intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu các chính sách và giải pháp bảo tồn và phát huy văn huy truyền trong xây dựng nông thôn

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:13

18
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu này sẽ làm rõ những đặc trưng của văn hóa truyền thống, trên cơ sở đó chỉ ra các cơ chế bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc song song với việc tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới. Việc xây dựng xã hội “nông thôn mới” hiện nay, đặt trong khung cảnh CNH, HĐH đất nước, không thể tách rời việc xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa các nhân tố kinh tế, chính trị và văn hóa.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu các chính sách và giải pháp bảo tồn và phát huy văn huy truyền trong xây dựng nông thôn

  1. Thông tin chung Tên Đề tài: Nghiên cứu các chính sách và giải pháp bảo tồn và phát huy văn huy truyền trong xây dựng nông thôn Thời gian thực hiện: 2013-2014 (18 tháng) Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu và hỗ trợ phát triển - Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thị Trà Vinh ĐTDĐ: Email: 1. Đặt vấn đề Biến đổi kinh tế xã hội hiện nay ở Việt Nam nói chung và khu vực nông thôn nói riêng đang đặt ra rất nhiều vấn đề về văn hóa, đặc biệt việc tiếp thu và giải quyết di sản văn hóa truyền thống trong bối cảnh CNH, HĐH đất nước. Tổng kết tình hình văn hóa, văn kiện Hội nghị Trung ương 9 khóa XI nhận định rằng nhận thức về văn hoá của các cấp, các ngành và toàn dân được nâng lên, tư duy lý luận về văn hoá có bước đổi mới, phát triển. Vai trò của văn hoá ngày càng thể hiện rõ hơn, nhiều giá trị văn hoá dân tộc được phát huy. Người dân có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin và hưởng thụ các giá trị văn hoá. Môi trường văn hoá đạt được một số tiến bộ. Việc xây dựng nếp sống văn hoá ở gia đình, làng, bản, khu phố, công sở, đơn vị, doanh nghiệp có tiến bộ. Nhiều giá trị văn hoá truyền thống được giữ gìn, phát huy, kết hợp tốt hơn với văn hoá đương đại. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nêu trên, kết quả đạt được trong xây dựng và phát triển văn hoá chưa tương xứng với yêu cầu và chưa vững chắc; thiếu sự gắn bó chặt chẽ giữa văn hoá với kinh tế, chính trị; giữa các lĩnh vực của văn hoá; chưa tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế - xã hội, đến xây dựng con người. Trong đời sống văn hóa, đặc biệt là trong khu vực nông thôn, diễn ra rất nhiều hiện tượng phức tạp: tiếp thu thiếu chọn lọc những giá trị văn hóa “ngoại nhập”, đan xen nhiều yếu tố văn hóa lại căng, không phù hợp với bối cảnh xã hội và đạo đức dân tộc. Đời sống văn hoá tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu, lạc hậu; khoảng cách hưởng thụ văn hoá giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân còn lớn. Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá truyền thống nhiều nơi, đặc biệt là ở nông thôn chưa tốt, một số hủ tục, mê tín dị đoan có nguy cơ gia tăng v.v… Nông thôn Việt Nam là cái nôi của nền văn hóa dân tộc, nơi bảo lưu và gìn giữ những giá trị bền vững và tốt đẹp nhất của văn hóa Việt Nam. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống trong sự nghiệp phát triển xã hội nông thôn là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay nhìn từ góc độ văn hóa và phát triển. Nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn là điểm nóng trong sự phát triển ở Việt Nam từ nhiều năm nay. Giải quyết được sự phát triển nông thôn là giải quyết được điểm nút trong bài toán phát triển xã hội của 385
  2. đất nước. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống là có được một nguồn lực vững mạnh để phát triển xã hội Việt Nam nói chung và xã hội nông thôn nói riêng. Tư tưởng chỉ đạo nói trên càng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh nước ta, một xã hội còn tới gần 70% đang sống ở nông thôn. Xã hội nông thôn nước ta đang đi vào quá trình CNH, HĐH và trong quá trình này, vai trò của văn hóa, đặc biệt là các giá trị văn hóa truyền thống, hết sức quan trọng. Văn hóa không chỉ là những giá trị cốt lõi của đời sống tinh thần, mà còn tác động tích cực tới các hoạt động của con người, tác động tới bản thân quá trình CNH, HĐH đất nước, trong đó có khu vực nông thôn. Văn hóa truyền thống ở Việt Nam hình thành trên cái nền “nông thôn, nông nghiệp và nông dân”. Có vô số vấn đề (cả điểm yếu và thế mạnh) liên quan tới di sản văn hóa truyền thống này. Chính vì thế, nghiên