, đứa cháu của ông Hà bí thư huyện uỷ, đứa em

của anh Tính cán bộ huyện – Giang Minh Sài. Chiến công một mình bắn rơi máy

bay Mĩ cùng những bài báo ca ngợi Sài đã làm rạng danh gia đình, rạng rỡ quê hương.

Còn chiến tranh được nhắc đến trong Mảnh đất lắm người nhiều ma lại là

qua những dòng hồi ức, những kỉ niệm của trung tá Chỉnh. Nhưng nó cũng kịp lưu

lại trong lòng độc giả những cảm giác chua xót dành cho cả những người đàng

hoàng như chị Sang lẫn những cô gái lẳng lơ như cô Lài...

Bên cạnh những trang loang lổ dấu tích đau thương, mất mất nhưng cũng rất

hào hùng của chiến tranh vẫn là những hình ảnh sinh động của cuộc sống thường

nhật. Đằng sau cổng làng là cuộc sống của những người nông dân đang từng ngày

tất bật với những công việc đồng áng, những sinh hoạt thường nhật và những bon

chen về quyền và lợi nảy sinh trong quá trình phát triển của làng xã. Đọc ba tác

phẩm, tất cả những gì gần gũi nhất của cuộc sống thường nhật đều được truyền tải

trong đó...

Từ những bữa cơm mà nhìn vào đó người đọc dễ dàng hình dung ra nếp

nghĩ, thói quen sinh hoạt, nền nếp gia phong của từng gia đình. Chẳng hạn như

những bữa cơm nhà khó đạm bạc, độn khoai độn sắn, những bữa chính trong ngày

mà người ta “ai cũng vội vàng, hối hả, chạy lên, chạy xuống hò hét con cái, tưởng

như là phải mổ trâu, mổ bò” [30, tr.113], nhưng thực chất chỉ có bát bột ngô ăn

với tương xì xụp, hối hả, đầy vất vả, vậy mà “nhà nào cũng sôi nổi đầy khí thế”,

cha mẹ, con cái quây quần xôm tụ, đầm ấm... Hay những bữa cơm nhà giàu có cá,

có thịt gà vàng ếnh..., những người đàn ông ngồi trên khề khà rung đùi ngồi ăn

uống, nói chuyện, còn vợ con tất bật với những lời gọi, lời sai khiến không ngừng

từ nhà trên như nhà lão Hàm (Mảnh đất lắm người nhiều ma). Cũng có những

bữa cơm sau ngày thu hoạch, người ta tạm quên đi nợ nần chồng chất cần phải trả,

tạm quên đi những toan tính, dè xẻn cho những ngày sau đễ tổ chức ăn tươi cho rũ

quên những ngày đói, vui vẻ tự thưởng cho thành tích lao động của mình, dù

thành tích ấy cũng chẳng đáng bao nhiêu như nhà lão Khừu (Mảnh đất lắm

người nhiều ma). Hoặc cũng có những bữa cơm chan chứa tình cảm yêu thương

máu mủ ruột già như bữa cơm bà Nhân (Bến không chồng) làm để cúng chồng

ngày con gái đi lấy chồng, cũng là để an ủi con về một đám cưới không được

người lớn hỏi han theo đúng nghi lễ truyền thống; bữa cơm của bà Khiên (Bến

không chồng) tiễn con trai lên đường nhập ngũ, một bữa cơm sáng nặng nề, nước

mắt nuốt ngược vào lòng vì xót con, vì phải dấu chồng...Những bữa cơm này

mang không khí khác nhau, đồng thời cũng thể hiện những mức sống khác nhau

của từng gia đình trong từng làng, dẫu vậy, tất cả vẫn đem đến cho người đọc

những cảm nhận chung nhất về cuộc sống nơi thôn dã, đó là cuộc sống bình dị,

nghĩa tình, ít toan tính và đâu đó vẫn nặng nề quan niệm phong kiến xưa cũ.

Rồi lại đến những hoạt động sản xuất của nhà nông. Cuộc sống ở nông thôn

gắn liền với công việc đồng áng, cày, bừa, cấy, hái. Đồng ruộng là phương tiện

sống, là cách sống chủ yếu của người nông dân. Ngay cả cái làng Hạ Vị (Thời xa

vắng) chỉ có thói quen cắp nón đi làm thuê, từ người già đến trẻ nhỏ, cả mùa hè

lẫn mùa đông, cứ sáng sáng là cả làng đổ lên mặt đê, chầu trực, trông chờ có

người thuê mình đi làm một việc gì đó để kiếm miếng ăn cho gia đình, cũng dần

dần đi vào nếp quen của cuộc sống cấy cày. Thế nên, cả ba tác phẩm dù ít, dù

nhiều cũng đề cập đến hoạt động lao động sản xuất ở các địa phương. Vì thế

người đọc mới được biết đến không khí lao động sản xuất của làng Hạ Vị (Thời

xa vắng) trong buổi đầu cải cách ruộng đất, buổi sáng rồi đến buổi chiều, nhà nào

cũng tất bật chia nhau người đi làm theo công điểm của hợp tác xã, người đi làm

đất phần trăm sôi nổi, rộn ràng như đi xem hội. Hay không khí lao động những

ngày mới bắt đầu khoán của làng Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma)

cũng vô cùng tất bật, hối hả nhưng vui vẻ, hứng khởi tràn trề bởi một vụ lúa bội

thu, đánh đuổi được thằng giặc đói. Không khí lao động ấy không chỉ làm tươi

sáng thêm từng đường làng, từng ngõ xóm mà còn làm sáng lên màu no đủ trên

những khuôn mặt lam lũ, nghèo đói quanh năm. Không những thế, vẻ đẹp của con

người trong lao động cũng được khắc họa, tôn vinh. Đấy là hình ảnh những cô

thôn nữ tròn trịa, rắn rỏi, nhanh nhẹn, thành thục, miệt mài trong những công việc

vất vả nặng nề của nhà nông. Người đọc không khỏi bị cuốn hút bởi hình ảnh lao

động của nhân vật Đào trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma: “Một

tay cầm lượm lúa để sát vào trục máy với những hàm răng khế bằng sắt sáng

loáng, một chân đặt lên bàn dận, ấn mạnh. Chiếc vòng trục rên lên cót két, rồi

quay tít. Những hàm răng sắt ngoạm vào lượm lúa, rút những hạt thóc ra khỏi

cọng rơm. Thóc bắn túa lên dày đặc, vàng sẫm bay rào rào mờ mịt quanh người

Đào. Chân Đào nhấn dập dềnh vào bàn càng nhanh, càng mạnh, vòng trục quay

càng tít mù, phát ra tiếng xình xịch dồn dập, khiến những hạt thóc bị bứt ra càng

nhanh. Không đầy một phút, lượm lúa vàng mẩy đã trơ trụi chỉ còn một bó rơm xơ

xác, tuốt sạch cả những hạt xanh, hạt lép” [52, tr.178]. Rõ ràng trong lao động,

dường như con người trở lên đẹp hơn, mạnh mẽ hơn, đáng yêu hơn rất nhiều. Thế

nhưng, cũng chính vì cuộc sống của nhà nông gắn liền với đồng ruộng, phụ thuộc

vào đồng ruộng như người sống cần cơm, như người lính cần súng... nên có nhiều

tiêu cực, nhiều xung đột xảy ra xung quanh chuyện lúa má, đất cát... Trong Mảnh

đất lắm người nhiều ma, những người phụ nữ như bà đồ Ngật phải nghĩ ra cách

gánh thóc đi gửi ở những nhà giàu, những nhà có chức có quyền, mượn miệng

lưỡi khéo léo che mắt lãnh đạo xã để trốn thuế; những người giàu có như nhà ông

Hàm thì đi mua lúa non của những nhà khó để kiếm lời, hình thức thì có vẻ ra ơn

làm phúc nhưng thực chất còn hơn là cho vay nặng lãi; những người có chức có

quyền như Thủ, Sửu... lại tìm cách thu được những phần thóc ngoài sổ sách để

làm quỹ lưu động chi cho các hoạt động tiếp khách, ăn uống của lãnh đạo xã; và

cũng không nơi nào chộn rộn như xóm Giếng Chùa, vì những mảnh đất hương

hoả, những mảnh ruộng “thượng đẳng điền” mà từ anh em ruột thịt đến vợ chồng

như vợ chồng nhà Tý Hỡi tranh chấp nhau, từ lão già sáu mươi như ông Hàm đến

những thằng choai choai như Ưởng, Hoạt, Hảo, Hán đều phải ra tay, đều phải đổ

máu, đến những người phụ nữ suốt ngày lui hui xó bếp như mẹ Hoạt, mẹ Ưởng

cũng trở nên nanh nọc, đanh đá khác thường. Bởi cuộc sống khó khăn, bởi kiếm

được đồng tiền bát gạo quá đỗi chật vật, lại thêm tâm lí khá nhỏ nhen nên người ta

tranh chấp để bảo vệ quyền lợi cho mình. Nhưng người nhà quê lại có đặc tính

sống rất nghĩa tình, quan tâm, gắn bó với nhau. Thế nên, việc “đánh nhau chia

thóc, mời nhau ăn cơm” là một thực tế không chỉ xảy ra ở riêng xóm Giếng Chùa

mà có thể nói, nó là nét chung thường gặp ở các làng quê Việt Nam. Các tác giả

đã nhìn ngắm, đã vẽ lại hiện thực đó trong tác phẩm theo cách riêng của mình.

Dưới cái nhìn của ba tác giả Lê Lựu, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường,

nông thôn Việt Nam đã được tái hiện bằng những nét vẽ độc đáo và đặc sắc. Thế

nhưng, bên cạnh việc thể hiện những nét chung mang tính đặc trưng của nông

thôn Việt Nam, mỗi ngôi làng lại để lại những ấn tượng khác nhau trong lòng

người đọc

Làng Đông (Bến không chồng), ngoài cái vẻ hẻo lánh, những sự tích về cây

đa, bến nước, bà tiên, ông bụt, những con ma...giống như bất cứ làng nào khác, thì

làng Đông còn có một nét rất riêng, đó là bầu không khí ngột ngạt bao trùm cuộc

sống trong làng, bao trùm mọi kiếp người trong làng. Không khí ngột ngạt ấy là

do những hủ tục ngặt nghèo chưa tháo gỡ được từ bên trong từng con người, từng

dòng họ, từ cái lối sống làng quê tắt lửa tối đèn, phép vua thua lệ làng..., lại thêm

những vấn đề nảy sinh trong chiến tranh, sau chiến tranh..., biến cuộc sống của

người dân làng này trở nên khó thở, niềm vui manh mún, nỗi buồn triền miên, con

người vật vã muốn thoát khỏi sự ràng buộc truyền kiếp ấy nhưng bất lực.

