Những yếu tố góp phần xây dựng nên nhân cách?
Yếu tố di truyền
Có cơ sở vững vàng khẳng định rằng nhiều đặc điểm nhân cách
được di truyền trong đó có thể kể đến:
Những khía cạnh về tâm thần, thần kinh và hướng ngoại của
Eysenck (riêng về sự hướng ngoại bắt nguồn từ công trình của
Jung).
Năm yếu tố thần kinh, hướng ngoại, sự cởi mở trước cái mới, tính
dễ thích nghi và sự tận tâm của McCrae và Costa.
Ba tính cách gồm tính đa cảm, tính năng động và tính hoà
đồng.
Hơn nữa nét tiêu biểu về sự tìm kiếm cảm giác của Zuckerman
trước tiên bị ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền. Như vậy cách tiếp
cận nét tiêu biểu tập trung vào sự ảnh hưởng của tính di truyền vẫn
rất quan trọng ngày nay và có thể trở thành phạm vi phát triển
nhanh nhất trong nghiên cứu nhân cách. Cái còn lại cần được xác
định chính xác là có bao nhiêu yếu tố di truyền, đặc điểm hay tính
cách. 16 theo Cattell, 3 theo Eysenck, 5 theo McCrae và Costa, 3
theo Plomin và Buss hay chưa được xác định như một số nhà lý
luận khác? Nghiên cứu trong tương lai về di truyền học hành vi có
thể cung cấp them nhiều khía cạnh nữa về nhân cách được hình
thành bởi các yếu tố di truyền.
Không quan trọng có bao nhiêu đặc điểm, cũng không quan
trọng khi đề xuất mạnh mẽ nhất về cách tiếp cận di truyền học lập
luận rằng nhân cách có thể được giải thích đầy đủ và trọn vẹn bởi
tính di truyền. Cái chúng ta thừa hưởng là những cái có, không phải
số phận, xu hướng hay điều chắc chắn. Liệu khuynh hướng di
truyền từng được nhận thức rõ phụ thuộc vào những điều kiện môi
trường sống và xã hội đặc biệt là của thời kỳ thơ ấu.
Yếu tố môi trường sống
Tất cả các nhà lý luận về nhân cách mà chúng ta đã thảo luận
thừa nhận tầm quan trọng của môi trường xã hội. Alder nói về tác
động của trật tự sinh, lập luận rằng nhân cách bị ảnh hưởng bởi vị
trí của chúng ta trong gia định trong quan hệ với anh chị em ruột.
Chúng ta được thấy nhiều hoàn cảnh gia đình và xã hội khác nhau
tuỳ theo độ chênh lệch tuổi giữa các anh chị em ruột hoặc việc có
anh chị em ruột hay không. Theo quan điểm của Adler, những môi
trường gia đình khác nhau này có thể tạo ra nhiều nhân cách khác
nhau.
Horney tin rằng văn hoá và thời đại mà chúng ta được nuôi
nấng cho thấy tác động của nó chẳng hạn như tác động mà bà ghi
chép được trong chứng loạn thần kinh chức năng được di truyền
bởi những bệnh nhân Đức và Mỹ. Bà cũng chỉ ra các môi trường xã
hội khác nhau rõ nét mà những cậu bé và cô bé bộc lộ. Bà đã nói về
sự lép vế của những cô bé lớn lên trong những nền văn hoá đàn ông
chi phối. Bà gợi ý rằng phụ nữ được nuôi dưỡng trong nền văn hoá
mẫu hệ có thể có lòng tự trọng cao hơn và các đặc điểm nhân cách
khác.
Fromm tán thành ảnh hưởng của những sức mạnh và sự kiện
lịch sử loan hơn như là hình thái xã hội mà một dân tộc xây dựng.
Mỗi thời đại trong lịch sử - dù là Trung Cổ hay Khai sang, Phong
trào cải cách tin lành hoặc Cách mạng công nghiệp chẳng hạn – đóng
góp cho việc hình thành nhân cách khác nhau hoặc các đặc điểm
tính cách thích hợp với nhu cầu của thời đại đó.