cứu sẽ giúp nhận diện về bản thân văn hóa truyền thống, chủ thể và nguyên tắc khoa học trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống ở nước ta hiện nay, rút ra những bài học kinh nghiệm, để làm cơ sở cho các định hướng và giải pháp chính sách sắp tới, nhằm mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Xây dựng “nông thôn mới” ở nước ta hiện nay là một quá trình bao gồm rất nhiều nhiệm vụ: xây dựng cơ sở hạ tầng cảnh quan nông thôn, nâng cao thu nhập, giải quyết bài toán phúc lợi cho nông dân, nâng cao hiệu lực của hệ thống chính trị cơ sở v.v. Từ bối cảnh thực tiễn đó và nhìn từ góc độ vai trò năng động của văn hóa đối với chính trị , kinh tế thì nghiên cứu này sẽ có những đóng góp tích cực vào việc đánh giá thực trạng văn hóa nông thôn hiện nay, phát hiện các vấn đề bức xúc liên quan tới văn hóa nói chung và di sản văn hóa truyền thống trong quá trình HĐH, CNH đất nước. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa hết sức cấp bách. Nghiên cứu này sẽ làm rõ những đặc trưng của văn hóa truyền thống, trên cơ sở đó chỉ ra các cơ chế bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc song song với việc tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới. Việc xây dựng xã hội “nông thôn mới” hiện nay, đặt trong khung cảnh CNH, HĐH đất nước, không thể tách rời việc xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa các nhân tố kinh tế, chính trị và văn hóa. 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1. Mục tiêu chung Đề xuất được các chính sách và giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống trong xây dựng nông thôn mới thời kỳ CNH, HĐH đất nước. 2.2. Mục tiêu cụ thể - Làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của các chính sách và giải pháp bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống: các khái niệm và những định hướng lớn trong đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống; 386
  3. - Làm rõ những nội dung của văn hóa truyền thống Việt Nam được nghiên cứu trong đề tài, những mặt tích cực lẫn hạn chế của truyền thống văn hóa này; - Đánh giá được thực trạng bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống trong xây dựng nông thôn mới; - Đề xuất các giải pháp, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống trong xây dựng nông thôn mới. 3. Các kết quả chính của nhiệm vụ đã đạt được 3.1. Chính quyền xã thực hiện bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống Chính quyền các địa phương được khảo sát là chủ thể đóng vai trò cầu nối để triển khai đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống về tận người dân Thống kê tại xã chỉ ra rằng các loại công trình văn hóa – tôn giáo xuất hiện nhiều hơn ở các tỉnh miền Bắc, trong khi rất ít ỏi ở các tỉnh miền Nam. Các tỉnh phía Nam như Tiền Giang, Duyên hải Nam Trung Bộ như Bình Thuận, chùa là công trình văn hóa chủ yếu, ở Thân Cửu Nghĩa và Long An của Châu Thành tỉnh Tiền Giang có tới 10 ngôi chùa, nhưng chỉ có 2 đình và không có đền, miếu, phủ, di tích lịch sử, nhà thờ đạo hay nhà thờ họ. Trong khi đó, chúng ta có thể thấy mật độ các loại công trình văn hóa vật thể tập trung rất nhiều ở các tỉnh phía Bắc với đại diện là Nam Định và Tuyên Quang. Ví dụ, ta có thể thấy ở 2 xã khảo sát của Nam Định có tới 6 chùa, 4 đình, 3 đền, 13 miếu, 7 phủ/điện thờ, 5 di tích lịch sử, 5 nhà thờ đạo, và tới 97 nhà thờ họ. Hai xã được khảo sát ở Tuyên Quang tuy không nhiều các công trình tâm linh nhưng có nhiều di tích lịch sử cách mạng (20 di tích) và có 14 phủ/điện thờ. Thực tế này không khó để lý giải khi mà các tỉnh miền Bắc, đặc biệt như Tuyên Giang là địa điểm gắn liền với cuộc Cách mạng tháng 8 và Kháng chiến chống Pháp, trong khi ở Nam Định là nơi tiêu biểu cho văn hóa thờ cúng tâm linh của đồng bằng sông Hồng với các công trình đặc trưng như đình, đền, miếu, phủ hay nhà thờ họ. Có 06 trên 10 xã có các lễ hội truyền thống, với 04 xã gồm Thân Cửu Nghĩa, EaKly, Tú Thịnh và Đại Phú không có lễ hội nào. Điển hình như xã Hải Ninh của Bắc Bình, Bình Thuận có tới 3 loại lễ hội gồm tín ngưỡng dân gian, lễ đản sinh Phật bà, lễ Quan âm. Ở Giao Tân, Giao Thủy, Nam Định cũng có lễ hội du xuân và các hoạt động tâm linh tại các chùa chiền. Chính quyền các địa phương có ý thức trong việc bảo vệ các lễ hội truyền thống của các dân tộc. Dữ liệu định tính cho thấy hầu như các chính quyền tại các xã được khảo sát đều tham gia tổ chức lễ hội truyền thống hàng năm cho người dân. Chính quyền các xã xem đây là cơ hội để thực hiện các cuộc vận động không chỉ về văn hoá và thực hiện đường lối, chính sách kinh tế-xã hội. Chẳng hạn chính quyền xã ở Giao Tân và Giao Tiến của Nam Định thông qua lễ hội để vận động người dân thực hiện vệ sinh cộng 387
