intTypePromotion=1

Quan điểm và phương pháp nghiên cứu văn thơ Hồ Chí Minh: Phần 2

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:100

0
76
lượt xem
12
download

Quan điểm và phương pháp nghiên cứu văn thơ Hồ Chí Minh: Phần 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu Quan điểm và phương pháp nghiên cứu văn thơ Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Đăng Mạnh sẽ cho bạn đọc thấy một góc độ khác khi phân tích tác phẩm của Hồ Chí Minh - đó là cái nhìn từ góc độ, quan điểm của văn học, văn chương mà không tập trung vào các yếu tố chính trị, cách mạng. Tài liệu là Tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên, sinh viên ngành Văn, đặc biệt là những ai đi nghiên cứu văn thơ Hồ Chí Minh. Tài liệu gồm 2 phần, mời bạn đọc tham khảo phần 2 sau đây.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quan điểm và phương pháp nghiên cứu văn thơ Hồ Chí Minh: Phần 2

  1. VỀ QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC VẢN HỌC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH QUA "NHẬT KÝ TRONG TÙ'' Tôi sẽ không nói ở đây quan niệm của Bác Hồ về văn nghệ nói chung, mà chỉ phát biểu về quan điểm của Người về chính hành vi sáng tác văn thơ của mình. Vì sao vậy? Vì không đủ căn cứ. Người chưa bao giờ có điều kiện, vả lại Người cũng không quan tâm lắm đến sự phát biểu về văn chương nghệ thuật nói chung như một hoạt động tinh thần có những đặc trưng riêng biệt, độc đáo của con người. Người từng nói: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em (văn nghệ sĩ -NĐM) là chiến sĩ trên mặt trận ấy” . Trong Nhật ký trong tù, Người cũng nói: “Nay ở trong thơ nên có thép”. Trong cuộc chiến đấu giải phóng đất nước, mọi hoạt động của dân tộc đều phải doc cá vào chiên trường, tất nhiên văn học nghệ thuật không thể đứng ngoài cuộc. Đây là truyền thống văn chương đuổi giặc (thoái lỗ thi) lâu đời của một dân tộc luôn ì. T hư gửi các họa sĩ nhãn dịp triển lăm hội họa 1951. 201
  2. N guyễn D ăng M ạnh luôn phải đứng lên chống giặc ngoại xâm. Đó là quan điểm văn học của Trần Hưng Đạo khi viết Hịch tướng sĩ uăn, cùa Nguyễn Trãi khi soạn Bình ngô đại cáo, của Nguyễn Đình Chiêu; “Chở hao nhiêu đạo thuyền không khằnĩ, Dăm mấy thằng gian bút chẳng tà”, của Phan Bội Châu: “Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyển trông gió cũìiiỊ gai ghê; Một ngòi lông uừa trống vừa chiêng, cửa dẫn chủ khêu đèn thêm sáng chỏi” U.U. Nhung phát biếu trên của Bác Hồ về chức năng chiến đấu 'của văn nghệ chính là phát huy truyền thông đó. Chúng ta biết, Người từng hoạt động lâu năm ở Luân Đôn, ở Paris, từng bầu bạn với nhiều nghệ sĩ lớn trôn thê giới, từng đọc Shakespeare, A. France, E. Zola, L. Tolstoi, LỖ Tấn... tất nhiên Người phải có quan niệm hết sức toàn diện, tinh vi và hiện đại về văn chương nghệ thuật. Trong bức thư trả lời tác giả một bản luận văn chính trị mà Bác có ý phê bình, Người viết: “ô n g nói, phải giúp dồng hào làm quen với những từ mà nay họ chưa hiểu, lảu rồi họ cũng sẽ hiểu. Có thể làm ngơ như vậy được, nếu ông chỉ nghĩ đến viết cho họ một tác phẩm văn học... Cồn nếu tác phẩm của ông lại định dùng để tuyên truỵền thì đó phải là một tác phẩm ai dọc cũng hiểu dược” . Nội một câu nói này thôi cũng cho thấy Bác không hề có quan niệm đơn giản về văn học. Nhưng đây là một vấn đề rất rộng lớn và phức tạp, từng làm tốn biết bao giấy mực. Người không bỏ sức vào dây làm gì, klìi nhiệm vụ giải phóng dán tộc mới là nhiệm vụ cấp thiết hàng đầu. 1. Trích thoo Tống tập văn học Việt Nam, tập 36 - NXB Khoa học xă hội, HN. 1980, tr.436. 202
