
468
Tô Lan Phương
Nguyễn Thị Như Quyến
Trường Đại học Đồng Tháp
Xu thế phát triển của xã hội đã và đang làm đổi mới nhiều lĩnh vực trong
đó có chất lượng giáo dục đại học. Để giáo dục đại học đạt tới những mục tiêu
đã đề ra đòi hỏi nhiều yếu tố cần được cải thiện cho phù hợp với sự phát triển
cũng như những diễn biến phức tạp của toàn cầu về môi trường, dịch bệnh, công
nghệ là cơ sở hạ tầng để xây dựng hệ thống học liệu cũng như tạo môi trường
học tập số cho sinh viên đại học. Điều đó vẫn còn song song những thuận lợi và
khó khăn mà sinh viên thường gặp phải.
1. Đặt vấn đề
Giáo dục đại học nói chung cho đến nay còn nhiều khó khăn trong hoạt
động dạy, học, tự học và nghiên cứu khoa học. Xu thế phát triển của xã hội là
bước ngoặt lớn cho sự hội nhập và tiếp cận những tri thức mới của thời đại vào
trong hoạt động học tập mà hầu hết sinh viên đại học phải trải qua. Sự phát triển
của công nghệ cùng với những đổi thay của môi trường, khí hậu dịch bệnh đã và
đang làm thay đổi cách nhìn nhận, cách suy nghĩ, cách sống và trong mọi hoạt
động của tiến trình phát triển cộng đồng xã hội. Cũng như vậy, lâu nay sinh viên
quen với nguồn tài nguyên, dữ liệu bản in thì nay sinh viên phải thông thạo với
các thao tác cũng như xử lý tình huống đối với thông tin số, dữ liệu số, tài liệu
số và môi trường học tập số. Tài liệu số là nguồn tham khảo phong phú, đa dạng
mà sinh viên cần đến trong quá trình học tập, nghiên cứu, trải nghiệm và thực
hành nghề nghiệp. Tuy nhiên, đó cũng là thách thức đối với sinh viên nói chung.
Qua công tác giảng dạy và công việc thực tiễn chúng tôi nhận thấy cần có một số
giải pháp nhằm giúp cho sinh viên nhận thấy trong môi trường giáo dục đại học
luôn được sự chia sẻ, đồng hành của giảng viên cũng như việc khai thác nguồn
học liệu trong môi trường học tập số. Bởi, “giá trị của giáo dục đại học không chỉ
là lý tưởng mà là sự đầu tư” (John Vũ, 2016). Trong giới hạn của bài viết này
chúng tôi điểm qua một số thuận lợi, khó khăn của sinh viên đại học khi khai
thác, sử dụng hệ thống học liệu và môi trường học tập số hiện nay.

469
2. Nội dung và kết quả nghiên cứu
2.1. Một số khái niệm
2.1.1. Khai thác
Khai thác trong hoạt động học tập của sinh viên là một trong những hoạt
động thường xuyên xảy ra khi sinh viên cần thực hiện một hay nhiều các yêu cầu
từ bài tập, yêu cầu của giảng viên để kết quả khai thác đó là một sự đánh giá rất
có ích cho sinh viên. Kết quả đó có thể là điểm số, có thể là một dạng thông tin,
thông điệp tích cực nhằm tác động đến hiệu quả học tập của sinh viên… Vậy,
khai thác là hoạt động tìm kiếm và sử dụng tài nguyên có sẵn trong hệ thống học
liệu, thư viện số, thư viện truyền thống, kho học liệu của một đơn vị hay tổ chức
giáo dục góp phần mang lại hiệu quả và chất lượng giáo dục. Tài liệu số ngày
nay rất đa dạng, phong phú đòi hỏi sinh viên có sự nhận thức, kiến thức nhất định
để nhận ra được thông tin chính thống và biết loại bỏ những thông tin không đáng
tin cậy.
Khai thác là hoạt động tích cực mà trong giáo dục nó luôn xảy ra đối với
người dạy, người học và cả những cá nhân có sự quan tâm đến hoạt động giáo
dục. Khai thác là một khái niệm mang tính cụ thể hóa cho các hoạt động mang
tính tích cực trong học tập và kể cả thực hành nghề nghiệp của sinh viên nói
chung. Để khai thác thông tin trong hệ thống học liệu hiệu quả sinh viên cần có
một số kỹ năng nhất định như: đọc, hiểu, thao tác trên các giao diện của ứng dụng
trong hệ thống học liệu, kỹ năng sử dụng thiết bị hỗ trợ và khả năng ngôn ngữ
(ngoại ngữ), khả năng nhận diện thông tin, khả năng ứng xử với thông tin…
Hệ thống học liệu được khai thác nguồn tài nguyên hiệu quả cần hội đủ một
số yếu tố như sau: cơ sở hạ tầng (trang thiết bị hỗ trợ), con người (phục vụ, cải
tiến hệ thống…), nguồn tài nguyên (nội sinh, ngoại sinh, số…), tầng xuất sử
dụng, khả năng truy xuất, truy cập của hệ thống và đối tượng hưởng thụ nguồn
tài nguyên trên hệ thống học liệu. Trong đó, đối tượng hưởng thụ được đánh giá
có tầm quan trọng và ảnh hưởng đến sự tồn tại của hệ thống học liệu.