  4. đồng. Chính quyền Bắc Bình ở Bình Thuận xem đây là cơ hội để quảng bá du lịch trước quan khách. Hoạt động bảo tồn các hình thức âm nhạc truyền thống là một đặc trưng của các xã được khảo sát. Theo dữ liệu của chúng tôi, có 7 trong số 10 xã có các hình thức âm nhạc, thơ ca truyền thống. Nếu như ở các xã miền Nam như Long An của Tiền Giang có đờn ca tài tử, thì ở EaKly của Tây Nguyên có hoạt động cồng chiêng hay không gian văn hóa công chiêng của người Ede, ở Nam Định có hát chèo, chầu văn, và ở Tuyên Giang có sình dân tộc Cao Lan. Hoạt động của chính quyền Đại Phú, Tuyên Quang khá sáng tạo với việc tổ chức các hoạt động thi ca để người dân gìn giữ và phát dương Sình ca. Những người tham gia cũng được nhận phần thưởng. Mặc dù vậy, chính quyền các địa phương cũng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn kinh phí để hỗ trợ cộng đồng duy trì. Chẳng hạn như chính quyền Long An, Tiền Giang, việc thiếu tài chính khiến chính quyền không có hình thức hỗ trợ nào cho câu lạc bộ đờn ca tài tử và dành lại nhiệm vụ gìn giữ cho câu lạc bộ ở cộng đồng. Tình hình này cũng tương tự với nghệ thuật múa lân ở Bình Thuận 3.2. Cộng đồng làng/xã bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống a) Hương ước, quy ước làng Hương ước, quy ước làng xã là văn bản quy phạm phi chính thức, là một sản phẩm định chế tạo nên từ sự đồng thuận, nỗ lực tập thể của cộng đồng, có vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý và điều chỉnh nhận thức, thái độ và thực hành liên quan đến văn hoá trong cộng đồng làng xã. Việc xây dựng và tuân thủ theo định chế này là một truyền thống thấm đẫm tinh thần tự chủ, tự quản, tự trị của cộng đồng các làng xã cổ truyền Việt Nam. Do đó, việc duy trì hương ước, quy ước riêng của làng song song với các quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam là một hoạt động bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Trong tổng số 1005 người trả lời, chỉ có 10,6% người được hỏi cho biết địa phương họ không có hương ước, quy ước thành văn. Có gần 45% người cho biết thôn/làng của họ có loại văn bản này, với tỷ lệ phân bố cho loại lập trước năm Đổi Mới (1986) là 1,6%, loại lập sau mốc thời gian này là 40,3%, và có cả hai bản trước và sau là 3%. Điều đáng nói ở đây là có tới 44,5% số người cho biết họ không quan tâm hoặc không biết liệu làng của họ có hương ước, quy ước hay không. Khi phân tích theo tỉnh, Bình Thuận có tỷ lệ người trả lời không biết/không quan tâm cao nhất, lên tới 81%, đứng thứ hai là những người ở Đak Lak (56,5%), thứ ba là Tuyên Quang (43,1%), thứ tư là Tiền Giang (21%) và cuối cùng là Nam Định (20,9%). Đoạn hội thoại giữa người nghiên cứu và người trả lời ở thôn Hải Lạc, Bình Thuận sau đây cung cấp một vài gợi ý vì sao nhiều người khảo sát ở tỉnh này lại không biết hay không quan tâm đến hương ước. 388
  5. b) Quỹ chung của thôn/ấp Đây là một biểu hiện của việc xây dựng cơ chế tự quản truyền thống trong cộng đồng làng/xã. Theo thống kê của chúng tôi, trong 1005 người trả lời, có tới 53,3% cho biết thôn/buôn/ấp của họ có quỹ chung dành cho các hoạt động cấp cộng đồng, có 33,9% cho biết không có quỹ và có 12,7% không biết liệu có tồn tại quỹ này hay không. Nếu phân theo tỉnh, chúng tôi thấy rằng Nam Định khác biệt so với phần còn lại với 98% người được hỏi cho biết thôn của họ có quỹ chung. Tỷ lệ này ở Đăk Lăk cũng có tương đối cao, với gần 88%. Ở chiều ngược lại, chúng ta thấy rằng Tiền Giang, Bình Thuận và Tuyên Quang là các tỉnh có tỷ lệ người cho biết thôn/ấp của họ không có quỹ chung cao nhất (lần lượt là 63, 56 và 43%). Một điểm cần chú ý là Bình Thuận có tỷ lệ người không biết hay không chú tâm vào việc có quỹ chung hay không cao nhất, với 38,5%, theo sau bởi Tiền Giang và Tuyên Quang (lần lượt là 10,5 và 9,3%). Kết quả này tương đối thống nhất với phát hiện trình bày phần quy ước rằng Nam Định có số người nhận thức về hương ước rất cao, trong khi Bình Thuận là nơi ít người quan tâm tới hương ước, quy ước. c) Các hoạt động cộng đồng Thực hiện các hoạt động chung với sự tham gia của toàn cộng đồng thôn/làng là một nét đặc trưng trong sinh hoạt tập thể của Việt Nam. Chúng tôi tìm thấy bằng chứng cho thấy các địa phương khảo sát tiếp tục duy trì các hoạt động tập thể với nhiều hình thức đa dạng. Trong đó, hoạt động thể dục