
2
quản lý sự chia sẻ thông tin và đảm bảo hài hòa các mục tiêu.
- Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên phạm vi cả nước nhằm đánh giá toàn diện ảnh
hưởng của SCM tới hiệu quả hoạt động kinh doannh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
- Về thời gian: Thông tin, dữ liệu về thực trạng SCM ngành dệt may được thu thập trong
giai đoạn 2018-2022.
4. Đóng góp mới của luận án
4.1. Những đóng góp về lý luận
Luận án đã khái quát hóa và xây dựng được khung phân tích của quản lý SCM tập trung
vào 03 nội dung chính: quản lý các tác nhân của chuỗi cung ứng; quản lý các hoạt động của
chuỗi cung ứng và quản lý các lợi ích trong chuỗi cung ứng. Để đánh giá kết quả hoạt động
SCM, luận án đã sử dụng một mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên vận dụng lý thuyết
đổi mới sáng tạo và lý thuyết dựa trên nguồn lực. Mô hình nghiên cứu được xâu dựng nhằm
đưa ra ảnh hưởng của SCM tới hiệu quả hoạt động doanh nghiệp dệt may Việt Nam gián tiếp
thông qua sự tác động của SCM đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp.
Từ nhóm nhân tố chính trong SCM gồm quản lý mối quan hệ với khách hàng và nhà
cung cấp, sự hài hòa về mục tiêu và sự chia sẻ thông tin có tác động tích cực đến hiệu quả
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua sự tác động tích cực đối với đổi mới sáng
tạo trong doanh nghiệp. Mô hình này sử dụng đổi mới quá trình, đổi mới sản phầm và quản
lý đổi mới là tác nhân trung gia trong mối quan hệ tích cực giữa SCM và hiệu quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hai yếu tố điều tiết là xuất khẩu và quy mô
doanh nghiệp cũng được tính đến trong đánh giá tác động trực tiếp từ SCM đến hiệu quả
hoạt động kinh doanh. Từ đó, nghiên cứu đánh giá được tác động của SCM và hiệu quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Khác với các nghiên cứu tiền nhiệm, nghiên cứu áp dụng hiệu quả hai lý thuyết để lý
luận giữ vị trí quan trọng trong quá trình giải thích mô hình, giúp nghiên cứu chắc chắn và
thuyết phục. Nghiên cứu sử dụng 3 biến đổi mới sáng tạo là biến trung gian với mục tiêu tập
trung khai thác tác động của SCM và hiệu quả hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp dệt
may Việt Nam và tìm ra liên kết giữa các nhân tố. Từ đó, nghiên cứu hướng đến việc phân
tích mối quan hệ gián tiếp giữa SCM và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thông qua biến điều tiết Export và Size, nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ trực tiếp giữa SCM
và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Cụ thể, khi quy mô
và xuất khẩu tăng, việc áp dụng SCM tại các doanh nghiệp sẽ có tác động tích cực cao hơn tới
hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ngược lại, nếu doanh nghiệp có quy mô và khẩu khẩu hạn chế,
việc áp dụng SCM tại doanh nghiệp có tác động tích cực nhưng không nhiều.
4.2. Những đóng góp về mặt thực tiễn
Điểm mới của nghiên cứu còn ở góc tiếp cận mới: nghiên cứu tiếp cận và phân tích
thực trạng quản lý SCM tại các doanh nghiệp dệt may và ảnh hưởng của quản lý SCM tới
hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam thông qua biến
trung gian là hiệu suất đổi mới của doanh nghiệp. Từ những hạn chế của các nghiên cứu đi
trước, nghiên cứu đã phân tích thực trạng SCM tại các doanh nghiệp dệt may và ảnh hưởng
của SCM tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, từ đó
đề xuất mô hình nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của SCM tới hiệu quả hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, đưa ra khuyến nghị trong quá trình phát
triển của doanh nghiệp, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
Nghiên cứu tiếp cận và phân tích, đánh giá dựa trên nghiên cứu định tính và định
lượng trên toàn lãnh thổ Việt Nam đối với các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam, vượt qua
sự bó hẹp về phạm vi lãnh thổ, khu vực địa lý, đồng thời tập trung nghiên cứu 1 ngành,
không phân tích theo nhiều ngành như các nghiên cứu đi trước.