2.1.2. Hệ thống học liệu
Hệ thống học liệu bao gồm nhiều yếu tố tạo thành và nó phụ thuộc vào
khoảng tài chính để trang bị thiết bị thiết yếu sao cho hệ thống học liệu đáp ứng
nhu cầu giảng dạy, đào tạo nguồn nhân lực của mỗi cơ sở giáo dục và đào tạo
của địa phương. Trong đó, trang thiết bị công nghệ là xương sống của hệ thống
học liệu các yếu tố hỗ trợ như nguồn tài liệu học tập, e-learning, trí tuệ nhân tạo
là yếu tố tương thích cho hệ thống học liệu. Tuy nhiên yếu tố khai thác cũng rất
quan trọng, có hệ thống học liệu nhưng người học, người dạy yếu kỹ năng khai
thác thì hiệu quả của hệ thống học liệu chưa đạt đến mục tiêu và sứ mạng của nó.

470
Yếu tố con người (phục vụ và thụ hưởng) là yếu tố sống còn của hệ thống
học liệu. Đây là sự thích hợp và thuận lợi trong thời đại ngày này (dịch bệnh toàn
cầu – Corona). Dịch bệnh như hiện nay đã làm thay đổi nhiều cách học tập,
phương thức giáo dục trong cộng đồng nói chung mà giáo dục đại học đang từng
bước hoàn thiện hệ thống học liệu để đáp ứng nhu cầu, xu thế của thời đại trong
kỷ nguyên số, môi trường học tập số.
2.1.3. Môi trường học tập số
Môi trường học tập E-Learning (môi trường dạy - học điện tử): Học tập
thông qua máy tính và mạng internet. Đây cũng là một môi trường học khá phổ
biến trong thời gian gần đây khi mà công nghệ thông tin bùng nổ không ngừng
nghỉ, với sự biến đổi của toàn cầu vì dịch bệnh. Trong hoạt động học tập với môi
trường E-Learning thì định hướng giáo dục, định hướng thông tin là những vấn
đề cốt lõi, quan trọng của hoạt động dạy - học trong môi trường tri thức rộng lớn.
Các yếu tố ảnh hưởng, chi phối đến môi trường học tập của sinh viên trong kỷ
nguyên số như sau:
TT
Các yếu tố chi phối và ảnh hưởng đến
môi trường học tập số
Các mức đánh giá
Chi phối
Ảnh hưởng
1
Cơ sở hạ tầng
x
x
2
Chương trình, nội dung đào tạo
x
x
3
Năng lực ngoại ngữ, tin học
x
x
4
Văn hóa nhà trường
x
x
5
Đội ngũ cán bộ, giảng viên
x
6
Khả năng học, khả năng tiếp cận tri thức
x
7
Số lượng sinh viên tham gia
x
8
Cơ sở pháp lý
x
Cùng với những yếu tố đó còn có một số thuận lợi như: công nghệ hiện đại
tạo nên sự dễ dàng trong các hoạt động quản lý, vận hành hệ thống học liệu cũng
như điều khiển các chức năng của lớp học hiệu quả nhiều hơn. Sự cạnh tranh nội
tại của bản thân sinh viên, giảng viên tạo động cơ cho sự biến đổi tích cực trong
hoạt động giáo dục. Sự am hiểu về công nghệ là một yếu tố không nhỏ khi giảng
viên thực hiện, vận hành, trợ giúp, hướng dẫn, định hướng cho sinh viên.

471
2.2. Những thuận lợi, khó khăn khi sinh viên học tập trong môi trường số
2.2.1. Những thuận lợi
Học trực tuyến:
Sinh viên được thoải mái, linh động thời gian học hơn: có thể học ở nhà,
hay bất cứ khi nào sinh viên cần.
Phương tiện phục vụ, hỗ trợ học tập ngày càng được cải thiện hiện đại hơn,
tiết kiệm được thời gian và công sức của sinh viên.
Môi trường học tập số là động cơ tích cực làm thay đổi phương pháp dạy
học, phương thức tổ chức học tập, đánh giá kết quả học tập theo hướng tiếp cận
năng lực, để sinh viên có thời gian tự học, tự nghiên cứu và tương tác với giảng
viên nhiều hơn thông qua thiết bị dạy học, trực tiếp hay trực tuyến… Đó là cơ sở
để phát huy được tính năng động, sáng tạo, làm chủ kiến thức của sinh viên. Và,
giúp cho sinh viên nhận ra được giá trị cũng như trách nhiệm của bản thân đối
với chính mình, gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội.
Hiện nay cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 không ngừng phát triển tiến tới
sự tự động hóa, hiện đại hóa trong tất cả các lĩnh vực của xã hội. Đó là nền tảng
cho môi trường học tập số phát triển, giúp sinh viên có cơ hội tiếp xúc với công
nghệ hiện đại tạo khả năng thích ứng nhanh với môi trường làm việc sau khi tốt
nghiệp. Làm nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu học tập qua các giác quan
ngày càng tăng của sinh viên mà môi trường giáo dục thực tế không làm được.
