BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HỌC VIỆN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
NGHIÊN CU THC TRNG VÀ Đ XUẤT MT S
GII PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHT LƯNG I TR
NGHIÊN CU BN TRONG LĨNH VC KHOA HỌC
TỰ NHIÊN VÀ K THUT VIT NAM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mã số: 9340412
Hà Nội - 2023
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Mai Hà
2. TS. Đỗ Tiến Dũng
Phản biện 1: ...................................................................
...................................................................
Phản biện 2: ...................................................................
...................................................................
Phản biện 3: ...................................................................
...................................................................
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở
Họp tại Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2023
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
và Thư viện Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong các hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D), nghiên cứu bản
(NCCB) được xếp phân lớp đầu tiên vai trò “sáng tạo ra tri thức mới”, làm
tiền đề cho các nghiên cứu ứng dụng. NCCB đóng vai trò giúp nâng cao nhận thức
cho con người và lan toả tri thức. Hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là những
quốc gia nền kinh tế phát triển đều sự quan tâm, đầu lớn cho NCCB.
Những NCCB ngày càng tăng lên cả về chất và lượng, tuy nhiên hoạt động NCCB
chỉ thể được thực hiện khi nguồn đầu tài chính ổn định. Vì thế, sự ra đời
của các tổ chức tài trợ nghiên cứu đặc biệt là mô hình quỹ khoa học là cần thiết để
đảm bảo tài trợ cho nghiên cứu khoa học cơ bản được thực hiện liên tục.
Hiện nay, phát triển khoa học công nghệ được coi quốc sách hàng đầu
nền tảng quan trọng cho các hoạt động phát triển kinh tế - hội. NCCB không
hoàn toàn là các nghiên cứu mang lại lợi ích trực tiếp, do đó những NCCB rất khó
thu hút sự quan tâm, đầu của nhân hay doanh nghiệp. Tuy nhiên, với vai trò
NCCB nền tảng tri thức nhân loại, Chính phủ các nước luôn dành một lượng
ngân sách tài tr cho các hoạt động này. Để lượng ngân sách tài trợ cho khoa học
công nghệ được sử dụng đúng mục tiêu, tránh thất thoát, lãng phí, việc đảm bảo
chất lượng tài trợ NCCB được xem là vô cùng quan trọng.
góc đquản lý, chất lượng tài trợ NCCB thể hiện kết quả hoạt động quản
cuả Quỹ khoa học công nghệ nguồn tài trợ chủ yếu từ ngân sách Nhà nước
hoặc các tổ chức phi Chính phủ quan tâm đến vấn đề phát triển NCCB. thế,
đánh giá chất lượng tài trợ NCCB yêu cầu quan trọng để xác định tính hiệu quả
của công tác tài trợ nghiên cứu cũng như các mục tiêu về quản tài trợ. Chất
lượng tài trợ NCCB chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan chủ quan.
Nếu không tính đến những yếu tố đó, việc đạt được mục tiêu nghiên cứu có thể trở
nên khó khả thi thì chất lượng tài trợ NCCB cũng sẽ giảm sút. Để tài trợ NCCB
thành công, các nhà quản lý cũng cần phải đánh giá để đưa ra các yêu cầu tài trợ
phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế - hội, khoa học công nghệ đặc điểm
nguồn nhân lực khoa học.