Cuộc sống của làng Hạ Vị (Thời xa vắng) được miêu tả cụ thể thông qua

cuộc sống, sinh hoạt, cách cư xử của những con người trong gia đình ông đồ

Khang. Đấy là một cuộc sống mang nặng tư tưởng gia trưởng. Nhân vật Giang

Minh Sài cả đời chỉ biết sống, biết làm theo ý người khác. Khi ở nhà thì làm theo

ý của cha, chú, anh trai. Khi vào bộ đội, thoát li được sự kềm toả của gia đình thì

Sài làm theo sự kì vọng, chỉ dẫn của cấp trên. Cuộc sống, lao động, học tập của

Sài luôn được bảo bọc trong tình thương yêu, sự lo lắng chăm sóc của những

người xung quanh và anh luôn cố làm cho những người xung quanh hài lòng về

mình. Vì thế, Sài không có cuộc sống của riêng mình, Sài như sống hộ, thậm chí

ngay cả hành động bản năng nhất của người đàn ông đó là ngủ với vợ, Sài cũng

miễn cưỡng thực hiện theo yêu cầu của người khác. Nói đúng ra, Sài đã sống

không ra sống.

Không còn quá nặng nề không khí chiến tranh, tiểu thuyết Mảnh đất lắm

người nhiều ma miêu tả cuộc sống làng Giếng Chùa trong thời kỳ mới: hoà bình,

đời sống kinh tế xã hội phát triển, nhưng xã hội bị phân hoá mạnh. Tại sao lại như

vậy? Vì đời sống trong hoà bình phức tạp hơn trong chiến tranh rất nhiều. Chiến

tranh ác liệt nhưng đơn giản. Trong chiến tranh, mọi quan hệ xã hội và con người

dồn lại và chỉ thu hẹp vào mối quan hệ duy nhất: sống-chết. Người ta phải sống

phi thường, tạm triệt tiêu đi những ham muốn, những nhu cầu bình thường của

cuộc sống con người. Nhưng khi đất nước hoà bình, con người phải đối mặt với

những cái bình thường, những nhiêu khê của cuộc sống... Lúc này, xã hội mới bộc

lộ trọn vẹn mặt trái, mặt phải của nó. Mảnh đất lắm người nhiều ma phản ánh

điều ấy. Chính vì thế, làng Giếng Chùa hiện ra là một ngôi làng suốt ngày chộn

rộn những chuyện tranh đấu, báo thù, những chuyện người, ma lẫn lộn. Không

gian được tái hiện hư hư, thực thực. Con người sống với nhau thật giả, phải trái

lẫn lộn. Người ta bị mơ hồ giữa ma và người, mơ hồ giữa phần người với phần

ma trong mỗi con người.

Khi đưa đến cho người đọc bức tranh chung quen thuộc của cuộc sống

thường nhật, các tác giả miêu tả những điều nhìn thấy. Bằng cảm nhận, các tác giả

lại đưa đến cho người đọc những tình cảm rất riêng cho mỗi ngôi làng. Có phải vì

được cảm nhận bằng chiều sâu rung cảm của các nhà văn, nên những ấn tượng

riêng về từng ngôi làng càng trở nên sâu sắc hơn trong lòng người đọc? Và bức

tranh nông thôn trong mỗi tác phẩm vì thế mà thêm sinh động, phức tạp, có chiều

sâu, thu hút người đọc, khiến cho người ta thích thú khám phá để rồi ưu tư, dằn

vặt...

3.2. Những người nông dân thuần chất được phát hiện dưới nhiều góc độ

tâm lí khác nhau làm nên sự đa dạng nhưng cũng đầy phức tạp của cuộc sống

sau luỹ tre làng.

Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Tình trạng xã hội chi phối

rất mạnh mẽ đến con người. Đất nước có chiến tranh, con người sống theo hoàn

cảnh thời chiến. Đất nước hoà bình, yên ổn, con người sống khác. Xã hội đơn

giản, bình dị, con người cũng đơn giản, chất phác. Xã hội sôi động, phức tạp, con

người cũng phức tạp. Theo từng bước chuyển mình của xã hội, tâm lí, tình cảm

của con người cũng dần biến đổi, dần thêm phức tạp.

Ba tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu, Bến không chồng của Dương

Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường phản ánh xã

hội nông thôn trong suốt một thời kì dài từ buổi chiến tranh đến lúc hoà bình, nên

để khám phá những chuyển biến tâm lí của người nông dân trong những bước

chuyển mình của xã hội có lẽ sẽ hứa hẹn nhiều điều thú vị.

Về cơ bản, hầu hết những con người được nói đến trong ba tiểu thuyết này

đều mang những đặc điểm thường gặp khi nói về người nông dân, đó là sự thật

thà, chất phác, sống tình cảm, yêu mến cuộc sống bình dị, thích sự yên ổn... Đọc

ba tiểu thuyết, ta vẫn tìm thấy những đặc điểm ấy trong số đông những con người

như chú Vạn, ông bà Khiên, bà Nhân, Nghĩa, Hạnh, Dâu, Thắm, Cúc, Thành...

(Bến không chồng); ông bà đồ Khang, Sài, chị Tính...(Thời xa vắng); bà Son, bà

Cả, bà Sang, bà Dần, cô Luyến, chú Chỉnh, Đào, Tùng...(Mảnh đất lắm người

nhiều ma). Họ thèm khát, yên tâm với một cuộc sống bình dị trong đó vợ chồng

cha con được đoàn tụ, sống đạm bạc nhưng vui vẻ bên nhau. Họ luôn cố gắng giữ

gìn nề nếp gia phong, truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ. Họ luôn biết

điều tiết bản thân mình trong mọi mối quan hệ để đảm bảo tình cảm, sự yên ấm,

tránh làm phiền lòng, làm ảnh hưởng tới người khác... Thật vậy. Và trong đời sống

thường ngày, những bản chất, tình cảm ấy qui định ở họ một số nét tâm lí thường

gặp.

Đầu tiên, có thể kể đó là tâm lí luôn quí trọng và đề cao gia đình mình. Có

lẽ, đối với bất cứ con người Việt Nam nào, gia đình cũng luôn là điều thiêng liêng,

quan trọng. Với các nhân vật này cũng vậy. Gia đình là lẽ sống của họ. Gia đình là

báu vật cần phải nâng niu giữ gìn. Gia đình là thứ mà họ có thể hi sinh tất cả, kể

cả bản thân mình để bảo vệ nó. Đó là tâm lí chung.

Đối với những con người chịu ảnh hưởng mạnh nền học vấn nho học thì nét

tâm lí này thể hiện cụ thể bằng việc luôn cố gắng giữ gìn nề nếp gia phong, chèo

chống gia đình sao cho trên dưới thuận hòa, vui vẻ, đầm ấm. Chẳng hạn như ông

Khiên (Bến không chồng), gánh trên vai trách nhiệm trưởng tộc, ông luôn điều

hành gia đình theo những nền nếp được coi là chuẩn mực cho xứng với danh tiếng

của dòng họ Nguyễn to nhất làng Đông mà từ trước đến nay luôn được dân làng

nể trọng. Có cậu con trai duy nhất là người thừa tự cơ nghiệp của ông cũng như

của dòng họ Nguyễn nhà ông, ông ra sức kèm cặp, dạy dỗ văn chương, nhạc,

hoạ... với sự kỳ vọng con trai sẽ làm cả nhà, cả dòng họ mở mày, mở mặt. Đến khi

con trai có nguy cơ sẽ phải đi bộ đội, dù hiểu rõ trách nhiệm của người dân đối với

sự an nguy của tổ quốc, dù không muốn cả gia đình vợ chồng, cha con đều mang

tiếng hèn nhát, nhưng ông vẫn phải đau khổ van xin cho Nghĩa được ở nhà, ông sợ

nhà ông, dòng họ ông mất người nối dõi, như vậy là có tội với tổ tiên, dòng họ...

Hay như ông đồ Khang (Mảnh đất lắm người nhiều ma), cả đời ông nỗ lực để

giữ gìn sự gia giáo của gia đình, trên dưới rõ ràng, cha ra cha, con ra con, chồng ra

chồng, vợ ra vợ. Ngay cả khi ông thật nể cậu con trai thứ hai vì nó làm lớn, vì nó

tiếp thu nền giáo dục mới nên nó quyết đoán, quyết định việc gì cũng lanh lẹ và

hợp lý hơn ông..., nhưng trong những vấn đề lớn, ông vẫn tỏ ra là người có quyền

to nhất, là người quyết định tất cả. Ví dụ như chuyện lấy vợ cho thằng con trai út ở

tuổi lên mười, dù cho em trai và con trai quyết liệt phản đối, ông vẫn bắt Sài lấy

Tuyết. Hay khi đánh đuổi Sài vì Sài dám đuổi vợ, dù thương con, xót con đứt ruột

nhưng sợ mang tiếng là “họ nhà tôm” với thông gia, với hàng xóm nên ông đành

bỏ mặc, không đi tìm..

Tư tưởng nho giáo ăn sâu bén rễ vào đời sống của những người nông dân

nên dù già hay trẻ, dù đàn ông hay đàn bà cũng mặc nhiên thừa nhận những đạo lí

mà nó vạch ra. Thế nên, bên cạnh những nền nếp được giữ gìn bền vững, cũng có

lắm vấn đề nảy sinh. Chẳng hạn như thói gia trưởng. Trong cả ba tiểu thuyết,

người đọc đều được chứng kiến cảnh mâm trên mâm dưới ở các gia đình, cảnh

những người chồng người cha ngồi ung dung, sai khiến vợ con. Song hành với

những cảnh ấy là hình ảnh những người phụ nữ như bà Khiên (Bến không

chồng), bà đồ Khang, chị Tính (Thời xa vắng), bà Son, bà Dần, chị Luyến

(Mảnh đất lắm người nhiều ma)..., những người phụ nữ này tính cách hiền dữ

khác nhau nhưng gặp nhau ở một điểm, đó là đức nhẫn nhịn hi sinh, một lòng cúc

cung tận tuỵ cho chồng cho con. Cuộc sống của họ diễn ra đúng như đạo đức nho

giáo truyền thống qui định “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.