Nâng cao chất lượng dịch vụ và chất lượng phục vụ của các phòng ban,
chức năng trong tổ chức nhà trường.
Thuận lợi khi sử dụng học liệu số:
Sinh viên được sử dụng nguồn lực thông tin truyền thống hiệu quả hơn.
Cán bộ, giảng viên dễ kiểm soát và chia sẻ các nguồn lực thông tin đến với
các đối tượng người học một cách nhanh chóng, an toàn hơn.
Sinh viên được tiếp cận nhiều nguồn học liệu nhanh chóng, đa dạng, phong
phú bằng sự hỗ trợ của thiết bị công nghệ.
Tài liệu, kiến thức trong hệ thống học liệu số làm tăng tính đồng đều, bình
đẳng đối với tất cả sinh viên khi họ biết tiếp cận tài liệu một cách khoa học cho
các mục tiêu tích cực.
Để học tập trong môi trường học tập số, sinh viên có những thuận lợi về
nền tảng như sau:
Thế hệ sinh viên 9x được thừa hưởng những thành tựu khoa học từ rất sớm.
Phần lớn sinh viên tiếp cận với công nghệ từ khi vào bặc tiểu học như: máy vi
tính, tivi, điện thoại thông minh, các ứng dụng khác… Vì vậy, sinh viên có đủ

472
các kỹ năng sử dụng thiết bị hiện đại, quen thuộc với các giao diện ứng dụng, sử
dụng thành thạo các ứng dụng cơ bản. Điều đó giúp sinh viên học tập trong môi
trường số không quá xa lạ.
Sự tận tình hỗ trợ của giảng viên, bạn bè cũng là sự thuận lợi để sinh viên
thích nghi với môi trường học tập số nhanh hơn.
Xu hướng của sự phát triển và thay đổi môi trường dạy – học trong kỷ
nguyên số đòi hỏi mỗi người giảng viên phải: Tự nâng cao kiến thức, kỹ năng,
khả năng, rèn luyện để có đủ kinh nghiệm nghề nghiệp; Bản lĩnh trong chuyên
môn; Giàu có về tri thức để định hướng đúng cho sinh viên; Biết đánh giá đúng
năng lực của người học cũng như tham mưu những ý kiến sáng tạo về đổi mới
trong giáo dục đại học, nhằm góp phần tạo nên chất lượng giáo dục và đào tạo,
tạo nên giá trị chân chính của người giảng viên trong thời đại tri thức.
Khi đã được định hướng đúng mục tiêu học tập trong môi trường số thì sinh
viên có đủ khả năng, năng lực để kiểm soát và chia sẻ các nguồn lực thông tin
một cách hiệu quả hơn cho với các mục đích tích cực trong cuộc sống.
2.2.2. Những khó khăn
Khó khăn chung nhất khi học tập trực tuyến (môi trường học tập số) và khai
thác, sử dụng (đọc, viết, chia sẻ thông tin) học liệu điện tử là sự ảnh hưởng nhất
định của thị giác khi mà sinh viên phải làm việc trong thời gian dài trên màn hình
các thiết bị hỗ trợ học tập (máy vi tính, điện thoại thông minh, ipad…). Đọc tài
liệu điện tử, tài liệu số là yếu tố làm ảnh hưởng trực tiếp đến thị giác và gián tiếp
đến sức khỏe sinh viên về lâu dài. Ngoài ra, sóng điện từ cũng ảnh hưởng ít nhiều
đến thần kinh, não bộ của hầu hết con người trong thời đại công nghệ phát triển
như vũ bão hiện nay. Sự hiện đại của công nghệ làm cho cuộc sống chúng ta trở
nên dễ dàng hơn nhưng nó cũng mang đến một số hạn chế khi con người không
kiểm soát được bản thân. Điều đó xuất phát từ ý thức, tư duy và năng lực cá nhân,
đó là nền tảng căn bản mà giáo dục mang lại cho cộng đồng.
Khó khăn khi học tập trực tuyến:
Hiện nay có nhiều sinh viên ở các vùng quê xa xôi, chưa được tiếp xúc với
thiết bị hỗ trợ dạy học, chưa có kỹ năng sử dụng các thiết bị hiện đại. Từ đó dẫn
đến sự chênh lệch, không đồng đều giữa các nhóm sinh viên. Làm cho việc dạy
và học gặp nhiều khó khăn.
Đa phần sinh viên lại không có kỹ năng khai thác thông tin, không biết tận
dụng các thế mạnh của môi trường số để học tập mà chỉ học dưới dạng đối phó.
Khi tìm tài liệu để làm bài, sinh viên sẽ nghĩ ngay đến google và sử dụng google
rất thành thạo. Và sinh viên sẽ chọn những tài liệu liên quan đến nội dung yêu
cầu của bài tập mà quên kiểm tra thông tin tài liệu có đáng tin cậy hay không.

