
414
Nguyễn Mai Anh
Nguyễn Thanh Quyên
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyển đổi số đem lại nhiều điều kiện thuận lợi, giúp con người khám phá
tri thức mới, nâng cao quy mô và chất lượng nền kinh tế. Trong sự tác động ấy,
giáo dục hiện đại, đặc biệt là giáo dục đại học là một trong lĩnh vực chịu sự tác
động lớn nhất của xu hướng này. Bài viết tập trung phân tích về khái niệm, đặc
điểm, các nhu cầu và thách thức đặt ra với giáo dục đại học trong thời đại chuyển
đổi số. Đặc biệt, bài viết cũng đề cập đến tác động của chuyển đổi số với hoạt
động giáo dục và đào tạo luật. Ngoài ra, bài viết cũng đề cập đến thực trạng
chuyển đổi số ở nước ta, các giải pháp để nâng cao hiệu quả học tập trong thời
đại 4.0.
1. Khái niệm “chuyển đổi số”
“Chuyển đổi số” (digital transformation hay digitalization) là xu hướng
chung của kỷ nguyên 4.0. Có rất nhiều cách định nghĩa về chuyển đổi số. Đầu
tiên, theo Gertner, chuyển đổi số có thể được hiểu là “việc sử dụng các công nghệ
số để thay đổi mô hình kinh doanh, tạo ra những cơ hội, doanh thu và giá trị
mới.”
23
. Tiếp theo, một cách định nghĩa khác của các tác giả Henriette, Feki và
Boughzala tại Hội nghị về hệ thống thông tin ở khu vực Địa Trung Hải, theo đó
chuyển đổi số được hiểu là “một quá trình thay đổi tăng dần hoặc không liên tục.
Nó bắt đầu với việc áp dụng và sử dụng các công nghệ kỹ thuật số hướng tới một
sự chuyển đổi toàn diện và sâu sắc của một tổ chức hoặc nhằm mục đích tạo ra
các giá trị.”
24
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo qua mạng là việc
sử dụng các trang thiết bị điện tử, phần mềm, học liệu điện tử và mạng viễn thông
(chủ yếu là mạng Internet) hỗ trợ các hoạt động dạy và học nhằm đổi mới phương
pháp dạy – học, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo.
25
Có thể thấy, dù cách định nghĩa có thể không giống nhau nhưng nhìn chung
các tác giả đều cho rằng “chuyển đổi số” không đơn giản là việc đưa tất cả các
23
https://www.gartner.com/en/information-technology/glossary/digital-business-transformation truy cập
ngày 11/3/2021.
24
Emily Henriette, Mondher Feki and Imed Boughzala, “Digital Transformation Challenges” (2016).
MCIS 2016 Proceedings. 33. http://aisel.aisnet.org/mcis2016/33.
25
Khoản 1 Điều 2 Thông tư quy định Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua
mạng do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành ngày 22 tháng 4 năm 2016.

415
dữ liệu thành dạng mã hoá thông tin mà nó còn bao gồm cả quá trình ứng dụng
các công nghệ hiện đại nhất nhằm tạo ra các giá trị mới trong tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội và tạo sự thuận tiện nhất cho người dân. “Chuyển đổi số”
không chỉ được tiến hành một cách cơ học, kỹ thuật mà còn đòi hỏi sự chuyển
đổi về tư duy của các chủ thể tham gia vào quá trình này. Như vậy, có thể kết
luận, bản chất của chuyển đổi số chính là sự ứng dụng công nghệ, khoa học dữ
liệu và sử dụng trí tuệ nhân tạo phục vụ sản xuất và cuộc sống con người.
2. Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục
Điều khác biệt giữa Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 với CMCN 3.0
là CMCN 4.0 không gắn với sự ra đời của một công nghệ nào cụ thể mà là kết
quả hội tụ của nhiều công nghệ khác nhau, trong đó trọng tâm là công nghệ nano,
công nghệ sinh học và công nghệ thông tin - truyền thông. CMCN làm mờ ranh
giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Với sự tác động mạnh mẽ của CMCN
4.0 đến giáo dục, đòi hỏi các trường đại học cần thay đổi mục tiêu, nội dung giáo
dục, phương pháp dạy học. Vì vậy, trong lĩnh vực giáo dục, quá trình chuyển đổi
số cũng đang được diễn ra mạnh mẽ nhằm đáp ứng được các nhu cầu của người
dạy và học trong bối cảnh thế giới bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
4. Hiểu một cách cơ bản nhất, chuyển đổi số trong giáo dục là sự thay đổi phương
pháp dạy và học bằng việc áp dụng các công nghệ thông tin hiện đại vào quá
trình này nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh sinh viên và giảng dạy của
giáo viên, giúp người dạy và người học phát huy tối đa khả năng tư duy, sáng
tạo, chủ động của mình.Việc dạy học trực tuyến, cùng với các công cụ hỗ trợ cho
giảng dạy của thời đại công nghệ số đã và đang thay đổi lớn đến tình hình dạy và
học tại các trường đại học, giúp hiện đại hóa giáo dục, hội nhập với quốc tế, song
lại đặt ra rất nhiều những vấn đề khiến giảng viên phải cân nhắc để thay đổi
phương pháp dạy học nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong giáo dục đại học
hiện nay.
Quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục tập trung vào hai nội dung
chính là chuyển đổi số trong quản lý giáo dục và trong dạy, học, kiểm tra, đánh
giá, nghiên cứu khoa học. Chuyển đổi số trong quản lý giáo dục gồm các hoạt
động như số hóa thông tin quản lý, tạo ra những hệ thống cơ sở dữ liệu lớn liên
thông, triển khai các dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng các công nghệ 4.0 (AI,
blockchain, phân tích dữ liệu, ..) để quản lý, điều hành, hỗ trợ ra quyết định trong
hoạt động giáo dục đào tạo. Đối với quá trình chuyển đổi số trong dạy, học, kiểm
tra, đánh giá gồm các hoạt động số hóa học liệu (sách giáo khoa điện tử, bài giảng
điện tử, kho bài giảng e-learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm), thư viện số,

416
phòng thí nghiệm ảo, triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến, xây dựng các trường
đại học ảo (cyber university).
26
Các điều kiện đảm bảo quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đào tạo:
Thứ nhất, sự thay đổi về nhận thức trong toàn ngành giáo dục
Trong bất cứ quá trình thay đổi nào, con người luôn là yếu tố quan trọng
nhất. Mọi thành tựu khoa học – kỹ thuật cũng chỉ là công cụ hỗ trợ cho người
dùng. Vì vậy, để chuyển đổi số giáo dục thành công, trước hết cần có sự thay đổi
về tư duy của người dạy và học. Đặc biệt, giáo dục 4.0 thay đổi hoàn toàn các
mục tiêu học tập, những kỹ năng mới cần phải đạt được cho người tốt nghiệp ra
trường cũng phải thay đổi, tư duy sáng tạo, phối hợp hợp tác, phán quyết và định
hướng dịch vụ cũng như ra quyết định trong những tình huống phức tạp là những
kỹ năng cần thiết trong kỷ nguyên 4.0 để đáp ứng yêu cầu của một thị trường lao
động mới. Sự thay đổi về công nghệ, những kỹ năng mới hình thành do yêu cầu
của xã hội thời hiện đại và những xu thế giáo dục mới làm cho giáo dục tương
lai, giáo dục 4.0 phải có tầm nhìn mới, khác biệt căn bản với nền giáo dục hiện
tại. Học mọi lúc mọi nơi, cá nhân hóa việc học tập cũng như tự do lựa chọn học
tập của người học, học tập và trải nghiệm thực tế cũng như việc gắn kết việc học
tập với xã hội là những ưu điểm vượt trội trong nền giáo dục 4.0. Đối với mỗi cá
nhân và xã hội, các công cụ và nguồn lực giáo dục thời kỳ mới hứa hẹn các cơ
hội cho các cá nhân phát triển năng lực, kỹ năng và kiến thức đầy đủ và mở ra
tiềm năng sáng tạo cho con người. Sự thay đổi căn bản về thị trường lao động
trong thời kỳ hiện đại đã đặt ra rất nhiều thách thức cho các trường đại học, đòi
hỏi các trường phải đổi mới toàn diện từ phương thức quản trị trường, đến đổi
mới chương trình và phương thức tổ chức đào tạo cho phù hợp với xu thế phát
triển của nền giáo dục 4.0.