  3. Q u a n d ie m và phư
  4. N guyễn Đ ă n g M ạnh (...) Đánh Pháp Nhật, Giành tự do, Là việc khó, Là việc to... Nhưng làm thơ để dộng viên những nhân sĩ trí thức như cụ Đinh Chương Dương, cụ Võ Liêm Sơn^ cụ Bùi Bằng Đoàn... thì lại không thể làm như thế được, ớ đây Bác Hồ lại phải làm nghệ thuật thật sự. Cũng vì mục đích chính trị thôi, nhưng trong trường hợp này thơ không có nghệ thuật thì không đưa chính trị vào đối tượng này được: Khán thư sơn điểu thê song hãn Phê trát xuân hoa chiếu nghiền trì. Tiệp báo tần lai lao dịch mã, Tư công tức cảnh tặng tân thi (Tặng Bùi Công) Đôì với một trí thức như cụ Bùi thì chĩ nói nửa câu là đã hiểu, cần gì phải giải thích “Hòn đá to, hòn đá nặng...”. Mà phải làm thơ hay, phải viết bằng chữ Hán, theo phong cách Đường thi mới th ậ t phù hợp với đối tượng thuộc thế hệ lão thành này. Tóm lại, đối tượng vận động chính trị và mục đích chính trị khác nhau (Viết cho aiĩ Viết để làm gi?) quyết định nội dung và hình thức khác nhau (Viết cái gl? Viết như thế nào?) của văn thơ Hồ Chí Minh. Bác đã nhiều lần phát biểu quan (liếm viết văn làm tliơ này của mình . Và quan điểm sáng tác rất nhất quán này dã tạo nên cho Bác 1. Xem Chống thỏi ha hoa và cách viết. Văn Hồ Chú tịch Sđ tr.239-240. 204
  5. Q u a n đ iể m và p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu... một sự nghiệp văn thơ hết sức phong phú đa dạng từ nội dung đến hình thức, từ tư tưởng đến thể loại, phong cách... ngoài ý định của Người. Trong sự nghiệp văn học của Bác Hồ, Nhật ký trong tù là một tác phẩm nghệ thuật lớn, chứa đựng nhiều bài thơ bất hủ. N hật ký trong tù viết cho ai? Viết để làm gì? Mở đầu tập Nhật 'ký, Bác đã nói rõ: Ngâm thơ ta uốn không ham Nhưng ngồi trong ngục biết làm chi đây; Ngày dài ngâm ngợi cho khuây, Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do. Vậy là đã rõ, Người viết cho chính mình đọc và để giải khuây trong thời gian bị tù. Năm 1973, giáo sư Huỳnh Lý có tổ chức cho chúng tôi gặp gỡ họa sĩ Diệp Minh Châu ở nhà riêng của ông. Họa sĩ đã được Bác cho ở cùng tại chiến khu Việt Bắc trong 6 tháng, thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ô n g nói: “Nơi Bác ở trong một khu rừng cây to, có con đường dốc đi xuống, qua hai con suối. Con suối thứ hai rất đẹp, như là chảy nghiêng, nước trong vắt. Đêm đêm, nghe tiếng nước chảy, tiếng cọp gầm. Vào những đêm trăng sáng, Bác cháu thường ngồi câu cá bên bờ suối, k ể chuyện ngày xưa. Bác ít nói về mình. Chỉ trong quan hệ rất thân mật mới nói dôi chút. Bác nói, hồi ở tù tại Quảng Tây, buồn quá, nhàn rỗi quá - Bác không muốn trí óc nhàn rỗi, phải bắt nó làm ưiệc. Nhưng làm gi được? Bác nói, một là săn rệp. Trong tù, gì chứ rệp, muỗi thì ưô số. Săn rệp chán, lại nằm ngửa đêm ngói trên mái nhà, rồi phân loại ngói lành 205
  6. N guyễn D ă n g M ạnh ngái vỡ... Và làm thơ. Làm thơ dối với Người chí đế giải trí và giêt thì giờ như đếm ngói và săn rệp ưậy thôi”. Vì là thơ viết cho mình đê thưởng thức nên Nhật ký trong tù thuộc loại thơ nghệ thuật. Và đã là nghệ thuật thì dù là đế' giải trí vẫn có khả năng thế hiện sâu sắc tâm hồn nhà thơ. (Ngày xưa Tản Đà chia văn thơ của mình ra làm mấy loại: văn thuyết lý, văn vị đời, văn chơi (Hầu trời). Nhưng chính “văn chơi” của ông lại rất có giá trị về cả nội dung lẫn nghệ thuật. Kết hợp những bài thơ phần lớn thuộc loại cảm hứng trữ tình này lại, ta sẽ hình dung đưực bức chân dung tinh thần tự họa hết sức cụ thể, sinh động của Bác Hồ. Thơ này gọi là thơ nghệ thuật để phân biệt với những bài ca, bài vè đã nói ở trên. Sự khác biệt giữa hai sáng tác này t h ậ t ra rất dễ nhận thấy, cố vấn Phạm Văn Đồng nói: “Bác Iciììi thơ dăng báo là đ ể nói vè một vấn dề gì đó cho người ta dễ nhớ, dễ làm, nghĩa là để tuyên truyền, cổ dộng phong trào cách mạng. Bác không muốn làm thơ d ể trở thành nhà thơ” . Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng nói: “Theo tôi, có lúc Bác làm thơ rất thanh cao, rất nên thơ. Nhưng củng có khi thơ Bác như diễn ca ấy, Bác dọc thơ của mình cho tôi nghe, có bài tôi thích, nhưng củng có bài còn ép vần, tôi không thích lắm, song Bác bảo nó dễ đi vào quần chúng” . Nói chung thơ nghệ thuật Bác làm rất ít. Người chí làm để giải trí, hoặc cho mình (Nhật ký trong tù), hoặc rộng hơn cho một số đồng chí cán hộ trung ương Rống và làm việc gần gũi với Người (những bài thơ như Nguyên 1. Tim hiếu tha ca chiến khu ciia Chủ tịch Hổ Chí Minh, Sđd. tr.231. 2. T ìm hiểu tha ca chiến khu... tr.240. 206
  7. Q u a n d iê m và p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu... tiêu, Thu dạ, Báo tiệp, ('anh khuya, Cảnh rừng Việt Bắc... làm ở Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp). Tập Nhật ký trong tù gồm hơn một trăm bài thơ sở dĩ ra đời chẳng qua là do hoàn cảnh đặc biệt cúa N^ười mà giáo sư Đặng Thai Mai gọi là “Vạn bất đắc dĩ” . Nếu đọc N hật ký trong tù theo đúng tr ậ t tự nhật ký của các bài thơ, ta sẽ càng thấy rõ hoàn cảnh bất đắc dĩ này của nhà thơ. Tổng sô' bài trong Nhật ký trong tù là 134 bài làm trong 14 tháng (bao gồm cả bài ghi ở bìa sách, có người gọi là bài đề từ “Thân thế tại ngục trung, Tinh thần tại ngục ngoại; Dục thành đại sự nghiệp, tinh thần cánh yếu đạ i”). Nhưng bốn tháng đầu, Người đã làm đến 103 bài (Bài Tứ cá nguyệt liễu (Bốn tháng rồi) là bài thứ 103). Và mấy tháng sau, Người chỉ làm tiếp có 31 bài. Vì sao vậy? Vì bốn tháng đầu Người hoàn toàn không có điều kiện hoạt động chính trị, đành phải làm thơ cho khuây khỏa, đúng như Bác nói trong bài Khai quyển. Nhưng từ đầu tháng 2 năm 1943, biết Bác không phải là Hán gian hay gián điệp của Nhật (Túc Vinh mà dể ra mang nhục, Cố ý dằng dai, chậm hước mình, Bịa chuyện tình nghi là gián điệp, Cho người vô cớ mất thanh danh - BỊ hắt giữ ở Túc Vinh) mà là lãnh tụ cách mạng Việt Nam. Chính quyền Quô'c dân Đảng Trung Quốc bèn chuyển Bác sang một chế độ nhà Lù khác gọi là chế độ “quản lý chính trị” (tại nhà giam của Cục Chính trị độ tứ chiến khu Quôc d f u Đảng Trung Quốc đặt ơ Liễu Châu): có đủ cơm ăn, 1. N h ậ t ký írong tù vả những lời binh. NXB Văn hóa Thông tin 1997 tr.]26. 207
  8. N g u y ễ n Đ ă n g M ạnh không bị gông, bị xích. Buổi sáng và buổi chiều đều có 15 phút đi vệ sinh có lính gác và thỉnh thoảng được đọc sách báo. ơ đây Người còn tìm được cách thông tin về nước bằng cách gửi những tờ báo có ghi kèm vài tin tức. Người còn có điều kiện dịch một số tài liệu của Trung Quô'c ra tiếng Việt như cuốn Tam dân chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên, hay cuốn Trung Quốc đích mệnh vận của Tưởng Giới Thạch... Từ đây, Nhật ký trong tù không chỉ có thơ mà xen vào những bài thơ còn có những trang ghi chép về những sách báo Người đọc được trong tù - cụ thể là, sau bài thứ 132 (Cảm tưởng đọc thiên gia thi), từ trang 47 đến trang 52 của nguyên bản N hật ký trong tù, Người dành để ghi những điều đọc được ở sách, gọi là “Độc thư lan”, và sau bài cuối cùng, số 134 (kết luận) lại dành 10 trang ghi những tin tức lượm lặt trên báo chí, gọi là “Khán báo lan”. Những ghi chép này hết sức tỉ mỉ, nội dung bằng chữ Hán, số liệu thì ghi theo chữ số Ả rập, các địa danh ở châu Âu thì phiên âm theo tiếng Pháp, như Stalingrad, Karkov, Jtalie, Sicile... Có một số danh từ lại ghi hẳn bằng tiếng Pháp, như Batteries, avions, croiseurs... Nội dung ghi chép rất phong phú, quân sự có, chính trị có, văn hóa có, đặc biệt là tin chiến sự quốc tế. Thí dụ: “Qua ba năm kháng chiến, mất Bắc Bình, Thiên Tân 4- 8-1937, Trương Gia Khẩu 25-8-1937, Thạch Gia Trang 20- 10-1937, đại doanh Thái Nguyên 9-11-1937...”, “2-10 G ă n g d i t u y ệ t thực, 1-1-1943 L iê n Xô t ấ n công Virikyroky... 