intTypePromotion=1
ADSENSE

Một số đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của cộng đồng người Việt ở Nam Bộ

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

125
lượt xem
5
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong bài viết này, tác giả trình bày một số đặc trưng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ: mang tính đơn giản, phổ biến, gần gũi với đời thường; mang đậm yếu tố tâm linh hơn ý nghĩa triết lý; mang tính tự nguyện, tự phát, ít mang tính xã hội; chịu ảnh hưởng văn hóa, tín ngưỡng của các dân tộc cộng cư và là cơ sở nghi lễ thờ cúng của các đạo địa phương ở Nam bộ. Nghiên cứu các đặc trưng này góp phần tìm hiểu văn hóa ở vùng Nam bộ nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một số đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của cộng đồng người Việt ở Nam Bộ

GIÁO DỤC – XÃ HỘI<br /> <br /> 100<br /> <br /> MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG<br /> TỔ TIÊN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ<br /> 1<br /> <br /> Ngày nhận bài: 04/07/2015<br /> Ngày nhận lại: 17/08/2015<br /> Ngày duyệt đăng: 04/09/2015<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng dân gian có ảnh hưởng sâu đậm trong tâm thức<br /> của người Việt. Đây chính là đạo lý ngàn đời của dân tộc Việt luôn hướng về cội nguồn dân tộc<br /> “uống nước nhớ nguồn”.<br /> Tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của cộng đồng người Việt ở Nam bộ là việc làm mang<br /> tính khoa học và thực tiễn, góp phần hiểu sâu hơn về đời sống văn hóa tinh thần và hiểu rõ hơn<br /> về thế giới quan và nhân sinh quan của người Việt nơi đây.<br /> Trong bài viết này, tác giả trình bày một số đặc trưng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của<br /> người Việt ở Nam bộ: mang tính đơn giản, phổ biến, gần gũi với đời thường; mang đậm yếu tố<br /> tâm linh hơn ý nghĩa triết lý; mang tính tự nguyện, tự phát, ít mang tính xã hội; chịu ảnh hưởng<br /> văn hóa, tín ngưỡng của các dân tộc cộng cư và là cơ sở nghi lễ thờ cúng của các đạo địa<br /> phương ở Nam bộ. Nghiên cứu các đặc trưng này góp phần tìm hiểu văn hóa ở vùng Nam bộ nói<br /> riêng, văn hóa Việt Nam nói chung.<br /> ừ k óa: Tín ngưỡng, thờ cúng tổ tiên, người Việt, Nam bộ.<br /> ABSTRACT<br /> Ancestor worship is a type of folk beliefs which has a profound effect on the mind of<br /> Vietnamese people. This is the deeply-rooted tradition of the Vietnamese people with their motto<br /> of “when drinking water, remember its source”.<br /> Studying ancestor worship beliefs of the Vietnamese community in Southern Vietnam is<br /> significant in contributing to a better understanding of the cultural and spiritual life as well as<br /> the world view and philosophy of life of the Vietnamese local communities.<br /> In this article, the author presents some characteristics of the veneration of the dead in<br /> Southern Vietnam: simple, popular, closer to real life; spiritual rather than philosophical;<br /> voluntary, spontaneous, less social; influenced by the culture and beliefs of ethnic communities.<br /> It is also the foundation of worship procedures observed by local religious sects in Southern<br /> Vietnam. This study contributes to the understanding of cultures in the Southern region in<br /> particular and in Vietnam in general.