Trong cuộc sống gia đình, họ chịu kiếp dây leo, phụ thuộc hoàn toàn vào người

đàn ông của họ, dù rằng họ cũng vẫn tự sống, tự lao động sản xuất với tư cách là

những lao động chính trong gia đình. Những bà Khiên, bà Khang, bà Son, chị

Tính, chị Luyến cả đời không dám cãi chồng một câu, chỉ nep nép nhìn thái độ

của chồng để cư xử cho khéo. Những bà Dần, chị Luyến nghe đồn chồng trăng

hoa vẫn giả lả nói cười, cắn răng chịu đựng mà không dám tỏ thái độ gì. Bà Son

không yêu chồng, nhưng đã về làm vợ ông, bà vẫn cố im lặng chấp nhận thói gia

trưởng, chấp nhận những tính toán bủn xỉn của ông Hàm với vợ con, chấp nhận sự

bạc đãi của chồng với gia đình mình, chấp nhận cả những đêm ân ái miễn cưỡng

không chút mùi vị tình yêu... Có thể thấy rằng không biết bắt đầu từ bao giờ và

đến bao giờ mới kết thúc, nhưng trong suy nghĩ của người phụ nữ Việt Nam nói

chung và đặc biệt là những người phụ nữ nông thôn nói riêng luôn có tâm lí cam

chịu, nhẫn nhục vì chồng vì con, họ không biết, hay nói đúng hơn là không dám

đòi hỏi quyền lợi gì cho bản thân mình. Người ta luôn ca ngợi những điều ấy ở

người phụ nữ. Nhưng chính điều ấy lại đem những thiệt thòi, bất hạnh đến cho họ.

Nhìn chung, trong những giai đoạn nhất định của lịch sử xã hội thì thói gia trưởng

của người đàn ông, sự nhẫn nhịn, cam chịu của người đàn bà chính là biểu hiện

cao nhất sự bền chặt của gia đình truyền thống.

Chính từ cái ý thức về gia đình như vậy nên trong con người ta ai cũng có

tính ích kỉ, thủ lợi cá nhân, chỉ lo chăm chăm bảo vệ gia đình người thân mà

không màng đến người khác, không màng đến lẽ phải, đến đạo đức ở đời. Trong

Mảnh đất lắm người nhiều ma, ông Hàm đã vì những cạnh tranh giữa dòng họ

nhà ông với dòng họ Vũ Đình mà táng tận lương tâm đi đào mộ người ta lên để trù

ếm cho gia đình đối thủ lụn bại, ba đời không ngóc đầu lên được.

Cô Đào, con gái ông Hàm, biết rõ cha mình sai nhưng vẫn nằng nặc bảo vệ,

vẫn sẵn sàng chanh chua với những kẻ buông lời rèm pha, vẫn ương bướng đòi

người chú có chức quyền cứu cha mình ra bằng được và kiên quyết từ mặt người

yêu, kẻ đã làm cha mình bị bắt. Cô cũng hùng hổ đòi sấn ra chửi nhau tay đôi với

hàng xóm khi bà Dần chửi mẹ cô vu vạ cho chồng bà tội quan hệ bất chính.

Cũng cần nói thêm một chút, khi ông Phúc ngoại tình thật, bà Dần không hề

chửi rủa, gây gổ gì với tình địch, chỉ chửi đổng một câu: “Rõ đồ quạ mổ! Không

nhịn được nữa hay sao mà đâm đầu đi theo người đã có vợ, cho nó chết!” [trang

97]; vậy mà khi chồng bị vu vạ cho tội quan hệ bất chính, quên cả sĩ diện, không

hề xấu hổ, bà ra giữa làng mà chửi. Chứng tỏ bà chửi không phải chỉ để thoả cái

ghen, cái tức của bản thân mà bà chửi còn để bảo vệ danh dự gia đình, bảo vệ

chồng bà.

Cái tâm lí đề cao quan hệ gia đình trong mọi trường hợp rất phổ biến nên

khi em gái làm thủ kho mắc tội ăn cắp thì Nẫm, nguyên phó chủ tịch xã kiêm

trưởng ban công an đã dám tuyên bố một câu xanh rờn: “dù mất chức, mất quyền,

mất đảng, chứ tôi không cho ai động đến người nhà của tôi” [52, tr.134]. Bởi vậy

ở làng ấy người ta luôn tự hiểu với nhau một điều là: “Dân gốc vùng này hễ động

đến họ hàng ruột thịt của họ, là họ dễ nổi điên lên lắm” [52, tr.134]. Hiện tượng

này diễn ra nhiều ở các làng quê. Chính cái tâm lí bảo thủ ấy khiến cho cuộc sống

nơi thôn dã diễn ra vừa rất tình cảm, thân thiện, vừa vô phép tắc, có khi cay nghiệt

đến mức vô đạo đức.

Cũng xuất phát từ tính tự tôn gia đình, dòng họ. Người dân quê luôn muốn

gia đình mình được xóm làng nể trọng, hoặc ít nhất là không bị khinh thường. Và

họ tìm cách để gia đình mình được nể trọng ở các khía cạnh khác nhau của cuộc

sống. Có gia đình tự tôn vinh mình ở góc độ tinh thần, tức là làm cho dân làng

ngưỡng mộ truyền thống, nề nếp gia đình, nuôi dạy con cái ngoan ngoãn, thành

đạt..., ví dụ như nhà ông Khiên, nhà ông đồ Khang. Có gia đình lại trang sức cho

mình bằng sự khá giả, sang trọng với sa-lông, sập gụ, tủ chè, với những bữa cơm

cầu kì mang vẻ chuyên nghiệp... như nhà ông Hàm, nhà anh Tính. Với quan niệm

“hơn nhau tấm áo manh quần, đến khi ở trần ai cũng như ai” nên không chỉ có

những nhà tương đối có tiền có của như nhà ông Hàm, anh Tính thích phô trương

mà những gia đình dân chay, chạy ăn từng bữa cũng lo sắm sanh đồ đạc, bởi “đói

mà được ngồi sa-lông gỗ lát cũng vênh vang” và như thế mới “mở mày mở mặt

với xóm làng”.

Cuộc sống của người nông dân thuần tuý vốn dĩ gắn bó với con trâu, cái

cày, cái cuốc, với đồng ruộng...Mỗi ngày của họ trôi qua bình dị giản đơn, việc

nhà ai nhà ấy làm, cơm nhà ai nhà ấy ăn, thỉnh thoảng có việc gì lớn hàng xóm

xúm lại đỡ đần nhau chút ít, không bon chen, không vụ lợi... Thế nhưng, từ khi

nông thôn mở rộng sản xuất theo mô hình những hợp tác xã nông nghiệp mở rộng

với qui mô sản xuất lớn hơn thì xã hội nông thôn có nhiều biến đổi, phân hoá rõ

rệt, điều này chi phối rất lớn đến tâm lí, tình cảm của người nông dân. Từ không

bon chen, không màng thế sự, họ trở nên tham vọng hơn. Từ lối sống chất phác,

đơn giản, họ nảy sinh mánh khoé, sự ti tiện. Những tố chất dân dã dần dần phai

nhạt, nhất là trong những con người có trong tay chút quyền hành, địa vị. Trong sự

đổi thay của xã hội, cái xóm Giếng Chùa cũng ngỡ ngàng trước những đổi thay

của con người. Trước hết là ở những con người nông dân thấp cổ bé họng, chân

lấm tay bùn, những con người chất phác, thật thà như đếm ấy đứng trước cuộc

sống khó khăn, thóc cao gạo kém đã trở nên mánh khoé, mưu mô. Họ biết trữ lại

thóc, không trả nợ cho hợp tác xã trong ngày mùa để giữ lại miếng ăn. Họ biết

dùng những câu chuyện tếu để đánh lạc hướng chú ý của nhà cầm quyền, biết nghĩ

ra cách gửi thóc vào những nhà giàu có, những nhà có chức có quyền không bao

giờ thiếu miếng ăn để che mắt những nhà quản lí nông thôn. Họ đã thay đổi để

thích nghi với cuộc sống vốn đang thay đổi, không dễ dàng, thực dụng, thủ lợi cá

nhân...Trong làng Giếng Chùa cũng đã xuất hiện những con người đam mê quyền

lực, sẵn sàng đạp lên đầu lên cổ người khác, quên đi danh dự bản thân, làm mọi

chuyện thượng vàng hạ cám để “giành một cái ghế ngồi không to hơn cái vẩy ốc,

chen một chỗ đứng không cao hơn cái đế dép thường ngày” [52, tr.87]. Đấy là

những con người như Vũ Đình Phúc, suốt ngày lo thảo đơn từ kiện tụng nhằm hạ

địch thủ. Đấy là những con người như Trịnh Bá Thủ suốt ngày lo tính toán, mưu

mô để giữ ghế bí thư, để củng cố quyền lực và để khống chế, loại bỏ đối thủ của

mình. Thủ không từ một thủ đoạn nào, kể cả những thủ đoạn bỉ ổi nhất để đạt

được mục đích. Hay những người như Trần Văn Sửu, chấp nhận là cái bóng, là tay

sai, là con chó phản chủ cũng chỉ vì muốn giữ cho mình một vị trí và nuôi tham

vọng có một vị trí cao hơn.