góc độ nghiên cứu, hầu hết những nhà khoa học những người được
đánh giá cao về kinh nghiệm nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu xuất sắc,
thường những người hiểu biết sâu sắc về hoạt động nghiên cứu của đơn
vị, của lĩnh vực tham gia, họ có những góc nhìn quan trọng thể đánh giá
được chất lượng tài trợ NCCB. Đặc biệt hơn, trong bối cảnh hội nhập quốc tế về
khoa học công nghệ diễn ra mạnh mẽ như hiện nay đã đang tạo điều kiện
cho Việt Nam thu hút những nguồn tài trợ từ nước ngoài, giúp các nhà khoa học
mở rộng các mối quan hệ hợp tác đào tạo trong nghiên cứu khoa học, từng bước
tiếp cận với các thiết bị nghiên cứu hiện đại, học hỏi giao lưu với các nhà khoa học
1
trình đ nghiên cứu thế giới, tiếp cận được những hướng nghiên cứu mới. Các
nguồn tài trợ NCCB điều kiện đ các nhà khoa học thể phát triển năng lực
sáng tạo nhưng ngược lại cũng đòi hỏi các nhà khoa học phải thật sự nghiêm túc,
đạt tiêu chuẩn quốc tế trong nghiên cứu khoa học, các chuẩn mực trong việc đánh
giá năng lực nghiên cứu khoa học. Bởi vậy, từ góc độ nhà khoa học, việc đánh giá
chất lượng tài trợ NCCB ngày càng trở lên quan trọng bởi thông qua kết quả đánh
giá chất lượng tài trợ NCCB thì chính các nhà khoa học không chỉ tự đánh giá
được hiệu quả tài trợ trong dự án của họ, so sánh hiệu quả tài trợ chung giữa nhiều
nguồn cùng tài trợ cho nhà khoa học còn có cái nhìn khách quan về chất lượng
nghiên cứu của mình chất lượng tài trợ của các đơn vị. thế, trên sở kết
quả đánh giá chất lượng tài trợ NCCB các nhà quản sẽ định hướng điều
chỉnh các chính sách về tài chính cũng như các điều chỉnh về chế quản tài
trợ, những điều chỉnh này tác động trực tiếp đến các nhà khoa học - đối tượng thụ
hưởng tài trợ. Do đó, các nhà khoa học chính một kênh đánh giá chất lượng tài
trợ NCCB một cách khách quan, minh bạch, công bằng.
Quỹ Phát triển khoa học công nghệ Quốc gia Việt Nam là đơn vị sự
nghiệp trực thuộc Bộ Khoa học công nghệ thực hiện nhiệm vụ tài trợ công cho
NCCB một cách bài bản tập trung nhất hiện nay tại Việt Nam. Với ngân sách
tài trợ lên đến 500 tỷ đồng mỗi năm, Quỹ hiện đơn vị nắm giữ kinh phí tài trợ
cho NCCB lớn nhất cả nước. Hình thành ra đời với mục tiêu tạo dựng môi
trường NCCB tại Việt Nam thuận lợi, theo chuẩn mực quốc tế nhằm nâng cao
năng lực khoa học công nghệ quốc gia bao gồm nâng cao chất lượng nghiên
cứu phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao. Sau hơn 10
năm đi vào hoạt động, các kết quả từ hoạt động NCCB do Quỹ tài trợ hiện nay đã
được cộng đồng khoa học trong ngoài nước đánh giá vai trò to lớn góp
phần thúc đẩy yếu tố nội lực trong NCCB tại Việt Nam, đóng góp vai trò nâng cao
chất lượng đào tạo sau đại học, nâng cao chất lượng nhân lực nghiên cứu khoa học
tại Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình thực hiện tài tr NCCB cũng đã
bộc lộ một số điểm yếu đòi hỏi cần phải quản lý một cách chặt chẽ hơn, cụ thể:
Thứ nhất, cần làmnội hàm khái niệm chất lượng tài trợ NCCB từ tổ chức
tài trợ: các quỹ NCCB vẫn vận hành theo cơ chế bán chủ động, việc cấp ngân sách
cho quỹ NCCB vẫn còn nhiều khó khăn, bị động. Đặc biệt, công tác quản quỹ
NCCB từ khâu lập dự toán, chi tiết cấp vốn, sử dụng quỹ, thúc đẩy nâng cao chất
lượng hoạt động NCCB hay kiểm tra, giám t sử dụng quỹ vẫn còn những hạn