<br /> Keywords: Beliefs, ancestor worship, Vietnamese, Southern.<br /> 1. Đặt vấn đề1<br /> Việc nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ<br /> tiên đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan<br /> tâm, đặc biệt là các nhà văn hóa học. Bởi vì<br /> 1<br /> <br /> ThS, Trường Đại học Tiền Giang.<br /> <br /> đây là một loại hình tín ngưỡng dân gian từ<br /> lâu đã thấm đượm và ảnh hưởng sâu sắc đến<br /> đời sống tinh thần của mọi người dân Việt.<br /> Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không chỉ chứa<br /> <br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 5 (44) 2015<br /> <br /> đựng những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp<br /> của dân tộc mà còn thể hiện quan niệm của<br /> người Việt về thế giới, về nhân sinh.<br /> Nam bộ là cái nôi của văn hóa phương<br /> Nam, có nền văn minh nông nghiệp lúa nước<br /> và nền văn hóa Óc Eo phát triển rực rỡ. Nơi<br /> đây, tuy là vùng đất mới của người Việt ở<br /> Nam bộ nhưng tín ngưỡng thờ cúng đã được<br /> thể hiện đậm nét, mang những đặc trưng tiêu<br /> biểu của người Việt mang theo từ khi vào<br /> Nam mở đất. Nó không những chỉ là một cách<br /> lý giải về vũ trụ, thế giới, về các hiện tượng tự<br /> nhiên và xã hội trong cuộc sống của con<br /> người mà còn là một triết lý sống, một phong<br /> cách ứng xử đặc biệt của con người, thể hiện<br /> đạo lý làm người, một nét đẹp văn hóa trong<br /> cuộc sống của mỗi con người Việt Nam nói<br /> chung, của người Việt ở Nam bộ nói riêng.<br /> Được hình thành từ xa xưa, trong quá<br /> trình tồn tại, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đan<br /> xen, dung hợp với các hình thái tín ngưỡng<br /> tôn giáo khác, lắng đọng, thẩm thấu vào cuộc<br /> sống, trở thành đạo lý làm người – đạo lý<br /> “uống nước nhớ nguồn” của người Việt nói<br /> chung, của người Việt ở Nam bộ nói riêng.<br /> Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Một số đặc<br /> trưng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của<br /> người Việt ở Nam bộ” để tìm hiểu. Thông qua<br /> bài viết này, chúng ta có thể hiểu về những<br /> đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng thờ cúng tổ<br /> tiên của người Việt ở Nam bộ đồng thời thấy<br /> được điểm tương đồng và khác biệt của tín<br /> ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở<br /> Nam bộ so với Bắc và Trung bộ.<br /> 2. Cơ sở lý luận và phương pháp<br /> nghiên cứu<br /> 2.1. Cơ sở lý luậ<br /> Tín ngưỡng là một hiện tượng lịch sử<br /> thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội.<br /> Trên thế giới có tới hàng ngàn các loại hình<br /> tín ngưỡng khác nhau, rất phong phú, đa dạng.<br /> Do hạn chế về mặt lịch sử, cách tiếp cận, mục<br /> đích nghiên cứu khác nhau, nên các cách hiểu<br /> tín ngưỡng, vì vậy cũng rất khác nhau. Cụ thể:<br /> Theo quan điểm duy tâm (Plato, Hegel,…),<br /> tín ngưỡng là hiện tượng thần bí, siêu thực chỉ<br /> có thể cảm nhận, tin chứ không lý giải được,<br /> <br /> 101<br /> <br /> hoặc cũng chỉ là hiện tượng tự nhiên mang<br /> tính bẩm sinh. Ở đây, các nhà duy tâm, thần<br /> học đã sai lầm, vì họ xuất phát từ một thực thể<br /> tinh thần, ý thức để lý giải một hiện tượng<br /> khác cũng thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần là<br /> tín ngưỡng, tôn giáo.