3-1 tấn công Motole... Đầu tháng 2-43 quét sạch quân Đức ở Stalingrad. Quân địch bị bắt gồm 2 nguyên soái, 24 tướng lĩnh, 2500 sĩ quan cao cấp, 9 vạn binh lính, 760 máy bay, 15000 xe tăng”... “Ngày 26-7-1941 Nhật đố' bộ lên Sài Gòn, ngày 25-7-1943 Ý đảo chính. 3- 208
  9. Q uan đ i ế m và p h ư ư n g p h á p n g h iê n cứu... 9 Đồng minh vào Ý...”; “Ngày 1-10 Mỹ ném bom Hải Phòng, bắn rơi 29 máy bay N h ậ t”... Có chỗ lại ghi cả tình hình đời sống xã hội rât chi tiết, như “cắt tóc ở Quế Lâm 30 đồng, thịt lợn 45 đồng. Lương một gái bán vui của nhà chứa mỗi tháng 30 vạn đồng”... . Qua những trang ghi chép trên đây, ta thấy rõ vì sao Bác Hồ trong mười tháng, từ khi được chuyển sang chế độ “quản lý chính trị” tại trại giam của Cục Chính trị đệ tứ chiến khu tại Liễu Châu cho đến lúc được trả tự do, lại chỉ làm có 30 bài thơ, trong khi có thể sáng tác hơn 100 bài trong bốn tháng trước đó. Đúng là chiến đấu giải phóng dân tộc là “ham muốn tột bậc” của Người. Nếu có điều kiện được làm việc cho cách mạng, cho cuộc chiến đấu ấy, lập tức Người không còn để tâm đến văn chương thơ phú nữa. Người rất yêu thơ và thật sự có tâm hồn nghệ sĩ, nhưng không hề có ý định làm nghệ sĩ, không hề có ý muốn xây dựng cho mình một sự nghiệp văn chương. Bởi vì như Người từng nói: “Hơn sáu mươi năm nay, đê quốc chủ nghĩa Pháp đạp trên đầu hơn 20 triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa. Phải kêu to làm chóng để cứu lấy giông nòi” (Đường Kách mệnh). Ta hiểu vì sao một tài thơ lớn như thế mà phải đợi đến hơn 50 tuổi mới viết tập thơ đầu. Mà chắc chắn Người sẽ không cho ra đời tập thơ ấy, nếu không bị bắt, bị tù. Ta cũng hiểu vì sao, kể từ khi ra tù cho đến lúc mất, suốt 25 năm trời (từ 1944 đến 1969), Người chỉ làm vẻn vẹn có khoảng hơn 20 bài thơ thuộc loại thơ nghệ 1. Những tư liệu trên rút từ Hồ Chi M inh hiên niên tiểu sứ, tập II - GS Đặng Xuân Ký và PGS Song T h ành chủ biên -^NXB Chính trị quôc gia HN.1993, và tài liệu chung quanh nguyên bản Ngục trung N h ậ t kỷ do thạc sĩ Vũ Thị Kim Xuyến sưu tầm. 209
  10. N guyễn Đ ă n g M ạnh thuật, cũng hầu hết viết bằng chữ Hán, thế tuyệt cú cổ điển, là thể thơ phù hợp với sở trường và sở thích của Bác Hồ - nghệ sĩ. Tóm lại, đối với sáng tác văn thơ của mình, quan điểm nhất quán của Người: Coi đó trước hết là hành vi chính trị, hành vi cách mạng. Không hiểu điều đó sẽ không thể hiểu được thấu đáo bất cứ tác phẩm nào của Người từ nội dung đến hình thức. Quan Hoa, 2000 210
  11. TRUYỆN NGẮN NGUYỄN á i QUỘC - NHỮNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT PHONG PHÚ, ĐỘC ĐAO Bác Hồ có một sự nghiệp văn học hết sức đa dạng - đa dạng về thể loại, đa dạng về bút pháp, phơng cách. Có thể tìm thấy trong khối tác phẩm đồ sộ của Người hầu như đủ mọi thể văn, thể thơ: truyện ngắn, truyện dài, phóng sự, bút ký, văn chính luận, kịch bản sân khấu, ca, vè, thơ nghệ thuật..., cả phê bình văn học, phê bình điện ảnh nữa... Người viết văn làm thơ để vận động cách mạng. Vì thế Người đặt lên hàng đầu vấn đề đối tượng tiếp nhận (viết cho ai'?) và mục tiêu thiết thực của mỗi bài viết (viết d ể làm gì'?). Đối với Người, đấy là hai điều kiện quyết định viết cái gỉ? (nội dung) và Viết thê nào? (hình thức). Quan điểm sáng tác ấy đã tạo nên tinh thần nhất quán của sự nghiệp văn thơ của Người, đồng thời đem đến cho sự nghiệp ấy tính phong phú, đa dạng ít thấy ở những cây bút khác. 211