thể thao là hoạt động được thường được tổ chức nhất trong mẫu khảo sát, với 552 lượt chọn, theo sau là hoạt động ca nhạc, văn nghệ với 538 lượt chọn, lễ hội truyền thống với 478 lượt chọn, thờ cúng thần linh với 236 lượt, lễ cầu mùa màng thuận lợi với 124 lượt. Cùng với đó, quan điểm về việc duy trì các tín ngưỡng cộng đồng cũng có sự khác biệt rõ rệt giữa các địa phương, đặc biệt là có những huyện, hai xã khác nhau lại có quan điểm trái ngược nhau. Như huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, hầu hết người dân xã Phan Điền cho rằng nên duy trì việc lập đàn cầu thời tiết thuận lợi, nhưng tại xã Hải Ninh lại có đến hơn 35% người dân cho rằng hoàn toàn không nên hoặc không nên duy trì hoạt động này. Hay một số địa phương có mức độ đồng thuận việc duy trì các hoạt động này là gần như hoàn toàn, có thể kể đến là hai xã Giao Tân, Giao Tiến của huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, gần như hoàn toàn đồng ý với việc duy trì thờ cúng thành hoàng làng/thổ thần. Hay người dân xã Phan Điền thì gần như hoàn toàn đồng ý với việc duy trì các hoạt động tâm linh là lập đàn cầu thời tiết và thờ cúng thành hoàng làng. 3.3. Gia đình bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống a) Vai trò gia đình trong bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống Gia đình với tư cách là một đơn vị xã hội là một trong những chủ thể quan trọng trong việc thực hiện các cuộc vận động văn hóa. Một trong những nội dung của cuộc 389
  6. vận động chính là quy định về danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”. Nếu như việc công nhận “gia đình văn hoá” được thực hiện một cách khách quan và chính xác theo các chỉ tiêu đề ra trong thông tư trên, thì có vẻ như việc thực hiện các khía cạnh trong bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống ở các gia đình trong địa bàn khảo sát đều đang thực hiện tốt. Theo đó, trong cả 10 xã, số lượng gia đình văn hoá đều tăng lên trong giai đoạn 2012-2015. Điển hình có Thân Cửu Nghĩa, Tiền Giang tăng tới 800 hộ gia đình đạt danh hiệu trên trong vòng 3 năm, hay như Hải Ninh, Bình Thuận tăng tới gần 500 hộ, hay ở Giao Tân, Giao Thuỷ, Nam Định tăng gần 300 hộ. b) Việc duy trì và phát huy các giá trị truyền thống trong gia đình Gia đình vẫn là thiết chế hiệu quả thực hiện việc kế thừa, bảo lưu và phát triển các giá trị truyền thống. Người quyết định các việc lớn trong gia đình. Thông qua câu hỏi đồng ý hay không đồng ý “những việc lớn trong gia đình nên để đàn ông quyết định”, chúng tôi muốn tìm hiểu quan điểm của người trả lời về vai trò của đàn ông trong gia đình với một đòi hỏi phải so sánh nó với người phụ nữ. Kết quả bảng dưới đây cho thấy rằng, trong 983 người trả lời câu hỏi này thì có tới 45,3% đồng ý với nhận định này, và có tới 13,3% hoàn toàn đồng ý, trong khi có tới 21% không đồng ý và 5,7% hoàn toàn không đồng ý. Việc đứng tên trên các giấy tờ chung của hộ là một biểu hiện của phân chia quyền lực trong gia đình giữa người vợ và người chồng. Các giấy tờ này thường có tính chất pháp lý như giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai, sổ hộ khẩu, có giá trị đại diện cho hộ gia đình trước chính quyền và luật pháp. Do đó, thông thường người đứng tên được xem là chủ hộ của gia đình. Trong 908 người trả lời đang có vợ/chồng, thì có tới 73,3% cho biết chồng là người đứng tên trên các loại giấy tờ chung của hộ, chỉ có 10% cho biết vợ là người đứng tên, 7,8% cả hai đứng tên và có 8,8% là do người khác không phải vợ hoặc chồng. Trọng nam dẫn tới việc theo đuổi việc sinh con trai. Trong tổng số 906 có nữ giới, tỷ lệ nữ trên tổng số người trong gia đình là 0,49, tức là tỷ lệ nam-nữ của hộ gia đình tương đối cân bằng. Tuy vậy, mong ước có con trai vẫn hiện diện trong các hộ gia đình với 21,4% trên tổng số 907 người trả lời cho biết “nhất thiết phải có con trai”. “Kính già già để tuổi cho” là một câu tục ngữ biểu hiện lòng kính trọng người già trong văn hóa Việt Nam. Nói rộng ra, địa vị một người trong gia đình sẽ được lên cao theo tuổi tác của họ. Việc kính trọng bậc trưởng bối gắn với việc nghe theo những lời dạy bảo của người già. Trong khảo sát này, chúng tôi thấy rằng, hầu hết những người trả lời đều đồng ý với nhận định “người già đã nói thì phải nghe”, với 64,8% đồng ý và 19,7% ý kiến hoàn toàn đồng ý, đạt điểm trung bình là 4 điểm. 390
