
276
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP ĐẶT CỌC BẢO
ĐẢM CHO GIAO KẾT/THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN BẤT
ĐỘNG SẢN
ThS. Phạm Thị Hồng Mỵ
Khoa Lut – Trường Đại học Sài Gòn
Tóm tắt: Tranh chp đặt cọc bảo đảm cho giao kết/thực hiện hợp đồng mua bán
có đối tượng là bt động sản xảy ra rt nhiều trong thực tiễn. Quyền v nghĩa vụ của
các bên chủ thể đều được quy định cụ thể trong văn bản pháp lut. Tuy nhiên, có rt
nhiều vụ việc người mua bt động sản bị gặp bt lợi từ việc pháp lut không quy định
cụ thể hoặc thiếu sự hướng dẫn thống nht trong giải quyết tranh chp về đặt cọc. Vì
thế, bài viết sẽ tp trung phân tích: (1) khái quát về biện pháp đặt cọc theo quy định
pháp lut Việt Nam; (2) thực tiễn vn dụng quy định của pháp lut giải quyết tranh chp
hợp đồng đặt cọc mua bán bt động sản; (3) đề xut giải pháp hoàn thiện quy định về
đặt cọc bảo đảm cho giao kết/thực hiện hợp đồng mua bán.
T khóa: đặt cọc; biện pháp bảo đảm; người mua; bt động sản.
Abstract: Disputes on security deposits for entering into/performing sales
contracts with real estate as their object occur a lot in practice. The rights and
obligations of the parties are specified in legal documents. However, there are many
cases were real estate buyers are at a disadvantage because the law does not specifically
stipulate or lack uniform guidance in resolving deposit disputes. Therefore, the article
will focus on analyzing: (1) overview of deposit measures according to Vietnamese law;
(2) practical application of provisions of law to resolve disputes on real estate purchase
and sale deposit contracts; (3) Propose solutions to improve regulations on security
deposits for concluding/performing sales contracts.
Keywords: deposit; security measures; buyer; real estate.
Đặt vấn đề
Khi tham gia thực hiện giao kết/thực hiện hợp đồng mua bán thì các bên thường
sử dụng biện pháp bảo đảm để bảo đảm giao kết hoặc bảo đảm thực hiện hoặc cả hai
vừa giao kết và thực hiện hợp đồng đó là đặt cọc. Có thể là đặt cọc để bảo đảm hợp đồng
mua bán nhà ở, có thể là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đặt cọc đã được
quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự và một số văn bản chuyên ngành như Luật kinh

277
doanh bất động sản. Tuy nhiên trong thực tiễn thực hiện không phải tất cả các bên đều
hiểu biết, nắm rõ các vấn đề pháp lý liên quan đến đặt cọc. Mặt khác, biện pháp này vẫn
còn nhiều bất cập, hạn chế như quy định chưa rõ ràng, chưa có văn bản hướng dẫn cụ
thể như là về mức phạt cọc…Cho nên, việc nghiên cứu, phân tích khái quát quy định
của pháp luật về biện pháp đặt cọc bảo đảm cho giao kết/thực hiện hợp đồng mua bán
theo hướng bảo vệ quyền lợi của người mua bất động sản từ thực tiễn là rất cần thiết.
1. Khái quát về bin pháp đặt cọc theo quy định pháp luật Vit Nam
Biện pháp đặt cọc được quy định ở các văn bản pháp luật tiêu biểu như Bộ luật
Dân sự năm 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2021 của Chính
phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Luật Kinh doanh
bất động sản năm 2023, Luật Nhà ở năm 2023. Theo đó nội dung được thể hiện bao
gồm:
Mục đích của đặt cọc là nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ như nghĩa vụ giao kết
hợp đồng, nghĩa vụ thực hiện hợp đồng hay bao gồm cả hai. Thời gian thực hiện đặt cọc:
việc đặt cọc được diễn ra trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp
đồng.
Hình thức đặt cọc: Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định về hình thức đặt
cọc. Như vậy đặt cọc có thể được thể hiện ở văn bản hoặc bằng cả lời nói, hành vi. Luật
kinh doanh bất động sản năm 2023 thì nhấn mạnh đến “Thỏa thun đặt cọc phải ghi rõ
giá bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong
công trình xây dựng” nghĩa là hình thức được thể hiện bằng văn bản.
Giá trị/Tỷ lệ đặt cọc trong mối quan hệ với giá trị của hợp đồng: Bộ luật Dân sự
năm 2015 không quy định giá trị hay tỷ lệ tiền đặt cọc. Việc không quy định tất yếu dẫn
đến các bên tự thỏa thuận. Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh bất động sản thì mức
đặt cọc đã có quy định cụ thể. Tại Khoản 5 Điều 23 Luật Kinh doanh bất động sản năm
2023 quy định: “Chủ đầu tư dự án bt động sản chỉ được thu tiền đặt cọc không quá 5%
giá bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong
công trình xây dựng từ bên đặt cọc để mua, thuê mua khi nhà ở, công trình xây dựng đ
có đủ các điều kiện đưa vo kinh doanh theo quy định của Lut ny”. Quy định này là
điểm mới vừa bảo đảm giao kết hợp đồng (Luật kinh doanh bất động sản 2023 điều
chỉnh cả giao dịch bất động sản xảy ra trước thời điểm ký kết hợp đồng chính thức) mà
qua đó vừa bảo vệ quyền lợi của bên mua. Về mức đặt cọc, theo báo cáo tiếp thu, chỉnh
lý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì việc quy định mức đặt cọc 5% là để đảm bảo thể
hiện đúng bản chất của việc đặt cọc, đồng thời hạn chế rủi ro cho bên mua, bên thuê
mua, thường là bên yếu thế trong hoạt động kinh doanh bất động sản. Bằng cách quy

278
định rõ ràng: chủ đầu tư dự án bất động sản “chỉ được” thu tiền đặt cọc từ khách hàng
khi đủ điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai sẽ góp phần làm giảm hay chấm
dứt tình trạng các chủ đầu tư huy động vốn trái phép, thu tiền đặt cọc của bên mua nhà
ở khi nhà ở chưa đủ điều kiện đưa vào kinh doanh thông qua việc các hợp đồng được
dán nhãn là ký quỹ, thoả thuận giữ chỗ (Vũ Thị Hồng Yến, 2024). So với mức đặt cọc
như Dự thảo Luật kinh doanh bất động sản để là 2% rồi 10% thì tác giả đồng tình với
mức đặt cọc là 5% như văn bản hiện hành vì nó không quá thấp nhưng cũng không quá
cao, nằm ở mức trung bình, có giá trị đủ để giữ niềm tin của các bên. Mặt khác, mức 5%
cũng là mức đặt cọc tiêu chuẩn theo thông lệ của một số quốc gia như Anh, Mỹ hay
Nhật Bản. Luật nhà ở năm 2023 thì không quy định tỷ lệ đặt cọc trong bán nhà ở, bán,
cho thuê mua nhà ở xã hội mà chỉ ấn định tỷ lệ đặt cọc trong thuê nhà ở xã hội. Cụ thể
“…chỉ được ký hợp đồng đặt cọc và thu tiền đặt cọc thuê nhà ở tối đa bằng 12 tháng
tiền thuê nhà tạm tính”.
Mức phạt cọc: Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nếu bên nhận đặt cọc từ chối
việc giao kết, thực hiện thì ngoài phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc thì còn có “một
khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc” tức là phạt cọc. Mức phạt cọc được quy
định là tương đương giá trị tài sản đặt cọc. Nhưng quy định của Bộ luật Dân sự năm
2015 vẫn kèm theo quy định “trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Cho nên trong thực
tiễn các chủ thể cũng có thể hiểu rằng, các bên được phép thỏa thuận với nhau mức phạt
cọc có thể tương đương giá trị tài sản đặt cọc nhưng các bên cũng có thể thỏa thuận mức
phạt cọc cao hơn/thấp hơn so với giá trị tài sản đặt cọc.