  12. N g u y ễ n Đ ă n g M ạnh Trải qua hơn nửa thê ký hoạt động từ Ảu sang Á, yêu cầu cách mạn g từng nơi, từng lúc đã đặt ra cho Người biết bao nhiệm vụ cụ thể phải giải quyết biết bao hạng người khác nhau phải đấu tranh hay thuyết phục. Mỗi bài viết của Người, vì thế, không thể rập theo một khuôn, một kiểu nào, mà phải luôn luôn thay đổi cho phù hợp với từng đôì tượng, từng mục tiêu cụ thể. Và ngay đôi với một đôi tượng, Người cũng không muô'^n cung câp cho người ta trở đi trở lại chỉ có một món. “Cần làm cho món ăn tinh thẩn được phong phú, không nên bắt mọi người chi dược ăn có một món thôi. C ủng như vào ưườn hoa, cần cho mọi người dược thấy nhiều loại hoa đ ẹp ” - Người từng nhắc nhở những người cầm bút như vậy và tự mình đã thực hiện đúng như thế. Thời Mặt t r ậ n Việt Minh, nhiều bài ca, bài vè Người làm để tuyên truyền cách mạng, chỉ nói chuyện đoàn k ết đánh Pháp, đuôi Nhật, nhưng khi thì Người ví với những sợi chỉ mỏng manh dệt nên tấm vải bền chắc, khi thì mượn chuyện “Con cáo và tổ ong”, khi lại so sá n h với việc khiêng đá: “Hòn đá to - Hòn đá nặng, Chỉ m ột người - Nhắc không dăng v.u.” Văn chính luận cũng thế. Bản Tuyển ngôn độc lập đọc trước th ế giới, đôi thoại với bọn đế quô'c đang lăm le chiếm lại nước ta, Người phái dùng những lời lẽ thật đanh thép, những luận cứ thật hùng hồn, không ai có thể bác bế được. Nhưng Lời kêu gọt toàn quốc kháng chiến, nói với đồng bào, Người lại có cách diễn đạt hết sức nôm na, giản dị: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thi dùng cuốc thuổng, gậy gộc...” v.v. Hồi đầu những nă m 20, khi hoạt động ở Pháp, Người có viết một sô' truyện ngắn đăng trên các tờ 212
  13. Quan d i e m và p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu... N hăn đạo và Người cùng khổ. v ẻ n vẹn chỉ có sáu, bảy truyện mà không truyện nào giông truyện nào. Đôì tượng chung của những tác phẩm này là n hân dân Pháp và những người biết tiếng Pháp, nên t ấ t nhiên phải viết bằng tiếng Pháp và theo phong cách Pháp. Ông P h ạ m Huy Thông, người dịch những truyện này sang tiếng Việt, đánh giá tác giả là “một ngòi bút phương Tây sắc sảo, điêu luyện, rất P háp ” . Bút pháp chung, phong cách chung thì đúng là như thế. Nhưng hãy đọc mà xem, mỗi truyện một cách viết riêng, dù cũng n h ằ m vào một đích. Như truyện Lời than vãn của bà Trưng Trắc và truyện Vi hành chẳng hạn. Cùng lèn án tên vua bù nhìn Khải Định khi h ắn sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Mácxây (1922) nhằm quảng cáo cho chế độ thực dân Pháp, nhưng mỗi tác phẩm có lôi dựng truyện khác ha n nhau. Lời than vãn của bà Trưng Trắc vẽ ra một cảnh tượng rùng rợn diễn tả cơn ác mộng của Khải Định đêm trước cuộc khởi h à n h của hắn thực hiện chuyên “Tây du” nhục nhã. Người Pháp ai mà không biết cái cảnh tượng tương tự như thế trong vỏ kịch nổi tiếng của sếchxpia. Một đằng là hồn ma vị hoàng đế Đan Mạch bị hãm hại hiện lẽn đòi người con - hoàng tử Hămlét - phải trả thù, một đằng là hồn thiêng của vị nữ vương aph hùng dán t-ộc hiện về để m ắn g nhiếc tên vua hèn mạt bị “tổ tiền từ bỏ, nhân dân ruồng rẫ y ”, ớ đây, yếu tố^ huyền thoại được sử dụng một cách khéo léo, vừa gợi được không khí trang nghiêm lịch sử rất cần thiết khi Bà Trưng xuất hiện và lên tiếng, vừa đôi lúc có thể / Mấy lời nói đầu giới tliiệu Truyện vả kỹ Nguyễn Á i Quốc. NXB Văn học, Hà Nội 1974 - tr.7. 213