Như vậy, mọi cá nhân trong ngành giáo dục phải nhận thức được nhu cầu
tất yếu của việc chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo và quá trình này diễn ra
rất nhanh chóng nên cần có sự chuẩn bị, đầu tư về mọi mặt nhằm đạt kết quả tốt
nhất. Nếu không có nhận thức kịp thời, đúng đắn về sự cần thiết và vai trò của
mình trong quá trình chuyển đổi số, cả người dạy và người học rất dễ bị bỏ lại
phía sau trong tiến trình này.
Thứ hai, sự hoàn thiện về cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý
Để quá trình chuyển đổi số diễn ra đồng bộ và toàn diện, hành lang pháp lý
cho hoạt động này cũng cần được củng cố và hoàn thiện. Một số khía cạnh pháp
lý trong tiến trình chuyển đổi số cần được quan tâm như chất lượng của cơ sở dữ
liệu cho người dạy và học (vấn đề quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền tác giả); chất
26
“Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Thực trạng và giải pháp”,
https://ictvietnam.vn/chuyen-doi-so-trong-linh-vuc-giao-duc-va-dao-tao-thuc-trang-va-giai-phap-
20200522150010574.htm truy cập ngày 04/03/2021.

417
lượng việc dạy học trên môi trường mạng (sự an toàn thông tin người dùng trong
môi trường mạng); vấn đề chính trị, tư tưởng, đạo đức người dạy, người học; việc
bảo vệ thông tin cá nhân, kiểm soát việc lan truyền các thông tin không chính
xác; và các quy định liên quan đến điều kiện tổ chức hoạt động giảng dạy trực
tuyến, hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục và cách thức công nhận kết quả
khi dạy - học trực tuyến để đảm bảo việc thay đổi phương pháp truyền tải không
ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục.
Thứ ba, sự đồng bộ nền tảng hạ tầng công nghệ thông tin
Giảng dạy trực tuyến đặt ra những thách thức nhất định cho cả người dạy
và người học. Để quá trình giảng dạy diễn ra một cách hiệu quả nhất, người học
có thể tiếp thu một cách trọn vẹn nhất mọi kiến thức của bài học, sự thông suốt
về thông tin, cơ sở dữ liệu học tập là yêu cầu tất yếu. Một môi trường mạng ổn
định, an toàn, đồng bộ là điều kiện đảm bảo sự bình đẳng trong giáo dục ở các
địa phương với những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau. Đồng thời nó cũng
mở ra cơ hội tiếp cận tri thức rộng hơn cho những người học khó có khả năng đi
học trực tiếp.
Thứ tư, đội ngũ nhân lực chất lượng
Để sử dụng hiệu quả các phương tiện công nghệ thông tin hiện đại, đội ngũ
cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên và cả học sinh sinh viên cần được tập huấn
kỹ càng về cách thức sử dụng các phương tiện kỹ thuật cũng như về các phương
pháp giảng dạy phù hợp với môi trường giáo dục chuyển đổi số. Khi có đủ kiến
thức và kỹ năng về quá trình chuyển đổi số, việc dạy và học trên các nền tảng
trực tuyến cùng với việc sử dụng cơ sở học liệu số hoá sẽ đạt được hiệu quả tốt
nhất.