  7. Từ góc nhìn khu vực, chi phí cho tế tự tổ tiên rất khác nhau giữa các hộ gia đình ở 5 tỉnh được khảo sát. Biểu đồ dưới đây cho thấy, chênh lệch giữa chi phí trung bình một năm cao nhất và thấp nhất lên tới 8,9 triệu đồng. Tiền Giang là tỉnh mà các hộ gia đình được khảo sát chi nhiều nhất cho thờ cúng trong năm, với hơn 10 triệu đồng, duy trì một khoảng cách tương đối lớn so với các hộ gia đình ở Nam Định với 4,5 triệu đồng/năm – con số xấp xỉ trung bình chung của mẫu khảo sát. Trong khi đó, chi phí này ở Tuyên Quang, Bình Thuận và đặc biệt là Đăk Lăk thấp hơn nhiều so với đường trung bình chung. 3.4. Đề xuất các giải pháp, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống trong xây dựng nông thôn mới 3.4.1. Giải pháp chung a) Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - Đẩy nhanh việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa. - Xây dựng cơ chế bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống có sự thống nhất từ Trung ương tới tận cơ sở. - Việc xây dựng hệ thống chính sách liên quan đến phát triển văn hóa truyền thống ở cộng đồng phải dựa trên nhu cầu và điều kiện thực tiễn của từng cộng đồng, địa phương, vùng miền của đất nước. Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý, tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp văn hóa, các hội nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. - Có chính sách văn hóa đặc thù đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. b) Nhóm giải pháp liên quan tới xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa - Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa, bao gồm cả cán bộ trong lĩnh vực bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác khoa học, chuyên gia đầu ngành, cán bộ ở cơ sở. - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua mô hình truyền dạy, đào tạo lớp diễn viên, nghệ nhân - Cần có chính sách chế độ, cơ chế ưu đãi để thu hút cán bộ có trình độ chuyên môn về phục vụ tại vùng dân tộc thiểu số - Đảm bảo nguyên tắc lợi ích đối với các nghệ nhân, chủ thể sáng tạo trình diễn văn hóa phi vật thể 391
  8. - Có chính sách phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh cán bộ trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; trọng dụng người có tài, có đức. - Đưa các loại hình văn hóa truyền thống vào giáo dục học đường c) Nhóm giải pháp về tăng cường nguồn lực vật chất - Giải pháp về tăng cường nguồn lực vật chất cho lĩnh vực bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống - Thống nhất việc sử dụng các nguồn thu và trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp ngân sách cho hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa. - Kiểm kê, thống kê, lập hồ sơ khoa học, xây dựng kế hoạch cụ thể từng năm để trùng tu, tôn tạo, nâng cấp các di tích lịch sử - văn hoá, các danh thắng trọng điểm - Cần đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về chống xuống cấp và tôn tạo di tích theo hướng kết hợp giữa đầu tư từ phía nhà nước và xã hội hóa. - Tăng cường đầu tư nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn bảo tồn và phát huy văn hóa 3.3.2. Giải pháp cụ thể a) Nhóm giải pháp liên quan tới các chủ thể bảo tồn và phát huy văn hóa tại địa phương - Phát huy vai trò gia đình, họ tộc trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống địa phương - Tăng cường cuộc vận động xây dựng làng xóm, thôn bản văn hóa mới, kết hợp với việc phát huy vai trò cộng đồng làng xã trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống - Phát huy vai trò của chính quyền cơ sở - Phát huy vai trò của các tổ chức tự quản b) Công tác kiểm kê, thanh tra, giám sát văn hóa tại cơ sở - Thống kê, lập hồ sơ các di sản văn hóa địa phương để có kế hoạch bảo tồn, phát huy một cách chủ động - Tăng cường công tác thanh tra văn hóa - Xây dựng và thực hiện quy ước văn hóa trên cơ sở kết hợp những yếu tố truyền thống tốt đẹp. c) Giải pháp về các kênh bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống - Tăng cường tổ chức Hội nghị, hội thảo, làm công trình nghiên cứu, tổ chức biểu diễn, quảng bá nghệ thuật dân tộc. - Khôi phục, tổ chức định kỳ các lễ hội truyền thống - Xây dựng đề án trọng điểm để khôi phục lại một số loại hình văn hóa, văn nghệ đang có nguy cơ bị mai một như: lễ cưới, trang phục truyền thống, các trò chơi dân gian, sân khấu và một số loại nhạc cụ cổ truyền. 392