Xuôi theo tiến trình phát triển xã hội, con người thích nghi và tiến tới làm

chủ hoàn cảnh, làm chủ xã hội. Chính vì thế mà tư tưởng, tình cảm, tâm lí của con

người cũng dần thay đổi để thích ứng với cuộc sống. Dĩ nhiên, đổi mới chưa hẳn

đồng nghĩa với hoàn toàn tốt, nhất là sự đổi mới ấy mới đang đi những bước đầu

chập chững, dò dẫm. Bên cạnh cái không khí mới, nhịp sống mới, cung cách quản

lí và sản xuất mới... khiến con người hoạt bát, khả năng thích ứng cao hơn, chính

nó cũng khiến con người trở nên chai sạn hơn, lạnh lùng hơn, hám lợi và hãnh tiến

hơn. Nhưng mâu thuẫn là cơ sở của sự phát triển. Những sự phức tạp nảy sinh

trong tâm lí người nông dân chính là sự phản ánh những chuyển biến, những phức

tạp trong các quan hệ xã hội Việt Nam thời đổi mới, trong đó những cái xấu, cái

lạc hậu, những cái làm cho xã hội trì trệ, những con người, những quan điểm

không còn phù hợp với sự phát triển của xã hội sẽ dần bị tẩy chay, loại bỏ. Chính

vì thế, xã hội hứa hẹn một thực trạng mới tươi sáng hơn, phát triển hơn. Phải

chăng đấy chính là những điều các tác giả Lê Lựu, Dương Hướng, Nguyễn Khắc

Trường muốn phản ánh.

3.3. Nghệ thuật miêu tả hiện thực khách quan, không né tránh, phản ánh

được bản chất xã hội nông thôn đương thời.

Bức tranh nông thôn được miêu tả chân thực và sinh động tạo nên sự lôi

cuốn kỳ lạ cho ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm

người nhiều ma. Nhưng nếu bức tranh ấy chỉ được thể hiện bằng toàn những gam

màu sáng, sặc sỡ, toàn những hình khối hoàn hảo, trơn láng... thì có lẽ nó đã

không hấp dẫn đến vậy. Mà trong những bức tranh này, đôi khi những màu tối,

những hình khối méo mó lại là những điểm nhấn đầy thu hút cho bức tranh nghệ

thuật về cuộc sống ấy.

Trong ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm

người nhiều ma, cuộc sống nơi thôn dã được các tác giả miêu tả tỉ mỉ, chi tiết đến

độ dù không sống trong những ngôi làng ấy, nhưng nếu được đưa đến đấy, ta sẽ có

thể đi từ đầu làng đến cuối xóm mà không sợ bị lạc. Ta có thể tìm ra đình làng

Đông, tìm ra cây cầu Đá Bạc, tìm đến và gõ cửa nhà bà Khiên, bà Nhân, nhà chú

Vạn...trong Bến không chồng. Ta có thể tìm ra ngõ nhà cụ đồ Khang trong Thời

xa vắng. Ta cũng có thể đến chiêm ngưỡng sự phong lưu của nhà ông Hàm, nhà

ông Thủ, nhà ông Phúc trong Mảnh đất lắm người nhiều ma mà không cần phải

hỏi thăm đường. Nói như thế để thấy rằng qua ngòi bút của các tác giả Dương

Hướng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, những ngôi làng Đông, làng Hạ Vị, làng

Giếng Chùa bỗng quá đỗi thân quen, gần gũi với độc giả. Đấy là cái tài của các tác

giả. Nhưng đấy chưa phải là tất cả. Những tác phẩm ấy còn thu hút người đọc ở

ngòi bút miêu tả hiện thực khách quan, không nể nang, né tránh.

Cả ba tác phẩm đều phản ánh xã hội trong những giai đoạn nhạy cảm, đấy là

thời kì cải cách ruộng đất, thời kì bước đầu xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa

đầy bỡ ngỡ, lúng túng của đất nước. Phản ánh thời kì này, cả ba tác giả đều mạnh

dạn phản ánh sự thật, những sai lầm trong quản lí kinh tế, quản lí xã hội của ba

làng quê cũng như của tất cả các làng quê khác ở Việt Nam trong thời kì bấy giờ.

Suốt một thời kì, phong trào đấu tố địa chủ, cường hào ác bá, tay sai đế

quốc được phổ biến, tiến hành rầm rộ ở các địa phương. Khi chính sách này về

đến các địa phương, có thể hiểu nôm na rằng xã hội này là của những người

nghèo, nghèo kiết xác, của những người không biết chữ, của các “ông bà nông

dân”. Những người giàu có là những đối tương cần triệt tiêu, cần loại bỏ triệt để

trong xã hội. Những người có một chút miếng ăn, của cải cũng có nguy cơ bị các

“ông bà nông dân” đấu tố. Và có rất nhiều hành động bình thường bỗng trở nên

bất thường, trở thành hành động chỉ điểm tay sai. Có nhiều tiểu thuyết đã phản

ánh những hiện hiện thực hết sức u ám, đó là có những nơi người ta tiến hành đấu

tố theo chỉ tiêu, mỗi địa phương phải bảo đảm đấu tố được bao nhiêu phần trăm

địa chủ, bao nhiêu phần trăm cường hào ác bá, bao nhiêu phần trăm phản động

tay sai bán nước hại dân như các tiểu thuyết: Người đàn bà buồn của Phan Hách,

Ở đất kẻ thù của Lê Lan Anh, ... Có thể thấy, việc thi hành chính sách cải cách

như một lưỡi dao hành hình kéo lê đi khắp các làng quê, khắp các hang cùng ngõ

hẻm gây hiểm họa, chết chóc đến cho bất cứ ai vô tình hay cố tình chạm phải nó.

Hai tiểu thuyết Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma đều nói

đến, phản ánh cái buổi tối tăm nghiệt ngã ấy của đất nước. Dĩ nhiên mức độ có

khác nhau. Nhưng trong đó, người đọc được chứng kiến tương đối đầy đủ những

ngang trái, oan trái của giai đoạn này. Đấy là những cảnh hàng xóm tố cáo nhau,

vu vạ cho nhau như việc cả làng Đông tố địa chủ Hào (Bến không chồng), cả

làng Giếng Chùa tố gia đình Vũ Đình Đại (Mảnh đất lắm người nhiều ma). Đấy

là cảnh con cái xỉa xói tố cha mẹ mình là địa chủ để thể hiện mình tiến bộ, thức

thời, thoát ly giai cấp phi vô sản như việc vợ chồng Vũ Đình Phúc tố cáo cha ruột

của mình (Mảnh đất lắm người nhiều ma). Và cũng có cảnh những con người bị

hành hình một cách oan ức, thương tâm như Xèng, Xình, Hinh vì bị nghi là việt

gian phản động. Cũng có những cảnh cười ra nước mắt khi có những con người

được bổ nhiệm vào địa vị cao nhất của địa phương nhưng hành trang duy nhất chỉ

là cái sự nghèo hơn người, cái sự thất học đến một chữ bẻ đôi cũng không biết như

trường hợp chủ tịch Đột... Tất cả những điều đó là hiện thực của những trang sử

đen tối nhất của nước nhà mà nhiều năm sau người ta còn nhắc tới, còn phải rùng

mình.

Qua cái thời đen tối ấy, rồi qua nhiều năm nữa, đến những năm đầu của thời

kì đổi mới, xã hội Việt Nam bước sang một trang khác, bớt u ám hơn, sôi động,

nhạy cảm và vì thế phức tạp hơn nhiều. Lúc này, trong xã hội những tàn tích

phong kiến nặng nề trộn lẫn một cách kì quặc với những hậu quả của những cơ

chế phi tự nhiên áp đặt nhiều năm, lẫn những áp lực mới của một nền kinh tế thị

trường què quặt đang đến, tạo nên một sự hỗn loạn lạ lùng và tệ hại trong tất cả

các quan hệ xã hội. Xã hội phân hoá. Nội bộ tầng lớp lãnh đạo phân hoá nặng nề,

cụ thể đó là hiện tượng phân chia bè phái trong lãng đạo chính quyền. Trong tiểu

thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, bằng những hiểu biết sâu sắc, tuyệt vời về

thực trạng nông thôn vùng châu thổ sông Hồng lâu đời, tác giả Nguyễn Khắc

Trường đã phản ánh sinh động tất cả những vấn đề đó.

Nhìn vào cơ cấu chính quyền xã Giếng Chùa, dễ dàng nhận thấy tư tưởng

thống trị ở đây là tư tưởng cục bộ địa phương và phân chia bè phái.

Trong cơ cấu lãnh đạo xã, có hai người được lọt vào danh sách lãnh đạo như

một điều đặc biệt. Nhân vật thứ nhất là Trần Văn Sửu. Sở dĩ nói cái sự thăng tiến

của Sửu là một điều đặc biệt là vì Sửu xuất thân là người xóm Trại. Mà trong suy

nghĩ của người làng Giếng Chùa thì “xóm trại vẫn là xóm của dân ngụ cư, dù thế

nào cũng không thể là cái xương sống của xã” [52, tr.121] và “đất có thổ công

sông có hà bá, thành hoàng vùng này chưa đến nỗi mạt vận phải chuyển bài vị

sang dân ngụ cư xóm trại” [52, tr.122]. Với cái tư tưởng cục bộ địa phương thống

trị không biết từ khi nào, ở địa phương, không ai là dân nhập cư mà có thể ngự

trên ghế cao của làng lâu. Thậm chí, có người xóm Trại đã leo lên đến chức bí thư

đảng uỷ xã mà cũng bị quần chúng dân gốc làng Giếng Chùa cho rớt phiếu xuống

làm thường dân, lại còn bị một phen sính quýnh vì những rắc rối trong chuyện

giấy tờ, lí lịch, chỉ vì cái tội đã lỡ trừng phạt con em làng Giếng Chùa đào ngũ.

Bởi cái “tiền sử” như vậy nên những người dân xóm Trại luôn kiêng dè dân gốc ở

đây. Và khi tham gia chuyện chính quyền, bao giờ những người nhập cư ấy cũng

khiêm nhường nhận chức phó chứ không bao giờ dám tranh chiếu trên ở địa

phương, dù cho số phiếu có cao tới đâu. Nhân vật thứ hai là bí thư chi bộ Xuân

Tươi. Xuân Tươi cũng không phải là dân gốc của vùng này. Theo tiêu chuẩn lựa

chọn lãnh đạo của dân vùng này thì cả hai nhân vật trên đều không đủ tiêu chuẩn.

Nhưng họ đã trúng cử với số phiếu cao và được xếp vào những vị trí quan trọng.

