PHONG TRÀO ĐÔNG KINH
NGHĨA THỤC VỚI BƯỚC
CHUYỂN BIẾN TƯ TƯ
ỞNG VIỆT
NAM ĐẦU THẾ KỶ XX
Phần 1
Từ việc tìm hiểu quá trình chuyển tiếp tư tưởng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
thông qua phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, với những giá trị tư tưởng trong kho
tàng lịch sử Việt Nam từ đó tạo nên niềm tin vững chắc tiến bước trong quá trình
thực hiện công cuộc đổi mới đưa đất nước đi lên con đường xã hội chủ nghĩa mà H
Chí Minh và cdân tộc đã lựa chọn.
Nhìn lại tiến trình lch sử tư tưởng Việt Nam, sự thay đổi của những điều kin
kinh tế, xã hội… theo từng thời kỳ, đã tạo nên những bước chuyn tiếp tư tưởng phù h
ợp
với thời đại, tc đẩy xã hi phát triển. Trong bước chuyn tư tưởng đặc biệt nhất, phi
nói đến bước chuyn tư tưởng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vi những vấn đề mới
nảy sinh chưa từng có trong lịch sử đã đặt ra nhiệm vụ bức thiết cần được giải quyết cho
dân tộc Việt Nam, đó là con đường giải phóng dân tộc khỏi thực n và phong kiến.
Đánh dấu bước chuyển tiếp tư tưởng Việt Nam giai đoạn này, cần phải nhắc đến phong
trào Đông Kinh nghĩa thục, đây là một trong những phong trào cảich tư tưởng n
hoá, góp phn quan trọng vào công cuộc cách mạng giải phóngn tộc Việt Nam đầu
thế kỷ XX.
“Đem lòng nghĩ đến quốc dân
Lựa dần khuyên nhủ nhau dần từ đây
Miệng diễn thuyết dao này chém đá
Lưỡi hùng đàm gương ấy soi yêu…”1
Có thxem Đông Kinh nghĩa thục là một trong những phong trào yêu ớc đầu
thế kỷ XX, nhưng với những đặc điểm, tính chất và những nét riêng của phong trào đã
đem lại nhiu tranh luận từ các nhà nghiên cứu. Có học giả cho rằng, Đông Kinh nghĩa
thục là một cuộc cách mạng văn hoá đầu tiên ở nước ta hay chỉ là một cuộc đấu tranh tư
tưởng theo hướng tư sản; hoặc theo nhà nghiên cu Trần Minh Thư “Đông Kinh nghĩa
thục chỉ là một cuộc vận động cảich về văn hoá chứ chưa đạt tới một cuộc cách
mạng”2,... Có rất nhiều ý kiến khác nhau vvị trí Đông Kinh nghĩa thục đối với phong
trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX nhưng phải cần nhận định rằng việc nghiên
cứu, đánh giá Đông Kinh nghĩa thục là công việc rất cần thiết trong lịch sử tư tưởng và
văn hoá Việt Nam nói riêng, lịch sử Việt Nam nói chung và phải gn với hoàn cảnh lịch
sử đương thời để thấy rõ vị trí của phong trào Đông Kinh nghĩa thục.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tình hình thế gii đầy biến động đã tác động
mạnh mvào nước ta. V.I.Lênin đã từng nhận định: “Chủ nghĩa đế quốc như mây
kéo theo mưa”, với sự phát triển của các nước tư bản chính trên thế giới đã dn dần
chuyển thành chnghĩa đế quốc. Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa đế quốc đã kéo theo biết
bao thay đổi thế gii bằng việc bành trướng ra thị trường khắp các châu lục, làm cho
mâu thun giai cấp ở các nước cũng như mâu thuẫn giữa các ớc đế quốc và thuộc địa
ngày càng trnên gay gắt. Và Việt Nam cũng đón “mt vị khách không mời đến”
khi m 1858 Pháp nổ tiếng súng đầu tiên tại Đà Nng đánh dấu sự xâm lược nước ta và
dần dần đặt ách thống trị hết sức hà khắc lên nhân dân, biến xã hi Vit Nam thành một
đất nước thực dân nửa phong kiến. Tất nhiên, chủ nghĩa tư bản Pháp tồn tại ở Việt Nam
trong sự thích nghi toàn diện với chủ nghĩa phong kiến đã lỗi thời, gắn với những chính
sách về chính trị, xã hội, kinh tế… mà thực dân Pháp đặt ra cho người n An Nam.
