Phòng Trị Bệnh Ở Vịt
1. Bệnh giun chỉ ở vịt
Bệnh giun chỉ ở vịt hay còn gọi là giun bìu, có tên khoa học là Avisoerpels
Taiwana thường khiến vịt chậm phát triển, tiêu tốn thức ăn, phẩm chất thịt
không đẹp mắt, mất giá... Chúng giống như những sợi chỉ nhỏ dài khoảng 1,2-
8cm, ngang khoảng 0,08- 0,15mm, đằng trước và đằng sau thu nhỏ. Ký sinh
trùng ký sinh ở vịt đẻ từ 3 - 8 tuần tuổi. Tỷ lệ vịt nhiễm ở độ tuổi này có khi
chiếm 60 - 80%. Bệnh thường gặp vào mùa hè ở những vùng có nhiệt độ
ng bc.
Giun chỉ ký sinh trong mô dưới da, tập trung ở vùng dưới hai hàm dưới và
gây viêm tạo thành các tổ chức với các mô xung quanh thành thực quản và
y lên như một khối u. Với mắt thường ta cũng dễ dàng quan sát thấy từ xa
hoặc dùng tay nắn khu vực vùng giữa hai hàm dưới ta cũng có thể thấy cục
cứng, có khi chúng chiếm hết cả vùng hầm dưới xuống đến cổ. Nếu mổ khối
u này ra, ta có thể thấy nhiều con giun quấn lại với nhau thành từng búi, màu
trắng hồng. Dùng tay có thể bóc tách loại bỏ cả tchức ký sinh trùng. Bệnh
gây tvong cho vịt khoảng 10%, nhưng phần lớn là chèn ép vùng họng, khiến
ăn uống kém, khó tìm kiếm thức ăn, thiếu máu và vịt chậm lớn hẳn so với con
ng đàn.
ch điều trị
-Mt cách chữa loại bệnh này rất đơn giản và mang li hiệu quả cao là tiêm
vào ký sinh trùng mi con 2ml dung dịch thuốc tím KMnO4 0,5%; dung
dịch Iodine 1% hoặc dung dịch Natri chloride NaCl 5%. Ký sinh trùng sẽ chết
và nt sưng sẽ biến mất sau 7- 10 ngày.
-Có thchữa bằng các loại thuốc tẩy giun tròn thông thường khác như
Mebendzol 10% dùng với liều 1g thuốc dùng cho 2kg thtrọng. Levamysol
7,5% tiêm dưới da 1ml/2kg thể trọng. Chích xung quanh túi giun hoặc tiêm
thẳng vào sinh trùng 1- 2ml/con. Ngoài ra, còn cách chữa dân gian là m
loi bỏ khối u và bóc tách hết tất cả ký sinh trùng, sau đó sát trùng tt vết
thương bằng các loại thuốc sát trùng và bột kháng sinh.
2. Bệnh phù đầu vịt
-Bệnh phù đầu còn gọi là bệnh dịch tả vịt, do vi-rút thuộc nhóm Herpes gây
ra. Bệnh này có đặc điểm là tc độ lây lan nhanh, tỉ lệ chết cao (70%-90%).
-Du hiệu biểu hiện của bệnh là đột nhiên ủ rũ, bỏ ăn, phân lỏng nhiều màu
sắc (xanh, vàng, trắng có lẫn máu), đầu sưng, lỗ huyệt lòi. Không có thuc để
trị bệnh này. Sử dụng vắc- xin phòng bnh là biện pháp duy nhất để vịt không
mắc bệnh. Hiện nay, trên thtrường có vắc-xin dịch tả vịt do Công ty Thuốc
Thú y Trung ương II sản xuất có hiệu quả rất tốt.
-Trường hợp vịt bị nhiễm bệnh dịch tả thì tốt nhất là loi khỏi đàn, để trống
chuồng ít nhất 6 tháng (là thời gian sạch vi-rút) rồi mới nuôi tiếp đợt khác.