  9. - Hàng năm, tổ chức liên hoan, giao lưu văn hoá - nghệ thuật truyền thống của các dân tộc - Quan tâm đến việc hiện đại hóa trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ trong quản lý và bảo tồn văn hóa truyền thống. d) Những nguyên tắc bảo tồn và phát huy đối với văn hóa phi vật thể và vật thể - Tuân thủ các quy trình và quy định khoa học trong việc bảo tồn và duy trì các di sản văn hóa. - Việc bảo tồn di tích văn hóa truyền thống phải tôn trọng tính nguyên gốc và tính chân xác lịch sử - Kiên quyết chống xu hướng thương mại hóa nghệ thuật dân tộc đang lan ra trên khắp các sân khấu và các loại hình văn hóa truyền thống khác: lễ hội, di tích lịch sử văn hóa. - Tránh xu hướng “hiện đại hóa”di sản văn hóa truyền thống e) Nhóm giải pháp bảo tồn và phát huy vai trò của văn hóa truyền thống trong xây dựng nông thôn mới - Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, gắn với việc củng cố các giá trị gia đình - Công tác bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống nhằm vào mục tiêu khơi dậy tinh thần đoàn kết cộng đồng, tình yêu quê hương đất nước - Chú ý khai thác những nội dung tích cực của văn hóa truyền thống về tinh thần yêu lao động, không ngừng sáng tạo trong sản xuất 4. Kết luận 4.1. Quan điểm chỉ đạo trong vấn đề bảo tổn và phát huy vai trò văn hóa truyền thống Trong bảo tồn và phát huy vai trò của văn hóa trong phát triển, vấn đề là phải tìm hiểu yếu tố nào là truyền thống, cốt lõi của văn hóa Việt Nam, trên cơ sở đó ta xây dựng cốt cách của mình, đồng thời tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm văn hóa dân tộc. UNESCO từng chỉ ra rằng, nền kinh tế nào mà chỉ quan tâm phát triển kinh tế, bỏ quên yếu tố con người, yếu tố văn hóa thì sẽ dẫn đến hệ lụy là kinh tế không phát triển được mà xã hội cũng có nhiều điều bất an. Sự suy thoái của các giá trị truyền thống văn hoá thường diễn ra rất nhanh, nếu không có những kế sách đủ mạnh, để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, đặc biệt là những quốc gia đang trên đường hội nhập. Xây dựng và phát triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa, mà là của tất cả các cấp, các ngành và của toàn xã hội. Phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc và triển khai nghiêm túc những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, từ đó hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, đào tạo cũng như hoạt động kinh tế, chính trị vào việc xây dựng con người, làm cho yếu tố con người thực sự trở thành nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. 393
  10. Nông thôn Việt Nam là cái nôi của nền văn hóa dân tộc, nơi bảo lưu và gìn giữ những giá trị bền vững và tốt đẹp nhất của văn hóa Việt Nam. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống trong phát triển xã hội nông thôn là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay nhìn từ góc độ văn hóa và phát triển. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống là có được một nguồn lực vững mạnh để phát triển xã hội Việt Nam nói chung và xã hội nông thôn nói riêng. Tư tưởng chỉ đạo nói trên càng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh nước ta, một xã hội còn tới gần 70% đang sống ở nông thôn. 4.2. Các đặc trưng văn hóa truyền thống Việt Nam Xã hội nông thôn nước ta đang đi vào quá trình CNH, HĐH và trong quá trình này, vai trò của văn hóa, đặc biệt là các giá trị văn hóa truyền thống, hết sức quan trọng. Văn hóa không chỉ là những giá trị cốt lõi của đời sống tinh thần, mà còn tác động tích cực tới các hoạt động của con người, tác động tới bản thân quá trình CNH, HĐH đất nước, trong đó có khu vực nông thôn. Các phân tích trên cơ sở tổng kết tài liệu và dữ liệu điền dã đã cho thấy một bức tranh đa dạng về di sản văn hóa truyền thống Việt Nam hiện nay: các giá trị, văn hóa vật thể và phi vật thể. Các dẫn chứng và phân tích cho thấy suy nghĩ và quan niệm của người dân ở các địa phương trong mẫu khảo sát về các giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam. Phần lớn người dân trong mẫu khảo sát ở 5 địa phương theo giới tính, học vấn, tôn giáo, lứa tuổi vẫn rất coi trọng và đề cao các giá trị truyền thống liên quan đến gia đình, dòng họ và cộng đồng, dân tộc. Có thể nói trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, các giá trị văn hóa đó vẫn đang được người dân duy trì, mong được bảo tồn gìn giữ và phát huy. Đây chính là cơ sở tạo sự phát triển vững chắc đặc điểm và bản sắc văn hóa Việt Nam trong quá trình phát triển. Các giá trị truyền thống trong cộng đồng như sự đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần đang được khôi phục và duy trì. Khi bàn về giá trị cộng đồng, các tác giả thường đề cập đến tình cảm gắn bó, đoàn kết và sự tương trợ và giúp đỡ giữa các thành viên và nhóm trong mỗi cộng đồng. Đây là một nét văn hóa độc