Trước tình hình đó, các sĩ phu yêu nước đã nhn thấy rằng, việc đánh đuổi thực dân
Pháp giành độc lp cho nước nhà vn là nhim vụ chính, song vn đề mở mang n trí,
chấn hưng kinh tế cũng là quan trng, cấp bách có làm tốt được việc này thì mi tiến
hành việc kia một cách thành công.
Từ khi Pháp m lược nước ta, chúng thi hành chính sách thc dân biến nước ta
trở thành “sân sau” của Pháp, cả bộ máy quan lại của nhà Nguyn trở thành bù nhìn, tay
sai cho Pháp. Mọi quyền lực, quân đội, cảnh sát đều nắm trong tay thực dân Pháp. Đ
cai trmt dân tộc Vit Namcó truyền thống yêu nước từ ngàn năm với một sức mạnh
đoàn kết to lớn, thực dân Pháp đã phải thực hin chính sách chia để trị. Nhưng xã hội
Việt Nam với chế độ phong kiến tồn tại rất lâu với những thói quen tập quán đã lạc hậu
so vi thời đại, chúng không khó khăn gì khi duy tvà phát triển những hủ tục như:
khuyến khích uống rượu, hút thuốc phiện, mê tín dị đoan… để ru ngủ nhânn, dễ bề
đặt ách cai tr. Với một xã hội trì trệ, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu gn vi vic thực
dân Pháp chiếm độc thị trường, mua hàng hoá nông nghip với giá rẻ mạt, làm cho nn
kinh tế nước ta càng trnên kiệt quệ. Nhân dân lao động b bần cùng hoá vi những thứ
thuế hết sức hà khắc như thuế muối, thuế gạo, thuế sưu, thuế thân… Chính sách “bế
quan toả cảng” của vua quan nhà Nguyn trước đây không còn p hợp nữa, Việt Nam
bắt đầu mở cửa ra thế giới, giao lưu với nước ngoài nhưng đó chỉ là thứ tư bản chủ nghĩa
thuộc địa mà mục đích là đem lại li ích cho thực dân mà thôi.
Trái ngược với sự phát trin của thế giới về khoa học và văn hoá, Việt Nam lúc
này tồn tại nền giáo dục kém phát triển, không còn phù hợp với yêu cầu lịch sử và thi
đại, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Tm vào đó, thực dân Pháp đã xây dng
Việt Nam một nền giáo dục thực dân nửa phong kiến kng ngoài mục đích là đồng hoá
nhân dân. Chúng li dụng nền Nho học với xu ng giáo dục theo khoa cử đã tỏ ra
không còn p hợp với thời đại, xây dựng mt nền giáo dục theo kiu laing “giáo dục
Pháp – Việt” cho dân An Nam. Vậy là, giáo dục đi ngược lại với giá trị ca nó, không
phải là mở mang khai thông dân trí mà chnhằm một mục đích là tăng cường dồi dào
của cải, giá trị sản xut từ thuộc địa. Vì thế, Việt Nam nơi để thực dân Pháp khai thác
thuộc địa, là nơi cung cấp công nhân rẽ mạt, là nơi tiêu thụ hàng hoá để đem lại lợi
nhuận cao nhất cho tư bản Pháp.