  14. N guyễn D ă n g M ạnh phóng ra được những đòn r ấ t hiểm đánh vào tên vua bù nhìn bằng tiếng cười mỉa mai giễu cợt: ‘'Nỉia vua kinh hoàng run lèn lập cập, vỉ không phái vua chúa nào củng đểu can đâm nìiư Hăinlét, và thông minìi như thể lại càng k hông”...u.v. Cũng đả kích Khải Định, nhưng Vi hành lại sáng tạo ra một tình huống rất vui, có thê’ gọi lả tình huống nhầm lẫn: trong một chuyến tàu điện ngầm ở Paris, nhân vật “tôi” - người kể chuyện - bị một đôi trai gái Pháp tưởng nhầm là Khải Định. Đối với người Tây, người Việt Nam nào chả mũi tẹt da vàng, cũng như đối với người Việt Nam, người Tây nào chả mắt xanh, mũi lõ. Rất có thể nhầm lẫn lắm chứ! Với tình huống này, thiên truyện đã đạt được những hiệu quả nghệ thuật rất thú vị: Khải Định hoàn toàn vắng mặt trong tác phẩm, vậy mà y lại hiện lên rất đậm nét như một nhân vật chính. Giả sử tác giả trực tiếp châm biếm tên vua bù nhìn thì chắc sức thuyết phục đối với độc giả Pháp sẽ giảm đi nhiều; một đảng viôn Cộng sản tất nhiên là râ't căm ghét bọn vua chúa rồi, làm sao có thái độ khách quan được. Không, tôi chỉ là người tình cờ nghe lỏm được cuộc chuyện trò thầm lén của đôi trai gái Pháp đấy chứ! Té ra, vị quốc vương An nam, trong con mắt người dân Pháp, lại thảm hại như thế đấy: Dổi xe ở đây chứ, anh yêu (ỉi? - Không, ga sau. Đúng lúc dó thì có một anh vua đến I>ớị c h ú n g ta. - Eni thì an thích Sác lô hơìi. Với lại, vua thì tốn lắni. - Đâu có! Thê em còn nhớ buổi dạ hội thuộc dịa ở Nhà hát Ca Vũ đấy chứ! Phải trả những nghìn rưới 214
  15. Q uan d iế m và p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu... phrãng dể xem vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên, xem tụi làm trò leo treo nhào lộn của sư thảnh xứ Công Gô; hôm nay thì chúng ììiình có ììiât tí tiềìi nào đãu mà được xem vua dang nqay cạn/i? Nghe nói ông bầu Nhà hát Múa Rối. có định ký giao kèo thuê đấy...”. Cũng phải nói thêm điều này: Có qua con mắt của người Pháp thì Kliải Định mới trở nên kỳ quái và lố bịch đến thế. Đối với người Việt Nam, cái nón (trên đầu Khải Định) chỉ là cái nón, có gì lạ mắt đâu. Nhưng đôì với người Pháp, cái nón lại trở thành cái chụp đèn. Và có gì ngô hơn là đội một cái chụp đèn lên đầu! Truyện Vi hành được th u ật kê dưới hình thức viết thư (cho một cô em họ ở quê nhà). Đây cũng là một dụng ý nghệ th u ật đặc sắc của tác giả. Thư là một lôi văn h ế t sức tự do, phóng túng. Nó tạo điều kiện cho người viết tha hồ liên hệ t ạ t ngang từ chuyện nà y sang chuyện khác, dùng lô'i so sá nh, đôi chiếu đê mỉa mai giễu cợt từ tên vua b ù nhìn đến bọn thực dán và cả chính phủ Pháp. Ngoài ra dùng lôì viết thư, tác giả có thề luôn luôn thay đổi giọng t r ầ n th uật, từ giọng khách quan khi tường t h u ậ t cuộc trò chuyện của đôi t h an h niên Pháp, đến giọng trữ tình t h â n m ậ t khi hồi tưởng lại những kỷ niệm thời thơ âu với cỗ em họ: “Tôi như còn trông thấy cái ngày mà cỏ với tôi, dôi chúng ta, như đôi chim ấy thôi, đậu vắt vẻo trên đ ắ iig ô i õng hác thân yêu, nghe bác ké' cỉiuyện cô lích...”. Trong sô mấy truyện ngẩn của Nguyễn Ai Quô"c viết đầu những năm 20, theo tôi Pari và Những trò lố hay là Varen và P h a n Bội Châu là những thiên truyện xuất sắc nhất. 215