đáo của truyền thống dân tộc. Có thể khẳng định tham gia xã hội và tương trợ trong cộng đồng là kiểu loại giá trị đã tồn tại lâu dài trong đời sống xã hội ở nông thôn nước ta. Ý thức đoàn kết cộng đồng, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau là giá trị đã tồn tại vững bền trong cộng đồng làng xóm ở Việt nam. Bằng chứng cho thấy nhiều loại hình tổ chức xã hội mang tính tự nguyện của người dân đang xuất hiện ngày càng nhiều và làm sống lại các thiết chế phi chính thức, phi quan phương ở các công đồng nông thôn. Tình cảm với quê hương là một giá trị giữ vị trí quan trọng trong lòng mỗi người; mỗi người dân đều có tình cảm gắn bó với quê hương mình. Đối với những con người lao động, nhất là người nông dân, họ đã gắn bó mật thiết với quê hương. Tình yêu quê hương đã đi sâu vào lòng mỗi người. 394
  11. Mô hình Nho giáo khẳng định vai trò ưu thế của nam giới tồn tại như một tàn dư trong nền văn hóa truyền thống, đặc biệt nơi các tầng lớp trên của xã hội nông thôn cổ truyền. Mặt khác, các phân tích cũng cho thấy hệ giá trị khác, tồn tại trong xã hội nông thôn, khẳng định vai trò của người phụ nữ trong gia đình, trong sản xuất. Đây là một trong những sự kiện tạo thành nét đa dạng của văn hóa Việt Nam liên quan tới vấn đề giới. Các dữ liệu thực nghiệm do cuộc điều tra cung cấp cho thấy trong những năm trở lại đây giữa phụ nữ và nam giới được bình đẳng hơn như phụ nữ đã có tiếng nói hơn trong gia đình, được tham gia vào phát triển kinh tế, công tác xã hội. Tình trạng “trọng nam, khinh nữ”, quan niệm chỉ chuộng con trai tuy đã giảm dần nhưng vẫn chưa thể chấm dứt các quan niệm bảo thủ lạc hậu vì các quan niệm đó đã đi sâu vào trong tư tưởng của người dân. Liên quan tới văn hóa vật thể và phi vật thể, ta có thể nói việc bảo tồn và phát triển các sản phẩm và giá trị văn hóa vật chất ở nước ta hiện nay trở nên quan trọng hơn bao giớ hết. Nó không chỉ là nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước, các ban ngành của các cấp chính quyền địa phương mà nó còn là mong ước của mọi tầng lớp nhân dân cả nước. Trong những thập kỷ trước Đổi mới, nhiều loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể mang tính truyền thống của các địa phương cũng bị xem nhẹ, dẫn đến một quá trình tàn phá, các giá trị này trong một thời gian dài ít có cơ hội hiện hữu trong đời sống cộng đồng nông thôn. Tuy nhiên, loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống ở các địa phương đang được quan tâm và có sự hồi sinh mạnh mẽ trong những thập kỷ gần đây. Thờ cúng thần hoàng làng, tổ chức các lễ hội và các hoạt động nghề thuật truyền thống là hoạt động văn hóa ở Việt Nam có từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trong đời sống ở mỗi cộng đồng. Những năm gần đây, trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước thì văn hóa truyền thống nói chung và các nghi lễ thể hiện trong các lễ hội truyền thống nói riêng đang được phục hồi và phát huy, làm phong phú đời sống văn hóa Việt Nam. 4.3. Các chủ thể bảo tồn và phát huy văn hóa Các kết quả nghiên cứu liên quan tới việc bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống thông qua vai trò của của ba chủ thể chính: chính quyền xã, cộng đồng làng – xã và hệ thống thân tộc gồm gia đình và dòng họ. Kết quả khảo cứu chính sách và điền dã cho thấy chính quyền thực hiện vai trò bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống ở góc độ triển khai các đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước tới cộng đồng khu dân cư. Hoạt động nổi bật của chính quyền các địa phương khảo sát là tôn tạo các công trình di tích văn hoá như chùa chiền, hay hỗ trợ tổ chức các lễ hội truyền thống và lấy đây làm điểm thu hút du lịch cho địa phương. Tuy vậy, có thể thấy vai trò chính quyền địa phương bị giới hạn bởi hai lực cản chính: (i) chính sách và quan điểm của chính quyền cấp cao. Nếu không có chính sách từ Trung ương thì ít chính quyền chủ động thực hiện bảo tồn và phát huy truyền thống. 395