chế. Điều này dẫn đến sự chậm trễ trong công tác cấp ngân ch liên tục cho c
nhiệm vụ nghiên cứu làm chậm tiến đ thực hiện dẫn đến giảm chất ợng của
các NCCB, do vậy việc phân bổ kinh phí tài tr vẫn còn chưa hiệu quả, Văn
Đức (2018), Hoàng Anh Tuấn Đặng Th Thúy Nga (2020). Mặc đã có
những cải thiện về kinh p i trợ so với các nhiệm vụ khác, tuy nhiên kinh phí
2
tài tr cho NCCB hiện nay chủ yếu dùng để trả ơng cho nghiên cứu khoa học,
rất ít cho vật tiêu hao không có kinh phí cho mua thiết bị nghiên cứu. Do
đó, việc triển khai những ý ởng nghiên cứu b rơi o trạng thái rời rạc, những
đề tài nghiên cứu thí nghiệm quan trọng mang tính bứt p chủ yếu được thực
hiệnớc ngoàivề u dài việc hình thành các nhóm nghiên cứu “đồng hàng
thẳng tiến” th liên tục “trúng” i trợ nhưng k y dựng nhóm nghiên cứu
mạnh khó những công b chất ợng trong ơng lai, Trần Đình Phong
(2017). Hơn nữa, cơ chế quản lýi chính đối với nhiệm vụ NCCB do Quỹ tài trợ
quản lý tài chính tại đơn vị đang có sự chưa đồng bvới các quy định về quản
ngân ch theo Luật Ngân sách n ớc có hiệu lực t năm 2017, Nguyễn
Quang Thành (2021). Vấn đ đặt ra là cần m nội m khái niệm chất lượng
tài trợ NCCB để có i nhìn chung cho vấn đvề chất ợng tài trợ từ tổ chức tài
trợ (Quỹ khoa học).
Thứ hai, còn thiếu vắng các nghiên cứu về tiêu chí đánh giá chất ợng tài
trợ NCCB: bối cảnh cạnh tranh trong tài trợ cho nghiên cứu khoa học ngày nay
diễn ra trên toàn thế giới tại Việt Nam sự cạnh tranh này không ngoại lệ, quá
trình chọn lọc cạnh tranh tài trợ đã tác động đến việc phân hóa nhóm chuyên
ngành nghiên cứu một cách gay gắt, nếu coi tiêu chí công bố quốc tế là đại diện
cho chất lượng đầu ra của sau tài trợ NCCB thì các nhóm, các ngành khả năng
công bố quốc tế mạnh sẽ chiếm ưu thế vượt trội trong quá trình cạnh tranh giành
được kinh phí tài trợ, nhưng các nhóm ngành mang tính “đặc thù”, khó công bố
hoặc cần phải mất một thời gian dài hơn 36 tháng tài trợ mới khả năng công bố
dần bị hạn chế trong quá trình cạnh tranh tài trợ. Do đó, việc xây dựng tiêu chí
đánh giá chất lượng tài trợ đảm bảo tính phù hợp với điều kiện hiện nay tại Việt
Nam hiện đang còn hạn chế, Trần Đình Phong (2017). Mặc dù, tổ chức tài trợ
đã hướng mục tiêu nâng cao chất lượng tài trợ thông qua đưa ra danh mục tạp chí
Quốc tế uy tín tạp chí quốc gia có uy tín làm thước đo đánh giá đầu vào
đầu ra của nghiên cứu nhưng cộng đồng khoa học đánh giá các tiêu chí hiện nay
đang thiên về ba đặc điểm (1) thiên về công bố quốc tế, (2) thiên về áp dụng chuẩn
mực quốc tế (thông qua danh mục tạp chí do Quỹ xây dựng) (3) thiên về khoa
học hiện đại đương đại. Điều này tình gây ra sự thiếu công bằng cho một số
ngành, nhất là những ngành khai thác đối tượng nghiên cứu mang tính chất đặc thù
chỉ Việt Nam, Trần Trọng Dương (2017). Mặt khác, công bố quốc tế vẫn nên
tiêu chuẩn cứng trong việc đánh giá đề tài NCCB, tuy nhiên thời gian gần đây
trong quá trình đánh giá nghiệm thu đề tài bắt đầu xuất hiện hiện tượng lẻ”
công trình để đưa vào nghiệm thu. Điều đó cho thấy trong giai đoạn ngắn Việt
Nam có thể đạt được mục tiêu về tăng trưởng số công bố nhưng chất lượng các
công bố sẽ khó có thể được đẩy lên, Hoàng Anh Tuấn (2018).
Thứ ba, mối quan hệ tương tác trong hoạt động tài trợ còn rời rạc, góc đ
3