  16. N guyễn D ă n g M ạnh Pari rất giàu chất phóng sư - không phải ngẫu nhiên mà tác giả gọi đó là một bài phóng sự . Thực ra Pari là một truyện ngắn có sức khái quát rất lớn: một Pari, hơn nữa một nước Pháp thu nhỏ, dồn nén trong lòng nó những mâu thuẫn giai cấp hết sức gay gắt, bức xúc và tàn nhẫn. Tác giả đi từ cái nhìn bao quát cả một vùng phô^ xá Pari với ba hạng người sống cách biệt và đối lập với nhau về thân phận sang hèn, sướng khổ, đến cái nhìn cận cảnh, nhập sâu vào sô' phận bi thảm đến tuyệt vọng của một nhân vật thuộc tầng lứp dưới đáy cùng của xã hội Pháp. Ngòi bút trần thuật hết sức linh hoạt, giọng văn thì đi từ mỉa mai, chua chát đến căm giận xót xa... Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu lại trình diễn trước mắt người đọc như một cuốn phim tài liệu nóng hổi tính thời sự, tường thuật cuộc hành trình của viên toàn quyền Varen từ Macxây đến Sài Gòn, và từ Sài Gòn qua Huế, đến Hà Nội để gặp Phan Bội Châu trong nhà lao Hỏa Lò - thực ra, đây chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú đến kỳ lạ của tác giả. ô n g kính điện ảnh trong tay Nguyễn Ái Quốc, khi thì lùi xa, quay toàn cảnh thành phố Sài Gòn “Thật là lộn xộn, thật là nhốn nháo”, đầy màu sắc “bản xứ”, khi thì dí sát đối tượng, đặc tả từ tấm Bắc đẩu bội tinh trên ngực một viên quan, cái tướng mạo “r ậ m râu, sậu m ắ t ” của “quan” 1. T ron g bài báo viết cho tờ Văn học íL iên Xô) s ố ra n g ày 19-11- 1960, nhán kỷ niệm 50 nãm ngày m ấ t cúa nhà văn Nga L. Tònxtôi, Hồ Chú tịch viết; “Trong bài phóng sự cua tôi (tức truyện Pari), tôi kế những diều m ắt thấy tai nghe ở phố tôi ở là khu phố nghèo khổ cùa những công nh ân và những người th ấ t nghiệp trong th à n h phố Pari lộng lầy, giàu có”. {Tổng tập văn học Việt Nam, tập 36-NXB Klioa học xã hội, Hà Nội 1980; tr.90) . 216
  17. Quan d iê m vcì phu'(fng p h á p n g h iê n cứu... lánh châu ngọc L o à n q u y ề n , từ n h ữ n g n g ó n t a y d à i “l ấ p dỏ x a n h ” của Đức vua Khải Định, hay cái cử chí của Varen ‘7ay phải giơ ra bắt tay Phan Bội. Châu, còn tay trái thi năng cái gông to kếch xù đang xiết chặt Bội Châu trong nhà tù ảm. đ ạ m ”, đến “đôi ngọn râu mép người tù nhêch lên một chút rồi lại hạ xuống ngay” - một nụ cười kín đáo “như cánh ruồi lướt qua” tỏ thái độ khinh bí trước những lời lẽ bẩn thỉu của Varen... ớ tác phẩm này, thủ pháp đôi lập đã được khai thác triệt đế’ và đầy Lài nghệ, làm nổi bật hai nhân cách: Varen thì bắng nhắng, ba hoa và ti tiện, Phan Bội Châu thì uy nghi, lẫm liệt sừng sững như trái núi. Một nhà triết học Pháp có viết một cuốn sách luận về tiếng cười. Ông cho rằng chỉ có con người mới biết cười, và cũng chỉ có con người mới đáng cười. Ây là khi anh ta đánh mất vẻ tự nhiên, sinh động của một sinh vật có ý thức, có trí tuệ, có linh hồn, nghĩa là bị đồ vật hóa, hoạt động, nói năng một cách máy móc, vô nghĩa lý, như con rối bị giật dây, như con vẹt biết nói vậy. Hây đề' ý mà xcm, có phải Nguyễn Ái Quốc đã dùng đúng thủ pháp ấy đê’ mô tả Varen, biến hắn thành một thằng hề, một con rối trên sân khấu hài kịch: “Đức kim Thượng Khải Định sẽ thính ông Varen thăm hoàng cung, và ông Varen sẽ uào. Hoàng thượng Khải Định sẽ thính ông Varen dự yến, và ông Varen sẽ ăn (...) Ngài cài lên ngực ông Varen loại tưởng lệ phong tặng cao quý nhất của Hoàng Triều: Nam Long bội tinh, và thế là ông Varen được gắn mề đay...”. Tính chất máy móc, vô nghĩa lý đạt tới chỗ hài hước nhất khi Varen tự hắn phát ra những lời lẽ chẳng đem lại danh giá gì cho hắn cả: “Nhưng sao thế, ông hãy nhìn tôi này, ông Phan Bội Châu! Trước tôi là đảng viên xã hội đấy, và giờ đây thi tòi làm Toàn quyển...!”. 217