  12. Ngoài ra, sự bị động cũng thể hiện ở việc bảo tồn công trình văn hoá vật thể: nhiều địa phương vì không được Bộ Văn hoá công nhận di tích lịch sử mà chính quyền không có cơ sở để triển khai công tác bảo vệ; (ii) thiếu nguồn kinh phí, ngân sách. Mặc dù một số chính quyền chủ động vận động doanh nghiệp trên địa bàn và người dân đóng góp, về cơ bản nếu không có kinh phí thì chính quyền khó hỗ trợ các nhóm cộng đồng, đặc biệt là về văn hoá phi vật thể. Về vai trò của cộng đồng làng xã, chúng ta thấy được vai trò của các thiết chế phi chính thức thể hiện ở sức mạnh của các quy ước, hương ước làng trong việc điều chỉnh, quy định bảo tồn các giá trị văn hoá trong cộng đồng. Bên cạnh đó, các giá trị của cộng đồng cũng được duy trì thông qua các cơ chế tập thể như xây dựng quỹ chung của làng, hay tổ chức tham gia các lễ hội của làng/ấp/buôn. Cuối cùng, hệ thống thân tộc với vai trò của gia đình thể hiện ở chỗ bảo lưu các giá trị tinh thần điển hình như thờ cúng tổ tiên, ngày Tết, tôn trọng người cao tuổi. Nhưng bên cạnh đó, các giá trị truyền thống lạc hậu như trọng nam khinh nữ, coi trọng sinh con trai, lựa chọn con trai cả sống chung vẫn còn nặng nề trong các gia đình được khảo sát. Có thể nhận thấy một bức tranh khá đa dạng trong công tác bảo tồn và phát huy nền văn hóa truyền thống trong nông thôn hiện nay; đó là sự đan xen vai trò của các tổ chức chính thức và phi chính thức, sự trộn lẫn giữa các kênh và biện pháp khác nhau. Để thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cũng như các thành tựu về văn hóa vật thể và phi vật thể, cần có sự phối kết hợp giữa các chủ thể: chính quyền, cộng đồng và hệ thống thân tộc gia đình. Mặt khác, cần chú ý toàn diện tới các biện pháp khác nhau: huy động sự tham gia của cộng đồng và sự phối kết hợp, hỗ trợ từ phía chính quyền về các mặt thể chế và tài chính v.v… 4.4. Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống trong xây dựng nông thôn mới Xây dựng “nông thôn mới” ở nước ta hiện nay là một quá trình bao gồm rất nhiều nhiệm vụ: xây dựng cơ sở hạ tầng cảnh quan nông thôn, nâng cao thu nhập, giải quyết bài toán phúc lợi cho nông dân, nâng cao hiệu lực của hệ thống chính trị cơ sở, xây dựng hạ tầng văn hóa xã hội v.v. Từ bối cảnh thực tiễn đó và nhìn từ góc độ vai trò năng động của văn hóa đối với chính trị, kinh tế, thì vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống trong xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa thực tiễn hết sức to lớn. Điều then chốt đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới hiện nay, là phải nắm vững các nguyên tắc chỉ đạo về lý luận, đường lối chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước, từ đó có những giải pháp phù hợp trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Vấn đề đặt ra là phải có các các cơ chế bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc song song với việc tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới. Việc xây dựng xã hội “nông thôn mới” hiện nay, đặt trong khung cảnh CNH, HĐH đất nước, không thể tách rời việc xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa các nhân tố kinh tế, chính trị và văn hóa. 396
  13. Các khuôn mẫu văn hóa truyền thống như tình yêu quê hương đất nước, truyền thống gia đình, đức tính cần cù lao động, tình cảm cộng đồng và tham gia xã hội tích cực là những điểm mạnh cần phát huy trong công tác xây dựng nông thôn mới hiện nay. Người nông dân mới với những giá trị tích cực tiếp thu từ văn hóa truyền thống nói trên, sẽ là chủ thể thực sự của sự phát triển nông nghiệp và nông thôn hiện nay. Văn hóa truyền thống ở Việt Nam hình thành trên cái nền “nông thôn, nông nghiệp và nông dân” có vô số vấn đề (cả điểm yếu và thế mạnh) liên quan tới di sản văn hóa truyền thống này. Có nhiều giá trị vốn là thế mạnh trong một số tình huống và hoàn cảnh, lại có thể là trở ngại trong quá trình phát triển. Điều này đặc biệt cần coi trọng khi đặt vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống ở nông thôn, nơi bảo lưu nhiều giá trị văn hóa cũ. Bên cạnh đó, cần chú ý tới những đặc trưng vùng của văn hóa đề có những giải pháp bảo tồn và phát huy thích hợp. Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống gắn chặt với việc xây dựng nền văn hóa mới. Trong tiến trình phát triển này, cần đặc biệt gắn chặt việc xây dựng văn hóa với phát triển người “nông dân mới”, với đủ kiến thức, trình độ và bản lĩnh chính trị để làm chủ sự nghiệp xây dựng nông thôn mới. Tài liệu tham khảo 1. Bùi Quang Dũng. 2007. Gia đình trong các xã hội nông nghiệp. Tạp chí Xã hội học. Số 3: 103 - 112 2. Bùi Thế Cường. 2010. Góp phần tìm hiểu biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay. NXB Khoa học xã hội 3. Đỗ Long and Trần Hiệp. 2000. Tâm lý cộng đồng làng xã và di sản. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội 4. Hoàng Chí Bảo. 2010. Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình Đổi mới. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia. 397
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2