Sở dĩ như vậy là vì những người có uy quyền nhất trong xã đã ra mặt vận động

cho họ trúng cử. Hay nói cách khác lúc bấy giờ ở xã chỉ có hai phe cánh lớn đó là

phe của dòng họ Trịnh Bá, đứng đầu là Trịnh Bá Thủ và phe của dòng họ Vũ

Đình, đứng đầu là Vũ Đình Phúc đang tranh giành địa vị, cả hai phe đều đang cần

người để chi phối số phiếu của đối phương trong các kì đại hội. Thế nên, dù vẫn

còn tồn tại tư tưởng phân biệt địa phương nhưng những người nắm giữ quyền

hành kia vẫn bỏ phiếu và vận động mọi người bỏ phiếu cho người nhập cư vì họ

nghĩ “thà thế còn hơn là để rơi vào tay người đối chọi với mình. Rồi sẽ lôi kéo hắn

dần dần” [52, tr.229] và cũng là để chứng tỏ với mọi người mình không phải là

người “hẹp hòi bè phái”...

Thế nhưng có thể thấy không ở đâu mà chính quyền, đảng bộ địa phương

hỗn loạn, chia năm xẻ bẩy hơn Giếng Chùa. Chỉ một chi bộ nhỏ với số lượng đảng

viên khiêm tốn (bởi người ta không thích giới thiệu thêm đảng viên mới), nhưng

đã tồn tại đến ba phe. Một phe của những người thuộc dòng họ Trịnh Bá gồm các

nhân vật như Thủ, Cao, Vi, Vu... Một phe của những người thuộc dòng họ Vũ

Đình gồm các nhân vật như Phúc, Địch, Tính... Phe còn lại là những người trung

lập như Sửu, Xuân Tươi, Hiển Vinh, Tùng, Chỉnh... Nhưng ngay trong số những

người thuộc phe trung lập cũng tồn tại hai nhóm người khác nhau. Những người

như Xuân Tươi, Hiển, Vinh, Tùng, Chỉnh là những người hoàn toàn trung lập,

không bị lôi kéo bởi bất kì phe nhóm nào, dĩ nhiên mỗi người mang một lí do khác

nhau. Còn chủ tịch Trần Văn Sửu thì trung lập kiểu cơ hội, kiểu láu cá của những

người nhập cư luôn bị khinh thường, bị chèn ép, may mắn được đắc cử nên gió

chiều nào theo chiều ấy, nhũn nhặn chờ thời, lúc thuận lợi là sẵn sàng đạp lên đầu

lên cổ người khác mà tiến, kể cả những người hàng ngày Sửu vẫn tỏ ra cung kính,

trung thành. Thử tưởng tượng một cái xã mà từ đầu xã đến cuối xã chỉ có khoảng

năm cây số mà bị chi phối bởi một cơ cấu chính quyền be bét như vậy thì nó sẽ

tồn tại như thế nào? Để củng cố quyền lực cho mình, các phe không ngừng tìm

cách triệt hạ nhau. Họ không từ bỏ một thủ đoạn nào từ bịa đặt, vu khống, doạ nạt

đến đào mồ cuốc mả, hãm hại, trù dập, kể cả đẩy người thân vào chỗ chết...

Những con người ngay thẳng, chính trực như Tùng, như trung tá Chỉnh thấy hết

những tiêu cực trong chính quyền xã, cũng trăn trở trước những thực tế diễn ra

trước mắt, nhưng họ là số ít và họ cũng chưa đủ thế và lực để làm được một điều

gì đó. Và bởi thế, hằng ngày những con người nơi đây sống với nhau, cư xử vói

nhau lá mặt lá trái, thật giả khôn lường. Họ có thể vừa tỏ vẻ gần gũi thân thiện vừa

thì thụt, xúi bẩy, kích động, ném đá giấu tay làm hại người khác. Họ cũng có thể

bả lả nói cười, chén chú chén anh trong những bữa tiệc “đồng chí” nhưng trong

bụng lại rủa nhau sau bữa rượu ấy sẽ sa chân lỡ bước chết dấp đi cho rảnh...

Bằng những ngòi bút hiện thực sắc sảo, không né tránh, không khoan

nhượng, các tác giả Lê Lựu, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường đã đưa đến cho

người đọc những hình dung, những cảm nhận rõ nét nhất về những bước thăng

trầm trong quá trình phát triển của nông thôn Việt Nam. Đấy là những sai lầm

đáng tiếc trong thời kì cải cách ruộng đất, quá trình hợp tác hoá nông nghiệp của

những năm 50, 60 của thế kỉ XX. Đấy là những thất bại không thể cứu vãn của mô

hình hợp tác xã sản xuất theo lối quan liêu bao cấp của những năm 70, 80 của thế

kỉ này. Thời kì đầu hợp tác xã còn làm tròn nhiệm vụ lịch sử của nó. Nhưng chúng

ta đã thất bại khi xây dựng những mô hình hợp tác xã mở rộng với qui mô lớn

trong khi trình độ văn hoá, tổ chức, quản lí của cán bộ vẫn còn trì trệ, lạc hậu, sản

phẩm mồ hôi nước mắt của người lao động thực chất trở thành một thứ vô chủ mà

những phần tử quan liêu, bè phái theo kiểu dòng họ tha hồ đục khoét, tham ô...

Tình trạng xã hội này còn được phơi bày trong nhiều tiểu thuyết khác, mà Thủy

hoả đạo tặc của tác giả Hoàng Minh Tường cũng có thể được kể đến như là một

ví dụ tiêu biểu. Những vấn đề kể trên vừa có thể gọi là những hạn chế nhưng nó

cũng là những tất yếu lịch sử khi mà quan hệ sản xuất phát triển không phù hợp

với trình độ của lực lượng sản xuất. Cái đáng quý là chúng ta biết thẳng thắn nhìn

nhận và chấp nhận sự thật để khắc phục. Cả ba tác phẩm chỉ mới dừng lại ở việc

phản ánh, chưa hướng tới một giải pháp cụ thể, hữu hiệu cho sự đổi mới phương

thức quản lí và sử dụng con người, đổi mới phương thức sản xuất và quản lí kinh

tế ở nông thôn. Dẫu vậy, các tác giả đã tỏ rõ sự quan tâm sâu sắc đến các vấn đề

của nông thôn, dám nghĩ và dám nói những điều mình trăn trở trong tác phẩm.

Đấy là sự thẳng thắn, nghiêm túc khi nhìn nhận những vấn đề xã hội. Còn

một vấn đề khác cũng vô cùng thu hút sự quan tâm của các tác giả, đó là vấn đề

con người, vấn đề số phận con người. Trong lịch sử loài người, con người chính là

thước đo sự phát triển của xã hội. Xã hội nào mà trong đấy con người được hưởng

tự do, được sống yên vui, no đủ, hạnh phúc, được tự bộc lộ mình, đấy là một xã

hội phát triển. Còn trong một xã hội mà con người không có được những quyền

tối thiểu của con người, không quan tâm đến vấn đề con người thì đấy chẳng qua

cũng chỉ là một xã hội sơ khai, điêu tàn và ấu trĩ.

Ấy thế mà trong suốt một khoảng thời gian tương đối dài của sự phát triển

đất nước, vấn đề con người, con người cá nhân tạm thời bị nhạt nhoà, ít được quan

tâm, hay nói đúng ra là nó bị tạm lãng quên. Ta có thể cảm nhận rõ điều ấy hai

tiểu thuyết Thời xa vắng và Bến không chồng.

Ở tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu, cuộc sống của nhân vật Giang

Minh Sài đã thể hiện điều đó. Cả cuộc đời Sài sống một cuộc sống như là sống

nhờ, sống hộ, bị che lấp. Chưa bao giờ Sài tự sống cho mình, theo ý mình, tự

quyết định được điều gì cho bản thân. Trong mối quan hệ nhỏ ở gia đình, Sài sống

trong cái bóng của cha, của chú, của anh trai. Sài lấy vợ theo ý cha. Sài không

được bỏ vợ dù trong lòng ghét cay ghét đắng là vì sợ chú, sợ anh. Sài đi nhập ngũ

như lẩn trốn tất cả, lẩn trốn dư luận, lẩn trốn Hương, lẩn trốn tình yêu đầu đời

trong sáng của mình là do quyết định của một hội đồng những người lớn trong gia

đình luôn yêu thương, chăm sóc và lo lắng cho Sài. Còn trong mối quan hệ lớn với

xã hội, Sài cũng lại luôn bị cái tập thể vô danh tính che lấp. Khi còn là một cậu

thiếu niên, được bầu làm liên đội trưởng của xóm, Sài đã có ý thức sợ tai tiếng, sợ

dư luận. Ghét vợ, không ngủ chung, không nhìn mặt vợ, thậm chí bát tương nào

vợ đã chấm là Sài nhất định không chấm chung, nhưng ra ngoài vẫn phải đi cùng

nhau, phải tỏ ra đoàn kết, phải tỏ ra yêu vợ cho mọi người thấy. Khi đi bộ đội,

sống trong quân ngũ, thoát khỏi cái bóng của gia đình, Sài lại lặng lẽ sống, lao

động và học tập theo những nguyên tắc, những kỉ luật của quân đội. Từ sau vụ

cuốn nhật kí viết lại những tâm sự dành cho Hương, Sài càng co mình lại như một

cái bóng vô cảm, không buồn, không vui, không giãi bày tâm sự, chỉ biết chăm chỉ

làm việc cho khỏi mang cái án “tư tưởng có vấn đề”. Lãnh đạo của Sài: chính uỷ

Đỗ Mạnh, anh Hiền, anh Hiển... là những người sống chuẩn mực và nguyên tắc.

Họ luôn muốn lính tráng dưới quyền cũng là những người sống đúng chuẩn mực,

đúng nguyên tắc, sạch sẽ, không tì vết... Đối với riêng Sài, họ yêu quý và chăm

sóc Sài với tình cảm không chỉ là của những người chỉ huy có trách nhiệm mà còn

là tình cảm của những người thân kì vọng vào đứa con, đứa em chăm chỉ, giỏi

giang của mình. Đấy là niềm tự hào, niềm vinh dự. Nhưng chính nó đồng thời

cũng là áp lực đối với Sài. Sài phải luôn cố gắng phấn đấu trong lao động, học tập,

đó là việc tốt. Sài còn luôn phải che giấu đi những tình cảm, những cảm xúc thật

của con người mình để cấp trên yên lòng, đấy là điều đáng xót xa. Hương đến đơn

vị tìm Sài, anh Hiển giấu, Sài nuối tiếc đến tê tái lòng nhưng im lặng chịu đựng.

Muốn viết thư cho Hương, cấp trên bảo đừng, Sài lại thôi trong đau khổ. Cấp trên

bảo ngủ chung với vợ, Sài ngủ chung. Cấp trên bảo phải yêu vợ, Sài yêu, yêu một

lần duy nhất trong đời. Nhìn chung, tình thương, uy lực, tính quyết đoán khi lo

lắng cho cuộc đời Sài của cha, của chú, của anh, biến Sài thành một con người

giống như một rôbốt biết thở, biết nói, biết làm việc. Đến tận tuổi trung niên, khi

đã qua nhiều năm rèn luyện ngoài chiến trường với những chiến tích anh hùng nổi

tiếng, trở lại thời bình, Sài mới được một lần tự quyết định cuộc sống cho mình,

đó là quyết định cưới Châu, một cô gài Hà thành. Thế nhưng, như là không quen,

lần đầu tiên, lần duy nhất Sài tự quyết định cuộc đời mình cũng lại là sai lầm, để

rồi hôn nhân tan vỡ, Sài phải về sống một mình thui thủi, tìm kiếm sự thanh thản ở

quê hương. Cuộc đời của Sài là một bi kịch kéo dài. Sở dĩ như vậy là do Sài sống

nhưng không dám sống đúng nghĩa, không dám bộc lộ bản thân. Dõi theo cuộc

sống của nhân vật, ta thấy con người cá nhân, khát vọng của cá nhân bị chôn vùi,

đấy là một cuộc sống nhạt nhoà, không hương không sắc.

Bến không chồng của Dương Hướng cũng là một tiếng kêu thét đầy mạnh

mẽ, thống thiết về số phận cá nhân bị vùi lấp, trong đó hình tượng nhân vật

Nguyễn Vạn là tiêu biểu. Nguyễn Vạn là một con người quá tốt, suốt đời lo cho

hạnh phúc của những người xung quanh, lo cho sự yên bình của làng Đông, nhưng

đến một chút hạnh phúc của riêng mình thì không bao giờ dám. Một chút hạnh

phúc riêng tư của bản thân, với Nguyễn Vạn cũng là tội lỗi, thậm chí là tội ác.

Được lướt vội bàn tay trên thân thể chị Nhân, người đàn bà mà Vạn yêu thương

hơn bản thân mình, Vạn cho đấy là tội lỗi. Trót “sờ tí” mụ Hơn, người đàn bà lẳng

lơ, đĩ thõa luôn mời kéo Vạn, Vạn cho đấy là tội lỗi. Và sau một lần dám sống thật

với đòi hỏi bản năng trong cơn say với Hạnh, Vạn nghĩ mình phạm tội ác không

thể tha thứ... Vạn luôn quên mình vì danh dự, vì uy tín, vì trách nhiệm. Những thứ

đó đem lại chút vinh quang cho cuộc đời Nguyễn Vạn. Nhưng cũng chính những

thứ đó đã làm cho cuộc đời của Vạn trở nên khổ hạnh, cuối cùng giết chết Vạn.

Những bi kịch xảy ra với các nhân vật Giang Minh Sài, Nguyễn Vạn không

chỉ là bi kịch của mỗi cá nhân, một số cá nhân mà là bi kịch của số đông những

con người trong một thời kì nhạy cảm của đất nước. Đấy là thời kì mà cả đất

nước, cả dân tộc đang hướng đến những vấn đề lớn lao như: chiến tranh, xây dựng

chủ nghĩa xã hội, lí tưởng cách mạng... Phần đông các cá nhân đều quên mình

hăng say thực hiện lí tưởng cách mạng. Đấy là những tình cảm, là phần nhiệt

huyết quan trọng và đáng quý. Nhưng khi người ta quá theo đuổi lí tưởng sẽ có

nguy cơ dẫn đến sai lầm, sẽ triệt tiêu con người cá nhân, biến các cá nhân thành

những người máy giống nhau, không có nét riêng cá tính và tâm hồn, như thực tế

đã được nói đến trong hai tác phẩm kể trên, điều này thật trái với mục tiêu xây

dựng đất nước lấy con người, những vấ đề liên quan đến con người làm trọng tâm

của đất nước ta. Nhìn chung, vấn đề vai trò của cá nhân, vị trí và quyền của từng

con người như một cá nhân có thể bừng nở tự do và toàn diện là một vấn đề lớn

của xã hội Việt Nam không chỉ thời bấy giờ mà cả ngày nay. Các tiểu thuyết Thời

xa vắng của Lê Lựu, Bến không chồng của Dương Hướng có phản ánh nhưng

thực chất chỉ chớm chạm đến vết thương xã hội đó, tất cả vẫn còn lẻ tẻ, mờ nhạt

chưa có sức khái quát cao.

Bằng lối viết theo một kiểu phóng sự kéo dài, dựa ngay vào những sự việc

xã hội có thật, những vấn đề đang được cả xã hội quan tâm trong từng giai đoạn,

các tác giả Lê Lựu, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường đã phản ánh, phơi bày

tất cả những nội dung xã hội ấy trong các tác phẩm của họ. Và trong đó, một cách

thận trọng, rắn rỏi và đầy trách nhiệm, các tác giả đã bày tỏ chính kiến của mình

trước thời cuộc. Dĩ nhiên, bên cạnh việc phơi bày, kể lể, tố cáo hiện thực thì các tác giả vẫn ngấm

ngầm gửi vào trong những khát vọng, niềm tin vào một xã hội tiến bộ, đổi mới thực sự. Bởi vậy, bên

cạnh giá trị văn chương, các tác phẩm còn mang nặng tính chính luận. Điều ấy không làm cho tác

phẩm khô khan, mất tính văn chương mà trái lại càng làm tăng thêm sức hấp dẫn, càng thêm giá trị .

KẾT LUẬN

Xã hội nông thôn tưởng như chỉ có nét bình dị, yên ả với những xóm làng,

những nóc nhà lặng lẽ bên những rặng tre, những cánh đồng, những dòng sông,

những con suối...; với những con người chăm chỉ với ruộng với vườn, thuỷ chung

gắn bó với quê hương; với những câu chuyện không bao giờ hết về cảnh vật, về

đất, về người... Thế nhưng, hoà mình vào cuộc sống ấy, chúng ta mới thấy những

điều không hề giản đơn, không hề tĩnh lặng. Nó cũng mang trong mình lắm điều

nhiêu khê, bức bối, ngột ngạt.

Toàn bộ những gì thể hiện trong luận văn này là những tìm tòi, cảm nhận

của chúng tôi đối với ý tưởng, quan điểm, tình cảm của các tác giả Lê Lựu, Dương

Hướng, Nguyễn Khắc Trường về những vấn đề của nông thôn, cả những vấn đề

đời thường cũng như những vấn đề mang tính đặc trưng, bản chất.

Trong quá trình nghiên cứu, với ý thức lấy bức tranh hiện thực nông thôn

làm tâm điểm, cùng với quan niệm luôn luôn coi trọng “cái tôi” của người sáng

tác cũng như coi trọng ý nghĩa tự thân của tác phẩm, về vấn đề nông thôn Việt

Nam được phản ánh trong ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh

đất lắm người nhiều ma, chúng tôi có thể đi đến một vài tổng kết:

Về mặt xã hội, trong ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng,

Mảnh đất lắm người nhiều ma, hiện thực nông thôn Việt Nam đã được tái hiện

một cách tương đối đầy đủ, rõ nét và sinh động với tất cả những cái hay, cái dở,

cái tốt, cái chưa tốt, cái tích cực, cái tiêu cực.... Và tất cả những điều ấy đều hấp

dẫn, đều khiến chúng ta phải tìm hiểu, phải suy ngẫm.

Chúng ta bị cuốn hút bởi đời sống văn hoá tinh thần vô cùng phong phú của

làng quê, trong đó chứa đựng biết bao điều kì thú với các câu chuyện huyền thoại,

những phong tục, luật tục thể hiện ý thức, quan niệm, thế giới tinh thần của người

nhà quê. Có biết bao những điều mang giá trị truyền thống, nhân văn, nhân đạo

sâu sắc được duy trì như tục giỗ tổ, thờ cúng tổ tiên, quan hệ gia đình trên dưới rõ

ràng, tình làng nghĩa xóm chân tình, khắng khít...Và, cũng có bao nhiêu hủ tục

nhiêu khê còn tồn tại, còn kìm hãm những bước phát triển của làng quê như tục

mê tín dị đoan, thói gia trưởng, quan hệ thân tộc phức tạp, tính tủn mủn, vụn vặt

trong đời sống thường nhật,...Có thể nói, cái cổng làng chính là biểu tượng gianh

giới hành chính cũng như gianh giới tinh thần giữa các làng xã. Cái cổng cứng cáp

và giản đơn ấy cũng là biểu tượng của sự gói ghém, ràng buộc, đoàn kết nhau của

những công dân trong làng. Cũng chính cái cổng ấy lại thể hiện sự bảo thủ, tính tự

tôn, không muốn giao lưu, không thừa nhận những gì nằm bên kia cổng làng. Tất

cả những điều ấy tạo nên một sự đa tầng, đa sắc màu cho thế giới văn hoá tinh

thần của nông thôn khiến ta càng khám phá càng thêm ngỡ ngàng, thú vị.

Cũng như thế, khi chứng kiến cuộc sống thực ở các làng quê, chúng ta cũng

phải trăn trở cùng với những biến động trong cuộc sống của họ.

Thời chiến tranh, các làng quê cùng đắm chìm trong không khí đau thương,

mất mát, chia li. Không một làng quê nào không mang trên mình những dấu tích,

tàn tích của chiến tranh. Làng quê nào cũng trở nên vắng vẻ, quạnh quẽ, vắng

bóng đàn ông, đàn bà con gái thì ê hề, cô đơn, trống trải. Làng quê nào cũng có

những cảnh cha mẹ chết không được thấy mặt con, cảnh những người phụ nữ vật

vã giữ gìn danh tiết để chờ chồng nuôi con... Và làng quê nào cũng có những

người anh hùng sẵn sàng quên mình, xả thân vì sự nghiêp giữ gìn và giải phóng

đất nước. Một điều đáng quí là trong cuộc sống thường ngày, họ có thể vụn vặt

trong những lợi ích cá nhân, tủn mủn trong những lo toan vun vén cho gia đình và

có thể nhận thức của họ mới chỉ dừng bên trong cổng làng, nhưng khi đứng trước

vận mệnh của đất nước, những con người “nông tri điền” cũng biết đến trách

nhiệm, cũng biết đến hiến dâng, cũng biết đến hi sinh... Những ông bố bà mẹ hiến

dâng cho tổ quốc những đứa con thân yêu, thậm chí là những đứa con cuối cùng

như bà Nhân, ông bà Khiên, ông bà đồ Khang. Những chàng trai hiến dâng cho tổ

quốc tuổi thanh xuân, sự hăng hái nhiệt tình, sức khỏe, thậm chí cả tương lai của

bản thân và gia đình như lão Vạn Điện Biên, Thành, Nghĩa, Sài, Thông... Đứng

trước thực tế đó thì không thể phủ nhận một điều: dù họ là ai, dù họ sống ở đâu,

dù nhận thức của họ ở mức độ nào, nhưng đã là người Việt Nam thì bất cứ ai cũng

có lòng yêu nước, dám hi sinh vì đất nước, vì dân tộc.

Kết thúc chiến tranh, các làng quê lại bình thản đón nhận cuộc sống mới

trong ngày hoà bình. Những chính sách mới, những chủ trương mới dày vò cuộc

sống, sự bình yên của người nông dân. Nào là đấu tố địa chủ, cường hào ác bá, tay

sai chỉ điểm bán nước hại dân. Nào là cải cách ruộng đất, đổi mới sản xuất theo

mô hình hợp tác xã với cơ chế quan liêu bao cấp... Tất cả đều xa lạ với họ. Điều

quan trọng là tất cả những điều ấy không đem lại cho họ cuộc sống thực sự no đủ,

yên vui. Nhưng với bản chất hiền lành, chất phác, họ vẫn thích nghi, vẫn chấp

nhận tất cả như một điều mặc nhiên phải thế.

Chỉ đến khi ở nông thôn xây dựng những mô hình hợp tác xã mở rộng với

cơ chế khoán trong sản xuất thì người nông dân mới thực sự sống, thực sự làm chủ

cuộc sống của mình. Trong cơ cấu xã hội giảm được phần lớn những chức danh

hữu danh vô thực, sống gửi ăn theo. Người nông dân làm nhiều hưởng nhiều làm

ít hưởng ít. Điều ấy tạo động lực, hứng khởi cho người dân hăng say sản xuất.

Điều ấy làm cho người nông dân có cuộc sống ổn định hơn, nhẹ nhàng hơn, no đủ

hơn. Cuộc sống người dân ngày càng khởi sắc, ngày càng khấm khá. Một bộ mặt

mới của nông thôn dần hiện ra...

Tuy nhiên, cái gì cũng có mặt trái của nó. Bên cạnh những chuyển biến khá

tích cực ấy thì xã hội nông thôn cũng phân hoá mạnh mẽ, bộc lộ nhiều mặt hạn

chế, nhiều tiêu cực, nhiều trì trệ.

Con người nông thôn trước những đổi thay của xã hội, trước những đòi hỏi

của cuộc sống cũng biến đổi theo. Trong họ đã xuất hiện những toan tính, mánh

khoé để làm đầy nồi cơm, đầy bồ thóc của mình mà không cần để ý đến xung

quanh. Tình làng nghĩa xóm dần được thay thế bằng những quan hệ mua bán, đổi

trác. Thỉnh thoảng còn bắt gặp những người lợi dụng, giẫm lên đầu lên cổ người

khác để kiếm lời.

Trong nội bộ quần chúng nhân dân đã vậy, đối với những người nằm trong

bộ phận lãnh đạo chính quyền, những người mà công việc của họ liên quan trực

tiếp đến kinh tế, những người có quyền sinh quyền sát trong tay, có thể dựa vào

địa vị để kiếm lợi... thì những toan tính, mánh khoé, sự gian ngoan càng bộc lộ

nhiều. Bởi thế ở nông thôn, hiện tượng che mắt nhân dân để “chấm mút”, mưu lợi

cá nhân diễn ra nhan nhản. Tình trạng chia bè kết phái trong hàng ngũ lãnh đạo

ngày càng trở nên sâu sắc. Bởi thế mà một cái xã bé xíu mà chính quyền bị chia

thành những mấy phe, chỉ toàn đối đầu, triệt tiêu đối thoại. Bởi thế nên những

làng quê tưởng như mãi thanh bình, im ắng lúc nào cũng um sùm những chuyện

cãi vã, kiện cáo, vu khống cho nhau. Bởi thế người ta sống với nhau lá mặt lá trái,

miễn sao yên ổn và có lợi cho mình... Cuối cùng chỉ có nhân dân là phải gánh hậu

quả, chịu khốn khổ.

Trong tiến trình vận động, phát triển của đất nước, mỗi giai đoạn lịch sử đều

mang những đặc điểm riêng. Giai đoạn này bộc lộ một tính chất, giai đoạn khác lại

mang tính chất khác. Mỗi giai đoạn đều chứa đựng trong nó những vấn đề, những

thành tựu và tồn tại. Tuy nhiên, khi nhìn nhận một cách khách quan thì dù là thành

tựu hay tồn tại thì tất cả đều là những nấc thang trong một cái thang, đều là những

tiền tố, là bàn đạp thúc đẩy xã hội phát triển theo chiều hướng tốt hơn.

Tất nhiên, dù bức tranh cuộc sống có mang màu sắc nào thì trung tâm của

bức tranh ấy vẫn là con người. Cuộc sống đưa đến cho con người bao điều kì diệu.

Và cũng ẩn chứa trong nó biết bao ngang trái, đắng cay. Có một điểm chung nhất

giữa ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều

ma là cả ba tác giả dường như cùng có chủ tâm khắc hoạ bi kịch của người nông

thôn thể hiện trong tất cả các mặt của đời sống xã hội.

Tìm trong ba tác phẩm ta thấy những con người lặn hụp trong một cuộc

sống mà con người cá nhân, ý thức cá nhân bị lãng quên, bị vùi dập, đấy là những

con người như lão Vạn, như anh cu Sài. Họ mải miết sống theo lí tưởng, sống theo

ý kiến, sự ngưỡng mộ của người khác, trong khi không dám làm điều gì, dành

riêng điều gì cho bản thân. Tuy nhiên, đấy có thể là tư tưởng không đúng nhưng

đấy là một tư tưởng phù hợp, cần thiết, ít nhất là cũng phù hợp, cần thiết với một

thời, một giai đoạn nào đấy của xã hội.

Ta cũng tìm thấy trong đó những con người gánh trên vai tấn bi kịch của

lòng thù hận. Ở nhà quê, khi mà cái ăn cái mặc vẫn luôn là gánh nặng, người ta

chỉ vương thù oán với nhau trong những chuyện hôn nhân, điền thổ. Và những

mối thù ấy đều có một sức sống dai dẳng đến khủng khiếp, truyền từ đời này sang

đời khác, mãi không thôi. Từ người già đến người trẻ, từ đàn ông đến đàn bà, từ

con trai đến con gái...tất cả đều phải ghi nhớ, tất cả đều phải thực hiện lời nguyền

của dòng họ. Trẻ con ghi nhớ bằng việc luôn luôn phải lắng nghe về những câu

chuyện ân oán của đời trước. Người lớn ghi nhớ bằng cách giữ mình trong tình

cảm, trong cư xử... Những mối thù ấy tồn tại qua bao đời, người ta lại không thể

sống bằng tình cảm của người khác, nhất là khi đó là sự căm hờn, nên biết bao bi

kịch, bao ngang trái đã xảy ra.

Còn một thứ bi kịch nữa mà các tác giả đề cập đến, đó là bi kịch nảy sinh từ

sự hãnh tiến, khát vọng quyền lực của con người. Vì cái quan niệm “một miếng

giữa làng hơn sàng xó bếp” mà biết bao còn người vì ham quyền lực mà bị chính

quyền lực sai khiến. Vì cái bả lợi danh ấy mà họ sẵn sàng trở nên man trá. Vì chút

địa vị trong xã hội mà họ sẵn sàng quên đi luân lí, đạo đức, thậm chí giết cả người

thân mà không hối cải. Nhưng quyền lực không chính đáng sẽ bị loại bỏ, bị đào

thải, đấy vẫn là thông điệp ngầm mà các tác giả muốn gửi đến người đọc.

Giai đoạn 1986 – 2000 là một giai đoạn cực kì nhạy cảm của lịch sử xã hội

Việt Nam, đánh dấu chặng đường mười lăm năm đất nước chúng ta bước những

bước chập chững, dò dẫm trong sự đổi mới. Như người bị nhốt trong bóng tối lâu

ngày bước ra ánh sáng, chúng ta choáng ngợp, lúng túng trong thời mở cửa. Xã

hội mới. Nhịp sống mới. Nền sản xuất mới... Nhưng con người, nhất là người

quản lí chưa đổi mới. Thế nên, những sai lệch, những yếu kém là tất yếu.

