
Phân tích nhân vật Hộ trong tác phẩm "Đời thừa" để
chứng minh nhận đình về tác giả Nam Cao.

Bài văn đạt điểm cao thi Đại học - Trích bài của thí sinh Nguyễn Thị Tâm, thi khối C,
Học viện Cảnh sát nhân dân. Dưới đây là câu 3/3 yêu cầu chứng minh nhận định về tác
giả Nam Cao.
Nhà văn Nam Cao (1915 - 1951) là cây bút hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam
trước cách mạng và cũng là nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học non trẻ những
ngày đầu.
Trước cách mạng, do bên cạnh việc viết về bi kịch của người nông dân với tác
phẩm bất hủ “Chí Phèo” người đọc còn nhớ mãi bi kịch của người trí thức tiểu tư sản
trước cách mạng trong tác phẩm “Đời thừa” mà được thể hiện rõ qua nhân vật Hộ. Nhà
văn Nam Cao với tài năng xuất chúng và một tấm lòng yêu thương nhân ái bao la đã thể
hiện rõ được tâm lý của người trí thức tiểu tư sản trong cảnh ngộ bi kịch ấy. Chính vì vậy
nhận định về Nam Cao, sách Văn học 11 viết “Ông có sở trường về diễn tả, phân tích tâm
lý con người”.

Truyện ngắn “Đời thừa” ra mắt bạn đọc lần đầu tiên trong “Trang tiểu thuyết số 7”
số ra ngày 4-3-1943. Tác phẩm cùng đề tài này có “Mực mài nước mắt” của Lan Khai,
“Nợ văn” của Lãng Tử, "Đời thừa" còn gần gũi về đề tài với một số tác phẩm của Nam
Cao như “Trăng sáng”, “Nước mắt” và tiểu thuyết “Sống mòn”. Qua tác phẩm Nam Cao
đã miêu tả thành công tâm trạng của một người trí thức tiểu tư sản trước cách mạng.
Hộ vốn là một nhà văn, một nhà văn mang trong mình hoài bão lớn ấy là viết được
một tác phẩm “vượt qua mọi giới hạn và bờ cõi” ai đó vội cho đó là sự háo danh. Nhưng
không phải vậy. Đó là ước mơ của một con người có lý tưởng, có hoài bão lớn, muốn
khẳng định được tài năng của mình. Hộ còn là một nhà văn chân chính.
Điều này được thể hiện qua một loạt quan niệm của anh về văn chương “văn
chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho,
văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu tìm tòi khơi những nguồn chưa ai
khơi và sáng tạo những gì chưa có” với ý nghĩ ấy Hộ đã vô cùng căm ghét sự cẩu thả
trong văn chương “cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Như vậy qua những quan

niệm của Hộ về văn chương ta thấy đây là một nhà văn có hoài bão, một nhà văn chân
chính, có lương tri của một người cầm bút chân chính ý thức được trách nhiệm của người
nghệ sĩ.
Thế nhưng trước khi là một nhà văn Hộ còn là một người chồng, một người cha,
hắn còn có một gánh nặng gia đình trên vai. Cuộc sống với một gia đình đông con, một
người vợ thất nghiệp đã cướp đi ở hắn sự thanh thản sự thanh thản cần thiết để một tâm
hồn văn chương thăng hoa, khi mà cứ hết tháng lại “tiền nhà, tiền gạo, tiền nước mắm”.
Hoài bão văn chương có thể nung nấu trong chốc lát nhưng chuyện cơm áo là
chuyện phải đối mặt hàng ngày. Chả thế mà Xuân Diệu đã từng thốt lên:
Nỗi đời cay đắng giơ nanh vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ”
Thế là Hộ điên lên, phải xoay tiền. Nam Cao đã thật tỉ mỉ khi miêu tả tâm trạng của Hộ
trong cảnh túng quẫn ấy “đang ngồi hắn đứng phắt dậy mặt hầm hầm đi ra phố, vừa đi

vừa nuốt nghẹn”. Chỉ một đoạn văn ngắn mà ông đã tái hiện lại tâm trạng của Hộ: thật
bức bách. Nanh vuốt của họa cơm áo đang có nguy cơ nuốt chửng nhà văn Hộ đầy tâm
huyết ngày nào.
Và thế là để có tiền thì Hộ phải viết. Nam Cao là một nhà văn hiện thực nên ông
biết rằng Hộ muốn có tiền thì phải viết, viết những tác phẩm đáp ứng được nhu cầu của
một đám thị dân lúc bấy giờ “những tác phẩm làm người ta quên ngay sau lúc đọc”. Hộ
phải viết những tác phẩm ấy, nhưng giả dụ có ai bảo hắn viết những tác phẩm cao quý
hắn cũng chẳng biết đường nào mà viết bởi tâm trạng bức bách ở trên. Thế rồi Hộ bị văng
vào quỹ đạo của bi kịch.
Hắn thấy xấu hổ khi đọc những tác phẩm ấy “hắn đỏ mặt lên”. Đó là sự xấu hổ của
một chút lương tri ít nhiều chưa vỡ nát trong Hộ. Hộ đau đớn, tủi cực không phải vì
không được viết, mà là anh đã tự giẫm lên những nguyên tắc do mình đặt ra, còn gì đau
đớn hơn khi mình lại phản bội chính mình. Nam Cao tỏ ra rất tinh tế và cảm thông trước