3. Bệnh tụ huyết trùng vịt
-Nguyên nhân: Pasteurella multocida (vi khuẩn)
-Dch tễ: mọi lứa tuổi, giao mùa
-Triệu chứng:
+Quá cấp: chết rất nhanh (sau ba ăn…) nên không kịp có biểu hiện triệu
chứng
+Cấp tính: ủ rũ, kém ăn, xiêu vẹo, bại cánh, liệt chân, khò khè, phân lng
vàng xám đôi khi lẫn máu, chảu máu mũi & miệng; sốt (43-44oC), khát, nằm
bẹp, giẫy chết sau 2-5 ngày; tỉ lệ chết đêm bt thường; thả đồng: lùi xa đàn
cấp: đau mắt, chảy nước mũi, sưng khớp, viêm não
+Bệnh tích: toàn thân tím bầm, phổi tụ máu tím đen, ruột viêm đỏ
-Phòng bệnh:
+Tăng cường công tác vệ sinh phòng dịch
+Kháng sinh, sulfamid: 3-5 ngày
+Vaccin
-Điều trị:
+Phân loại (khỏe, bệnh)
+Kháng huyết thanh (tiêm 1 lần tác dụng 15 ngày)
+Kháng sinh: Peni + Strep, Cefa + Flor, Spira + Kana, Kana + Ampi + Colis,
Peni + Kana, Kana + Ampi, Septryl, Sulfa ; tiêm những con khỏe trước;
không thả xuống nước
4. Bệnh dịch tả vịt
-Nguyên nhân: virus
-Dch tễ: mọi lứa tuổi, diễn biến nhanh (3-4 ngày), chết 90%
-Triệu chứng:
+B ăn, sốt cao, khát, chảy nước mũi (trong à đục à bít lỗ mũi à thở khó), ủ
rũ, xệ cánh, chúi đầu, không thích bơi lội
+Phân xanh, loãng, đôi khi lẫn máu, dính bết quanh lỗ huyệt
+Phù đầu nhưng mắt không chảy nước lẫn bọt khí (khác bệnh sưng phù đầu /
coryza)
+Chy nước mắt, viêm kết mạc à ghèn, mi mắt sưng
+Liệt chân, sợ ánh sáng, lòi gai sinh dục (đực)
+1 s: đầu cổ rung giật
- Bệnh tích:
+Xuất huyết toàn thân (đặc trưng ở đường tiêu hóa)
+Cung mề, trực tràng xuất huyết, phủ màng gikhó bóc
+Gan màu đồng, chấm hoại tử trắng, mật sưng
+Phòng bệnh: tiêm vaccin (nhược độc, đông khô): 14 ngày tuổi (vùng an
toàn), 1 & 21 ngày tuổi (vùng có dịch)
-Điều trị:
+Không có thuốc điều trị đặc hiệu
+Phát hiện, chẩn đoán kịp thời; cách ly vịt bệnh, tiêm vaccin (Kapevac…)
cho vt khỏe
+Sát trùng (diệt mầm bệnh), uống kháng sinh (phòng nhiễm khuẩn kế phát),
vitamin + electrolytes (nâng cao đề kháng)
5. Chứng viêm teo mvịt
-Nguyên nhân: do vịt ăn hoặc uống phải chất nhạy cảm ánh sáng (chất cảm
quang, photosensitive compounds).
-Dch tễ: thường xảy ra trên vịt con hơn 10 ngày tuổi, vịt lông trắng dbị hơn
vịt lông màu, tỉ lệ bệnh 60-70%, tỉ lệ chết 10-15%
-Triệu chứng:
Đầu tiên xuất hiện vết nám, rộp ở mỏ trên, vài ngày sau viêm nhiễm kế phát,
lloét, 1 tuần sau vết thương lành nhưng mỏ trên bị rụt (thụt) ngắn lại và
ra, khó khăn khi ăn
-Bệnh tích:
Mỏ (teo ngắn lại, bè ra), gan (vi thể…)
-Phòng bệnh: