
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chất lượng và sự liên quan của giáo dục nghề nghiệp là mối quan tâm của nhiều nước.
Nhiều chính phủ yêu cầu trách nhiệm công bố công khai và minh bạch cao hơn từ các cơ sở
giáo dục nghề nghiệp liên quan đến hoạt động của họ trong các bảng xếp hạng các trường đại
học, cao đẳng (CĐ). Đồng thời, các bên liên quan chủ chốt như doanh nghiệp, tổ chức nghề
nghiệp và tổ chức sử dụng lao động đang mất dần niềm tin vào khả năng của các cơ sở giáo dục
nghề nghiệp trong đáp ứng nhu cầu của nơi làm việc và thị trường lao động hiện đại trong nền
kinh tế ngày càng cạnh tranh và thay đổi. Ngoài ra, phương thức giảng dạy của giáo dục đại
học mới nổi lên với sự tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), điều này càng
cần điều chỉnh chất lượng của các quy định đó (Watson, 2002). Tây Nguyên là khu vực miền
núi cao, phía Tây Nam Trung bộ, gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm
Đồng. Tây Nguyên có vị trí chiến lược, nhiều tiềm năng và thế mạnh về quân sự, kinh tế và văn
hóa, xã hội. Trong chiến lược phát triển vùng Tây Nguyên, Đảng và Nhà nước xác định: Giáo
dục, đào tạo là một trong những khâu đột phá, là nhân tố quyết định cho sự phát triển của Tây
Nguyên, nhằm bảo đảm ổn định an ninh trật tự và phát triển kinh tế xã hội. Từ đó, đã yêu cầu Bộ
GD&ĐT, Bộ LĐTBXH, UBND các tỉnh Tây Nguyên: Xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục -
đào tạo, dạy nghề; xây dựng cơ chế chính sách đặc thù, xác định những dự án trọng điểm để ưu
tiên đầu tư xây dựng. Mặt khác, cần chủ động sáng tạo, tích cực phối hợp với các Bộ, ngành cùng
thực hiện mục tiêu ưu tiên phát triển giáo dục, đào tạo (Tôn Thị Ngọc Hạnh, 2019). Hiện nay,
khu vực Tây Nguyên có 17 trường CĐ. Các trường CĐ khu vực Tây Nguyên trong những năm
gần đây đã nỗ lực trong công tác quản lý các hoạt động ĐBCL đào tạo thế nhưng quản lý hoạt
động ĐBCL đào tạo của các trường này vẫn còn một số hạn chế nhất định. Tính đến năm học
2018-2019, có 11/17 trường cao đẳng Khu vực Tây Nguyên tự đánh giá đơn vị; 6/17 trường tự
đánh giá các chương trình đào tạo và chưa có trường nào được đánh giá ngoài về đơn vị, kể cả
chương trình đào tạo. Cho đến nay chưa có công trình nào hệ thống hóa lại các vấn đề trên và
nghiên cứu sâu về quản lý hoạt động ĐBCL đào tạo ở trường CĐ khu vực Tây Nguyên. Để các
trường CĐ nơi đây đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, cần có công trình nghiên cứu riêng,
mang tính đặc thù. Từ các cơ sở trên, đề tài: “Quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng các
trường cao đẳng khu vực Tây Nguyên” được thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động ĐBCL đào tạo ở trường CĐ và phân
tích, làm sáng tỏ thực trạng hoạt động và quản lý hoạt động ĐBCL đào tạo ở các trường CĐ
khu vực Tây Nguyên, luận án đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động ĐBCL đào tạo ở các
trường CĐ khu vực Tây Nguyên, khảo sát sự cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp đề xuất
và lựa chọn thực nghiệm một biện pháp đã đề xuất.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động ĐBCL ở trường CĐ.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động ĐBCL đào tạo ở các trường CĐ khu vực Tây Nguyên.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động ĐBCL đào tạo ở các trường CĐ khu vực Tây Nguyên trong
những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định về công tác lập kế hoạch và tổ chức. Tuy
nhiên, công tác này có thể còn những hạn chế về công tác chỉ đạo và kiểm tra. Nếu hệ thống
hóa được cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ĐBCL đào tạo ở trường CĐ và làm rõ thực trạng
quản lý hoạt động ĐBCL đào tạo ở các trường CĐ khu vực Tây Nguyên thì nghiên cứu có thể