<br /> Quan điểm xã hội học (H.Spencer,<br /> M.Weber,…) chủ yếu đi sâu phân tích chức<br /> năng xã hội, vai trò ảnh hưởng của tín<br /> ngưỡng, tôn giáo, song lại phân tích tín<br /> ngưỡng, tôn giáo tách rời đời sống tinh thần<br /> phong phú của con người, không thấy được<br /> ranh giới các hiện tượng phi tôn giáo.<br /> Quan điểm nhân học (Tylor), ngôn ngữ<br /> học (Max Muller) lại chỉ đi sâu vào việc<br /> nghiên cứu đối tượng sùng bái của tín<br /> ngưỡng, tôn giáo như thần linh, đấng tối<br /> cao… Do vậy, chỉ có giá trị và thích hợp với<br /> loại hình tôn giáo nguyên thủy, không thấy<br /> được tính phổ biến, tính thích hợp đối với các<br /> loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác.<br /> Quan điểm văn hóa về tín ngưỡng<br /> (Jablokov, Troibi, Đaosơn, B.Malinowski…)<br /> có ưu điểm làm nổi bật tính đa dạng, phong<br /> phú và phức tạp của tín ngưỡng, song lại có<br /> hạn chế là hòa đồng tín ngưỡng vào văn hóa<br /> nói chung, không thấy được cái đặc thù của<br /> tín ngưỡng là cái thiêng được đề cao, do đó<br /> không xác định được đối tượng của ngành<br /> khoa học mới là tôn giáo học.<br /> Quan điểm triết học nhân bản của<br /> L.Feuerbach đã chỉ ra nguồn gốc nhận thức<br /> của tín ngưỡng, tôn giáo, đấu tranh chống<br /> quan điểm duy tâm và tôn giáo trong quan<br /> niệm về con người, về Thượng đế. Tuy nhiên,<br /> trong khi phê phán chủ nghĩa duy tâm, tôn<br /> giáo, ông đã không thấy được nguồn gốc xã<br /> hội, chức năng “đền bù hư ảo” và những mặt<br /> tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo. L.Feuerbach<br /> đã rơi vào lập trường duy tâm trong việc giải<br /> quyết các vấn đề xã hội trong đó có tín<br /> ngưỡng, tôn giáo.<br /> Như vậy, có thể cho rằng, để có cách nhìn<br /> khách quan, tổng thể và khoa học đối với hiện<br /> tượng tín ngưỡng, cần phải có phương pháp<br /> tiếp cận khoa học, đó là phương pháp duy vật<br /> biện chứng và duy vật lịch sử. Đứng trên lập<br /> <br /> 102<br /> <br /> GIÁO DỤC – XÃ HỘI<br /> <br /> trường này, C.Mác cho rằng: tín ngưỡng về<br /> bản chất, không phải là sản phẩm của thần<br /> thánh, là cái siêu nhiên, thần bí mà sản phẩm<br /> của xã hội; là một hiện tượng xã hội, không<br /> tách rời xã hội, mang bản chất của xã hội, tín<br /> ngưỡng cũng là hiện tượng thuộc đời sống<br /> tinh thần của xã hội, chịu sự quy định của đời<br /> sống vật chất. Từ đó, tác giả có thể đưa ra<br /> quan niệm về tín ngưỡng như sau: Tín ngưỡng<br /> là một bộ phận của ý thức xã hội, phản ánh<br /> những điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại, biểu<br /> hiện niềm tin của con người vào các đấng siêu<br /> nhiên thông qua những lễ nghi thờ cúng nhằm<br /> cầu mong sự chở che, giúp đỡ.<br /> Tín ngưỡng của người Việt phản ánh khá<br /> rõ nét những đặc trưng của một đất nước<br /> thuộc nền văn minh nông nghiệp lúa nước, thể<br /> hiện ở các mặt: tín ngưỡng phồn thực, tín<br /> ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng<br /> bái nhân thần, lưu truyền trong dân gian từ<br /> đời này sang đời khác nên tín ngưỡng Việt<br /> Nam chỉ tồn tại dưới hình thức niềm tin mà<br /> chưa chuyển thành tôn giáo.