Ngoài ra, các văn bản này cũng quy định thêm về: Xử lý tài sản đặt cọc khi hợp
đồng được giao kết/thực hiện; Mối quan hệ giữa đặt cọc và hợp đồng có nghĩa vụ đặt
cọc; Trường hợp không xác định rõ là tiền đặt cọc hoặc tiền trả trước; Quyền, nghĩa vụ
của các bên trong đặt cọc.
2. Thực tiễn vận dụng quy định của pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt
cọc mua bán bất động sản
Trường hợp 01: Nội dung hợp đồng đặt cc không rõ ràng về trả lại tiền cc
và bồi thường. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy cần giải thích hợp đồng theo
hướng: Trường hợp bên bán vi phạm nghĩa vụ, bên bán có trách nhiệm trả lại tiền cọc
cho bên mua, và chịu phạt cọc (bồi thường tiền cọc) với số tiền bằng số tiền đặt cọc mới
phù hợp (Bản án số 1091/2023/DS-PT ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà). Ở trường
hợp 01 theo tác giả việc giải quyết của hội đồng xét xử cấp phúc thẩm là hợp lý khi
không có sự thỏa thuận rõ ràng đến từ hợp đồng đặt cọc của các bên về việc trả lại tiền

279
cọc và bồi thường thì cứ theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015, nghĩa là
bên nhận đặt cọc phải trả lại tiền đặt cọc và khoản tiền tương đương tiền đặt cọc. Tuy
nhiên, về việc khi không có thỏa thuận rõ ràng giữa trả lại tiền cọc và bồi thường thì cần
thiết có văn bản hướng dẫn về nội dung này để tránh sự không thống nhất trong việc giải
quyết giữa các tòa án vì điển hình như vụ việc này tòa án hai cấp đưa ra hai cách giải
quyết khác nhau.
Trường hợp 02: Thời điểm có hiu lc của hợp đồng đặt cc. Hội đồng xét xử
nhận định ông N.H.M không cung cp được ti liệu, chứng cứ chứng minh cho việc ông
đ giao đủ tiền đặt cọc cho ông N.V.H và bà N.N.T.U số tiền đặt cọc l 1.100.000.000
đồng. Từ đó Hội đồng xét xử nhn thy, để giải quyết vụ án dân sự khách quan, chính
xác, công bằng, đúng pháp lut v khẳng định một điều gì đó thì phải có chứng cứ (Bản
án số 30/2023/DS-ST ngày 11 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận 4 Thành
phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc).Đối với trường hợp 02, thời
điểm có hiệu lực của hợp đồng đặt cọc là vấn đề quan trọng để xem xét đến xử lý hậu
quả và trách nhiệm vi phạm thì cần có sự chuyển giao tài sản đặt cọc trên thực tế. Pháp
luật dân sự Việt Nam như đã trình bày chỉ quy định ở khái niệm đặt cọc thể hiện ở
“giao”, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP có trình bày hiệu lực của hợp đồng bảo đảm một
cách chung chung, không dành riêng cho đặt cọc, vì đặt cọc là một trong các biện pháp
bảo đảm. Khi giải quyết vụ việc ở trường hợp này tòa án cũng đã nhấn mạnh cần phải
có chứng cứ chứng minh về có sự chuyển giao tiền đặt cọc trên thực tế. Tham khảo pháp
luật dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng đã có quy định cụ thể, chi tiết rằng “Hợp
đồng đặt cọc có hiệu lực khi tiền được giao thực tế”. Vì vậy, theo tác giả, chúng ta nên
học hỏi kinh nghiệm này bằng việc quy định cụ thể về thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng đặt cọc.