  18. N g u yễn D ă n g M ạnh Truyện Con người biết mùi hun khói cũng là sản phẩm đặc biệt của trí tưởng tượng. Một tác phẩm có thể gọi là thuộc loại “viễn tưởng chính trị”. Truyện viết năm 1922, nhưng nhìn thấy trước những sự kiện chính trị sẽ xảy ra năm 1998: “Thành phố Hauxa cờ xí tưng bừng, kỷ niệm lần thứ năm mươi ngày thành lập Cộng hòa liên hiệp Phi (...) Từng đoàn học smh, giương cờ đi đầu, vừa diễu qua các phố vừa hát Quốc tế ca (...) Trên quảng trường Xô Viết, một cụ già hô hào dám dông (...) Cụ Kimengô tuổi đã chín mươi, là rnột cựu chiên sĩ của quăn đội cách mạng, một trong những người sáng lập Cộng hòa da đen (...) Cụ Kimengô không những đã ra sức thức tinh anh em cùng màu da ra khỏi giấc ngủ mê say của con người nô lệ, mà còn cố gắng phá tan inọi thành kiến dân tộc uà chủng tộc, tập hợp những người bị bóc lột thuộc các màu da írong cuộc đấu tranh chung”. Năm 1998 kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Cộng hòa liên hiệp Phi, vậy ngày ây là ngày nào, năm nào? Khó gì mà không tính được: ấy là một ngày của năm 1948. Nhưng Nguyễn Ái Quôc đã tính ra được ngay từ 26 năm về trước (1922) thì tài quá, giỏi quá! Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc ỏ' châu Phi quả đã diễn ra gần đúng như thế, nghĩa là ngày càng phát triển mạnh từ sau đại chiến thê giới lần thứ hai, tức là từ 1945 trở đi. Và từ 1955 đến 1966 thì hầu hết các thuộc địa của Pháp và của Anh đều đã giành được độc lập... Như vậy thì gọi là truyện “viễn tưởng khoa học” cũng được chứ sao! Khoa học chính trị, khoa học Mác Lênin. Ra đời cùng loạt truyện nói trên, có hai tác phẩm viết theo một lối rất khác: truyện Con rùa và truyện Đồng tâm ìihẩí trí. Có một cái gì rất đậm màu sắc dân tộc học của người Việt. Có vẻ như người viết lại muốn 218
  19. Quan d ìế m và p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu... dọn cho độc giả Pháp nếm thử một vài món ăn đặc sản của Việt Nam chăng? Đồng tăm nhất trí có dáng dấp m ộ t t r u y ệ n n g ụ n g ô n , d ư ờ n g n h ư đ ể c h â m b iế m lố i tư duy giáo điều máy móc, còn Con rùa lại tựa như một thứ truvện cười dân gian của người Việt nhằm đả kích bọn quan lại thực dân tham lam, độc ác bằng lối chơi chữ hóm hinh một cách rất đỗi bình dân: Lạy quan lớn (...) dám xin quan lớn Ìiìĩận cho, của mọn thôi ợ! Cái inỏn Ca... ca...” (tiếng Pháp Cadeau nghĩa là quà biếu, ông xã Lrưởng sợ hãi run rây, nói ỉắp bắp thành “ca... ca”. Tiếng Pháp, ca ca nghĩa là cứt). Bác Hồ quả là một nghệ sĩ tài năng nhiều mặt. Nhưng đúng như Pham Huy Thông nói, “Ngư(JÌ không hề hao giờ niuỏìì cỏ một sự Ìiíịìiiệp văn chương” . Chắng qua vì nhận thấy văn chương có thể là một vũ khí lợi hại, nên Người liền nắm lấy, mài cho sắc đề chiến đấu. Coi văn chương như một hành vi cách mạng, tất nhiên Người đặc biệt quan tâm đến người đọc. Cho nên những truyện ngắn đầy nghệ thuật, viết bằng tiếng Pháp theo phong cách Âu châu hiện đại như đã nói trên kia, Người không viết nữa khi trơ về nước. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ớ Việt Bắc, Người cũng viết truyện, thường là truyện dài, như Các/ỉ đánh du kích, Kinh nghiệm du kích P h Ớ Ị ) . . . v . v . n h ư n g cách viết khác hẳn. Lời văn hết sứ c nỏm na gián dị, chú Lrọiig tình tiôL ly kỳ Lhú vị liơn là dựng cánh dựng người. Tất cả gói gọn trong những đoạn 1. Tai liệu (lã (lầii: Ir.H. 219
  20. NịỊuyễn D ă n g Mạnh văn rất ngắn và tương đối độc lập, xâu chuỗi với nhau, tựa như lối kết cấu chương hồi của tiểu thuyết cổ. Mỗi đoạn thường mở đầu và kết thúc bằng hai câu lục bát lẩy Kiều hóm hỉnh... Người chẳng làm văn vì văn đâu. Chẳng qua người đọc giờ đây là đại chúng công nông binh nên phải viết như thế. Quan điểm sáng tác văn thơ của Bác Hồ trước sau là vậy. Quan H oa 10-8-2000 220
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2