<br /> Tổ tiên là khái niệm để chỉ những người<br /> có cùng huyết thống đã mất như kỵ, cụ, ông,<br /> bà, cha, mẹ… là những người có công sinh<br /> thành và nuôi dưỡng, có ảnh hưởng lớn đến<br /> đời sống vật chất và tinh thần của các thế hệ<br /> con cháu.<br /> Tổ tiên trong xã hội nguyên thủy có<br /> nguồn gốc từ tổ tiên Tôtem trong Tôtem giáo<br /> của thị tộc. Thờ tổ tiên Tôtem chuyển sang tổ<br /> tiên người thực là quá trình chuyển từ chế độ<br /> thị tộc mẫu hệ sang chế độ thị tộc phụ hệ. Tổ<br /> tiên Tôtem giáo trong thời kì thị tộc mẫu hệ là<br /> những vật trong thiên nhiên được thần thánh<br /> hóa, được coi là Tôtem (vật tổ) của thị tộc, là<br /> các vật thiêng và các thần che chở của gia<br /> đình, thị tộc. Thời kì thị tộc phụ hệ, tổ tiên là<br /> những người đứng đầu thị tộc đầy quyền uy.<br /> Khi họ mất, thì những biểu tượng về họ là ý<br /> niệm về linh hồn người chết, tổ tiên Tôtem,<br /> thần che chở của gia đình thị tộc. Đó là những<br /> yếu tố chính tạo nên biểu tượng về tổ tiên<br /> được thờ cúng.<br /> Trong quá trình phát triển của lịch sử,<br /> khái niệm tổ tiên cũng có sự biến đổi và phát<br /> <br /> triển. Tổ tiên không bị bó hẹp trong phạm vi<br /> huyết thống - gia đình, tộc họ… mà được mở<br /> rộng ra trong phạm vi cộng đồng, xã hội. Sự<br /> hình thành và phát triển của các quốc gia, dân<br /> tộc thường gắn liền với tên tuổi của người có<br /> công tạo dựng, giữ gìn cuộc sống như vua<br /> Hùng, Phùng Hưng, Trần Quốc Tuấn… hay là<br /> những người có công truyền nghề, tạo dựng<br /> cuộc sống hiện đại cho con cháu, được tôn<br /> thành các “tổ sư”, “nghệ tổ”… Khi còn sống,<br /> họ được các thành viên đề cao, tôn kính. Khi<br /> mất, họ được tưởng nhớ, tôn thờ, hoặc các tổ<br /> tiên siêu nhiên như Thành hoàng làng cũng<br /> được xem như là ông Tổ của cộng đồng làng.<br /> Thờ cúng là hoạt động có ý thức của con<br /> người, là tổng thể của những yếu tố ý thức về<br /> tổ tiên, biểu tượng về tổ tiên và lễ nghi thờ<br /> cúng trong không gian thờ cúng (ở nhà hoặc<br /> Đình, Chùa, Miếu).<br /> Thờ là yếu tố thuộc ý thức về tổ tiên, là<br /> tâm linh tình cảm của con cháu hướng về cội<br /> nguồn. Thờ tổ tiên là sự thể hiện lòng thành<br /> kính, biết ơn, tưởng nhớ tổ tiên đồng thời<br /> cũng là sự thể hiện niềm tin vào sự che chở,<br /> bảo hộ, trợ giúp của tổ tiên. Cơ sở của sự hình<br /> thành ý thức về tổ tiên là niềm tin về linh hồn<br /> bất tử, tổ tiên tuy đã chết nhưng linh hồn vẫn<br /> còn sống và thường lui tới gia đình ngự trên<br /> bàn thờ.<br /> Biểu tượng về tổ tiên là những hình ảnh<br /> đẹp đẽ mà con cháu gán cho tổ tiên. Tổ tiên<br /> luôn là hình ảnh về những người tài giỏi, có<br /> công, có đức. Nơi thờ tổ tiên thường có tượng,<br /> ảnh được trang trí, xếp đặt một cách cầu kỳ và<br /> trang trọng.<br /> Cúng là yếu tố mang tính lễ nghi, là sự<br /> thực hành một loạt động tác của người được<br /> quyền thờ cúng. Đó là hoạt động dưới dạng<br /> hành lễ được quy định do quan niệm, phong<br /> tục, tập quán của mỗi cộng đồng, dân tộc.