Bằng cái nhìn khách quan và nhạy cảm, cả ba tác giả Lê Lựu, Dương

Hướng, Nguyễn Khắc Trường đã nhìn ra, phân tích và phản ánh tất cả những vấn

đề của nông thôn một cách cụ thể, rõ ràng và sinh động. Ngòi bút hiện thực của

các tác giả đã giúp chúng ta được nắm bắt cuộc sống nông thôn từ góc độ tinh

thần, vật chất lẫn tâm lí. Đấy là thể hiện cá tính “cái tôi” trong sáng tác. Đấy cũng

là sự thành công của các tác giả. Tuy nhiên, dẫu rằng phản ánh hiện thực một cách

mạnh mẽ, tự tin, không né tránh, nhưng hầu như cả ba tác giả mới chỉ nêu ra,

chạm tới các vấn đề, chứ chưa thực sự đối đầu với những vấn đề họ nêu ra. Nhưng

đấy cũng là một điều tất yếu. Nếu đứng trên quan điểm lịch sử cụ thể có thể thấy,

cái giai đoạn nhạy cảm kia có giá trị như một bước đà. Trong quá trình phát triển

xã hội, những tồn tại của nó như những vết xước, đau nhưng gây hại không đáng

kể. Và việc các tác giả mới chỉ dừng lại để nhìn, để chạm vào nó thôi cũng là phù

hợp.

Trên đây là tất cả những gì chúng tôi tìm kiếm, khám phá được từ các tiểu

thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma. Với

luận văn này, có thể sự đóng góp chưa thật sự nhiều, nhưng đó là kết quả của một

quá trình nghiên cứu nghiêm túc. Những gì đã được và chưa được, những điều

thừa và thiếu, những cái hay cái dở... của luận văn này hi vọng sẽ gợi cảm hứng

cho những người khác tiếp tục nghiên cứu làm cho vấn đề được hoàn thiện hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Lan Anh (2007), Ở đất kẻ thù, NXB Văn học – Công ty văn hoá truyền

thông Võ Thị

2. Ngô Vĩnh Bình (1991), “Mảnh đất lắm người nhiều ma”, Tạp chí Văn nghệ

Quân đội, (8).

3. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Bộ Văn hoá thông tin

và thể thao, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội. ( Phạm Vĩnh Cư

tuyển chọn, dịch và giới thiệu).

4. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, NXB Giáo dục, Hà

Nội. (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch)

5. Hồng Diệu (1991), “Về Mảnh đất lắm người nhiều ma”, Tạp chí Văn nghệ

Quân đội, (8).

6. Phan Cự Đệ (2001), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nhà xuất bản Giáo

Dục, Hà Nội.

7. Phan Cự Đệ (2001), “Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới”, Tạp chí Văn

Nghệ Quân đội, (3), tr.99-104

8. Trung Trung Đỉnh (1991), “Dương Hướng và Bến không chồng”, Tạp chí

Văn nghệ Quân đội, (12), tr.98-99.

9. Hà Minh Đức (Chủ biên) (1998), Chặng đường mới của văn học Việt Nam,

NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội

10. Hà Minh Đức (Chủ biên) (1991), Mấy vấn đề lí luận văn nghệ trong sự

nghiệp đổi mới, NXB Sự Thật, Hà Nội.

11. Phan Hách (2001), Người đàn bà buồn, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội.

12. Nguyễn Văn Hạnh (1972), “Một số điểm cần nói rõ thêm về vấn đề nghiên

cứu tác phẩm văn học”, Tạp chí Văn học, (6), tr.117-126.

13. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳng Như Phương (1995), Lý luận văn học - Vấn đề

và suy nghĩ, NXB Giáo dục, TP HCM.

14. Phạm Hoa (1991), “Mảnh đất lắm người nhiều ma - Bức tranh gắn chặt với

hiện thực”, Báo Quân đội nhân dân thứ 7, (5).

15. Phạm Thị Hoài (2004), “Nhà văn thời Hậu Đổi Mới”, http://talawas.org...

16. Hoàng Ngọc Hiến (1987), “Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu”, Tạp chí văn

nghệ quân đội,(4), tr.118-119.

17. Nguyễn Minh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, NXB Giáo Dục,

Hà Nội.

18. Dương Hướng (1998), Bến Không Chồng, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội.

19. http://www.informatik.uni–leipzig.de..., “Một trăm điều nên biết về phong

tục Việt Nam”.

20. http://www.Vietnamtourism.com..., “Việt Nam - Đất nước con người”.

21. Nguyễn Vy Khanh, “Thế kỷ tiểu thuyết”, http://www.hobieuchanh.com...

22. Trần Đăng Khoa (1998), Chân dung và đối thoại, NXB Thanh Niên, Hà

Nội.

23. M.B. Khrapchenco (1985), Cá tính sáng tạo, hiện thực và con người,2,

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. (Lê Sơn, Nguyễn Minh dịch).

24. Lê Quý Kỳ, “Văn học thời đổi mới”, Sách “Văn học thời luận”, NXB Văn

học, Hà Nội.

25. Lê Đình Kỵ (1984), Tìm hiểu tác phẩm văn học, NXB TP. Hồ Chí Minh.

26. Tôn Phương Lan (1998), “Một số vấn đề trong văn xuôi thời kì đổi mới”,

Chặng đường mới của văn học ( Hà Minh Đức chủ biên), NXB

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 732-738.

27. Đoàn Lê (2001), Cuốn gia phả để lại, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội.

28. Nguyễn Văn Long (2006), “Nhìn lại tiến trình vận động văn học Việt Nam

từ 1975 đến nay”, Báo Hà Tây Online.

29. Lê Lựu (2002), Chuyện làng Cuội, NXB Văn học, Hà Nội.

30. Lê Lựu (1989), Thời xa vắng, NXB Tác Phẩm Mới, Hà Nội.

31. Phương Lựu (1997), Tiếp nhận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

32. Thiếu Mai (1987), “Nghĩ về một “Thời xa vắng” chưa xa”, Tạp chí Văn

nghệ quân đội,(4), tr.120-125.

33. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà

văn, NXB Giáo dục, Hà Nội.

34. Vương Trí Nhàn (1996), Khảo về tiểu thuyết, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội.

35. Phùng Quý Nhâm (1991), Thẩm định văn học, NXB Văn nghệ TP. hồ Chí

Minh.

36. Bảo Ninh (2005), “Tiểu thuyết thời đổi mới”, Báo Văn nghệ trẻ.

37. Nguyên Ngọc (2004), “Văn xuôi Việt Nam hiện nay, logic quanh co của

các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển vọng”,

http://www.ivce.org...

38. Lã Nguyên (1998), “Văn học nghệ thuật trong bước chuyển mình”, Báo

Văn nghệ, (45), tr.7-10

39. Dương Duy Ngữ (2001), Người giữ đình làng, NXB Quân đội Nhân dân,

Hà Nội.

40. Thanh Phước (1991), “Cấu trúc, cái dở nhất của tiểu thuyết Mảnh đất lắm

người nhiều ma”, Tạp chí Văn học và dư luận, (7), tr.52-53.

41. Huỳnh Như Phương (1991), “Văn chương những năm 80 và vấn đề dân

chủ hoá nền văn học”, Tạp chí Văn học, (4).

42. Từ Sơn (1990), “Đổi mới xã hội và đổi mới văn học”, Báo Văn nghệ, (13).

43. Nguyễn Hữu Sơn (2000), “Bóng đêm - Một phương diện tư duy nghệ thuật

trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma”, Điểm tựa phê bình

văn học, tr.131-135...

44. Trần Đình Sử (2003), Dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

45. Bùi Việt Thắng (2000), Bàn về tiểu thuyết, NXB Văn hoá tư tưởng, Hà

Nội.

46. Hoà Thu (2001), “Người giữ đình làng”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (3),

tr.108-109

47. Lý Hoài Thu (2001), “Tiểu thuyết - Tầm vóc hiện thực và số phận con

người”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (2),tr.105-108.

48. Đỗ Lai Thuý (1994), “Một cách nhận diện thời kì văn học vừa qua”, Phụ

san Văn nghệ, tháng 6.

49. Đinh Quang Tốn (1997), “Lê Lựu - Thời xa vắng”, Tản mạn và chính kiến

văn chương, tr.12-23.

50. Hoàng Minh Tường (1996), Thuỷ hoả đạo tặc, NXB Văn học.

51. Lê Ngọc Trà (1990), Lý luận và văn học, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.

52. Nguyễn Khắc Trường (2003), Mảnh đất lắm người nhiều ma, NXB Hội

Nhà Văn.

53. Nguyễn Văn Xuất (2001), “Hình tượng và ngôn từ trong tiểu thuyết”, Khoa

Ngữ văn một phần tư thế kỉ, NXB Đại học Sư phạm, TP. Hồ Chí

Minh, tr.147-154.

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU

Chương 1: BỨC TRANH VĂN HÓA LÀNG QUÊ TRONG BA TIỂU THUYẾT:

THỜI XA VẮNG, BẾN KHÔNG CHỒNG, MẢNH ĐẤT LẮM

NGƯỜI NHIỀU MA

1.1. Bức tranh nông thôn đa dạng với nhiều phong tục tập quán............................ 10

1.2. Một xã hội nhức nhối những vấn đề nóng bỏng khó giải quyết....................... 19

1.2.1. Nông thôn với những lí tưởng và niềm đau trong chiến tranh............ 19

1.2.2. Quan hệ lao động sản xuất đầy khắc nghiệt........................................ 32

1.2.3. Sự đối đầu khốc liệt giữa các dòng họ ................................................ 39

1.3. Con người nông thôn trước những biến đổi của xã hội..................................... 44

1.3.1. Lối sống theo kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ”,

dựa vào uy danh dòng họ .................................................................... 44

1.3.2. Sức mạnh nằm trong tay kẻ lắm tiền .................................................. 50

Chương 2: BI KỊCH CỦA CON NGƯỜI NÔNG THÔN

2.1. Con người bị trói buộc bởi uy danh dòng họ.................................................... 55

2.2. Con người nô lệ của khát vọng quyền lực ........................................................ 64

2.3. Con người cam chịu khuất phục trước định kiến của gia đình,

dòng họ ............................................................................................................. 72

Chương 3: NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ HIỆN THỰC

3.1. Bức tranh làng quê được miêu tả chân thực, cụ thể mà sinh động................... 82

3.2. Những người nông dân thuần chất được phát hiện dưới nhiều góc độ

tâm lí khác nhau làm nên sự đa dạng nhưng cũng đầy phức tạp của

cuộc sống sau luỹ tre làng ................................................................................ 89

3.3. Nghệ thuật miêu tả hiện thực khách quan, không né tránh, phản ánh

được bản chất xã hội nông thôn Việt Nam đương thời .................................... 95

KẾT LUẬN .................................................................................................................... 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................. 110