Trường hợp 03: Không giải quyết yêu cầu bồi thường thit hại khi không có
thỏa thuận trong hợp đồng đặt cc. Trường hợp 03 khi trong hợp đồng đặt cọc các bên
không có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại, hội đồng nhận định rằng: các đương sự
không có thoả thun khác, cũng không có thoả thun về việc bồi thường thiệt hại, ông
T không thực hiện việc mua bán theo thoả thun đ phải chịu trách nhiệm bằng việc trả
cho bên đặt cọc số tiền tương đương với tiền cọc l đúng theo thoả thun v đúng quy
định của pháp lut. Vì vy, không có căn cứ để chp nhn yêu cầu bồi thường thiệt hại
(Bản án số 209/2022/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận 6
thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc). Đây là nội dung nhận
định rất quan trọng, trả lời cho vấn đề, khi các bên không có thỏa thuận nào khác, đặc
biệt lại cũng không có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại cho nên xét thấy một bên phải

280
thực hiện trách nhiệm của mình về vi phạm đặt cọc rồi nên không chấp nhận yêu cầu
đòi bồi thường thiệt hại nữa. Vấn đề này làm tác giả đặt ra trường hợp ngược lại rằng:
nếu như tòa án khi giải quyết trách nhiệm vi phạm nghĩa vụ đặt cọc mà các bên có thỏa
thuận về bồi thường thiệt hại thì tòa án ngoài giải quyết xử lý trách nhiệm do vi phạm
nghĩa vụ đặt cọc theo điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có giải quyết chấp nhận
yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 419 – Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp
đồng không? Câu trả lời này về phía luật chưa xác định rõ, thực tiễn tư pháp thì gián
tiếp trả lời theo hướng là có thể chấp nhận nếu như có thỏa thuận về bồi thường thiệt
hại. Đối chiếu với pháp luật nước ngoài khác so với pháp luật dân sự Việt Nam ở chỗ
đã có sự quy định rõ ràng ràng điển hình như pháp luật dân sự của Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa: “Nếu các bên có thỏa thun về cả việc bồi thường thiệt hại và tiền đặt cọc
thì khi một bên vi phạm hợp đồng thì bên kia có quyền lựa chọn áp dụng điều khoản bồi
thường thiệt hại hoặc tiền đặt cọc. Nếu số tiền đặt cọc không đủ để bù đắp tổn tht do
một bên vi phạm hợp đồng thì bên kia có thể yêu cầu bồi thường những tổn tht vượt
quá số tiền đặt cọc”. Pháp luật dân sự Liên bang Nga cũng quy định: “Ngoài ra, bên
chịu trách nhiệm nếu không thực hiện đúng hợp đồng có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
cho bên kia bằng số tiền đặt cọc, trừ trường hợp trong hợp đồng có quy định khác”.
Theo tác giả, cần thiết cũng lại có văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này và kinh
nghiệm pháp luật nước ngoài rất đáng để chúng ta học hỏi.
Trường hợp 04:: Mức phạt cc cao hơn gấp 02 lần s tiền đặt cc. Hội đồng
xét xử nhận định: … buộc bà Lê Ngọc T phải có nghĩa vụ trả số tiền đặt cọc đ nhn là
150.000.000 đồng và trả thêm số tiền phạt cọc tương đương 02 lần số tiền đặt cọc (tức
300.000.000 đồng) theo thỏa thun của hai bên l có căn cứ chp nhn và phù hợp với
quy định tại khoản 2 Điều 328 của Bộ lut dân sự 2015 (Bản án số 25/2020/DS-ST ngày
24 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận 6 thành phố Hồ Chí Minh về việc: Tranh
chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất). Như đã phân tích pháp luật
dân sự Việt Nam có thuật ngữ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” nên trong thực tiễn
các bên có thể thỏa thuận mức phạt cọc là tương đương hoặc thấp hơn hoặc cao hơn.
Vậy khi cao hơn gấp hai lần hoặc gấp 10 lần giá trị tài sản đặt cọc thì có được chấp nhận
không? Ở vụ việc xem xét thì gấp có 02 lần nên hội đồng xét xử cho rằng vẫn phù hợp
với quy định pháp luật có căn cứ chấp nhận mức phạt cọc này. Nhìn sang các địa phương
khác, có vụ việc tòa án giải quyết về mức phạt cọc được các bên thỏa thuận gấp 10 lần
số tiền đặt cọc thì có tòa án chấp nhận nhưng cũng có tòa án không chấp nhận mức phạt
cọc này vì cho rằng quá cao và vi phạm điều luật tức điều 328 Bộ luật Dân sự. Cho nên
theo quan điểm của tác giả, mức phạt cọc theo như quy định hiện nay của pháp luật dân
sự Việt Nam cũng cần có văn bản hướng dẫn chi tiết.