Ngay cả Allport và Cattell những người mở đầu cách tiếp cận
đặc tính cho nghiên cứu nhân cách cũng đồng ý về tầm quan trọng
của môi trường. Allport nhận thấy rằng mặc dù di truyền học cung
cấp nguyên liệu thô cơ sở cho nhân cách chính môi trường xã hội
nhào nặn nguyên liệu ấy thành sản phẩm cuối cùng. Cattell lập luận
rằng tính di truyền quan trọng hơn cho một số yếu tố nhân cách so
với những yếu tố khác nhưng những yếu tố môi trường có ảnh
hưởng cuối cùng tới tất cả mọi yếu tố ở một mức độ nhất định.
Tám giai đoạn của Erikson về sự phát triển tâm lý mang mang
tính bẩm sinh nhưng môi trường xác định những cách thức trong đó
các giai đoạn có cơ sở di truyền được thực hiện. Ông tin rằng những
sức mạnh lịch sử và xã hội ảnh hưởng sự hình thành cái tôi cá nhân.
Maslow và Rogers cho rằng sự tự thực hiện mang tính bẩm sinh
nhưng thừa nhận rằng yếu tố môi trường có thể kiềm chế hoặc thúc
đẩy nhu cầu tự thực hiện.
Các sự kiện xã hội quy mô lớn như là chiến tranh và suy thoái kinh
tế có thể hạn chế sự lựa chọn cuộc sống và ảnh hưởng đến sự hình
thành ý thức về cá tính. Những thay đổi về cuộc sống bình thường
hơn (bị bệnh, ly dị và thay đổi nghề nghiệp) cũng có thể ảnh hưởng
đến nhân cách.
Cuối cùng, nguồn gốc dân tộc và điều chúng ta thuộc dân tộc
đa số hay thiểu số cũng góp phần xác định nhân cách. Chúng ta
thấy những ví dụ về sự khác nhau dân tộc trong những biến số như
sự tìm kiếm cảm giác, nơi kiểm soát, và nhu cầu thành đạt. Chúng
ta cũng biết rằng thành viên của các nhóm thiểu số phát triển tính
đồng nhất dân tộc cũng như cái tôi cá nhân và phải thích nghi với cả
hai nền văn hoá. Thành công của sự thích nghi này ảnh hưởng nhân
cách và thể chất tâm lý. Vì tất cả những lý do này không thể chối
bỏ tác động của những sức mạnh xã hội và môi trường khác nhau
tới nhân cách. Cách thức đáng kể nhất mà tác động này được thể
hiện đó là thông qua học tập.
Yếu tố nhà trường
Chứng cứ rất rõ ràng về việc học tập đóng vai trò chủ yếu ảnh
hưởng đến hầu như mọi khía cạnh của hành vi. Tất cả những ảnh
hưởng môi trường và xã hội hình thành nhân cách tác động tới hành
vi thông qua việc học tập. Ngay cả những khía cạnh nhân cách được
thừa hưởng cũng có thể bị thay đổi, phá vỡ, ngăn chặn hoặc để cho
phát triển bởi quá trình học tập. Skinner (trên cơ sở công trình của
Watson và Pavlov trước đó) đã cho chúng ta biết giá trị của sự củng
cố tích cực, sự tiếp cận liên tục, hành vi siêu việt và nhiều biến số
học tập khác như là sự tích luỹ những câu trả lời được học.
Bandura đưa ý tưởng rằng chúng ta học hỏi từ những mô hình quan
sát (học tập quan sát) và thông qua nhiều việc trao thưởng khác
nhau. Đối với Rotter, việc trao thưởng là chìa khoá. Ông lập luận
rằng động cơ chính của chúng ta là tối đa hoá việc củng cố tích cực.
Bandura và Rotter đồng ý với Skinner rằng đa số các hành vi là
được học và di truyền chỉ đóng vai trò hạn chế.
Chúng ta đã bàn nhiều khía cạnh của nhân cách có bằng chứng
khoa học để chỉ ra rằng chúng được học tập chẳng hạn như nhu cầu
của McClelland về thành đạt (vốn được đề xuất bởi Murray). Hơn
nữa, nghiên cứu đã chứng minh bằng tài liệu rằng việc học tập ảnh
hưởng đến tính hiệu quả của bản thân (Bandura), trọng tâm kiểm
soát (Rotter), và sự không tự lực được học (Seligman). Những quan
niệm này dường như có liên quan đến một khái niệm rộng hơn: mức
độ kiểm soát. Những người tin rằng họ kiểm soát cuộc sống của