Những chính sách thực dân Pháp áp đặt và thi hành trên các lĩnh vực đã làm cho
xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX biến động sâu sắc, đặc biệt là sự phân
hoá giai cấp trong xã hội. Giai cấp địa chủ phong kiến tra khá non yếu, nhu nhược
trước sự ngoại xâm ca đế quốc Pháp, một bộ phân thoả hiệp đầu hàng, bộ phận còn li
thì trăn trở trước quyền li giai cấp không còn nữa, cố gắng đứng lên tập hợp huy động
quần chúng nhân dân tham gia chiến đấu chống Pháp để cu nước, củng cố lại giai cấp
của mình. Giai cấp nông dân là giai cấp chiếm đại đa số trong nhân dân phải gánh chịu
tình cnh “vua là tượng gỗ, dân là thân trâu”. Giai cấp nông dân bị áp bức nặng nề, rơi
vào tình cnh cùng khvà trở thành lc lượng hùng hu của cách mạng giải phóng dân
tộc với ý chí chiến đấu ngày càng cao nhưng họ vẫn chưa là lực ng chính trong
phong trào cách mng. Cùng với chính sách khai thác thuộc đa của thực dân Pháp đã
hình thành ở xã hội Vit Nam giai cấp mới, giai cấp tư sản, trong đó một số người tư
sản đầu tiên làm trung gian cho Pháp, quyn lợi gắn chặt với thực n Pháp. Một số
khác là tư sảnn tộc, vốn kinh doanh công thương nghiệp hoặc một số địa chủ tư sản
hoá, là lực lượng không nhỏ góp phn tạo nên phong trào yêu nước Việt Nam thời k
này. Giai cấp vô sản đã ra đời từ người nông dân, thợ thủng, người bị phá sản… tập
trung về đô thị và lúc này mi chỉ là giai cp “tự nó”. Chính từ sự phân hoá giai cấp sâu
sắc và rõ rệt cuối thế kỷ XIX đầu thế k XX, sự câu kết giữa thực n và phong kiến tạo
nên hệ thống chính trị xã hội cực kỳ phn động, đã dẫn đến những phong trào yêu nước
phát trin một cách rầm rộ. Trước cảnh “Quốc phá gia vong” hu hết ngườin
Việt Nam kiên quyết không chịu khắc phục làm nô lệ cho thực dân Pháp, đi tìm con
đường cứu nước cho dân tộc hướng đến sự nghiệp giải phóng. c này, việc đánh đổ đế
quốc Pháp giành độc lập dân tộc và canh tân đất c để phát triển kp theo sự tiến bộ
của thế giới là hai nhim vụ gắn với sự chuyn biến tư tưởng xã hội đương thời. Hay nói
cách khác, nhng thử nghiệm gian khổ, hy sinh và cuộc sống nô lệ đầy unước mắt
đã thúc đẩy các nhà yêu nước Việt Nam ra sức tìm kiếm con đường cứu nước và giải
phóng dân tộc. Làm để cứu nước, cứu dân tộc? Câu hỏi được đặt ra, là nhim vụ của
thời đại đối với tất cả những người u nước Vit Nam. Một số các sĩ phu muốn khôi
phục lại triều đại phong kiến, cứu ly hệ tư tưởng phong kiến Nho giáo làm nền tảng
tư tưởng, phục hồi nền độc lập cho dân tộc, duy trì chế độ phong kiến đã vn động quần
chúng nhânn phát huy truyền thống yêu nước dân tộc đứng lên làm cách mạng tiêu
biểu như phong trào Cần Vương. Nhưng xu hướng này tỏ ra không còn phù hợp, không
gắn liền với mục tiêu n ch cho đông đảo nhân dân vì thế các phong trào yêu
nước theo xu hướng này đều tht bại. Ngược lại với phong trào trên, xuất hiện phong
trào đấu tranh theo ý thức hệ tư sản do những lãnh t giàu lòng yêu nước như Phan Bội
Châu, Phan Chu trinh… Vi phong trào theo hệ tư tưởng tư sản thì lại có hai cách thực
hiện. Một là, con đường bạo động cách mng, hai là con đường ôn hoà, cải cách duy tân.
Đối với con đường cảich duy tân, một số quan li, sĩ phu yêu nước nhận thy
rằng để phát triển đất nước, xoá bỏ dòng tư tưởng làm trì trxã hội nên đã tiến hành ci
cách duy tân. Xuất hiện các nhà ci cách như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch,
Phm Phú Thứ… Trước sự thay đổi của khu vực những tấm gương, mô hình duy tân của
Nhật Bản, Trung Quốc đã truyn vào xã hội Việt Nam. Bài học ca Nhn Bản, Trung
Quốc đã làm cho “Châu Á thức tỉnh” nhất là cuộc duy tân năm 1868 ở Nhật chống lại
các thế lực cản trở sự phát triển trong nước, tiến lên con đường bản chủ nghĩa và đ
sức chống lic nước phương Tây. Ảnh hưởng từ các phong trào n ngoài đã tác động
đến các sĩ phu yêu nước, trở thành hồi chuông cảnh tỉnh từ những chuyến đi thực tế và