<br /> Nghi lễ cúng được thực hiện bởi người con<br /> trai trưởng (nếu ở Bắc và Trung bộ) hoặc<br /> người con út trong gia đình (nếu ở Nam bộ),<br /> dòng họ với các động tác dâng lễ vật, khấn, lễ<br /> trong không gian thờ cúng như bàn thờ tại<br /> nhà, Đình, Miếu, mồ mả,…<br /> Thờ và cúng là hai yếu tố tác động qua<br /> <br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 5 (44) 2015<br /> <br /> lại, thống nhất với nhau trong tín ngưỡng thờ<br /> cúng tổ tiên. Sự “thờ”, “tôn thờ” chính là nội<br /> dung, còn hoạt động “cúng” là hình thức biểu<br /> đạt của nội dung thờ cúng. Ý thức tôn thờ<br /> thành kính, biết ơn, tưởng nhớ, hy vọng được<br /> trợ giúp, tránh sự trừng phạt của tổ tiên là nội<br /> dung cốt lõi của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.<br /> Nếu không có “thờ” mà chỉ có “cúng” thì tự<br /> bản thân tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không có<br /> “hồn thiêng”, không có sức hấp dẫn nội tại và<br /> dễ trở thành nhạt nhẽo, vô vị. “Cúng” tuy chỉ<br /> là hình thức biểu đạt nhưng nó tôn vẻ linh<br /> thiêng, huyền bí, mờ ảo tạo nên sức hấp dẫn,<br /> nó chính là hương vị, màu sắc, keo dính thỏa<br /> mãn niềm tin tôn giáo, đáp ứng nhu cầu của<br /> chủ thể thờ cúng.<br /> Hình thức thờ cúng tổ tiên lúc đầu thể<br /> hiện ý thức về tổ tiên, về sau trở thành tập tục,<br /> truyền thống mang bản sắc văn hóa được<br /> truyền nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Yếu<br /> tố ý thức, tư tưởng, tình cảm trong thờ tổ tiên<br /> được kết lắng trong nghi lễ thờ cúng, nhiều<br /> khi không thể tách bạch rõ ràng; còn yếu tố<br /> nghi lễ thờ cúng là phương tiện chuyển tải ý<br /> thức, tư tưởng, tình cảm đối với tổ tiên.<br /> Từ sự phân tích trên, tác giả đồng ý với<br /> quan điểm của Trần Đăng Sinh về tín ngưỡng<br /> thờ cúng tổ tiên như sau: Tín ngưỡng thờ cúng<br /> tổ tiên là một bộ phận của ý thức xã hội, là<br /> một loại hình tín ngưỡng dân gian được hình<br /> thành từ thời nguyên thủy với niềm tin thiêng<br /> liêng rằng, tổ tiên đã chết sẽ che chở, phù giúp<br /> con cháu, được thể hiện thông qua lễ nghi thờ<br /> phụng. Nó là sự phản ánh hoang đường quyền<br /> hành của người đứng đầu thị tộc phụ hệ, gia<br /> đình phụ quyền được duy trì và phát triển<br /> trong xã hội có giai cấp sau này, là sự biết ơn,<br /> tưởng nhớ và tôn thờ những người có công<br /> sinh thành, tạo dựng, bảo vệ cuộc sống như<br /> kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ, tổ sư, tổ nghề, Thành<br /> hoàng làng, tổ nước.<br /> 2.2. P ươ g p áp g i cứu<br /> Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử<br /> dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:<br /> phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh<br /> và đối chiếu, lịch sử và lôgic trên cơ sở những<br /> quan điểm, nguyên tắc, phương pháp luận<br /> <br /> 103<br /> <br /> mácxít như: quan điểm khách quan, toàn diện,<br /> phát triển, lịch sử cụ thể, quan điểm thống<br /> nhất giữa lý luận và thực tiễn,…<br /> 3. Kết quả nghiên cứu<br /> Trên cơ sở nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng<br /> tổ tiên của người Việt ở Nam bộ, tác giả có thể<br /> rút ra một số đặc trưng tiêu biểu như sau:<br /> ứ<br /> ất, tí<br /> gưỡ g t ờ cú g tổ ti<br /> của gười Việt ở Nam bộ ma g tí<br /> đơ<br /> giả , p ổ biế , gầ gũi với đời t ườ g<br /> Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng phổ<br /> biến mang đậm nét dân gian cơ bản và bền<br /> vững của người Việt ở Nam bộ, nó chiếm vị<br /> trí quan trọng nhất trong đời sống tinh thần<br /> của mỗi người dân. Và đây cũng là một tín<br /> ngưỡng bản địa, có truyền thống sâu xa,<br /> thiêng liêng và tôn kính được duy trì từ thế hệ<br /> này sang thế hệ khác. Bắt nguồn từ ý thức<br /> trách nhiệm và tình cảm sâu nặng với mảnh<br /> đất và con người như vậy, tín ngưỡng thờ<br /> cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ tồn tại<br /> một cách cụ thể, gần gũi trong đời sống thực<br /> tiễn trong các mối quan hệ tình cảm của con<br /> người chúng ta.<br /> Như ở miền Bắc và miền Trung, việc đặt<br /> bàn thờ phải đặt trang trọng ở gian giữa trong<br /> nhà thờ riêng của nhà người trưởng tộc hoặc<br /> người trai trưởng, gọi là từ đường. Trên bàn<br /> thờ thì trang trí, bày trí cầu kỳ nhiều thứ, như<br /> bài vị, bình bông, hình ảnh, tượng, hoa quả...<br /> Khi tổ chức đám giỗ thì chỉ có một ngày chính<br /> thức, mọi người tụ họp đông đủ vái lạy, ăn<br /> uống và ít khi uống rượu.<br /> Ngược lại, ở miền Nam, bàn thờ được đặt<br /> ở gian giữa của nhà ở, sinh hoạt bình thường.<br /> Người thừa kế hương hỏa và cúng giỗ là<br /> người con trai út trong gia đình, hoặc có khi<br /> còn sống, ông bà, cha mẹ thương người nào<br /> nhiều thì khi mất, người đó cúng giỗ. Tín<br /> ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở<br /> Nam bộ mang tính dung dị, đời thường và gắn<br /> với cuộc sống của từng gia đình, xóm ấp.<br /> Hình thức thờ cúng cũng phong phú, nhưng<br /> giản dị phù hợp theo từng gia cảnh, nội dung<br /> chủ yếu của nó là đề cao lòng thành tâm và<br /> biết ơn với những người đi trước, tạo dựng<br /> cuộc sống cho thế hệ sau,...<br /> <br /> 104<br /> <br /> GIÁO DỤC – XÃ HỘI<br /> <br /> Ở Bắc bộ, khi có dịp giỗ tết, con cháu<br /> phải có mặt đông đủ, không thể bỏ giỗ, nếu<br /> không sẽ bị dòng họ chê trách. Còn ở Nam bộ,<br /> những người thân ở xa hoặc gần mà có việc,<br /> không tham gia cúng giỗ được thì cũng không<br /> ai nhắc nhở gì cả. Riêng những người họ<br /> hàng, con chú, con bác, dì... thì người cúng<br /> giỗ phải mời họ mới đến vui chơi khi có giỗ.<br /> Ngoài ra, người Việt ở Nam bộ còn có tục<br /> cúng giỗ trong Chùa. Người được cho là chết<br /> oan hoặc chết không bình thường khác thì bàn<br /> thờ được gởi vào Chùa và tất cả các lần cúng<br /> tuần hay cúng giỗ đều cúng trong Chùa.<br /> ứ ai, tí<br /> gưỡ g t ờ cú g tổ ti<br /> của gười Việt ở Nam bộ ma g đậm yếu tố<br /> tâm li<br /> ơ ý g ĩa triết lý<br /> Đối với người Việt ở Nam bộ, chết chưa<br /> phải là hết, thể xác tiêu tan nhưng linh hồn bất<br /> diệt. Tục ta lại tin rằng dương sao âm vậy,<br /> người sống cần gì, sống làm sao thì người<br /> chết cũng như vậy. Tin như vậy nên việc cúng<br /> lễ là cần thiết và việc thờ cúng tổ tiên là<br /> không thể không có được.<br /> Ngoài ra, tục lại còn tin rằng: vong hồn<br /> người khuất thường luôn ngự trên bàn thờ để<br /> gần gũi con cháu, theo con cháu trong công<br /> việc hàng ngày và giúp đỡ con cháu trong<br /> những trường hợp cần thiết. Sự tin tưởng vào<br /> vong hồn ông bà cha mẹ ngự trên bàn thờ đã<br /> có ảnh hưởng đến hành động của người sống.