
Pushkin và sứ mệnh hoà giải của nước Nga
3
TS. Phạm Thị Phương
Khoa Ngữ văn - Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Pushkin sống vào thời đại của các cuộc cách mạng tư sản châu Âu – những cuộc
cách mạng mà nước Nga còn lâu mới đi đến. Quốc gia Nga lúc bấy giờ là một đất
nước phong kiến gia trưởng, tuy lạc hậu, nhưng trẻ trung, đầy nhiệt huyết sau
chiến thắng Napoleon, đang cần hướng đến, như Pushkin nghĩ, con đường cải cách
xã hội, chứ không phải là dùng bạo lực đánh đổ một thể chế nhà nước này để xây
nên một thể chế khác. Xuất thân từ một dòng họ quý tộc thế truyền, Pushkin luôn
tiếc thương cho sự sụp đổ của các dòng tộc quý tộc Nga cổ xưa. Nếu như ông có
những phản ứng với “lề thói quý tộc”, thì không có nghĩa là ông bác bỏ thể chế
nhà nước(12). Càng về cuối đời ông càng khẳng định hình thức duy nhất của nước
Nga là nhà nước quân chủ quý tộc. Theo ông, bậc quân vương nào bảo đảm được
tự do và phát triển văn minh thì sẽ có một quốc gia lí tưởng, và có lúc ông đã hy
vọng điều ấy ở nhà đương quyền Nicolai đệ Nhất.
Trong thực tế, dưới chế độ quân chủ, để bảo vệ quyền lợi của giai cấp cầm
quyền, luật pháp cần thiết như lực lượng thanh trừng khốc liệt. Pushkin nhận
thấy điều đó và phản ánh rõ trong những tác phẩm cuối đời của mình (Andzelo
– 1833, Người con gái viên đại uý – 1836). Dựa vào nền tảng của Chính thống

giáo, ông đi đến giải pháp là cầu mong lòng nhân từ của đấng quân vương.
Masa Mironova nói với nữ hoàng: “Thần thiếp đến đây không phải đòi hỏi công
lí mà là cúi xin lòng nhân từ”. Và cô gái côi cút ấy đã nhận được sự từ tâm của
Ekaterina đệ Nhị, như một Luật thiêng từ trên ban xuống, cứu xét. Trong bài
tụng ca cuối cùng Đài kỉ niệm (1836), Pushkin một lần nữa nhắc đến phẩm chất
này, nhưng là của nhà thơ nhân dân, vì, như ông từng khẳng định “Lịch sử của
dân tộc thuộc về nhà thơ”:
Và nhân thế sẽ còn yêu ta mãi
Vì đàn thơ ta thức tỉnh tình thân ái,
Vì trong thủa bạo tàn ta ca ngợi tự do
Và gợi từ tâm với những kẻ sa cơ.
(Thuý Toàn dịch)
Những suy ngẫm của Pushkin về lịch sử, số phận và con đường của nước
Nga có tầm vóc và ý nghĩa triết học – triết học của sự thông minh bằng trái tim.
V. Soloviev nhận định: “Pushkin tuyệt đối không phải là nhà tư tưởng tư biện,
cũng như không phải là nhà hiền triết thực tiễn; nhưng ông có ở mức độ cao
năng lực nhận thức chân lí đạo đức, hiểu được đâu là phải đâu là trái. Lý trí của
ông mang tính cân bằng, xa lạ với mọi thiên lệch bệnh hoạn”(13). Tư tưởng của
Pushkin mang tính suy nghiệm từ thực tế lịch sử dân tộc, từ trải nghiệm xã hội
của bản thân, nó minh triết và chừng mực. Ở đó không có cái cuồng say về sự
vĩ đại của nước Nga nhưng là một niềm yêu thương dân tộc nồng thắm, không

phải là thứ chủ nghĩa độc quyền về Chính thống giáo Slave hay sự bành trướng
của tư tưởng Nga vào châu Âu mà là một khả năng tuyệt vời tiếp cận và đón
nhận mọi nền văn hoá nhân loại, khả năng mà Dostoievski tôn vinh ở Pushkin
như một phẩm tính đặc Nga – “tính toàn nhân loại”, một tựu thành “không phải
là sự chiếm lĩnh bằng lưỡi gươm, mà bằng sức mạnh của tình bằng hữu và sự
cùng vươn lên hoà nhập với tất cả mọi người”(14). Dostoievski đã kiêu hãnh ca
ngợi ở Pushkin tinh thần hoà giải các dân tộc Đông – Tây; Soloviev đã nồng
nhiệt ca ngợi tinh thần ấy ở Dostoievski; và đến lượt mình, những người Nga
hôm nay tự hào ngợi ca điều đó ở Soloviev. Nói một cách khác, những nhà tư
tưởng vĩ đại Nga cùng toàn thể tinh thần dân tộc Nga đều đi đến một mục đích
chung: đại đồng thế giới. Và đó là sứ mệnh của nước Nga.
Tâm hồn Pushkin là một bản hòa ca của những gì tinh tuý và tinh tế của văn
hoá Đông – Tây. Tài năng của ông được kết tinh từ vốn văn chương bác học mang
nhiều dấu chỉ phương Tây và nền văn học dân gian nước nhà có nhiều cội rễ
phương Đông. Ông yêu nước Nga của vua Piot’r I, nhưng ông cũng yêu cả nước
Nga cổ đại Russ. Lang bạt khắp nước Nga, cuối cùng ông nhận thấy rõ chỉ gắn bó
với hai nơi chốn như với bàn thờ tổ phụ: nơi thứ nhất là quê nhà Mikhailovskoie,
nơi ông lớn lên trong tiếng hát ru, lời kể truyện cổ tích của nhũ mẫu, nơi cho ông
sự bằng an và vững chãi để có thể “vịn câu thơ mà đứng dậy”; địa điểm thứ hai là
Hoàng Thôn, nơi đào luyện nhà trí thức Pushkin có học vấn châu Âu, nơi diễn ra
cuộc gặp gỡ lần đầu đầy say mê của ông với Nàng thơ. Chính bởi vậy, khi viết về
hai nơi này, bao giờ câu thơ ông cũng như rưng rưng nước mắt:

Bốn phương xa lạ không nhà
Hoàng Thôn – nơi ấy mới là quê hương
Những gì bắt nguồn sâu từ cội rễ thân thuộc, khi đạt đến độ chín nhất sẽ càng
mở rộng tinh thần nhân loại và làm cho chúng dễ thụ cảm đối với bất kì cư dân
nào trên mọi miền của thế giới. Thiên tài của Pushkin chính là sự nhận biết hết sức
minh triết về hiện thực lịch sử, là khả năng hết sức tuyệt vời dung hòa những
khuynh hướng khác nhau. Phản đối khuynh hướng “sùng phương Tây” cực đoan
của Chaadaev, Pushkin ra sức bảo vệ những giá trị đặc sắc của văn hóa truyền
thống Nga; chống lại “chủ nghĩa Slave”, ông khẳng định ưu thế của văn hoá
phương Tây và sự cần thiết của nó đối với nước Nga. Đây tuyệt nhiên không phải
là một phép nhào trộn cơ học thô thiển, cũng không phải là sự đề xướng một “con
đường thứ ba” trung lập nào đó. Đây là một sự tổng hợp mà cơ sở hợp lí của nó
xuất phát từ lịch sử và đời sống hiện thực. Trong sự tổng hợp này thể hiện rất rõ sự
tiếp cận và lựa chọn thông thái và độc lập.
Lãnh sứ mệnh thực thi cuộc tổng hoà giải các dân tộc, nước Nga đồng thời
không phải một lần nhận về mình những thua thiệt trong sự nhịn nhường của đức
tính Chính thống giáo. Đứng từ điểm hiện tại, nhìn lại toàn bộ con đường lịch sử
dân tộc Nga đi qua, người ta ngạc nhiên về tính chính xác trong lời tiên tri của
Pushkin về sứ mệnh và số phận của nước Nga. Trong trước tác của mình, hơn một
lần Pushkin từng phát ngôn: “Nước Nga bị phán xử nặng hơn châu Âu” (“Россия
[…] есть судилище, приказ Европы”). Cùng chung với châu Âu nhiều xuất phát

điểm trên con đường hình thành và phát triển, nước Nga bị chiêu gọi phải trải qua
những bước đi khốc hại, che chắn cho châu Âu, tự nhận về mình những cú đập. Ở
thế kỉ xa xưa, gần như sắp tắt thở, nó đã chặn đứng vó ngựa của Mông Cổ đến từ
phương Đông, để nền khai minh châu Âu vừa mới phôi thai được tiếp tục phát
triển, còn mình dừng lại gánh lấy sự tàn phá, tụt hậu. Ở thế kỉ XIX, vai trò “thanh
kiếm và lá chắn” của nước Nga lại tiếp tục phát huy: năm 1812, nước Nga lại gánh
lấy trọng trách cứu châu Âu thoát khỏi thảm hoạ xâm lăng từ phương Tây của
Napoleon đệ Nhất. Những gì nước Nga trải qua trong thế kỉ XX này càng khẳng
định tính xác thực của mệnh đề Pushkin nêu. Trong đệ Nhị Thế chiến và trong
Chiến tranh Giữ nước Vĩ đại 1941 – 1945 nước Nga đã chịu một sự tổn thất nặng
nề để cứu châu Âu thoát khỏi thảm họa phát xít. Cùng với tổn thất ấy nó còn tự
gánh thêm một tổn thất khác nữa, lâu dài và khốc liệt hơn – đó là cuộc thử nghiệm
một mô hình xã hội. Mô hình ấy có cơ sở lí luận từ nơi khác, là hạt giống đầy lí
tính của phương Tây, đã tìm thấy ở Nga mảnh đất gieo trồng, và từ Nga phát tán
sang phương Đông. P. Novgorodsev viết: “Cả học thuyết xã hội chủ nghĩa không
tưởng lẫn chủ nghĩa vô chính phủ đều có gốc gác từ chủ nghĩa không tưởng của lí
luận cách mạng Pháp thế kỉ XVIII với niềm tin vào sức mạnh toàn năng của các
công sở, vào sức mạnh diệu kì của lí trí con người, vào sự cận kề của thiên đàng
trên cõi thế”(15). Áp dụng lí thuyết ấy vào thực tiễn, 70 năm chính quyền Xô-viết là
một sự hiến tế trên bệ thờ cho lịch sử nhân loại. Nước Nga đã nhận về mình sự tàn
khốc trong cuộc thử nghiệm một tư tưởng, và nhờ đó mà thế giới văn minh châu
Âu đã được chủng ngừa. Để tìm cho đất nước mình một mô hình phù hợp, người