- Đối với sinh viên: xu thế cách mạng công nghệ hiện nay đòi hỏi sinh
viên phải là người chủ động, tích cực học tập và rèn luyện bản thân, tự chịu trách
nhiệm về mọi hoạt động của mình. Phương pháp học tập của sinh viên cần phải
thay đổi để thích ứng với thời đại số, dữ liệu và vạn vật kết nối. Đặc biệt, giáo
dục 4.0 sẽ hướng sự tập trung đến việc học cá nhân hóa triệt để hơn. Với sự ra
đời của hàng loạt nội dung học tập số hóa, sinh viên có thể lựa chọn nội dung
học tập cho phù hợp với mục tiêu của mình. Nội dung học tập của sinh viên cũng
cần thay đổi, không còn gò bó, khép kín trong đề cương môn học nặng về lí
thuyết; được bổ sung, hoàn thiện và luôn luôn đổi mới, đáp ứng được sự thay đổi
về tri thức khoa học trên thế giới và ở Việt Nam.
- Đối với giảng viên: nhờ sự tiến bộ của hệ thống internet kết nối và dữ liệu
nên nguồn tài liệu phục vụ giảng dạy vô cùng đa dạng khổng lồ sẽ giúp giảng
viên tiếp cận được nhiều tài liệu trong và ngoài nước, phục vụ tốt việc xây dựng
bài học. Giảng viên có thể tìm hiểu sâu sắc về vấn đề giảng dạy với nhiều hướng
nhận thức khác nhau, làm phong phú thêm cách nhìn nhận của bản thân với môn

418
học, giúp các giảng viên tự tin hơn trong giảng dạy. Tiếp đến, giảng viên có thể
sử dụng các phương pháp, phương tiện và kĩ thuật dạy học hiện đại áp dụng vào
hoạt động giảng dạy của mình.
3. Thực trạng chuyển đổi số trong giáo dục ở nước ta
Kết quả đạt được:
Nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển ngày càng nhanh của xã hội cũng
như những đòi hỏi cấp thiết khi thế giới bước vào kỷ nguyên 4.0, ngày 03 tháng
6 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt
“Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm
2030”. Theo đó, giáo dục là lĩnh vực thứ 2 được ưu tiên chuyển đổi số (chỉ đứng
sau lĩnh vực y tế):
“2.Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục:
Phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số
trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hoá tài liệu, giáo trình; xây dựng
nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và
trực tuyến. Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể
hoá.100% các cơ sở giáo dục triển khai công tác dạy và học từ xa, trong đó thử
nghiệm chương trình đào tạo cho phép học sinh, sinh viên học trực tuyến tối thiểu
20% nội dung chương trình. ứng dụng công nghệ số để giao bài tập về nhà và
kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh trước khi đến lớp học.
27
”
Tính đến đầu năm 2021, quá trình chuyển đổi số trong giáo dục ở Việt Nam
đã đạt được những bước tiến nhất định. Đến tháng 1 năm 2021, bộ Giáo dục và
Đào tạo đã số hóa, gắn mã định danh khoảng 53.000 trường mầm non, phổ thông,
gần 24 triệu học sinh và hơn 1,4 triệu giáo viên, cơ sở vật chất, tài chính nhà
trường... Khối phổ thông khoảng 82% các trường sử dụng phần mềm quản lý
trường học, sổ điểm điện tử, học bạ điện tử và hầu hết các cơ sở giáo dục đại học
đều sử dụng phần mềm quản trị nhà trường. Hệ thống quản lý hành chính điện tử
kết nối 63 sở Giáo dục và đào tạo và hơn 300 trường đại học, cao đẳng trên cả
nước với bộ Giáo dục và đào tạo hoạt động thông suốt, ổn định, phát huy hiệu
quả tích cực.
28
Về cơ sở học liệu, ngày 18 tháng 5 năm 2017, Thủ tướng Chính
phủ đã ký Quyết định số 677/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Phát triển Hệ tri thức
Việt số hóa” nhằm triển khai Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về
tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Với sự
tham gia, đóng góp chia sẻ học liệu từ giáo viên trên cả nước, bộ Giáo dục và
27
Mục VIII Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
28
“Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Thực trạng và giải pháp”,
https://ictvietnam.vn/chuyen-doi-so-trong-linh-vuc-giao-duc-va-dao-tao-thuc-trang-va-giai-phap-
20200522150010574.htm truy cập ngày 04/03/2021.