<br /> Nhiều người vì sợ vong hồn cha mẹ buồn đã<br /> tránh những hành vi xấu xa, và đôi khi định<br /> làm một công việc gì cũng suy tính kỹ lưỡng<br /> xem công việc lúc sinh thời cha mẹ có chấp<br /> nhận hay không, vì người ta sợ làm cho vong<br /> hồn cha mẹ phải tủi hổ qua hành động của<br /> mình và mang tội bất hiếu.<br /> Quan niệm vong hồn gia tiên luôn luôn ở<br /> gần mình, người sống như được tiếp xúc với<br /> thế giới vô hình qua mọi việc thờ cúng lễ bái.<br /> Mỗi tuần tiết hoặc ngày kỵ, đều có thể làm lễ<br /> cáo gia tiên, hoặc mùa có của mới, gạo mới,<br /> hoặc khi có việc hiếu hỷ. Nhất nhất mỗi biến<br /> cố xảy ra trong gia đình, gia chủ đều khấn vái<br /> gia tiên, trước là trình bày sự kiện sau là để<br /> xin sự phù hộ, giúp đỡ. Chẳng hạn: Người đi<br /> buôn gặp việc buôn may bán đắt, không bao<br /> <br /> giờ quên lễ tạ ơn gia tiên, cũng như lúc bắt<br /> đầu bỏ vốn ra buôn bán, đã có sự cầu khấn<br /> cúng lễ trước. Một khi có mùa hoa quả mới,<br /> trước khi ăn, con cháu bao giờ cũng nghĩ đến<br /> việc mua thắp hương cúng vái các cụ, cũng<br /> như một năm ba vụ lúa, con cháu cũng đều<br /> sửa lễ cúng vái tổ tiên. Nếu trong vườn nhà có<br /> một cây ăn quả, những quả chín đầu tiên phải<br /> được hái thắp hương cúng ông bà, tổ tiên của<br /> mình. Đấy chỉ là những việc nhỏ được kể ra,<br /> còn những biến cố quan trọng khác của gia<br /> đình, gia trưởng đều có lễ cáo gia tiên: vợ sinh<br /> con; gả chồng cho con gái, dựng vợ cho con<br /> trai; xây dựng nhà mới;...<br /> Những biến cố trên là những biến cố vui<br /> mừng, con cháu trình bày tổ tiên để tổ tiên<br /> chia sẻ cái nỗi vui mừng với con cháu, và cũng<br /> là dịp để con cháu tạ ơn tổ tiên đã phù hộ, độ<br /> trì cho mình cầu mong được nên. Lễ vật không<br /> đáng kể, điều quan trọng là tấm lòng thành của<br /> con cháu. Còn với gia đình những biến cố<br /> buồn, con cháu trình để tổ tiên rõ mọi việc xảy<br /> ra, và đôi khi còn cầu xin tổ tiên phù hộ cho<br /> được qua khỏi mọi sự không may.<br /> Ngoài những biến cố xảy ra trong gia<br /> đình, còn nhiều trường hợp con cháu cũng<br /> làm lễ cúng gia tiên kêu cầu khấn vái: nước<br /> đang thanh bình bỗng có loạn, con cháu cũng<br /> cầu xin tổ tiên phù hộ cho gia đình tránh khỏi<br /> mọi tai nạn trong lúc loạn lạc; một bệnh dịch<br /> phát sinh, con cháu xin với tổ tiên phù hộ<br /> tránh khỏi tai ách nguy nan.<br /> Tóm lại, tâm lý của người Việt ở Nam bộ<br /> tin tưởng ở sự phù hộ của tổ tiên và ở sự hiện<br /> diện của tổ tiên quanh mình nên bất cứ mọi<br /> việc to nhỏ gì xảy ra liên quan đến gia đình,<br /> con cháu đều cúng bái gia tiên. Như vậy, tín<br /> ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở<br /> Nam bộ mang đậm yếu tố tâm linh hơn ý<br /> nghĩa triết lý.<br /> ứ ba, tí gưỡ g t ờ cú g tổ ti của<br /> gười Việt ở Nam bộ ma g tí tự guyệ ,<br /> tự p át, ít ma g tí xã ội<br /> Về lịch sử, người Việt ở Bắc và Trung bộ<br /> đã có hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ<br /> nước nên theo đó, việc thờ cúng tổ tiên cũng<br /> theo những quy cũ và nề nếp nhất định, mang<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2